Với mục tiêu là ứng dụng AHP xác định mức độ ưu tiên của các chỉ tiêu ảnh hưởng đến cây trồng, trên cở sở đó ứng dụng GIS xác định xây dựng bản đồ thích nghi cho từng lọai cây trồng.. C
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA LÂM NGHIỆP
VŨ MINH TUẤN
ỨNG DỤNG GEOGRAPHIC INFORMATION SYSTEM VÀ
ANALYTIC HIERARCHY PROCESS XÁC ĐỊNH SỰ THÍCH
NGHI CỦA THÔNG BA LÁ (Pinus kesya),THÔNG HAI LÁ
(Pinus merkusii), KEO LÁ TRÀM (Acacia auriculiformis)
TẠI HUYỆN DI LINH, TỈNH LÂM ĐỒNG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CUỐI KHÓA CHUYÊN NGÀNH LÂM NGHIỆP
Thành phố Hồ Chí Minh Tháng 08/2007
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA LÂM NGHIỆP
ỨNG DỤNG GEOGRAPHIC INFORMATION SYSTEM VÀ
ANALYTIC HIERARCHY PROCESS XÁC ĐỊNH SỰ THÍCH
NGHI CỦA THÔNG BA LÁ (Pinus kesya),THÔNG HAI LÁ
(Pinus merkusii), KEO LÁ TRÀM (Acacia auriculiformis)
TẠI HUYỆN DI LINH, TỈNH LÂM ĐỒNG
GVHD: Th.S Nguyễn Tấn Chung SVTH : Vũ Minh Tuấn
Thành phố Hồ Chí Minh Tháng 08/2007
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập tại trường và thực hiện luận văn tốt nghiệp, tôi nhận được sự giúp
đỡ của quý Thầy cô trường Đại học Nông Lâm Tp Hồ Chí Minh, Phân viện Quy hoạch và Thiết
kế Nông nghiệp, Phân viện khoa học Lâm nghiệp Đông Nam Bộ, gia đình và bạn bè Tôi xin tỏ lòng biết ơn chân thành đến:
Quý thầy cô trường Đại Học Nông Lâm
Quý thầy cô trong khoa Lâm nghiệp đã nhiệt tình truyền đạt kiến thức quý báu cho tôi trong suốt thời gian học tập tại trường
Quý thầy cô trong bộ môn Lâm sinh đã tạo điều kiện giúp đỡ cho em hoàn thành luận văn này
Thầy Nguyễn Tấn Chung đã nhiệt tình hướng dẫn trong thời gian thực hiện đề tài
Thầy Nguyễn Kim Lợi đã giúp đỡ tôi thực hiện đề tài này
Th.S Lê Cảnh Định (Phân viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp), Thầy đã cung cấp cho tôi những số liệu vô cùng cần thiết cho tôi thực hiện đề tài này
Các anh chị trong phòng Phát Triển Nông Thôn (Phân viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp) đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài này
Anh Nguyễn Thanh Bình (Phân viện khoa học Lâm nghiệp Đông Nam Bộ) đã cung cấp cho tôi tài liệu để hoàn thành luận văn nghiên cứu
GS.TS Hoàng Xuân Tý (Viện khoa học Lâm nghiệp Việt Nam) đã góp ý cho tôi hoàn thành
Trang 4TÓM TẮT
ỨNG DỤNG GIS VÀ AHP XÁC ĐỊNH SỰ THÍCH NGHI CỦA THÔNG BA
LÁ (Pinus kasya), THÔNG HAI LÁ (Pinus merkusii), KEO LÁ TRÀM (Acacia
auriculiformis) TẠI HUYỆN DI LINH, TỈNH LÂM ĐỒNG
Việc kết hợp ứng dụng GIS (Geographical Information System) và thuật tóan xác định trọng số AHP (Analytical Hierarchy Process) trong quy hoạch sử dụng đất ngày nay trở nên vô cùng cấp thiết, đặc biệt trong lĩnh vực lâm nghiệp Trong khuôn khổ của luận
văn tốt nghiệp đại học chuyên ngành lâm nghiệp chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu “Ứng
dụng công nghệ GIS và AHP xác định thích nghi của cây Thông ba lá (Pinus kasya), Thông hai lá (Pinus merkusii), Keo lá tràm (Acacia auriculiformis) tại huyện Di Linh,
Lâm Đồng” Với mục tiêu là ứng dụng AHP xác định mức độ ưu tiên của các chỉ tiêu ảnh
hưởng đến cây trồng, trên cở sở đó ứng dụng GIS xác định xây dựng bản đồ thích nghi cho từng lọai cây trồng Chúng tôi đã ứng dụng thuật tóan AHP nhằm xác định các trọng số của các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng của cây trồng (Lọai đất, Độ dốc, Độ cao, Độ dày tầng đất, Lương mưa) và kế thừa các tài liệu về tính thích nghi cho từ lòai cây của các tác giả đi trước để cho điểm trước khi đưa vào GIS nhằm kết xuất bản đồ thích nghi Chúng tôi đã tìm ra được các trọng số cho từng nhân tố như sau: Lọai đất (0.300); Độ dốc (0.250); Độ cao (0.164), Độ dày tầng đất (0.143) và Lượng mưa (0.143).Qua đó, chúng tôi nhận thấy Thông ba lá thì thích hợp với lượng mưa từ 1500 – 2000mm, độ dốc 0 – 150,
độ dày trên 70cm, độ cao trên 900m, thích hợp cho các loại đất phù sa, bazan., với Thông hai lá thì thích hợp tại lượng mưa ở lượng mưa trên 2000mm, nhưng khu vực nghiên cứu lượng mưa chỉ từ 1500 – 2000mm nên khu vực này kém thích nghi, độ dốc 0 – 150, độ dày trên 100cm, từ 300 - 900m, thích hợp cho các loại đất phù sa, bazan, với Keo lá tràm thì thích hợp với lượng mưa trên 2000mm, độ dốc 0 – 150, độ dày trên 100cm, độ cao dưới 300m, thích hợp cho các loại đất phù sa, bazan và đất xám Khu vực huyện Di Linh là khu
có địa hình tương đối cao nên khu vực này keo lá tràm phân bố rất thấp
Trang 5VU MINH TUAN 2007: USING GIS AND AHP TECHNIQUES FOR LAND USE
SUITABILITY ANALYSIS (Pinus kasya, Pinus merkusii AND Acacia
auriculiformis) IN Di Linh District – Lam Dong Province Bachelor of Science
(Forestry), Thesis Advisor: Nguyen Tan Chung M.Sc 63 pages
The analysis of land use suitability requires consideration of variety of criteria including not only natural/physical capacity of a land unit but also socio-economic and environmental impact implications While GIS has been a powerful tool to handle spatial data in land-use analysis, application of this tool alone could not overcome the issue of inconsistency in expert opinion when trying to judge and assign relative importance to each of many criteria considered in a suitability analysis To address this issue, the Analytical Hierarchy Process method is used in combination with the GIS tool The researchr presents how the integrated tool has handled effectively a land use suitability analysis for Di Linh District, Lam Dong Province of Viet Nam which considered simultaneously 5 different criteria Value or score of each level 2 criterion is computed for each land mapping unit (LMU) These values are combined with the above overall weight to provide suitability value for each LMU corresponding to each land-use type The formula is as follows:
j
i a M a
M a M a M a M a M Y
1 1 5
5 4 4 3 3 2 2 1
Y: Suitability index a
j: weight of criterion i M
i: score of criterion i The above formula is applied to each LMU In the overall result, the higher Y value is the higher suitability of land-use for specified land-use type In our experiment, aj take value 1 or
0 Value 0 is applied to land mapping unit which is not suitable on natural conditions and 0 for the others This process is done in Arcview GIS through the composite map of land mapping units The composite map has two components Spatial component is used to show locations and shapes of land mapping units Attribute component, represented as a table, is used to input and to store scores of criteria Arcview GIS function is used to perform the calculation based
on the above equation as well as scores and weights of criteria Calculated suitability index is stored in one column Integrating both spatial component and suitability index produces a continuous map of suitability
Trang 6MỤC LỤC
Trang
Lời cảm ơn - i
Tóm tắt - ii
Mục lục - iv
Danh sách các chữ viết tắt - vii
Danh sách các bảng - viii
Danh sách các hình - ix
CHƯƠNG 1: ĐẶT VẤN ĐỀ - 1
1.1 Đặt vấn đề - 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu - 2
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU - 3
2.1 Đặc điểm khu vực nghiên cứu - 3
2.1.1 Vị trí địa lý - 3
2.1.2 Địa Hình - 5
2.1.3 Khí hậu - 6
2.1.4 Cây công nghiệp - 7
2.1.5 Lâm nghiệp - 7
2.1.6 Nông nghiệp - 9
2.1.7 Giao Thông - 10
2.4.8 Dân số - 10
2.2 Tổng quan tài liệu nghiên cứu - 12
2.2.1 Lựơngmưa - 12
2.2.2 Độ dày tầng đất - 12
2.2.3 Loại đất - 13
Trang 72.2.4 Địa hình - 14
2.2.5 Hệ thực vật rừng - 15
2.3 Tiến trình xác định trọng số - 17
2.2.1 Lợi ích của AHP - 17
2.2.2 Các bước thực hiện của AHP - 17
2.4 Hệ thống thông tin địa lý - 19
2.4.1 Định nghĩa GIS - 19
2.4.2 Dữ liệu của GIS - 20
2.4.2.1Dữ liệu không gian - 20
2.4.2.2 Dữ liệu phi không gian - 23
2.4.3 Các thành phần của GIS - 23
2.4.4 Nhiệm vụ của GIS - 25
2.4.5 Các ngành ứng dụng GIS - 27
2.4.6 Hạn chế của GIS - 30
2.4.7 Phần mềm ứng dụng – ArcView GIS - 30
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU - 32
3.1 Nội Dung Nghiên Cứu - 32
3.1.1 Xác định các chỉ tiêu được lựa chọn nghiên cứu - 32
3.1.2 Xây dựng bản đồ các loài cây được chọn lựa - 32
3.2 Phương Pháp Nghiên Cứu - 33
3.2.1 Ứng dụng AHP để xác định trọng số - 33
3.2.2 Ứng dụng GIS để xây dựng bản đồ thích nghi - 37
3.2.2.1 Xây dựng bản đồ về độ dày tầng đất - 37
3.2.2.2 Xây dựng bản đồ về lượng mưa - 38
3.2.2.3 Xây dựng bản đồ về độ cao - 39
3.2.2.4 Xây dựng bản đồ về độ dốc - 40
3.2.2.5 Xây dựng bản đồ về loại đất - 40
Trang 83.3 Tổng hợp cơ sở dữ liệu xây dựng bản đồ thích nghi chi tiết cho từng
loài cây trồng - 41
3.4 Phân hạng khả năng thích nghi từng loài - 42
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU - 43
4.1 Xây dựng trọng số cho các nhân tố nghiên cứu - 43
4.2 Xây dựng bản đồ các nhân tố thích nghi - 46
4.2.1 Bản đồ đất - 46
4.2.2 Bản đồ độ cao - 48
4.2.3 Bản đồ độ dày tầng đất - 50
4.2.4 Xây dựng bản đồ độ dốc - 52
4.2.5 Xây dựng bản đồ lượng mưa - 54
4.3 Bản đồ thích nghi - 55
4.3.1 Khu vực thích nghi của thông ba lá - 55
4.3.2 Khu vực thích nghi của thông hai lá - 57
4.3.3 Khu vực thích nghi của keo lá tràm - 59
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ - 61
5.1 Kết Luận - 61
5.2 Kiến nghị - 62
TÀI LIỆU THAM KHẢO - 63
Trang 9DANH SÁCH CÁC TỪ VIẾT TẮT
FAO (Food and Agriculture Organization): Tổ chức nông lương thực;
HTTTĐL: Hệ thống thong tin địa lý;
GIS: Geographic Information System
AHP: (Analytic Hierarchy Process) Tiến trình xác định trọng số
GUI (graphical user interface) Giao diện đồ hoạ người – máy
DBMS- database management system): Hệ quản trị cơ sở dữ liệu
AM - FM: Automated Mapping và Facility Management
GPS - (global positioning system): Máy định vị toàn cầu
Trang 10DANH SÁCH CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1: Diện tích và trữ lượng các loại rừng – huyện Di Linh - 8
Bảng 2.2: Các loại hình sử dụng đất trong hai năm 2000 và 2005 - 9
Bảng 2.3: Phát triển dân số huyện Di Linh, 1990-2005 - 10
Bảng 3.1: Phân loại tầm quan trọng tương đối của Saaty - 34
Bảng 3.2: Chỉ số ngẫu nhiên ứng với số nhân tố (RI) - 36
Bảng 3.3: Bảng cho điểm theo các cấp độ dày tầng đất - 38
Bảng 3.4: Bảng cho điểm theo các cấp lượng mưa - 38
Bảng 3.5: Bảng các trạm đo mưa - 39
Bảng 3.6: Bảng cho điểm theo các cấp độ cao - 39
Bảng 3.7: Bảng cho điểm theo các cấp độ dốc - 40
Bảng 3.8: Bảng cho điểm theo các loại đất - 41
Bảng 3.9: Cấu trúc phân hạng thích nghi đất đai theo FAO - 42
Bảng 4.1: Bảng ý kiến các chuyên gia - 43
Bảng 4.2: Bảng ma trận so sánh giữa các nhân tố - 44
Bảng 4.3: Trọng số của các chỉ tiêu - 44
Bảng 4.4: Các thông số của AHP - 45
Bảng 4.5: Các loại đất chính tại huyện Di Linh - 46
Bảng 4.6: Diện tích tính theo độ cao - 48
Bảng 4.7: Diện tích các độ dày tầng đất - 50
Bảng 4.8: Diện tích các cấp độ đốc - 52
Bảng 4.9: Diện tích các loại hình thích nghi của thông ba lá - 55
Bảng 4.10: Diện tích các loại hình thích nghi của thông hai lá - 57
Bảng 4.11: Diện tích các loại hình thích nghi của thông hai lá - 59
Trang 11DANH SÁCH SƠ ĐỒ, HÌNH
Trang Sơ đồ 2.1: Quá trình hình thành đất - 14
Hình 2.1: Bản đồ hành chánh huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng - 4
Hình 2.2: Chồng lớp các mô hình vector và raster - 20
Hình 2.3: Mô hình vecter mô tả khu vực Đông Nam Á - 21
Hình 2.4: Mô hình raster mô tả bản đồ - 22
Hình 2.5: Các thành phần của GIS - 23
Hình 2.6: Giao diện phần mềm ArcViewGIS 3.3a - 31
Hình 4.1: Bản đồ đất huyện Di Linh - 47
Hình 4.2: Bản đồ độ cao huyện Di Linh - 49
Hình 4.3: Bản đồ độ dày tầng đất huyện Di Linh - 51
Hình 4.4: Bản đồ độ dốc huyện Di Linh - 53
Hình 4.5: Bản đồ phân bố mưa huyện Di Linh - 54
Hình 4.6: Bản đồ thích nghi thông ba lá - 56
Hình 4.7: Bản đồ thích nghi thông hai lá - 58
Hình 4.8: Bản đồ thích nghi keo lá tràm - 60
Trang 12Chương 1 ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Đặt Vấn Đề
Hiện nay nhà nước ta đang thực hiện chính sách phủ xanh đất trống đồi núi trọc
nhằm tăng diện tích che phủ đạt 43% Các tỉnh, thành phố trong cả nước đều thực hiện
chủ trương này của nhà nước Nhưng do điều kiện tự nhiên của mỗi tỉnh là khác nhau
nên mỗi vùng có các loài cây đặc trưng khác nhau Do đó vấn đề đặt ra hiện nay là làm
sao có thể phân bố cây trồng phù hợp với điều kiện đất đai, khí hậu của mỗi vùng, khu
vực nhất định đang là vấn đề gây khó khăn cho nhà quản lý và người trồng rừng Trong
quá trình trồng rừng cũng như các loại cây trồng khác, hầu như người dân chỉ là người
trồng theo chủ trương của huyện chứ chưa tìm hiểu rõ loài cây đó có thích hợp với điều
kiện tự nhiên của khu vực, với thị trường hay không Nhiều khu vực quy hoạch nhưng
vẫn không thực hiện đúng theo qui định của nhà quản lý Khi bố trí cây trồng không
thích hợp dễ làm cho cây dễ mắt bệnh, kém năng suất có thể làm cho cây chết Như
vậy người dân sẽ kém tin tưởng vào kết quả trồng rừng của họ và nhà nước
Huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng có diện tích đất lâm nghiệp khoảng 96.364,16 ha
(59,63%), đất trống còn khoảng 3,639 ha (0,002%) Đất đai rất thích hợp cho trồng cây
lâm nghiệp cũng như cây công - nông nghiệp Nhưng cây trồng vẫn kém phát triển và
trữ lượng không cao Các nhà lập kế hoạch vẫn chưa tìm ra hướng giải quyết tốt nhất
cho người trồng rừng Người trồng rừng không tìm hiểu rõ các tiêu chí mà chỉ tùy tiện
trồng theo ý thích của mình Nếu với trữ lượng thấp thì họ không còn mặn mà với nghề
trồng rừng nữa sẽ dẫn đến nguy cơ diện tích đất lâm nghiệp bị lấn chiếm để canh tác
nông nghiệp Hiện nay có rất nhiều đề tài nghiên cứu về vấn đề này nhưng chúng chỉ
Trang 13mang tính định tính, chưa chỉ ra một khu vực cụ thể, nhiều nghiên cứu chỉ mang tính lý
thuyết, chỉ phù hợp với một vùng nhỏ nào đó mà không giải quyết được cho nhiều nơi
Cùng với sự phát triển của hệ thống thông tin địa lý (GIS) chúng ta có thể xác định
được sự thích nghi của các loài cây trồng nhằm đưa ra hướng giải quyết tốt nhất phục
vụ cho công tác quy hoạch vùng thích nghi cây trồng Xuất phát từ thực tế trên, chúng
tôi thực hiện đề tài: “Ứng dụng Geographic Information System và Analytic
Hierarchy Process xác định thích nghi của cây Thông ba lá (Pinus kasya), Thông
hai lá (Pinus merkusii), Keo lá tràm (Acacia auriculiformis) tại huyện Di Linh, tỉnh
Lâm Đồng”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Việc xác định tính thích nghi của cây trồng cần phải dựa vào nhiều chỉ tiêu nghiên
cứu khác nhau như là: Lượng mưa, tầng dày của đất, độ cao, độ dốc, sâu bệnh, nhiệt
độ, độ ẩm, … Dựa vào đó chúng ta có thể xác định được vùng thích nghi của các loài
cây trồng cho từng khu vực cụ thể Chính vì vậy mà mục tiêu cụ thể như sau:
Ứng dụng AHP xác định mức độ ưu tiên của các chỉ tiêu ảnh hưởng đến cây
trồng
Xác định các khu vực phù hợp với từng loài cây trồng
Ứng dụng GIS xây dựng bản đồ thích nghi của từng loại cây trồng
Từ nghiên cứu này chúng tôi mong đợi có thể xây dựng được bản đồ thích nghi của
ba loài cây trồng tại khu vực Di Linh Đồng thời xác định các nhân tố ảnh hưởng mạnh
đến tính thích nghi của cây trồng tại một địa phương cụ thể Với kết quả này chúng tôi
hy vọng sẽ hỗ trợ cho các nhà chuyên môn trong việc qui hoạch các khu vực thích hợp
với từng loại cây trồng thích hợp hơn Giúp cho người dân tin tưởng hơn với chính
sách trồng rừng phủ xanh đất trống, đồi núi trọc Bên cạnh đó đây cũng là tài liệu giúp
cho các sinh viên khóa sau làm tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu xa hơn cho tính
thích nghi của các loài cây khác
Trang 14Chương 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1 Đặc điểm khu vực nghiên cứu
2.1.1 Vị trí địa lý
Di Linh là một huyện nằm trên cao nguyên Di Linh - Bảo Lộc, trên quốc lộ 20 từ
Thành phố Hồ Chí Minh đi Đà Lạt Ngày xưa Di Linh có tên là Djiring
Hiện nay, huyện Di Linh có 18 đơn vị hành chính, bao gồm thị trấn Di Linh và
17 xã: Đinh Trang Thượng, Tân Thượng, Đinh Trang Hoà, Tân Châu, Tân Nghĩa,
Đinh Lạc, Gia Hiệp, Liên Đầm, Hoà Ninh, Hoà Trung, Hoà Nam, Hoà Bắc, Gung Ré,
Bảo Thuận, Tam Bố, Sơn Điền và Gia Bắc trung tâm Huyện cách thành phố Đà Lạt
khoảng 80km Di Linh nằm trên quốc lộc 20 (Đông Nam Bộ đi Đà Lạt) và quốc lộ 28
(Nam Trung Bộ đi Đắc Nông và Tây Nguyên), do đó Di Linh có vị trí khá thuận lợi
trong trong giao lưu kinh tế với các huyện trong tỉnh và các vùng Tây Nguyên, Trung
Bộ, Đông Nam Bộ và đặc biệt là vùng kinh tế trọng điểm phía Nam
Huyện Di Linh có diện tích tự nhiên khoảng 161.605 hecta (chiếm 16,7% diện
tích tỉnh Lâm Đồng), là huyện có diện tích lớn nhất tỉnh Lâm Đồng Dân số năm
2004: 154.000 người (chiếm 13,4% dân số tỉnh Lâm Đồng) Huyện Di Linh nằm ở
phía Đông Nam của tỉnh Lâm Đồng, thuộc cao nguyên Di Linh, phía đông giáp huyện
Lâm Hà và Đức Trọng; về phía bắc giáp tỉnh Đắk Nông, về phía tây giáp huyện Bảo
Lâm, phía nam giáp tỉnh Bình Thuận Di Linh là vùng cao nguyên trung du, đồi núi
lồi lõm bị cắt bởi nhiều thung lũng, có nhiều đèo: Le, Yankar, D’Rah, K’Nil, Đạ
Trang 15Trơm Độ dốc trung bình từ 100 đến 200 theo hướng đơng tây, độ cao trung bình
1.000m so với mặt biển
Tam Bố Bảo Thuận
Gia Bắc
Gung Re
Sơn Điền Hoà Bắc
Tân Thượng
Liên Đầm
Gia Hiệp
Đinh Trang Thượng
Tân Châu Đinh LạcĐinh Trang Hoà
Hoà Trung
Lâm Hà
Tỉnh Bình Thuận Bảo Lâm
10 0 10 Kilometers
N
E W
Hình 2.1: Bản đồ hành chánh huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng
Hiện nay, huyện Di Linh cĩ 18 đơn vị hành chính, bao gồm thị trấn Di Linh và
17 xã: Đinh Trang Thượng, Tân Thượng, Đinh Trang Hồ, Tân Châu, Tân Nghĩa,
Đinh Lạc, Gia Hiệp, Liên Đầm, Hồ Ninh, Hồ Trung, Hồ Nam, Hồ Bắc, Gung Ré,
Bảo Thuận, Tam Bố, Sơn Điền và Gia Bắc trung tâm Huyện cách thành phố Đà Lạt
khoảng 80km Di Linh nằm trên quốc lộc 20 (Đơng Nam Bộ đi Đà Lạt) và quốc lộ 28
(Nam Trung Bộ đi Đắc Nơng và Tây Nguyên), do đĩ Di Linh cĩ vị trí khá thuận lợi
trong trong giao lưu kinh tế với các huyện trong tỉnh và các vùng Tây Nguyên, Trung
Bộ, Đơng Nam Bộ và đặc biệt là vùng kinh tế trọng điểm phía Nam
Trang 16Huyện Di Linh có diện tích tự nhiên khoảng 161.605 hecta (chiếm 16,7% diện
tích tỉnh Lâm Đồng), là huyện có diện tích lớn nhất tỉnh Lâm Đồng Dân số năm
2004: 154.000 người (chiếm 13,4% dân số tỉnh Lâm Đồng) Huyện Di Linh nằm ở
phía Đông Nam của tỉnh Lâm Đồng, thuộc cao nguyên Di Linh, phía đông giáp huyện
Lâm Hà và Đức Trọng; về phía bắc giáp tỉnh Đắk Nông, về phía tây giáp huyện Bảo
Lâm, phía nam giáp tỉnh Bình Thuận Di Linh là vùng cao nguyên trung du, đồi núi
lồi lõm bị cắt bởi nhiều thung lũng, có nhiều đèo: Le, Yankar, D’Rah, K’Nil, Đạ
Trôm Độ dốc trung bình từ 100 đến 200 theo hướng đông tây, độ cao trung bình
1.000m so với mặt biển
Di Linh cách xa bờ biển 60 km theo đường chim bay nên có khí hậu ôn hòa,
nhiệt độ trung bình khoảng 20,80C và thường thay đổi theo mùa Di Linh có hai mùa
mưa nắng rõ rệt, mùa mưa lệ thuộc vào gió tây nam bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 10,
mưa nhiều từ tháng 7 đến tháng 9, lượng mưa trung bình 300 mm, độ ẩm 90% Mùa
nắng từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau; về mùa này sương mù dày đặc vào ban đêm và
gió lạnh Di Linh ít chịu ảnh hưởng bão lụt, do đó ít bị thiệt hại về thiên tai
2.1.2 Địa Hình
Di Linh có nhiều dạng địa hình, trong đó quan trọng nhất là hai dạng địa hình:
Địa hình núi cao: Phân bố ở phía nam và tây nam, được rừng nhiệt đới thường
xuyên bao phủ, có vai trò lớn trong việc phòng hộ và rừng đầu nguồn, là nguồn tài
nguyên rừng khá phong phú
Địa hình bình sơn nguyên: Tương đối bằng phẳng, thích hợp để trồng các loại
cây công nghiệp
Di Linh bao bọc bởi nhiều ngọn núi cao: núi Braian (1.792m), Serlung (1.277m)
và nhiều ngọn núi cao khác nối liền nhau Nằm giữa những dãy núi cao có nhiều
Trang 17trảng lớn: Xê Vỏ (Sreboh), Gia Bắc có điều kiện cho phát triển chăn nuôi với qui mô
lớn
Di Linh nằm trong đới sinh khoáng Đà Lạt - Bảo Lộc, thời đại Kainozoi, nên
được phủ một lớp bazan rộng lớn và có nhiều kiểu quặng hoá nội sinh và ngoại sinh
như bentonit, sét, sa khoáng, thiếc, kẽm, đá quý và bán quý
Theo điều tra sơ bộ, Di Linh có thiếc, sa khoáng ở Hoà Bắc, Gia Bắc, Bảo
Thuận; bentonit và sét ở Tam Bố; Chì, kẽm ở Gia Bắc; Đá quý và bán quý ở Sơn
Điền, Gia Bắc
Trên địa bàn huyện có 8 nhóm đất khác nhau, trong đó quan trọng nhất là nhóm
đất bazan chiếm 30,1% diện tích, phân bố tập trung trên vùng có độ dốc 3-120, rất
thích hợp để phát triển các loại cây công nghiệp dài ngày
Đất phù sa có gần 7.000 hecta, phân bố dọc các sông suối, thích hợp cho các loại
cây thực phẩm, cây dâu và cây công nghiệp ngắn ngày
Di Linh có rất nhiều sông suối và phân bố đều khắp các vùng: phía bắc có sông
Đa Dâng chảy bao quanh, giữa có sông Đạ Riam bắt nguồn từ núi Yan Doane chảy
song song với quốc lộ 20 đến bến Thùng đổ vào sông La Ngà ở phía tây của huyện
Địa bàn Di Linh còn là nơi xuất phát của 40 dòng suối lớn nhỏ tỏa ra khắp 4 phía
Phía bắc có 9 nhánh đổ vào sông Đa Dâng Phía tây có 10 nhánh đổ vào sông La Ngà
Phía đông và nam có 20 nhánh chảy vào các sông, suối của tỉnh Bình Thuận
2.1.3 Khí hậu
Di Linh nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, với các đặc điểm như sau:
Khí hậu ôn hòa, nhiệt độ trung bình khoảng 21 - 220C, số giờ nắng khoảng 1.800 -
2.200 giờ, độ ẩm: 80 - 85%, hầu như không có bão và sương muối Mùa mưa từ tháng
4 -tháng 11, mùa khô từ tháng 12 - tháng 3 năm sau, lượng mưa trung bình hàng năm
2.500-3.000 mm Khí hậu rất thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là cây công
Trang 18nghiệp dài ngày như cà phê, chè, Nắng ít, ẩm độ không khí cao, nhiều ngày có
sương mù, cường độ mưa lớn và tập trung nên dễ gây xói mòn đất là những hạn chế
trong đặc điểm khí hậu của vùng, cần phải được đặc biệt chú ý trong quá trình bố trí
sử dụng đất và ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật phù hợp
2.1.4 Cây công nghiệp
Từ thời Pháp thuộc đã có nhiều đồn điền trồng chè, cà phê của người Pháp và
người Hoa được lập nên Diện tích cây công nghiệp 40.657,172 ha trong đó có 27.388
ha cà phê và 2.695 ha chè, sản lượng cà phê nhân thu hoạch năm 1999 đạt 40.264 tấn,
chiếm gần 40% sản lượng của tỉnh Di Linh còn trồng 159 ha dâu và các loại cây công
nghiệp như thuốc lá, mía, Các loại cây trồng này tạo điều kiện để phát triển công
nghiệp chế biến và hoạt động dịch vụ
2.1.5 Lâm nghiệp
Huyện Di Linh có thế mạnh về nghề rừng, ngành lâm nghiệp đã có nhiều cố gắng
trong công tác trồng và khoanh nuôi rừng Nhưng cũng còn không ít hạn chế, đặc biệt
là về bảo vệ tài nguyên rừng, giá trị sản xuất ngành lâm nghiệp chỉ chiếm 2% tổng giá
trị sản xuất khu vực I Rừng có nhiều gỗ quý như cẩm lai, sao, gõ; đặc biệt phong phú
là thông hai lá lấy gỗ và nhựa Ngoài ra, rừng còn có nhiều loại dược liệu quí: trầm
hương, sâm, sa nhân và rất nhiều chim thú quý hiếm: voi, hổ,
Về lâm sinh: Hoàn thành kế hoạch Nhà nước giao về trồng rừng tập trung và
trồng rừng phân tán, trong 5 năm (từ 2001- 2005) đã trồng được 2.229 ha, giao khoán
bảo vệ rừng 30.000 ha rừng, chăm sóc rừng trồng 2.656 ha, tạo công ăn việc làm cho
hàng ngàn hộ đồng bào dân tộc Tuy nhiên, nạn phá rừng làm rẫy và cháy rừng vẫn
còn, cần phải có những biện pháp kiên quyết hơn trong bảo vệ rừng
Về khai thác: Khai thác gỗ tròn và củi giảm, từ 18.030m3 gỗ, 3.017 ster củi
(năm 2001) giảm xuống còn 14.000m3 gỗ và 3.000 ster củi (năm 2005) Tuy nhiên
Trang 19khai thác lồ ô và song mây tăng, từ 96 ngàn cây lồ ô và 17 tấn song mây (năm 2001)
tăng lên 250 ngàn cây lồ ô và 25 tấn song mây (năm 2005)
Rừng ở Di Linh không chỉ có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế và bảo vệ
môi trường của địa phương mà còn có vai trò quan trọng bảo vệ nguồn nước cho hệ
thống sông Đồng Nai, Sông Luỹ, Theo kết quả kiểm kê rừng của sở Nông nghiệp và
PTNT tỉnh Lâm Đồng năm 1999, tài nguyên rừng được xác định như sau:
Bảng 2.1: Diện tích và trữ lượng các loại rừng – huyện Di Linh
Đ.V.Tính: D.tích:ha, trữ lượng gỗ:1.000m 3 , tre nứa: 1.000cây
Số
TT Loại rừng
Diện tích Trữ lượng Tổng
Nguồn: Kiểm kê rừng năm 1999, sở NN&PTNT tỉnh Lâm Đồng
Từ số liệu bảng 2.1 kết hợp với tham khảo số liệu chi tiết trong phụ lục cho thấy:
Trang 20- Tài nguyên rừng ở Di Linh khá phong phú về chủng loại (rừng lá rộng thường
xanh, lá kim, tre nứa, hỗn giao lá rộng - lá kim, lá rộng - tre nứa, …) và tập đoàn cây
rừng vì vậy mà địa phương có diện tích đất trồng rừng rất lớn
- Trữ lượng gỗ năm 1999 khoảng 5,3 triệu m3, trong đó: rừng phòng hộ: 1,6 triệu
m3; rừng kinh tế: 3,7 triệu m3; rừng trồng có trữ lượng 175 ngàn m3
- Theo kết quả kiểm kê của ngành Tài nguyên và Môi trường, diện tích rừng tăng
trong giai đoạn 1995 - 2000: từ 79.270 ha (năm 1995) tăng lên 94.241 ha (năm 2000),
tăng 15.001 ha; giảm trong giai đoạn 2001- 2005: 94.241 ha (năm 2000) xuống còn
90.624 ha (năm 2005), giảm 3.617 ha
Bảng 2.2: Các loại hình sử dụng đất trong hai năm 2000 và 2005
2.1.6 Nông nghiệp
Khoảng 10.135,727 ha đất có khả năng trồng cây nông nghiệp, hiện đã khai thác
sử dụng được 70%, Di Linh có 2.803 ha lúa Cùng với các loại hoa màu khác, sản
lượng lương thực quy thóc đạt 13.161 tấn/năm Lượng lương thực này chỉ đáp ứng
được một phần nhu cầu
Trang 21Diện tích đất trống đồi núi trọc ngày giảm dần từ 62,217 ha xuống còn 3,639 ha
Như vậy công tác phủ xanh đồi núi trọc được thực hiện đầy đủ Hơn nữa lại xuất hiện
các vùng kinh tế mới giúp đồng bào dân tộc ổn định đời sống
Huyện Di Linh đã chuyển nhanh và thích ứng với cơ chế thị trường: ngành nông
lâm nghiệp chiếm 77%, công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp chiếm 11%, ngành dịch
vụ chiếm 9.26%, sản xuất hàng hoá được coi trọng, giá trị hàng hoá xuất khỏi huyện
36 - 40% tổng giá trị sản xuất Giá trị hàng xuất khẩu ước đạt khoảng 3 triệu
USD/năm, mặt hàng xuất khẩu chính là cà phê, chè và colophan
2.1.7 Giao Thông
Huyện Di Linh nằm trên 2 trục lộ giao thông chính: Quốc lộ 20 chạy từ đông
sang tây, dài 43km, là trục giao thông chính nối Di Linh với Đà Lạt và Bảo Lộc;
Quốc lộ 28 chạy từ bắc xuống nam, dài 90km, nối Di Linh với tỉnh Đắc Lắc và Bình
Trang 22- Giai đoạn 1990 - 2000 dân số của Huyện tăng khá nhanh, tốc độ tăng bình quân
5,78%/năm (tăng tự nhiên 2,12%, tăng cơ học 4,36%) Trong thời điểm này do giá cà
phê tăng cao nên xuất hiện luồn di dân tự do từ các tỉnh miền Bắc, miền Trung và
Đông nam bộ đến định cư và sản xuất cà phê Dân số tăng nhanh nhất trong giai đoạn
1995 - 2000, bình quân mỗi năm tăng khoảng 7.000 - 8.000 người
- Giai đoạn 2001 - 2005, dân số dần đi vào ổn định, tỷ lệ tăng dân số khoảng
2,6%/năm (tăng tự nhiên 1,9%, tăng cơ học còn 0,7%/năm) Dân số trung bình năm
2005 toàn Huyện khoảng 158 ngàn người (đồng bào dân tộc Tây nguyên chiếm 35,6%
dân số), trong đó Nam chiếm 51%, Nữ chiếm 49% Mật độ dân số 95 người/km2 thấp
hơn nhiều so với mật độ dân số toàn Tỉnh (117người/km2)
Với những tiềm năng và điều kiện thuận lợi, vùng đất Di Linh đã sớm được mở
mang khai thác, thu hút cư dân từ khắp mọi miền đến sinh cơ lập nghiệp
Nhịp độ phát triển kinh tế trong những năm 1990 trở lại đây luôn đạt mức cao,
mức tăng trưởng GDP bình quân hàng năm là 16%, mức thu nhập năm 1995 đạt
400,17 USD/người
Cùng với sự phát triển của sản xuất, đời sống của nhân dân các dân tộc trong
huyện không ngừng được cải thiện và nâng cao Nhân dân các vùng trồng cây công
nghiệp đều có mức thu nhập từ trung bình trở lên, số hộ làm ăn khá và giàu ngày càng
nhiều Số hộ được sử dụng điện từ hệ thống điện lưới quốc gia chiếm 30%, chủ yếu là
thị trấn Di Linh và các xã ven quốc lộ
Tuy vậy, đời sống của đồng bào dân tộc ở vùng sâu, vùng xa còn gặp khó khăn
Số hộ đói nghèo còn chiếm tới 12,6% Các xã Sơn Điền, Gia Bắc, Đinh Trang
Thượng là những vùng trọng điểm thực hiện chương trình định canh, định cư của tỉnh
với sự hỗ trợ của Nhà nước, khai thác có hiệu quả tiềm năng của địa phương và sự nỗ
lực vươn lên của đồng bào các dân tộc
Trang 232.2 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
2.2.1 Lượng mưa
Lượng mưa là bề dày của lớp nước do mưa tạo ra trên bề mặt ngang, nếu mưa
không chảy đi, không ngấm xuống, không bốc hơi Lượng mưa được tính bằng milimet
hoặc centimet Trong thực tế để xác định lượng mưa của một địa phương nhiều hay ít,
so sánh mức độ mưa giữa địa phương này với địa phương khác người ta thường tính
lượng mưa trong một năm, một mùa hay một tháng và gọi đó là lượng mưa, lượng mưa
mùa hay lượng mưa tháng Lượng mưa thường phức tạp phụ thuộc vào nhiều yếu tố
gây mưa tại địa phương (Vương Văn Quỳnh, Trần Tuyết Hằng, 1996)
Có thể xác định lượng mưa bình quân khi có 1 trạm hay nhiều trạm đo mưa:
Trong đó
xtb: lượng mưa bình quân;
xi: lượng mưa ở giai đoạn thứ i;
n: số thời đoạn tính toán
2.2.2 Độ dày tầng đất
Quá trình phong hóa đất hình thành mẫu chất và mẫu chất tiếp tục phong hóa hình
thành đất được tiến hành đồng thời với sự hình thành tầng đất Các tầng trên bị phong
hóa hoàn toàn, chất hữu cơ phân giải từ dư thừa thực vật thường được tích lũy trên tầng
đất mặt nên có màu sậm hơn các tầng bên dưới mỗi phẫu diện thong thường có các
tầng sau:
Trang 24 Tầng A0 tầng mặt chứa nhiều chất hữu cơ, trong đó chia ra thành tầng A1, A2,
A3 Tầng A là tầng đất mặt, giàu hữu cơ và nước hữu dụng cho cây trồng Với đất
canh tác, tầng A dày 12 - 25cm
Tầng E: tầng rửa trôi mạnh nằm cạnh tầng A, do bị rửa trôi mạnh nên thường
có màu trắng xám
Tầng B: tầng tích tụ các sản phẩm của tầng trên Tầng B được chia thành B1,
B2, B3 là tầng tích tụ điển hình B1 và B3 là quá độ giữa A và C
Tầng C: tầng mẫu chất nằm dưới phần đất thực (tầng A + E + B) Tầng C
thường nằm sâu bên dưới nên thường ít chịu sự tác động sinh học kém nhất vì vậy
mức độ phát triển luôn kém hơn tầng B ngay bên trên
Tầng D: tầng đá nền, chưa xảy ra quá trình phong hóa
2.2.3 Loại đất
Đất là lớp phủ bề mặt trên Trái đất được phong hoá từ đá mẹ, còn đất đai bao gồm
các điều kiện môi trường vật lý khác mà trong đó đất chỉ là một thành phần Các yếu tố
môi trường vật lý khác thường là các nhân tố: địa hình, độ dốc, độ cao, nhân tố khí hậu,
sinh vật, độ ẩm, …
Như vậy đất đai có thể bao gồm: Khí hậu, đất, nước, địa hình/địa chất, thực vật,
động vật, vị trí, diện tích, kết quả hoạt động của con người
Ðất đai là điều kiện vật chất chung nhất đối với mọi ngành sản xuất và hoạt động
của con người, vừa là đối tượng lao động (cho môi trường để tác động như: xây dựng
nhà xưởng, bố trí máy móc, làm đất, ), vừa là phương tiện lao động (cho công nhân
nơi đứng, dùng để gieo trồng, nuôi gia súc, ) Như vậy, đất không phải là đối tượng
của từng cá thể mà chúng ta đang sử dụng coi là của mình, không chỉ thuộc về chúng
ta Ðất là điều kiện vật chất cần thiết để tồn tại và tái sản xuất các thế hệ tiếp nhau của
Trang 25loài người Vì vậy, trong sử dụng cần làm cho đất tốt hơn cho các thế hệ mai sau (Lê
Quang Trí, 2005)
Đất được hình thành qua quá trình phong hóa Dưới tác động của các điều kiện
nhiệt độ, áp suất, độ ẩm, khí hậu, sức gió, nước mưa, và sự tham gia tất yếu của động
thực vật cũng như vi sinh vật đã biến đá mẹ thành đất Quá trình hình thành đất được
thể hiện như sau:
Sơ đồ 2.1: Quá trình hình thành đất (Nguồn: Nguyễn Thị Bình).
Các yếu tố hình thành đất: mẫu chất (vật liệu vô cơ hoặc hữu cơ hình thành đất), khí
hậu (mưa, nhiệt độ), sinh học (thực vật tại chỗ, động vật, vi sinh vật và hoạt động của
con người), địa hình (độ dốc, hướng dốc và cảnh quang), thời gian
2.2.4 Địa hình
Địa hình có ảnh hưởng lớn đến quá trình hình thành đất Địa hình phân phối lại chế
độ nhiệt, ẩm Dựa vào độ cao của địa hình ta có thể phân chia đất đồi núi, đồng bằng,
thấp trũng, … Độ cao của địa hình khác nhau nhận ánh sáng khác nhau, cứ lên cao
100m nhiệt độ giảm đi 0,5 – 0,60c Nếu càng lên cao, khí hậu càng lạnh thì đất được
tạo ra khác với nơi thấp (Nguyễn Thị Bình, 2004)
Địa hình cũng là nhân tố quan trọng tạo nên các vành đai thực vật theo độ cao
Càng lên cao thì các loài hạt trần thường chiếm ưu thế trong quần thụ, còn các loài thực
Trang 26vật hạt kín sẽ ít xuất hiện, chúng chỉ xuất hiện ở những vùng thấp hơn Trong đề tài này
địa hình được sử dụng là độ dốc và độ cao so với mực nước biển
2.1.5 Hệ thực vật rừng
Do địa hình và khí hậu đã làm cho việc phân chia các kiểu rừng theo vành đai
thích hợp với các đai độ cao và khí hậu gần như rõ nét:
Vành đai dưới 1.000m có tính chất nhiệt đới điển hình, hệ thực vật rừng rất
phức tạp với ưu thế thuộc họ Dầu (Dipterocarpaceae), họ Đậu (Fabaceae), họ Dâu tằm
(Moraceae), họ Thầu dầu (Euphorbiaceae), họ Phụ tre nứa (Bambusaceae),
Vành đai có độ cao 1.000 - 1.800m vùng á nhiệt đới núi thấp với hệ thực vật
rừng chủ yếu như họ Long não (Lauraceae), họ Giẻ (Fagaceae), họ Chè (Theaceae),
họ Đỗ quyên (Ericaceae), họ Ngọc lan (Magnoliaceae), xen với các loài cây hạt trần
như họ Thông (Pinaceae), họ Kim giao (Podocarpaceae),
Vành đai 1.800m trở lên có khí hậu thiên về ôn đới với thành phần chủ yếu các
loài thuộc ngành hạt Trần (Pinophyta), xen với các loài thuộc họ Cáng lồ (Betulaceae),
tre trúc nhỏ, rêu địa y,
Đặc tính thực vật của các loài nghiên cứu
Thông 3 lá (Pinus kasya)
Thông 3 lá đã được Auguste Chevalier đặt tên là Pinus langbianensis, nhưng về
sau được xem thuộc loại Pinus khasya Royle Thông 3 lá mọc ở độ cao từ 1.000 -
2.300m Tuy nhiên, người ta ghi nhận sự hiện diện của loài thông này ở độ cao thấp
hơn từ 800 - 1.000m
Cây cao 20 - 35m, nhưng đường kính thân cây ít khi vượt quá 70cm Các cây
thông 3 lá có đường kính trên 50cm rất hiếm, chỉ chiếm 2% quần cư, trong khi các cây
có đường kính từ 10 - 50cm chiếm tỷ lệ 89% Lá nhỏ, đều như cây kim, màu xanh sẫm,
Trang 27rộng 4-5cm Trái tự khai phát tán những hạt trần nhỏ màu nâu nhạt có cánh dài nhờ gió
có thể bay đi rất xa Rễ ở lớp đất mặt hút nước trong khi rễ cọc bơm nước từ dưới lớp
đất sâu khi lớp đất mặt bị khô hạn Hơn nữa, lá hình kim có diện tích hẹp phủ một lớp
cutin giảm sự thoát hơi nước giúp cho cây thông thích nghi với đất đai và khí hậu
tương đối khô Về mặt phân bố tự nhiên, thông 3 lá có diện tích lớn nhất trong số các
loài thông ở nước ta Thông 3 lá mọc nhiều ở Hà Giang, Sơn La, Gia Lai, Công Tum,
nhiều nhất trên cao nguyên Langbian
Thông 2 lá (Pinus merkusii)
Thông hai lá do Jungh và de Vries phát hiện ở Sumatra, Indonesia vào cuối thế kỷ
XIX Thông 2 lá mọc ở độ cao dưới 900m, từ vùng ven biển, đồng bằng và trung du
đến các vùng đồi núi các tỉnh Lâm Đồng, Gia Lai, Công Tum, Nghệ An, Hà Tĩnh,
Thanh Hóa, Quảng Ninh, Sơn La v.v Cây cao khoảng 30m, đường kính có thể đạt
1,5-1,6m, đôi khi tới 2m Vỏ thân có vết nứt sâu và xù xì hơn thông 3 lá Lá dài hơn lá
thông 3 lá và màu xanh lợt hơn, 2 lá mọc chung trong 1 bẹ Trái, hột lớn hơn thông 3
lá Thông 2 lá còn gọi là thông nhựa được xếp vào loài thông có sản lượng nhựa cao
nhất thế giới Thông 2 lá ít khi mọc thành quần thụ đơn thuần mà thường mọc xen kẽ
với các cây diệp loại như dâu trà ben, giẻ đen, cà chí, trầm, cẩm lai,
Keo lá tràm (Acacia auriculiformis)
Cây thường xanh cao từ 25 – 30m, đường kính 60 - 80cm, tán lớn, màu xanh thẫm,
thân hình trụ tròn Vỏ thân màu xám đen, nứt dọc nhỏ sâu 2 - 3mm, cách nhau 4 –
5mm thịt vỏ dày 7 – 9mm, màu xám trắng cành non hơi dẹt, nhẵn màu xanh lục Lá
đơn, nguyên mọc cách, hình lưỡi liềm, dài 7 – 17cm, rộng 1,5 – 2,7cm, màu xanh lục
nhẵn bóng, đầu và gốc là nhọn, có 6 – 8 gân hình cung song song Cuống lá dài 1,5mm
Hoa lưỡng tính mọc cụm hình bóng ở kẽ lá Bông dài 4 – 8cm, mang nhiều hoa nhỏ
màu vàng Cánh đài 5, màu xanh, hợp nhau ở gốc thành hình chuông Cánh tràng 5,
màu vàng Nhị nhiều, rời nhau Bầu nhỏ không cuống, nhiều noãn, vòi hình sợi Quả
Trang 28dẹt, mỏng, dài 7 – 8cm, rộng 1,2 – 1,4cm, nhẵn, có 5 – 7 hạt Ở nước ta phân bố chủ
yếu ở phía nam, từ Đà Nẵng đến Kiên Giang và khu vực Tây Nguyên
AHP được phát triển bởi Saaty (1980), đây là công cụ hỗ trợ quyết định giúp con
người giải quyết các vấn đề phức tạp mang những khía cạnh hiển nhiên và mơ hồ Vì
vậy nó hỗ trợ cho các nhà hoạch định quyết định những vấn đề thông qua kinh nghiệm,
kiến thức và trực giác của chính họ và các chuyên gia AHP phân tích vấn đề quyết
định trong các yếu tố, tính đặt trưng, mức độ, nó đúng với đặt trưng của từng yếu tố
Tìm ra mức cao nhất của vấn đề là mục đính cuối cùng (M Berrittella, A Certa, M Enea
and P Zito, 1/2007)
2.3.1 Lợi ích của AHP
AHP có thể giúp đỡ chúng ta đánh giá kế hoạch một cách khách quan lẫn chủ quan,
cung cấp một cơ chế hữu ích cho kiểm tra lựa chọn và đánh giá có tính bền chặt hay
không, như vậy mới giảm thiểu sai lầm khi ra quyết định, thực hiện kế hoạch Thực
vậy, khi thực hiện một vấn đề có nhiều biến quyết định, chúng ta không thể dựa vào
một biến để quyết định được vấn đề AHP tách toàn bộ vấn đề để giải quyết thành
nhiều bảng đánh giá khác nhau thông qua sự quan trọng của nó với mục tiêu cần thực
hiện Như vậy AHP giúp chúng ta có thể xác định chính xác các nhân tố ảnh hưởng đến
vấn đề nghiên cứu như thế nào, từ đó giúp ta nhận định rõ vấn đề nghiên cứu và tầm
quan trọng của các nhân tố ảnh hưởng như thế nào đến vấn đề chúng ta đặc ra
2.3.2 Các bước thực hiện của AHP
Phân tích
Tiến hành lựa chọn các chỉ tiêu cần nghiên cứu, phân cấp và loại bỏ các chỉ tiêu
kém quan trọng Mỗi chỉ tiêu được chia ra một mức phù hợp, được phân tích dựa vào
mức độ quan trọng của chúng Khi kết thúc, quá trình sẽ lặp đi lặp lại làm cho vấn đề
Trang 29thay đổi để khách quan hơn Sau đó chúng được đưa vào trong ma trận để quản lý vấn
đề theo chiều dọc lẫn chiều ngang dưới sự phân cấp tiêu chuẩn của trọng số Vì vậy khi
tăng thêm số chỉ tiêu thì mức độ quan trọng của các chỉ tiêu này giảm đi và làm cho
vấn đề nghiên cứu càng chính xác hơn
Trọng số
Cho mỗi chỉ tiêu là một trọng số, dựa vào sự quan trọng của nó trong toàn hệ thống
chúng ta có thể xác định được trọng số của từng chỉ tiêu thông qua hệ chuyên gia Tổng
tất cả các tiêu chuẩn phải là 100% hay 1 Trọng số này chính là mức độ quan trọng của
từng chỉ tiêu ảnh hưởng bao nhiêu đến vấn đề nghiên cứu
Đánh giá
Căn cứ lựa chọn và so sánh chỉ tiêu này với các chỉ tiêu khác nhằm đánh giá chúng
ảnh hưởng như thế nào đến vấn đề nghiên cứu của chúng ta Sử dụng AHP, đánh giá
các chỉ tiêu lựa chọn theo ý kiến của các chuyên gia, nhà nghiên cứu về vấn đề đó
Lựa chọn
Sau khi đánh giá các chỉ tiêu nghiên cứu, tiến hành so sánh các tiêu chuẩn, chọn lựa
sao và loại bỏ các chỉ tiêu ít ảnh hưởng đến vấn đề nghiên cứu sao cho phù hợp nhất
với yêu cầu đặc ra
Trang 302.4 Hệ thống thông tin địa lý (Geographic Information System - GIS)
Hệ thống thông tin địa lý là một kỹ thuật ứng dụng hệ thống vi tính số hoá, xuất
hiện trong những năm 1960 cho đến nay công nghệ này được biết đến như là một kỹ
thuật toàn cầu Hệ thống thông tin địa lý (HTTTĐL) đã bắt đầu được sử dụng rộng rãi
ở các nước phát triển hơn một thập niên qua, đây là một dạng ứng dụng công nghệ tin
học nhằm mô tả thế giới thực mà loài người đang sống, tìm hiểu, khai thác Với những
tính năng ưu việt, kỹ thuật GIS ngày nay đang được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực
nghiên cứu và quản lý
Tại Việt Nam công nghệ GIS cũng được thí điểm khá sớm, và đến nay đã được ứng
dụng trong khá nhiều ngành như quy hoạch nông lâm nghiệp, quản lý rừng, lưu trữ tư
liệu địa chất, đo đạc bản đồ, địa chính, quản lý đô thị, đặc biệt trong quản lý và quy
hoạch sử dụng - khai thác các nguồn tài nguyên một cách bền vững và hợp lý, Tuy
nhiên các ứng dụng có hiệu quả nhất mới chỉ giới hạn ở các lĩnh vực lưu trữ, in ấn các
tư liệu bản đồ bằng công nghệ GIS Các ứng dụng GIS thuộc lĩnh vực quản lý, điều
hành, trợ giúp quyết định hầu như mới dừng ở mức thử nghiệm, còn cần thời gian và
đầu tư mới có thể đưa vào ứng dụng chính thức
2.4.1 Định nghĩa GIS
GIS ra đời chính là kế tục các ý tưởng trong ngành địa lý mà trước hết là ngành địa
lý bản đồ trong thời đại mà công nghệ thông tin đủ mạnh để tạo ra các công cụ định
lượng mới và có khả năng thực thi hầu hết các phép phân tích bản đồ bằng phương
pháp định lượng mới (Võ Quang Minh và cộng sự)
Tuy nhiên ở mức độ tương đối chúng ta có thể hiểu GIS theo định nghĩa sau:
“HTTTĐL là một hệ thống các thông tin được sử dụng để thu thập, lưu trữ, xây dựng
lại, thao tác, phân tích, biểu diễn các dữ liệu địa lý phục vụ cho công tác quy hoạch
hoặc lập các quyết định về sử dụng đất, các nguồn tài nguyên thiên nhiên môi trường,
Trang 312.4.2 Dữ liệu của GIS
Hệ thống thông tin địa lý bao gồm: dữ liệu không gian và phi không gian
2.4.2.1 Dữ liệu không gian
Dữ liệu là trung tâm của hệ thống GIS, hệ thống GIS chứa càng nhiều thì chúng
càng có ý nghĩa Dữ liệu của hệ GIS được lưu trữ trong CSDL và chúng được thu thập
thông qua các mô hình thế giới thực Dữ liệu trong hệ GIS còn được gọi là thông tin
không gian Đặc trưng thông tin không gian là có khả năng mô tả “vật thể ở đâu” nhờ
vị trí tham chiếu, đơn vị đo và quan hệ không gian Cuối cùng, đặc trưng thông tin
không gian mô tả “quan hệ và tương tác” giữa các hiện tượng tự nhiên Mô hình không
gian đặc biệt quan trọng vì cách thức thông tin sẽ ảnh hưởng đến khả năng thực hiện
phân tích dữ liệu và khả năng hiển thị đồ hoạ của hệ thống
Dữ liệu không gian (trả lời cho câu hỏi về vị trí - ở đâu ?) Được thể hiện trên bản
đồ và HTTTĐL dưới dạng điểm (point), đường (line) hoặc vùng (polygon) Dữ liệu
không gian là dữ liệu về đối tượng mà vị trí của nó được xác định trên bề mặt trái đất
HTTTĐL làm việc với 2 dạng mô hình dữ liệu địa lý khác nhau về cơ bản - mô hình
vector và mô hình raster
Hình 2.2: Chồng lớp các mô hình vector và raster
Trang 32a Mô hình vector: Thông tin chuyên đề được lưu trữ trong các bảng thuộc tính
riêng biệt Mỗi dòng trong bảng biểu diễn một đối tượng địa lý và mỗi một cột biểu
diễn một thuộc tính miêu tả những đối tượng địa lý Rất hữu ích đối với việc mô tả các
đối tượng riêng biệt, nhưng kém hiệu quả hơn trong miêu tả các đối tượng có sự
chuyển đổi liên tục như kiểu đất hoặc chi phí ước tính cho các công trình
Hình 2.3: Mô hình vector mô tả khu vực Đông Nam Á
Trong hệ thống Vector có các loại đối tượng sau: Đối tượng điểm (được xác định
bởi cặp giá trị đơn), đối tượng đường (được xác định như một tập hợp dãy của các
điểm) và đối tượng vùng (được xác định bởi ranh giới các đường thẳng) Trên bản đồ
tỷ lệ lớn, đối tượng thể hiện dưới dạng vùng Tuy nhiên trên bản đồ tỷ lệ nhỏ, đối
tượng này có thể thể hiện dưới dạng một điểm Vì vậy, các đối tượng điểm và vùng có
thể được dùng phản ánh đối tượng lẫn nhau
b Mô hình Raster: Được phát triển cho mô phỏng các đối tượng liên tục Một ảnh
raster là một tập hợp các ô lưới Cấu trúc đơn giản nhất là mảng gồm các ô của bản đồ
Mỗi ô trên bản đồ được biểu diển bởi tổ hợp tọa độ (hàng, cột) Thông tin chuyên đề
được ghi lại cho mỗi ô tại vị trí đó Kết quả mỗi ô biểu diễn một phần của bề mặt trái
đất và giá trị của nó là tính chất tại vị trí đó Mỗi một chuyên đề được biểu diễn bằng
một lớp lưới Mô hình dữ liệu raster là mô hình dữ liệu GIS được dùng tương đối phổ
biến trong các bài toán về môi trường, quản lý tài nguyên thiên nhiên Mô hình dữ liệu
Trang 33raster chủ yếu dùng để phản ánh các đối tượng dạng vùng là ứng dụng cho các bài toán
tiến hành trên các loại đối tượng dạng vùng: phân loại, chồng xếp
Hình 2.4: Mô hình raster mô tả bản đồ
Mô hình Raster có các đặc điểm
Các điểm được xếp liên tiếp từ trái qua phải và từ trên xuống dưới
Mỗi một điểm ảnh (pixcel) chứa một giá trị
Một tập các ma trận điểm và các giá trị tương ứng tạo thành một lớp (layer)
Trong cơ sở dữ liệu có thể có nhiều lớp
Cả mô hình vector và raster đều được dùng để lưu dữ liệu địa lý với những ưu
điểm, nhược điểm riêng Các hệ GIS hiện đại có khả năng quản lý cả hai mô hình này
Khó khăn của raster hay vector sẽ được khắc phục khi ta nhận ra rằng cả hai đều là
phương pháp hợp lý để biểu diễn dữ liệu không gian và cả hai đều có thể chuyển đổi
qua lại lẫn nhau Chuyển từ vector sang raster khá đơn giản và có nhiều thuật toán nổi
tiếng Chuyển từ vector sang raster bây giờ được làm tự động trên nhiều màn hình hiển
thị bằng bộ vi xử lý bên trong Phép toán chuyển từ raster sang vector cũng có thể thực
hiện nhưng nó là bài toán phức tạp hơn
Trang 342.4.2.2 Dữ liệu phi không gian
Dữ liệu phi không gian (Non - Spatial Data hay Attribute) (trả lời cho câu hỏi nó là
cái gì?) Thể hiện tính chất của đối tượng như chiều dài, rộng của con đường, độ cao
của cây rừng, dân cư của thành phố, … dữ liệu phi không gian mô tả thông tin về đặc
điểm của đối tượng
Phần cứng là hệ thống máy tính trên đó một hệ GIS hoạt động Ngày nay, phần
mềm GIS có khả năng chạy trên rất nhiều dạng phần cứng, từ máy chủ trung tâm đến
các máy trạm hoạt động độc lập hoặc liên kết mạng Phần cứng gồm các thiết bị điện
tử trên đó GIS hoạt động, như máy tính, máy in, scanner, digitizer, hệ thống lưu trữ, …
Trang 35 Phần mềm
Phần mềm GIS cung cấp các chức năng và các công cụ cần thiết để lưu giữ, phân
tích và hiển thị thông tin địa lý Các thành phần chính trong phần mềm GIS là:
Công cụ nhập và thao tác trên các thông tin địa lý
Hệ quản trị cơ sở dữ liệu (DBMS - database management system)
Công cụ hỗ trợ hỏi đáp, phân tích và hiển thị địa lý
Giao diện đồ hoạ người - máy (GUI - graphical user interface) để truy cập các
công cụ dễ dàng
Dữ liệu
Có thể coi thành phần quan trọng nhất của một hệ GIS là dữ liệu Các dữ liệu địa lý
và dữ liệu thuộc tính liên quan có thể được người sử dụng tập hợp hoặc được mua từ
nhà cung cấp dữ liệu thương mại Hệ GIS sẽ kết hợp dữ liệu không gian với các
nguồn dữ liệu khác, thậm chí có thể sử dụng DBMS để tổ chức lưu giữ và quản lý dữ
liệu
Con người
Công nghệ GIS bị hạn chế nếu không có con người tham gia quản lý hệ thống và
phát triển những ứng dụng GIS trong thực tế Người sử dụng GIS có thể là những
chuyên gia kỹ thuật, người thiết kế và duy trì hệ thống, hoặc những người dùng GIS để
giải quyết các vấn đề trong công việc
Phương pháp
Sự thành công trong các thao tác với GIS phụ thuộc rất nhiều vào việc hoạch định
phương pháp tiến hánh công việc (đề cương chi tiết cho một dự án)
Trang 362.4.4 Nhiệm vụ của GIS
a Nhập dữ liệu
Trước khi dữ liệu địa lý có thể được dùng cho GIS, dữ liệu này phải được chuyển
sang dạng số thích hợp Quá trình chuyển dữ liệu từ bản đồ giấy sang các file dữ liệu
dạng số được gọi là quá trình số hoá
Công nghệ GIS hiện đại có thể thực hiện tự động hoàn toàn quá trình này với công
nghệ quét ảnh cho các đối tượng lớn; những đối tượng nhỏ hơn đòi hỏi một số quá
trình số hoá thủ công (dùng bàn số hoá) Ngày nay, nhiều dạng dữ liệu địa lý thực sự
có các định dạng tương thích GIS Những dữ liệu này có thể thu được từ các nhà cung
cấp dữ liệu và được nhập trực tiếp vào GIS
b Thao tác dữ liệu
Có những trường hợp các dạng dữ liệu đòi hỏi được chuyển dạng và thao tác theo
một số cách để có thể tương thích với một hệ thống nhất định Trước khi các thông tin
này được kết hợp với nhau, chúng phải được chuyển về cùng một tỷ lệ (mức chính xác
hoặc mức chi tiết) Ðây có thể chỉ là sự chuyển dạng tạm thời cho mục đích hiển thị
hoặc cố định cho yêu cầu phân tích Công nghệ GIS cung cấp nhiều công cụ cho các
thao tác trên dữ liệu không gian và cho loại bỏ dữ liệu không cần thiết
c Quản lý dữ liệu
Ðối với những dự án GIS nhỏ, có thể lưu các thông tin địa lý dưới dạng các file
đơn giản Tuy nhiên, khi kích cỡ dữ liệu trở nên lớn hơn và số lượng người dùng cũng
nhiều lên, thì cách tốt nhất là sử dụng hệ quản trị cơ sở dữ liệu (DBMS) để giúp cho
việc lưu giữ, tổ chức và quản lý thông tin Một DBMS chỉ đơn giản là một phần mền
quản lý cơ sở dữ liệu Có nhiều cấu trúc DBMS khác nhau, nhưng trong GIS cấu trúc
quan hệ tỏ ra hữu hiệu nhất Trong cấu trúc quan hệ, dữ liệu được lưu trữ ở dạng các
bảng Các trường thuộc tính chung trong các bảng khác nhau được dùng để liên kết
Trang 37các bảng này với nhau Do linh hoạt nên cấu trúc đơn giản này được sử dụng và triển
khai khá rộng rãi trong các ứng dụng cả trong và ngoài GIS
d Hỏi đáp và phân tích
Một khi đã có một hệ GIS lưu giữ các thông tin địa lý, có thể bắt đầu hỏi các câu hỏi
đơn giản như:
Ai là chủ mảnh đất ở góc phố?
Hai vị trí cách nhau bao xa?
Vùng đất dành cho hoạt động công nghiệp ở đâu?
Và các câu hỏi phân tích như:
Tất cả các vị trí thích hợp cho xây dựng các toà nhà mới nằm ở đâu?
Kiểu đất ưu thế cho rừng sồi là gì?
Nếu xây dựng một đường quốc lộ mới ở đây, giao thông sẽ chịu ảnh hưởng như
thế nào?
GIS cung cấp cả khả năng hỏi đáp đơn giản "chỉ và nhấn" và các công cụ phân tích
tinh vi để cung cấp kịp thời thông tin cho những người quản lý và phân tích
e Hiển thị
Với nhiều thao tác trên dữ liệu địa lý, kết quả cuối cùng được hiển thị tốt nhất
dưới dạng bản đồ hoặc biểu đồ Bản đồ khá hiệu quả trong lưu giữ và trao đổi thông tin
địa lý GIS cung cấp nhiều công cụ mới và thú vị để mở rộng tính nghệ thuật và khoa
học của ngành bản đồ Bản đồ hiển thị có thể được kết hợp với các bảng báo cáo, hình
ảnh ba chiều, ảnh chụp và những dữ liệu khác (đa phương tiện)
Trang 382.4.5 Các ngành ứng dụng GIS
Vì GIS được thiết kế như một hệ thống chung để quản lý dữ liệu không gian, nó có
rất nhiều ứng dụng trong việc phát triển đô thị và môi trường tự nhiên như là: quy
hoạch đô thị, quản lý nhân lực, nông nghiệp, điều hành hệ thống công ích, lộ trình,
nhân khẩu, bản đồ, giám sát vùng biển, cứu hoả và bệnh tật Trong phần lớn lĩnh vực
này, GIS đóng vai trò như là một công cụ hỗ trợ quyết định cho việc lập kế hoạch hoạt
động
a Lâm Nghiệp
Bản đồ thích nghi cây trồng được tính toán dựa trên việc chồng xếp có trọng số
các thông tin: bản đồ thổ nhưỡng, bản đồ độ dốc;
Bản đồ hiện trạng rừng hai thời kỳ được chồng xếp để có bản đồ về biến động
rừng giữa hai thời kỳ;
Dự báo các khu vực có nguy cơ cháy rừng
b Môi trường
Theo những chuyên gia GIS kinh nghiệm nhất thì có rất nhiều ứng dụng đã phát
triển trong những tổ chức quan tâm đến môi trường Với mức đơn giản nhất thì người
dùng sử dụng GIS để đánh giá môi trường, ví dụ như vị trí và thuộc tính của cây rừng
Ứng dụng GIS với mức phức tạp hơn là dùng khả năng phân tích của GIS để mô hình
hóa các tiến trình xói mòn đất, sư lan truyền ô nhiễm trong môi trường khí hay nước,
hoặc sự phản ứng của một lưu vực sông dưới sự ảnh hưởng của một trận mưa lớn
c Khí tượng thuỷ văn
Trong lĩnh vực này GIS được dùng như là một hệ thống đáp ứng nhanh, phục vụ
chống thiên tai như lũ quét ở vùng hạ lưu, xác định tâm bão, dự đoán các luồng chảy,
xác định mức độ ngập lụt, từ đó đưa ra các biện pháp phòng chống kịp thời, vì