Trong tình hình giá cao su thế giới đang tăng mạnh, phương pháp này sẽ giúp tăng sản lượng mủ để xuất khẩu, góp phần phát triển ngành cao su của nước ta... Nhận thức được tầm quan trọng
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM.TP HỒ CHÍ MINH
SO SÁNH CÔNG NGHỆ KHAI THÁC MỦ CAO SU BẰNG KHÍ ETHYLEN (RRIMFLOW) VÀ BÔI CHẤT KÍCH THÍCH ETHEPHON TẠI NÔNG TRƯỜNG ÔNG QUẾ
TỔNG CÔNG TY CAO SU ĐỒNG NAI
HỒ PHAN NGỌC THỦY
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỂ NHẬN VĂN BẰNG CỬ NHÂN NGÀNH KINH TẾ NÔNG LÂM
Thành phố Hồ Chí Mnh Tháng 07/2010
Trang 2Hội đồng chấm báo cáo khóa luận tốt nghiệp đại học khoa Kinh Tế, trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh xác nhận khóa luận “So sánh công nghệ khai thác mủ cao su bằng khí Ethylen (RRIMFLOW) và chất kích thích Ethephon tại nông trường Ông Quế - Tổng Công Ty Cao Su Đồng Nai” do Hồ Phan Ngọc Thủy, sinh viên lớp DH06KT, ngành Kinh Tế Nông Lâm, , đã bảo vệ thành công trước hội đồng vào ngày … tháng … năm ……
Giáo viên hướng dẫn Trần Hoài Nam
Trang 3Em cũng xin chân thành gừi lời cảm ơn đến quý cô, chú, anh chị đang công tác tại văn phòng nông trường cao su Ông Quế, đăc biệt là bác Bằng, bác Khải, chú Tư, bác Minh đã nhiệt tình giúp đỡ em trong quá trình thực hiện khóa luận Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn tất cả người thân và bạn bè, những người đã hết lòng giúp đỡ tôi trong suốt thời gian sống và học tập tại Trường Đại
Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh
Trang 4NỘI DUNG TÓM TẮT
HỒ PHAN NGỌC THỦY Tháng 7 năm 2010 “So sánh công nghệ khai
thác mủ cao su bằng khí Ethylen (RRIMFLOW) và chất kích thích Ethephon tại nông trường Ông Quế - Tổng Công Ty Cao Su Đồng Nai”
HO PHAN NGOC THUY July 2010 “Comparating the exploited latex
technology between Ethylen gas (RRIMFLOW) and the stimulant Ethephon
at Ong Que plantation – Dong Nai Rubber Coporation”
Phương pháp khai thác mủ bằng khí Ethylen (RRIMFLOW) được ra đời vào năm 1990 và đưa vào áp dụng tại Việt Nam năm 2005 Nông trường Ông Quế bắt đầu áp dụng kỹ thuật này năm 2006 Đây là bước đột phá trong kỹ thuật khai thác mủ và đem lại lợi ích về nhiều mặt Đề tài đánh giá hiệu quả kinh tế lẫn hiệu quả kỹ thuật giữa phương pháp RF và phương pháp truyền thống khai thác mủ bằng cách bôi chất kích thích Ethephon trong 25 năm (gồm chu kì xây dựng cơ bản và sản xuất kinh doanh) Những kết quả nghiên cứu dựa trên số liệu thứ cấp của nông trường từ năm 2000 đến năm 2010
Kết quả nghiên cứu cho thấy kết quả khi thực hiện phương pháp RF gồm
NPV là 132.939.283,2 đồng, IRR là 34%, B/C là 2.57 Các chỉ tiêu này đều rất cao
và cao hơn so với phương pháp bôi Ethephon (NPV là 82.631.936,8, IRR là 31%, B/C là 2.04) cho thấy hiệu quả kinh tế lẫn kỹ thuật của phương pháp RF là rất cao Trong tình hình giá cao su thế giới đang tăng mạnh, phương pháp này sẽ giúp tăng sản lượng mủ để xuất khẩu, góp phần phát triển ngành cao su của nước ta
Trang 5MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT x
DANH MỤC CÁC BẢNG xi
DANH MỤC CÁC HÌNH xiii
CHƯƠNG 1 1
MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.2.1 Mục tiêu chung 3
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3
1.3 Phạm vi nghiên cứu 3
1.3.1 Phạm vi không gian 3
1.3.2 Phạm vi thời gian 3
1.4 Cấu trúc của khóa luận 3
CHƯƠNG 2 5
TỔNG QUAN 5
2.1 Tổng quan về nông trường Ông Quế 5
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 5
2.1.1.1 Vị trí địa lý 5
2.1.1.2 Khí hậu và thời tiết 6
2.1.2 Hệ thống tổ chức bộ máy nông trường cao su Ông Quế 7
2.2 Lịch sử khai thác cây cao su và sử dụng các phương pháp kích thích mủ cao su 8
2.2.1 Lịch sử khai thác cây cao su 8
2.2.2 Lịch sử việc sử dụng các phương pháp kích thích mủ cao su 11
2.3 Tổng quan về sản xuất cao su thiên nhiên ở Việt Nam và thế giới 14
2.3.1 Sản xuất cao su thiên nhiên ở Việt Nam 14
2.3.2 Sản xuất cao su thiên nhiên trên thế giới 18
v
Trang 62.3.3 Thị trường tiêu thụ cao su Việt Nam sau khi gia nhập WTO 23
CHƯƠNG 3 25
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
3.1 Nội dung nghiên cứu 25
3.1.1 Vai trò và tầm quan trọng của ngành cao su ở Việt Nam 25
3.1.2 Ý nghĩa của việc xây dựng và phát triển vùng nguyên liệu cao su 26
3.2 Kí hiệu quốc tế 27
3.2.1 Kiểu, độ dài, số lượng và hướng miệng cạo 27
3.2.1.1 Kiểu 27
3.2.1.2 Độ dài 27
3.2.1.3 Số lượng miệng cạo 28
3.2.1.4 Hướng miệng cạo 28
3.2.2 Nhịp độ và chu kì cạo 28
3.2.2.1 Nhịp độ cạo 28
3.2.2.2 Chu kỳ cạo 29
3.2.3 Mặt cạo 29
3.2.4 Kích thích mủ (stimulation) 29
3.3 Sơ lược về 2 phương pháp kích thích 30
3.3.1 Phương pháp bôi chất kích thích Ethephon 30
3.3.2 Phương pháp RRIMFLOW 32
3.4 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sản xuất của cả một chu kỳ kinh doanh cây cao su 33
3.4.1 Suát chiết khấu 34
3.4.2 Dòng thu tiền tệ Bi 34
3.4.3 Dòng chi tiền tệ Ci 34
3.4.4 Ngân lưu ròng (Bi – Ci) 35
3.4.5 Hiện giá ròng (NPV) 35
vi
Trang 73.4.6 Suất nội hoàn (IRR) 35
3.4.7 Tỉ số lợi ích / chi phí (B/C) 36
3.5 Phương pháp nghiên cứu 36
3.5.1 Phương pháp thu thập số liệu 36
3.5.2 Phương pháp xử lý, phân tích số liệu 36
3.5.2.1 Phương pháp thống kê mô tả 36
3.5.2.2 Phương pháp so sánh 37
CHƯƠNG 4 38
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 38
4.1 Tình hình hoạt động tại nông trường Ông Quế năm 2009 38
4.1.1 Công tác khai thác mủ 38
4.1.2 Tình hình vườn cây cao su của nông trường năm 2009 39
4.1.2.1 Vườn cây kiến thiết cơ bản (KTCB) 39
4.1.2.2 Vườn cây sản xuất kinh doanh (SXKD) 41
4.1.3 Những thuận lợi và khó khăn trong việc thực hiện sản lượng năm 2009 42
4.1.4 Các công tác thực hiện trên vườn cây 43
4.1.4.1 Công tác bảo vệ thực vật 43
4.1.4.2 Công tác bón phân 44
4.1.4.3 Công tác khoa học kỹ thuật áp dụng trên vườn cây 44
4.2 Tình hình áp dụng 2 phương pháp kích thích tại nông trường Ông Quế 45
4.2.1 Tình hình áp dụng bôi chất kích thích Ethephon 45
4.2.2 Tình hình áp dụng RF 46
4.3 Các giống cao su được sử dụng 48
4.4 So sánh hiệu quả kinh tế giữa hai phương pháp 51
4.4.1 Chi phí cho năm đầu trồng mới 51
4.4.1.1 Chi phí vật chất 51
vii
Trang 84.4.1.2 Chi phí lao động 53
4.4.1.3 Tổng chi phí trên 1 ha cao su năm trồng mới 54
4.4.2 Chi phí trên 1 ha cao su giai đoạn năm 2 đến năm 5 54
4.4.2.1 Chi phí vật chất 54
4.4.2.2 Chi phí lao động 55
4.4.2.3 Tổng chi phí trên 1 ha cao su giai đoạn năm 2 – năm 5 57
4.4.3 Chi phí trên 1 ha cao su thời kì sản xuất kinh doanh 58
4.4.3.1 Chi phí trên 1 ha cao su SXKD áp dụng RF 58
4.4.3.2 Chi phí trên 1 ha cao su SXKD áp dụng bôi chất kích thích theo định kỳ 59
4.4.4 Doanh thu của 1 ha cao su 60
4.4.4.1 Doanh thu từ mủ của 1 ha cao su thực hiện phương pháp RF 60
4.4.4.2 Doanh thu từ mủ trên 1 ha cao su thực hiện phương pháp bôi chất kích thích theo định kỳ 62
4.4.4.3 Doanh thu từ cao su thanh lý 62
4.4.5 Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả đầu tư một vòng dời trên 1 ha cao su 64
4.4.5.1 Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả đầu tư một vòng dời trên 1 ha cao su thực hiện RF 64
4.4.5.2 Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả đầu tư một vòng dời trên 1 ha cao su thực hiện phương pháp bôi chất kích thích theo định kỳ 66
4.5 Phân tích hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả kinh tế 67
4.5.1 Hiệu quả kĩ thuật 67
4.5.2 Hiệu quả kinh tế 68
4.6 Những yếu tố tác động làm giảm sản lượng mủ 69
4.6.1 Kỹ thuật khai thác 69
4.6.2 Ảnh hưởng của điều kiện ngoại cảnh 69
4.6.3 Bảo vệ thực vật 71
viii
Trang 94.6.4 Sử dụng, quản lý và bảo vệ lớp vỏ kinh tế 73
CHƯƠNG 5 75
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 75
5.1 Kết luận 75
5.2 Kiến nghị 76
TÀI LIỆU THAM KHẢO 78
ix
Trang 10DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
RRIMFLOW :Phương pháp khai thác mủ
IRSG : Tập đoàn nghiên cứu cao su Quốc tế
WTO: Tổ chức thương mại Thế giới
VRG (Vietnam Rubber Group): Tập đoàn công nghiệp cao su Việt Nam
KTCB: Kiến thiết cơ bản
SXKD: Sản xuất kinh doanh
CPVC: Chi phí vật chất
CPLĐ: Chi phí lao động
BVTV: Bảo vệ thực vật
x
Trang 11DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang Bảng 2.1 Số lượng lao động và cán bộ quản lý 8
Bảng 2.2 Tỉ trọng sản xuất cao su thiên nhiên của các quốc gia trên thế
Bảng 3.1 Giá cả cao su thế giới qua các năm 26
Bảng 4.1 Thực hiện chỉ tiêu sản lượng năm 2009 38
Bảng 4.2 Vườn cây KTCB của nông trường năm 2009 40
Bảng 4.3 Vườn cây SXKD của nông trường năm 2009 41
Bảng 4.4 Cơ cấu tuổi vườn cây khai thác tại nông trường năm 2009 42
Bảng 4.5 Sản lượng mủ khi áp dụng bôi Ethephon 45
Bảng 4.6 Sản lượng mủ trước và sau khi áp dụng bơm khí Ethylen 47
(áp dụng năm 2007 và 2008)
Bảng 4.7 Giống cao su được sử dụng cho phương pháp RF 48
Bảng 4.8 Giống cao su được sủ dụng cho phương pháp bôi Ethephon 49
Bảng 4.9 Chi phí vật chất trên 1 ha cao su một năm tuổi 53
Bảng 4.10 Chi phí lao động trên 1 ha cao su trồng mới 54
Bảng 4.11 Tổng chi phí trên 1 ha cao su năm trồng mới 55
Bảng 4.12 Chi phí vật chất trên 1 ha giai đoạn năm 2 – năm 5 56
Bảng 4.13 Chi phí lao động trên 1 ha giai đoạn từ năm 2 – năm 5 57
Bảng 4.14 Tổng chi phí trên 1 ha cao su giai đoạn năm 2 – năm 5 58
Bảng 4.15 Chi phí trên 1 ha cao su SXKD áp dụng RF 59
Bảng 4.16 Chi phí trên 1 ha cao su SXKD áp dụng bôi chất 61
kích thích theo định kỳ
Bảng 4.17 Doanh thu từ mủ trên 1 ha cao su áp dụng phương pháp RF 63
xi
Trang 12Bảng 4.18 Doanh thu từ mủ trên 1 ha cao su thực hiện phương pháp 64 bôi chất kích thích theo định kỳ
Bảng 4.19 Ngân lưu ròng vòng đời cây cao su thực hiện RF 66 Bảng 4.20 Hiệu quả áp dụng RF trên vòng đời cây cao su 67 Bảng 4.21 Ngân lưu ròng vòng đời cây cao su thực hiện bôi 68 chất kích thích
Bảng 4.22 Hiệu quả áp dụng bôi chất kích thích trên vòng đời 69 cây cao su
Bảng 4.24 Tác động của mưa bão đến sản lượng mủ 71 Bảng 4.25 Các bệnh thường gặp ở cây cao su 73
xii
Trang 13DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang Hình 2.1 Hệ thống tổ chức bộ máy nông trường Ông Quế 7
Hình 2.2 Tỉ lệ trồng cao su theo vùng 15 Hình 2.3 Biến động diện tích, sản lượng cao su khô (DRC)
Hình 2.4 Sản lượng sản xuất cao su của Việt Nam 17 Hình 2.5 5 nước dẫn đầu về sản lượng sản xuất 20 Hình 2.6 Thị trường tiêu thụ cao su thế giới 20 Hình 2.7 Đồ thị diễn biến giá cao su và giá dầu thô 1998 – 2007 22 Hình 3.1 Biến động giá cao su thế giới thể hiện qua các năm 26 Hình 4.1 Cơ cấu tuổi vườn cây khai thác tại nông trường
Hình 4.2 Diễn biến năng suất mủ khi bôi Ethephon 46 Hình 4.3 Diễn biến năng suất mủ trước và sau khi áp dụng RF 48 Hình 4.4 Sản lượng mủ thất thu qua các năm 72
xiii
Trang 15Ngành cao su là 1 trong những ngành có vai trò chiến lược trong sự phát triển kinh tế đất nước Nó đã góp phần vào sự tăng trưởng kinh tế cả nước thông qua xuất khẩu, tạo nguồn vốn để xây dựng cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất, góp phần phân bố dân cư, ổn định kinh tế, chính trị, xã hội, phát triển đất nước Nhận thức được tầm quan trọng của ngành cao su, trong chiến lược phát triển đến năm 2010, Tổng Công Ty Cao Su Việt Nam đã định hướng nâng cao năng suất bình quân từ 1,4 – 1,5 tấn/ha/năm lên 2 – 2,2 tấn/ha/năm bằng các biện pháp kĩ thuật và ứng dụng khoa học tiến bộ của thế giới (Tổng Công Ty Cao Su Việt Nam 2003)
Trong giai đọan hiện nay, ngành công nghiệp chế tạo ô tô, sản xuất xăm lốp bằng cao su thiên nhiên đang phát triển mạnh trên thế giới, điển hình 1 số nước như Ấn Độ, Trung Quốc … Mặc dù đây là những quốc gia sản xuất cao su thiên nhiên lớn trên thế giới nhưng do tốc độ phát triển quá nhanh của ngành công nghiệp ô tô đã dẫn đến tình trạng cung không đáp ứng đủ cầu và họ buộc phải nhập thêm cao su nguyên liệu từ các nước khác như Thái Lan, Việt Nam …
Trang 16Chính vì điều này đã dẫn đến sự mất cân đối giữa cung và cầu nguyên liệu cao su trên thế giới Thực trạng này đã đẩy giá cao su lên cao Đây là điều kiện tốt
để các nước sản xuất cao su thiên nhiên trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng tận dụng lợi thế của mình để phát triển ngành cao su, mở rộng diện tích, đẩy mạnh xuất khẩu nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Tuy nhiên để phát triển ngành cao su 1 cách có hiệu quả, chúng ta cần phải thực hiện việc trồng và khai thác 1 cách đồng bộ, áp dụng những phương pháp khoa học tiến bộ để nâng cao sản lượng, chất lượng, uy tín và thương hiệu của cao
su Việt Nam trên thị trường thế giới
Có nhiều phương pháp nhằm kích thích việc tạo mủ đã được nghiên cứu và
áp dụng vào quá trình khai thác cao su Ban đầu là phương pháp dẫn khí CuSo4 và đang phổ biến hiện nay là phương pháp kích thích bằng ethephon Nhưng phương pháp này vẫn còn nhiều khuyết điểm
Kĩ thuật khai thác sử dụng khí ethylen (RRIMFLOW) ra đời vào năm 1990
và được giới thiệu và áp dụng ở Việt Nam năm 2005 Liệu việc áp dụng kĩ thuật này có làm tăng được sản lượng mủ cao su không? Hiệu quả mang lại như thế nào? Có thể khắc phục được những khuyết điểm của những phương pháp cũ hay không? Có khả năng mở rộng việc áp dụng không? Xuất phát từ những yêu cầu trên, được sự đồng ý của Khoa Kinh Tế và sựu hướng dẫn tận tình của thầy Trần Hoài Nam – Giảng viên trường Đại Học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh, tôi đã
tiến hành thực hiện đề tài : “So sánh công nghệ khai thác mủ cao su bằng khí
ethylen (RRIMFLOW) và chất kích thích ethephon tại nông trường Ông Quế
- Tổng Công Ty Cao Su Đồng Nai”
Trang 171.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
So sánh hiệu quả giữa 2 phương pháp khai thác bằng cách sử dụng khí ethylen (RRIMFLOW) và kích thích bằng ethephon
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Tình hình áp dụng phương pháp RRIMFLOW và Ethephon
- So sánh hiệu quả kinh tế giữa 2 phương pháp RRIMFLOW và
Ethyphon
- Phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến sản lượng cao su khi áp dụng
phương pháp RRIMFLOW và Ethephon
Khóa luận được tiến hành từ tháng 03/2010 đến tháng 06/2010
1.4 Cấu trúc của khóa luận
- Giới thiệu tổng quát về điều kiện tự nhiên và đặc điểm kinh tế - xã hội của
địa bàn nghiên cứu
- Trình bày tình hình sản xuất cao su thiên nhiên trong và ngoài nước để thấy
được thực trạng và xu hướng phát triển của ngành cao su hiện nay
Trang 18Chương 3 : Nội dung và phương pháp nghiên cứu
Giới thiệu các khái niệm có liên quan đến đề tài nghiên cứu, các chỉ tiêu, phương pháp thu thập và xử lý số liệu nhằm phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài
Chương 4 : Kết quả và thảo luận
Trình bày những kết quả đạt được trong quá trình thực hiện khóa luận và phân tích, thảo luận các kết quả ấy
Chương 5 : Kết luận và kiến nghị
Từ những kết quả đã được phân tích rút ra kết luận, đề xuất những kiến nghị, biện pháp nhằm nâng cao khả năng áp dụng chương trình
Trang 19CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN
2.1 Tổng quan về nông trường Ông Quế
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
2.1.1.1 Vị trí địa lý
Cẩm Mỹ là 1 huyện mới của tỉnh Đồng Nai, được thành lập ngày 21/8/2003 theo Nghị định số 97/2003/ND-CP với diện tích là 467,95 km2, chiếm 7,99% diện tích tự nhiên toàn tỉnh Theo thống kê dân số năm 2007, toàn huyện có 156.472 người, mật độ dân số là 0,334 người/km2
Huyện có 13 đơn vị hành chính cấp xã gồm : Xuân Quế, Sông Nhạn, Xuân Đường, Thừa Đức, Nhân Nghĩa, Long Giao, Xuân Mĩ, Xuân Bảo, Bảo Bình, Xuân Đông, Xuân Tây, Sông Ray và Lâm San
Địa giới hành chính : nằm ở phía đông nam tỉnh Đồng Nai
- Phía bắc giáp thị xã Long Khành và huyện Xuân Lộc
- Phía nam giáp tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
- Phía đông giáp huyện Xuân Lộc
- Phía tây giáp huyện Thống Nhất và huyện Long Thành
Nông trường cao su Ông Quế cách Tỉnh lộ 2 là 7km, cách thị trấn Xuân Lộc 17km và cách Tổng Công Ty Cao Su Đồng Nai khoảng 25km Phía bắc nông trường Ông Quế giáp nông trường cao su Dầu Giây, phía nam giáp nông trường cao su Cẩm Đường, phía đông giáp nông trường cao su Hàng Gòn, phía tây giáp nông trường cao su An Viễn – Bình Sơn
Diện tích tự nhiên của nông trường Ông Quế đang quản lý là 4315,33ha, số lượng công nhân trên 1431 người
Trang 20
2.1.1.2 Khí hậu và thời tiết
Ông Quế thuộc vùng trung du, độ cao trung bình từ 50 -60m so với mặt
biển Nông trường cao su Ông Quế nằm ở miền Đông Nam Bộ nên có khí hậu
nhiệt đới gió mùa, hàng năm được chia thành 2 mùa rõ rệt Mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 11, mùa nắng bắt đầu từ tháng 12 đến cuối tháng 3 Khí hậu ôn
hòa, ít chịu ảnh hưởng của thiên tai, đất đai màu mỡ (đất đỏ bazan)
Nhiệt độ cao quanh năm là điều kiện thích hợp phát triển các cây trồng nhiệt đới, đặc biệt là các cây công nghiệp có giá trị xuất khẩu cao
Nhiệt độ bình quân hằng năm là 25,9C
Số giờ nắng trung bình hằng năm là 2286 giờ
Độ ẩm trung bình hằng năm là 82%
Trang 21ĐẢNG BỘ
5 KT
CB
2.1.2 Hệ thống tổ chức bộ máy nông trường cao su Ông Quế
Hình 2.1 Hệ thống tổ chức bộ máy nông trường Ông Quế
Quá trình hình thành và phát triển đội ngũ công nhân nông trường cao su Ông Quế dưới chế độ mới là 1 quá trình phát triển động bộ cả về số lượng lẫn chất lượng, về trình độ nhận thức chính trị xã hội cũng như trình độ chuyên môn kỹ thuật
Qua quá trình lao động sản xuất, chất lượng đội ngũ công nhân cũng được nâng dần lên, nhất là trình độ dân trí và trình độ chuyên môn kỹ thuật Song song với việc mở rộng sản xuất, lãnh đạo nông trường đặc biệt chú trọng đến việc mở lớp đào tạo bồi dưỡng thường xuyên cho công nhân mới, công nhân trẻ trở thành công nhân có tay nghề vững vàng Phong trào “Rèn luyện tay nghề, thi thợ giỏi” cải tiến kỹ thuật, nâng cao năng suất lao động là 1 việc làm thường xuyên hằng năm của công nhân ở các đội sản xuất và các phòng ban chuyên môn
Trang 22Từ ngày Đảng bộ Nông trường cao su Ông Quế chuyển về trực thuộc sự lãnh đạo của Đảng Ủy Công ty Cao Su Đồng Nai, đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản
lý, cán bộ kỹ thuật nghiệp vụ được tăng lên hằng năm cơ bản đáp ứng được yêu cầu mở rộng và phát triển sản xuất Bộ máy lãnh đạo, quản lý, điều hành sản xuất
ở nông trường ngày càng được kiện toàn vững mạnh Mô hình tổ chức quản lý ngày càng khoa học, hợp lý hơn Cứ 36 công nhân thành lập một tổ sản xuất, 388 công nhân thành lập một đội sản xuất Toàn nông trường có 5 đội, 28 tổ sản xuất kinh doanh và 5 tổ vườn cây kiến thiết cơ bản, 4 phòng ban thuộc khối ngành nghề
Bảng 2.1 Số lượng lao động và cán bộ quản lý
Nguồn : Văn phòng NT Ông Quế
2.2 Lịch sử khai thác cây cao su và sử dụng các phương pháp kích thích mủ cao su
2.2.1 Lịch sử khai thác cây cao su
Kể từ sau khi Columbus phát hiện ra cây cao su ở Nam Mỹ và mang về giới thiệu vớ thế giới phương Tây, 1 số phát minh sáng chế nhằm ứng dụng những đặc tính đặc biệt của mủ cao su đã được đưa ra như vải không thấm nước (Macintosh, 1823), phương pháp lưu hóa cao su (Goodyear, 1829), bánh hơi (Thomson, 1845; Dunlop, 1888) đã giúp cho ngành công nghiệp cao su được hình thành Khi ngành công nghiệp xe hơi phát triển, những sản phẩm khác từ cao su cũng được đưa ra
Trang 23làm cho nhu cầu về cao su tự nhiên tăng mạnh Một thị trường béo bở cho cao su
đã tạo nên ý tưởng cho việc trồng cây này như là một cây thương mại và như thế các đồn điền cao su đã được hình thành và phát triển khắp thế giới, đặc biệt là ở khu vực Viễn Đông Thật ra trước đó cây cao su đã được trồng rải rác ở khu vực này (Sri Lanka, Singapore) nhưng ban đầu người ta cũng chưa có ý tưởng biến loại cây này thành cây thương mại Nguyên nhân chủ yếu là do thiếu một phương pháp phù hợp để thu hoạch mủ từ chúng (Ismail, 1989)
Tại Brasil, mủ được khai thác bằng cách dùng một loại rựa chém vào thân cây những vết dài khoảng 2,5 đến 5cm để mủ chảy ra, lần khai thác kế tiếp lại chém vào cây ở một vị trí khác, cứ thế các vết chém dần dần bao phủ vòng quanh thân cây Thời gian khai thác trong năm kéo dài khoảng 100 – 150 ngày vào mùa khô (từ tháng 6 đến tháng 1 năm sau) Với cách khai thác này, các vết chém không thể kiểm soát được thường ăn sâu vào gỗ, gây ra những u sần trên cây dẫn đến không thể khai thác lại phần thân đã bị chặt Do đó cây chỉ có thể khai thác trong một khoảng thời gian ngắn vài năm là bỏ, không thể khai thác tiếp hoặc phải dùng thanh để khai thác phần vỏ phía trên Điều này làm giảm chu kì khai thác và cũng
có nghĩa là giảm hiệu quả kinh tế của cây cao su
Tại Viễn Đông, khi mới bắt đầu trồng cao su với mục đích thương mại, việc khai thác cũng được tiến hành theo phương cách tương tự như ở Brasil nhưng với một sự thận trọng hơn Chu kì cạo chỉ kéo dài trong khoảng 3 tuần và chỉ có 2 đến 3 chu kì như vậy trong năm Nguyên do của sự thận trọng này là các nhà đầu
tư nhận thấy khai thác theo “Phương pháp Brasil” sẽ làm giảm chu kì kinh tế của cây cao su Họ cũng chưa biết liệu cây cao su trên quê hương mới có thể sống và cho mủ với số lượng đạt hiệu quả kinh tế hay không Khi họ thấy rằng cây cao su sinh trưởng tốt nhưng không đáp ứng tốt với các vết chặt trên thân cây, họ bắt đầu thử nghiệm để tìm ra phương pháp khai thác phù hợp dựa trên những kiến thức về sinh lý và những phản ứng của cây mà họ ghi nhận được Ở Sri Lanka, từ 1882 Trimen đã thử nghiệm 1 số phương pháp khai thác dựa trên phương pháp Brasil với 1 vài thay đổi nhưng chủ yếu cũng đều dựa trên nguyên tắc rạch vào cỏ cao su
Trang 24bằng các dụng cụ như dao, đục, rựa, … Tuy nhiên những phương pháp này đều tạo nên những thương tổn lớn trên vỏ cây làm phát triển những u lồi làm cho cây cao
su không thể khai thác tiếp tục chỉ trong 1 thời gian ngắn
Tháng 6/1897, Ridley – giám đốc vườn thực vật Singapore đã công bố những chi tiết đầu tiên của phương pháp lấy mủ cao su mới Theo đó một số vết cắt xiên được tạo ra trên vỏ dọc theo thân cây và tập trung vào 1 vết cắt thẳng đứng ở trung tâm Chén hứng mủ được đặt phía dưới vết cắt thẳng đứng này Mủ cao su sẽ chảy dọc theo các vết cắt đi vào vết thẳng đứng và chảy xuống chén Các vết cắt trên cây cao su lúc đó sẽ tạo thành hình xương cá do đó nó cũng còn được gọi là miệng cạo hình xương cá Điểm khác biệt quan trọng giữa phương pháp của Ridley và các phương pháp cũ là thay vì vỏ cây ngay vết chém không được lấy đi
và phải tạo một vết chém mới ở lần khai thác kế tiếp, ông đề nghị cắt và lấy đi một lớp vỏ mỏng ở ngay vết cắt cũ Đây là một bước đột phá trong kĩ thuật khai thác cao su và nó được áp dụng phổ biến cho đến tận ngày nay
Năm 1916, de Jong phát hiện ra rằng các ống mủ trong vỏ cây cao su không chạy theo chiều thẳng đứng mà chạy vòng quanh thân cao su theo chiều kim đồng
hồ từ trên xuống với góc nghiêng khoảng 3,7o so vớ phương thẳng đứng Từ đó ông cho rằng với cùng chiều dài và độ dốc miệng cạo, vết cắt từ phải qua trái thân cây (ngược chiều kim đồng hồ từ trên xuống) sẽ cắt được nhiều ống mủ hơn vết cắt theo chiều ngược lại và như vậy có thể sản lượng thu được sẽ cao hơn Những thí nghiệm cạo mủ sau đó của Maas đã chứng minh giả thiết của de Jong là đúng Những thực nghiệm tiếp tục của 2 ông dần dần đưa đến dạng miệng cạo vòng xoắn (s) áp dụng cho đến nay
Đáng lưu ý là trong thập niên 1990, Viện RRIM đã bắt đầu thử nghiệm một
số phương pháp khai thác mới như RRIMFLOW và REACTORRIM Các phương pháp này chủ yếu dựa trên cơ sở miệng cạo ngắn phối hợp vớ sử dụng khí ethylen làm chất kích thích Các kết quả bước đầu cho thấy các phương pháp này là có triển vọng và đã được áp dụng trên một số vùng tại Malaysia
Trang 252.2.2 Lịch sử việc sử dụng các phương pháp kích thích mủ cao su
Năm 1912, nhà hóa học người Đức tên là Kamerun nhận thấy rằng nạo vỏ cây cao su cũng gây kích thích tăng sản Phát hiện này cũng được Fickendy (1918) xác nhận Một hướng kích thích mới đã được thực hiện bởi Compagnon và Tixier, giả định rằng những nguyên tố vi lượng có sẵn như đồng hiện diện trong vài enzim chính có thể giới hạn sự sinh tổng hợp cao su Một thí nghiệm mà sunphat đồng được đục lỗ nhét vào thân, năng suất có thể gia tăng và cùng với sự gia tăng nhẹ hàm lượng đồng trong mủ và giảm nhẹ hàm lượng cao su Một số nghiên cứu của Chapman, Viện nghiên cứu cao su Malaysia, de Jonge, Wiersum, Baptist cho thấy rằng những hỗn hợp giống như auxin như là NAA, 2,4-D, 2,4,5-T, Methoxin pha trong hỗn hợp dầu cọ bôi trên vỏ cạo mức độ gia tăng năng suất rất hữu hiệu (100% - 200%) Thời gian chảy mủ kéo dài một cách rõ ràng và có sự giảm nhẹ hàm lượng mủ (2% - 3%) và cũng ghi nhận rằng có sự gia tăng nhẹ hàm lượng đồng trong mủ giống như đục lỗ nhét sunphat đồng vào thân Vào năm 1953, trong một nghiên cứu về sinh lý mủ, Scheweizer nhớ lại những quan sát trước đây đã được báo cáo vào năm 1928 mà trong đó “Tất cả những loại chất kích thích mà ảnh hưởng đến sự tạo thành mô cây thì cũng ảnh hưởng đến sự tái tạo mủ, giống như hormone, nhưng những sự gây phá vỡ cơ học giống như cháy, bão, uốn cong, đập vào vỏ có lẽ ảnh hưởng đến sự trao đổi chất tế bào đưa đến sự tạo thành cao su cao hơn” Vì vậy, 15 năm sau nó đã mở ra một hướng cho sự phát hiện ra vai trò trung tâm của Ethylen trong sự kích thích mủ
Vào năm 1960, tại hội nghị nghiên cứu cao su thiên nhiên tại Kuala Lumpur đã quan tâm rất nhiều đến sự kích thích mủ Nhiều nguyên tố vi lượng khoáng khác hơn đồng đã được thử nghiệm trong giai đoạn này bao gồm Mangan, sắt, kẽm và Bo Trong đó, chỉ có Bo tỏ ra có khả năng gia tăng năng suất mủ đều đặn ở một chừng mực nào đó Từ giữa năm 1956 đến năm 1959, 171000 galon (mỗi galon khoảng 4 lít) của 2,4-D và 2,4,5-T đã được sử dụng ở các đồn điền Trong nhiều thí nghiệm khác nhau, muối sodium và ester butyl của 2,4-D và 2,4,5-
T đã được sản xuất ở nồng độ khoảng 1% trong hỗn hợp dầu cọ và áp dụng trên vỏ
Trang 26nạo phía trên hoặc phía dưới miệng cạo đồng thời với các acid halogenophenoxy acetic Blackman (1960) báo cáo những thí nghiệm này cho thấy 2,4-D dichloro-5-fluorophenoxy acetic acid (2,4-C-5 –FPA) hữu hiệu nhất, theo sau nó là 2,4-D và 2,4,5-T Trong những dòng vô tính trẻ hoặc già năng suất vượt trong 6 tháng sau
xử lý dao động trong khoảng 115 – 150% Sự gia tăng một cách có hệ thống về độ dày vỏ liên kết với điều này và thông thường tương quan vớ sự gai tăng năng suất Trong những cây cao su già, áp dụng 2 lần trong tháng trên mặt cạo với chất b”Stimulex” (một hỗn hợp của dầu cọ và dầu dừa chứa 1,5% 2,4-D) kết quả năng suất gia tăng 25% trong 3,5 năm
Vào thời gian này người ta nhận thấy rằng cùng với những ảnh hưởng có lợi của chúng về mặt năng suất, acid halogenophenoxy acetic và sulphat đồng có những ảnh hưởng có hại ở một mức độ nào đó Sự tạo thành của những tế bào phân chia hỗn loạn ở tượng tầng đưa đến sự tái tạo vỏ bất thường gây rối loạn cho việc cạo về sau Những hạt muối sulphat đồng làm cho những mô bị hoại sinh xung quanh lỗ tại hai phía đầu của miệng cạo Tuy vậy, có lẽ cho đến những năm
1960 bằng cách bôi trên vỏ nạo phái dưới miệng cạo của 2,4-D; 2,4,5-T khá hơn là đục lỗ nhét sulphat đồng vào Vỏ đã xử lý nhanh chóng bị cạo đi trước khi xuất hiện ảnh hưởng có hại Người ta thử hoạt chất 2,4-D; 2,4,5_t mà không pha trong hỗn hợp nhận thấy hoàn toàn an toàn đối với việc sử dụng trên vỏ tái sinh phía trên miệng cạo và việc áp dụng đối với vỏ nạo phái dưới miệng cạo đã được khuyến cáo
Vấn đề cơ chế có thể lý giải hoạt động của những nhân tố kích thích trong việc gia tăng mủ đầu tiên đã được giải thích bởi de Jonge, Blackman và Boatman Năng suất gia tăng sau 24h áp dụng, tốc đọ và thời gian chảy mủ gia tăng một cách
rõ ràng Một số giả thuyết giải thích đã được tổng kết bởi những tác giả này như sau:
● Gia tăng áp suất thẩm thấu và áp suất trương trong hệ thống ống mủ được sinh ra do những chất điều hòa sinh trưởng của cây trồng
Trang 27● Sự giảm thấp độ nhầy của latex đã được gây ra do sự giảm nhẹ hàm lượng cao su để giải thích cho dòng chảy dễ dàng hơn
● Hiện tượng này là do gia tăng sự đàn hồi của tế bào thành ống mủ hoặc
do sự gia tăng mức độ chịu đựng của ống mủ khi cạo mủ
● Tăng tính thẩm thấu của màng tế bào trong tế bào ống mủ cho phép nước
và các chất hòa tan đi vào lớn hơn và vì lẽ đó làm mủ trong ống mủ đi ra hoàn toàn hơn
● Việc bít kín thông thường của vòng ống mủ tại lúc mở bị trì hoãn bởi hormon kích thích hoặc bằng sự gia tăng tính ổn định của mủ và giảm tính bất ổn định do ảnh hưởng của vi khuẩn cạnh miệng cạo, nói cách khác cây bị xử lý không
bị bít ống mủ tức thì
● Xử lý kích thích gia tăng vùng huy động mủ trong vỏ từ dòng chảy mủ
Trong cùng một giai đoạn, nghiên cứu cũng đã được thực hiện để tìm ra những hợp chất mới để cải thiện hữu hiệu hơn Trong 89 hợp chất đã được trắc nghiệm bởi Abraham và cộng sự chỉ có 2,4-C -5FPA là cho thấy hơn 2,4,5-T Trước đó vài năm, Ethylen oxide, một loại khí có tác dụng tiệt trùng đã có hiệu quả rất hữu hiệu nhưng theo sau đó làm tăng sự hủy hoại nhanh chóng của mô ống
mủ và mô chứa mủ hoàn toàn bị khô Chloroform và ether – một chất chống hô hấp, mang những nhóm như là muối phenylmercuric, phân tử như là hydro peroxide, nivaquin, amonium molybdate và những chất diệt khuẩn như tyfomicin
đã được nhét vào thân, kết quả là đưa đến năng suất cao hơn Banchi và Poliniere cũng đã thử nghiệm thành công khi dán túi khí acetylen vào vỏ nạo dưới miệng cạo Cùng thời gian Abraham và cộng sự cũng đã thử nghiệm khí acetylen và ethylen, picloram, moryphactins (CEPA, Ethrel, Ethephon) Những chất này khi phân hủy tạo khí ethylen đã kích thích ra hoa ở cây nho Tất cả những phân tử này rất hữu hiệu trong việc kích thích kéo dài dòng chảy và năng suất cao hơn ở mức
độ khác nhau, trong đó Ethrel hữu hiệu hơn Tuy vậy Ethrel đã không được xem
Trang 28như là chất kích thích thông thường do mắc hơn các chất khác vì được sử dụng ở nồng độ cao
Gần đây hơn, do thiếu hụt thợ cạo lành nghề, thu nhập thợ cạo thấp và hiệu quả kinh tế kém, một số phương pháp khai thác mới đã được đưa ra bởi Viện Nghiên Cứu Cao Su Malaysia (RRIM) Kỹ thuật RRIMFLOW: nguyên tắc cơ bản của phương pháp này là rút ngắn chiều dài miệng cạo (từ 1/2S xuống miệng cạo nhỏ (2,54 cm) hoặc 1/8S), giảm nhịp độ cạo (từ d/2 xuống d/3 hoặc d/4) phối hợp với kích thích bằng khí ethylen Khí ethylen được bơm vào một chụp chứa khí bằng nhựa (PVC applicator) dán dính vào thân cây cao su với chu kì 10 ngày/lần Phương pháp này chủ yếu được áp dụng trên cao su trung niên trên 11 tuổi cạo Theo IRDB (1999) quyển 3 trích dẫn báo cáo hằng năm của RRIM 1998 cho thấy việc áp dụng RRIMFLOW có hiệu quả kinh tế : tạo thu nhập cao hơn cho thợ cạo
và tợi tức cao hơn cho nhà sản xuất Một phương pháp khác, với hệ thống kích thích REACTORRIM bằng cách sử dụng khí ethylen được nén trong 1 bình nhỏ
và được phóng thích từ từ trực tiếp vào trong vỏ cây cao su Các phương pháp mới này đang có nhiều triển vọng, tuy nhiên vẫn chưa được áp dụng rộng rãi ở các nước trồng cao su trên thế giới
2.3 Tổng quan về sản xuất cao su thiên nhiên ở Việt Nam và thế giới
2.3.1 Sản xuất cao su thiên nhiên ở Việt Nam
Cho đến năm 2008, cây cao su đã có mặt ở Việt Nam 111 năm (kể từ năm 1897) và bắt đầu hình thành những đồn điền kinh doanh cao su ( năm 1907) mà nay là những đơn vị sản xuất, chế biến và xuất khẩu cao su quốc doanh thuộc tổng công ty cao su Việt Nam
Hiện nay, cây cao su không chỉ phát triển mạnh ở các tỉnh miền Đông Nam
Bộ, Tây Nguyên và các tỉnh miền Trung mà còn được trồng ở tỉnh Thanh Hóa, Hà Tĩnh, Nghệ An, Quảng Trị Bên cạnh việc quy hoạch, mở rộng diện tích cao su quốc doanh, Hiệp Hội Cao Su Việt Nam (VRA) cũng đang có kế hoạch phát triển cao su tiểu điền Với giá cao su đang ở mức cao và ổn định như hiện nay, nông
Trang 29dan sẽ chuyển đổi các loại cây trồng kém hiệu quả sang trồng cây cao su, do đó diện tích cao su tiểu điền sẽ phát triển mạnh trong thời gian tới
Theo hiệp hội cao su Việt Nam, năm 2004 tổng diện tích cao su của cả nước là 454.000 ha Trong đó khu vực quốc doanh là 317.800 ha chiếm 70% và diện tích cao su tiểu điền là 136.200 ha chiếm 30% Đến năm 2006, tổng diện tích cao su cả nước là 478.000 ha (trong đó diệnt tích của quốc doanh là 307.000 ha chiếm 65%, tiểu điền là 171.000 ha chiếm 35%), tập trung ở Đông Nam Bộ 65%, Tây Nguyên 23%, Duyên Hải Trung Bộ 12% Theo kế hoạch này, đến năm 2010 VRA sẽ phát triển thêm 180.000 ha cao su tiểu điền, đưa tổng diện tích cao su tiểu điền lên 350.000 ha, chiếm khoảng 50% trong tổng diện tích cao su cả nước
Hình 2.2 Tỉ lệ trồng cao su theo vùng
Riêng đối với Tổng Công Ty Cao Su Việt Nam (nay là Tập Đoàn Công Nghiệp Cao Su Việt Nam – VRG) đã phê duyệt dự án đầu tư trồng mới, tập trung ưu tiên 3 chương trình lớn để phát triển diện tích cao su :
+ 2000 tỷ đồng để trồng mới 136.000 ha ở các tỉnh Tây Nguyên và duyên hải miền Trung đến năm 2010, trong đó Kon Tum trồng mới 37.000 ha, Gia Lai trồng mới 50.000 ha, Đăk Lăk trồng mới 27.000 ha, Đắc Nông 22.000 ha Tây Nguyên hiện là khu vực được đánh giá là có khả năng phát triển diện tích cây cao
Trang 30su lớn thứ 2 cả nước với 390.000 ha đất nằm trong vùng sinh thái phù hợp Năm
2006, Tây Nguyên có 109.000 ha cây cao su, sản lượng đạt 81.000 tấn, chiếm 22,7% về diện tích và 17,1% về sản lượng của cả nước
+ Dự án trồng 100.000 ha cao su ở Lào và 100.000 ha ở Campuchia Dự án này sẽ kéo dài từ 2010 đến 2015, tập trung nguồn vốn, kỹ thuật và nhân lực để dầu
tư nâng tổng diện tích lên 700.000 ha vào năm 2010, trong đó dự tính diện tích khai thác từ 420.000 đến 450.000 ha Đến năm 2015, diện tích khai thác từ 520.000 – 530.000 ha, sản lượng ước đạt 750.000 – 800.000 tấn và vào năm 2020 sản lượng sẽ đạt là 1 triệu tấn
Hình 2.3 Biến động diện tích, sản lượng cao su khô (DRC) từ năm 1990 đến
2008
Qua hình 2.3 cho ta thấy sản lượng cao su của nước ta ngày càng tăng và tăng nhanh trong những năm gần đây Sự gia tăng này chủ yếu ở khu vực quốc doanh, do có những ứng dụng khoa học kỹ thuật, sử dụng những giống tốt cho năng suất cao và trình độ khai thác của công nhân ngày được nâng cao Đối với khu vực cao su tiểu điền, sản lượng còn thấp, chỉ bằng khoảng 20% sản lượng cao
Biến động diện tích, sản lượng cao su khô của cả
nước qua các năm
2 199
4 199
6 199
8 200
0 200
2 200
4 200
6 200 8
Năm
DRC Diện tích
Trang 31Từ năm 1990 đến năm 2008, sản lượng mủ cao su liên tục tăng Năm 1990 đạt 57,9 nghìn tấn, đến năm 2008 đạt 659,6 nghìn tấn, gấp 11 lần so với năm 1990
Đối với các đơn vị cao su quốc doanh, năng suất khai thác ngày càng cao, đạt từ 1,75 đến 2,08 tấn/ha Năng suất vườn cây gia tăng là nhờ các đơn vị, công ty cao su quốc doanh chú trọng vào công tác bảo vệ vườn cây, đầu tứ các tiến bộ khoa học kỹ thuật trong việc thâm canh tăng năng suất, chông sâu bệnh trên cây cao su Các công ty cao su đã có những giải pháp tốt trong công tác quản lý, tổ chức và sắp xếp lao động hợp lý bằng cách thu hút lực lượng lao động tại chỗ vào làm việc, kết hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương quản lý tốt vườn cây, giảm thiểu thất thoát cũng như trộm cắp mủ cao su
Ngoài ra tay nghề của người công nhân trực tiếp khai thác luôn được nâng cao thông qua các cuộc thi thợ giỏi cạo mủ hàng năm do các nông trường tổ chức, giúp cho việc khai thác mủ đạt quy trình kỹ thuật, kết hợp với việc chăm sóc tốt sẽ làm tăng năng suất của vườn cây cao su
Hình 2.4 Sản lượng sản xuất cao su của Việt Nam
Trang 32Các đặc điểm chính trong giai đoạn này là:
Trên 80% sản lượng cao su Việt nam dùng để xuất khẩu, trong đó lượng xuất khẩu của Tập Đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam chiếm hơn 70%
Đến nay mới có 63% diện tích cao su được đưa vào khai thác, do đó tiềm năng phát triển còn lớn các Doanh nghiệp Việt Nam còn đang tích cực đầu tư trồng mới các đồn điền cao su tại Lào và Campuchia bên cạnh phát triển nguồn cao su trong nước
Hiện nay phần lớn diện tich nằm trong chương trình thực hiện đến năm
2010 về dự kiến trồng 1 triệu ha cao su nằm trong khuôn khổ trồng mới 5 triệu ha rừng
Do giá cao su nguyên liệu tăng liên tục trong thời gian gần đây, người dân nhiều địa phương đổ xô trồng cao su (riêng tại khu vực Đông Nam Bộ bình quân mỗi năm diện tích cao su tiểu điền tăng từ 13.000 đến 20.000 ha) Theo Hiệp hội cao su Việt Nam, đến năm 2007 diện tích cao su tiểu điền chiếm khoảng 253.320
ha, bằng 46,1% tổng diệc tích với trên 75.000 hộ trồng cao su ở 24 tỉnh thành, sản lượng cao su thiên nhiên của Việt Nam đạt 601,7 nghìn tấn năm 2007 Hiện tượng này khó đảm bảm tính phát triển bền vững khi gặp biến động giá và nhu cầu thị trường thế giới
Đầu năm 2008 sản lượng tụt giảm so với kế hoạch (do bệnh phấn trắng trên hầu hết diện tích khai thác và tình hình mưa bão diễn ra sớm hơn với tầng suất cao hơn các năm, đồng thời giá cao su cũng chửng lại và có xu hướng giảm do khủng hoảng tài chính thế giới)
2.3.2 Sản xuất cao su thiên nhiên trên thế giới
Trong những năm gần đây mức sản xuất và tiêu thụ cao su tự nhiên trên thế giới có xu hướng ngày càng tăng gắn liền với xu hướng tăng trưởng kinh tế thế giới và nhu cầu phát triển các ngành kỹ thuật (cụ thể sản lượng năm 2004 là 8.708 triệu tấn, năm 2005 là 8.882 triệu tấn, năm 2006 là 9.686 triệu tấn, năm 2007 là 9.893 triệu tấn)
Trang 33Tổng sản lượng cao su thiên nhiên sản xuất bình quân mỗi năm của thế giới
là 8.407,2 nghìn tấn Trong đó đứng đầu là Thái Lan, sản xuất được 2.897 nghìn
tấn, chiếm 34,5%; đứng thứ 2 là Indonesia, sản xuất 1.792 nghìn tấn, chiếm
23,5%; đứng thứ 3 là Malaysia, sản xuất 1.037 nghìn tấn chiếm 12,3% Nước ta
hiện đang đứng ở vị trí thứ 6 về sản xuất và thứ 4 về xuất khẩu cao su thiên nhiên
Bảng 2.2 Tỉ trọng sản xuất cao su thiên nhiên của các quốc gia trên thế giới
Quốc gia Số lượng (nghìn tấn) Tỉ trọng (%)
Trang 34Hình 2.5 5 nước dẫn đầu về sản lượng sản xuất
Hình 2.6 Thị trường tiêu thụ cao su thế giới
Trang 35Năm 2005, do giá dầu biến động mạnh đã phần nào lý giải cho việc tăng trưởng chậm của nhu cầu cao su tổng hợp chỉ 0,84%, trong khi đó nhu cầu cao su
tự nhiên tăng cao (từ 4,91% năm 2004 lên 5,28% năm 2005) Từ năm 2006 và
2007 nhu cầu cao su tổng hợp bắt đầu có xu hướng tăng trở lại ngày càng cạnh tranh gay gắt với cao su tự nhiên Nhìn chung, nhu cầu sản xuất và tiệu thụ cao su thiên nhiên (tự nhiên và nhân tạo) thế giới trên dưới 20 triệu tấn/năm, trong đó cao
su tổng hợp chiếm tỷ lệ tương đối lớn (khoảng 60% được sản xuất từ nguồn nguyên liệu chính là dầu mỏ – sản phẩm cạnh tranh trực tiếp với cao su tự nhiên)
Vì vậy, biến động của giá dầu thô thế giới đã tác động không nhỏ đến nhu cầu tiêu thụ cao su tự nhiên của thế giới Giá dầu thô từ năm 2003 có xu hướng tăng mạnh
mẽ, đặc biệt là từ năm 2007 đến những tháng giữa năm 2008 Nguyên nhân chính
là do nhu cầu tiêu thụ và tình trạng đầu cơ của thế giới (trên 80 triệu thùng/ngày) dẫn tới việc giá dầu vượt xa mức 40-50USD/thùng
Một vài yếu tố quan trọng khác dẫn tới sự tăng lên của giá dầu là sự suy yếu của đồng USD và sự phát triển liên tục và nhanh chóng của các nền kinh tế châu Á nhất là hai nước lớn và đông dân là Trung Quốc và Ấn Độ với mức tăng trưởng kinh tế hàng năm lên đến gần 10% Trong khi đó mức sản xuất không thể tăng kịp vì các quốc gia sở hữu các mỏ dầu không thể đầu tư nhanh để kịp gia tăng sản lượng Thêm nữa, các trận bảo nhiệt đới năm 2005 đã gây nên tổn thất cho hệ thống lọc dầu của Mỹ và các nước khác, cộng với việc chuyển từ việc sử dụng hổn hợp ête, butila và metal sang sử dung công nghệ ethanol cũng đóng góp vào sự tăng giá dầu
Trang 36Hình 2.7 Đồ thị diễn biến giá cao su và giá dầu thô 1998 - 2007
Từ đầu năm 2008, giá cao su đã liên tục tăng mạnh bởi sản lượng của các nước sản xuất chính giảm sút do mưa nhiều và giá dầu mỏ tăng mạnh So cùng kỳ năm 2007, giá cao su tại thị trường châu Á đã tăng khoảng 35%, riêng tại Thượng Hải (Trung Quốc) đã tăng tới 44,47% Nhưng bước sang quý III/2008 đến nay, giá cao su bắt đầu chửng lại và có xu hướng giảm do nhu cầu chửng lại và giá dầu thô giảm mạnh dẫn đến nhu cầu sử dụng cao su tổng hợp tăng lên khiến cho nhu cầu cao su tự nhiên chững lại và có xu hướng giảm mạnh (chẳng hạn, giá cao su RSS3 giao tháng 9/2008 tại thị trường Thái Lan giao dịch ở mức 294 Uscent/kg, giảm 9,26% so với giá giao dịch cùng kỳ tháng trước, do dầu thô là nguyên liệu đầu vào
để sàn xuất cao su tổng hợp – sản phẩm thay thế của cao su tự nhiên)
Vì vậy khi giá dầu thô tăng sẽ tác động tới giá thành của cao su tổng hợp, làm cho giá tăng Khi đó nhu cầu sử dụng cao su tự nhiên để thay thế cao su tổng
Trang 37những năm qua khi giá cao su tự nhiên tăng mạnh (Hình2.5), giá năm 2007 (2078USD/tấn), tăng gấp 3 lần giá cao su năm 1998 (665USD/tấn) Theo dự báo của Tổ chức Nghiên cứu cao su Quốc tế, mức tiêu thụ cao su của thế giới được dự đoán là 31,8 triệu tấn vào năm 2010, tăng hơn 10 triệu tấn so với năm 2006
2.3.3 Thị trường tiêu thụ cao su Việt Nam sau khi gia nhập WTO
Cao su luôn là ngành xuất khẩu mủi nhọn của nước ta, đồng thời việc gia nhập WTO đã mang lại những ảnh hưởng tích cực và tạo ra các điều kiện thuận lợi trong việc xuất khẩu các sản phẩm cao su Việt Nam Các tác động của gia nhập WTO đối với ngành cao su Việt Nam là:
+ Gia nhập WTO Việt Nam sẽ được hưởng ưu đãi về thuế khi xuất khẩu sang nhiều nước và có nhiều cơ hội tốt để thu hút đầu tư, chuyển giao công nghệ
từ các nước phát triển Các doanh nghiệp sản xuất cao su của Việt Nam sẽ có cơ hội hợp tác với các nhà đầu tư nước ngoài xây dựng các nhà máy chế biến mủ cao
su để có thể sản xuất cao su có giá trị cao, tạo điều kiện chuyển đổi thị trường
+ Đầu tư nước ngoài vào Việt Nam phát triển mạnh cũng đang làm tăng giá trị cho ngành cao su, giảm xuất khẩu nguyên liệu thô, tăng tỷ lệ xuất khẩu các sản phẫm có giá trị kinh tế
+ Việt Nam được nhóm 3 nước sản xuất cao su hàng đầu thế giới (Thái Lan, Indonesia và Malaysia) mời gia nhập Consortium cao su quốc tế (IRCO) để cùng hợp tác giữ bình ổn giá cao su thiên nhiên trên thị trường thế giới Đây là một thuận lợi lớn cho ngành xuất khẩu cao su Việt Nam bởi vì IRCO hiện đang chiếm 75% tổng sản lượng cao su tự nhiên thế giới, với sự tham gia của Việt Nam, thị phần của IRCO sẽ tăng lên 80%
+ Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam là đơn vị chính cung ứng gần như tất cả sản lượng mủ cao su xuất khẩu cũng như tiêu thụ trong và ngoài nước, Chiếm tỷ trọng quy mô trên 70% toàn ngành cao su Việt Nam Đặc biệt, Tập đoàn còn được Chính phủ giao trách nhiệm phát triển trên 150.000 ha cao su tại Lào và Campuchia, 50.000ha cao su tại Tây Nguyên và 100.000 ha cao su tại Tây Bắc
Trang 38Trong điều kiện hiện nay, trồng mới cao su vẫn còn hấp dẫn do giá trị gia tăng của nó cao hơn một số cây trồng khác Tăng diện tích trồng mới cao su dĩ nhiên là phải trồng ở những vùng sinh thái mới với những khó khăn hơn về điều kiện phát triển và chi phí lớn hơn Điều đó sẽ hạn chế ưu thế cạnh tranh phát triển cao su trồng mới (ẩm độ ít hơn, lượng mưa ít hơn, đất đai nghèo nàn hơn, gió mạnh hơn l2m cây lớn dễ đổ gảy, vĩ tuyến xa xích đạo làm cho nhiệt độ thấp hơn
20 độ c nhiều tháng trong năm nên cao su chậm lớn hơn, đưa cây vào khai thác chậm hơn, thời gian cho cạo mủ chỉ khoảng 8 tháng/năm…)
Chính vì thế, trồng cao su trong điều kiện đó cần theo phương thức nông lâm kết hợp, nhằm giúp nông dân thu lợi mỗi năm (lấy ngắn nuôi dài) trong khi chờ cây cho mủ ổn định Trong canh tác cần chú ý giống tốt, vừa cho mủ cao vừa
khai thác gỗ tốt khi cây giá cổi
Trang 39CHƯƠNG 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Nội dung nghiên cứu
3.1.1 Vai trò và tầm quan trọng của ngành cao su ở Việt Nam
Trong những năm gần đây, cây cao su được xem là loại cây trồng mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người trồng, đặc biệt là các tiểu điền Nó đóng vai trò quan trọng trong đời sống sản xuất của con người cũng như ổn định kinh tế, chính trị và xã hội
Cây cao su cho ra nhiều chủng loại sản phẩm, là một trong những mặt hàng nông sản xuất khẩu quan trọng, có giá trị kinh tế cao của các nước trong khu vực nói chung và Việt Nam nói riêng
Ngành cao su Việt Nam đang ngày càng phát triển để đáp ứng nhu cầu sản xuất trong và ngoài nước Nhu cầu sử dụng cao su trên thế giới hiện nay đang ở mức cao, đặc biệt đối với Trung Quốc, một quốc gia sản xuất cao su thiên nhiên đứng hàng thứ 4 thế giới, hàng năm tiêu thụ khoảng 1,75 triệu tấn Đây là thị trường tiêu thụ lớn nhất của nước ta, chiếm khoảng 60% tổng sản lượng tiêu thụ của cả nước
Xuất khẩu cao su Việt Nam sang các quốc gia trên thế giới đã góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của đất nước, tạo ra nhiều công ăn việc làm cho nhiều
bộ phân dân cư, đặc biệt là những người nghèo ở vùng sâu, vùng xa Phát triển cây cao su hiện đang là 1 giải pháp giúp xóa đói giảm nghèo cho người dân, góp phần
ổn định xã hội, xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ cho mục đích kinh tế lẫn dân sinh,
ổn định dân trí, xóa bỏ tình trạng du canh du cư, thúc đẩy xã hội phát triển
Những năm gần đây, giá cao su liên tục tăng cao, đó là 1 dấu hiệu tốt cho ngành cao su của cả nước, tạo động lực cho việc đầu tư, mở rộng sản xuất
Trang 40Bảng 3.1 Giá cả cao su thế giới qua các năm
Đơn vị tính: USD/tấn
Năm 1996 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006
Nguồn: Phòng KD Tổng Cty Cao Su Đồng Nai
Hình 3.1 Biến động giá cao su thế giới thể hiện qua các năm
Cao su thiên nhiên là nguồn nguyên liệu quan trọng trong ngành công
nghiệp chế tạo xăm lốp ô tô, giày dép và các sản phẩm được sản xuất từ cao su
Ngoài việc cho sản phẩm chính là mủ cao su, nó còn cung cấp cho con người
nhiều sản phẩm khác có giá trị kinh tế cao như : gỗ làm bàn ghế, trang trí nội thất,
… hoạt động trồng rừng cao su vừa mang ý nghĩa về mặt kinh tế, vừa mang ý
nghĩa về mặt môi trường, bảo vệ đất chống xói mòn
3.1.2 Ý nghĩa của việc xây dựng và phát triển vùng nguyên liệu cao su
Đối với tất cả các ngành sản xuất sử dụng nguồn nguyên liệu nông sản nói
chung và ngành cao su nói riêng, việc đảm bảo nguồn nguyên liệu cho sản xuất,
chế biến là 1 hoạt động rất quan trọng và cần thiết Sản phẩm sẽ không thể có mặt
trên thị trường mà không có nguồn nguyên liệu để sản xuất Quá trình sản xuất chủ