1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐÁNH GIÁ THỰC HIỆN CƠ CHẾ HỖ TRỢ TÀI CHÍNH CHO CÁC DOANH NGHIỆP NHẰM GIẢM THIỂU Ô NHIỄM TẠI ĐỒNG NAI

105 100 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 690,48 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dựa vào tình hình thực tế về nhu cầu tài chính của doanh nghiệp tại Đồng Nai, Quỹ Bảo vệ môi trường Đồng Nai đã được hình thành từ rất sớm, năm 2004 nhằm hỗ trợ về tài chính cho các doan

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP.HCM

ĐÁNH GIÁ THỰC HIỆN CƠ CHẾ HỖ TRỢ TÀI CHÍNH CHO CÁC DOANH NGHIỆP NHẰM GIẢM THIỂU

Ô NHIỄM TẠI ĐỒNG NAI

LƯƠNG HOÀNG OANH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

ĐỂ NHẬN VĂN BẰNG CỬ NHÂN CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG

Thành phố Hồ Chí Minh Tháng 07/2010

Trang 2

Hội đồng chấm báo cáo khóa luận tốt nghiệp đại học khoa Kinh Tế, trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh xác nhận khóa luận “ĐÁNH GIÁ THỰC HIỆN CƠ CHẾ HỖ TRỢ TÀI CHÍNH CHO CÁC DOANH NGHIỆP NHẰM GIẢM THIỂU Ô NHIỄM TẠI ĐỒNG NAI” do LƯƠNG HOÀNG OANH, sinh viên khóa 2006-2010, ngành KINH TẾ TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG, đã bảo vệ thành công trước hội đồng vào ngày

TS PHAN THỊ GIÁC TÂM Người hướng dẫn

Trang 3

LỜI CẢM TẠ

Để có được đến ngày hôm nay, lời đầu tiên con xin gởi lời tri ân đến bố mẹ, người đã sinh thành, không quản khó khăn, nuôi nấng và tạo mọi điều kiện cho con học hành Thật may mắn và hạnh phúc biết bao khi con được sinh ra và trưởng thành trong tình yêu thương và sự hy sinh vô bờ bến của bố mẹ!

Em xin được cảm ơn toàn thể quý thầy cô trường ĐHNL TPHCM, đặc biệt là quý thầy cô Khoa Kinh Tế, đã truyền dạy cho em những kiến thức quý báu trong suốt

4 năm học qua

Đặc biệt xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô PHAN THỊ GIÁC TÂM, thầy NGUYỄN TRẦN NAM đã tạo điều kiện, tận tình hướng dẫn, chỉ bảo em trong suốt thời gian nghiên cứu luận văn tốt nghiệp này Đồng thời thầy, cô đã truyền đạt cho em những kinh nghiệm quý báu trong cuộc sống Em xin chân thành cảm ơn cô

Xin chân thành cảm ơn tất cả các bạn bè và toàn thể các bạn lớp Kinh tế Tài Nguyên Môi Trường 32 đã giúp đỡ tôi về mặt tinh thần cũng như đóng góp ý kiến để tôi hoàn thành tốt khóa luận này

Giờ đây, xin tạm biệt trường Đại học Nông lâm TP.HCM, tạm biệt giảng đường, tạm biệt thầy cô thân yêu Tạm biệt bạn bè đã cùng tôi chia sẻ niềm vui nỗi buồn trong suốt những ngày tháng qua Kính chúc trường Đại học Nông lâm TP.HCM phát triển hơn nữa; kính chúc thầy cô sức khoẻ, hạnh phúc tiếp tục sự nghiệp “Trồng người”cao cả Chúc tất cả các bạn thành công

Xin chân thành cảm ơn!

Sinh viên LƯƠNG HOÀNG OANH

Trang 4

NỘI DUNG TÓM TẮT

LƯƠNG HOÀNG OANH Tháng 07 năm 2010 “Đánh Gía Thực Hiện Cơ Chế Hỗ Trợ Tài Chính Cho Các Doanh Nghiệp Nhằm Giảm Thiểu Ô Nhiễm Tại Đồng Nai”

LUONG HOANG OANH July 2010 “ Evaluation of the Financing mechanism for Establishments to reduce pollution in Dong Nai”

Tỉnh Đồng Nai với trụ cột công nghiệp là 50% đã kéo theo thách thức lớn về môi trường, nguyên nhân vì chi phí đầu tư, vận hành hệ thống xử lý chất thải, nước thải quá tốn kém và doanh nghiệp không có đủ nguồn vốn để xây dựng, nên việc xử lý chất thải công nghiệp chưa được coi trọng Dựa vào tình hình thực tế về nhu cầu tài chính của doanh nghiệp tại Đồng Nai, Quỹ Bảo vệ môi trường Đồng Nai đã được hình thành từ rất sớm, năm 2004 nhằm hỗ trợ về tài chính cho các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh tham gia bảo vệ môi trường, giảm thiểu ô nhiễm Do vậy tìm hiểu tác động của Quỹ đối với doanh nghiệp nhằm giảm thiểu ô nhiễm là như thế nào, nó có đạt được kết quả như mong đợi hay không là rất cần thiết

Đề tài đã thu thập dữ liệu thứ cấp từ Quỹ BVMT Đồng Nai, các tài liệu nghiên cứu có liên quan và điều tra 30 doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Đồng Nai gồm 8 doanh nghiệp đã tham gia vay vốn từ Quỹ Bảo vệ môi trường Đồng Nai và 22 doanh nghiệp chưa tham gia vay Quỹ nhằm đánh giá kết quả hoạt động của Quỹ đồng thời xác định khả năng tiếp cận cũng như nhu cầu hỗ trợ về tài chính của doanh nghiệp nhằm giảm thiểu ô nhiễm

Đề tài đi vào đánh giá kết quả hoạt động của Quỹ bằng các tiêu chí như xác định đối tượng doanh nghiệp tham gia Quỹ thông qua cơ cấu, quy mô, nguy cơ gây ô nhiễm; khả năng bảo toàn vốn và tình hình sử dụng vốn vay của doanh nghiệp Những khó khăn mà doanh nghiệp gặp phải khi tham gia vay Quỹ; Khả năng tiếp cận và nhu cầu về hỗ trợ tài chính của doanh nghiệp đối với Quỹ; Nguyên nhân muốn và không muốn vay từ Quỹ nhằm giảm thiểu ô nhiễm Từ kết quả này đưa ra đề xuất giúp Quỹ hoạt động tốt hơn trong việc hỗ trợ doanh nghiệp giảm thiểu ô nhiễm

Trang 5

2.1.2 Các tài liệu nghiên cứu về việc hỗ trợ tài chính thông qua Quỹ môi

Trang 6

3.1.5 Khả năng tiếp cận nguồn tín dụng nhằm giảm thiểu ô nhiễm của doanh

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 29

4.1 Mô tả phương thức hoạt động của Quỹ BVMT Đồng Nai 29

4.3 Đặc điểm chung về hoạt động sản xuất của doanh nghiệp được phỏng vấn 39

4.3.2 Thống kê quy mô doanh nghiệp được phỏng vấn phân theo thành phần

4.4 Khả năng tiếp cận của doanh nghiệp đối với Quỹ BVMT Đồng Nai 41

4.4.1 Thông tin của doanh nghiệp chưa vay vốn về Quỹ môi trường 41

4.3.2 Kinh nghiệm về việc vay vốn của doanh nghiệp đối với Quỹ BVMT

4.5 Tình hình ô nhiễm và nhu cầu vay của các doanh nghiệp chưa vay vốn Quỹ

4.5.3 Kế hoạch mua sắm trang thiết bị nhằm kiểm soát ô nhiễm 53

4.5.4 Nhu cầu vay vốn của doanh nghiệp từ Quỹ BVMT Đồng Nai nhằm

5.1 Kết luận 60

Trang 7

5.2 Kiến nghị 61

5.2.2 Đối với doanh nghiệp có nhu cầu vay vốn từ Quỹ BVMT Đồng Nai 62

TÀI LIỆU THAM KHẢO 64

PHỤ LỤC 66

Trang 8

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BVMT Bảo vệ môi trường

BVMTVN Bảo vệ môi trường Việt Nam

HIFU Quỹ Đầu tư phát triển đô thị TP.HCM

ĐTPT Đầu tư phát triển

UBND Ủy ban nhân dân

KCN Khu công nghiệp

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1 Quy Mô Doanh Nghiệp 23

Bảng 4.1 Tình Hình Vay Vốn của Quỹ BVMT Đồng Nai 33

Bảng 4.2 Tình Hình Vay Vốn của Doanh Nghiệp 34

Bảng 4.3 Tình Hình Các Dự Án Vay Vốn 35

Bảng 4.4 Tình Hình Giải Ngân và Thu Hồi Nợ Đối với Các Dự Án Được Quyết Định

Bảng 4.5 Vị Trí của Doanh Nghiệp Được Phỏng Vấn 39

Báng 4.6 Qui Mô Doanh Nghiệp Phân Loại Theo Thành Phần Kinh Tế 39

Bảng 4.7 Ngành Nghề của Doanh Nghiệp Được Phỏng Vấn 41

Bảng 4.8 Thông Tin của Doanh Nghiệp về Quỹ Môi Trường 41

Bảng 4.9 Kinh Nghiệm của Doanh Nghiệp Đối với Các Hoạt Động của Quỹ Môi

Trường 42 Bảng 4.10 Nguồn Tiếp Nhận Thông Tin của Doanh Nghiệp về Quỹ môi trường 43

Bảng 4.11 Nguyên Nhân Gây Khó Khăn Cho Doanh Nghiệp Khi Vay Vốn 44

Bảng 4.12 Chi Phí Trong Quá Trình Vay Vốn 47

Bảng 4.13 Vấn Đề Môi Trường của Doanh Nghiệp 49

Bảng 4.14 Chi Phí Để Kiểm Soát Ô Nhiễm 51

Bảng 4.15 Thống Kê Nguyên Nhân Doanh Nghiệp Bị Vi Phạm Hành Chính Môi

Bảng 4.16 Lý Do Doanh Nghiệp Có Kế Hoạch Mua Sắm Trang Thiết Bị Giảm Thiểu

Ô Nhiễm 54 Bảng 4.17 Nguồn Tài Chính Doanh Nghiệp Hướng Đến để Mua Sắm Trang Thiết Bị

55 Bảng 4.18 Nhu Cầu Vay Vốn của Doanh Nghiệp từ Quỹ BVMT Đồng Nai 55

Bảng 4.19 Số Tiền, Thời Hạn, Lãi Suất Vay Mong Muốn Của Doanh Nghiệp 57

Bảng 4.21 Mong Muốn Của Doanh Nghiệp Khi Có Nhu Cầu Vay Vốn Quỹ BVMT

Trang 10

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 4.2 Tỷ Lệ Doanh Nghiệp Gặp Khó Khăn Trong Khi Vay Quỹ BVMT Đồng Nai

43 Hình 4.3 Sơ Đồ Ký Duyệt Dự Án Vay Của Quỹ BVMT Đồng Nai 45

Hình 4.4 Vấn Đề Kiểm Soát Ô Nhiễm 50 Hình 4.5 Kế Hoạch Mua Sắm Trang Thiết Bị Nhằm Kiểm Soát Ô Nhiễm 53

Hình 4.6 Nguyên Nhân Không Có Nhu Cầu Vay từ Quỹ BVMT 56

Trang 12

2009 thì con số này đã tăng lên 40,43% , điều này chứng tỏ công nghiệp đã dần là thành phần kinh tế chủ yếu của đất nước

Tuy nhiên, thực tế cho thấy, càng đầu tư phát triển công nghiệp bao nhiêu thì hiểm họa ô nhiễm môi trường càng gia tăng bấy nhiêu và càng tác động tiêu cực đến môi trường sống của cộng đồng dân cư bấy nhiêu Đặc biệt doanh nghiệp nhỏ và vừa đang còn nhiều hạn chế và yếu kém nhất là về tiềm lực tài chính, năng lực quản lý, kinh nghiệm thương trường và khả năng tiếp cận các nguồn lực đầu tư đặc biệt là khả năng huy động vốn cho công tác bảo vệ môi trường càng không được quan tâm đúng mực

Các công cụ kiểm soát ô nhiễm nhằm thực hiện công tác quản lý môi trường của Nhà nước, các tổ chức khoa học và sản xuất như Mệnh lệnh và kiểm soát (CAC), các công cụ kinh tế như xử phạt hành chính vi phạm môi trường ban hành theo nghị định mới số 117/2009/NĐ-CP, phí bảo vệ môi trường đối với nước thải theo Nghị định

số 04/2007/NĐ-CP của chính phủ , các công cụ điều chỉnh sự không đồng nhất của thông tin như tuyên truyền, nâng cao nhận thức môi trường đã lần lượt ra đời Trường hợp các cơ sở đang hoạt động cố tình vi phạm Luật Bảo vệ môi trường sẽ bị buộc phải khắc phục tình trạng ô nhiễm, bị phạt tiền với mức rất cao, theo khoản 1 điều 3 của

Trang 13

Nghị định mới số 117/2009/NĐ-CP có thể phạt đến 500 triệu đồng trên một hành vi vi phạm, hay Thông tư 07/2007/TT-BTNMT hướng dẫn phân loại và quyết định danh mục cơ sở gây ô nhiễm môi trường cần phải xử lý do Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành chính là một áp lực đối với các doanh nghiệp nhằm thực hiện các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm Tuy nhiên xử lý chất thải đặc biệt là nước thải đối với doanh nghiệp là điều rất khó khăn vì họ bị hạn chế trong mặt tài chính, khả năng huy động vốn và khả năng tiếp cận với môi trường đầu tư yếu kém (Tổ chức ngân hàng Thế Giới, 1998) Chính vì thế bên cạnh các công cụ kiểm soát ô nhiễm trên, một cơ chế mềm dẻo là sử dụng công cụ tài chính như Quỹ môi trường để cho vay ưu đãi đối với các doanh nghiệp nhằm giảm thiểu ô nhiễm

Cơ chế hỗ trợ tài chính thông qua quỹ môi trường là một cơ chế được thiết kế

để nhận tài trợ vốn từ các nguồn khác nhau, và từ đó phân phối các nguồn này nhằm

hỗ trợ quá trình thực hiện các dự án hoặc các hoạt động cải thiện chất lượng môi trường Hỗ trợ do Quỹ môi trường cung cấp thông thường dưới hình thức hỗ trợ tài chính với các điều khoản ưu đãi, chẳng hạn như các khoản trợ cấp không hoàn lại, các khoản vay vốn dài hạn với lãi suất thấp hơn lãi suất hiện hành trên thị trường để khuyến khích các dự án đầu tư bảo vệ môi trường; hỗ trợ các dự án nghiên cứu triển khai, đào tạo và truyền thông môi trường, các dự án kiểm soát và xử lý ô nhiễm của các doanh nghiệp Quỹ môi trường thậm chí còn hỗ trợ tiền cho việc điều trị các nạn nhân ô nhiễm ( Thomas Sterner, 2002)

Việc giảm thiểu ô nhiễm của các doanh nghiệp dù không mang lại hiệu quả tức thời, tuy nhiên về tương lai lâu dài thì lợi ích thu được là vô cùng lớn, nó không những bảo vệ môi trường, phát triển đất nước theo hướng phát triển bền vững, mà còn tạo được uy tín của doanh nghiệp đối với cộng đồng, với xã hội, qua đó sẽ đảm bảo sản xuất ổn định và ngày càng phát triển, đó chính là lợi nhuận bền vững và lâu dài với doanh nghiệp

Đồng Nai là địa phương nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, theo phát biểu của PGS.TS Ngô Quang Minh, Viện trưởng Viện Kinh tế, 2010 thì tốc độ tăng trưởng bình quân là 13,2%/năm với trụ cột công nghiệp là 50%, tuy nhiên, ngành công nghiệp phát triển như vậy cũng kéo theo thách thức lớn về môi trường Theo báo cáo của Ban quản lý các khu công nghiệp (KCN), 2010 thì hiện tổng lượng nước xả

Trang 14

thải trung bình tại các KCN ước tính hơn 70.000m3/ngày đêm Trong đó nước thải đã qua xử lý đạt 80% Tuy nhiên nước thải đạt tiêu chuẩn chỉ chiếm hơn 10% ( Cao Tân)

Và không phải tất cả các KCN cũng như doanh nghiệp xây dựng hệ thống xử lý nước thải, nguyên nhân chính là vì chi phí đầu tư, vận hành quá tốn kém, và doanh nghiệp không có đủ nguồn vốn để xây dựng, nên việc xử lý nước thải công nghiệp chưa được coi trọng Dựa vào tình hình thực tế về nhu cầu tài chính của doanh nghiệp tại Đồng Nai, Quỹ bảo vệ môi trường đã được hình thành từ rất sớm, năm 2004 nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh tham gia bảo vệ môi trường, giảm thiểu ô nhiễm Mặc

dù Quỹ môi trường là một công cụ tài chính được sử dụng phổ biến trên Thế Giới để bảo vệ môi trường, tuy nhiên trên thực tế chỉ sử dụng biện pháp này thì sẽ không đem lại kết quả về môi trường như mong muốn (Tổ chức ngân hàng Thế Giới, 1998), mà kết quả môi trường của biện pháp tài chính này còn phụ thuộc vào các yếu tố như áp lực quản lý môi trường của chính phủ, trình độ công nghệ xử lý của mỗi doanh nghiệp

và khả năng vận hành hệ thống xử lý nước thải của doanh nghiệp đó

Việc tiến hành một nghiên cứu tìm hiểu tác động của Quỹ môi trường đối với doanh nghiệp nhằm giảm thiểu ô nhiễm tại Đồng Nai là như thế nào, nó có đạt được kết quả như mong đợi hay không là cần thiết Đó chính là nguyên nhân nhằm thực hiện nghiên cứu đề tài này Vì thế, được sự chấp thuận của khoa Kinh Tế, Đại Học Nông

Lâm TP.HCM, tác giả đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Đánh giá thực hiện cơ chế hỗ trợ tài chính cho các doanh nghiệp nhằm giảm thiểu ô nhiễm tại Đồng Nai”

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu chung

Đánh giá thực hiện cơ chế hỗ trợ tài chính thông qua quỹ môi trường cho các doanh nghiệp nhằm giảm thiểu ô nhiễm tại Đồng Nai

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

- Mô tả phương thức hoạt động của quỹ bảo vệ môi trường Đồng Nai

- Đánh giá kết quả hoạt động của Quỹ bảo vệ môi trường Đồng Nai

- Xác định khả năng tiếp cận của các doanh nghiệp đối với quỹ

- Xác định nhu cầu hỗ trợ tài chính của các doanh nghiệp nhằm giảm thiểu ô nhiễm

- Đề xuất những giải pháp nhằm giúp các doanh nghiệp giảm thiểu ô nhiễm

Trang 15

1.3 Phạm vi nghiên cứu của khóa luận

1.3.1 phạm vi không gian

Đề tài chọn địa bàn tỉnh Đồng Nai để tiến hành nghiên cứu vì đây là nơi có quỹ bảo vệ môi trường địa phương ra đời khá sớm

1.3.2 Phạm vi thời gian

- Để thực hiện đề tài, tác giả đã tiến hành nghiên cứu theo các giai đoạn sau:

+ Giai đoạn 1: Thời gian từ 28/02/2010 – 20/04/2010

Thu thập các thông tin và dữ liệu có liên quan đến vấn đề nghiên cứu

Tiến hành viết đề cương chi tiết và soạn thảo bảng câu hỏi phục vụ đề tài

+ Giai đoạn 2: Thời gian từ 20/04/2010 – 20/06/2010

Thu thập thông tin và số liệu tại Sở Tài nguyên - Môi trường tỉnh Đồng Nai Tiến hành phỏng vấn trực tiếp 8 doanh nghiệp có vay quỹ bảo vệ môi trường Đồng Nai và 22 Doanh nghiệp sản xuất sản phẩm công nghiệp chưa vay Quỹ trong đó gồm có 17 doanh nghiệp được lựa chọn nằm trong danh sách gây ô nhiễm trên địa bàn tỉnh Đồng Nai và 5 doanh nghiệp không gây ô nhiễm môi trường

+ Giai đoạn 3: Thời gian từ 20/06/2010 – 24/07/2010

Tổng hợp, xử lí số liệu và phân tích thông tin để viết hoàn chỉnh đề tài

1.4 Bố cục luận văn

Luận văn gồm 5 chương Chương I: Tác giả trình bày lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu và trình bày tóm tắt bố cục luận văn Chương II : Giới thiệu tổng quan về các tài liệu có liên quan đến vấn đề nghiên cứu cũng như tổng quan địa bàn nghiên cứu: Giới thiệu về địa bàn nghiên cứu bao gồm tình hình ô nhiễm môi trường và nhu cầu vốn đầu tư bảo vệ môi trường của tỉnh Đồng Nai Chương III:

Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu, trình bày các khái niệm, định nghĩa, và phương pháp được sử dụng trong đề tài Chương IV: Đây là chương trình bày các kết quả đạt được của đề tài Chương V: Dựa vào kết quả và thảo luận ở chương IV, tác giả kết luận và đưa ra một số kiến nghị cho việc phát triển Quỹ bảo vệ môi trường

Trang 16

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN

2.1 Tổng quan các nghiên cứu có liên quan

2.1.1 Các tài liệu nghiên cứu về khu công nghiệp

Lê Quang Thông và Nguyễn Anh Ngọc ( 2004) về khuyến khích xử lý nước thải tại các khu công nghiệp ở Việt Nam cho thấy tình trạng ô nhiễm nước đã trở thành một vấn đề nghiêm trọng tại các khu công nghiệp của TP Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai và Bà Rịa-Vũng Tàu Sự tăng trưởng của khu công nghiệp tại các khu vực này đã kèm theo những tác động bất lợi về môi trường Theo lý thuyết, tất cả các khu công nghiệp phải hoàn thành việc xây dựng các hệ thống cơ sở hạ tầng, bao gồm cả các cơ sở xử lý nước tập trung, trước khi bắt đầu hoạt động, tuy nhiên, không phải tất

cả đáp ứng yêu cầu này Nghiên cứu đã xác định được những lý do tại sao một số khu công nghiệp đã không xây dựng các cơ sở xử lý nước thải tập trung như: (1) ràng buộc

về tài chính hay các thiết bị làm giảm thải ô nhiễm quá đắt tiền, (2) lỏng lẻo trong việc chỉ đạo đầu tư xử lý môi trường ( chứ không như thu hút đầu tư), (3) cưỡng chế thi hành yếu Nghiên cứu đã đề xuất một số giải quyết các vấn đề trên nhằm cải thiện môi trường chẳng hạn như hỗ trợ tài chính để đầu tư cơ sở xử lý nước thải, đo lường hiệu quả và có cơ chế tính phí cho việc sử dụng nước

Tuy đề tài trên nghiêng về ô nhiễm khu công nghiệp, nhưng qua đó cung cấp cái nhìn tổng quát và những nguyên nhân gây ô nhiễm và đặc biệt là nguyên nhân tài chính đã hạn chế các doanh nghiệp xây dựng cơ sở hạ tầng giảm thiểu ô nhiễm Việc tìm ra giải pháp để giải quyết vấn đề này là điều then chốt cần phải nghiên cứu

Từ Nguyễn Hoàng Phước (2008) phân tích việc thực hiện kiểm soát ô nhiễm nước tại các khu công nghiệp huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã tìm hiểu nguyên nhân ô nhiễm nước thải trên cơ sở khảo sát 3 KCN tại huyện Tân Thành là Mỹ Xuân A, Mỹ Xuân A2 và Phú Mỹ, tìm hiểu ngành nghề ô nhiễm đặc trưng của từng

Trang 17

KCN, để có thể tập trung xử lý ô nhiễm một cách tốt nhất và xếp hạng mức độ ô nhiễm các KCN Đề tài cũng chỉ ra nguyên nhân gây ô nhiễm các khu công nghiệp là vì các KCN vẫn chưa xây dựng nhà máy xử lý tập trung và các cơ sở sản xuất cũng không đầu tư đầy đủ cho hệ thống xử lý nước thải cục bộ gây ra tình trạng ô nhiễm nghiêm trọng, mặt khác cơ chế quản lý bảo vệ môi trường, công tác thanh tra, kiểm tra chưa hoàn thiện và các thiết bị xử lý nước thải đòi hỏi đầu tư lớn Nghiên cứu cũng phân tích những hạn chế của sự quản lý về môi trường ở các khu công nghiệp Đề tài cũng đưa ra một số giải pháp như cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường, tăng cường năng lực quản lý cho cán bộ quản lý môi trường địa phương Ngoài

ra có thể ứng dụng phương thức sản xuất sạch hơn để giảm thiểu ô nhiễm đầu ra, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư thiết bị, máy móc tiên tiến để cải thiện quy trình sản xuất cũ có khả năng gây ô nhiễm cũng như khuyến khích các nhà đầu tư cơ sở hạ tầng KCN tiếp cận với mô hình KCN thân thiện môi trường

2.1.2 Các tài liệu nghiên cứu về việc hỗ trợ tài chính thông qua Quỹ môi trường nhằm giảm thiểu ô nhiễm

a Các tài liệu nghiên cứu về việc thành lập một Quỹ môi trường

Một báo cáo của Liên bang quản lý bộ Nông nghiệp, Lâm nghiệp, Môi trường

và Nước tại Úc và Trung Tâm Môi Trường Khu vực Trung và Đông Âu (2006) về Thực hành thiết lập và quản lý quỹ môi trường được thảo luận về việc đào tạo để thành lập một Quỹ môi trường tại Montenegro với nội dung là bàn bạc đánh giá tất cả các khía cạnh và cung cấp một tổng quan các công việc cần được thực hiện trước khi chuẩn bị đưa Quỹ Môi trường vào hoạt động Bài báo cáo đưa ra những yếu tố cần thiết để xem xét các khía cạnh hoạt động của Quỹ môi trường: hình thức quỹ môi trường; ngân sách; lựa chọn dự án; hình thức trợ cấp; hình thức kiểm định dự án; nhiệm vụ của cơ quan quản lý môi trường; và lĩnh vực hành chính của quỹ Bài báo cáo đã xác định được các điểm then chốt cần thực hiện nhằm đảm bảo tính hiệu lực trước khi thành lập quỹ môi trường là: (1) Các mục tiêu của quỹ cần phải nêu ra một cách chi tiết (2) Các biện pháp xử lý nếu không hội đủ điều kiện khi thành lập quỹ, (3)Đảm bảo các điều kiện về hành chính, điều kiện kỹ thuật, điều kiện kinh tế ( các kế hoạch tài chính), điều kiện sinh thái, (4) Hình thức lựa chọn và thiết lập các dự án, (5) Mức giá tối đa và phương pháp tính trong trường hợp trợ cấp, (6)Nêu rõ các hình thức

Trang 18

trợ cấp( vay, tài trợ) đối với mỗi dự án, (10) Các tài liệu yêu cầu phương thức thanh toán và (11) Điều kiện thanh toán và kiểm soát dự án

Bài báo cáo cũng xác định rằng việc thành lập một Quỹ môi trường mang thông điệp tích cực đó là việc chính phủ quan tâm tạo điều kiện sống tốt hơn cho cho xã hội thông qua việc bảo vệ môi trường Một Quỹ môi trường được tồn tại và thành công trong một tương lai lâu dài khi nó có những điều kiện như sau: (1) phải có sự tin tưởng của các bên liên quan để dần thu hút vốn đầu tư trong nước cũng như Quốc tế (2) Đầu

tư vào môi trường thường là đầu tư vào cơ sở hạ tầng để phục vụ cho mục đích lâu dài nên cần phải có nguồn vốn lớn và có khả năng hoạt động dài hạn (3) Đối với cơ chế quản lý của các cấp thì nên ưu tiên kinh tế và môi trường như nhau để tạo điều kiện cho môi trường được phát triển hài hòa với nền kinh tế (4) Mỗi quỹ môi trường cần phải có cơ chế hoạt động linh hoạt trong trường hợp những chính sách về môi trường thay đổi

Bài nghiên cứu này đưa ra cái nhìn tổng quát về các yếu tố cấu thành nên một quỹ môi trường khi mới bắt đầu hoạt động và được duy trì trong một thời gian dài, linh động trong nhũng trường hợp chính sách môi trường thay đổi ta có thể áp dụng những yếu tố này để khiến cho một quỹ môi trường được thành công ở nước ta

Một nghiên cứu của chương trình hành động môi trường cho Trung và Đông Âu ( EAP task force) (1998) về nguyên tắc Quỹ môi trường của thành phố St Peterberg trong nền kinh tế chuyển tiếp lên kinh tế thị trường Bài đánh giá này đã được sử dụng như một tiêu chuẩn để đánh giá hiệu quả của một số Quỹ môi trường Nó giúp xác định những vấn đề quản trị và làm thế nào để cải cách thể chế và tăng cường các biện pháp cho các Quỹ môi trường Mục tiêu chính của bài đánh giá là tiến hành một đánh giá độc lập và khách quan về khía cạnh khác nhau của hoạt động của Quỹ ( quy phạm pháp luật, thể chế, tổ chức, kỹ thuật và tài chính) và xác định các cải cách cần thiết có thể giúp nâng cao hiệu quả hoạt động của Quỹ Việc thẩm định dự án từ khi bắt đầu đến khi hoàn thành là nhằm đánh giá được hiệu quả hoạt động của quỹ môi trường có tốt hay không, các khâu ấy trải qua các bước sau: ở giai đoạn một là: (1) nhận diện dự

án sau khi quỹ đã phổ biến rộng rãi các mục đích và chiến lược của mình thì các doanh nghiệp sẽ tiến hành chuẩn bị dự án đáp ứng những nhu cầu và mục tiêu của quỹ, (2) khâu chuẩn bị và thiết kế dự án của doanh nghiệp, (3) khâu thẩm định dự án của quỹ,

Trang 19

(4) khâu giải ngân Những thẩm định ban đầu nhằm lựa chọn dự án dựa trên các tiêu chí: có khả thi về mặt kinh tế, môi trường, kế hoạch tài chính và đáp ững được các mục tiêu cụ thể hay không? Giai đoạn thứ hai sẽ liên quan đến thẩm định chi tiết là giám sát và đánh giá dự án, các tiêu chí này nêu rõ về hiệu quả môi trường và kinh tế của dự án

Đây là bài báo cáo rất cụ thể giúp xác định kết quả của quỹ môi trường Một quỹ môi trường có hiệu quả hay không phụ thuộc vào các dự án có đảm bảo được các tiêu chí của quỹ môi trường đó hay không Nói cách khác kết quả của một quỹ môi trường được đánh giá theo số dự án được hỗ trợ đúng yêu cầu và mục tiêu của quỹ, hai

là nguồn vốn được thu hồi sau khi dự án hoàn thành, ba là sự đáp ứng yêu cầu kế hoạch tài chính, môi trường cũng như kinh tế của dự án

b Kết quả hoạt động và bài học của quỹ môi trường trên thế giới

Jinnan Wang, Shuting Gao, Chazhong Ge (2000) nghiên cứu về Quỹ Thiên Tân được thành lập vào năm 1995, quỹ này hoạt động với nguồn vốn chiếm 70% chủ yếu

từ Ngân hàng Thế giới, quỹ vay vốn thông qua ngân hàng xây dựng Thiên Tân, và số còn lại là tiền vay trong nước Mục tiêu dự án của quỹ bao gồm: Hỗ trợ ưu tiên các doanh nghiệp giảm thải ô nhiễm và thúc đẩy SXSH; Thúc đẩy việc thực hiện tập trung

xử lý chất thải; Các dự án xử lý ô nhiễm khác có ý nghĩa về mặt kinh tế và xã hội Tháng 6 năm 2000, Quỹ đã hỗ trợ 41 dự án và vốn vay đạt 119.430.000 nhân dân tệ Khi tất cả 41 dự án đi vào hoạt động thì dự kiến rằng có 3.500.000 lít nước thải công nghiệp sẽ được điều trị hàng năm, cũng như 16.700 tấn COD, 102.400 tấn SO2 , 56.000 tấn khói bụi, 12.000 tấn bụi công nghiệp và 376 tấn khí độc hại cũng như 18.000 tấn chất thải công nghiệp khác sẽ được giảm Các kết quả này được dự kiến tăng lợi nhuận khoảng 112.400.000 nhân dân tệ Tuy nhiên quỹ hoạt động thua lỗ vì nguồn thu chính của quỹ là sự chênh lệch giữa lãi suất cho vay từ người đi vay và trả

nợ lãi suất cho Ngân hàng Thế giới, trong khi quỹ phải trả các chi phí hoạt động của văn phòng điều hành, và nhiều khoản khác

Nghiên cứu cho thấy kém hiệu quả trong việc phát triển dự án có thể được quy cho những lý do sau: (1) Quỹ không có khả năng tận dụng thị trường đầy đủ (2) Rủi ro liên quan tới các khoản nợ xấu và biến động về tỷ giá hối đoái của đồng nhân dân tệ và đồng đô la Mỹ (3) Ban quản lý không có kinh nghiệm quản lý quỹ và không thu hút

Trang 20

được nguồn vốn nên khả năng giám sát và cung cấp các hướng chiến lược là hạn chế (4) Vốn vay từ Ngân hàng Thế giới không được giải ngân kịp thời cho đến khi dự án được thực hiện cho nên kết quả là chậm tiến độ dự án, điều này đã tạo ra sự trì trệ hành chính; (5).Việc xét duyệt dự án mất thời gian quá nhiều nên nó gây cản trở cho quyết định thành lập dự án đi vay vốn của các doanh nghiệp (6) Quỹ này bị hạn chế không được phép đầu tư giảm thiểu ô nhiễm vào các khu vực bên ngoài khu đô thị Thiên Tân

Quỹ Thiên Tân đã để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý giá cho sự thành lập và hoạt động cho các quỹ môi trường khác trên thế giới, tác giả bài nghiên cứu quỹ Thiên Tân đã đưa ra một số giải pháp như tăng cường quản lý ngân sách của các Quỹ môi trường nhằm nâng cao hiệu quả của nó, ngoài ra còn thành lập một tổ chức quản lý quỹ độc lập để có thể đa dạng hóa các hoạt động của Quỹ Tăng cường khả năng chống lại các rủi ro trong quá trình hoạt động bằng cách sinh lời trong các dự án kinh doanh và chứng khoán để tăng cường nguy cơ bảo hiểm rủi ro

2.2 Tổng quan tỉnh Đồng Nai

2.2.1 Tình trạng ô nhiễm môi trường và nhu cầu vốn đầu tư bảo vệ môi trường ở tỉnh Đồng Nai:

a Về ô nhiễm sông suối

Tỉnh Đồng Nai có mật độ sông suối khoảng 0,5 km/km2, song phân phối không đồng đều Phần lớn sông suối tập trung ở phía Bắc và dọc theo sông Đồng Nai về hướng Tây Nam Tổng lượng nước dồi dào, trong đó mùa mưa chiếm 80%, mùa khô chiếm 20% Chất lượng nước mặt hệ thống sông Đồng Nai trên địa bàn tỉnh có dấu hiệu suy giảm tại một số vị trí thuộc các đoạn sông Đồng Nai, hồ Sông Mây, hồ Thanh Niên, Hồ Gia Ui Đặc biệt, mức độ ô nhiễm môi trường có chiều hướng tăng lên đến mức ô nhiễm nghiêm trọng tại một số khu vực thuộc sông Đồng Nai, suối Linh, suối Săn Máu, suối Bà Lúa và suối Gia Măng Ngoài ra, khu vực cấp nước thô của nhà máy nước Biên Hòa đã nhiễm bẩn do chất hữu cơ và vi sinh (coliform) vượt quá chất lượng môi trường cho phép Đối với sông Thị Vải, qua kết quả quan trắc cho thấy đã bị ô nhiễm hữu cơ mức cao, thể hiện qua thông số COD (nhu cầu ôxi hóa học) vượt tiêu chuẩn cho phép 4,9 lần và ô nhiễm thông số NH3-N (Amonia) vượt tiêu chuẩn cho phép 4 lần Ngoài ra, ở một số vị trí nước bị ô nhiễm sắt với mức độ cao Vùng hạ lưu sông Thị Vải nhiều đoạn ô nhiễm ở mức báo động Toàn lưu vực cũng bị tình trạng

Trang 21

nhiễm mặn, nguồn nước sẽ không còn khả năng sử dụng cho mục đích tưới tiêu và sinh hoạt

Xác định nguyên nhân của tình trạng ô nhiễm môi trường lưu vực sông Đồng Nai, theo phân tích của các cơ quan chuyên môn là từ các nguồn nước thải công nghiệp, khai thác khoáng sản, làng nghề, sinh hoạt, y tế, nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản, chất thải rắn…, trong đó nước thải sinh hoạt và nước thải công nghiệp đóng góp tỷ lệ lớn nhất với hàm lượng các chất ô nhiễm rất cao Các khu công nghiệp và khu chế xuất đóng góp một lượng lớn nước thải vào lưu vực sông, trong đó lớn nhất là nước thải từ các khu công nghiệp và khu chế xuất của tỉnh Đồng Nai, Tp.HCM và Bình Dương

b Tình hình rác thải trên địa bàn tỉnh Đồng Nai

Tốc độ phát triển đô thị và phát triển công nghiệp, khối lượng chất thải rắn đô thị cũng như chất thải công nghiệp phát sinh trên địa bàn tỉnh Đồng Nai ngày càng gia tăng Theo ông Võ Thanh Lập - Trưởng Ban Quản lý các KCN Đồng Nai: tại các KCN, chất thải phát sinh gồm chất thải nguy hại và chất thải rắn thông thường Chất thải nguy hại từ các KCN rất đa dạng và phức tạp, nguồn phát thải chủ yếu từ các DN giày

da, điện - điện tử, ắcquy, thuốc bảo vệ thực vật, cơ khí, vật liệu xây dựng, hóa chất

Khẳng định tại kỳ họp thứ 16 HĐND tỉnh, GĐ Sở Tài nguyên và Môi trường Đồng Nai cho rằng lượng rác thải trong 5 năm gần đây phát sinh trên địa bàn tỉnh rất lớn Theo thống kê, năm 2008 toàn tỉnh phát sinh 394.000 tấn rác sinh hoạt, 31.755 tấn chất thải sinh hoạt phát sinh của các KCN và 456.484 tấn chất thải rắn công nghiệp không nguy hại Tổng khối lượng chất thải sinh hoạt phát sinh trên địa bàn toàn tỉnh khoảng 1.167 tấn/ngày, bao gồm 1.080 tấn chất thải sinh hoạt ngoài khu công nghiệp

và 87 tấn rác trong khu công nghiệp Tuy nhiên, tỷ lệ thu gom chất thải sinh hoạt ở Đồng Nai mới đạt 71%, còn 29% rác thải sinh hoạt đang thải ra môi trường chưa được

xử lý

Con số về tổng lượng rác thải ngày một gia tăng trong khi đó trên địa bàn tỉnh chỉ có Cty TNHH MTV Dịch vụ Môi trường đô thị Biên Hòa và 8 hợp tác xã cùng một

số cơ sở thu gom trên địa bàn các huyện thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải Ngoài

ra, có 2 DN là DNTN Tân Phát Tài và Cty phát triển KCN Biên Hòa (Sonadezi) có chức năng trong hoạt động trong lĩnh vực vận chuyển và tiêu hủy chất thải nguy hại

Trang 22

Như vậy, lực lượng làm công tác xử lý rác thải khá “mỏng” thêm vào đó, hiện việc xử

lý rác thải gặp nhiều khó khăn do chưa có nhiều bãi chứa rác, không có các điểm trung chuyển rác nên vấn đề này đến nay vẫn chưa được giải quyết triệt để

Theo Sở Tài nguyên và Môi trường Đồng Nai, hiện nay tình trạng đổ rác lậu; tình trạng bãi rác lậu, tự phát; các DN thu gom xử lý rác thải nhưng đem chất thải đi

đổ bừa bãi hoặc tình trạng DN tranh giành nhau thu gom rác thải, sau khi lựa chọn những loại sử dụng được thì sử dụng, số còn lại bỏ bừa vẫn tồn tại khá nhiều Thực tế này đặt ra yêu cầu cấp bách về xử lý rác sinh hoạt và quy hoạch các khu xử lý rác

c Khu xử lý chất thải tập trung: giải pháp cơ bản tại Đồng Nai

Thực trạng về rác thải ở Đồng Nai không chỉ báo động về chất lượng môi trường sống của dân cư trên địa bàn mà cho thấy rất rõ việc xây dựng các khu xử lý chất thải tập trung bao gồm hệ thống thu gom, xử lý, tiêu hủy chất thải sinh hoạt và công nghiệp nhằm giảm tối đa lượng chất thải không qua xử lý được thải ra môi trường là hết sức cần thiết Theo quy hoạch, từ nay đến 2020, Đồng Nai sẽ xây dựng 8 khu xử lý rác thải sinh hoạt trên diện tích 290 ha Trong đó, tỉnh sẽ hình thành 2 khu

xử lý rác thải tập trung liên huyện ở xã Bàu Cạn (huyện Long Thành) rộng 100 ha nhằm xử lý rác thải sinh hoạt cho 2 huyện Long Thành, Nhơn Trạch; khu xử lý chất thải Quang Trung (huyện Thống Nhất) rộng 130 ha xử lý chất thải rắn cho huyện Thống Nhất, thị xã Long Khánh và chất thải công nghiệp trên địa bàn toàn tỉnh

Trong số các dự án xử lý rác thải đang triển khai thì khu xử lý chất thải Quang Trung, huyện Thống Nhất, Đồng Nai là một dự án khá lớn, được kỳ vọng sẽ làm thay đổi cục diện tình trạng ô nhiễm môi trường trên địa bàn tỉnh Hiện nay, khu xử lý chất thải Quang Trung đang được chủ đầu tư là Cty cổ phần Dịch vụ Sonadezi (SDV) khẩn trương xây dựng tại ấp Nguyễn Huệ, xã Quang Trung, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai, cách QL 20 (km số 7 - 225 Đà Lạt) khoảng 2,5 km và cách thị trấn huyện Thống Nhất khoảng 8 km Khu xử lý chất thải Quang Trung xử lý chất thải thông thường (chất thải sinh hoạt, chất thải công nghiệp không nguy hại) và chất thải nguy hại Dự

án đầu tư bao gồm kết cấu hạ tầng, các hạng mục phụ trợ, bãi chôn lấp và các hạng mục công trình tái chế, tái sử dụng, xử lý, tiêu hủy chất thải Trong dự án này, nhiều công nghệ tiên tiến được lựa chọn xử lý chất thải rắn công nghiệp nguy hại, trong đó

có công nghệ đốt Với công nghệ này, khối lượng tro để chôn lấp rất ít, chỉ chiếm 15%

Trang 23

khối lượng chất thải, không có nước rác, xử lý 99% khí độc hại nên yếu tố môi trường được đảm bảo

Qua tình hình ô nhiễm trên địa bàn tỉnh hiện nay, việc đưa ra các biện pháp cần

xử lý là vô cùng cần thiết, đòi hỏi cơ quan chức năng phải có các biện pháp hợp lý và kịp thời để đảm bảo cho môi trường cũng như cảnh quan sống của con người luôn được đảm bảo

Trang 24

CHƯƠNG 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

a Ô nhiễm về nước thải công nghiệp

Nước thải là một chất phổ biến nhất ở các hoạt động sản xuất công nghiệp Nước thải bao gồm nước thải công nghiệp sử dụng cho các giai đọan công nghệ sản xuất và nước thải sinh họat của công nhân nhà máy Mức độ ô nhiễm phụ thuộc vào tính chất sản xuất của xí nghiệp, có ngành nghề sử dụng ít nước nhưng cũng có nhiều ngành nghề sử dụng nhiều nước cho công nghệ sản xuất kèm theo đó là việc phát sinh nước thải có thành phần phức tạp và mức độ ô nhiễm cao.Ô nhiễm trong hoạt động sản xuất công nghiệp nhiều nhất tập trung vào các ngành nghề: xi mạ, dệt nhuộm, giấy, da, chế biến thực phẩm,…

Nghị định số 67/2003 NĐ-CP của Chính phủ quy định về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải; chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí bảo vệ môi trường đối với nước thải Mức thu phí bảo vệ môi trường đối với chất thải được quy định tại khoản 2 điều 6 Nghị định này đối với từng chất gây ô nhiễm trong nước thải như nhu cầu ô xy hóa, nhu cầu hóa học, thủy ngân

b Ô nhiễm về khí thải

Khí thải phát sinh trong quá trình họat động của các nhà máy sản xuất sản phẩm công nghiệp rất đa dạng tùy theo đặc điểm ngành nghề sản xuất, có thể phân chia theo

Trang 25

các dạng sau: khí thải ô nhiễm do họat động sản xuất, do xây dựng nhà xưởng, đường

xá, sản xuất xi-măng, gỗ, vật liệu xây dựng,…Đây là một vấn đề cần được quan tâm

và xử lý phù hợp từ các cơ quan chức năng có thẩm quyền

c Ô nhiễm chất thải rắn

Đây cũng là lọai chất thải có trong tất cả các nhà máy, xí nghiệp sản xuất Ngòai lượng rác thải sinh họat của cán bộ công nhân viên làm việc trong quá trình sản xuất còn có một lượng thải lớn chất thải rắn công nghiệp mà thành phần của chúng thay đổi trong phạm vi rất rộng do tính đa dạng hóa ngành nghề được đầu tư vào sản xuất công nghiệp Trong số chất thải rắn công nghiệp đặc biệt quan tâm đến các chẩt thải độc hại và cặn bùn sinh ra từ các công trình xủa ký cục bộ nước thải công nghiệp

Ngoài 3 nguồn thải chính trên còn có vấn đề tiếng ồn, ô nhiễm nhiệt trong một

số nhà máy cũng là vấn đề cần được giải quyết, có nhiều nhà xưởng chưa được thông thóang, nhiều khí độc nhiệt thừa tích tụ gây ảnh hưởng đến sức khỏe người lao động.Chính vì thế luật bảo vệ môi trường số 52/2005/QH nhằm quy định về hoạt động bảo vệ môi trường; chính sách, biện pháp và nguồn lực để bảo vệ môi trường; quyền

và nghĩa vụ của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trong bảo vệ môi trường

d Ảnh hưởng từ việc gây ô nhiễm môi trường đối với doanh nghiệp

Việc gây ô nhiễm môi trường không những gây tác động rất lớn đối với sức khỏe con người, mà còn phá hủy cân bằng sinh thái, điều này dẫn đến hệ lụy nghiêm trọng đối với các thế hệ sau Việc gây ô nhiễm môi trường của nước ta ngày càng trở thành vấn đề nghiêm trọng, nguyên nhân là do việc thực thi pháp luật về bảo vệ môi trường trong thời gian qua chưa nghiêm, hiệu lực và hiệu quả còn thấp Đồng thời, chưa có sự nhận thức đầy đủ và biện pháp giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa phát triển kinh tế - xã hội với việc bảo vệ môi trường, tư tưởng coi trọng lợi ích cục bộ, trước mắt về kinh tế, không chú ý đến lợi ích lâu dài về môi trường

Đồng Nai là một trong những tỉnh thực hiện việc công bố danh sách các cơ sở gây ô nhiễm trên địa bàn tỉnh Theo ông Lê Viết Hưng, giám đốc Sở Tài nguyên Môi trường Đồng Nai (2009) cho biết: Việc công bố danh sách trên nhằm mục đích xử lý các doanh nghiệp gây ô nhiễm môi trường Việc bị nêu tên trong danh sách đối với doanh nghiệp là một việc vô cùng bất lợi vì doanh nghiệp sẽ không được cấp phép đầu

tư và không được kêu gọi đầu tư để phòng ngừa ô nhiễm môi trường Ngoài ra đối với

Trang 26

các doanh nghiệp khi đã bị đưa vào danh sách gây “đen” nhưng vẫn không khắc phục tình trạng ô nhiễm trong vòng từ 6 tháng đến một năm thì sẽ bị đình chỉ hoạt động, di dời hoặc đóng cửa nhà máy Mặt khác là khi công ty bị nêu tên sẽ ảnh hưởng đến cổ phiếu, nó ảnh hưởng đến tình hình kinh doanh của doanh nghiệp Điều quan trọng hơn nữa là do khách hàng của công ty là người tiêu dùng, vì thế việc công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng sẽ làm xấu đi hình ảnh của doanh nghiệp trong con mắt của người tiêu dùng

3.1.2 Các công cụ chính sách nhằm kiểm soát ô nhiễm

Các công cụ chính sách ra đời với mục đích giảm thiểu ô nhiễm, mỗi công cụ đều có những ưu và khuyết điểm riêng làm cho việc kiểm soát ô nhiễm môi trường bị hạn chế Trong các công cụ kinh tế thì thuế môi trường là công cụ được sử dụng nhiều nhất với 2 mục tiêu: khuyến khích việc giảm ô nhiễm và tăng doanh thu của chính phủ trong dài hạn Tuy nhiên trong nhiều trường hợp, thuế môi trường thuần túy sẽ khó thực hiện được vì quá trình pháp lý tương đối phức tạp liên quan tới việc thông qua hay thay đổi các luật thuế làm công cụ thuế có phần mờ nhạt, ngoài ra các loại hình có sẵn hoặc thay thế khác sẽ thích hợp hơn (Thomas sterner, 2002)

Công cụ trợ cấp với chức năng chính là giúp đỡ các ngành công - nông nghiệp

và các ngành khác khắc phục ô nhiễm môi trường trong điều kiện khi tình trạng ô nhiễm môi trường quá nặng nề hoặc khả năng tài chính của doanh nghiệp không chịu đựng được đối với việc xử lý ô nhiễm Tuy nhiên, trợ cấp có thể gây ra sự không hiệu quả Các nhà sản xuất có thể đầu tư quá mức vào kiểm soát và xử lý ô nhiễm (làm giảm ô nhiễm nhiều hơn so với mức tối ưu cũng là không hiệu quả) Trợ cấp môi trường chỉ là biện pháp tạm thời, nếu vận dụng không thích hợp hoặc kéo dài sẽ dẫn đến phi hiệu quả kinh tế vì trợ cấp đi ngược với nguyên tắc "người gây ô nhiễm phải trả tiền", nó tạo ra sự thay đổi số công ty (vào - ra tự do đối với ngành công nghiệp), thay đổi mức hoạt động của ngành công nghiệp mà mục đích giảm ô nhiễm lại không đạt được (Thomas sterner, 2002)

Tương tự như trợ cấp, Quỹ môi trường ra đời với mục đích chính là tiến hành

hỗ trợ về mặt tài chính cho các doanh nghiệp nhằm làm giảm ô nhiễm Trái với ngân hàng thương mại hoạt động vì mục đích lợi nhuận thì Quỹ môi trường hoạt động phi lợi nhuận tuy nhiên vẫn phải đảm bảo nguyên tắc bảo toàn vốn, việc hỗ trợ tài chính ở

Trang 27

đây là Quỹ cho vay với lãi suất ưu đãi tối đa chỉ bằng một nửa lãi suất ngân hàng thương mại Đó chính là điểm mạnh của quỹ môi trường khi đi vào hoạt động Chính

vì vậy sự ra đời của tổ chức tài chính nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp giảm thiểu ô nhiễm môi trường là vô cùng cần thiết

3.1.3 Quỹ môi trường

a Khái niệm Quỹ môi trường

Quỹ môi trường đầu tiên đã được tạo ra trong năm 1990 Nhận thấy tầm quan trọng của nó nên số lượng Quỹ ngày càng được gia tăng kể từ đó Số lượng Quỹ tồn tại nhiều chủ yếu là ở châu Mỹ Latinh, ở Châu Phi, Châu Á và Cộng đồng các quốc gia độc lập thì con số này ít hơn nhưng số lượng Quỹ môi trường trong các khu vực này cũng gia tăng trong thời gian gần đây Trên toàn cầu, khoảng 56 quỹ đầu tư mới hoặc

là được tạo ra hoặc theo thương lượng Và cũng không có định nghĩa cứng nhắc của một Quỹ môi trường Cấu trúc, phạm vi hoạt động và thủ tục của Quỹ khác nhau tuỳ theo mục đích mà Quỹ đã tạo ra Quỹ dành cho môi trường nói chung có ba loại như sau: Quỹ môi trường dành cho các doanh nghiệp nhằm giảm thiểu ô nhiễm, Quỹ nhằm mục đích bảo vệ các loài động vật hoặc một hệ sinh thái, và Quỹ đa dạng sinh học (Theo Alain Lambert, 2003)

Nhưng người ta phải công nhận rằng, đa số các quỹ hiện tại đang có xu hướng vào việc bảo tồn môi trường và thúc đẩy phát triển bền vững Quỹ môi trường đã thu hút sự mong đợi và quan tâm đáng kể của con người đến bảo vệ môi trường Về mặt tài chính, Quỹ là công cụ thúc đẩy nguồn tài chính lâu dài cho bảo tồn và phát triển bền vững Một trong những lý luận chính được sử dụng là Quỹ là công cụ rất tốt để tài trợ cho các mục đích giảm thiểu ô nhiễm

Quỹ môi trường đôi khi được phân loại theo cấu trúc : “cơ cấu cấp một” và “ cơ cấu cấp hai” (Kaiser và Lambert,1996) :

i) Mức cơ cấu cấp hai đã được tạo ra từ sự tài trợ của các Chính phủ giàu có cho các Chính phủ nghèo Tất cả các quyết định quan trọng liên quan đến hoạt động tài trợ,

dự án thường được thực hiện bởi một Ủy ban song phương nơi mà các nhà tài trợ thường xuyên có quyền không phản đối Một Ủy ban kỹ thuật thường được lập nên bởi các nhân viên của các tổ chức phi chính phủ chuẩn bị hoặc tiến hành dự án sẽ được trình lên Ủy ban song phương (Alain Lambert, 2003)

Trang 28

ii) Mức cơ cấu cấp một có nhiều thú vị hơn là thay vì phải có hai Ủy ban của cả bên tài trợ lẫn bên được tài trợ mà chỉ có một Ủy ban thướng được đặt tên là “ Ủy ban hành chính” Mô hình này có sự tham gia rộng rãi của các tổ chức không chỉ ở cấp kỹ thuật mà còn ở cấp ra quyết định Một trong những hiệu ứng này là cấu trúc có cuộc thảo luận diễn ra trong Hội đồng quản trị của Quỹ môi trường trên làm thế nào để sử dụng nguồn vốn của mình tốt nhất Quyết định sẽ được thực hiện sau khi đã được thảo luận rông rãi, nơi tất cả các thành viên được chỉ định theo năng lực cá nhân của họ Việc thực hiện quyết định này không những giữa tổ chức công cộng và tổ chức xã hội dân sự mà nó còn thúc đẩy kỹ thuật và những cuộc tranh luận về quản lý môi trường

Nó cũng giúp các tổ chức xã hội tham gia hoạt động quản lý tài chính phức tạp (Alain Lambert, 2003)

Liên bang Bộ Nông nghiệp, Lâm nghiệp, Môi trường và Quản lý nước tại Áo và Trung tâm Môi trường Khu vực Đông Âu và Trung ương (2006) cho rằng: “Quỹ môi trường là một công cụ tài chính được thể hiện qua một cơ chế hỗ trợ về mặt tài chính cho các dự án, hoạt động nhằm mục đích bảo vệ môi trường Các quyết định thành lập loại công cụ này phản ánh sự sẵn lòng chịu trách nhiệm mạnh mẽ của các cơ quan Chính phủ hoặc Bộ để tiếp cận mục tiêu chính sách dài hạn”

Có thể nói rằng Quỹ môi trường được diễn giải theo nhiều cách khác nhau nhưng nó có một điểm chung đó là Quỹ là một cơ chế hỗ trợ tài chính được thiết kế để nhận tài trợ vốn từ các nguồn khác nhau, và từ đó phân phối các nguồn này nhằm hỗ trợ quá trình thực hiện các dự án hoặc các hoạt động cải thiện chất lượng môi trường

b Lợi ích của Quỹ môi trường

Ở nhiều nước, các nguồn lực tài chính để thực hiện cải cách chính sách đang khan hiếm Chính sách môi trường chỉ là một trong nhiều chính sách của Nhà nước Vì vậy, nhiệm vụ bảo vệ môi trường bị cạnh tranh liên tục với nhiệm vụ khác của nhà nước như tăng trưởng về y tế, giáo dục hoặc kinh tế Ưu tiên chính sách về môi trường thường thấp hơn so với chính sách tổng thể của các nước đang phát triển

Trong tình huống này, hãy xem các lợi ích rộng lớn của Quỹ môi trường là sự tương quan với lợi ích kinh tế và xã hội; Một trong những thách thức lớn nhất đối với doanh nghiệp là họ phải đối mặt với các quy định tiêu chuẩn về môi trường Tài trợ về tài chính dành cho môi trường có thể giúp doanh nghiệp giảm những gánh nặng về mặt

Trang 29

kinh tế Quỹ môi trường có thể đóng góp vào việc xây dựng cơ sở hạ tầng bằng các khoản tài trợ hay khoản vay ưu đãi Việc nợ Nhà nước để đầu tư hệ thống xử lý nước thải là hợp lý bởi vì những cải tiến này tạo ra giá trị ít nhất trong 50 năm vì lợi ích môi trường cũng phục vụ cho thế hệ tương lai (Alain Lambert, 2003) Với tầm quan trọng của Quỹ môi trường nên việc thành lập Quỹ ngày càng nhiều trên Thế giới do việc nhận thấy rằng Quỹ môi trường không những mang lại lợi ích về môi trường mà còn mang lại lợi ích về kinh tế và xã hội

Đối với môi trường thì quỹ được thiết kế một lộ trình để giải quyết vấn đề giảm bớt ô nhiễm , quỹ môi trường thường gắn liền với các công cụ chính sách khác nhằm cải thiện môi trường theo quy định ( Tổ chức Ngân hàng Thế giới, 1998)

3.1.4 Các Quỹ môi trường ở Việt Nam

Theo một nghiên cứu của Tổ chức ngân hàng thế giới (1998) thì có hai hình thức sắp xếp tổ chức của quỹ môi trường như sau: mẫu đầu tiên là quỹ môi trường cấp Trung ương, cấp chính phủ và hình thức thứ hai là các quỹ môi trường cấp khu vực được dựa trên đặc điểm khu vực địa lý hoặc các khu vực kinh tế Hiện nay tại Việt Nam có 10 quỹ môi trường dưới hình thức quỹ môi trường quốc gia, quỹ môi trường địa phương và quỹ môi trường khu vực Bên cạnh đó văn phòng của quỹ môi trường quốc tế tại Việt Nam đã được hoạt động và đóng nhiều hoạt động BVMT trong nước Kinh nghiệm từ các quốc gia khác nhau đã cho thấy rằng các phân cấp hình thức Quỹ môi trường ở cấp khu vực có lợi thế trong việc giúp các người ra quyết định hơn so với cấp quốc gia Tương tự như vậy, có hai trường hợp về cơ cấu quản lý Quỹ môi trường

Đó là: nó có cơ cấu nội bộ làm việc trực thuộc trong cơ quan có thẩm quyền cho môi trường như sở tài nguyên môi trường… hoặc nó như là một quỹ độc lập trực thuộc UBND tỉnh Ta có thể khái quát một số quỹ môi trường tiêu biểu như dưới đây

a Quỹ BVMT Việt Nam

Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam (BVMTVN) được thành lập trong bối cảnh nhu cầu của các tổ chức cần được hỗ trợ lớn về mặt tài chính Quỹ có chức năng tiếp nhận các nguồn vốn từ ngân sách nhà nước; các nguồn tài trợ, đóng góp, ủy thác của các tổ chức cá nhân trong và ngoài nước nhằm hỗ trợ tài chính cho các hoạt động bảo

vệ môi trường trên phạm vi toàn quốc Quỹ BVMTVN được thành lập theo Quyết định

số 82/2002/QĐ-TTg ban hành ngày 26/6/2002 cúa Thủ tướng Chính Phủ và đưa vào

Trang 30

hoạt động từ tháng 7 năm 2003 Quỹ BVMTVN là một tổ chức cấp trung ương, Quỹ trực thuộc Bộ TN-MT chịu sự quản lý của Bộ Tài chính về tài chính, hoạt động không

vì mục đích lợi nhuận, bảo đảm hoàn vốn điều lệ và bù đắp chi phí quản lý Có thể nói rằng việc ra đời của Quỹ BVMTVN là cái nôi của sự ra đời cho Quỹ môi trường địa phương trong cả nước

Kết quỹ hoạt động: Theo báo cáo của bộ công thương năm 2009 thì đến tháng 3/2009, Quỹ BVMT VN đã cho vay với lãi suất ưu đãi hơn 179 tỷ đồng cho 79 dự án

và tài trợ hơn 7,5 tỷ đồng cho gần 70 nhiệm vụ BVMT Cho tới nay Quỹ BVMT VN

đã cho 23 dự án sản xuất sạch hơn (SXSH)vay vốn với tổng số vốn 16,69 tỷ đồng Trong đó có 18 dự án lò gas gốm sứ và 3 lò gạch liên tục kiểu đứng, 2 dự án còn lại là

dự án xử lý cấp dệt nhuộm và cải tiến hệ thống điều không nhà máy dệt Được biết, hiện tại Quỹ BVMTVN mới chỉ đáp ứng được một phần nhỏ cho hoạt động SXSH, mảng trống Trong thời gian tới, Quỹ BVMTVN sẽ tăng cường hỗ trợ tài chính cho hoạt động SXSH

b Quỹ bảo vệ môi trường ngành than

Hiện nay, Quỹ bảo vệ môi trường ngành duy nhất ở nước ta là Quỹ môi trường ngành Than Quỹ Môi trường Than Việt Nam do Tập đoàn Than - Khoáng sản Việt Nam thành lập từ năm 1999 Nguồn vốn hoạt động của Quỹ này được lấy từ 1% tổng chi phí sản xuất, tiêu thụ than - khoáng sản và các hoạt động sản xuất khác có liên quan đến than và khoáng sản Ngoài ra, nguồn vốn hoạt động còn được huy động từ các ngùôn tài trợ của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước; huy động theo hình thức vay - trả khi cần thiết Lĩnh vực hỗ trợ tài chính của Quỹ này tập trung vào thực hiện các chương trình, dự án đầu tư giảm thiểu ô nhiễm môi trường, bảo vệ đa dạng sinh học và xử lý các sự cố môi trường trong hoạt động khai thác than và khoáng sản thuộc Tập đoàn Than và khoáng sản Việt Nam

c Quỹ đầu tư phát triển địa phương

Khi thị trường tài chính tiền tệ Việt Nam còn ở trong giai đoạn khởi đầu, hệ

thống ngân hàng thương mại non trẻ đang củng cố phục hồi sau sự cố tín dụng, Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định thí điểm thành lập quỹ Đầu tư phát triển đô thị TP HCM (HIFU) năm 1997 HIFU được thành lập như là một chương trình thí điểm, đây

là mô hình ra đời sớm nhất và tiên tiến nhất của Việt Nam và nó cũng chính là tiền

Trang 31

thân của quỹ đầu tư phát triển địa phương nhằm hỗ trợ để xây dựng và phát triển cơ sở

hạ tầng trong đó có mục hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng nhằm giảm thiểu ô nhiễm Đây thực sự là mô hình vốn Nhà nước (vốn từ nguồn tiết kiệm ngân sách của địa phương)

và DN cùng đầu tư và cả hai đều cùng hưởng lợi Chỉ trong vòng tám năm hoạt động, tính đến thời điểm 2005 thì Quỹ Đầu tư phát triển (ĐTPT) với mô hình chia sẻ thị trường vốn, một mô hình huy động vốn rất bền vững đã nhân rộng thành 12 quỹ ĐTPT tại mỗi địa có phương thức hoạt động không giống nhau

Ngoài ra HIFU còn là đơn vị quản lý vốn ủy thác từ ngân sách nhà nước đối với quỹ giảm thiểu ô nhiễm công nghiệp và quỹ xoay vòng TP.HCM Trong đó quỹ giảm thiểu ô nhiễm công nghiệp chịu sự quản lý của sở TNMT tp.HCM về việc thẩm định

dự án cho vay, thẩm định kỹ thuật, giám sát và ký quyết định cho vay, còn HIFU tham gia quản lý, thẩm định tài chính của dự án và ra quyết định giải ngân của dự án Quỹ xoay vòng lại là chịu sự quản lý hoàn toàn của HIFU về các bước ra quyết định thẩm định, cho vay, giám sát của dự án Nguồn vốn của quỹ được ưu tiên dành cho các cơ

sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp thuộc quận huyện quản lý và doanh nghiệp sản xuất công nghiệp có qui mô vừa và nhỏ nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường trên địa bàn

TP HCM

Sau 12 năm hoạt động HIFU đã chính thức đổi sang HFIC, là công ty TNHH một thành viên, do Nhà nước làm chủ sở hữu 100% vốn, được tổ chức theo mô hình công ty mẹ - con, vốn điều lệ 5.000 tỷ đồng với lý do TP.HCM cần có một tổ chức tài chính đủ mạnh để huy động vốn xã hội, trong và ngoài nước để chia sẻ trách nhiệm cùng với trung ương trong lĩnh vực đầu tư phát triển hạ tầng kỹ thuật đô thị, hạ tầng xã hội và các lĩnh vực kinh tế thiết yếu trên địa bàn, nhất là trong giai đoạn 2011-2015 và đến năm 2020 Do đó, HFIC sẽ tiếp tục triển khai các hình thức huy động vốn đã được HIFU ứng dụng thành công tiêu biểu như huy động vốn thông qua các công ty cổ phần

do quỹ tham gia góp vốn với vai trò nhà đầu tư mở đường và thực hiện chức năng vốn mồi của quỹ

Với các kết quả của một mô hình quỹ hoạt động trong các cơ quan có thẩm quyền, nó có thể mạnh mẽ sử dụng chuyên ngành kỹ năng hành chính của chính quyền

và việc cho vay trở nên thuận lợi hơn Tuy nhiên, khó khăn là nó bị ảnh hưởng bởi phải trải qua nhiều cơ quan về sự ra quyết định, chính sách của quỹ Kết hợp với ý

Trang 32

kiến của người đi vay thì việc cơ chế hoạt động của quỹ sẽ có hiệu quả hơn trong quá trình vận hành cũng như cơ chế cho vay được hợp lý hơn Vì vậy những yếu tố quan trọng trong sự thành công của quỹ môi trường là bảo đảm sự tham gia tích cực của các ban ngành trong quản lý và ra quyết định của Quỹ môi trường thông qua Ban quản lý quỹ

d Quỹ BVMT địa phương

Các Quỹ bảo vệ môi trường địa phương gồm các quỹ của các tỉnh, thành phố được hình thành theo Quyết định của UBND các tỉnh thành phố; và các quỹ theo các chương trình, dự án được hình thành theo các chương trình dự án cụ thể Ở Việt Nam hiện mới có Quỹ bảo vệ Môi trường của một số tỉnh thành phố như Hà Nội, Đồng Nai,

Bà Rịa Vũng Tàu, và một số tỉnh đang trong quá trình thành lập quỹ như Đà Nẵng, Thừa Thiên-Huế, Hải Phòng, Thái Nguyên Các quỹ này đều trực thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường của tỉnh Nguồn vốn của các Quỹ này do ngân sách của các tỉnh, thành phố cấp và được bổ sung từ một số nguồn khác

Lĩnh vực hỗ trợ tài chính của các Quỹ bảo vệ môi trường địa phương hầu hết đều tập trung vào: Các chương trình phòng chống, khắc phục ô nhiễm, suy thoái và sự

cố môi trường trên địa bàn tỉnh, thành phố; Ưu tiên cho các chương trình nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ thân thiện môi trường, sản xuất sạch hơn, các giải pháp phòng tránh, hạn chế và khắc phục sự cố môi trường; Tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, khen thưởng trong lĩnh vực bảo vệ môi trường

Quỹ BVMT Đồng Nai:

Quỹ bảo vệ môi trường Đồng Nai được thành lập vào ngày 4/6/2004 theo Quyết định số 2135/2004/QĐ.UBT của Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Nai, Quỹ ra đời và phát triển dựa trên những kế thừa của Quỹ BVMT VN Quỹ có hình thức tổ chức như sau:

 Quỹ là một tổ chức tài chính Nhà nước thực hiện chức năng tài trợ tài chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường

 Quỹ là một đơn vị sự nghiệp có thu, tự trang trải toàn bộ chi phí hoạt động trực thuộc Sở TNMT Đồng Nai

Hoạt động của Quỹ bảo vệ môi trường Đồng Nai nhằm mục đích hỗ trợ tài chính cho các chương trình, dự án, các hoạt động, nhiệm vụ bảo vẹ môi trường trên

Trang 33

phạm vi tỉnh Đồng Nai Hoạt động tài chính của Quỹ không vì mục đích lợi nhuận, mà nhằm giảm thiểu ô nhiễm, nâng cao chất lượng cuộc sống

Với cơ chế vận hành như sau: Vì năng lực của Quỹ còn hạn chế nên Quỹ quản

lý về việc thẩm định kỹ thuật và duyệt các dự án vay vốn, ngoài ra Quỹ còn ủy thác vốn cho Quỹ đầu tư phát triển địa phương, thẩm định tài chính của dự án Bản chất vận hành của Quỹ tại Đồng Nai cũng tương tự như quỹ giảm thiểu ô nhiễm công nghiệp tại TP.HCM

3.1.5 Khả năng tiếp cận nguồn tín dụng nhằm giảm thiểu ô nhiễm của doanh nghiệp

Các tiêu chuẩn về môi trường cũng như khung hình phạt đối với các hành vi gây ô nhiễm môi trường ngày càng gây sức ép đối với doanh nghiệp sản xuất, doanh nghiệp muốn yên tâm hoạt động thì nhất định phải tuân thủ những quy định của cơ quan Nhà nước về bảo vệ môi trường Tức là doanh nghiệp phải xây dựng và vận hành

hệ thống xử lý chất thải, nước thải theo quy định Tuy nhiên, không phải việc đầu tư vào hệ thống xử lý chất thải, nhất là hệ thống xử lý nước thải đối với doanh nghiệp là điều dễ dàng, vì năng lực tài chính của doanh nghiệp ảnh hưởng rất nhiều đến quyết định đầu tư Do đó các doanh nghiệp thường tìm đến các nguồn vốn vay hiện có trên thị trường như ngân hàng thương mại và phải chịu một mức lãi cao Vì vậy một nguồn tài chính hỗ trợ cho doanh nghiệp thực hiện việc giảm thiểu ô nhiễm là Quỹ môi trường với mức lãi suất vay ưu đãi Có thể nói rằng khả năng tiếp cận của doanh nghiệp đối với nguồn vốn vay của Quỹ môi trường là hết sức quan trọng bởi nó ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng đầu tư vốn của doanh nghiệp nhằm giảm thiểu ô nhiễm Nếu các doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận với Quỹ Môi trường thì nó đã bước đầu giải quyết được vấn đề tài chính hạn hẹp của doanh nghiệp trong việc đầu tư hệ thống xử lý chất thải, nước thải

Khả năng tiếp cận với nguồn tài chính của doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi ba yếu tố sau

a) Qui mô sản xuất: So với doanh nghiệp lớn, thì khả năng tiếp cận nguồn vốn tín dụng của doanh nghiệp tư nhân nhỏ và vừa là rất hạn chế Nguyên nhân chủ yếu làm hạn chế khả năng tiếp cận nguồn vốn vay từ các ngân hàng thương mại là do giá trị tài sản đảm bảo (thế chấp) của các doanh nghiệp vừa và nhỏ thấp

Trang 34

Tại Việt nam, việc phân loại các doanh nghiệp tham gia sản xuất sản phẩm công nghiệp theo qui mô như sau ( Nghị định 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 ):

Bảng 3.1 Quy Mô Doanh Nghiệp

Doanh nghiệp siêu nhỏ Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa Quy mô

100 tỷ đồng

Từ trên 200 người đến

tỷ đồng

Từ trên 50 người đến

100 người Nguồn: Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 Việc vay vốn của doanh nghiệp lớn thường được ưu tiên hơn vì chứng minh dễ dàng về năng lực tài chính, tài sản thế chấp cũng như khả năng trả nợ đối với một khoản vay

b Loại hình của doanh nghiệp: Theo Luật Doanh Nghiệp số 60/2005/QH11 thì

có các loại hình sau đấy: Nhà nước, tư nhân, cổ phần, DN hợp danh, DN trách nhiệm hữu hạn và DN có vốn đầu tư nước ngoài.Ngoài ra còn có loại hình HTX

Loại hình doanh nghiệp có ảnh hưởng đến quyết định đầu tư và lợi thế trong việc đi vay các khoản tiền của Nhà Nước Doanh nghiệp Nhà nước hay doanh nghiệp

cổ phần có sự góp vốn của Nhà nước có một lợi thế đặc biệt là nó có được bảo lãnh Nhà nước về tín dụng, vốn được phân bổ từ ngân sách và các lợi ích thuế, do đó nó có

ưu thế cạnh tranh hơn so với doanh nghiệp tư nhân (Nhóm hiệp hội đa phương và Đầu

tư (MAI), 2006) Trong trường hợp này có thể nói rằng Doanh nghiệp Nhà nước hoặc công ty cổ phần có gốp vốn của Nhà nước thì lợi thế hơn trong việc đi vay để giảm thiểu ô nhiễm hơn là so với các loại hình doanh nghiệp khác vì nó có sự bảo lãnh tín dụng của Nhà nước

c Tiếp theo là hạn chế của chủ doanh nghiệp vừa và nhỏ trong mối “quan hệ nghiệp vụ” và “quan hệ xã hội” với ngân hàng Nguyên nhân các doanh nghiệp vừa và nhỏ khó vay vốn ngân hàng là ngoài giá trị tài sản đảm bảo thấp, còn liên quan đến một khái niệm là “quan hệ nghiệp vụ” bị hạn chế ( Nguyễn Thị Cành, 2008) Các doanh nghiệp nầy thường không có đủ các hồ sơ, báo cáo tài chính

Trang 35

3.2 Nội dung và phương pháp nghiên cứu

3.2.1 Phương pháp thu thập dữ liệu:

a Dữ liệu thứ cấp: thu thập thông tin từ sở TNMT và ban quản lý Quỹ về

thống kê các doanh nghiệp tham gia vay vốn từ quỹ bảo vệ môi trường Đồng Nai ; báo cáo tình hình thu hồi vốn vay của dự án; thông tin về tình hình sử dụng vốn vay của doanh nghiệp

b Dữ liệu sơ cấp :Vì khả năng cũng như thời gian có hạn nên tác giả chỉ điều

tra phỏng vấn 30 doanh nghiệp, trong đó có 8 doanh nghiệp đã tham gia vay vốn của Quỹ BVMT Đồng Nai, Chọn ngẫu nhiên 22 doanh nghiệp còn lại là các doanh nghiệp chưa tham gia vay vốn từ Quỹ BVMT Đồng Nai Trong 22 doanh nghiệp này

có 17 doanh nghiệp nằm trong danh sách cơ sở gây ô nhiễm môi trường được công bố bởi Sở TNMT Đồng Nai,

Thu thập dữ liệu từ các doanh nghiệp nầy bằng phương pháp phỏng vấn với bảng câu hỏi soan sẵn Việc soạn bảng hỏi theo các bước sau:

 Thiết kế bảng câu hỏi

Bảng câu hỏi có vai trò quan trọng, quyết định kết quả cuối cùng và sự thành công của nghiên cứu, vì một bảng câu hỏi phù hợp, dễ hiểu sẽ khai thác được thông tin một cách hiệu quả và chính xác nhất, đặc biệt nếu bảng câu hỏi không phù hợp sẽ có thể dẫn tới kết quả bị sai lệch

Bước 1: Xác định các vấn đề then chốt trong bảng câu hỏi

Các vấn đề then chốt trong bảng câu hỏi đươ6c đề cập trong phần nội dung nghiên cứu Khi xây dựng bảng câu hỏi cần đưa ra hệ thống các câu hỏi để khai thác được các thông tin cần nghiên cứu

Bước 2: Pretest bảng câu hỏi

Như vậy kết quả của bước 1 sẽ cho chúng ta một bảng câu hỏi tương đối hoàn chỉnh Tuy nhiên, vẫn còn 1 bước quan trọng phải làm là Pretest bảng câu hỏi Pretest

là bước khởi đầu của các cuộc phỏng vấn chính thức Pretest để nhận ra các vấn đề nào chưa phù hợp trong bảng câu hỏi, loại bỏ những câu hỏi dài dòng, không cần thiết để

có bảng câu hỏi hoàn chỉnh hơn, vừa dễ hiểu vừa đầy đủ thông tin Quá trình Pretest bảng câu hỏi được tiến hành đối với cả các doanh nghiệp có vay vốn và không vay vốn

từ Quỹ bảo vệ môi trường Đồng Nai

Trang 36

Bước 3: Hoàn chỉnh bảng câu hỏi

Kết quả Pretest đã giúp nhận ra được một số câu hỏi không cần thiết, các câu hỏi với cách diễn đạt dài dòng khó hiểu đã được chỉnh sửa Đồng thời các nội dung cũng như cấu trúc của bảng câu hỏi lúc này đã trở nên phù hợp và logic hơn Bảng câu hỏi cuối cùng gồm 4 phần: Phần 1- Thông tin cơ bản cũng như về tình hình hoạt động sản xuất của doanh nghiệp Phần 2 –Thông tin về nguồn chất gây ô nhiễm và chi phí kiểm soát ô nhiễm trong quá trình sản xuất của doanh nghiệp Phần 3- Thông tin về kế hoạch mua sắm thiết bị mới để kiểm soát ô nhiễm Phần 4 - Các câu hỏi về nhu cầu vay vốn của các doanh nghiệp vay quỹ và chưa vay quỹ bảo vệ môi trường nhằm giảm thiểu ô nhiễm (Bảng câu hỏi sẽ được đính kèm trong phụ lục 5)

3.2.2 Phương pháp phân tích

Với 5 mục tiêu đã đặt ra ở trên, đề tài tiến hành nghiên cứu các nội dung và với từng nội dung sẽ có những phương pháp cụ thể

a Mô tả quỹ bảo vệ môi trường và phương thức hoạt động của quỹ này trên địa

bàn nghiên cứu bao gồm phương pháp thông tin tuyên truyền về quỹ và xem xét ba bước xét duyệt một dự án bao gồm: (1) khâu thẩm định dự án bao gồm thẩm định hồ

sơ và thẩm định tài chính (2) khâu giải ngân và cuối cùng là (3) khâu kiểm tra, giám sát dự án

Cả ba bước trên đều quan trọng, trong đó khâu thẩm định dự án ảnh hưởng rất nhiều đến khả năng tiếp cận của doanh nghiệp đối với quỹ Nếu công tác tuyên truyền phổ biến sâu rộng chương trình hỗ trợ tài chính đến các doanh nghiệp; tạo điều kiện thuận lợi bằng cách tích cực hướng dẫn doanh nghiệp lập dự án, nhất là việc thẩm định

dự án tiến hành minh bạch thì ngày càng nhiều doanh nghiệp có cơ hội được tiếp cận

và lập dự án vay với các quỹ môi trường Khâu giải ngân ảnh hưởng đến tiến trình xây dựng dự án của doanh nghiệp sau khi đã trải qua bước một Khâu kiểm tra, giám sát nhằm xác định dự án có làm đúng tiến độ, đúng mục đích khi vay, có giảm thiểu được

ô nhiễm môi trường trong quá trình hoạt động, doanh nghiệp đã sử dụng vốn vay hiệu quả hay không? Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả hoạt động của quỹ Vì thế tất cả kết quả hoạt động của ba bước trên đều có sự liên kết lẫn nhau và ảnh hưởng đến nhu cầu, khả năng tiếp cận của doanh nghiệp cũng như kết quả hoạt động của quỹ môi trường

Trang 37

b Đánh giá kết quả hoạt động của Quỹ môi trường

Thực hiện đánh giá kết quả hoạt động của Quỹ dựa trên ba tiêu chí sau:

 Phân loại các doanh nghiệp đã tham gia vay vốn theo cơ cấu, quy mô, nguy cơ gây ô nhiễm để xét xem các doanh nghiệp này có đúng đối tượng tham gia vay vốn của quỹ hay không

 Khả năng bảo toàn vốn của quỹ: Quỹ môi trường hoạt động không vì mục đích lợi nhuận tuy nhiên phải bảo toàn vốn hoạt động của quỹ Việc xác định khả năng bảo toàn vốn của quỹ môi trường không thể sử dụng các tiêu chí đánh giá tài chính như của ngân hàng thương mại, vì các chỉ tiêu này dùng để đánh giá hoạt động lợi nhuận của ngân hàng Vì vậy tác giả đánh giá khả năng bảo toàn vốn của quỹ qua khả năng thu hồi vốn của quỹ môi trường

 Tình hình sử dụng vốn vay của doanh nghiệp

c Xác định khả năng tiếp cận của các doanh nghiệp đối với quỹ bảo vệ môi

trường

Mục tiêu này nhằm để xác định Quỹ môi trường có phải là một tổ chức mà doanh nghiệp nhắm đến nhằm kết hợp việc bảo vệ môi trường hay không Mục tiêu này được thực hiện thông qua bảng câu hỏi dành cho doanh nghiệp chưa vay vốn Tác giả sử dụng các chỉ tiêu sau: (1) Thông tin của doanh nghiệp về Quỹ môi trường (2) doanh nghiệp có nhu cầu vay Quỹ môi trường hay không

Đối với doanh nghiệp đã vay vốn, tìm hiều về (3) Khó khăn của doanh nghiệp khi tiếp cận quỹ: thủ tục hồ sơ, đảm bảo về mặt tài chính, (4)Chi phí cơ hội thời gian vay

Chi phí thời gian (CPTG)

Chi phí cơ hội thời gian là giá trị của phương án tốt nhất bị bỏ qua khi thực hiện

sự lựa chọn đó (và là những lợi ích mất đi khi chọn phương án này mà không chọn phương án khác; Phương án được chọn khác có thể tốt hơn phương án đã chọn) Chi phí cơ hội được sử dụng như là căn cứ để so sánh với lợi ích thu được khi thực hiện các sự lựa chọn, và đó là chi phí kinh tế Trong trường hợp này chi phí thời gian là một nhân tố ảnh hưởng rất nhiều đến nhu cầu vay vốn của doanh nghiệp, khi chi phí thời gian càng lớn thì mong muốn vay vốn của doanh nghiệp với Quỹ ngày càng giảm Để đơn giản hóa việc tính chi phí thời gian thì chỉ liên quan đến chi phí đi lại, ăn uống

Trang 38

Đây là một dạng ẩn của mức phí mà người lập dự án phải chi trả để hoàn thành thủ tục vay vốn

Markandya và cộng sự cho rằng: “ chi phí cơ hội của thời gian đi lại nói chung được giả định là tính theo mức lương” (trích dẫn bởi Phạm Khánh Nam và Trần Võ Hùng Sơn, 2001)

Trong đề tài, chi phí thời gian (CPTG) được tính theo hệ số giảm dần là toàn bộ mức lương , 1/3 và 1/4 mức lương Nếu người trực tiếp đi vay quỹ môi trường dành toàn bộ thời gian đi làm cho việc đi vay thì chi phí thời gian sẽ được tính bằng toàn bộ mức lương, nếu người đi vay vừa làm công việc của mình vừa đi vay thì chi phí thời gian sẽ được tính bằng 1/4 mức lương Mức lương tùy thuộc vào nghề nghiệp của người đi vay, cụ thể nghề nghiệp là lao động phổ thông, lao động có tay nghề, nhân viên công ty Vì sao lại có sự tính như vậy? Vì đối với người dùng thời gian đi làm để

đi vay quỹ môi tường thì họ phải chịu mất đi một khoảng tiền mà lẽ ra họ phải có vì đây là chi phí thực nên được tính bằng toàn bộ mức lương, còn đối với những người vừa đi làm vừa thực hiện vay quỹ nếu họ không bỏ thời gian vay quỹ thì thời gian đó

họ có thể làm và tạo ra thu nhập cho bản thân Do đó được xem là chi phí cơ hội bị mất đi hay chi phí ẩn bị mất

d Xác định nhu cầu hỗ trợ tài chính của các doanh nghiệp nhằm giảm thiểu ô

nhiễm

Như đã nêu ở trên, nhu cầu của doanh nghiệp về hỗ trợ tài chính nhằm giảm thiểu ô nhiễm phụ thuộc rất nhiều yếu tố Việc xác định nhu cầu hỗ trợ này sẽ được thực hiện thông qua bảng câu hỏi nhằm xác định quỹ môi trường có đáp ứng được các nhu cầu về tài chính của doanh nghiệp hay không Các chỉ tiêu đánh giá cụ thể sẽ được trình bày trong bảng câu hỏi như: (1) Kế hoạch mua sắm trang thiết bị của hệ thống xử

lý chất thải trong tương lai của doanh nghiệp, (2) Nguồn vốn mà doanh nghiệp dự định

sử dụng cho mục đích trên, (3) Số tiền mà doanh nghiệp cần…

e Đề xuất những giải pháp nhằm giúp quỹ môi trường được hoạt động có hiệu

quả hơn

Từ kết quả nghiên cứu trên kết hợp với những ý kiến của người đi vay, tác giả

đề xuất những giải pháp sao cho quỹ môi trường phát huy được khả năng của mình nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường

Trang 39

Phương pháp xử lý số liệu

Số liệu sơ cấp sau khi thu thập bằng điều tra phỏng vấn sẽ được tiến hành xử lý Trước tiên là việc kiểm tra lại thông tin trong các phiếu phỏng vấn Những phiếu không đạt yêu cầu sẽ bị loại bỏ và được phỏng vấn bổ sung Sau đó là quá trình “làm sạch” số liệu Tiếp theo sẽ tiến hành nhập và xử lý bằng phần mềm Excel

Trang 40

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1 Mô tả phương thức hoạt động của Quỹ BVMT Đồng Nai

+ Nguồn thu từ phí phục hồi môi trường và,

+ Phí bảo vệ môi trường đối với nước thải bao gồm có :

 Từ nước thải sinh hoạt ( Cơ quan cấp nước thu ) đưa về quỹ BVMT 70% phí, và phần còn lại nộp về ngân sách

 Từ nước thải công nghiệp ( thu bởi Chi cục Bảo vệ môi trường, cơ quan trực thuộc Sở TNMT ) Sau khi trừ đi 20% phí quản lý chung thì 50% nguồn phí còn lại chuyển về cho Quỹ bảo vệ môi trường Đồng Nai và 50% chuyển về Trung ương

Theo số liệu điều tra bình quân phí nước thải hàng năm chuyển về Quỹ bảo vệ môi trường Đồng Nai được khoảng 5 tỷ / Năm

4.1.2 Đối tượng vay vốn

Các tổ chức, cá nhân có các chương trình, dự án, hoạt động và nhiệm vụ bảo vệ

môi trường vì mục tiêu cải thiện, nâng cao chất lượng môi trường tỉnh Đồng Nai; các lĩnh vực phòng chống, khắc phục ô nhiễm, suy thoái và sự cố môi trường, nâng cao nhận thức bảo vệ môi trường cho cộng đồng đều năm trong đối tượng ưu tiên được hưởng những ưu đãi từ quỹ BVMT Đồng Nai

4.1.3 Các điều kiện khi vay Quỹ

a Điều kiện vay

Ngày đăng: 28/02/2019, 10:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w