1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THỰC TRẠNG BẢO HIỂM CÂY TRỒNG VÀ TÌM HIỂU MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHO MÔ HÌNH BẢO HIỂM CÂY TRỒNG TẠI VIỆT NAM

108 72 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 1,14 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trình bày thực trạng của ngành bảo hiểm cây trồng tại Việt Nam; Đánh giá sự quan tâm của người nông dân đối với bảo hiểm cây trồng hiện nay; Phân tích kết quả và tác động của một số mô h

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH

THỰC TRẠNG BẢO HIỂM CÂY TRỒNG VÀ TÌM HIỂU MỘT

SỐ GIẢI PHÁP CHO MÔ HÌNH BẢO HIỂM

CÂY TRỒNG TẠI VIỆT NAM

ĐỖ ĐẶNG MAI HÀ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

ĐỂ NHẬN VĂN BẰNG CỬ NHÂN

NGÀNH KINH TẾ CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ NÔNG LÂM

Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 2

Hội đồng chấm báo cáo khóa luận tốt nghiệp đại học khoa Kinh Tế, trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh xác nhận khóa luận “Thực trạng bảo hiểm cây trồng và tìm hiểu một số giải pháp cho mô hình bảo hiểm cây trồng tại Việt Nam ”

do Đỗ Đặng Mai Hà, sinh viên khóa 32, ngành Kinh Tế,chuyên ngành Kinh Tế Nông Lâm, đã bảo vệ thành công trước hội đồng vào ngày _

TS Lê Quang Thông Người hướng dẫn,

Trang 3

em trong suốt quá trình học tập và thời gian thực hiện đề tài

Mình thực sự rất cảm ơn tập thể lớp DH06KT đã chung vai sát cánh cùng nhau trong những năm tháng sinh viên vừa qua

Xin cho Tôi được gửi lời cảm ơn chân thành đến tất cả: Cha Mẹ, Thầy Cô, Bạn Bè và rất nhiều người nữa, những người luôn xuất hiện khi Tôi cần và nhiệt thành giúp đỡ khi Tôi gặp khó khăn Cầu chúc cho tất cả sẽ luôn mạnh khỏe, hạnh phúc trong cuộc sống và thành đạt trong công việc

Sinh Viên

Đỗ Đặng Mai Hà

Trang 4

NỘI DUNG TÓM TẮT

ĐỖ ĐẶNG MAI HÀ, tháng 7 năm 2010 Thực Trạng Bảo Hiểm Cây Trồng Và Tìm Hiểu Một Số Giải Pháp Cho Mô Hình Bảo Hiểm Cây Trồng Tại Việt Nam

DO DANG MAI HA, July 2010 “Current Situation of Crop Insurance and Study Solution for Crop Insurance Model in Vietnam”

Khóa luận nhằm tìm hiểu thực trạng bảo hiểm cây trồng tại Việt Nam trong từ lúc bắt đầu xuất hiện năm 1980 cho đến nay, đánh giá phân tích các nguyên nhân khiến cho bảo hiểm cây trồng chưa thực sự phát triển và phát huy vai trò đối với ngành trồng trọt và nền sản xuất nông nghiệp Quá trình tìm hiểu nghiên cứu cho thấy thách thức của bảo hiểm cây trồng chính là nền sản xuất nông nghiệp còn mang tính tự cung

tự cấp, manh mún; việc thiếu kiến thức về bảo hiểm của nông dân, sự e ngại đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm, hệ thống đánh giá tổn thất chưa chặt chẽ và vai trò của Nhà nước chưa rõ ràng Với tình hình thực tế đó, đề tài đưa ra một số kiến nghị, giải pháp nhằm cải thiện, thúc đẩy và nâng cao hơn nữa vai trò của bảo hiểm cây trồng trong nền kinh tế Việt Nam

Trang 5

MỤC LỤC

MỤC LỤC v

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT viii

DANH MỤC CÁC BẢNG ix

DANH MỤC CÁC HÌNH x

CHƯƠNG 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3

1.2.1 Mục tiêu tổng quát 3

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3

1.3 Phạm vi nghiên cứu của khóa luận 3

1.3.1 Không gian 3

1.3.2 Thời gian 3

1.3.3 Giới hạn của đề tài 3

1.4 Cấu trúc của khóa luận 3

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN 5

2.1 Khái quát về bảo hiểm nông nghiệp Châu Á giai đoạn hiện nay 5

2.2 Qui định của tổ chức thương mại thế giới (WTO) 10

2.2 Bức tranh bảo hiểm cây trồng trên thế giới 11

2.2.1 Tại các nước đang phát triển 12

2.2.2 Tại những nước phát triển 13

2.3 Ngành trồng trọt Việt Nam giai đoạn 1995 – 2007 14

2.3.1 Diện tích đất trồng và sản lượng 14

2.3.2 Cơ cấu cây trồng 16

2.3.3 Tình hình thiên tai - dịch bệnh 17

2.3.4 Biến động giá cả nông sản 18

2.4 Các rủi ro trong ngành trồng trọt 19

2.5 Bảo hiểm nông nghiệp trong luật định và nghị quyết của Việt Nam 19

CHƯƠNG 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20

Trang 6

3.1.1 Khái niệm, vai trò của bảo hiểm cây trồng (Crop Insurance) 20

3.1.2 Các hình thức bảo hiểm nông nghiệp 23

3.1.2.1 Bảo hiểm truyền thống 23

3.1.2.2 Sản phẩm bảo hiểm mới 25

3.1.3 Lựa chọn ngược (Adverse selection) 26

3.1.4 Hợp đồng trang trại (Contract farming) 26

3.1.5 Quản trị bảo hiểm cây trồng 27

3.1.6 An ninh lương thực 29

3.1.7 Cơ Chế Thị Trường 30

3.1.8 Thương mại hóa nông nghiệp 30

3.2 Phương pháp nghiên cứu 30

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 31

4.1 Kết quả bảo hiểm nông nghiệp (BHNN) Việt Nam thời gian vừa qua (giai đoạn 2004 – 2008) 31

4.2 Thực trạng bảo hiểm cây trồng (BHCT) trong thời gian qua tại Việt Nam 33

4.2.1.Bảo hiểm cây lúa 33

4.2.2.Bảo hiểm các cây trồng khác 35

4.3 So sánh bảo hiểm cây trồng với các loại hình dịch vụ nông nghiệp khác 36

4.4 Các vấn đề tồn tại của bảo hiểm cây trồng Việt Nam 40

4.4.1.Cung và cầu sản phẩm bảo hiểm cây trồng chưa gặp nhau 41

4.4.2.Đặc điểm sản xuất của người nông dân 42

4.4.3.Tiếp cận bảo hiểm cây trồng của người nông dân 44

4.4.4.Hệ thống đánh giá tổn thất và quản lý rủi ro chưa hoàn thiện 44

4.4.5.Vai trò của Nhà nước và các tổ chức Nông dân 46

4.5.Đánh giá sự quan tâm đến bảo hiểm cây trồng của người nông dân 47

4.6.Sự cần thiết có sản phẩm bảo hiểm cây trồng 49

4.6.1 Đảm bảo an ninh lương thực và đối phó với “Biến đổi khí hậu toàn cầu” 49

4.6.2.Quản lý rủi ro về giá và marketing 52

4.6.3 Đáp ứng nhu cầu thương mại hóa trong nông nghiệp 53

4.7 Nhu cầu về các nhóm cây trồng có thể được bảo hiểm 55

4.7.1 Bảo hiểm cây lương thực 56

Trang 7

4.7.2 Bảo hiểm cây công nghiệp 62

4.7.2.1.Cây công nghiệp hàng năm 62

4.7.2.2.Cây công nghiệp lâu năm 66

4.8 Giải pháp cho bảo hiểm cây trồng tại Việt Nam 72

4.8.1 Phát triển sản phẩm bảo hiểm chỉ số thời tiết – bảo hiểm chỉ số sản lượng 73 4.8.2.Tái bảo hiểm cây trồng 77

4.8.3 Đào tạo cán bộ có chuyên môn về bảo hiểm nông nghiệp 78

4.8.4 Bán bảo hiểm cây trồng thông qua hệ thống ngân hàng Nông nghiệp, tổ chức tín dụng 79

4.8.5 Nâng cao vai trò của Nhà nước và các khu vực tư nhân 81

CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 84

5.1 Kết luận 84

5.2 Kiến nghị 85

5.2.1 Đối với Chính phủ 85

5.2.2 Đối với các doanh nghiệp bảo hiểm 86

5.2.3 Đối với nông dân 86

TÀI LIỆU THAM KHẢO 88 PHỤ LỤC

Trang 8

BHCT Bảo Hiểm Cây Trồng

BHNN Bảo Hiểm Nông Nghiệp

WTO Tổ Chức Thương Mại Thế Giới (World Trade Organization)

WB Ngân Hàng Thế Giới (World Bank)

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 4.1 Kết Quả Bảo Hiểm Nông Nghiệp Việt Nam Giai Đoạn 2004 – 2008 31 Bảng 4.2 Doanh Thu Thị Trường Bảo Hiểm Việt Nam Giai Đoạn 2004 – 2008 32 Bảng 4.3 Tỷ Trọng của BHNN Trong Doanh Thu Phí Bảo Hiểm Phi Nhân Thọ Giai

Đoạn 2004 – 2008 32

Bảng 4.4 Phân Bố Địa Bàn và Số Phiếu Điều Tra 47 Bảng 4.5 Thông Tin Liên Quan Đến Sự Hiểu Biết và Quan Tâm của Nông Dân Đối

Với Bảo Hiểm Cây Trồng (BHCT) m48

Bảng 4.6 Diện Tích, Sản Lượng và Chỉ Số Phát Triển (CSPT) Diện Tích và Sản

Lượng của Cây Lúa Giai Đoạn 1998-2009 58

Bảng 4.7 Diện Tích Lúa Bị Thiệt Hại do Thiên Tai Giai Đoạn 1998-2009 59 Bảng 4.8 Diện Tích, Sản Lượng và Chỉ Số Phát Triển (CSPT) Diện Tích và Sản

Lượng của Cây Ngô Giai Đoạn 1998-2009 61

Bảng 4.9 Diện Tích, Sản Lượng và Chỉ Số Phát Triển (CSPT) Diện Tích và Sản

Lượng của Cây Mía Giai Đoạn 1998-2009 63

Bảng 4.10 Diện Tích, Sản Lượng và Chỉ Số Phát Triển (CSPT) Diện Tích và Sản

Lượng Của Bông Giai Đoạn 1998-2008 64

Bảng 4.11 Diện Tích, Sản Lượng và Chỉ Số Phát Triển (CSPT) Diện Tích và Sản

Lượng của Cây Cà Phê Giai Đoạn 1998-2008 67

Bảng 4.12 Diện Tích, Sản Lượng và Chỉ Số Phát Triển (CSPT) Diện Tích và Sản

Lượng của Cây Cao Su Giai Đoạn 1998-2008 69

Bảng 4.13 Diện Tích, Sản Lượng và Chỉ Số Phát Triển (CSPT) Diện Tích và Sản

Lượng của Hồ Tiêu Giai Đoạn 1998-2007 70

Bảng 4.14 Diện Tích, Sản Lượng và Chỉ Số Phát Triển (CSPT) Diện Tích và Sản

Lượng Của Cây Chè Giai Đoạn 1998-2008 71

Trang 11

Hình 4.12 Biểu Đồ Thể Hiện Chỉ Số Phát Triển Sản Lượng và Diện Tích của Cây

Chè Giai Đoạn 1998-2008 72

Hình 4.13 Quy Trình Quản Trị Rủi Ro Cho Ngành Trồng Trọt 73 Hình 4.14 Mô Hình Bán Bảo Hiểm Cây Trồng Thông Qua Hệ Thống Ngân Hàng 82

Trang 12

Việt Nam với hơn 70% dân số còn hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, thì theo nhiều chuyên gia nhận xét là một thị trường đầy tiềm năng cho việc phát triển bảo hiểm nông nghiệp nói chung và bảo hiểm cây trồng nói riêng Nếu xét về giá trị sản xuất nông nghiệp của Việt Nam thì ngành trồng trọt có giá trị thực tế lớn nhất, năm

2007 giá trị sản xuất của trồng trọt đạt 174.388,8 tỷ đồng so với ngành chăn nuôi đạt 57.741, 7 tỷ đồng và ngành dịch vụ chỉ có 4.385,5 tỷ đồng Diện tích và sản lượng cây trồng cũng ngày được mở rộng và tăng thêm, góp phần đóng góp không nhỏ cho nền kinh tế, các sản phẩm của trồng trọt không chỉ cung cấp lương thực cho người dân, cung cấp nguyên liệu cho ngành chăn nuôi mà nhiều loại cây với giá trị kinh tế cao còn được xuất khẩu và chiếm vị trí đáng kể trong bản đồ xuất khẩu thế giới (hiện nay xuất khẩu lúa gạo Việt Nam đứng thứ hai thế giới, xuất khẩu cao su đứng thứ tư)

Trang 13

Chính vì thế mà việc quản lý rủi ro về thiên tai, dịch bệnh, giá cả cho nhóm đối tượng cây trồng rất cần được quan tâm bởi quản lý rủi ro chẳng những có tầm quan trọng trong quyết định đầu tư về tài chính của người nông dân, các tổ chức và Nhà nước mà trên hết là mang lại lợi ích cho nông dân thông qua các khoản bù đắp thiệt hại nếu không may có tổn thất xảy ra

Tuy nhiên, theo thực tế cho thấy thì thị trường hấp dẫn vẫn đang bị bỏ trống, vai trò biểu hiện của Chính phủ tương đối mờ nhạt còn các nhà đầu tư lại e dè khi quyết định có nên tham gia hay không Các hình thức bảo hiểm đã từng được áp dụng chưa phát huy hết vai trò, chẳng những thế còn liên tục bị thất bại Thiệt hại nếu xảy ra phần lớn do nông dân gánh chịu Minh chứng rõ ràng nhất cho vấn đề này là tổng giá trị thiệt hại trong sản xuất nông nghiệp hàng năm của nước ta rất lớn chỉ tính riêng đợt rét năm 2008 cho thấy tổng giá trị thiệt hại lên đến 400 tỷ đồng Tổng cộng 146.586 ha lúa và 9.500 ha mạ bị chết vì rét; và gần 52.000 ngàn gia súc chết rét trên toàn quốc Nông dân điêu đứng, còn Chính phủ thì phải ra sức khắc phục hậu quả Tình trạng

‘mất bò mới lo làm chuồng’ vẫn cứ đeo bám nền sản xuất nông nghiệp của Việt Nam, sau khi hiểm họa xảy ra, thống kê lại tổn thất mới thấy các con số giật mình Đương nhiên, thiên tai hay dịch bệnh là điều không thể trách khỏi nhưng quan trọng là làm sao để giảm thiểu tới mức thấp nhất các rủi ro mà người nông dân nói riêng và nông nghiệp nói chung có thể gánh chịu khi hiểm họa xảy ra mới là điều quan trọng Tuy nhận thấy được vai trò hết sức cần thiết và nỗi khó khăn đang phải đối mặt nhưng việc đưa ra biện pháp khắc phục lại không dễ chút nào Một trong những giải pháp cho rủi

ro trong trồng trọt được đề cập nhiều nhất chính là mô hình bảo hiểm cây trồng Nhưng bảo hiểm như thế nào để mang lại hiệu quả cho cả người mua bảo hiểm và doanh nghiệp bán bảo hiểm, nên phát triển loại hình bảo hiểm nào? Hệ thống đánh giá, giám sát ra sao? Ai có thể tham gia bảo hiểm? Thật sự là một bài toán khó Vấn đề này cần có sự tìm hiểu, tiếp cận, phân tích và đi đến kết luận Đó chính là mục tiêu nghiên cứu của đề tài “Thực trạng bảo hiểm cây trồng và tìm hiểu một số giải pháp cho mô hình bảo hiểm cây trồng tại Việt Nam”

Trang 14

Trình bày thực trạng của ngành bảo hiểm cây trồng tại Việt Nam;

Đánh giá sự quan tâm của người nông dân đối với bảo hiểm cây trồng hiện nay; Phân tích kết quả và tác động của một số mô hình bảo hiểm cây trồng hiện nay

từ đó đưa ra giải pháp để cải thiện và nâng cao khả năng triển khai bảo hiểm cây trồng;

Đề tài có thể được sử dụng như tư liệu để tham khảo cho những ai quan tâm đến vấn đế bảo hiểm cây trồng

1.3 Phạm vi nghiên cứu của khóa luận

1.3.1 Không gian

Đề tài chủ yếu được nghiên cứu thông qua số liệu và tài liệu thu thập được Đồng thời, tác giả còn tiến hành phỏng vấn ngẫu nhiên các nông hộ trong ngành trồng trọt tại một số tỉnh cũng như lấy ý kiến tham khảo từ một số chuyên gia bảo hiểm và kinh tế

1.3.2 Thời gian

Thời gian thực hiện đề tài từ tháng 3/2010 đến tháng 6/2010

1.3.3 Giới hạn của đề tài

Khảo sát thực trạng của ngành bảo hiểm cây trồng và tìm hiểu một số giải pháp cho bảo hiểm cây trồng Việt Nam

1.4 Cấu trúc của khóa luận

Luận văn gồm 5 chương

Chương 1: Mở đầu Nêu ra sự cần thiết của việc chọn vấn đề nghiên cứu Giới thiệu sơ lược về mục tiêu nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, giới hạn và cấu trúc của đề tài

Chương 2: Tổng quan Giới thiệu khái quát về tình hình bảo hiểm nông nghiệp Châu Á Bức tranh bảo hiểm cây trồng toàn cầu và bảo hiểm nông nghiệp trong luật định của Việt Nam

Chương 3: Nội dung và phương pháp nghiên cứu Giới thiệu một số khái niệm

có liên quan để giúp làm rõ đề tài nghiên cứu và phương pháp được sử dụng

Trang 15

Chương 4: Kết quả và thảo luận: đây là chương trọng tâm của đề tài Áp dụng phương pháp và cơ sở lý luận ở chương 3 để làm rõ thực trạng của bảo hiểm cây trồng trong thời gian qua nhằm đề ra giải pháp cụ thể và phù hợp cho bảo hiểm cây trồng Việt Nam trong hiện tại và tương lai

Chương 5: Kết luận và kiến nghị Đây là chương tổng hợp Đánh giá những nội dung chính của đề tài Đưa ra đề xuất kiến nghị của tác giả

Trang 16

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN

2.1 Khái quát về bảo hiểm nông nghiệp Châu Á giai đoạn hiện nay

Ngành nông nghiệp được xem là ngành chủ chốt của Châu Á khi chiếm đến 40% tương đương 600 tỷ USD tổng sản lượng nông nghiệp toàn thế giới (2009) Châu

Á là nhà sản xuất gạo, rau quả, dầu cọ, cao su tự nhiên và nuôi trồng thủy sản lớn nhất thế giới, đồng thời đứng thứ hai về sản xuất thịt và gia cầm Ngành nông nghiệp còn

có ý nghiã quan trọng đối với nhiều nước đang nổi ở Châu Á khi đóng góp khoảng 30% GDP và sử dụng khoảng 30-60% lực lượng lao động

20-Theo dự báo của Liên Hiệp Quốc, dân số thế giới sẽ tăng thêm 2,5 tỷ người vào năm 2020, trong đó riêng Châu Á là 1,5 tỷ vì thế vấn đề được đặt ra cho Châu Á là nhu cầu gia tăng lương thực do tăng trưởng dân số cùng với việc chuyển dịch chế độ ăn ở mức trung bình tới mức đòi hỏi hàm lượng calo nhiều hơn Các hộ gia đình ở Châu Á (trừ Nhật Bản) chi tiêu 1/3 thu nhập cho nhu cầu lương thực

Về vấn đề đất đai, đất trồng trọt tại khu vực này được nhận định là hạn chế và

có thể giảm do thành thị hóa, còn đất đã sử dụng nhiều nơi đang thoái hóa Hầu hết nông dân Châu Á đều canh tác trên mảnh đất có qui mô nhỏ (trung bình 1,6ha) với cơ

sở hạ tầng và công nghệ hạn chế Sản lượng nói chung còn thấp Thí dụ như, sản lượng lúa trung bình của Thái Lan nước đứng đầu về xuất khẩu gạo trên thế giới chỉ là 2,8 tấn/ha, trong khi sản lượng trung bình toàn thế giới là 5 tấn/ha Chi phí đầu vào nông nghiệp cao, khả năng sẵn có về nước và chất lượng nước đang là vấn đề then chốt

Châu Á nằm ở vị trí rất dễ bị bão, lũ lụt và hạn hán thường xuyên, có ảnh hưởng mang tính tàn phá đối với sản xuất nông nghiệp Tổn thất thậm chí có thể trở nên nặng

nề hơn nếu ảnh hưởng của sự thay đổi khí hậu đã được dự báo trở thành hiện thực

Nằm trong nhóm biện pháp của các chính phủ nhằm gia tăng sản lượng lương thực và thúc đẩy sự thịnh vượng của nông dân chính là bảo hiểm nông nghiệp Điều này dẫn tới sự tăng trưởng đáng kể của thị trường bảo hiểm nông nghiệp Châu Á, đặc

Trang 17

biệt khi Trung Quốc vươn lên đứng thứ hai trong lĩnh vực này trên thế giới sau Mỹ Có thể nói bảo hiểm nông nghiệp đã đóng góp cho sự tăng trưởng của ngành nông nghiệp

và có xu hướng thu hẹp chênh lệch giữa cung – cầu trong thị trường bảo hiểm nông nghiệp Nhiều nước nhận ra rằng việc hỗ trợ ngành nông nghiệp có ý nghĩa quan trọng

cơ bản và rằng tính sẵn có của bảo hiểm nông nghiệp có thể chấp nhận được là sự khuyến khích nông dân đầu tư vào sản xuất nông nghiệp, để làm bảo hiểm nông nghiệp có thể chấp nhận được đối với nông dân, hầu hết các chính phủ đều trợ cấp phí bảo hiểm nông nghiệp Mặc dù WTO hướng tới giảm bớt các biện pháp được coi là bóp méo sản xuất và thương mại, thí dụ các khoản thanh toán trực tiếp liên quan đến sản xuất hoặc giá cả, nhưng trợ cấp bảo hiểm bị loại trừ khỏi hiệp định thương mại tự

do 1994 – nếu bảo hiểm nông nghiệp làm giảm nhẹ ảnh hưởng tài chính của thảm họa khí hậu hoặc thiên nhiên

Hoạt động của hợp tác xã

Hầu hết nông dân Châu Á đều là hội viên của hợp tác xã cung cấp cho họ các nguồn cung ứng và dịch vụ đầu vào như là ngân hàng, bảo hiểm, hỗ trợ tiêu thụ và tiếp thị Một số chính phủ đã quyết định cung cấp bảo hiểm qua các tổ chức đó Từ những năm 1940, nông dân Nhật Bản có thể mua bảo hiểm từ 700 hợp tác xã Chính phủ trợ cấp bảo hiểm cây trồng vật nuôi và đóng vai trò như là phương kế cuối cùng đối với tổn thất thiên tai Các hợp tác xã thu xếp bảo hiểm và tái bảo hiểm lẫn cho nhau Do đó

có nguồn tài chính lớn và có kinh nghiệm, việc chuyển nhượng rủi ro sang khu vực tư nhân là không cần thiết Tương tự, Hàn Quốc cũng đưa ra chương trình bảo hiểm cây trồng, vật nuôi được trợ cấp và gần đây nhất là bảo hiểm nuôi trồng thủy sản thông qua hợp tác xã quốc gia Tổn thất do thiên tai được chính phủ bù đắp Sau mức giữ lại của các HTX, phần rủi ro còn lại được thu xếp cho các công ty bảo hiểm và tái bảo hiểm trong nước, sau đó là các công ty tái bảo hiểm quốc tế Để tận dụng chuyên môn quản

lý rủi ro và nền tảng phân phối của ngành bảo hiểm, hình thức hợp tác Công – Tư đã xuất hiện

Năm 2008, Châu Á là thị trường bảo hiểm nông nghiệp lớn thứ hai trên toàn thế giới khi thu về 21% phí bảo hiểm đứng sau Bắc Mỹ 52%

Trang 18

Hình 2.1.Biểu Đồ Thể Hiện Phí Bảo Hiểm Toàn Cầu năm 2008

ĐVT: Phần trăm %

 Nguồn: Thống kê của FAO và Asia Insurance Review (2009)

Hình 2.2 Biểu Đồ So Sánh Phần Trăm Phí BHNN Toàn Cầu Năm 2001 và Năm 2008

Nguồn: Thống kê của FAO và Asia Insurance Review (2009)

ĐVT: Phần trăm % 

Trang 19

Như vậy so với năm 2008 thì khu vực Bắc Mỹ (B.Mỹ) vẫn giữ vị trí đầu trong việc thu phí BHNN, tuy nhiên nếu vào năm 2001 Tây Âu chiếm 29% phí BHNN toàn cầu thì vào năm 2008 phần trăm này giảm xuống chỉ còn 17% Đặc biệt, có thể thấy

sự tăng trưởng vượt bậc của phí BHNN tại Châu Á chỉ từ 4% năm 2001 đã gia tăng đến 21% năm 2008 Cho thấy thị trường BHNN Châu Á rất năng động và đầy tiềm năng để phát triển

Hình 2.3 Biểu Đồ Thể Hiện Phân Bổ Phí Bảo Hiểm Nông Nghiệp Khu Vực Châu

Trang 20

Tại thị trường Châu Á, có thể thấy rõ ràng Trung Quốc đang giữ vị trí là “ông lớn” trong lĩnh vực bảo hiểm nông nghiệp, điều này là nhờ Trung Quốc đã liên tục thúc đẩy phát triển ngành BHNN theo nhiều hướng như là đưa ra chương trình trợ cấp bảo hiểm, tăng cường vai trò của công ty tái bảo hiểm quốc gia,v.v…Đứng thứ hai trong lĩnh vực BHNN tại Châu Á là Nhật Bản, các quốc gia còn lại chiếm tỷ trọng không nhiều

Các xu hướng sản phẩm mới và hệ thống phân phối bảo hiểm nông nghiệp

Nhiều quốc gia đã bắt đầu áp dụng bán bảo hiểm thông qua hệ thống ngân hàng, đặc biệt là tại các thị trường nơi mà cơ sở hạ tầng gồm cả các kênh bán hàng còn thiếu, trong đó các khoản vay của ngân hàng được ràng buộc với bảo hiểm Ngoài ra, việc sử dụng bảo hiểm như là khoản thế chấp thúc đẩy tính sẵn có của các khoản vay cho nông dân để khuyến khích ngân hàng cho vay nhiều hơn

So với sản phẩm bảo hiểm truyền thống thì ngày nay sản phẩm bảo hiểm theo chỉ

số được ưu chuộng hơn nhiều, một số ví dụ điển hình có thể kể đến là Ấn Độ, Trung Quốc,…Tại Ấn Độ, những người nông dân tiếp cận khoản vay của chính phủ đều buộc phải mua bảo hiểm tại Công ty bảo hiểm nông nghiệp Nhà nước Để cung cấp bảo hiểm cho nông dân, các công ty bảo hiểm Ấn Độ cùng với sự hỗ trợ của các công ty tái bảo hiểm quốc tế đã và đang đưa vào áp dụng chương trình bảo hiểm và kích hoạt các đơn tái bảo hiểm theo chỉ số thời tiết (nhiệt độ, lượng mưa…) Chính phủ đã nhận thức được những ưu điểm của bảo hiểm theo chỉ số bổ sung cho các chương trình bảo hiểm cây trồng nên đã quyết định trợ cấp cho những sản phẩm này từ năm 2007 Hay ở Nội Mông

Cổ đã có bảo hiểm theo chỉ số hạn hán (hạn hán ở Mông Cổ có thể dẫn đến thiếu cỏ cho chăn nuôi gia súc gây ảnh hưởng đến sản lượng của ngành sản xuất sữa đang phát đạt) Đối với sản phẩm bảo hiểm theo chỉ số hạn hán, hình ảnh vệ tinh được sử dụng để xây dựng chỉ số dựa vào mức độ diệp lục của thực vật

Sự phát triển của BHNN tại Châu Á

Để đảm bảo an ninh lương thực, chính phủ các nước Châu Á cần thúc đẩy sản xuất lương thực thông qua các chương trình khuyến khích nông dân đầu tư vào đầu vào nông nghiệp và kỹ thuật canh tác tốt hơn Bảo hiểm nông nghiệp, dù do các hợp tác xã được tổ chức tốt, các công ty bảo hiểm hoặc ngân hàng cung cấp, đã chứng tỏ là một phương thức hữu hiệu để bảo vệ nông dân trước những cú sốc về thu nhập và vì

Trang 21

thế khuyến khích họ đầu tư vào thực tiễn canh tác tốt hơn Bảo hiểm nông nghiệp dựa vào chỉ số bổ sung cho bảo hiểm tiên phong thực hiện đã thiết lập các chương trình bảo hiểm nông nghiệp và cung cấp tiền trợ cấp, hoạt động dưới hình thức hợp tác Công - Tư cùng với các công ty bảo hiểm và ngân hàng để sử dụng hiệu quả các kỹ năng và chuyên môn của tất cả các bên liên quan và hưởng lợi từ kinh nghiệm và năng lực nhận rủi ro của thị trường tái bảo hiểm quốc tế

2.2 Qui định của Tổ chức thương mại thế giới WTO

Một trong những ưu tiên trong việc thiết lập các chính sách của chính phủ là khiến cho việc thương mại quốc gia trở nên dễ dàng hơn Đối với hầu hết các quốc gia đang phát triển thì xuất khẩu nông sản rất quan trọng, chính vì vậy mà những quy định của WTO rất được quan tâm bởi nông sản là nhóm hàng hóa nhạy cảm (liên quan đến một bộ phận dân cư thu nhập thấp, an ninh lương thực…) hàng nông sản hiện được xếp vào diện “đặc biệt” so với hàng hóa phi nông nghiệp và mức độ trợ cấp đối với mặt hàng này cao hơn nhiều so với nhóm hàng phi nông nghiệp Kể từ sau khi gia nhập WTO, Việt Nam phải cam đoan tuân thủ các cơ chế mà WTO đề ra trong việc trợ cấp nông nghiệp Về cơ bản các loại trợ cấp này đều được phép thực hiện, nhưng theo các điều kiện và giới hạn cụ thể Trợ cấp đối với phí bảo hiểm nông nghiệp (bao gồm

cả bảo hiểm cây trồng) được WTO cho phép Việc này được xem như là lối đi mở của những quy định trong “Hộp Xanh” được các chính phủ dùng hỗ trợ người sản xuất

“Hộp xanh lá cây” là các hình thức trợ cấp hầu như không có tác động bóp méo thương mại và không phải là hình thức trợ giá với các nhóm mục đích chính như trợ cấp cho các dịch vụ chung; trợ cấp nhằm mục tiêu an ninh lương thực quốc gia; hỗ trợ giảm nhẹ thiên tai…

Tuy nhiên, nhiều chính phủ còn thiếu thông tin về nhu cầu bảo hiểm thương mại trong lĩnh vực bảo hiểm cây trồng bởi do sự phát triển vẫn còn tương đối mới Có nhiều hình thức hỗ trợ mà chính phủ có thể dễ dàng tạo điều kiện cho bảo hiểm cây trồng, trong đó có thể kể tới như:

Cung cấp thông tin về các sự kiện thời tiết điển hình, tình trạng hiểm họa, bằng chứng về những thiệt hại trong qúa khứ kèm theo con số cụ thể; thông tin về sản lượng

Trang 22

thu hoạch hay tình hình các khu vực nông nghiệp Hầu hết các quốc gia đều thực hiện điều này

Hỗ trợ việc nghiên cứu các loại chi phí được xem là rất cần thiết trước khi bất

kỳ chương trình bảo hiểm nào được triển khai Thường thì trách nhiệm này được chia

sẽ bởi các Tổ chức phát triển như FAO (như trường hợp của Pakistan năm 1995 và Syria năm 2000), và Ngân hàng thế giới WB (như trường hợp của Ma-rốc những năm 1990)

Mặc dù ít phổ biến hơn các loại trợ cấp khác nhưng cung cấp tái bảo hiểm cũng được triển khai tại một số nước như Hoa Kỳ, Ấn Độ…

2.2 Bức tranh bảo hiểm cây trồng trên thế giới

Tổng tiền phí bảo hiểm hằng năm của nông nghiệp và lâm nghiệp trên toàn thế giới năm 2001 ước tính khoảng 6,5 triệu USD 70% khoản phí này là từ các sản phẩm của cây trồng và lâm nghiệp Khi so sánh với 400 triệu USD tổng giá trị sản phẩm nông nghiệp trên toàn cầu thì phí bảo hiểm nông nghiệp chỉ chiếm có 0,4%

Theo khu vực địa lý thì phí bảo hiểm nông nghiệp (FAO_ASB159) tập trung tại những vùng có nông nghiệp và lâm nghiệp phát triển, như là Bắc Mỹ (55%), Tây Âu (29%), Úc và New Zealand (3%) Châu Mỹ Latinh và Châu Á mỗi khu vực chiếm 4%, Đông Âu chiếm 3% còn Châu Phi chỉ có 2% Như vậy so với năm 2008 thì khu vực Bắc Mỹ vẫn giữ vị trí đầu trong việc thu phí BHNN, tuy nhiên nếu vào năm 2001 Tây

Âu chiếm 29% phí BHNN toàn cầu thì vào năm 2008 phần trăm này giảm xuống chỉ còn 17% Đặc biệt, có thể thấy sự tăng trưởng vượt bậc của phí BHNN tại Châu Á chỉ

từ 4% năm 2001 đã gia tăng đến 21% năm 2008 Cho thấy thị trường BHNN Châu Á rất năng động và đầy tiềm năng để phát triển

Những số liệu này thể hiện bức tranh của bảo hiểm nông nghiệp và cây trồng

Số liệu cho thấy tình hình đang thay đổi, bảo hiểm nông nghiệp đang trở thành ngành kinh doanh có lợi Sự phát triển của BHNN không chỉ làm tăng trưởng thương mại của nông nghiệp và nhiều sản phẩm bảo hiểm mới, mà còn phát triển chính sách thương mại quốc tế (FAO Agricultural Services Bulletin, 159)

Trang 23

2.2.1 Tại các nước đang phát triển

Những nghiên cứu của FAO đã chỉ ra mối liên hệ mật thiết giữa bảo hiểm cây trồng và nông dân tại những nước phát triển Tuy nhiên, 13% phí bảo hiểm tính trên toàn cầu lại được thu về từ những nước đang phát triển Vậy thì những nông dân nào là đối tượng được bảo hiểm, và trường hợp nào thì các đơn bảo hiểm được thỏa thuận? Các tài liệu tổng hợp từ nhiều quốc gia cho thấy một số điểm đáng lưu ý như sau

Argentina

Đất nước có nền nông nghiệp phát triển, vì vậy không có gì ngạc nhiên khi 25% tổng diện tích cây trồng được bảo hiểm chủ yếu là cho thiệt hại của mưa đá, mặc dù đang có nhiều chính sách giới thiệu về bảo hiểm đa rủi ro Các loại cây trồng được bảo hiểm gồm đậu tương, lúa mì, hướng dương và ngô Bảo hiểm cho cây nho và các loại trái cây khác cũng rất được chú ý

Braxin

Quốc gia thực hiện bảo hiểm cây trồng như là chương trình trợ cấp của chính phủ Xuất phát từ mong muốn bù đắp rủi ro càng nhanh, nhiều càng tốt Nhưng công

ty bảo hiểm đã có một sai lầm nghiêm trọng là không nắm rõ việc quản lý rủi ro

Gần đây thì sự phát triển BHCT có những bước tiến chậm nhưng chắc chắn hơn, và chủ yếu là sự tham gia của các thành phần tư nhân Mô hình bảo hiểm táo bắt đầu vào năm 1998, vườn nho năm 1999, và hàng ngàn mẫu Anh (1 mẫu Anh bằng khoảng 0,4ha) đậu nành, lúa mì và ngô vào năm 2000 Mặc dù có sự phát triển như vậy, nhưng ngành kinh doanh bảo hiểm nông nghiệp vẫn chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ trong nông nghiệp tại Braxin Một vài tiến triển trong BHCT bao gồm, giới thiệu những sản phẩm mang lại thu nhập từ cây trồng, xác định khu vực tổn thất

Ấn Độ

Bức tranh BHCT của Ấn Độ có hai quang cảnh Thứ nhất, BHCT được coi như một chương trình của chính phủ mang mục tiêu xã hội, chi ra những khoản tiền lớn mỗi năm Các nhà chức trách được tin rằng là đang nỗ lực để tái lập lại chương trình này nhằm làm cho nó tăng tính hiệu quả và bền vững hơn Đây được xem là một nhiệm vụ to lớn Năm 2000 chương trình đã nhận bảo hiểm cho 10,5 triệu nông dân, với tổng phí bảo hiểm là 1,8 tỷ đôla trên 15,7 triệu ha đất trồng

Trang 24

Mặt khác, một ít các công ty bảo hiểm đã chủ động cung cấp các sản phẩm bảo hiểm, đặc biệt là hướng đến sản xuất hoa quả chất lượng cao, và nhiều sản phẩm mới đang được triển khai Tổng công ty bảo hiểm (GIC) của Ấn Độ đã thành lập một công

ty con là Công ty bảo hiểm nông nghiệp (AIC) nhằm cung cấp các một cơ chế tập trung cho kiểu kinh doanh này

Gần đây thì lĩnh vực ngân hàng/bảo hiểm tư nhân đang phát triển, với sự giúp

đỡ từ Ngân hàng thế giới (WB) sản phẩm bảo hiểm cho những nông dân có nguy cơ không đủ nước tưới trong vụ mùa Chính sách được cung cấp bởi một công ty thương mại, ICICI Lombard General Insurance và nông dân có thể tiếp cận thị trường này thông qua các ngân hàng tài chính quy mô lớn được biết đến như BASIX (Bhartiya Samruddhi Finance Ltd)

Trung Quốc

Trung Quốc là một trong những người khổng lồ nông nghiệp trên thế giới Tuy nhiên, vì nhu cầu sản lượng nông nghiệp gia tăng nhiều hơn nên quốc gia này ngày càng phải đương đầu với nhiều tình huống đầy thách thức: đất trồng trọt bị hạn chế còn

cây trồng lại bị lũ lụt, hạn hán, sâu bệnh và bão đe dọa

BHNN là một chủ trương lớn của Trung Quốc có tầm quan trọng đối với nền kinh tế, và ổn định xã hội Cơ quan giám sát bảo hiểm Trung Quốc (CIRC) cho rằng

sự phát triển của BHNN cần được “Chính phủ chỉ đạo, hỗ trợ bằng chính sách và vận hành theo cơ chế thị trường, với sự tham gia tự nguyện của nông dân”

Năm 2007, chính phủ Trung Quốc thúc đẩy bảo hiểm nông nghiệp thông qua các khoản trợ cấp phí bảo hiểm nông nghiệp như là biện pháp khuyến khích đầu tư cho đầu tư cho đầu tư có chất lượng cao và kỹ thuật nông nghiệp cải tiến Năm 2007, Trung Quốc chi khoảng 300 triệu USD vào các khoản trợ cấp nông nghiệp Năm 2008, khoản chi này là khoảng 900 triệu USD

2.2.2 Tại những nước phát triển

Hoa Kỳ

Hoa kỳ là nước có doanh thu và sự phát triển trong lĩnh vực bảo hiểm cây trồng nhiều nhất trên thế giới hiện nay Nước này có chương trình bảo hiểm cây trồng liên bang (doanh nghiệp bảo hiểm tư nhân làm dưới sự bảo trợ của Nhà nước), áp dụng cho hơn 100 loại cây trồng, bảo hiểm dưới hình thức mọi rủi ro; doanh thu trung bình

Trang 25

khoảng 4 tỷ/năm Điểm đáng lưu ý trong chương trình bảo hiểm là sự hỗ trợ tài chính mạnh mẽ từ chính quyền liên bang như Cung cấp miễn phí Hợp đồng bảo hiểm năng suất thiên tai cơ bản Mức bảo hiểm bằng 60% theo giá thị trường dự tính của phần tổn thất vượt quá 50% năng suất bình quân của 4 năm trước Hỗ trợ 38% phí bảo hiểm cho những người mua bảo hiểm cho phần trách nhiệm cao hơn phần cơ bản được miễn phí (tổng hỗ trợ tương đương 59% phí bảo hiểm) Chính phủ tái bảo hiểm, hỗ trợ bảo hiểm (tiêu tốn tương đương 14% tổng phí bảo hiểm) Hỗ trợ chi phí quản lý cho các doanh nghiệp (tiêu tốn tương đương 22% tổng phí bảo hiểm nông nghiệp) Như vậy, bình quân chính phủ chịu 70% phí còn nông dân chịu 30% còn lại

Tây Ban Nha

Nước này có chương trình bảo hiểm quốc gia, được thực hiện bởi tập hợp các công

ty bảo hiểm tư nhân hoạt động trong lĩnh vực bảo hiểm nông nghiệp gọi là Agroseguro theo cơ chế chia sẽ rủi ro của bảo hiểm tương hỗ, dưới sự bảo trợ của Nhà nước Hình thức là bảo hiểm mọi hiểm họa cho cây trồng với phần chia sẽ chi phí như sau Nhà nước chịu 41%, nông dân chịu 59% Tây Ban Nha khuyến khích bảo hiểm bằng cách: không cứu trợ nông dân khi tổn thất xảy ra do các rủi ro thuộc các loại rủi ro đã có trong chương trình bảo hiểm Đối với các tổn thất do các loại rủi ro không có trong chương trình bảo hiểm gây ra, có thể nông dân sẽ được xem xét hỗ trợ, tuy nhiên chỉ hỗ trợ khi nông dân đã mua bảo hiểm cho các rủi ro đã có trong chương trình bảo hiểm

2.3 Ngành trồng trọt Việt Nam giai đoạn 1995 – 2008

Việt Nam với hơn 70% số hộ sống và có nguồn thu nhập từ sản xuất nông nghiệp Diện tích canh tác và sản lượng hàng năm được trình bày trong các hình sau

2.3.1 Diện tích đất trồng và sản lượng

Trang 26

Hình 2.4 Diện Tích Các Loại Cây Trồng Phân Theo Nhóm Cây Giai Đoạn

1995-2008

Nguồn: Tổng cục thống kê Việt Nam

Hình 2.4 cho thấy diện tích cây lương thực chiếm nhiều nhất so với các loại cây

trồng khác Canh tác cây lương thực cũng chiếm số đông lao động tham gia vì đòi hỏi nhiều công chăm sóc, quản lý cũng như thu hoạch; đồng thời cũng tạo ra thu nhập và lợi nhuận hằng năm giúp nông dân chăm lo và cải thiện đời sống Đồng nghĩa với diện tích lớn nhất là khối lượng sản phẩm tạo ra từ cây lương thực cũng đạt cao nhất Sau cây lương thực có hạt thì diện tích và sản lượng của cây công nghiệp lâu năm đứng vị trí thứ hai Cây công nghiệp là nhóm cây có giá trị kinh tế cao, nâng cao nguồn thu cho người dân

ĐVT: Nghìn ha

Trang 27

Hình 2.5 Sản Lượng Một Số Cây Công Nghiệp Lâu Năm Giai Đoạn 1995-2008

Nguồn: Tổng cục thống kê Việt Nam

Hình 2.5 cho thấy sản lượng của các loại cây công nghiệp lâu năm phổ biến tại

Việt Nam, trong đó dừa là cây trồng đạt sản lượng cao nhất tuy nhiên sản lượng lại có chiều hướng giảm xuống từ sau năm 1999, từ năm 2000 có tăng nhưng tăng không đáng kể Các loại cây còn lại đều có sản lượng theo chiều hướng tăng qua các năm trong đó cao su, chè và điều tăng trưởng khá tốt qua các năm Sản lượng cà phê lại thể hiện thay đổi liên tục (trồi, sụt) không đồng đều qua các năm

2.3.2 Cơ cấu cây trồng

Qua thống kê về chỉ số phát triển diện tích các loại cây trồng theo nhóm cây (2006) thì cây công nghiệp lâu năm đang được trồng nhiều hơn, sau đó là cây ăn trái Nguyên nhân có thể nhận thấy là do nông dân chú ý nhiều đến các loại cây trồng có giá trị cao và mang lại thu nhập ổn định cho người trồng Đối với cây lương thực có hạt và cây công nghiệp hàng năm thì vẫn được duy trì tương đối đều đặn tuy nhiên diện tích có phần giảm sút một ít Xét trên phương diện kinh tế, việc chọn những cây lâu năm và cây công nghiệp có thể hạn chế được những rủi ro xuất phát từ đặc thù sản xuất, và còn mang lại giá trị sản xuất, xuất khẩu cao

ĐVT: Nghìn tấn

Trang 28

2.3.3 Tình hình thiên tai - dịch bệnh

Sản xuất nông nghiệp trong đó ngành trồng trọt luôn phải đương đầu với sự biến động của thời tiết, khí hậu Những năm gần đây thời tiết liên tục chuyển biến với chiều hướng xấu hơn không chỉ riêng tại Việt Nam mà còn gây ảnh hưởng trên phạm

vi toàn cầu Việt Nam với vị địa hình giáp biển nên nằm trong khu vực dễ chịu ảnh hưởng của biến động thời tiết như bão, lũ lụt thường xuyên tại khu vực miền Trung tác động không nhỏ đến sản lượng và năng suất cây trồng Không những thế, nhiều vùng còn chịu ảnh hưởng của khô hạn gây ra tình trạng thiếu nước nghiêm trọng làm giảm doanh thu ngành trồng trọt; hay tình trạng rét đậm, rét hại tại các tỉnh phía Bắc gây ra không ít khó khăn cho việc trồng trọt

Điển hình có thể kể đến, cơn bão số 9 đem theo mưa lớn và lũ lịch sử gây thiệt hại nặng nề cho người và của tại các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên, chỉ tính riêng trong lĩnh vực trồng trọt thì mưa lũ đã nhấn chìm và làm hư hại 96.172 ha hoa màu, lúa và ngô Hay đợt rét đậm, rét hại mang tính lịch sử kéo dài 38 ngày ở miền Bắc năm

2008 đã làm khoảng 200.000 ha lúa, 18.000 ha mạ, và 35.000 ha cây hoa màu chết, làm đảo lộn cơ cấu giống va thời vụ gieo cấy lúa Đông-Xuân Thêm vào đó, vấn đề cung cấp nước tưới ở khu vực Tây Nguyên luôn là mối quan tâm lớn của những người canh tác cây trồng

Ngoài thiên tai, thì dịch bệnh cũng là nỗi lo lắng của hầu hết bà con nông dân Đặc biệt trong khi hiện trạng ngành trồng trọt nước ta còn manh mún, nhỏ lẻ, nông dân chưa chú ý đến việc áp dụng kỹ thuật hay các biện pháp công nghệ thì việc phòng trừ sâu bệnh, côn trùng phá hoại đúng là nỗi lo lớn Ở phía Nam, dịch rầy nâu, vàng lùn và lùn xoắn lá là mối đe dọa lớn đối với sản xuất lúa Ngay tại vụ Đông –Xuân 2007-

2008, lúc cao điểm đã có tới 210.000ha lúa nhiễm bệnh, trong đó có 26.500ha nhiễm nặng, với mật độ rầy phổ biến 1.000-1.500 con/m2 (cá biệt có nơi nhiễm 10.000 con/m2), tồn tại song song với nhiều dịch bệnh nguy hiểm khác trên nhiều giống cây trồng khác nữa

Và như ‘đến hẹn lại lên’ khi thiên tai – dịch bệnh hoành hành thì cũng là lúc xuất hiện cơn bão giá: giá cả sinh hoạt, hàng hóa tiêu dùng, công lao động, giá vật liệu

và năng lượng, giá nông sản… Trong tình trạng cung không đủ cầu ấy thì người nông

Trang 29

dân đặc biệt là nông dân có mức thu nhập thấp đến rất thấp là bộ phận phải gánh chịu rủi ro nhiều nhất

2.3.4 Biến động giá cả nông sản

Nông sản được nhìn nhận là mặt hàng chịu sự chi phối của biến động giá cả rất lớn, xuất phát từ bản chất cây trồng phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện thời tiết thay đổi Hiện trạng dễ thấy nhất là được mùa thì mất giá còn mất mùa thì giá tăng Gần đây nhất là cuộc khủng hoảng lương thực đã tác động không nhỏ đến thị trường lúa gạo Việt Nam gây ra nhiều hoang mang, giá lúa liên tục thay đổi gây khó khăn cho người nông dân trong việc tích trữ lúa

Tình trạng này sẽ vẫn tiếp diễn nếu chưa đưa tìm được một giải pháp hợp lý, thí

dụ như là hợp đồng mua bán nông sản giữa nông dân và người thu mua chẳng hạn, nếu hợp đồng được lý kết thì người trồng và ngay cả người mua bắt buộc phải tuân thủ nghiêm chỉnh các điều khoản mua bán đưa ra

Sự giao động về giá cả các sản phẩm nông nghiệp trên thị trường thế giới luôn

ở mức độ cao và xảy ra thường xuyên, bởi nguyên nhân chủ yếu là sự bất ổn định của sản xuất nông nghiệp do phụ thuộc lớn vào thiên nhiên Các sản phẩm trồng trọt và sản phẩm thô có biên độ giao động cao hơn các sản phẩm chăn nuôi và sản phẩm chế biến Trong hoàn cảnh nông nghiệp Việt Nam vẫn còn nặng về các sản phẩm trồng trọt, xuất khẩu chủ yếu là các sản phẩm thô, ít quá chế biến, sự tác động của tính chất giá cả các sản phẩm nông nghiệp trên thị trường thế giới và các xu hướng thứ sinh đối với sản xuất các sản phẩm nông nghiệp Việt Nam có phần không thuận lợi Xu hướng giảm giá diễn ra phổ biến ở hầu hết các mặt hàng nông sản chủ yếu của nước ta như lúa, gạo, cà phê, hạt tiêu, hạt điều và một số mặt hàng khác đã gây ra tác động tiêu cực, đó

là nông sản tồn đọng lớn, thu nhập của nông sản giảm tương đối, kéo theo giảm sức mua thị trường nông thôn, giảm khả năng đầu tư vốn của họ vào phát triển sản xuất nông sản Ở tầm vĩ mô, chỉ số giá lương thực, thực phẩm giảm kéo theo xu hướng giảm sút của chỉ số giá và làm gia tăng tình trạng giảm phát của toàn bộ nền kinh tế

(Trích “Thị trường hàng nông sản thế giới và 5 xu hướng tác động tới Việt Nam” _Theo “Dự án phát triển thị trường hàng nông sản, 2009)

Trang 30

• Các rủi ro có liên quan đến tài chính;

• Rủi ro về marketing và giá

2.5 Bảo hiểm nông nghiệp trong luật định và nghị quyết của Việt Nam

Chính phủ đã sớm xác định mô hình bảo hiểm nông nghiệp là một trong những chính sách quan trọng góp phần quản lý rủi ro trong ngành nông nghiệp, đồng thời ổn định sản xuất và đời sống người dân Hơn thế nữa, kích thích thị trường bảo hiểm nông nghiệp trong nước để gia nhập vào thị trường BHNN rộng lớn trên thế giới là cần thiết

Vì vậy, trong nhiều nghị quyết luật định của chính phủ cũng đã đề cập nhiều đến vấn

đề phát triển BHNN

Tại điều 4, Luật Kinh doanh Bảo hiểm quy định: “Nhà nước có chính sách ưu đãi đối với các nghiệp vụ bảo hiểm phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là chương trình phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp”

Trong báo cáo của Ban chấp hành Trung ương tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X ghi rõ: “Xây dựng cơ chế bảo hiểm nông sản để chủ động bù đắp thiệt hại khi bị thiên tai hoặc khi giá cả biến động bất lợi, nhất là đối với lương thực”

Trong nghị quyết số 26 – NQ/TW, ngày 5 tháng 8 năm 2008 Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành trung ương khóa X về nông nghiệp, nông dân và nông thôn có câu :

“…thí điểm bảo hiểm nông nghiệp, bảo đảm mức sống tối thiểu cho cư dân nông thôn” Trong chiến lược quốc gia phòng chống và giảm nhẹ thiên tai đến năm 2020 đề cập đến “Nghiên cứu xây dựng quỹ tự lực hành chính, quỹ bảo hiểm về thiên tai” Nghị quyết số 22 – NQ/CP, ngày 23 tháng 9 năm 2008 của chính phủ về “Ban hành chính sách bảo hiểm nông nghiệp trong nền kinh tế thị trường”

Tại nghị quyết 24 NĐ-CP về chương trình hành động của chính phủ, Thủ tướng giao Bộ Tài Chính chủ trì, phối hợp với Bộ NN&PTNT, Bộ KH&ĐT triển khai đề án thí điểm BHNN và trình chính phủ trong quý 2 – 2009 Ông Tăng Minh Lộc – Phó cục

Trang 31

trưởng HTX&PTNT, Bộ NN&PTNT, tại Đề án Tam nông đã kiến nghị cần có chính sách BHNN cho nông dân Ông Lộc cho rằng: để khuyến khích doanh nghiệp bảo hiểm khai thác lĩnh vực BHNN và người dân tham gia BHNN thì nhà nước phải có chính sách ưu đãi, hỗ trợ mang tính đón đầu cho DN và nông dân

Thí điểm thực hiện bảo hiểm sản xuất nông nghiệp tại một số khu vực cho một

số loại sản phẩm nông thủy sản là một phần trong quyết định phê duyệt đề án “Phát triển thương mại nông thôn giai đoạn 2010 – 2015 và định hướng 2020” của Phó thủ tướng Hoàng Trung Hải ký ngày 6/1/2010 Đây cũng là một phần trong mục tiêu hướng tới an ninh lương thực quốc gia của Chính phủ ban hành vào cuối năm 2009 Cùng với chủ trương đã đề ra chính phủ mong muốn sẽ thúc đẩy việc hoàn thiện hệ thống bảo hiểm nông nghiệp Việt Nam, tuy nhiên việc triển khai thực hiện lại không dễ dàng và còn gặp nhiều khó khăn Trên thực tế cho thấy, các mô hình bảo hiểm nông nghiệp đã từng có mặt trên thị trường Việt Nam đều ít thành công, nếu không muốn nói là thất bại nặng nề Chính sách của Việt Nam thường mang tính ngắn hạn, chỉ quen với những vấn đề cần xử lý ngay, còn những vấn đề dài hạn hơn thì chưa

có cơ chế rõ ràng Triển khai bảo hiểm nông nghiệp là một quá trình lâu dài và cần có

sự kết hợp của nhiều nguồn lực, nhiều tổ chức Vì vậy, chính phủ cần phải thể hiện rõ vai trò quản lý của mình hơn nữa, nghiên cứu và đưa ra chính sách cùng với những chương trình quốc gia phù hợp và hiệu quả hơn

Trang 32

CHƯƠNG 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Cơ sở lý luận

3.1.1 Khái niệm, vai trò của bảo hiểm cây trồng (Crop Insurance)

a) Khái niệm bảo hiểm (Insurance)

Bảo hiểm là một cách thức trong quản trị rủi ro, thuộc nhóm biện pháp tài trợ rủi ro, được sử dụng để đối phó với những rủi ro có tổn thất, thường là tổn thất về tài chính, nhân mạng…Bảo hiểm được xem như là một cách thức chuyển giao rủi ro tiềm năng một cách công bằng từ một cá thể sang cộng đồng thông qua phí bảo hiểm (Nguồn: Wikipedia)

Cũng có một số các định nghĩa về bảo hiểm dựa trên các gốc độ nghiên cứu khác nhau như sau:

Xã hội: Bảo hiểm là sự đóng góp của số đông vào sự bất hạnh của số ít

Kinh tế, luật pháp: Bảo hiểm là một nghiệp vụ, qua đó một bên là người được

bảo hiểm cam đoan trả một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm thực hiện mong muốn để cho mình hoặc cho một người thứ ba trong trường hợp xảy ra rủi ro sẽ nhận được một khoản đền bù tổn thất được trả bởi một bên khác: đó là người bảo hiểm Người bảo hiểm nhận trách nhiệm đối với toàn bộ rủi ro và đền bù các thiệt hại theo phương pháp của thống kê

Kỹ thuật tính: Bảo hiểm có thể được định nghĩa là một phương sách hạ giảm

rủi ro bằng cách kết hợp một số lượng đầy đủ các đơn vị đối tượng để biến tổn thất cá thể thành tổn thất cộng đồng và có thể dự tính được

b) Dịch vụ Bảo hiểm nông nghiệp (Agricutural Insurance)

Dịch vụ nông nghiệp gọi chung cho các dịch vụ có tính chất phục vụ sản xuất hoặc liên quan đến quá trình sản xuất nông nghiệp, bao gồm các loại chính như: khuyến nông, bảo vệ thực vật, vật tư nông nghiệp…Ngoài ra, trên địa bàn nông thôn cũng đã có những loại hình dịch vụ khác phục vụ sản xuất và đời sống cư dân nông

Trang 33

thôn như bao tiêu sản phẩm (mà thường gọi là dịch vụ đầu ra), dịch vụ tín dụng nông thôn, bảo hiểm nông nghiệp…Dịch vụ nông nghiệp luôn có sự giúp đỡ của Nhà nước, nhất là các dịch vụ công ích; dịch vụ nông nghiệp càng phát triển thì sẽ tác động tích cực cho sản xuất nông nghiệp Thường thì hoat động dịch vụ trong nông nghiệp có đặc điểm riêng là chịu ảnh hưởng của những điềi kiện tự nhiên, thời tiết và sản xuất theo mùa vụ trong năm

Bảo hiểm nông nghiệp cũng nằm trong nhóm dịch vụ nông nghiệp Bảo hiểm

áp dụng cho thiệt hại trong nông nghiệp Các loại hình kinh doanh bao gồm: bảo hiểm cây trồng, bảo hiểm vật nuôi, bảo hiểm nuôi trồng thủy sản và bảo hiểm lâm nghiệp nhưng không bao gồm bảo hiểm hạ tầng và trang thiết bị bởi vì đã có loại hình bảo hiểm khác cho các đối tượng này (Theo FAO, Agricultural Services Bulletin 159) Đối tượng của bảo hiểm nông nghiệp bao gồm tài sản của nông dân như nhà cửa, đất đai…,tài sản của các cơ sở sản xuất, chế biến thu mua nông sản, tính mạng sức khỏe của người nông dân đã được bảo hiểm bởi các sản phẩm bảo hiểm của các doanh nghiệp bảo hiểm Duy nhất bảo hiểm sản xuất nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản) còn gặp nhiều khó khăn chưa hấp dẫn các doanh nghiệp bảo hiểm triển khai, vì vậy cần tập trung cho bảo hiểm sản xuất nông nghiệp

Bảo hiểm cây trồng: Cung cấp bảo hiểm chống lại tổn thất và thiệt hại của cây

trồng, đối tượng là cây lâu năm, cây hàng năm, cây rừng trước những mối nguy hiểm

từ thiên tai, dịch bệnh như mưa đá, dông bão, lũ lụt, hỏa hoạn, lũ lụt,…sâu bệnh hại

Loại sản phẩm này thường dùng cho các chủ trang trại và chủ hộ gia đình nông dân Trong cơ chế thị trường, giá trị tài sản là cây trồng của nhóm khách hàng này đôi khi rất lớn và chúng dễ gặp phải các loại rủi ro như: Thiên tai, sâu bệnh, dịch bệnh…Nếu không tham gia bảo hiểm và không có sự cứu trợ của Nhà nước khi gặp rủi

ro thì các hộ gia đình nông dân và các chủ trang trại có số vốn đầu tư lớn sẽ rất dễ bị phá sản (Giáo trình quản trị kinh doanh bảo hiểm, 2009)

Một số loại hình bảo hiểm cùng thuộc bảo hiểm sản xuất nông nghiệp

Bảo hiểm vật nuôi (Livestock Insurance): Đây là một loại bảo hiểm nông

nghiệp tập trung bảo hiểm vật nuôi tử vong do dịch bệnh được xác định hay bị thương

do tai nạn Thường được áp dụng trên vật nuôi trưởng thành mà có thể là một cá thể

Trang 34

và bò sữa, cừu, dê, heo và gia cầm Cũng có loại bảo hiểm đặc biệt cho những con giống có giá trị như ngựa giống hay bò giống bị tổn hại do tai nạn

Bảo hiểm nuôi trồng thủy sản (Aquaculrual Insurance): Bảo hiểm các vùng

nuôi cá nước ngọt hay nước mặn, thủy sản trước việc cá/thủy sản chết, bệnh Các rủi

ro có thể là bão, tai nạn…

Bảo hiểm lâm nghiệp (Forestry Insurance): Là một dạng bảo hiểm chống lại

sự thiệt hại của cây rừng (than gỗ) mà rủi ro thường gặp là hỏa hoạn, dông bão, tuyết,

lũ lụt hay thậm chí là động đất Sự định giá leo thang và hệ thống bồi thường được áp dụng để phản ánh khối lượng gỗ và giá trị rủi ro theo độ tuổi tăng trưởng của cây

c) Vai trò của bảo hiểm cây trồng

Bảo hiểm nông nghiệp được coi là một công cụ tài chính then chốt để ổn định nguồn thu nhập của nông dân và cải thiện khả năng mau phục hồi của nông dân sau khi gặp khó khăn về tài chính do vụ thu hoạch kém Bảo hiểm cây trồng là một bộ phận của bảo hiểm nông nghiệp, trong đó những người mua bảo hiểm cây trồng sẽ được hưởng những lợi ích do bảo hiểm mang lại Bảo hiểm cây trồng không chỉ thể hiện vai trò làm giảm bớt gánh nặng tổn thất cho người nông dân sau những sự kiện bất lợi do thiên tai – dịch bệnh gây ra, giúp bà con yên tâm sản xuất Mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc thu hút các nguồn vốn đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp nhất

là trồng trọt, một khi các rủi ro trong trồng trọt được đảm bảo sẽ khiến các nhà đầu tư không còn lo ngại về những tổn thất có thể xảy ra trong ngành này và mạnh dạn đầu

tư, một khi nhu cầu đầu tư được cải thiện sẽ thúc đẩy sự phát triển hơn nữa ngành trồng trọt lẫn loại hình bảo hiểm cây trồng

Bảo hiểm cây trồng cùng với các chính sách tài chính khác góp phần ổn định và cải thiện nền sản xuất nông nghiệp như cải thiện điều kiện sản xuất, trang thiết bị và tiến bộ kỹ thuật, phát triển kinh tế đất nước (tăng trưởng đầu tư…) Trong bối cảnh lạm phát ngày càng tăng, cách kiềm chế tốt nhất là ổn định nông nghiệp, đẩy mạnh xuất khẩu nông sản, lấy nông nghiệp làm bản lề chính trong chính sách tiếp tục tăng trưởng kinh tế, để làm được điều đó thì vai trò của BHNN nặng nề và cấp thiết hơn bao giờ hết

Từ thực tế là mỗi năm ngân sách chính phủ đã phải chi ra những khoản rất lớn

để bù đắp thiệt hại cho nông dân khi có thiên tai, dịch bệnh, mất mùa… Còn Ngân

Trang 35

hàng đặc biệt là Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thường xuyên phải khoanh nợ, xóa nợ cho người vay khi họ không đủ khả năng trả vì các hiểm họa xảy ra đột ngột Trong khi đó, nếu dịch vụ bảo hiểm cây trồng nói riêng và bảo hiểm nông nghiệp nói chung được phổ biến trong nông dân thì khả năng chia sẻ rủi ro trong sản xuất là rất lớn Như vậy, bảo hiểm cây trồng còn góp phần chia sẽ gánh nặng cho ngân sách Quốc gia Hơn thế nữa, nếu nông dân chủ động tham gia vào hợp đồng bảo hiểm chứng tỏ họ đã chủ động hơn trong việc giải quyết những rủi ro của mình mà không còn mang tâm lý ỷ lại và cứ trông chờ vào Nhà nước mãi

Nhu cầu về lương thực thực phẩm ở mọi nơi luôn là một nhu cầu không thể thiếu và mang ý nghĩa quan trọng Trong khi đó, trồng trọt còn đem lại nguyên liệu cho ngành chăn nuôi, vì thế nếu sản xuất trong trồng trọt được đảm bảo thì yêu cầu cung cấp nguyên liệu cũng được bảo đảm, khiến cho quá trình chế biến, sản xuất và phân phối hoạt động tốt hơn Chính do yêu cầu ngày càng cao về an ninh lương thực lại càng đòi hỏi tạo ra môi trường sản xuất bền vững, bảo hiểm trong sản xuất nông nghiệp sẽ đóng vai trò cơ bản trong quá trình xây dựng một nền sản xuất ổn định, nhất

là đối với các cây lương thực như lúa, ngô…và những cây trồng mang lại giá trị xuất khẩu cao như cà phê, chè, hồ tiêu, cao su…

Bảo hiểm cây trồng cùng với các hình thức bảo hiểm khác góp phần làm phong phú thị trường bảo hiểm trong nước và thúc đẩy quá trình tham gia vào thị trường bảo hiểm và tái bảo hiểm quốc tế của Việt Nam

d) Tái bảo hiểm (Reinsurance)

Khi mà tình hình rủi ro hay là nhóm các rủi ro vượt ngưỡng thận trọng mà công

ty bảo hiểm chịu trách nhiệm, thì công ty bảo hiểm đó có thể mua tái bảo hiểm tức là bảo hiểm của bảo hiểm Việc mua này còn được gọi là “chuyển nhượng” Nói cách khác, tái bảo hiểm là quá trình người bảo hiểm chuyển một phần trách nhiệm đã chấp nhận với người được bảo hiểm cho người bảo hiểm khác bằng cách nhượng lại cho họ

một phần phí bảo hiểm qua hợp đồng tái bảo hiểm

3.1.2 Các hình thức bảo hiểm nông nghiệp

3.1.2.1 Bảo hiểm truyền thống

a) Dựa trên sự thiệt hại hay một hiểm họa xác định (Damage-based/

Trang 36

Đây là mô hình vẫn còn được sử dụng rộng rãi trên khắp thế giới Mức bảo hiểm được xác định bằng với tổn thất thực tế có được từ kết quả Những điển đáng lưu

ý của mô hình này:

Kết quả tổn thất từ hiểm họa được khoanh vùng; (ví dụ như tổn thất do hạn hán,

lũ lụt, mưa đá…);

Rủi ro có mức tương quan thấp trên một khu vực đã được định sẵn; (không có nhiều rủi ro được xác định);

Mức bảo hiểm được chấp nhận khi điều khoản đã được chi trả;

Mức điều chỉnh thấp và sự bồi thường thực tế được tính toán trên phần trăm thiệt hại sau khi chịu sự tác động của hiểm họa;

Mô hình bảo hiểm này không phù hợp với những hiểm họa có ảnh hưởng trên diện rộng như hạn hán, vật phá hoại, dịch bệnh

b) Dựa trên sản lượng như là Bảo hiểm đa rủi ro – Multi-peril Crop Insurance (MPCI)

Những sản phẩm bảo hiểm đa rủi ro mang đặc tính bảo hiểm phục vụ cho một mức độ sản lượng được kỳ vọng, đúng hơn là thiệt hại được đo lường sau một sự kiện xác định Những điểm đáng lưu ý là:

Những đơn bảo hiểm đa hiểm họa thích hợp với những hiểm họa tự nhiên, nghĩa

là tổn thất do cùng một lúc nhiều hiểm họa gây ra cho nên sẽ khó mà đo lường tổn thất chỉ do một hiểm họa trong trường hợp này;

Loại hình bảo hiểm này phù hợp với những hiểm họa ảnh hưởng trên một khoảng thời gian;

Sản lượng trong quá khú của nông dân cung cấp những xác định cơ bản về phần trăm thiệt hại sau khi hiểm họa xảy ra;

Sản lượng được tính toán trên vụ thu hoạch; sản lượng được bảo hiểm có thể nằm trong khoảng 50 đến 70% sản lượng trung bình trong quá khứ;

Sự sụt giảm sản lượng có thể được xác định trên một diện tích hoặc là cá nhân một nông dân tiêu biểu nào đó

Trang 37

3.1.2.2 Sản phẩm bảo hiểm mới

Bảo hiểm vi mô - Bảo hiểm theo chỉ số (Index-based Insurance)

Bảo hiểm vi mô là các sản phẩm phân bổ và giảm thiểu rủi ro liên quan đến chi phí, điều khoản, mức hỗ trợ và kênh phân phối được thiết kế một cách phù hợp cho thị trường có thu nhập thấp Bảo hiểm vi mô hướng đến đối tượng chủ yếu là nông dân, những người có thu nhập thấp Bảo hiểm vi mô đang được nông dân các nước có nền sản xuất nhỏ lẻ ưu chuộng Việc phát triển loại hình bảo hiểm vi mô giúp tiết kiệm tối

đa chi phí để quản lý, giám sát cùng với sự linh hoạt trong thu phí, bồi thường thiệt hại

ở mức độ nhỏ cho các hộ nông dân Ưu điểm của bảo hiểm vi mô là được bán cho người có thu nhập thấp, đặc biệt là nhóm học vấn thấp và nếu cần sàng lọc thì cũng không quá tốn kém và phức tạp Loại bảo hiểm vi mô có nhiều khách hàng tiềm năng nhưng cũng cần có khung pháp lý phù hợp để có thể triển khai các sản phẩm cụ thể

Bảo hiểm theo chỉ số được một số quốc gia trên thế giới áp dụng từ khoảng đầu những năm 1990, đã nhanh chóng được nhân rộng và trở thành hình thức bảo hiểm đắt khách Bảo hiểm theo chỉ số là dịch vụ bảo hiểm trong đó việc bồi thường được thực hiện dựa trên một chỉ số độc lập, khách quan được thiết kế làm trung gian phản ánh chính xác mức độ thiệt hại Các chỉ số có thể được bảo hiểm là: mưa, nhiệt độ, mực nước, sông, tuyết; bảo hiểm diễn ra khi vượt qua một ngưỡng đã được định trước

Bảo hiểm chỉ số khắc phục được những nhược điểm của bảo hiểm truyền thống,

đó là quy định mức bồi thường tương ứng với các chỉ số mà không cần tiến hành giám định để xác định mức độ thiệt hại của từng cá nhân Mức độ bồi thường được tính trên

cơ sở năng suất bình quân chung nhiều năm của cả vùng hay tiểu vùng sinh thái

Ưu điểm của mô hình này là khả năng rủi ro về đạo đức khá thấp vì căn cứ để xét bồi thường là chỉ số khách quan , không phụ thuộc vào ý muốn và hành vi chủ quan của con người Đồng thời, giảm chi phí quản lý chi phí giao dịch thấp, tránh được tình trạng trục lợi bảo hiểm Với cấu trúc linh hoạt của bảo hiểm chỉ số thì nông dân dễ dàng nhận được bồi thường nếu chẳng may rủi ro xảy ra

Bên cạnh những thuận lợi, thì hình thức bảo hiểm theo chỉ số cũng có một số khó khăn nhất định xuất phát từ đặc trưng của loại hình bảo hiểm này, là tính rủi ro đồng nhất, có tính tích tụ và hàng loạt, tức là doanh nghiệp phải lường trước khả năng

Trang 38

nông dân thì nếu không lựa chọn đúng yếu tố thời tiết như mưa, nhiệt độ để mua bảo hiểm thì có thể sẽ gặp khó khăn trong nhận bồi thường nếu rủi ro xảy ra Chính vì thế

mà việc lập bản đồ chi tiết vùng rủi ro đồng nhất rất quan trọng

Chương trình bảo hiểm theo chỉ số được triển khai tại một số nước:

Ấn Độ: Hợp đồng bảo hiểm theo chỉ số được bán cho nông dân từ năm 2003, với trên 1 triệu hợp đồng

Mexico: Chính phủ nước này mua hợp đồng bảo hiểm chỉ số trên lượng mưa, nhiệt độ, sức gió và động đất

Ethiopia: Quỹ chương trình lương thực thế giới đã mua bảo hiểm chỉ số để tài trợ bất thường trong trường hợp thiếu thực phẩm liên quan đến hạn hán

3.1.3 Lựa chọn ngược (Adverse selection)

Lựa chọn ngược phát sinh khi người được bảo hiểm chỉ dựa trên thông tin dẫn

đến kết quả thiệt hại Trong bảo hiểm nông nghiệp, lựa chọn phát sinh khi:

Nhóm nông dân có rủi ro cao hoặc có lối canh tác lạc hậu là tham gia, còn những nông dân kỳ vọng chắc chắn vào sản phẩm của mình thì lại không tham gia;

Nông dân mua chỉ mua bảo hiểm cho những cây trồng và sản phẩm có rủi ro cao,

ví dụ bảo hiểm cho cây trồng tại các vùng dễ xảy ra lũ lụt

3.1.4 Hợp đồng trang trại (Contract farming)

Hợp đồng trang trại là được thự hiện theo thỏa thuận giữa người thu mua và nông dân, trong đó các điều khoản được thiết lập đối với việc sản xuất và marketing sản phẩm nông nghiệp Thông thường, người nông dân đồng ý cung cấp số lượng sản phẩm cụ thể nào đó, đạt được tiêu chuẩn chất lượng và thời hạn giao hàng mà bên mua đưa ra Đổi lại, người mua cam kết sẽ mua sản phẩm, thường là tại một mức giá được định trước Trong một vài trường hợp, người thu mua cũng cam kết hỗ trợ việc sản xuất, ví dụ như việc làm đất, cung cấp các thiết bị kỹ thuật hay vận chuyển sản phẩm đến nơi thu mua Một thuật ngữ thường được dùng để diễn tả hợp đồng trang trại chính

là “out-grower schemes” theo đó nông dân được liên kết với một trang trại lớn hoặc nhà máy chế biến để hỗ trợ lập kế hoạch sản xuất, cung cấp đầu vào, tư vấn mở rộng

sản xuất và giao thông vận tải (Wikipedia.com)

Một trong các phương thức được biết đến và hiện đang trở nên phổ biến tại nhiều nước đang phát triển hiện nay (Ấn Độ, Thái Lan, Philippines, Trung Mỹ…) là

Trang 39

“hợp đồng trang trại” HĐTT có thể hiểu như một “liên kết giao dịch nội bộ” giữa người trồng cây và người thu mua nông sản, cả hai bên (người bán và người mua) đều

có chung một mối quan tâm về tài chính có liên quan đến số lượng lẫn chất lượng của

vụ thu hoạch – “mối quan tâm có thể bảo hiểm được”

Trên khía cạnh phân tích kinh tế thì hợp đồng trang trại có liên hệ mật thiết với bảo hiểm cây trồng Bởi vì, có thể xem xét việc người nông dân mua bảo hiểm cây trồng như là một điều khoản cần thiết trong hợp đồng trang trại Hoặc chính người thu mua cũng có thể tự bảo hiểm cây trồng để đảm bảo cho các sản phẩm (ngay khi chưa thu hoạch) khỏi các rủi ro bất ngờ

3.1.5 Quản trị bảo hiểm cây trồng

Quản trị bảo hiểm cây trồng là một nghiệp vụ có nhiều giai đoạn Bao gồm: nhận dạng thị trường; phát triển sản phẩm; marketing; thiết lập bồi thường và mức phí bảo hiểm; thu phí và xử lý khiếu nại Mục tiêu trên hết trong việc thiết kế kết cấu quản trị và thủ tục chính là nền tảng để giảm chi phí Các giai đoạn khác nhau trong quản trị bảo hiểm cung cấp các phạm vi kinh tế giúp cho quá trình bảo hiểm đạt hiệu quả cao nhưng lại tiết kiệm chi phí (A.R.J Roberts, 2005)

1 Nhận dạng thị trường

Đây là một giai đoạn quan trọng bởi vì việc mua bảo hiểm làm tăng chi phí lên trước cho người trồng Chính vì thế mà những lợi ích của việc mua bảo hiểm phải rõ ràng, cẩn thận với bất cứ sản phẩm bảo hiểm nào được đề xuất triển khai Khi vai trò của sản phẩm bảo hiểm cây trồng đã thiết lập được niềm tin nơi khách hàng, thì phải càng chú ý đến quá trình cân nhắc lợi ích và chi phí của cả hai bên tham gia – người được bảo hiểm và nhà bảo hiểm Cách tốt nhất để nhận dạng thị trường là xác định những điểm mà tại đó rủi ro tài chính trong một loại hình kinh doanh có thể xảy ra, và kiểm tra xem liệu bảo hiểm cây trồng có thể trở thành một cơ chế chia sẽ rủi ro về kinh

tế tài chính có thể áp dụng được hay không Trong thị trường nông nghiệp, khả năng thu thập thông tin cụ thể về sản xuất của người nông dân là đặc biệt có ý nghĩa, vì dựa trên dữ liệu thống kê có khả năng đánh giá chính xác cao có thể đưa đến các giao dịch

về hợp đồng bảo hiểm liên quan

Trong giai đoạn này quan trọng nhất là xác định doanh nghiệp hay tổ chức nào

Trang 40

tác xã của nông dân được thành lập để xử lý bảo hiểm Cho dù ai sẽ tham gia bảo hiểm

đi nữa thì cũng có bắt đầu với một số hoạt động như sau:

Đào tạo đội ngũ nhân viên cho bảo hiểm;

Thiết kế hệ thống cần thiết để xử lý thông tin liên quan đến phí bảo hiểm và khiếu nại;

Phát triển sản phẩm là một nhiệm vụ đòi hỏi chuyên môn cao gồm kiến thức cụ thể về nông nghiệp kết hợp với sự đánh giá một cách hoàn hảo các nguyên tắc trong hoạt động bảo hiểm Đây là giai đoạn khá tốn kém và đòi hỏi cần có sự giúp đỡ của nhiều thành phần đặc biệt là các tổ chức bảo hiểm quốc tế có kinh nghiệm

Cực kỳ thận trọng và thẳng thắn công khai trong đánh giá thiệt hại và xử lý khiếu nại;

Giải quyết nhanh chóng các khiếu nại

Ngày đăng: 28/02/2019, 10:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w