Nội dung của đề tài: “Nghiên cứu kỹ thuật ghép nêm trên cây Móng bò tím Bauhinia grandiflora J, Móng bò trắng Bauhinia acuminata L, Móng bò đỏ Bauhinia grandiflora J và chiết cây Móng b
Trang 1KHOA LÂM NGHIỆP
======
LÊ ĐÌNH THÀNH
NGHIÊN CỨU KỸ THUẬT GHÉP NÊM TRÊN CÂY MÓNG
BÒ TRẮNG (Bauhinia acuminata L),MÓNG BÒ TÍM (Bauhinia purpurea L), MÓNG BÒ ĐỎ (Bauhinia
grandiflora J ) VÀ CHIẾT CÂY MÓNG BÒ
TRẮNG VỚI CHẤT KÍCH THÍCH RA
RỄ Ở CÁCNỒNG ĐỘ KHÁC NHAU
LUẬN VĂN CUỐI KHOÁ KỸ SƯ CHUYÊN NGÀNH LÂM NGHIỆP
Trang 2KHOA LÂM NGHIỆP
======
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
NGHIÊN CỨU KỸ THUẬT GHÉP NÊM TRÊN CÂY MÓNG
BÒ TRẮNG (Bauhinia acuminata L), MÓNG BÒ TÍM
(Bauhinia purpurea L), MÓNG BÒ ĐỎ (Bauhinia
Giáo viên hướng dẫn: Th.S Trương Mai Hồng Sinh viên thực hiện:
Lê Đình Thành
Trang 3Lời cảm ơn!
Trân trọng biết ơn:
Ban giam hiệu trường Đại học Nông Lâm tp Hồ Chí Minh
Ban chủ nhiệm khoa Lâm nghiệp
Phòng đạo tạo cùng toàn thể quý thầy cô, cán bộ công nhân viên trường Đại học Nông Lâm Tp Hồ Chí Minh đã tận tình giảng dạy và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập
Xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc!
Đến cô Trương Mai Hồng - Giảng viên khoa Lâm nhgiệp đã tận tình chỉ dẫn tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn tốt nghiệp này
Anh Phan Văn Trọng cán bộ Vườn ươm khoa Lâm nghiệp đã tận tình tạo điều kiện cho tôi trong suốt thời gian làm đề tài tại vườn ươm
Cảm ơn toàn thể bạn bè đã giúp đỡ và động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện
đề tài
Trong quá trình thực hiện đề tài không thể tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được những lời khuyên và sự chỉ bảo của các thầy cô để rút kinh nghiệm cho những đề tài sau này
Thủ Đức
Tháng 6 năm 2007
Lê Đình Thành
Trang 4MỤC LỤC
Lời cám ơn i
Mục lục ii
Danh sách các bảng v
Danh sách các biểu vi
Tóm tắt vii
Summary viii
Chương 1 Mở đầu 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích của đề tài 2
1.3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2
1.4 Giới hạn đề tài 2
Chương 2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 4
2.1 Điều kiện tự nhiên tại thành phố Hồ Chí Minh 4
2.1.1 Về khí hậu 4
2.1.2 Về nhiệt độ 4
2.1.3 Về gió 4
2.1.4 Về ánh sáng 5
2.2 Vài nét lịch sử ngành cây cảnh 5
2.3 Giới thiệu về: Móng bò tím, Móng bò trắng, Móng bò đỏ 7
2.3.1 Móng bò tím (Bauhinia purpurea L) 7
2.3.2 Móng bò trắng (Bauhinia acuminata L) 8
2.3.3 Móng bò đỏ (Bauhinia grandiflora J) 8
2.4 Giới thiệu về phương pháp ghép cây 8
2.4.1 Khái niệm 8
2.4.2 Cơ sở khoa học của phương pháp ghép 9
2.5 Các phương pháp ghép cơ bản 10
2.6 Giới thiệu về kỹ thuật chiết cành 15
Trang 5Chương 3 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 19
3.1 Địa điểm, thời gian nghiên cứu 19
3.2 Vật liệu nghiên cứu 19
3.3 Điều kiện nghiên cứu 21
3.3.1 Điều kiện tại vườn ươm 21
3.3.2 Chế độ chăm sóc 21
3.4 Nội dung nghiên cứu 21
3.5 Phương pháp nghiên cứu 21
3.5.1 Thí nghiệm 1: Nghiên cứu kỹ thuật ghép nêm trên ba loài Móng bò 21
3.5.1.1 Bố trí thí nghiệm 21
3.5.1.2 Tiêu chuẩn chọn cành ghép và gốc ghép 22
3.5.1.3 Kỹ thuật ghép 25
3.5.2 Thí nghiệm 2: Nghiên cứu kỹ thuật chiết trên cây Móng bò trắng 25
3.5.2.1 Bố trí thí nghiệm 24
3.5.2.2 Kỹ thuật chiết 26
3.6 Phương pháp thu thập số liệu 27
3.6.1 Ghép cây 27
3.6.2 Chiết cành 27
3.7 Phương pháp tính toán và đánh giá 28
Chương 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 29
4.1 Kết qủa thí nghiệm và thảo luận ghép cây Móng bò 29
4.1.1 Tỷ lệ sống của các cành ghép sau 60 ngày ghép 29
4.1.2 Sinh trưởng đường kính trung bình (Dcm) của chồi ghép sau 60 ngày 32
4.1.3 Sinh trưởng chiều cao trung bình (Hcm) của chồi ghép sau 60 ngày 35
4.1.4 Sinh trưởng số lá trung bình của chồi ghép sau 60 ngày 37
4.2 Kết quả thí nghiệm chiết trên cây Móng bò 40
4.2.1 Tỷ lệ phần trăm (%) ra rễ của cành chiết 40
4.2.2 Kết quả sinh trưởng số rễ trên cành chiết sau 6 tuần 41
Trang 6Chương 5 Kết luận và kiến nghị 47
5.1 Kết luận 47
5.1.1 Kết quả ghép trên loài Móng bò 47
5.1.2 Kết quả chiết trên loài Móng bò trắng 48
5.2 Kiến nghị 48
Tài liệu tham khảo 50
Phụ lục 52
Phụ lục 1: Sơ đồ bố trí thí nghiệm theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên (CDR) 52
Phụ lục 2: Phụ lục hình ảnh 53
Phụ lục 3: Kết quả đo đếm ngoài thực địa 58
Trang 7DANH SÁCH CÁC BẢNG
Bảng 4.1: Tỷ lệ sống của cây sau 30 ngày ghép và sau 60 ngày ghép 30
Bảng 4.2: Phân tích tỷ lệ sống của cành ghép sau 60 ngày ghép 30
Bảng 4.3: Kết quả so sánh trung bình giữa các nghiệm thức 30
Bảng 4.4: Phân tích biến lượng sinh trưởng đường kính trung bình (Dcm) của chồi ghép ở các nghiệm thức sau 60 ngày 33
Bảng 4.5: Kết quả so sánh đường kính trung bình giữa các nghiệm thức 34
Bảng 4.6: Phân tích biến lượng sinh trưởng chiều dài trung bình (Hcm) của chồi ghép ở các nghiệm thức sau 60 ngày 35
Bảng 4.7: Kết quả so sánh chiều dài trung bình giữa các nghiệm thức 35
Bảng 4.8: Phân tích biến lượng về số lá trung bình của chồi ghép sau 60 ngày 38
Bảng 4.9: Kết quả so sánh số lá trung bình giữa các nghiệm thức 39
Bảng 4.10: Tỷ lệ phần trăm (%) ra rễ của cành chiết sau 60 ngày 41
Bảng 4.11: Phân tích biến lượng tỷ lệ % ra rễ của cành chiết sau 6 tuần 43
Bảng 4.12: Kết quả so sánh giữa các giữa các nghiệm thức 44
Bảng 4.13: Phân tích biến lượng chiều dài rễ sau 6 tuần chiết 45
Bảng 4.14: Kết quả so sánh giữa các nghiệm thức 45
Trang 8DANH SÁCH CÁC BIỂU
Biểu đồ 4.1: Tỷ lệ phần trăm (%) sống của cành ghép sau 60 ngày 30
Biểu đồ 4.2: Sinh trưởng đường kính trung bình (Dcm) của chồi ghép sau 60 ngày 33
Biểu đồ 4.3: Tăng trưởng chiều dài trung bình (Hcm) của chồi ghép sau 60 ngày 35
Biểu đồ 4.4: Sinh trưởng số lá trung bình của chồi ghép sau 60 ngày 38
Biểu đồ 4.5: Tỷ lệ phần trăm (%) ra rễ của các nghiệm thức 41
Biểu đồ 4.6: số rễ trung bình sau 6 tuần chiết 43
Biểu đồ 4.7: Chiều dài trung bình rễ của cành chiết sau 6 tuần 45
Trang 9TÓM TẮT
Đề tài đã được thực hiện tại vườn ươm khoa Lâm nghiệp trường Đại học Nông Lâm Tp Hồ Chí Minh Nội dung của đề tài: “Nghiên cứu kỹ thuật ghép nêm trên cây
Móng bò tím (Bauhinia grandiflora J), Móng bò trắng (Bauhinia acuminata L), Móng bò
đỏ (Bauhinia grandiflora J) và chiết cây Móng bò trắng với nồng độ khác nhau của chất
kích thích ra rễ” đã thu được những kết quả sau:
* Ghép cây: Chỉ thực hiện phương pháp ghép nêm
Tỷ lệ sống của cành ghép cao nhất khi ghép chéo 2 loài Móng bò trắng và Móng
bò tím với nhau, đạt 70-80% và thấp nhất khi ghép loài Móng bò đỏ với Móng bò trắng chỉ đạt 10%
Sinh trưởng đường kính trung bình khi ghép loài trắng lên gốc trắng là tốt nhất đạt 0,18cm Thấp nhất khi ghép Móng bò trắng với Móng bò đỏ, đạt 0,02cm
Chiều dài trung bình của cành ghép cao nhất khi ghép cùng loài: tím/tím là 17,55cm, trắng/trắng là 17,30cm Ghép khác loài thì chiều dài thấp hơn như: trắng/tím dài trung bình là 14,95cm và tím/trắng là 13,30cm Chiều dài thấp nhất khi ghép chéo Móng
bò đỏ và Móng bò trắng với nhau lần lượt là: 1,85cm và 4,20cm
Sinh trưởng số lá trung bình nhiều nhất khi ghép trắng/trắng, tím/tím cùng đạt: 7 –
8 lá, ít nhất đỏ/trắng và ngược lại là: 1 – 2 lá
* Chiết cây: Chỉ thực hiện trên loài Móng bò trắng
Cành chiết có tỷ lệ ra rễ cao nhất khi sử dụng IBA 0,5% dạng dung dịch, đạt 91,67%; còn khi sử dụng NAA 0,1% đạt tỷ lệ ra rễ thấp )58,33%) Tuy nhiên trường hợp không sử dụng chất kích thích thì tỷ lệ ra rễ vẫn đạt 41,67%
Số lượng rễ trung bình của cành chiết sau 6 tuần khi sử dụng IBA 0,5% là nhiều nhất, đạt: 172 cái, ít nhất là IBA 0,1%: 54 cái Và ở đối chứng là 41 cái
Còn chiều dài trung bình của rễ dài nhất với IBA 0,5%, đạt 8,50cm và thấp nhất là NAA 0,1% là 5,40cm Khi không sử dụng chất kích thích là 3,20cm
Trang 10SUMMARY
This study carried out at the nursery of faculty of Forestry of Nong Lam University Tiltle: “Researching grafting technology on Purple – flower bauhinia, White – flower bauhinia, Red – flower bauhinia and White – flower bauhinia with using stimulant at the different levels” Result got as below
* About grafting
Percentage of living rate of grafting branches was max when grafting crossing White – flower bauhinia and Purple – flower bauhinia, got 70 – 80% and got value min when grafting crossing Red and Purple – flower one was only 10%
Growth of average diameter got max when grafting white one on the stock of white one, result was 0,18cm Result was min 0,02 cm when grafting white one on the stock of red – one
Average height of grafting branches wax max 17,55cm when grafting different species, average height got lower as White – flower bauhinia on purple one and Purple – flower bauhinia on white one Lowest height when grafting crossing red one and white one got 1,85cm and 4,20cm
Numbers of leaves grown max when grafting branches of Purple – flower bauhinia
on the stock of purple one (7 – 8 leaves) and branches of white one on the stock of purple one (7- 8 leaves); number of leaves grown min when one and opposite (1 – 2 leaves)
Result showed we should use Purple – flower bauhinia to make grafting stock It gor high effect
* Layering: Only applied for White – flower bauhinia
Rate of percentage of making roots of layering branches with IBA 0,5% is max, got 91,67% When using NAA 0,1%, it got 58,33% Without using stimulant, rate of percentage with compared factor got 41,67%
Average number of root of layering branches after 6 weeks with using IBA 0,05% got max.: 172 roots, got min 54 roots with IBA 0,1% And 41 roots was result of using
Trang 11Average length of roots got max with IBA 0,5% (8,50cm) and got min NAA 0,1% (5,40cm) When not using stimulant, this result was 3,20cm
Generally, when layering White – flower bauhinia, we should use IBA 0,5%.l
Trang 12Dân số thế giới ngày càng tăng, cơ sở hạ tầng phát triển một cách nhanh chóng, diện tích những khu rừng nguyên sinh, thứ sinh, những mảng xanh đô thị… ngày càng bị thu hẹp, thay vào đó là những khu chung cư, biệt thự, phân xưởng sản xuất ngày một nhiều… làm môi trường sinh thái ngày một ô nhiễm nghiêm trọng Để khắc phục và giải quyết tình trạng đó việc bảo vệ và tạo ra mảng xanh thay thế là một trong những vấn đề hết sức cấp bách trong tình hình hiện nay, đặc biệt là mảng xanh đô thị Mảng xanh đô thị không những làm đẹp thêm kiến trúc đô thị mà còn góp phần quan trọng vào việc điều hòa khí hậu, lọc không khí, giảm bớt khói bụi và ô nhiễm, tiếng ồn…
Những mảng xanh đô thị có thể được phát triển từ việc tận dụng ngay những khoảng không gian chật hẹp như: vẻ hè, sân nhà… để trồng những loại cây lớn nhanh chiếm ít không gian vừa cho bóng mát vừa cho hoa đẹp
Bên cạnh phát triển mảng xanh góp phần cải thiện môi trường đô thị thì nhu cầu thưởng ngoạn thiên nhiên, cây cảnh cũng đóng vai trò hết sức quan trọng trong đời sống văn hoá tinh thần của người dân Trước kia khi kinh tế còn nghèo việc quan tâm đến cây cảnh của người dân còn ít Ngày nay khi đời sống vật chất và tinh thần của con người ngày một nâng lên rõ rệt thì những đòi hỏi về giải trí tinh thần, về việc thưởng thức cái đẹp cũng ngày một cao hơn Cây cảnh không chỉ được trồng ở các công viên, khuôn viên
mà còn được trưng bày trong những chậu nhỏ, trên các ban công
Trang 13Với những lý do đó và để đóng góp thêm vào kho tàng nghiên cứu về cây cảnh hiện nay, được sự đồng ý của khoa Lâm nghiệp trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh và dưới sự hướng dẫn của cô Trương Mai Hồng, tôi đã thực hiện đề tài:
“Nghiên cứu kỹ thuật ghép nêm trên loài Móng bò trắng (Bauhinia acuminata L), Móng
bò tím (Bauhinia purpurea L), Móng bò đỏ (Bauhinia grandiflora J) và chiết cây Móng
bò trắng với nồng độ khác nhau của chất kích thích ra rễ” tại vườn ươm khoa Lâm Nghiệp, trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh
1.3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
+ Đánh giá tỷ lệ sống và sinh trưởng của cành ghép thông qua các chỉ tiêu: đường kính, chiều dài, số lá trên cành ghép
+ Tìm được nồng độ IBA và NAA thích hợp cho việc tạo rễ cành chiết
+ Đánh giá quá trình hình thành rễ của cành chiết thông qua tỷ lệ cành ra rễ, số lượng rễ, chiều dài rễ của cành chiết
Trang 14Chương 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1 Điều kiện tự nhiên tại thành phố Hồ Chí Minh
2.1.1 Về khí hậu
Theo số liệu đo đếm gần 100 năm của trạm khí tượng Tân Sơn Nhất (1995) thì TP.HCM là khu vực nhiệt đới gió mùa cận xích đạo có hai mùa rõ rệt: mùa mưa bắt đầu tháng 5, kết thúc tháng 11 dương lịch, mùa khô bắt đầu tháng 12 kết thúc tháng 4 năm sau
Lượng mưa bình quân: 1949mm/năm
Lượng mưa năm cao nhất: 2781mm (1908)
2.1.3 Về gió
Khu vực này chịu ảnh hưởng của hai loại gió chính:
Tây tây nam: (gió mùa Tây Nam) thổi vào mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 Thường thổi mạnh nhất vào tháng 7 – 8 và gây ra mưa
Bắc – Đông Bắc: Thổi vào mùa khô, từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, thổi mạnh vào tháng 2 – 3 , làm tăng lượng bốc hơi
2.1.4 Về ánh sáng
Số giờ nắng bình quân khoảng 2,286 giờ, do đó mỗi ngày khoảng 6 giờ nắng tuỳ
Trang 15Lượng bốc hơi tương đối lớn khoảng 1,399 mm/năm Vì vậy, bình quân lượng mưa trong mùa mưa là 3mm/ngày
vẽ một cái chậu viền tròn, trong có trồng cây hoa, chậu được đặt trên bàn hình vuông, chậu và bàn tạo thành thế tam vị, đây chính là mô hình đầu tiên của chậu cây cảnh
Đời Đường (618 – 907 năm sau công nguyên) là thời kỳ cực thịnh của chế độ phong kiến Trung Quốc, nghệ thuật cây cảnh phát triển khá mạnh mẽ Năm 1927, tại Cân Lăng - Thiển Tây, người ta đào thấy trên bức tường phía Đông hành lang ngôi mộ của thái tử Chương Hoài có vẽ một nàng hầu hai tay bưng một chậu cảnh, trong chậu có núi giả cây nhỏ Nhà thơ nổi tiếng đời Đường là Bạch Cư Dị có rất nhiều bài thơ viết về cây cảnh (Vương Lộ Xương, 2002)
Đời Tống (960 – 1279 năm sau công nguyên) nghệ thuật hội hoạ phát triển đến mức chưa từng có, người ta bắt đầu vận dụng lý luận hội hoạ vào trong nghệ thuật cây cảnh Cây cảnh đã chia làm hai loại rõ rệt là chậu cây cảnh và cây cảnh non bộ Trong bốn bức hoạ “Thập bát đại học sỹ đồ” (tranh về 18 vị học sỹ), thời Tống cất giữ trong cố cung,
có hai bức tranh đều vẽ cảnh cây Tùng, nó có dáng “cành cây ngã ngửa, mảnh như sợi kẽm cong, gốc già trên mặt đất, thân vảy, đương nhiên là đã có vài trăm năm”
Đời Nguyên (1271 – 1368) người ta làm cho cây nhỏ Cao tăng Vấn Thương Nhân vân du bốn phương, ông đi khắp các ngọn núi dòng sông nổi tiếng, ông mô phỏng theo tự nhiên để chế tạo cây cảnh, ông rất giỏi làm “ta tử cảnh” (cây cảnh nhỏ) đầy thi vị và hoạ
ý Định Hạc Niên, nhà thơ người dân tộc vào cuối thời Nguyên cũng làm rất nhiều thơ tả
về cây cảnh nhỏ (Vương Lộ Xương, 2002)
Đời Minh (1386 – 1644) vào thời này các nhà thơ viết rất nhiều tác phẩm miêu tả
Trang 16cây cảnh đặt sân nhà và ở nhà thuỷ tạ Lúc này, cây cảnh đã được phân chia theo phong cách của cây cảnh và địa vị của người chơi cảnh
Đời Thanh (1944 - 1911): Nghệ thuật cây cảnh đã có bước phát triển rõ rệt, hình thành những hình thức mới đa dạng và phong phú, đồng thời chia các loại thực vật cây cảnh thành: “tứ đại gia”, “thất hiền”, “thập bác học sĩ” và “hoa thảo tứ mã”
+ Tứ đại gia là kim tước, hoàng dương, nghênh xuân, nhung châm bách
+ Thất hiền là tung hoành sơn, bách anh lạc, cây du, cây phong, đông thanh, ngân hạnh tước mai
+ Thập bát học sĩ là bách đào, hổ thích, cát khánh, cầu kỷ, đỗ quyên, thuỷ bách, tử
vi, mộc qua, lạp mai, thiên trúc, sơn trà, tùng la hán, hải sương tây phủ, trúc đuôi phượng, thạch lựu, lục nguyệt tuyết, hoa dành dành
+ Hoa thảo tứ mã là lan, cúc thuỷ tiên, xương bồ
Cuối đời Thanh do bị chủ nghĩa đế quốc xâm lược và nội chiến, chiến tranh kéo dài khiến cây cảnh dần dần bị suy thoái
Sau khi nước Trung Quốc được thành lập, nhà nước đã có chính sách bảo hộ và phát triển các di sản văn hoá, điều này đã thổi lên sức sống nghệ thuật cây cảnh Kế thừa, phát huy sáng tạo bộ môn nghệ thuật lâu đời này thông qua các hoạt động giao lưu nghệ thuật, triển lãm trong và ngoài nước, các cơ quan xí nghiệp, trường học, thậm chí các gia đình cũng tạo phong trào trồng cây cảnh, nghệ thuật cây cảnh đã bước vào thời kì “trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng” (Vương Lộ Xương, 2002)
2.3 Giới thiệu về: Móng bò tím, Móng bò trắng, Móng bò đỏ
Các mô tả ở phần này theo tài liệu của Nguyễn Thượng Hiền (2002) - Thực vật rừng - Tủ sách trường Đại học Nông Lâm Tp Hồ Chí Minh; Lê Quang Long (2004) - Từ điển tranh về các loài cây – Nhà xuất bản giáo dục
2.3.1 Móng bò tím (Bauhinia purpurea L)
Tên Việt Nam: Móng bò tím
Họ: Đậu (Fabaceae)
Bộ: Đậu (Fabales)
Trang 17Cây gỗ vừa, cao 2 – 6m, nhành non có lông, lá to, ít hoa, hoa to thơm màu đỏ tươi với sọc đỏ đậm Nhị sinh sản 3 – 4, nhị lép 5 – 6 Bầu có lông, quả đậu dẹp, dài 15 – 25cm, rộng 2cm, hạt 12 – 15mm, rộng 12 – 13mm Ra hoa quả quanh năm
Là loài cổ nhiệt đới nhưng không gặp mọc hoang ở Đông Nam Châu Á Được trồng ở các vùng nhiệt đới làm cây cảnh Ta thường trồng ở vùng đồng bằng vì cây cho hoa to và đẹp
Công dụng: Tại Ấn Độ, vỏ dùng trị kỵ, hoa gây sổ Ở Lào, rễ được dùng trị bệnh sốt Cây có dáng đẹp thích hợp trồng làm cảnh trên các đường phố
Cây cho hoa đẹp, nở hoa quanh năm, được ưa chuộng trồng ở vườn hoa, công viên, trong vườn làm cây phong cảnh cho các công trình kiến trúc
Cây trồng bằng hạt, ươm gieo ở vườn ươm bằng bầu, sau một năm đem trồng ở nơi
cố định, cần có đất tốt, đủ nước và đủ ánh nắng Cây ít đòi hỏi chăm sóc
Phân bố ở Ấn Độ tới Indonexia và Philippin Ở nước ta thường thấy trồng ở vùng đồng bằng, ít gặp mọc hoang Hạt thu hái quanh năm
Tại Java, nước chiết ở rễ dùng uống trị ho Ở Ấn Độ, lá dã ra dùng đắp trị loét mũi Còn ở Lào, rễ cũng dùng để làm thuốc
2.3.3 Móng bò đỏ (Bauhinia grandiflora J)
Còn gọi là Ban đỏ
Họ: Đậu (Fabaceae)
Bộ: Đậu (Fabales)
Trang 18Cây nhỏ cao từ 2 – 6 m, cành non có lông Lá to có 2 thuỳ đặc sắc trông giống như hình móng trâu, bò in trên mặt đất Ra hoa vào mùa xuân, hoa to có cánh màu đỏ tươi với các sọc màu đỏ sậm trên lá có mùi thơm Quả dẹt, được trồng để lấy bóng mát, làm cảnh
2.4 Giới thiệu về phương pháp ghép cây
Khái niệm và phương pháp ghép cây theo: Kỹ thuật ghép cây ăn quả (2004) – Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn – nhà xuất bản Trẻ
2.4.1 Khái niệm
Ghép cây là phương pháp nhân giống, theo đó, người ta lấy từ một hoặc nhiều cành
từ cây mẹ, giống tốt, đang sinh trưởng, phát triển mạnh, những phần như đoạn cành, khúc
rễ, mầm ngủ … rồi nhanh chóng và khéo léo lắp đặt vào vị trí thích hợp trên cây khác, gọi
là gốc ghép Sau đó, chăm sóc để phần ghép và gốc ghép liền lại với nhau, tạo một cây mới Trong đó, cây gốc ghép thông qua bộ rễ có chức năng lấy dinh dưỡng trong đất để nuôi toàn bộ cây mới, còn phần ghép có chức năng sinh trưởng và tạo sản phẩm
* Ưu điểm của phương pháp ghép:
+ Khả năng duy trì giống tốt
+ Cây ghép mau ra hoa kết quả, sản lượng cao
+ Hệ số nhân giống cao tức là tính di truyền từ cây mẹ sang cây con cao
+ Tăng cường khả năng thích ứng với môi trường cho gốc ghép
+ Cứu chữa những cây hỏng gốc rễ
2.4.2 Cơ sở khoa học của phương pháp ghép
* Quá trình liền vết ghép
Khi bị tổn thương, cây có thể tự lành vết thương Ghép cây là tận dụng khả năng tự phục hồi của cây Khi ghép, đòi hỏi tầng sinh gỗ (mô phân sinh) trên mặt cắt của cây gốc ghép phải tiếp xúc với cành ghép, như vậy vết ghép mới mau liền lại để tạo thành 1 cây mới, tức là thao tác ghép phải chuẩn và đúng kỹ thuật
Khi cắt ngang 1 cành cây, ta thấy ngoài cùng là biểu bì rồi đến vỏ cành, tầng sinh
gỗ (mô phân sinh), trong cùng là lõi gỗ Tầng sinh gỗ liên tục phân chia cả hai phía: phía ngoài tạo ra lớp vỏ và phía trong tạo ra lõi gỗ Do vậy khi ghép, nếu 2 mặt tầng sinh gỗ của phần ghép và gốc ghép tiếp hợp với nhau chặt chẽ thì vết ghép mau liền và phần ghép
Trang 19sẽ sống Khi ghép yêu cầu mặt cắt của phần ghép và của gốc ghép nhất thiết phải thật nhẵn (tức là khi cắt phải dùng dao ghép rất sắc) và phải được áp thật chặt với nhau để cơ quan phục hồi vết thương của cả hai bên có thể nhanh chóng liền lại với nhau
Do vậy, khi ghép phải dùng dây quấn chặt phần ghép vào gốc ghép Thực chất, quá trình liền vết ghép diễn ra như sau: Khi ghép ở hai mặt của vết cắt hình thành một lớp mỏng, sau đó tầng sinh gỗ tăng trưởng nhanh, lấp đầy chỗ trống giữa mặt vết cắt (của phần ghép và gốc ghép) Từ đó màng mỏng bị huỷ hoại, các tổ chức mô tế bào của phần ghép và gốc ghép dần hoà hợp, gắn bó với nhau, hệ thống vận chuyển dinh dưỡng liên kết với nhau do tầng sinh gỗ tạo ra vỏ ngoài và gỗ phía trong và nối các mạch ống dẫn thực
sự được liên kết, thông suốt Lúc này, chồi ghép được cung cấp dinh dưỡng, nước và đầu sinh trưởng
Khi ghép mặt cắt của cành ghép kết hợp với mặt cắt của gốc ghép và bộ phận của cành ghép trên mặt gốc ghép phình to rất rõ và dần lớn lên, mặt cắt của gốc ghép được phủ
2.5 Các phương pháp ghép cơ bản
Căn cứ trên đề tài nghiên cứu khoa học: “Tìm hiểu kỹ thuật ghép cây Móng bò
trắng (Bauhinia acuminata L) với Móng bò tím (Bauhinia purpurea L); cây Ngũ sắc (Lantana camara L)” (2005) do nhóm Nguyễn Lê Nhung, Nguyễn Phú San, Nguyễn Hợp
Thái, Lê Đình Thành thực hiện mặc dù phương pháp ghép chắp có tỷ lệ sống cao nhất, đạt 50% và phương pháp ghép nêm có tỷ lệ sống thấp nhất, chỉ 10% nhưng nhận thấy sự khiếm khuyết về kiến thức chuyên ngành (Sinh lý thực vật, sinh thái rừng, đất lập địa,…), những khó khăn về khâu chăm sóc, chưa có kỹ thuật thao tác trên vật liệu ghép đặc biệt là phương pháp ghép nêm… Dựa trên những cơ sở có sẵn, những kinh nghiệm đã đúc kết được đồng thời bổ sung thêm nguồn vật liệu mới (Móng bò đỏ) Do đó đề tài quyết định chỉ chọn phương pháp ghép nêm để nghiên cứu sâu hơn
* Ghép nêm
Theo Trung tâm khuyến nông quốc gia (2004) – Sách hướng dẫn nông dân học và làm kỹ thuật ghép cây ăn quả – Nhà xuất bản Nông nghiệp, tái bản lần 2
Trang 20Cách này được phổ biến đối với cây ăn quả Trên mặt cắt ngang của gốc ghép, người ta dùng dao tách (chẻ) đôi rồi đặt cành ghép vào và buộc lại Có thể trên một mặt cắt như vậy ghép hai cành để tăng tỉ lệ sống
Nhược điểm của phương pháp này là thao tác phức tạp, cần nhiều dụng cụ Những cây có thớ gỗ không thẳng hoặc các cây già thì khó thực hiện
trở lên Nên ghép nêm ở độ cao 60 – 100cm, ở thân chính hoặc cành chính Thân gốc ghép to 3-6cm thì gốc ghép cách mặt đất 6 – 10cm
Các bước tiến hành
Cắt cành ghép: bỏ phần ngọn và các mầm yếu Cắt thành đoạn dài 6cm và giữ lại 3 mắt, nếu cành khoẻ thì giữ lại 2 mầm Tay trái cầm ngược cành ghép (hình 2.1), tại 2 cành bên của cành ghép, cách mầm chồi cuối cùng khoảng 0,5cm, cắt vát vào trong cành 1 đoạn dài 3 – 5cm, tạo thành cái nêm (hình 2.2) Độ dày của nêm phải vừa đủ để lắp vào vết tách của mặt gốc ghép; nếu dày quá thì gốc ghép sẽ có khe hở, cây ghép khó sống
Hình 2.1: Cắt cành ghép Hình 2.2: Mặt cắt cành ghép
Cắt gốc ghép: Dùng dao thật sắc cắt ngang thân tạo mặt cắt bằng phẳng, nhẵn Sau
đó chẻ tách mặt cắt theo đường kính đi qua tâm mặt cắt tạo ra miệng ghép Nếu mặt cắt có hình bầu dục, thì tách mịêng ghép theo đường kính ngắn Tách miệng ghép không nên quá sâu để tránh cho gốc ghép bị thương kéo dài Đặt dao lên mặt cắt rồi dùng búa gõ nhẹ
để tách 2 đường hình chữ thập (hình 2.3 và hình 2.4) Mỗi miệng ghép có thể cắm 1 – 2 cành ghép
Trang 21Hình 2.3: Bổ gốc ghép Hình 2.4: Mở miệng ghép
Cắm cành ghép: dùng một cái nêm cắm nhẹ vào miệng ghép trước khi cắm cành ghép (hình 2.5) Cắm xong cành ghép thì từ từ rút nêm ra Số cành ghép trên miệng tuỳ thuộc vào mặt cắt rộng hay hẹp, có thể 1, 2 hoặc 4 (hình 2.6) Khi cắm cành ghép không nên cắm ngập hết phần cắt mà để lộ 2 – 3mm ở phía trên để thuận lợi cho quá trình liền vết ghép
Trang 22Hình 2.5: Tách miệng vết ghép
Hình 2.6: Cắm cành ghép
Buộc: cắt 1 mảnh vải mỏng hình tròn có đường kính lớn hơn gốc ghép 6cm, khoét
1 hoặc vài lỗ tròn tương ứng với số cành ghép, phủ lên mặt cắt gốc ghép, các cành ghép chui qua các lỗ trên mảnh vải Sau đó, dùng dây nilon dài rộng 1,5mm để buộc
Tay trái phủ và giữ chặt mảnh vải lên trên gốc ghép, giữ chặt một đầu của sợi dây, tay phải giữ đầu dây còn lại, buộc dây chặt tại mặt cắt gốc ghép và nơi phủ mảnh vải để cành, gốc ghép và nơi phủ mảnh vải không xê dịch (hình 2.7) Làm như vậy để chống mất
Trang 23Hình 2.7: Buộc dây sau khi ghép
Nếu gốc ghép không lớn lắm, chỉ dùng một đoạn cành ghép, cũng có thể trực tiếp buộc dây nilon lên, buộc kín mặt gốc ghép Nếu gốc ghép tương đối lớn, cành ghép cắm tương đối chặt thì không cần buộc, chỉ phủ mảnh vải hoặc bôi sáp lên nơi tiếp hợp gĩưa cành ghép và gốc ghép (hình 2.8)
Trang 24Hình 2.8: Bôi sáp bảo vệ
Buộc dây nilon rộng 1 – 1,2cm, dài 15 – 30cm, quấn từ dưới lên trên vòng sau đè lên 1/3 vòng trước Có thể bịt kín mắt ghép nhưng sau 2 - 3 ngày phải để hở mắt, quấn thật cẩn thận không để nước vào chỗ hở
2.6 Giới thiệu về kỹ thuật chiết cành
Do sự hạn chế về nguồn vật liệu chiết (Móng bò đỏ và Móng bò tím), đồng thời tận dụng nguồn vật liệu (Móng bò trắng) có sẵn tại vườn ươm nên đề tài chỉ tiến hành nghiên cứu phương pháp chiết triên trên loài Móng bò trắng
2.6.1 Cơ sở khoa học về kỹ thuật chiết cành
Dựa theo đề tài nghiên cứu khoa học: “Thử nghiệm sử dụng một số vật liệu để
nhân giống cây Muồng hoàng yến (Cassia fistula L) bằng phương pháp chiết” (2005) do
nhóm Nguyễn Văn Chung, Nguyễn Minh Tuấn thực hiện
Khoảng nữa thế kỷ gần đây, người ta dùng phương pháp nuôi cấy mô để nhân giống vô tính Phương pháp này tạo rất nhiều cây con trong ống nghiệm nhưng khi đem chúng ra ngoài thiên nhiên thì chúng gặp nhiều khó khăn thích ứng với môi trường, đặt biệt là phong lan Dân gian ta thường sử dụng phương pháp giâm cành hoặc chiết cành, tức tạo ra rễ bất định: nhà khoa học gọi rễ bất định là những rễ xuất phát bất cứ từ nơi nào trên cơ thể thực vật ngoài rễ chính (Trần Văn Mão, 2002)
Trang 25Rễ bất định có thể khởi đầu từ nguồn gốc sâu (nội sinh), từ tầng phát sinh mộc, ví dụ: phong lan hoặc có thể từ biểu bì như lá sống đời Nhưng dù bắt nguồn sâu hay cạn, chúng cũng có các bước phát triển giống nhau, mà ta nghiên cứu dưới 3 khía cạnh: giải phẫu học, sinh lý và sinh học
* Khía cạnh giải phẫu học
Để hình thành rễ bất định trên cành chiết có sự chuyển hoá sinh lý, sinh hoá của cây qua các giai đoạn sau:
Giai đoạn 1: ở dưới đáy cành chiết có một nhóm tế vào đổi thành tế bào sinh mô:
chúng mất diệp lạp, nhân nhỏ dần, tế bào chất còn một lớp mỏng bao nhân Tế bào không còn hình dạng nhất định: chúng bị khử phân hoá Sau đó nhân lớn trở lại, tế bào chất đậm hơn Tế bào phân chia rất nhanh tạo một nhóm tế bào sinh mô lan dần ra tới lớp vỏ, tới libe ở dưới đáy cành, tới vùng phát sinh libe-mộc và chúng trở lại trạng thái sinh mô
Tượng rễ bất đầu từ tế bào mô, lớn dần ở vài điểm đối diện với libe-mộc, ví dụ: rau sam, hồng, tía tô… tương tự cũng xảy ra ở mô nuôi cấy, như tái sinh mô libe-mộc củ cà rốt Khối sinh mô có hình tròn giống như một đầu kim gút hình bán cầu được gọi là trường tượng thể (Champmorpho-génetique)
Lớp tế bào nhu mô bao quanh “đầu kim gút bán cầu” phân chia từng hàng và bắt đầu tổ chức rễ
Giai đoạn 2: Rễ tiền tạo ở dưới chân khối bán cầu tế bào kéo dài chia đôi theo
đường bán kính của cơ quan mẹ, tạo một trục trung tâm Lớp tế bào bao quanh phân vách tạo vỏ và biểu bì của khối sinh mô Phía chót đỉnh, tế bào phân vách tạo một chóp rễ, gọi
là rễ tiền đạo Cả khối cơ quan mẹ và tạo một rễ con
Tóm lại: Dưới khía cạnh giải phẫu học, ta có thể hiểu như sau: một vùng hẹp gồm
vài tế bào xây dựng rễ qua 2 giai đoạn:
Giai đoạn 1: tạo một khối tròn bằng đầu kim gút có vài hàng tế bào bao quanh
giống nhu mô vỏ và biểu bì Chân khối này kéo dài theo trục của chúng nằm rải rác quanh tầng libe-mộc
Giai đoạn 2: tạo tiền rễ Các tế bào kéo dài hướng theo đường kính cơ quan hoá
Trang 26* Khía cạnh biến dưỡng sinh học
Muốn tạo được rễ bất định cho toàn cơ thể thực vật hoặc thân, nhánh, lá phải tạo vật liệu xây dựng các tế bào, các mạch thành phần của tiền rễ Các vật liệu xây dựng là nước, glucid và prôtêin
Nước được hấp thụ vào từ lớp tế bào bao cơ quan hiện tượng thẩm thấu hoặc do hấp thu hoặc động
Glucid có do quang hợp từ các phần xanh của cơ thể chuyển đến vùng tượng thể, nơi đây có phản ứng tổng hợp vách tế bào
Protein: do tổng hợp nội tại, nơi có tượng thể Các nhà nghiên cứu chứng minh rằng P* và C* (*: phóng xạ) vào phản ứng tổng hợp protein mới ở vùng hoạt động
* Khía cạnh sinh học
Trên nguyên tắc thực vật nào cũng có thể chiết cành được Tuy nhiên có cây chiết
dễ, có cây lại chiết khó Điều này có thể được giải thích như sau: mỗi hiện tượng thay đổi hình thái trong chu trình sống như tạo rễ bất định chỉ xảy ra khi nào có một loạt phản ứng biến biến dưỡng (hô hấp, quang hợp, tổng hợp Protein…) Mỗi phản ứng do một enzym xúc tác Enzym có hiện hữu trong hoạt động hay không tuỳ thuộc vào các chất điều hoà sinh trưởng hiện diện trong tế bào Thông thường chúng được chia làm hai nhóm: chất kích thích và chất ức chế Trong giới thực vật có 5 chất điều hoà sinh trưởng: 3 kích thích
tố (Auxin, gibberelin, cytokinin) và 2 chất ức chế (Acid abscisic và ethylen) Chúng có thể
đo được bằng phương pháp sinh trắc nghiệm để giải thích ảnh hưởng của chúng cho sự tạo rễ bất định
chứa nhiều chất alkaloid và acid abscisic là chất chống lại gibberelin Muốn chiết hom tiêu phải nhúng nó vào gibberelin hay phun thêm lên lá hoặc chọn 1 hom dài 70 cm Các cây điều, cao su cũng cùng một trường hợp, rễ không dài ra vì gặp mũ hay nhựa ức chế giai đoạn 2, ta cẩn giữ cành điều hay cao su chiết này thật lâu trên cây mẹ để được tiếp tế thực phẩm trong khi tạo rễ bất định (Trần Văn Mão, 2002)
Trang 27Các chất điều hoà sinh trưởng thực vật thiên nhiên chỉ có hiệu quả khi hiện diện với nồng độ thích hợp Ngoài ra sự đối kháng ion cũng là một yếu tố ảnh hưởng tới hiệu quả hoạt động của chất kích thích (Trương Mai Hồng, 2005a), ví dụ: Auxin và gibberelin cũng tranh dành các vật liệu xây dựng như glucid, protein hay nước cho nên tỷ lệ auxin/ gibberelin cũng chuyên biệt cho từng giống cây
hoà của loài ta muốn nhân giống, phải đi vào thí nghiệm chúng có thể thực hiện tới giai đoạn nước, oxy, các chất cần thiết khác thường ta nên quét kỉ mối chiết và bầu thoáng khí
để có oxy mới, kết hợp ngăn chặn nấm mốc phát triển (Trần Văn Mão, 2002)
Trang 28Chương 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Địa điểm, thời gian nghiên cứu
Đề tài được thực hiện tại vườn ươm khoa Lâm Nghiệp, trường Đại học Nông Lâm Tp.Hồ Chí Minh
Đề tài bắt đầu nghiên cứu từ ngày 10/03/2007 Trong đó:
+ Ghép cây
- Thu thập số liệu, kết quả ghép từ ngày 29/03/2007 – 05/06/2007
+ Chiết trên loài Móng bò trắng
- Thực hiện chiết cây từ ngày 30/03/2007 – 10/04/2007
- Thu thấp số liệu, kết quả ghép từ ngày 11/04/2007 – 26/05/2007
+ Xử lý và viết báo cáo đến hết ngày 16/08/2007
3.2 Vật liệu nghiên cứu
Vật liệu để tiến hành ghép và chiết cành đều được trồng tại vườn ươm khoa Lâm Nghiệp trường Đại học Nông Lâm Tp Hồ Chí Minh
+ Ghép cây
Cây ghép 6 tháng tuổi có chiều cao từ 40 – 70cm được trồng trong túi bầu (túi bầu cao 25cm, rộng 20cm, giá thể trong túi bầu là tro trấu và sơ dừa), chọn những cây sinh trưởng tốt, không bị sâu bệnh để cắt cành ghép và làm gốc ghép
+ Chiết cây
những cành bánh tẻ khoẻ mạnh, không sâu bệnh, đang sinh trưởng và phát triển tốt
Trang 293.3 Điều kiện nghiên cứu
3.3.1 Điều kiện tại vườn ươm
+ Vật liệu:
- Tro trấu, túi bầu
+ Dụng cụ:
- Thau, xô, bình tưới, bông gòn, băng cao su non, bịch nilon,…
3.3.2 Chế độ chăm sóc
thường xuyên tưới nước Định kỳ một ngày 2 lần: sáng từ 6 – 8giờ, chiều từ 5 – 6giờ Nguồn nước tưới phải sạch
- Làm cỏ: bằng phương pháp thủ công với các dụng cụ thô sơ: dao nhọn, bay, tay… định kỳ 1 tháng/ lần
- Bón phân: Phun phân bón lá định kỳ 2 tuần/lần cho cây trong tưới bầu, đối với cây lớn trồng trực tiếp trong đất thì hoà tan phân NPK tưới vào gốc cây định kỳ 1 tháng/ lần
3.4 Nội dung nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu một số nội dung sau:
+ Nghiên cứu kỹ thuật ghép nêm trên ba loại gốc ghép khác nhau
+ Nghiên cứu ảnh hưởng của chất kích thích ra rễ ở các nồng độ: IBA 0,1%, IBA 0,5%, NAA 0,1%, NAA 0,5% và đối chứng tro trấu
3.5 Phương pháp nghiên cứu
3.5.1 Thí nghiệm 1: Nghiên cứu kỹ thuật ghép nêm trên ba loài Móng bò
3.5.1.1 Bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm được bố trí theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên (CDR), với 9 nghiệm thức (NT) cụ thể:
+ NT1 cành tím ghép lên gốc tím, kí hiệu: A
Trang 30cây được gieo trồng từ hạt cần một khoảng thời gian khá lâu mới ra hoa Do đó, để tăng thêm vẻ đẹp của cây (một gốc với nhiều màu hoa) và rút ngắn thời gian ra hoa thì ghép cây là phương pháp tốt nhất có thể khắc phục triệt để những nhược điểm trên Biện pháp ghép cây không những tạo ra các gốc ghép có tính thẩm mỹ cao (nhiều màu hoa, thế cây độc đáo…) đáp ứng được thú chơi cây kiểng mà còn mang lại giá trị kinh tế cao cho
người sản xuất
+ Yêu cầu về gốc ghép
- Chọn gốc ghép có đường kính vừa vặn với cành ghép
- Sinh trưởng, phát triển tốt, có sức chống chịu sâu bệnh
- Có nguồn gốc phong phú, dễ nhân giống và phát triển
- Đạt yêu cầu về sinh trưởng chiều cao và đường kính cho việc ghép cây
+ Yêu cầu về chồi ghép
Cành ghép có sức sống, sức sinh trưởng bình thường, không cong queo, không bị sâu bệnh và có những tiêu chuẩn sau:
- Cành ghép không quá già cũng không quá non và phải có độ hoá mộc hơn một nửa (Sách hướng dẫn nông dân học và làm kỹ thuật ghép cây ăn quả, 2004)
- Chiều dài cành ghép từ 5 – 7cm
Trang 31- Đường kính cành ghép từ 0,12cm trở lên để thuận tiện cho việc thao tác
- Trước khi lấy cành ghép nên cắt chấn ngọn để cho cành dừng sinh trưởng và tích
tụ chất dinh dưỡng, kích thích chồi ngủ phát triển, giảm sự thoát nước tăng tỷ lệ sống cho cành ghép
- Đường kính cành ghép nên bằng đường kính gốc ghép là đẹp
- Chồi trên cành ghép không bị lép hay bị tổn thương
Trong trường hợp thiếu vật liệu ghép có thể tiến hành giâm hom tạo vật liệu ghép các vật liệu ghép từ hom cũng phải đảm bảo các tiêu chuẩn trên
* Xử lý gốc ghép và chồi ghép trước khi tiến hành ghép
Khi bước vào giai đoạn ghép một tuần không nên tưới nước vào gốc ghép và cây lấy cành ghép, mục đích để lượng nhựa trong cây được đậm đặc tạo điều kiện thuận lợi cho việc liền vết ghép
Cắt cành ghép vào buổi sáng, trời khô ráo Cành ghép sau khi cắt xử lý rửa sạch, loại bỏ những cành có chất lượng xấu và bị sâu bệnh một lần nữa Sau đó tiến hành cắt bỏ bớt lá, mỗi lá để lại 1/3 lá, đối với những cành quá dài thì tiến hành cắt bỏ phần ngọn và phần gốc sao cho chiều dài của cành ghép đạt từ 5 – 8cm và phải có độ hoá mộc hoá hơn
loài trừ mầm bệnh và nấm mốc hại, rồi vớt ra rửa sạch bằng nước
Để tăng tỷ lệ sống của cành ghép có thể chấn ngọn cành ghép gốc ghép trước từ 2 – 3 ngày để cây tích tụ chất dinh dưỡng
3.5.1.3 Kỹ thuật ghép
* Chuẩn bị phương tiện, vật liệu ghép
Trước khi tiến hành ghép cần phải chuẩn bị các vật liệu sau:
- Chọn cây ghép và chồi ghép
- Thước mica kẻ li để đo
- Sử dụng dao, kéo phải sắc bén, lưỡi phải mỏng, ghế ngồi để tiện cho việc ghép
- Dùng băng keo để quấn vết ghép
Trang 32- Các dụng cụ ghép: dao, kéo, băng keo… phải được khử trùng trước khi ghép Kể cả tay cũng phải được khử trùng sạch sẽ và hạn chế việc tiếp xúc vết ghép với các vật có thể gây nhiễm trùng
* Tiến hành ghép: chọn phương án ghép nêm
Xác định vị trí ghép từ gốc trở lên cành là 10 – 15cm Sau đó dùng dao cắt bỏ phần cành tại điểm trên đi
Dùng dao cắt phần đầu cành khuyết sâu về gốc hình phễu hay hình chữ “V” hướng
về phía gốc, làm sao giữa phần gốc ghép và cành ghép phải khít vào nhau là được, điều lưu ý ở đây là phải tiến hành nhanh để cho nhựa của hai đầu ghép không bị khô Sau khi chồng cành ghép lên gốc ghép thì dùng băng keo cao su non quấn lại vết ghép, một tay quấn băng keo, một tay vừa giữ vừa nhấn cành ghép xuống phần gốc để khi quấn cành ghép đỡ tuột khỏi gốc ghép Sau khi dùng cao su non quấn lại vết ghép dùng hai tay xiết dây cho thật chặt để cành và gốc không những liền vết ghép nhanh chóng, mà cành ghép cũng không xê dịch được
* Chế độ chăm sóc
Khi thực hiện xong phần ghép phải nén chặt đất cho cây nhằm cố định rễ cho cây
vì trong quá trình ghép ta đã tác động vào cây có thể làm cho cây bị long gốc và rễ Sau
đó đặt cây vào nơi có mái che vì cây mới ghép để ngoài nắng sẽ làm cho cành ghép mau mất nước dẫn đến chết cành ghép
Sau khi ghép không nên tưới nhiều nước chỉ cần duy trì đủ ẩm là được khi tưới phải nhẹ nhàng nhằm cố định và nén chặt đất Khi tưới nên dùng thùng tưới có vòi phun nhỏ nhằm hạn chế xói mòn hỗn hợp ruột bầu, làm tróc gốc Trong quá trình chăm sóc cần thao tác nhẹ nhàng, tránh tác động mạnh đến cây ghép, hết sức hạn chế tác động vào vết ghép làm cho chỗ ghép có thể bị xê dịch Tránh không cho nước tiếp xúc thấm vào vết ghép
Sau khi ghép quan sát trong 2 tuần kể từ ngày ghép nếu thấy cành ghép vẫn không héo chồi ghép vẫn còn tươi thì coi như vết ghép đã thành công Khi cây lên chồi có thể tháo băng keo ra khỏi cành ghép, tạo điều kiện cho cành ghép phát triển dễ dàng Khi mắt ghép đã phát triển mạnh có thể dùng thêm thuốc để kích thích cây phát triển tốt
Trang 333.5.2 Thí nghiệm 2: Nghiên cứu kỹ thuật chiết trên cây móng bò trắng
+ Đối chứng tro trấu, kí hiệu: ĐC
+ Tro trấu + NAA 0,1%, kí hiệu: N1
+ Tro trấu + NAA 0,5%, kí hiệu: N2
+ Tro trấu + IBA 0,1%, kí hiệu: I1
+ Tro trấu + IBA 0,5%, kí hiệu: I2
Số lần lặp r = 3 lần Số mẫu cho một lần lặp là 4 mẫu
Tổng số mẫu 20 mẫu
3.5.2.2 Kỹ thuật chiết
* Chuẩn bị vật liệu trước khi chiết
Giá thể được dùng để tiến hành chiết là hỗn hợp tro trấu và sơ dừa Trong các giá thể này tồn tại nhiều loại ký sinh gây bệnh chúng thường tấn công vào vết thương của cành chiết do đó trước khi chiết phải tiến hành khử trùng giá thể (phun thuốc khử trùng, diệt nấm… sau đó phơi khô khử khuẩn)
* Chuẩn bị thiết bị chiết, vật liệu chiết
Chuẩn bị đầy đủ các loại vật liệu, vật dụng cần thiết như: bao nilon có đục lổ (thuận tiện cho việc thêm nước vào bầu chiết), dao cạo, kéo cắt cành, kéo cắt dây…
Chuẩn bị thuốc kích thích ra rễ IBA và NAA với các mức nồng độ: 0,1%, 0,5%, đối chứng (không sử dụng thuốc)
* Kỹ thuật cạo vỏ cành chiết
Trang 34Dùng dao sắc và sạch (đã qua xử lý tiệt trùng để hạn chế mầm bệnh), khoanh 2 vòng tròn trên cành cách nhau 10cm, cách gốc cành 10 - 15cm để thuận tiện cho việc thao tác, sau đó tách và cạo sạch lớp vỏ ngoài Dùng dao cạo thật kỹ lớp trong cho đến tận lớp
gỗ, chùi sạch phần nhựa tiếp giáp giữa phần vỏ với phần gỗ và để khô trong khoảng 1 - 2 giờ (tránh tình trạng cây vẫn tiếp tục dẫn dinh dưỡng nuôi cành và làm lành vết sẹo)
* Thao tác chiết cây
Dùng bông gòn thấm chất kích thích và bôi thành vòng tròn phía trên xung quanh vết cạo vỏ khoảng 2cm
Dùng nilon trong bọc giá thể quanh vết cạo, quấn dây buộc cố định hai đầu nilon, không để cho bầu chiết bị dịch chuyển, ảnh hưởng tới việc ra rễ của cành chiết
Hình 2.9 vị trí cạo vỏ và bôi thuốc trên cành chiết
* Chăm sóc cây chiết
Thường xuyên theo dõi độ ẩm của bầu chiết nếu thấy có hiện tượng thiếu nước phải tiến hành cung cấp nước thêm cho bầu
Cây chiết được để ở chỗ ít người qua lại và che chắn cẩn thận nhằm tránh những tác động như: va, quẹt, gió lay… làm gãy cành
3.6 Phương pháp thu thập số liệu
3.6.1 Ghép cây
Đếm tỷ lệ cành sống, chết sau các khoảng thời gian: 30 ngày, 60 ngày
Đo đếm các chỉ tiêu chiều dài, đường kính, số lá của chồi ghép sau 60 ngày ghép
Trang 353.6.2 Chiết cành
Đếm số cành ra rễ sau 3 tuần, 6 tuần
Đo đếm các chỉ tiêu: số rễ, chiều dài rễ sau 6 tuần bằng các dụng cụ như: thước kẻ
li, thước Palmer… bằng cách chọn ngẫu nhiên ở mỗi khối 1 cành chiết tiến hành đếm các chỉ tiêu: Số rễ (chỉ tính những rễ cái (rễ chính) có chiều dài >= 2cm), chiều dài rễ cái tính
từ gốc đến đầu rễ (cm) (chỉ đo chiều dài của những rễ chính)
Cách tính chiều cao và đường kính chồi ghép và số lá: Chỉ tính phần tăng trưởng thêm sau 60 ngày ghép, phần đầu đã được đo và trừ đi trong khi tính toán
3.7 Phương pháp tính toán và đánh giá
vật, Trương Mai Hồng (2005a) – Sinh lý cây rừng ứng dụng, Bùi Việt Hải (2000) – Bài giảng thống kê trong lâm nghiệp
3.7.1 Các công thức tính toán
+ Tỷ lệ cành ghép sống (S%) = (số cành sống/tổng số cành thí nghiệm) * 100 (1)
+ Tỉ lệ ra rễ C (%) = (Số cành ra rễ/tổng số cành của nghiệm thức) * 100 (2)
(Chỉ tính trên các rễ có chiều dài >= 2cm)
Kết quả phân tích phương sai (ANOVA) được xử lý trên phần mềm STATGRAPHICS 7.0 được trình bày trên bảng số liệu có cấu trúc như sau:
Nguồn biến
thiên
Tổng các bình Phương (SS)
Độ tự do(Df)
Tính toán bằng excel