HỒ CHÍ MINH PHÂN TÍCH LỢI ÍCH – CHI PHÍ CỦA CÁC CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT GẠCH Ở HUYỆN TÂN UYÊN TỈNH BÌNH DƯƠNG NGUYỄN THỊ NHƯ KIỀU OANH KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐỂ NHẬN VĂN BẰNG CỬ NHÂN NGÀ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
PHÂN TÍCH LỢI ÍCH – CHI PHÍ CỦA CÁC CÔNG NGHỆ
SẢN XUẤT GẠCH Ở HUYỆN TÂN UYÊN
TỈNH BÌNH DƯƠNG
NGUYỄN THỊ NHƯ KIỀU OANH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỂ NHẬN VĂN BẰNG CỬ NHÂN
NGÀNH KINH TẾ CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG
Thành phố Hồ Chí Minh Tháng 07/2010
Trang 2Hội đồng chấm báo cáo khóa luận tốt nghiệp đại học khoa Kinh Tế, trường Đại
Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh xác nhận khóa luận “PHÂN TÍCH LỢI ÍCH – CHI PHÍ CỦA CÁC CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT GẠCH Ở HUYỆN TÂN UYÊN TỈNH BÌNH DƯƠNG” do NGUYỄN THỊ NHƯ KIỀU OANH, sinh viên
khóa 2006-2010, ngành KINH TẾ TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG, đã bảo vệ thành công trước hội đồng vào ngày _
TS ĐẶNG THANH HÀ Người hướng dẫn
Ngày Tháng Năm
Chủ tịch hội đồng chấm báo cáo Thư kí hội đồng chấm báo cáo
Ngày Tháng Năm Ngày Tháng Năm
Trang 3LỜI CẢM TẠ
Bốn năm không phải là một thời gian dài trong cuộc đời một con người, nhưng đối với tôi bốn năm được ngồi trên giảng đường đại học đã để lại trong tôi ý nghĩa vô cùng sâu sắc Nơi tôi đã được tiếp nhận những bài học không chỉ ở trên sách vở mà
còn cả trên con đường đời, giúp tôi hoàn thiện hơn về bản thân mình, là nền tảng giúp
tôi vững tin hơn khi bước vào cuộc sống
Lời cảm ơn từ đáy lòng tôi muốn gửi đến Ba Mẹ, người đã sinh thành, nuôi nấng
và giáo dục tôi nên người Cho tôi biết bao nghị lực và lời động viên để tôi luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình
Đồng thời tôi xin gửi lời tri ân và cảm ơn sâu sắc đến:
Quý Thầy Cô trong trường Đại Học Nông Lâm nói chung và trong Khoa Kinh Tế nói riêng, các Thầy Cô luôn nhiệt tình giảng dạy để có thể truyền đạt hết cho chúng tôi những kiến thức cần có trong con đường học tập và hành trang bước vào cuộc sống mới Đặc biệt hơn nữa, đó là giáo viên hướng dẫn tôi, Tiến sĩ Đặng Thanh Hà, Thầy luôn tận tâm hướng dẫn chi tiết, giúp tôi nhìn nhận vấn đề hiệu quả hơn, và hoàn thành tốt đề tài nghiên cứu
Các Cô Chú ở phòng Tài nguyên Môi trường huyện Tân Uyên đã tạo điều kiện
và giúp đỡ tôi suốt trong quá trình làm luận văn tại địa bàn
Và cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn tới những người bạn, luôn sát cánh bên tôi, chia sẻ, đóng góp ý kiến và động viên tôi trong suốt quá trình học tập cũng như hoàn tất luận văn này
Một lần nữa cho tôi gửi lời cảm ơn và chúc mọi người sức khỏe, thành đạt Xin chân thành cảm ơn!
TP.HCM, ngày tháng 07 năm 2010
Sinh viên
Nguyễn Thị Như Kiều Oanh
Trang 4NỘI DUNG TÓM TẮT
NGUYỄN THỊ NHƯ KIỀU OANH Tháng 07 năm 2010 “Phân Tích Lợi Ích – Chi Phí của Các Công Nghệ Sản Xuất Gạch ở Huyện Tân Uyên Tỉnh Bình Dương”
NGUYEN THI NHU KIEU OANH July 2010 “A coast-benefit analysis of ceramic production technology in Tan Uyen Dítrict – Binh Duong Province”
Sản xuất gạch nung là một trong các hoạt động sản xuất công nghiệp thải ra các chất gây ô nhiễm môi trường không khí nhất: khói bụi, các khí độc hại SO2, NOx, HF, CO, đồng thời cũng thải ra một lượng nước thải và chất thải rắn đáng kể Chất thải trong sản xuất gạch phụ thuộc rất nhiều vào trình độ công nghệ sản xuất
Đề tài nghiên cứu nhằm phân tích lợi ích – chi phí của các công nghệ sản xuất gạch tiên tiến nhằm tìm ra hiệu quả cũng như những vấn đề khó khăn trong quá trình ứng dụng đồng thời so sánh lợi ích – chi phí của ba công nghệ là công nghệ sản xuất bằng lò tuynel, công nghệ sản xuất bằng lò VSBK và công nghệ sản xuất bằng lò thủ công truyền thống và đã đưa đến việc lựa chọn công nghệ sản xuất bằng lò tuynel là tối ưu và đạt hiệu quả về mặt môi trường
Trang 5MỤC LỤC
Trang Danh mục các chữ viết tắt viii
Danh mục các bảng ix
Danh mục phụ lục xi CHƯƠNG 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1 1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.4 Nội dung nghiên cứu 3
1.5 Cấu trúc của khóa luận 3
2.1.Tổng quan về địa bàn nghiên cứu 4
2.1.3 Đặc điểm kinh tế - xã hội 8
2.2 Hiện trạng môi trường trên địa bàn huyện Tân Uyên 9
2.3 Phương hướng phát triển ngành vật liệu xây dựng 10
2.4 Quy hoạch nguyên liệu cho sản xuất gạch ngói nung 11
CHƯƠNG 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 13
Trang 63.1.4 Những tác động của ngành sản xuất gạch đối với môi trường 14
3.2.2 Phương pháp thống kê mô tả 22
3.2.3 Phương pháp phân tích lợi ích- chi phí 22
3.2.4 Phương pháp đo lường lượng phát thải CO2 25
3.2.5 Phương pháp xử lý, phân tích số liệu 27
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 28
4.1 Tình hình sản xuất gạch trên địa bàn huyện Tân Uyên 28
4.2 Các công nghệ sản xuất 29 4.2.1 Mô tả các công nghệ sản xuất gạch 29
4.2.2 Lưa chọn công nghệ sản xuất 30
4.2.5 Các hướng làm giảm tác động môi trường trong quá trình sản xuất 38
4.3 Phân tích lợi ích - chi phí của các công nghệ sản xuất gạch 40
4.4 Tiêu chí lựa chọn suất chiết khấu 41
4.5 Phân tích lợi ích chi phí về mặt tài chính của các công nghệ sản xuất gạch 42
4.6 Phân tích lợi ích chi phí trong trường hợp có tính chi phí môi trường 44
4.6.1 Xác định lượng phát thải CO2 của các công nghệ sản xuất gạch 44
4.6.2 Chi phí môi trường do khí thải CO2 45
4.6.3 Hiệu quả của các kiểu lò trong trường hợp có tính chi phí môi trường 47
Trang 74.7 So sánh hiệu quả trong trường hợp có chi phí môi trường và không có chi phí
môi trường 48 CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 50
5.1 Kết luận 50 5.2 Kiến nghị 50 TÀI LIỆU THAM KHẢO 52
PHỤ LỤC
Trang 8IPCC Ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang Bảng 2.1 Diện tích các nhóm đất chính 7
Bảng 2.2 Năng lực sản xuất ngành vật liệu xây dựng 11
Bảng 2.3.Gía trị tổng sản lượng ngành công nghiệp vật liệu xây dựng 12
Bảng 3.1 Ảnh hưởng của khí thải lò gạch đối với sức khỏe con người 16
Bảng 3.2.Tỷ Lệ GWP của Các Loại Khí Nhà Kính 20
Bảng 3.3 Khí Thải gây Hiệu Ứng Nhà Kính ở Việt Nam 20
Bảng 3.4 Lợi Ích và Chi Phí theo Năm Phát Sinh 23
Bảng 4.1 Tỷ lệ các kiểu lò được sử dụng 31
Bảng 4.2 Chi phí đầu tư xây dựng và chi phí sản xuất 40
Bảng 4.3 Lợi ích của các công nghệ 41 Bảng 4.4 Cơ Sở So Sánh để Lựa Chọn Lãi Suất Chiết Khấu 42
Bảng 4.5 Lợi ích, chi phí và NPV của lò tuynel 43
Bảng 4.6 Lợi ích, chi phí và NPV của lò VSBK 43
Bảng 4.7 Chi phí, lợi ích và NPV của lò thủ công 43
Bảng 4.10 Lợi ích, chi phí và NPV của lò tuynel khi có chi phí môi trường 47
Bảng 4.11 Lợi ích, chi phí và NPV của lò VSBK khi có chi phí môi trường 47
Bảng 4.12 Lợi ích, chi phí và NPV của lò thủ công khi có chi phí môi trường 48
Bảng 4.13 Lợi ích, chi phí và NPV của các công nghệ 48
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang Hình 2.1 Bản đồ hành chính huyện Tân Uyên 5
Hình 4.2 Sơ đồ công nghệ lò nung tuynel 37
Trang 11DANH MỤC PHỤ LỤC
Phụ lục 1:một số hình ảnh về các lò gạch
Phụ lục 2: Thông Tin về Các Cơ Sở Điều Tra
Phụ lục 3: Bảng câu hỏi điều tra
Phụ lục 4 : Bảng tính NPV của các kiểu lò khi không có chi phí môi trường Phụ lục 5 : Bảng tính NPV khi có chi phí môi trường
Trang 12Với tốc độ xây dựng trên địa bàn tỉnh Bình Dương và các tỉnh lân cận tăng nhanh Nhu cầu gạch nung ở Bình Dương nói chung và huyện Tân Uyên nói chung tăng mạnh, cầu lớn hơn cung Vì vậy, đã có lúc xảy ra hiện tượng không đủ gạch cung ứng cho xây dựng Tỉnh Bình Dương dự kiến năm 2010 sẽ thực hiện nghị định số 115 của Thủ tướng Chính phủ về việc xóa bỏ lò gạch thủ công nên nhu cầu sản xuất gạch xây bằng các công nghệ khác tiết kiệm năng lượng hơn thay thế lò thủ công là phù
Trang 13hợp.Giảm thiểu khí thải ra môi trường, tiết kiệm năng lượng và nâng cao chất lượng sản phẩm là những yêu cầu sống còn đối với các doanh nghiệp sản xuất gạch trên địa bàn huyện Tìm một giải pháp đáp ứng được những yêu cầu đó quả là một thách thức không nhỏ cho các doanh nghiệp Chuyển đổi công nghệ nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất, sức cạnh tranh của sản phẩm là một yêu cầu tất yếu nếu doanh nghiệp muốn tồn tại Mặc dù rất muốn chuyển đổi công nghệ sản xuất nhưng khó khăn lớn nhất vẫn là nguồn vốn cũng như lựa chọn công nghệ phù hợp Hiện có 2 công nghệ được áp dụng phổ biến là sản xuất gạch sử dụng lò VSBK và sản xuất gạch sử dụng lò tuynel Tuy nhiên, đối với mỗi công nghệ có những ưu điểm và nhược điểm riêng, và công nghệ sản xuất nào hiệu quả hơn, đáng mong muốn hơn đó là điều đáng quan tâm và cần được tìm hiểu Chính vì lý do đó, được sự giúp đỡ của TS.Đặng Thanh Hà, giảng viên
Khoa Kinh Tế, Trường ĐH Nông Lâm TP.HCM, tôi xin tiến hành đề tài “Phân tích lợi ích – chi phí của các công nghệ sản xuất gạch ở Huyện Tân Uyên Tỉnh Bình Dương” nhằm nhận dạng các chi phí và lợi ích thực sự về mặt kinh tế và môi trường
do các công nghệ mang lại
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Phân tích lợi ích – chi phí của các công nghệ sản xuất gạch để xác định công nghệ nào đem lại hiệu quả kinh tế và môi trường
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Mô tả các phương pháp sản xuất gạch
- Phân tích lợi ích chi phí về mặt tài chính của các công nghệ sản xuất gạch
- Phân tích lợi ích chi phí khi có tính chi phí môi trường của các công nghệ sản xuất gạch
1.3 Phạm vi nghiên cứu của khóa luận
Trang 141.4 Nội dung nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu phản ánh tình hình sản xuất gạch tại Huyện Tân Uyên Tỉnh Bình Dương Dựa vào các công nghệ sản xuất mà những doanh nghiệp và cơ sở đang
áp dụng để xác định lợi ích chi phí nhằm tính lợi ích ròng từ các công nghệ Từ đó giúp cho các cơ sở sản xuất và các doanh nghiệp lựa chọn được công nghệ phù hợp
1.5 Cấu trúc của khóa luận
Đề tài nghiên cứu gồm 5 chương:
CHƯƠNG 1 MỞ ĐẦU: Trình bày sự cần thiết của đề tài, mục tiêu nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, nội dung nghiên cứu và cấu trúc của đề tài
CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN
Giới thiệu tổng quan về tài liệu tham khảo, trình bày về điều kiện tự nhiên, kinh
tế, xã hội của huyện Tân Uyên
CHƯƠNG 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trình bày một số khái niệm về lĩnh vực nghiên cứu, các chỉ tiêu sử dụng và phương pháp để tiến hành nghiên cứu
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
Thể hiện các kết quả đạt được trong quá trình thực hiện nghiên cứu và phân tích các kết quả, như trình bày tình hình sản xuất gạch, mô tả các công nghệ sản xuất, những lợi ích và chi phí khi chuyển đổi công nghệ
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Tóm tắt các kết quả đạt được trong quá trình nghiên cứu cũng như các kiến nghị
để có thể mở rộng các công nghệ tiên tiến
Trang 15CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN
2.1.Tổng quan về địa bàn nghiên cứu
2.1.1 Vị trí địa lý
Huyện Tân Uyên nằm phía Đông Nam tỉnh Bình Dương, cách thị xã Thủ Dầu Một Đông Bắc Tọa độ địa lý:106o 46’- 11o 55’50” kinh độ đông 10o19o20’2” vĩ độ Bắc
Ranh giới địa lý:
- Phía Bắc giáp huyện Phú Giáo – lấy Sông Bé làm ranh một phần
- Phía Nam: Phần Tây Nam giáp thị xã Thủ Dầu Một, huyện Thuận An, Dĩ An, phần Đông giáp tỉnh Đồng Nai và TP.Biên Hòa
- Phía Đông giáp tỉnh Đồng Nai – Huyện Vĩnh Cửu, sông Đồng Nai là ranh giới phía Đông Nam, Sông Bé là ranh giới phía chính Đông, Hồ Trị An cách ranh phía Đông hơn 1 km
- Phía Tây giáp thị xã Thủ Dầu Một
Trang 16Hình 2.1 Bản đồ hành chính huyện Tân Uyên
Nguồn:www.binhduong.gov.vn
2.1.2 Điều kiện tự nhiên
a) Địa hình
Địa hình chung của huyện nghiêng theo hướng Bắc-Nam và Đông Bắc-Tây Nam Càng lên hướng Bắc và Đông Bắc cao trình càng cao Đất đai bị chia cắt nhiều
do đồi núi như các xã Tân Mỹ, Thường Tân, Lạc An Có cao trình 40-50m, thậm chí
có nơi cao hơn 90m như Hiếu Liêm thích hợp cho trồng cây rừng và cây công nghiệp lâu năm như cao su Về phía Nam và Tây Nam cao trình thấp dần, trung bình 20 - 30m, đất đai bằng phẳng ít bị chia cắt tạo thành vùng rộng lớn, thuận lợi cho cây sản xuất hàng năm như lúa, đậu và rau các loại
Trang 17b) Khí hậu – thủy văn
Huyện Tân Uyên nằm trong vùng có chế độ khí hậu nhiệt đới gió mùa đồi núi
c) Tài nguyên nước
- Nước mặt: Huyện có 2 con sông lớn là sông Đồng Nai, Sông Bé và nhiều sông, suối nhỏ khác Sông Đồng Nai, Sông Bé lượng nước dồi dào Sông Đồng Nai là sông lớn thứ ba ở Việt Nam Đoạn qua Tân Uyên: sông Đồng Nai dài 58 km, Sông Bé dài 100km Nước dùng trong nông nghiệp hiện dùng nước mặt tại sông, suối, hồ và các công trình thủy nông
- Nước ngầm: Huyện thuộc khu vực có mực nước ngầm không nhiều Tuy nhiên hiện nay nước sinh hoạt và các xí nghiệp sản xuất vẫn dùng nước ngầm là chủ yếu
d) Tài nguyên đất
Đất đai huyện Tân Uyên cũng như tỉnh Bình Dương thích hợp cho trồng cây công nghiệp dài ngày, cây ăn quả Ngoài ra, với nền đất vững chắc, cao từ 25 - 30m so với mặt biển, độ dốc 2 - 5%, đất Bình Dương nói chung, đất Tân Uyên nói riêng thuận lợi cho xây dựng công trình giao thông, công nghiệp
Qũy đất của Huyện Tân Uyên có biến động do 2 lần nhập và tách các xã của huyện Phú Giáo vào năm 1997 và 1999 Diện tích đất tự nhiên của huyện là 661.077ha, chia làm 4 nhóm chính
Trang 18Bảng 2.1 Diện tích các nhóm đất chính
Nhóm đất Diện tích
(ha)
Tỷ lệ (%)
100
Hợp trồng cây dài ngày Hợp lúa, rau, cây ngắn ngày
Đất tốt hợp lúa, rau màu Ngập nước, chua phèn
Nguồn: phòng TNMT huyện Tân Uyên
Động vật: có tôm cá nước ngọt Thuận lợi chăn nuôi gà, bò, lợn Đặc biệt tôm là loại có giá trị cao
f) Tài nguyên khoáng sản
Huyện Tân Uyên tập trung phần lớn các mỏ khoáng sản đang khai thác của tỉnh Bình Dương Chỉ có khoáng sản phi kim tập trung vào 5 loại chính:
- Cao lanh: có 2 mỏ Tổng diện tích 30 km2, trữ lượng 34 triệu tấn Mỏ Tân Mỹ
lộ thiên ( Đất Cuốc), diện tích 10km2, trữ lượng 18 triệu tấn Chất lượng tốt, khai thác
cơ giới, sản lượng khai thác 700 - 800 tấn/năm, chủ yếu do xí nghiệp trung ương khai thác Mỏ Vĩnh Tân, chất lượng khá Diện tích 20km2, trữ lượng 16 triệu tấn, chưa khai thác Mỏ cao lanh của tỉnh tập trung tại huyện
- Sét vật liệu xây dựng: Mỏ đất sét Khánh Bình có diện tích 6km2 Trữ lượng 15 triệu m3, chất lượng rất tốt Hiện khai thác hàng năm 12 – 15m3 Huyện sản xuất
Trang 19khoảng 8 triệu viên gạch, 1 triệu viên ngói/năm và bán nguyên liệu ra ngoài huyện Dự đoán còn khai thác 15 năm nữa Mỏ sét của tỉnh có ở Tân Uyên và Bến Cát
- Sét chịu lửa làm gốm: Tập trung tại xã Tân Phước Khánh và Tân Vĩnh Hiệp
Là loại nguyên liệu quý, có giá trị kinh tế cao, làm gốm sứ và sử dụng trong luyện kim Hàng năm sản xuất 17-18 triệu sản phẩm Là một trong hàng xuất đi các nước của huyện
- Đá xây dựng: Tập trung ở Thường Tân Trong tỉnh còn có mỏ ở huyện Thuận
An
- Cát làm vật liệu xây dựng và thủy tinh: Tập trung ven sông Đồng Nai, cù lao Rùa, cù lao Bình Chánh Trước đây chủ yêu dùng làm vật liệu xây dựng Gần đây được xác định làm nguyên liệu chế biến thủy tinh tốt Đã có một nhà máy thủy tinh được xây dựng bằng vốn của nước ngoài
2.1.3 Đặc điểm kinh tế - xã hội
Tăng trưởng bình quân GDP hàng năm đạt 18,54%; giá trị sản xuất ngành công nghiệp tăng 41,17%/năm, nông nghiệp tăng 5,55%, dịch vụ tăng 28,1% Tỷ trọng các ngành kinh tế chủ lực trong cơ cấu kinh tế ước đến cuối năm 2008 là: công nghiệp chiếm 56,26%; dịch vụ chiếm 25,49% và nông nghiệp chiếm 18,25% Đến nay, Tân Uyên đã có 518 doanh nghiệp trong nước (tăng 190 dự án so với đầu nhiệm kỳ) và 249
dự án đầu tư nước ngoài (tăng 155 dự án so với đầu nhiệm kỳ) được cấp phép đầu tư với tổng vốn đăng ký 4.470 tỷ đồng và trên 866 triệu USD, trong đó có 437 doanh nghiệp trong nước và 135 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã đi vào hoạt động
ổn định với cơ cấu giá trị sản xuất của khối doanh nghiệp trong nước là 32,9%, doanh nghiệp có vấn đầu tư nước ngoài là 67,1% Toàn huyện hiện có 8 khu công nghiệp, 4 cụm công nghiệp được chấp thuận đầu tư với diện tích 3.170 ha đang trong giai đoạn giải phóng mặt bằng, chưa triển khai cơ sở hạ tầng nhưng đã ký hợp đồng cho thuê và đang triển khai xây dựng
Công tác xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật làm nền tảng phát triển kinh tế - xã hội được tập trung đầu tư với tổng vốn trên 257 tỷ đồng Trong đó lĩnh vực giao thông chiếm 48,7%, thủy lợi chiếm 3,4%, văn hóa - xã hội chiếm 38,24% Đã đầu tư hoàn chỉnh các tuyến đường từ ĐT746 vào Khu liên hợp công nghiệp - dịch vụ - đô thị Bình Dương và đang thi công các công trình quan trọng: cầu Thủ Biên nối liền hai bờ Bình
Trang 20Dương và Đồng Nai là tuyến đường quan trọng phục vụ tiến trình công nghiệp hóa hiện đại hóa và hội nhập kinh tế khu vực, quốc tế của tỉnh, của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam; cầu Bạch Đằng nối cù lao Bạch Đằng với bên ngoài và cầu Thạnh Hội
-sẽ giúp “nối mạng” giữa “cánh đồng thu nhập cao” với các cơ sở chế biến, tiêu thụ cao cấp và góp phần phát triển kinh tế du lịch, sinh thái, phát huy tiềm năng sông nước
Tốc độ tăng trưởng trên lĩnh vực thương mại bình quân 28,1%/năm, các cơ sở dịch vụ -thương mại tăng nhanh về số lượng nhưng còn ở quy mô nhỏ lẻ Hệ thống chợ nông thôn từng bước được xây dựng theo hướng xã hội hóa Do điều kiện tự nhiên
ưu đãi, huyện Tân Uyên có nhiều tiềm năng về phát triển du lịch, đặc biệt là du lịch sinh thái
2.2 Hiện trạng môi trường trên địa bàn huyện Tân Uyên
Đang là một huyện phát triển của tỉnh Bình Dương, song song với việc phát triển kinh tế, nảy sinh những tác động không nhỏ đến MT Trong đó, ô nhiễm MT từ hoạt động giao thông, mực nước ngầm ngày càng hạ thấp, chất thải rắn sinh hoạt và tình trạng nước thải không được thu gom xử lý đang là những vấn đề MT nổi bật của huyện
Do trên địa bàn huyện tập trung nhiều cơ sở sản xuất gạch ngói nung nên tình trạng khai thác khoáng sản đã và đang diễn biến hết sức phức tạp Không những làm nguồn tài nguyên cạn kiệt, môi trường bị huỷ hoại mà còn khiến hệ thống giao thông
bị băm nát Ước tính mỗi ngày có hàng trăm xe ben hạng nặng chở đầy đất ra vào liên
tục Hầm khai thác khoáng sản ở xã Khánh Bình rộng hàng chục ha, mỗi ngày hàng
ngàn mét khối đất sét, cao lanh được lấy lên từ lòng đất để phục vụ cho các lò gốm, lò gạch và san lấp mặt bằng trên địa bàn Những chiếc máy đào, máy ủi ngày đêm đục khoét lòng đất khiến một vùng sinh thái có nguy cơ bị phá vỡ Tiếng máy nổ xen lẫn tiếng động cơ của hàng chục chiếc xe ben “oằn mình” chở đầy đất biến khu vực này thành một đại công trường Điều đáng bàn là tình trạng khai thác khoáng sản tràn lan
đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến diện tích đất nông nghiệp Những thửa ruộng, khu vườn màu mỡ trước kia nay đã biến thành hố sâu thăm thẳm Những khu vực xung quanh còn bị máy đào cày qua, xới lại nham nhở
Trang 212.3 Phương hướng phát triển ngành vật liệu xây dựng
Vào năm 2015, Việt Nam phải tự chế tạo được các dây chuyền sản xuất vật liệu xây dựng quy mô tương đối lớn, có trình độ công nghệ tiên tiến Phát triển VLXD phải bảo đảm tính bền vững, góp phần phát triển kinh tế, tạo sự ổn định xã hội và bảo vệ môi trường, phù hợp với các quy hoạch khác liên quan Tiềm năng về tài nguyên khoáng sản, thị trường, công nghệ, lao động sẽ được khai thác để phát triển ngành VLXD thành ngành kinh tế mạnh, từ năm 2010, đáp ứng về số lượng, chất lượng và các chủng loại VLXD cơ bản cho nhu cầu trong nước và xuất khẩu Mọi nguồn lực sẽ được thu hút vào phát triển sản xuất VLXD Khuyến khích các thành phần kinh tế
tham gia sản xuất và kinh doanh VLXD Phát triển vật liệu mới, tính năng độc đao,
thân thiện môi trường
Các loại vật liệu cơ bản như xi măng, vật liệu ốp lát, sứ vệ sinh, kính xây dựng, vật liệu xây, lợp, đá, cát xây dựng, vật liệu trang trí xây dựng và các loại vật liệu mới, thân thiện với môi trường sẽ tiếp tục được đầu tư phát triển Đối với mỗi loại vật liệu xây dựng, quy hoạch đều đề ra các định hướng về quy mô đầu tư, công nghệ khai thác, chế biến, trong đó, xác định cụ thể các mức tiêu hao nhiên liệu và năng lượng
Phát triển đối với gạch đất sét nung:
- Đầu tư chiều sâu cải tiến công nghệ sản xuất gạch đất sét nung ở tất cả các cơ
sở sản xuất hiện có, nhằm giảm tiêu hao nguyên liệu, nhiên liệu và bảo vệ môi trường
- Phát triển các loại gạch có kích thước lớn, độ rỗng cao ≥ 50% để tiết kiệm nguyên liệu và nhiên liệu, tăng tính cách âm, cách nhiệt;
- Rà soát và tổ chức lại các cơ sở sản xuất gạch thủ công hiện nay để chuyển sang công nghệ lò tuynel, hoặc các công nghệ tiên tiến khác bảo đảm tiêu chuẩn về chất lượng môi trường của Việt Nam
- Phát triển sản xuất gạch nung chất lượng cao có giá trị kinh tế, đặc biệt là các loại gạch xây không trát phục vụ xây dựng trong nước và xuất khẩu
- Khuyến khích việc chuyển đổi nguyên liệu sản xuất từ đất sét trong sản xuất gạch nung sang nguyên liệu đất đồi, đất bãi và phế thải công nghiệp (đá bìa trong khai thác than, đá sít than )
Trang 222.4 Quy hoạch nguyên liệu cho sản xuất gạch ngói nung
UBND tỉnh Bình Dương đã ban hành Quyết định số 4262/QD-UBND ngày 31/12/2008 về việc Phê duyệt điều chỉnh, bổ sung quy hoạch thăm dò, khai thác, sử dụng khoáng sản tỉnh Bình Dương đến năm 2010, trong đó quy hoạch thăm dò, khai thác, sử dụng khoáng sản làm VLXD Căn cứ vào tiềm năng tài nguyên khoáng sản và
dự báo nhu cầu nhiên liệu khoáng sản cũng như mục tiêu phát triển ngành công nghiệp khoáng sản tỉnh Bình Dương Đến năm 2010 sẽ có 8 vùng mỏ sét gạch ngói với tổng diện tích 350 ha và sản lượng khai thác là 1,5 tỷ m3 , sét có nguồn gốc từ trầm tích và phong hóa với trữ lượng phong phú, phân bổ ở nhiều nơi trong tỉnh tập trung chủ yếu
ở các khu vực Khánh Bình, Thạnh Phước của huyện Tân Uyên Sét nguyên khai ở Bình Dương có chất lượng tốt, ngoài việc dùng để sản xuất gạch ngói thông thường còn có thể để sản xuất các loại sản phẩm có giá trị cao hơn như sản xuất gạch ngói trang trí, gạch lát nền…Hiện nay, có một số doanh nghiệp khai thác ở quy mô công nghiệp tại các mỏ Mỹ Phước, Phước Thái, Khánh Bình bên cạnh đó vẫn còn phổ biến khai thác nhỏ, khai thác tận thu trong dân
Bảng 2.2 Năng lực sản xuất ngành vật liệu xây dựng
Trang 23Bảng 2.3.Gía trị tổng sản lượng ngành công nghiệp vật liệu xây dựng
Dự báo tốc độ tăng trương bình quân năm của ngành vật liệu xây dựng trong giai đoạn
201 l - 2020 vào khoảng 2-5%, nhu cầu vật liệu xây dựng năm 2020 như sau :
Trang 24CHƯƠNG 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Một số khái niệm
3.1.1 Ô nhiễm môi trường
Theo Luật Bảo vệ Môi trường của Việt Nam, 1993 : “Ô nhiễm MT là sự làm thay đổi tính chất của môi trường, vi phạm Tiêu chuẩn MT” Trên thế giới, ô nhiễm môi trường được hiểu là việc chuyển các chất thải hoặc năng lượng vào môi trường đến mức có khả năng gây hại đến sức khoẻ con người, đến sự phát triển sinh vật hoặc làm suy giảm chất lượng môi trường Các tác nhân ô nhiễm bao gồm các chất thải ở dạng khí (khí thải), lỏng (nước thải), rắn (chất thải rắn) chứa hoá chất hoặc tác nhân vật lý, sinh học và các dạng năng lượng như nhiệt độ, bức xạ Tuy nhiên, môi trường chỉ được coi là bị ô nhiễm nếu trong đó hàm lượng, nồng độ hoặc cường độ các tác nhân trên đạt đến mức có khả năng tác động xấu đến con người, và sinh vật
3.1.2 Phát triển bền vững
Theo Luật Bảo Vệ MT (2005): “Phát triển bền vững: Là phát triển đáp ứng được nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làn tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu
đó của các thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa tăng trưởng kinh
tế, đảm bảo tiến bộ xã hội và bảo vệ MT”
Phát triển bền vững thể hiện ở cả 3 mặt: kinh tế, xã hội và MT
- Bền vững về kinh tế thể hiện ở sự tăng trưởng và phát triển lành mạnh của nền kinh tế, đáp ứng được yêu cầu nâng cao đời sống của nhân dân, tránh được sự suy thoái hoặc đình trệ trong tương lai
- Bền vững về xã hội thể hiện ở mức độ bảo đảm dinh dưỡng, việc chăm sóc sức khỏe, số dân được học hành, giảm tình trạng đói nghèo và hạn chế sự cách biệt giữa giàu nghèo trong một xã hội…
Trang 25- Bền vững về MT thể hiện ở việc sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo tồn đa dạng sinh học, hạn chế ô nhiễm, cải thiện môi trường…
3.1.3 Đặc điểm chất thải trong sản xuất gạch
a) Chất thải rắn sản xuất
Chất thải rắn sản xuất phát sinh trong quá trình sản xuất bao gồm: các tạp chất, cặn bùn lắng tách ra trong công đoạn tinh chế nguyên liệu, nguyên liệu, phối liệu rơi vãi, bụi từ các nguồn phân tán sa lắng, khuôn vỡ, phế thải từ các công đoạn sản xuất khác nhau, xỉ than Chất thải rắn của các cơ sờ có số lượng không lớn, chủ yếu là các sản phẩm bền hoá học, không bị phân huỷ hoặc tạo ra mùi khó chịu, có thể tái sử dụng nên về mặt môi trường các chất thải này không phải là điều đáng quan tâm b) Chất thải khí
Khí thải chủ yếu sinh ra do đốt dầu FO, DO khi sấy, nung gạch với khói có chứa các chất ô nhiễm như oxit lưu huỳnh, oxit nitơ, oxit cacbon, hydrocacbon, aldehyt và khí HF sinh ra do phân huỷ đất sét Bụi thải chủ yếu phát sinh trong các công đoạn vận chuyển nguyên liệu, nghiền, sấy phun, lò nung rolic và chủ yếu là bụi than, các hạt bụi vô cơ (đất đá), bụi silic có kích thước rất nhỏ
c) Chất thải lỏng
Nước thải sản xuất và nước thải sinh hoạt Thành phần nước thải của các cơ sở bao gồm các tạp chất vô cơ không tan, cũng chứa một số chất hữu cơ lơ lửng và hoà
tan, một số vi trùng gây bệnh
3.1.4 Những tác động của ngành sản xuất gạch đối với môi trường
a) Thiệt hại về tài nguyên đất
Hàng năm chúng ta sản xuất khoảng 16 tỉ viên gạch ngói nung, tốn khoản 1,7
m3/1000 viên cho cả gạch ngói nung lò tuynel và gạch ngói nung lò thủ công, thì một năm chúng ta cần khoảng 27 triệu m3 khối đất, nếu lấy độ sâu trung bình là 2m, thì một năm chúng ta mất đi khoảng 13,5 km2, nghĩa là xấp xỉ bằng diện tích của quận Hai
Bà Trưng- một quận lớn nhất của Hà Nội Viêc khai thác đất một để làm nguyên liệu phục vụ cho sản xuất gạch để lại hậu quả rất lớn: diên tích đất nông nghiệp bị thu hẹp, đất bị thoái hóa, bạc màu do khai thác lớp đất mặt, sau khi khai thác đất xong đã để lại những hố sâu không thể sử dụng cho mục đích nào khác và rất nguy hiểm
Trang 26b) Ô nhiễm không khí
Sản xuất gạch ngói là một trong các hoạt động sản xuất công nghiệp thải ra các chất gây ô nhiễm môi trường không khí nhất: bụi lơ lửng, bụi PM10, các khí độc hại SO2, NOx, CO, SO2, SO3, Pb, H2S, HF,… đồng thời cũng thải ra một lượng nước thải
và chất thải rắn đáng kể
Trang 27Bảng 3.1 Ảnh hưởng của khí thải lò gạch đối với sức khỏe con người
Khí HF Hợp chất acid HF dạng khí, có thể bị hút vào phổi Người bị
nhiễm HF có thể bị đau xương ức, ho ra đờm hoặc ra máu, phù nền phổi, những chỗ tiếp xúc với HF có thể bị loét, Khí HF có nhiều tác hại tới cây trồng và vật nuôi, đặc biệt là đối với sức khỏe con người Khí HF gây kích thích da, mắt, niêm mạc, xung huyết mũi và xoang, phù phổi, tổn thương thần kinh,…
Khí SO2 (lưuhuỳnh
dioxit)
có thể kết hợp với hơi nước trong không khí để tạo thành
H2SO4 và xâm nhập vào máu khi hít thở SO2 làm giảm dự trữ kiềm trong máu gây rối loạn chuyển hoá đường và protêin Trong máu, SO2 còn gây thiếu vitamin B và C, tạo ra
methemoglobine để chuyển Fe2+ (hoà tan) thành Fe3+(kết tủa) gây tắc nghẽn mạch máu, làm giảm khả năng vận chuyển ôxy của hồng cầu, gây co hẹp dây thanh quản, khó thở
Khí CO (cacbonoxit) Khi hít phải, CO sẽ đi vào máu, chúng phản ứng với
Hemoglobin (có trong hồng cầu) khiến cho cơ thể bị ngạt do máu không tải được ô xy Khi hít phải CO2, sẽ bị đau đầu, chóng mặt, mệt mỏi Ở liều lượng lớn hơn, người hít phải CO bất tỉnh hoặc chết ngạt rất nhanh Khi bị ôxy hoá, CO biến thành khí cacbonic (CO2) Khí CO2 cũng gây ngạt nhưng không độc bằng CO
Nguồn: Tư liệu bộ tài nguyên môi trường
Trang 28c) Năng suất cây trồng, vật nuôi
Khoảng cách ngoài 500m đến 1.000m, các loại cây trồng chậm lớn, lá bị sém nhẹ, độ thụ phấn kết trái kém vì nhiều loại côn trùng giúp thụ phấn hoa không tiếp xúc được Các cây trồng ở cuối chiều gió bị ảnh hưởng nặng hơn Nếu đốt gạch vào đúng lúc các cây như nhãn, vải kết trái non thì bị rụng tới 1/4 số quả Vật nuôi thì còi cọc chậm lớn
3.1.5 Thực trạng sản xuất gạch thủ công
Nghề sản xuất gạch ngói thủ công thời gian qua đã gây ô nhiễm môi trường ở nhiều địa phương trong tỉnh Hầu hết các huyện, thành phố ở đồng bằng đều có nghề này Chỉ tính riêng huyện Tân Uyên đã có đến 193 lò gạch thủ công Do nhu cầu gạch xây dựng trên thị trường mạnh, các chủ lò gạch này tập trung đầu tư mua sắm phương tiện máy móc, mở rộng quy mô sản xuất, có nhiều địa phương mỗi hộ có đến 02 lò Điều đáng nói ở đây là các lò gạch lại nằm tập trung ngay trong khu dân cư nên mỗi khi nung gạch là khói, bụi than đá toả ra không gian, ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất
và đời sống hàng ngày của hàng trăm hộ dân xung quanh Nhiều loại cây ăn trái lâu năm và hoa màu gần các lò gạch bị trụi lá, chết khô bởi sức nóng, khói, bụi Nguyên nhân do trong khói lò nung gạch chứa nhiều chất ô nhiễm môi trường không khí Nồng
độ cao bất thường của khí CO2, SO2 trong không khí đã xua đuổi các loại thiên địch có ích cho việc thụ phấn hoặc ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng thụ phấn và đậu trái của các loại cây trồng Nhiều diện tích đất sản xuất giờ trở thành đất chết, phải bỏ hoang hóa Khói, bụi than đá cũng đã làm cho nhiều mái nhà lợp tôn nhanh chóng bị rỉ sét,
hư hỏng Nếu có 01 lò gạch đốt lửa thì nồng độ bụi khói trong không khí xung quanh cao hơn tiêu chuẩn cho phép trong một vệt khói kéo dài tới 100m, khi 3 lò gạch cạnh nhau cùng hoạt động, khoảng cách ô nhiễm là 200m và khoảng cách này tăng lên 600m khi có 6 lò gạch cạnh nhau cùng hoạt động
Bên cạnh việc gây ô nhiễm, thì các thiết bị sử dụng trong khâu ép định hình ở các lò gạch sản xuất thủ công cũng kém an toàn, nên thường gây tai nạn lao động cho công nhân Đã có rất nhiều trường hợp bị cụt tay, chân vì các máy ép gạch Ngoài ra, lao động tại các cơ sở sản xuất gạch toàn bộ đều là sử dụng chân tay, nên công việc hết sức nặng nhọc
Trang 29Tuy nhiên, cho đến nay tình trạng này vẫn chưa được các chủ lò gạch khắc phục Hầu hết các xã cũng đã tính đến chuyện di dời các lò gạch ra ngoài khu dân cư, nhưng chưa tìm được quỹ đất để bố trí quy hoạch mặt bằng cho phù hợp Để khắc phục vấn đề này, UBND tỉnh đã có chủ trương chuyển đổi sản xuất gạch bằng lò thủ công sang lò nung gạch với công nghệ tiên tiến nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường, tiết kiệm năng lượng và nâng cao hiệu quả kinh tế Theo đó, các sở, ngành trong tỉnh
đã bắt tay thực hiện nhiệm vụ này như Sở Công thương, Sở Khoa học và Công nghệ, bước đầu tìm ra hướng đi mới cho ngành sản xuất vốn mang nhiều tai tiếng này
3.1.6 Các công nghệ sản xuất hiện nay ở Việt Nam
a) Công nghệ sản xuất sử dụng lò thủ công truyền thống
Lò thủ công truyền thống được sử dụng phổ biến ở Việt Nam từ lâu đời Lò thủ công truyền thống phù hợp với sản xuất nhỏ, thủ công, tranh thủ được lao động thời vụ nông nhàn, cung cấp gạch xây tại chỗ, giảm chi phí vận chuyển, giá thành có khả năng cạnh tranh cao, gạch có thể xây tường chịu lực
Nhược điểm của công nghệ sản xuất gạch nung bằng loại lò này là nung gián đoạn, tổn thất nhiệt năng lớn, phát thải khí CO2 nhiều, gây ô nhiễm môi trường cao; sử dụng lao động thủ công là chủ yếu, ảnh hưởng lớn tới sức khoẻ của người lao động
b) Công nghệ sản xuất sử dụng lò liên tục kiểu đứng
Lò liên tục kiểu đứng là lò có xuất xứ từ Trung Quốc, được du nhập vào Việt Nam từ năm 2001 Lò liên tục kiểu đứng khởi động một lần, có thể vận hành liên tục trong suốt quá trình sản xuất Lò liên tục kiểu đứng có buồng đốt đặt theo chiều thẳng đứng, gạch di chuyển từ trên xuống dưới Mức độ cơ giới cao, giảm được lao động nặng nhọc; tiết kiệm nhiên liệu đến 45% so với lò thủ công truyền thống, giảm thiểu ô nhiễm môi trường
Quy mô sản xuất và đầu tư vốn phù hợp với năng lực của các doanh nghiệp vừa
và nhỏ
c) Công nghệ sản xuất sử dụng lò tuynel
Lò tuynel có nguồn gốc từ Đức, được du nhập vào Việt Nam từ năm 1976 Công suất sản xuất của lò từ 7 đến 40 triệu viên/năm/lò
Ưu điểm nổi bật của lò tuynel là sản lượng lớn, nung liên tục, chủ động sấy khô, tiết kiệm năng lượng do sử dụng được tối đa lượng nhiệt trong lò; mức độ cơ giới
Trang 30hoá khá cao, sản xuất theo dây chuyền công nghiệp, năng suất lao động cao; giảm phát thải khí CO2, hạn chế ô nhiễm môi trường Chính phủ có chủ trương khuyến khích mọi thành phần kinh tế đầu tư xây dựng lò tuynel, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về gạch xây dựng và dần xoá bỏ toàn bộ lò thủ công truyền thống
Tuy vậy, lò tuynel đòi hỏi mức đầu tư khá cao, quy mô sản xuất lớn Đây là trở ngại lớn đối với các hộ gia đình
3.1.7 Hiệu ứng nhà kính và khí nhà kính
a) Hiệu ứng nhà kính
Nhiệt độ bề mặt trái đất được tạo nên do sự cân bằng giữa NL mặt trời đến bề mặt trái đất và NL bức xạ của trái đất vào khoảng không gian giữa các hành tinh NL mặt trời chủ yếu là các tia sóng ngắn dễ dàng xuyên qua cửa sổ khí quyển Trong khi
đó, bức xạ của trái đất với nhiệt độ bề mặt trung bình +16oC là sóng dài có năng lượng thấp, dễ dàng bị khí quyển giữ lại Các tác nhân gây ra sự hấp thụ bức xạ sóng dài trong khí quyển là khí CO2, bụi, hơi nước, khí mêtan, khí CFC v.v Sự gia tăng tiêu thụ nhiên liệu hoá thạch của loài người đang làm cho nồng độ khí CO2 của khí quyển tăng lên Sự gia tăng khí CO2 và các khí nhà kính kháctrong khí quyển trái đất làm
nhiệt độ trái đất tăng lên “Kết quả của sự của sự trao đổi không cân bằng về năng
lượng giữa trái đất với không gian xung quanh, dẫn đến sự gia tăng nhiệt độ của khí quyển trái đất Hiện tượng này diễn ra theo cơ chế tương tự như nhà kính trồng cây và được gọi là Hiệu ứng nhà kính”(TN&MT, 2005)
Khí nhà kính
Có nhiều chất khí có tính chất tương tự như các tấm kính nghĩa là cho tia trông thấy đi qua nhưng không cho các tia hồng ngoại đi qua Chúng được gọi là “khí nhà kính” (KNK) Một số khí có nguồn gốc tự nhiên như hơi nước, cacbon đioxit (CO2), metan(CH4), và nitơ oxit (N2O) Một số có nguồn gốc nhân tạo như hydrofluorocarbons (HFCs), perfluorocarbons (PFCs), và sulfua hexafluorit (SF6) được sinh ra từ nhiều ngành công nghiệp khác nhau
Tiềm năng ấm lên toàn cầu (Global Warming Potential – GWP) là tác động của KNK gây ấm lên toàn cầu Theo định nghĩa, CO2 thường coi như trường hợp được chứng nhận, do đó nó luôn có GWP là 1 GWP thay đổi theo thời gian, và IPCC (Integrated Pollution Prevention and Control) đã đề nghị sử dụng GWP là 100 năm
Trang 31cho mục đích so sánh Dưới đây là danh sách GWP là 100 năm được sử dụng trong
Nghị định thư Kyoto cho 6 loại KNK:
Bảng 3.2.Tỷ Lệ GWP của Các Loại Khí Nhà Kính
Methane (CH4) 21 Nitrous oxide (N2O) 310
Theo Trung tâm nghiên cứu Năng Lượng và Môi Trường Việt Nam (RCEE),
hiện nay mỗi năm Việt Nam thải ra bầu khí quyển khối lượng khí thải gây hiệu ứng
nhà kính quy đổi tương đương 103,8 triệu tấn khí CO2, trong đó nông nghiệp chiếm
hơn 50%
Bảng 3.3 Khí Thải gây Hiệu Ứng Nhà Kính ở Việt Nam
Lĩnh vực Quy đổi thành triệu tấn CO 2 Tỷ lệ (%)
Trang 32Theo Phạm Minh Tứ, 2007 thì các nguồn phát thải KNK như sau:
Năng lượng:
Do sử dụng năng lượng như than đá dầu hoả, khí đốt ở các nhà máy điện, lọc dầu…Nguồn thải này phát ra khí CO2,CH4, O3…Khí O3 được hình thành từ những chất ban đầu như NOx, các hợp chất hữu cơ dể bay hơi không phải CH4
Giao thông vận tải:
- Các phương tiện giao thông thải ra các khí CO2, NOx, N2O, CFC
- Khoảng 20% CO2 toàn cầu sinh ra từ khí thải giao thông vận tải
- NOx do giao thông vận tải phát ra chiếm 2/3 khí thải NOx toàn cầu
Sự phá rừng: phát ra khí CO2 và các khí khác là N2O và CO
Hoạt động công nghiệp:
- Thải ra các khí CFCs, trong công nghiệp làm lạnh do nó là tác nhân làm lạnh cho tủ lạnh, chất tạo xốp cho sản xuất đệm, chất trong các bình xịt
-Thải ra các khí CO2 trong quá trình sản xuất vật liệu xây dựng, quá trình luyện kim, đốt nhiên liệu
Hoạt động nông nghiệp và các nguồn thải khác: thải ra các khí như CH4 , NO2, CO2 ,…
c) Hiện tượng nóng lên toàn cầu và biến đổi khí hậu
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của các ngành công nghiệp, sự gia tăng các hoạt động của con người như đốt các nhiên liệu hóa thạch (than đá, dầu mỏ, khí thiên nhiên, khí dầu mỏ…), khai thác mỏ, khai thác rừng, chuyển đổi sử dụng đất, sản xuất lương thực, chăn nuôi, xử lý chất thải, các hoạt động sản xuất công nghiệp….đã và đang làm tăng nồng độ các khí nhà kính trong khí quyển Ví dụ, nồng độ CO2 đã tăng
từ 290 ppm (phần triệu theo thể tích) lên 370 ppm Tình trạng này dẫn đến hiện tượng nóng lên toàn cầu, gây biến đổi khí hậu của trái đất (Nguyễn Thanh Sơn, 2008)
3.2 Phương pháp nghiên cứu
3.2.1 Phương pháp thu thập số liệu
a) Số liệu thứ cấp
Tiến hành thu thập số liệu thứ cấp tại phòng Tài Nguyên Môi Trường, Phòng kinh tế, và các phòng ban có liên quan
Trang 33Các số liệu thứ cấp bao gồm: vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, đặc điểm kinh tế
xã hội…của khu vực nghiên cứu
b) Số liệu sơ cấp
Do đề tài bị giới hạn về thời gian, kinh phí, thông tin, điều kiện thực hiện nên chỉ tiến hành phỏng vấn điều tra 15 cơ sở sản xuất gạch trên địa bàn huyện để thu thập các số liệu, thông tin cần thiết về các biện pháp xử lý chất thải, những chi phí xây dựng, bảo dưỡng, chi phí sản xuất … và những lợi ích thu được khi ứng dụng mô hình công nghệ tiên tiến
3.2.2 Phương pháp thống kê mô tả
Thống kê mô tả là cách thức thu thập thông tin, số liệu nhằm kiểm chứng những giả thuyết hay giải thích các câu hỏi liên quan đến tình trạng hiện tại của đối tượng nghiên cứu Phương pháp nhằm mô tả các công nghệ sản xuất gạch tiên tiến đang được
áp dụng trên địa bàn nghiên cứu Thu thập những thông tin về lợi ích và chi phí , lượng nguyên liệu sử dung để tính toán lượng CO2 phát thải
3.2.3 Phương pháp phân tích lợi ích- chi phí
Theo Tài liệu Nhập môn Phân tích lợi ích và chi phí và bài giảng phân tích lợi ích – chi phí (Đặng Minh Phương)
a Định nghĩa: Phân tích lợi ích – chi phí là một phương pháp đánh giá sự mong
muốn tương đối giữa các phương án cạnh tranh nhau, khi sự lựa chọn được đo lường bằng giá trị kinh tế tạo ra cho toàn xã hội
b Các bước tiến hành phương pháp:
Nhận dạng vấn đề và xác định các phương án giải quyết
Giống như tất cả các phương pháp giải quyết vấn đề, phân tích lợi ích chi phí có thể cung cấp thông tin giúp lựa chon để cải thiện tình trạng hiện tại
• Bước đầu tiên là nhận dạng vấn đề đó, đó là nhận dạng khoảng cách giữa tình trạng hiện tại và tình trạng mong muốn
• Sau đó các dự án, chính sách hoặc chương trình khác nhau được xác định để làm thu hẹp khoảng cách này và giải quyết vấn đề
Nhận dạng các lợi ích và chi phí xã hội của mỗi phương án
Bước tiếp theo của việc đánh giá các lợi ích và chi phí này sẽ được đơn giản hóa bằng việc nhận dạng một cách cẩn thận về các kết quả xã hội thực là gì
Trang 34• Lợi ích và chi phí xã hội thực thường khác với lợi ích và chi phí tài chính Trên phạm vi xã hội, nguyên tắc chung là tính tất cả lợi ích và chi phí bất kể ai là người nhận hoặc trả chúng
• Hơn nữa, tất cả các lợi ích và chi phí phải được tính, do đó ta phải nhận dạng những ảnh hưởng về môi trường và những ảnh hưởng khác cũng như doanh thu và chi phí bằng tiền đối với khu vực tư nhân
Đánh giá lợi ích và chi phí của mỗi phương án
Ở bước này ta cố gắng tìm ra giá trị kinh tế cho lợi ích và chi phí xã hội của mỗi phương án
Lập bảng lợi ích và chi phí hàng năm
Giá trị của lợi ích và chi phí hàng năm của mỗi phương án được lập thành bảng theo các năm phát sinh, và lợi ích ròng mỗi năm được tính
Bảng 3.4 Lợi Ích và Chi Phí theo Năm Phát Sinh
Năm Tổng lợi ích
hàng năm
Tổng chi phí hàng năm
Lợi ích ròng hàng năm
Tính toán lợi ích xã hội ròng của mỗi phương án
Để tính toán tổng lợi ích ròng, ta không thể chỉ đơn giản cộng các lợi ích ròng hàng năm bởi vì người ta thường đặt tầm quan trọng khác nhau vào lợi ích nhận được
ở mỗi thời gian khác nhau Để thấy được sự khác nhau này, tổng lợi ích xã hội ròng được tính theo hai giai đoạn
• Ở giai đoạn thứ nhất, lợi ích ròng hàng năm của dự án được quy đổi thành lợi ích ròng tương đương ở một thời điểm chung bằng phương pháp lấy trọng số
• Ở giai đoạn thứ hai, hiện giá của mỗi lợi ích ròng hàng năm được cộng lại và cho ta con số tổng cộng cho toàn bộ kết quả
So sánh các phương án theo lợi ích xã hội ròng
Trang 35Chúng ta xếp hạng các phương án theo lợi ích xã hội ròng Phương án có lợi ích
xã hội ròng cao nhất được xếp hạng thứ nhất, phương án có lợi ích xã hội ròng thấp nhất được xếp hạng cuối cùng và là phương án ít được mong muốn nhất
Kiểm tra ảnh hưởng của sự thay đổi trong giả định và dữ liệu
Rất hiếm khi tất cả các dữ liệu được ước tình đầy đủ và thậm chí hiếm khi chúng được tính toán một cách chính xác Vì vậy, đòi hỏi phải có những giả định về dữ liệu
và vì vậy người phân tích phải kiểm định ảnh hưởng của những thay đổi trong giả định đối với thứ tự xếp hạng và sự so sánh giữa các phương án
Đưa ra đề nghị
Ở bước cuối cùng này, người phân tích chỉ ra một phương án cụ thể nào đó có đáng mong muốn hay không, phương án nào hay một số phương án nào là đáng mong muốn nhất
c Các tiêu chí lựa chọn dự án trong phân tích lợi ích – chi phí
♦ Hiện giá ròng – ( Net present value – NPV)
Hiện giá ròng (NPV) là khoản chênh lệch giữa hiện giá của lợi ích và hiện giá của chi phí và được tính như công thức sau:
NPV = PVB – PVC Nếu tỷ suất chiết khấu là không đổi, hiện giá của lợi ích (PVB) được tính theo công thức :
0 ( 1 )^
Trang 36Các dự án có hiện giá ròng dương tức là có lợi ích ròng là đáng mong muốn Nếu
có nhiều dự án có hiện giá ròng dương thì dự án có hiện giá ròng cao nhất là đáng mong muốn nhất
♦ Tỷ số lợi ích - chi phí (Benefit – Cost Ratio – BCR)
Tỷ số lợi ích chi phí (BCR) là tỷ số hiện giá của các lợi ích so với hiện giá của các chi phí
Tỷ số lợi ích – chi phí được tính theo công thức:
+
T t
T t
t r Ct
t r Bt
0
0
)^
1 (
)^
1 (
Tỷ số này lớn hơn 1 khi lợi ích đã chiết khấu lớn hơn chi phí đã chiết khấu, do
đó, tất cả các phương án nào có tỷ số lớn hơn 1 là có lợi và đáng mong muốn Theo tiêu chí này, dự án nào có tỷ số BCR cao nhất là đáng mong muốn nhất
♦ Tỷ suất sinh lợi nội tại ( Internal Return Rate – IRR)
Tỷ suất sinh lợi nội tai (IRR) là suất chiết khấu mà tại đó hiện giá của lợi ich bằng với hiện giá chi phí Đó chính là suất chiết khấu làm cho NPV bằng không
Tỷ suất sinh lợi nội tại là một tiêu chí khác về lợi ích ròng tương đối, và là tỷ lệ sinh lợi của lợi ích so với chi phí
Tính IRR chính là tìm ra tỷ suất chiết khấu mà tại đó:
Các phương án có IRR lớn hơn suất chiết khấu xã hội thì có lợi và đáng lựa
chọn trong số các phương án mong muốn này, phương án nào có IRR cao nhất thì được là đáng mong muốn nhất
3.2.4 Phương pháp đo lường lượng phát thải CO 2
Trang 37Áp dụng công thức tính toán lượng khí mêtan sử dụng trong các tài liệu thuộc
dự án CDM để tính toán lượng giảm phát thải CO2 do sử dụng công trình biogas trong
xử lý chất thải chăn nuôi được tính gồm 2 phần
ER
y = ER1,y + ER
2,y Trong đó:
MCH4 là khối lượng khí mêtan thu hồi trong năm
GWP_CH4: Trị số tiềm năng làm ấm lên toàn cầu của khí mê tan Lấy giá trị mặc
định của IPCC là 2
- Cách tính ER 2,y
Trong đó
ER2,y Lượng CO2 phát thải từ việc đốt than (củi) (tấn CO2 tương đương)
HGy Lượng hơi/nhiệt thực cung cấp từ quá trình đốt tính bằng TJ
EFCO2 Hệ số phát thải CO2 trên một đơn vị năng lượng của nhiên liệu sử dụng trong đường cơ sở (tấn CO2/TJ), thu được từ dữ liệu thực tế của địa phương hoặc quốc gia nếu có thể, nếu không thì sử dụng các hệ số phát thải mặc định của IPCC HGy = CCy * NCVcoal
Trong đó:
CCy Lượng than (củi) đã được tiêu thụ
NCVcoal Giá trị nhiệt lượng tịnh của than (TJ/tấn)
CC Lượng than đã được tiêu thụ (tấn)