1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

BƯỚC ĐẦU NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC RỪNG TỰ NHIÊN TRẠNG THÁI IIIA2 TẠI KHU VỰC THÁC MAI, LÂM TRƯỜNG TÂN PHÚ TỈNH ĐỒNG NAI

122 123 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 122
Dung lượng 2,32 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới, về hệ thực vật rừng phức tạp, phân bố ưu thế các loài cây họ Dầu Diptercarpaceae, họ Đậu Fabaceae, họ Thầu Dầu Euphorbiaceae….Theo kết quả điều tra lâm

Trang 1

KHOA: LÂM NGHIỆP - Z Y -

TRỊNH CÔNG PHƯƠNG

BƯỚC ĐẦU NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC RỪNG

LÂM TRƯỜNG TÂN PHÚ - TỈNH ĐỒNG NAI

KHÓA LUẬN CUỐI KHÓA KỸ SƯ CHUYÊN NGÀNH LÂM NGHIỆP

Tp Hồ Chí Minh Tháng 07/2007

Trang 2

KHOA: LÂM NGHIỆP - Z Y -

BƯỚC ĐẦU NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC RỪNG

LÂM TRƯỜNG TÂN PHÚ - TỈNH ĐỒNG NAI

Giáo viên hướng dẫn: Th.S Nguyễn Văn Dong Sinh viên thực hiện: Trịnh Công Phương

Khóa : 2003 – 2007

Tp Hồ Chí Minh Tháng 07/2007

Trang 3

FORESTRY FACULTY - Z Y -

INITIAL TO STUDY ON STRUCTURE CHARACTERISTICS

AFFORESTATION YARD, DONG NAI PROVINCE

Thesis Advisor: MSc Nguyen Van Dong Executorial Student: Trịnh Công Phương

Acamedic year: 2003 – 2007

Ho Chi Minh City 07/2007

Trang 4

Lời Cảm Ơn

W X

thành và nuôi nấng tôi nên người

Để đạt được thành quả như ngày hôm nay, tôi vô cùng biết ơn và ghi nhận những công lao dạy dỗ của thầy cô giáo Trường Đại học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh, và nhất là các Thầy Cô giáo trong khoa Lâm nghiệp đã truyền cho tôi những kiến thức quý báu trong suốt quá trình học tập tại trường, để sau này làm hành trang vững bước trên con đường đời Xin chân thành cảm ơn Thầy Nguyễn Văn Dong là người hướng dẫn tận tình cho tôi trong suốt quá trình học tập cũng như thực hiện cuốn luận văn này

Cảm ơn Thầy Mạc Văn Chăm, Thầy Viên Ngọc Nam đã cho tôi những lời khuyên thật là bổ ích

Xin gởi lời cảm ơn đến ban lãnh đạo, cán bộ công nhân viên Lâm trường Tân Phú - Đồng Nai

Cảm ơn quý tác giả các tài liệu mà tôi đã sử dụng tham khảo trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn tốt nghiệp

Cảm ơn tập thể Lâm nghiệp 29 đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập tại trường

Cuối cùng, xin chân thành cảm ơn tất cả mọi người dã giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn

Kính chúc quý Thầy Cô giáo luôn dồi dào sức khỏe!

Xin chân thành cảm ơn!!!

Trịnh Công Phương

Trang 5

Mục Lục

Trang Chương 1

MỞ ĐẦU

1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ……… 2

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI……… 4

1.3 GIỚI HẠN NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI……… 4

Chương 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.1 CÁC KHÁI NIỆM VỀ CẤU TRÚC RỪNG……… 5

2.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CẤU TRÚC RỪNG TỰ NHIÊN NHIỆT ĐỚI TRÊN THẾ GIỚI……… 7

2.3 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CẤU TRÚC RỪNG TỰ NHIÊN NHIỆT ĐỚI Ở VIỆT NAM……… 11

Chương 3 TÌNH HÌNH CƠ BẢN KHU VỰC NGHIÊN CỨU 3.1 CƠ SỞ THÀNH LẬP LÂM TRƯỜNG TÂN PHÚ - TỈNH ĐỒNG NAI…… 15

3.1.1 Cơ sở pháp lý………15

3.1.2 Tổ chức bộ máy quản lý………15

3.2 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN……….16

3.2.1 Vị trí địa lý-phạm vi ranh giới hành chính………16

3.2.2 Địa hình- địa thế………17

3.2.3 Khí hậu và thủy văn……… 18

3.2.4 Hiện trạng tài nguyên và các loại đất………20

3.3 TÌNH HÌNH DÂN SINH KINH TẾ- XÃ HỘI……… 21

3.3.1 Dân tộc, dân số và lao động của vùng……… 21

Trang 6

3.3.2 Hệ thống giao thông……… 22

3.3.3 Thực trạng kinh tế xã hội……… 22

3.4 TÌNH HÌNH PHÂN BỐ VÀ ĐẶC TÍNH XUNG YẾU CỦA KHU VỰC PHÒNG HỘ……… 24

3.5 NHÓM HỆ ĐỘNG-THỰC VẬT RỪNG TÂN PHÚ……… ….25

3.5.1 Thực vật rừng .25

3.5.1.1 Nhân tố di cư ……… 25

3.5.1.2 Nhân tố bản địa……… 26

3.5.2 Động vật rừng ……… 26

Chương 4 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4.1 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU……… …28

4.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU……… …28

4.2.1 Công tác ngoại nghiệp ……… 28

4.2.2 Công tác nội nghiệp……… …29

4.2.2.1 Phương pháp xử lý số liệu……… …29

4.2.2.2 Phương pháp đánh giá kết quả……… … 32

Chương 5 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 5.1 PHÂN BỐ THỰC NGHIỆM SỐ CÂY THEO CHIỀU CAO………35

5.2 PHÂN BỐ DIỆN TÍCH TÁN Ở CÁC LỚP KHÔNG GIAN RỪNG…………37

5.3 TẦN SỐ TÍCH LŨY TÁN TRONG KHÔNG GIAN………38

5.4 ĐỘ TÀN CHE………40

5.5 KẾT CẤU TỔ THÀNH LOÀI THỰC VẬT……… 41

5.6 ĐỘ HỖN GIAO CỦA RỪNG………43

5.7 PHÂN BỐ CHIỀU CAO VÀ CHẤT LƯỢNG CÂY TÁI SINH……… 45

5.8 PHÂN BỐ SỐ CÂY THEO CẤP ĐƯỜNG KÍNH (N-D1.3)……… 46

5.9 SỰ PHÂN BỐ SỐ CÂY THEO TIẾT DIỆN NGANG G1.3 (M2)………… …48

5.10 MỐI TƯƠNG QUAN GIỮA D1.3 VÀ HVN 49

Trang 7

Chương 6

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

6.1 KẾT LUẬN 52 6.2 KIẾN NGHỊ 54

TÀI LIỆU THAM KHẢO

CÁC HIÌNH MINH HOẠ

PHỤ LỤC

Trang 8

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

Trang 9

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

Trang 10

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

Trang 11

viii

TÓM TẮT

“Bước đầu nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng tự nhiên trạng thái IIIA 2 tại khu

vực Thác Mai, Lâm trường Tân Phú-Đồng Nai”

Thác Mai - Lâm trường Tân Phú ở vị trí cây số 105 - Quốc lộ 20 (tuyến đường Tp

Hồ Chí Minh đi Đà Lạt) Tổng diện tích đất Lâm trường quản lý là: 14.152,7 ha và thuộc ấp Hai - xã Ngọc Phú - huyện Định Quán - tỉnh Đồng Nai Rừng mưa nhiệt đới

ở khu vực Thác Mai - Lâm trường Tân Phú là một hệ sinh thái có độ đa dạng sinh học cao; đa dạng về loài và nguồn gen và là nơi có cảnh quan du lịch thật hấp dẫn

Thời gian nghiên cứu: từ 14/2 đến 30/6/2007

Mục tiêu của vấn đề nghiên cứu: là góp phần làm sáng tỏ thành phần cấu trúc của

loài (đường kính, chiều cao, thể tích) và sự tái sinh tự nhiên của kiểu rừng IIIA2 Để từ

đó, làm cơ sở cho việc quản lý và phục hồi rừng

Phương pháp nghiên cứu: Lập hai tuyến, mỗi tuyến cách nhau 500 m Trên mỗi tuyến lập năm ô tiêu chuẩn, với S = 2000 m2 (40m x 50m), mỗi ô cách nhau 100 m Từ

đó, thu thập số liệu cây đứng (D1.3 ≥ 8 cm) Trên mỗi ô tiêu chuẩn lập 4 ô tái sinh, ở 4 góc (2m x 2m); thu thập số liệu để đánh gía sự tác động của cây bụi và các cây cối trên mặt đất đến việc tái sinh tự nhiên Lập hai ô trắc diện là nơi đại diện của khu vực nghiên cứu, với S = 750 m2 (15 m x 50 m) Tất cả dữ liêu thu thập được xử lý trên vi tính với các phần mềm: Excel, Statgraphic,…

Các kết quả nghiên cứu như sau:

+ Phân bố số cây theo chiều cao với ba đỉnh 10 m, 18 m, 26 m Số cây cũng tập trung nhiều nhất tại ba đỉnh này 11,5 %, 12,4 %, 10,5 % Cho thấy lâm phần phân hoá mạnh về chiều cao

+ Phân bố diện tích tán: chiếm ưu thế vẫn là các loài tầng A2, và lớp kế cận nó Bởi

vì, có khoảng sinh trưởng thuận lợi Với St = 10.620,47 m2/ha, và độ che phủ là 1,062 + Tần số tích luỹ tán là một đường cong tăng nhanh ở các cấp về sau, và vượt bật ở cấp chiều cao từ 24 - 26 m Điều này phản ánh tầng này che bóng nhiều nhất, gây ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển tầng dưới

Trang 12

+ Độ tàn che rừng đạt 0,75 (thông qua hai trắc diện) Vì thế đã tạo ra hoàn cảnh rừng khác với bên ngoài Đây là một dạng phân bố cụm

+ Tổ thành loài thực vật phong phú và đa dạng với 77 loài Loài chiếm tổ thành cao

nhất là Chiếc tam lang (Barringtonia acutangula) với Iv = 22,3 %, tiếp đến là Dầu song nàng (Dipterocarpus dyeri Pierre), Thị (Diospyros sp), Cầy (Irvingia malayana

Olivsx Benn), Không những thế, khu vực này vẫn có những loài cây gỗ quý hiếm, có

giá trị cao như: Gõ mật (Sindora siamensis var siamensis), Cẩm lai (Dalbergia

cochinchinensis),…

+ Độ hỗn giao rừng K = 6,82 % Số loài tập trung nhiều nhất ở chiều cao từ 10-18

m và giảm dần về hai phía

+ Tình hình tái sinh tự nhiên ở đây rất tốt, mật độ 15250 cây/ha Với cây có phẩm chất tốt chiếm 70,9 %

+ Phân bố số cây theo D1.3 là một đường cong giảm dần, và có sự biến động khá mạnh về đường kính (R = 135,4 cm) Số cây tập trung chủ yếu ở D1.3 = 8-35 cm chiếm 90,52 %

+ Phân bố số cây theo tiết diện ngang có dạng phân bố giảm Số lượng cây tập trung chủ yếu ở cấp G1.3 đầu tiên với 90,2569 %

+ Trữ lượng rừng đạt 321,6 m3/ha

+ Mối tương quan giữa Hvn và D1.3 là rất chặt (R2 = 90,4%, r = 0,95), với sai số phương trình rất nhỏ (S = 0.0034), Ftính (103,8) > Fbảng(9,65), Pvalue = 0.0000 < 0.01 Phương trình được lựa chọn cụ thể sau: Hvn = 1/(0.033+0.444/D1.3) (5.10)

Trang 13

The study carried out from 14 February to 30 June 2007

Objectives of the study are to clarify characteritic in term of species composition structure (diameter, height, and volume) and natural regeneration of IIIA2forest type Thenceforward, basis tobe for forest rehabilitate and management

To solve the issue, the author applies observational surveying in temporary sample plots, describes and analysis events occur in natural forest Consequently consolidating and withdraw basic structure feature of IIIA2 forest type Totally 10 sample plot have been set up with the dimension of 2000 m2 each (40m x 50m) to collect data of standing trees (D ≥ 8 cm) Establishing 40 sub-plot of 4 m2 each to access impact of shrubs and ground vegetation on natural regeneration Data collected are processed in computer with statistical software such as Excel, Statgraphic,

The main results as follows:

+ The distribution of height indicates on the peak of 10 m, 18 m, 26 m The number

of trees concentrated on the peaks are 11,5 %, 12,4 %, 10,5 % respectively This indicates that the height of the trees is different

+ Canopy area distribution: The A2 and next layer have many dominant species because of good living conditions The canopy area (St) is 10,620.47 m2/ha and forest covers is 1,062

Trang 14

+ Accumulated frequency of canopy is a curve which high increment on later classes and highest at class of 24 - 26 m This layer shades other trees that will affect

to the development of trees at under layer

+ Forest cover is 0,75 (by forest profile) Species distribution is aggregated

+ Species composition is abundance and diversity (77 species) Chiếc tam lang

(Barringtonia acutangula) is species which highest number of trees and important value index (IVI) is 22,3 %, second is Dầu song nàng (Dipterocarpus dyeri Pierre), Thị (Diospyros sp), Cầy (Irvingia malayana Olivsx Benn), There are many big rare trees in the area with high value such as Gõ mật (Sindora siamensis var siamensis), Cẩm lai (Dalbergia cochinchinensis),…

+ The mix forest index (K) is 6,82 % The species concentrated at the high class (10

- 18 m) and decreased at to side

+ Abundant natural regeneration happened in the area with the density of 15,250 tree/ha at the quality of 70.9 %

+ The distribution of diameter (D1.3) is a curve that decreasing and strong variation with the range of 135,4 cm The tree concentrates on the diameter class 8 - 35 cm, occupied 90,52 %

+ The distribution of tree with basal area is decreasing distribution shape The trees concentrate mainly at first class about 90,26 %

+ The volume of forest is 321,6 m3/ha

+ The relationship between Hvn and D1.3 is very high (R2 = 90,4 %, r = 0,95), standard error (SE = 0.0034), Fcalculated (103,8) > Ftable(9,65), Pvalue = 0.0000 < 0.01 The regression is: Hvn = 1/(0.033+0.444/D1.3) (5.10)

Trang 15

: Nhiệt độ không khí trung bình

BĐ T0: Biên độ nhiệt hằng ngày

Wtđ: Độ ẩm tương đối thấp nhất tuyệt đối

S %: Phần trăm diện tích tán cây

Iv %: Phần trăm hệ số quan trọng của loài để tính tổ thành

K %: Phần trăm độ hỗn giao

D1,3: Đường kính 1,3 m

G1,3: Tiết diện ngang 1,3 m

Htn: Chiều cao vút ngọn thực nghiệm

Hlt: Chiều cao vút ngọn lý thuyết

R: Biên độ biến động

Cv: Hệ số biến độ

S: Độ lệch tiêu chuẩn

F1,3: Hình số ngang ngực 1,3 m

Trang 16

DANH SÁCH CÁC HÌNH

Hình 5.1 Biểu đồ phân bố % số cây theo cấp chiều cao Hvn

Hình 5.2 Biều đồ phân bố % diện tích tán ở các lớp không gian rừng

Hình 5.3 Biểu đồ tần số tích luỹ tán trong không gian

Hình 5.6.a Biểu đồ biểu diễn số loài, và mật độ theo từng cấp chiều cao

Hình 5.6.b Biểu đồ biểu diễn độ hỗn giao các loài cây theo từng cấp chiều cao Hình 5.7 Biểu đồ phân bố % số cây tái sinh theo cấp chiều cao

Hình 5.8 Biểu đồ phân bố % số cây theo cấp đường kính D1.3

Hình 5.9 Biểu đồ phân bố % số cây theo tiết diện ngang

Hình 5.10.a Biểu diễn mối tương quan Hvn-D1.3

Hình 5.10.b Hình biểu diễn khoảng tin cậy và khoảng dự đoán Hvn tương ứng với gía trị D1.3 nhất định

Trang 17

xiv

DANH SÁCH CÁC BẢNG

Bảng 5.1 Bảng phân bố thực nghiệm số cây theo cấp chiều cao

Bảng 5.2 Bảng phân bố diện tích tán ở các lớp không gian rừng

Bảng 5.3 Bảng tần số tích luỹ tán trong không gian

Bảng 5.5 Thống kê tổ thành các loài thực vật tham gia kết cấu tầng cây gỗ

Bảng 5.6 Độ hỗn giao của các loài cây theo số cây ở từng cấp chiều cao

Bảng 5.7 Bảng phân bố cây tái sinh

Bảng 5.8 Bảng phân bố số cây theo cấp đường kính D1.3

Bảng 5.9 Bảng phân bố số cây theo tiết diện ngang G1.3

Bảng 5.10 Tương quan Hvn-D1.3

Trang 18

gỗ tốt, dược liệu quý giá…mà còn cung cấp Oxy, điều hòa không khí, là lá phổi khổng

lồ đang hàng ngày, hàng giờ điều chỉnh các nhân tố sinh thái trên hành tinh chúng ta Nhưng do cuộc sống, phục vụ những nhu cầu, lợi ích trước mắt mà chúng ta đã lạm dụng quá mức tài nguyên rừng, khai thác một cách bừa bãi, đốt phá rừng làm nương rẫy…để có cái ăn, cái mặc Nhưng chúng ta lại không nhớ đến một điều quan trọng rằng: bên cạnh việc khai thác thì phải biết trồng rừng, phải biết chăm sóc, bảo vệ thì

“kho vàng” kia mới không có ngày cạn kiệt

Theo ước tính của các nhà khoa học, trước đây diện tích rừng thế giới có khoảng sáu tỷ hecta nhưng đến hiện nay tài nguyên rừng thế giới chỉ còn lại một nửa (nghĩa là chỉ còn khoảng ba tỷ hecta) Sự suy giảm về diện tích này không những đã làm mất mát đi một số lượng tài nguyên đáng kể mà chất lượng các khu rừng còn lại bị suy giảm nặng nề Cùng với sự suy giảm diện tích rừng quá mức đã kéo theo sự thay đổi khí hậu toàn cầu (hạn hán, lũ lụt…) và sự suy giảm tính đa dạng sinh học, môi trường… mà hậu quả không ai ngoài con người trên trái đất này là chúng ta phải gánh chịu Ở Châu Á, diện tích rừng nhiệt đới chiếm tới 25 % diện tích rừng lá rộng của toàn thế giới, nhưng theo thời gian diện tích rừng cũng bị thu hẹp một cách đáng kể, điều này do hai nguyên nhân gây ra: do tự nhiên (nạn cháy rừng…), và do ý thức con người còn kém Nguyên nhân này là trọng tâm, cốt lõi nhất của vấn đề mà chúng ta cần phải quan tâm ở đây Theo FAO từ năm 1976 đến năm 1980 có tới 1,8 triệu ha rừng ở các nước Châu Á Thái Bình Dương bị thiêu hủy

Theo các chuyên gia về Lâm Nghiệp dự đoán vào khoảng năm 2000 trở đi, mỗi năm rừng thế giới sẽ mất đi 170 - 200 triệu hecta, hầu hết ở vùng nhiệt đới; từ năm

Trang 19

2005 trở đi mỗi năm có thể mất đi 600 - 700 triệu hecta, trong đó diện tích rừng nhiệt

đới sẽ giảm đi 30 % (Shamar et al.,1992) Tốc độ mất rừng ước tính là 37 - 43

hecta/phút

Ở Việt Nam cũng vậy, là một nước nhiệt đới nằm trong khu vực Đông Nam Á, trước kia rừng chiếm ¾ diện tích trên toàn lãnh thổ với nguồn tài nguyên rừng giàu có, thành phần thực vật phong phú bao gồm: 267 họ; 1850 giống và gần 700 loài Nhưng thực tại hiện nay thì sao, diện tích ngày càng bị thu hẹp, cấu trúc rừng bị tàn phá nặng

nề Vào năm 1943, rừng có độ che phủ là 75 %, thì đến năm 1981 chúng ta chỉ còn gần khoảng 50 % Theo tài liệu của Viện Điều Tra Quy Hoạch thì trong 15,8 triệu ha rừng chỉ còn có 7,8 triệu ha rừng kinh tế, rừng già, còn lại chỉ là những diện tích đất trống, đồi núi trọc và rừng thứ sinh nghèo kiệt Cũng theo số liệu trên cho thấy năm 1982 thì rừng thường xanh lá rộng hỗn loài chiếm 67 % trong tổng số gần sáu triệu ha rừng kinh tế (5,32 triệu ha) Theo thống kê chưa đầy đủ (năm 1998) thì diện tích, trữ lượng rừng ở nước ta đã đến mức quá nghèo Độ che phủ chiếm dưới 28 %, bình quân đầu người chỉ có 0,15 ha rừng/người và trữ lượng gỗ tính theo đầu người là 9,45 m3 gỗ/người (so với bình quân của thế giới thì chỉ tiêu tương ứng là 0,97 ha rừng/người và

Vì thế, để đi sâu vào nghiên cứu cấu trúc rừng, tôi chọn khu vực Thác Mai, thuộc Lâm trường Tân Phú, Tỉnh Đồng Nai Đây là khu rừng tự nhiên thuộc loại rừng

Trang 20

kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới, về hệ thực vật rừng phức tạp, phân bố ưu thế các

loài cây họ Dầu (Diptercarpaceae), họ Đậu (Fabaceae), họ Thầu Dầu

(Euphorbiaceae)….Theo kết quả điều tra lâm học của đoàn điều tra Quy hoạch Lâm

Nghiệp, có khoảng hơn 300 loài phân bố trong vùng rừng này, nhưng hiện nay diện tích đất rừng, chất lượng và trữ lượng rừng giảm sút nhanh chóng Xuất phát từ những vấn đề mang tính thực tiễn trên, dưới sự hướng dẫn của thầy Nguyễn Văn Dong, thuộc

bộ môn Điều chế rừng, Khoa Lâm Nghiệp, Trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ

Chí Minh, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Bước đầu nghiên cứu đặc điểm cấu trúc

rừng tự nhiên trạng thái IIIA 2 tại khu vực Thác Mai, Lâm trường Tân Phú- Đồng Nai”

Với mong muốn góp một phần nhỏ bé của mình về sự hiểu biết cấu trúc rừng tại nơi đây, để từ đó giúp công tác quản lý, bảo vệ và phục hồi rừng ngày càng có hiệu quả hơn

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

- Góp phần cung cấp các thông tin về cấu trúc rừng ở khu vực Thác Mai, Lâm

trường Tân Phú - Đồng Nai

- Xử lý thông tin về cấu trúc của kiểu rừng kín thường xanh để làm cơ sở cho các chương trình quản lý, bảo vệ và phục hồi rừng

1.3 GIỚI HẠN NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

Do điều kiện trình độ và thời gian có hạn, cho nên đề tài chỉ thực hiện ở một số diện tích rừng đại diện cho trạng thái IIIA2 tại khu vực Thác Mai, Lâm trường Tân Phú-Tỉnh Đồng Nai Mặc dù đã cố gắng hết sức trong việc điều tra, khảo sát, tham khảo, kế thừa các tài liệu có liên quan để thực hiện đề tài Nhưng do những hạn chế nhất định, nhất là sự phức tạp và phong phú về mặt lâm học của rừng nhiệt đới Nên đây chỉ là những kết quả bước đầu với mong muốn là đóng góp một phần nhỏ sức của mình vào việc tìm hiểu một số đặc điểm rừng tự nhiên ở khu vực Thác Mai, Lâm trường Tân Phú - Tỉnh Đồng Nai

Trang 21

Chương 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

2.1 CÁC KHÁI NIỆM VỀ CẤU TRÚC RỪNG

Hệ sinh thái: là một hệ thống bao gồm các sinh vật (thực vật, động vật, vi sinh

vật) và môi trường vô cơ của chúng (khí hậu, đất trong trường hợp của hệ sinh thái trên cạn; nước và giá thể trong các hệ sinh thái thủy vực) Để được xem là một hệ sinh thái, các thành phần này phải có sự sắp xếp theo không gian và có những tương tác thích hợp dẫn đến sự thu nhập và dự trữ năng lượng như sinh khối, cấu trúc dinh dưỡng, sự tuần hoàn của các chứng khoáng và sự thay đổi theo thời gian (diễn thế sinh thái) Các hệ sinh thái được đặc trưng bởi năm đặc tính: cấu trúc, chức năng, tính phức tạp, sự tương tác giữa các thành phần, sự biến đổi theo thời gian (TS Nguyễn Văn Thêm)

Hệ sinh thái rừng: hệ sinh thái rừng ưu thế bởi các loài cây gỗ, trong đó vi khí

hậu, đất, thủy văn, chu trình khoáng, sự hình thành sinh khối dự trữ và phân phối các quá trình của chuỗi dinh dưỡng phản ánh sự ưu thế của thực vật thân gỗ to lớn với đời sống dài (TS Nguyễn Văn Thêm)

Qua hai khái niệm trên, ta thấy chúng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.Hệ sinh thái rừng là một phần nhỏ trong hệ sinh thái.Vì thế, ta có thể kết luận rằng: Rừng cũng

là một hệ sinh thái

Cấu trúc rừng: là sự tổ chức và sắp xếp các thành phần tình hình rừng theo

không gian và thời gian Sự phân bố các lớp cây rừng theo chiều thẳng đứng và chiều nằm ngang (TS Nguyễn Văn Thêm) Mà vì thế cấu trúc rừng có ảnh hưởng trực tiếp đến tiến trình cạnh tranh giữa thực vật và cơ chế tác động lẫn nhau giữa chúng trong

hệ sinh thái

Theo RiChards (1952) trong cuốn “Rừng mưa nhiệt đới” đã cho rằng: “Một quần xã thực vật gồm những loài cây có hình dạng khác nhau nhưng tạo ra một hoàn cảnh sinh thái nhất định được sắp xếp một cách tự nhiên và hợp lý trong không gian…”

Trang 22

Theo Meyer (1952), Turrbull (1963), Rollet (1969), sử dụng thuật ngữ “Cấu

Trúc” để chỉ rõ sự phân bố cây gỗ theo cấp kính hoặc là phân bố của tiết diện ngang thân cây theo cấp đường kính

Về sau, AssMann (1968) lại định nghĩa: “Một lâm phần hay một rừng cây là tổng thể các cây cùng sinh trưởng và phát triển trên một diện tích tạo thành một điều kiện hoàn cảnh nhất định và có cấu trúc bên ngoài cũng như bên trong, khác với những diện tích rừng khác…” Theo đó, thì một rừng cây hay một lâm phần sẽ được hình thành khi nó đủ số lượng cá thể cây, tạo nên một tầng tán cũng như độ tàn che và những điều kiện hoàn cảnh rừng nhất định Giữa cấu trúc rừng và hệ sinh thái rừng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Bất kỳ, một quy luật cấu trúc quần thể nào cũng có nội dung sinh thái học bên trong nó Ta phải quán triệt quan điểm sinh thái thì mới có cơ

sở khoa học để giải thích những quy luật cấu trúc của quần thể thực vật

Cấu trúc sinh thái được thể hiện bởi các nhân tố: tổ thành thực vật, dạng sống, và tầng phiến:

+ Tổ thành thực vật: là đặc điểm độc đáo quan trọng nhất của hệ sinh thái rừng

mưa nhiệt đới, tính phong phú về tổ thành loài cây trước hết là do điều kiện thiên nhiên nhiệt đới thuận lợi và do tính chất cổ xưa của khu hệ thực vật hệ sinh thái rừng mưa Hệ sinh thái rừng mưa hỗn hợp có tổ thành loài cây phức tạp nhất, trong đó không có một loài cây nào giữ vai trò ưu thế, phần lớn các loài cây chỉ có rất ít cá thể đại diện trong quần thể Đây là hệ sinh thái đặc trưng phổ biến của hệ sinh thái rừng mưa (Trích tài liệu Sinh Thái Rừng của TS Nguyễn Văn Thêm)

+ Dạng sống: E Warming (1901) đã khái niệm về dạng sống: “Thành phần dạng

sống là tập hợp các nhóm cây, mặc dù có khác nhau về hệ thống phân loại, nhưng đều

có khả năng thích ứng với những điều kiện sống nhất định, có sự tương đồng về cấu tạo, chức năng sinh lý và tập tính sinh học”

Trong một quần xã thực vật, nhất là rừng mưa, chúng ta có thể gặp rất nhiều các dạng sống khác nhau, đó là:

Trang 23

+ Tầng phiến: Theo Gams (1918), tầng phiến có thể được hiểu theo 3 nghĩa sau:

ƒ Tầng phiến là tập hợp các cá thể của cùng một loài nằm trong giới hạn một vùng nhất định, tương tự như thuật ngữ quần thể loài

ƒ Tầng phiến là tập hợp các loài cây khác nhau thuộc cùng một nhóm dạng sống

và gần gũi với nhau về nhịp điệu sinh trưởng theo mùa

ƒ Tầng phiến là tập hợp các loài cây khác nhau, nhưng có mối liên hệ chặt chẽ với nhau và cùng sinh sống trong một môi trường nhất định

Theo Thái Văn Trừng (1970, 1978) sự sắp xếp các cây gỗ rừng mưa nhiệt đới theo chiều thẳng đứng thành 5 tầng, trong đó có 3 tầng cây gỗ lớn, 1 tầng cây gỗ bụi, 1 tầng cỏ và dương xỉ Đặc điểm cơ bản của các tầng như sau:

ƒ Tầng vượt tán (A 1 ) Đây là tầng được hình thành bởi những cây gỗ cao đến 40

m Tầng A1 không liên tục cả theo chiều ngang và chiều đứng

ƒ Tầng ưu thế sinh thái (A 2 ) Tầng này có chiều cao trung bình từ 20 – 30 m,

phân bố liên tục cả theo chiều đứng và chiều ngang

ƒ Tầng dưới tán (A 3 ) Tầng này bao gồm những loài cây có thân hình nhỏ, mọc

rải rác, cao trung bình từ 8 – 15 m, ngoài ra cấu tạo tầng này còn bao gồm những cây non, cây nhỡ của các loài thuộc tầng trên

ƒ Tầng cây bụi thấp (B) Tầng này cao từ 2 – 8 m, được hình thành từ những

loài cây bụi Các loài cây tầng này thường có đặc điểm : chịu bóng cao, sinh trưởng rất chậm, thân nhỏ bé, đôi khi chỉ có một thân độc nhất với một tùm lá ở trên ngọn

ƒ Tầng cỏ quyết (C 3 ) Tầng này bao gồm những loài cây thân thảo có chiều cao

dưới 2 m

Còn cấu trúc hình thái lại được phân biệt thành cấu trúc mặt phẳng đứng (hiện tượng thành tầng) và cấu trúc trên mặt phẳng ngang (mật độ và mạng hình phân bố cây trong quần thể) Cấu trúc thời gian của quần thể được đặc trưng bởi nhân tố tuổi

2.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CẤU TRÚC RỪNG TỰ NHIÊN NHIỆT ĐỚI TRÊN THẾ GIỚI

Rừng tự nhiên là một loại hình rừng rất đa dạng và phong phú Trong quá trình

nghiên cứu thì thuật ngữ “cấu trúc” được sử dụng khá phổ biến nhưng ý nghĩa khác

nhau theo từng tác giả như:

Trang 24

Tác giả Richard & David (1934) đã sử dụng bản vẽ trắc đồ đứng và ngang của

quần xã thực vật để mô tả cấu trúc rừng mưa nhiệt đới Richard cho rằng “Rừng mưa nhiệt đới” có khả năng tự phục hồi lại liên tục, tái sinh rừng theo lỗ trống do sự suy

vong của các thế hệ cây già cỗi là phổ biến

Theo PW Richards, 1939, “cấu trúc” nghĩa là phân bố cây rừng theo tầng

(chiều thẳng đứng)

Theo Prodan (1952), nghiên cứu quy luật phân bố rừng chủ yếu theo đường kính D1.3 có liên hệ với giai đoạn phát dục của rừng và các biện pháp kinh doanh Theo ông, sự phân bố số cây theo đường kính có giá trị đặc trưng nhất cho rừng, đặc biệt là rừng tự nhiên hỗn loài, nó phản ánh được các đặc điểm lâm sinh của rừng Những quy luật phân bố mà ông xác định được ở rừng tự nhiên được chấp nhận và kiểm chứng ở rất nhiều nơi trên thế giới Đó là phân bố đường kính của rừng tự nhiên có quy luật một đỉnh lệch trái, số cây tập trung rất nhiều ở các cấp kính nhỏ do bởi có nhiều loài, nhiều thế hệ cùng tồn tại Song ở các cỡ kính lớn, chỉ có một số loài nhất định do bởi đặc tính sinh học (cây gỗ lớn) hay do nhờ vị trí thuận lợi trong rừng chúng mới có khả năng tồn tại và phát triển Về phân bố chiều cao, rừng tự nhiên thường có quy luật nhiều đỉnh, rừng càng có nhiều thế hệ hay do khai thác chọn không có quy tắc thì phân

bố chiều cao của rừng thường nhiều đỉnh và giới hạn của đường cong phân bố nhiều đỉnh là phân bố giảm đặc trưng cho rừng chặt chọn không đều tuổi

Rutkowski Boleslaw (1963) đã nghiên cứu bằng phương pháp biểu đồ sự phân

bố số cây theo đường kính trên một hecta theo đại lượng tương đối Cách dùng đường biểu thị đường kính và số cây theo đơn vị đã cho phép so sánh những lâm phần khác nhau

Theo Golley và cộng tác viên, 1969, “cấu trúc” là phân bố sinh khối theo gỗ,

thân, lá, rễ…Sau này, T.A Rabotnov (1978), định nghĩa “cấu trúc” quần xã thực vật

đó là đặc điểm phân bố các cơ quan, các thành phần tạo nên quần xã trong không gian

Trang 25

Tiếp theo, nghiên cứu của Melexov (1989) thì nói đến đặc điểm lâm học của rừng, thường đề cập đến các yếu tố: tổ thành loài cây, kết cấu tuổi, cấp kính, cấp chiều cao cũng như trữ lượng và kết cấu tiết diện ngang của rừng Ngoài ra, tác giả còn đề cập đến các đặc điểm như: kết cấu đất, điều kiện khí hậu, tiểu khí hậu, địa hình địa thế…Dẫn đến việc xây dựng các biện pháp lâm học để bảo quản hệ sinh thái rừng được tốt hơn, đạt kết quả cao hơn

Năm 1995 Wenk đã thông qua cấu trúc của một loại hình rừng để xác định được chính xác kích thước bình quân của lâm phần phục vụ cho công tác điều tra, quy hoạch rừng, ngoài mục đích đánh giá hiện trạng, động thái sinh trưởng của rừng qua các quy luật phân bố số cây theo chiều cao vút ngọn Hvn (cấu trúc đứng), theo đường kính D1.3, theo đường kính tán DT, theo tổng diện ngang G (cấu trúc ngang ),…Wenk cũng cho rằng, ở loại hình rừng trồng thuần loại đều tuổi phân bố số cây theo D1.3,

Hvn…khi mới trồng thường có quy luật chính thái, và lệch trái khi bước vào tuổi khép tán, và khi rừng lớn tuổi sẽ dần chuyển sang lệch phải

PW Richards tác giả cuốn “Rừng mưa nhiệt đới” đã nhận xét kết quả nghiên cứu về cấu trúc rừng tự nhiên là: Thực vật ở các quần xã thực vật “Rừng mưa nhiệt đới” rất phức tạp Nhìn chung, trong quần xã thực vật các loài cây thường có hình dạng khác nhau, dạng sống khác nhau, nhưng các thành viên cùng một nhóm sinh thái thì đều giống nhau về dạng sống và về quan hệ đối với hoàn cảnh xung quanh Các dạng sống này đều biểu hiện đến mức độ nào đó cách sắp xếp hợp lý trong không gian Cách sắp xếp diễn ra theo hai hướng: thẳng đứng và nằm ngang Cách sắp xếp này có

ý nghĩa quan trọng đối với việc phân biệt các quần thể phụ khác nhau Cách sắp xếp theo hướng thẳng đứng của thực vật rừng tự nhiên nhiệt đới được phát họa tốt nhất bằng các biểu đồ mặt cắt đứng và hiểu biết tốt nhất qua nghiên cứu các biểu đồ mặt cắt đứng này

Các tác giả cũng nhấn mạnh rằng, các biểu đồ mặt cắt đứng chỉ minh họa được cách sắp xếp trên hướng thẳng đứng của các cây gỗ trong một diện tích riêng và có hạn Một dãy kề ngay bên cạnh có thể biểu lộ những đặc điểm hoàn toàn khác biệt, và

vì lý do này, dãy càng dài thì càng có thêm cơ hội để thu thập được những mẫu về sự biến động trong cấu trúc của quần lạc

Trang 26

¾ Nói đến “cấu trúc” ta không quên nhắc đến “tái sinh” rừng Tái sinh rừng cũng giữ một vai trò quan trọng đối với sự tồn vong hay phục hồi lại những cánh rừng

Vì thế, “tái sinh rừng” cũng được nhiều tác giả trên thế giới nghiên cứu:

Theo A.Obrêin (1938), nhận định rằng: cây con của các loài ưu thế trong hệ sinh thái rừng mưa có thể cực hiếm hoặc vắng hẳn Ông gọi hiện tượng này là “không bao giờ sinh con đẻ cái” của các cây mẹ trong phân tầng cây gỗ của hệ sinh thái rừng mưa

Trong công trình của Richard PW (1952), Beward Rollet (1974) cho thấy các

“tái sinh” đều có dạng phổ cụm, một số ít có dạng phân bố Poisson Bên cạnh đó, Van Steenis (1956) cho rằng: “tái sinh” tự nhiên của rừng là liên tục và gần như quanh năm Đồng quan điểm đó, khi nghiên cứu về tái sinh rừng I.T Haig và M.A Huberman et al (1956) cũng thế, tái sinh tự nhiên phải xem là căn bản nhất để cải thiện tình hình rừng và phải có những biện pháp lâm sinh hợp lý cho rừng mưa nhiệt đới Dawkins (1958) đã nói: “Dù cho kinh doanh được vào như thế nào, điều suy xét đầu tiên về lâm sinh phải là tái sinh…” Như vậy có thể nói, vấn đề tái sinh đã được bàn rất nhiều, nhất là cách thức xử lý lâm sinh liên quan đến tái sinh của các loài cây mục đích ở các kiểu rừng

Còn theo, A Lamprech, muốn nghiên cứu đặc điểm lâm học của rừng, trước

hết phải phân tích kiểu cách “tái sinh” của các loài cây ưa sáng và cây chịu bóng…Vì

thế, nghiên cứu quá trình tái sinh rừng là một vấn đề quan trọng trong quá trình nghiên cứu về đặc điểm lâm học của rừng, để giải quyết vấn đề này nhiều tác giả đều nhất trí

là phải làm rõ các vấn đề như: đặc điểm về sự hình thành cơ quan sinh sản, thời kỳ ra hoa, kết quả và các nhân tố khác ảnh hưởng đến quá trình như: kiểu cách phân tán hạt giống, sự hình thành và động thái biến đổi của cây mầm và cây con dưới ảnh hưởng của điều kiện môi trường thay đổi, cấu trúc, độ tuổi, mật độ và sức sống cá thể…Hơn thế nữa, trong nghiên cứu tái sinh rừng, người ta cũng nhận thấy rằng: tầng cỏ và tầng cây bụi qua quá trình sinh trưởng thu nhận ánh sáng, các chất dinh dưỡng sẽ làm ảnh hưởng đến cây tái sinh Những lâm phần thưa, rừng đã bị khai thác nhiều, tạo ra nhiều khoảng trống lớn, tạo điều kiện cho cây bụi thảm tươi phát triển mạnh Trong điều kiện đó, chúng sẽ là nhân tố cản trở sự phát triển và khả năng sinh tồn của cây tái sinh Nếu lâm phần kín, đất khô, nghèo dinh dưỡng cây bụi thảm tươi phát triển chậm tạo

Trang 27

điều kiện cho cây tái sinh vươn lên (Xannikow, 1967: Vipper, 1973) (dẫn theo Nguyễn Văn Thêm, 1992)

Tóm lại, sự thiếu hụt ánh sáng sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của cây con Nhưng đối với sự nảy mầm và quá trình sinh trưởng của cây mầm ảnh hưởng đó lại không rõ (Baur G.N, 1962)

2.3 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CẤU TRÚC RỪNG TỰ NHIÊN NHIỆT ĐỚI Ở VIỆT NAM

“Cấu trúc” rừng nói chung là một vấn đề mà từ xưa đến nay đã được nhiều nhà khoa học đã và đang nghiên cứu Riêng cấu trúc rừng Việt Nam cũng vậy, đã được nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước nghiên cứu

Theo Thái Văn Trừng (1970 - 19 78), trước 1954 thì hầu như chỉ có người Pháp thực hiện các nghiên cứu về Đông Dương Trong đó, đáng lưu ý nhất vẫn là cuốn

“Lâm Nghiệp Đông Dương” của Paul Maurand (1943) và những nghiên cứu của Rollet, Neang Sam Oil (1952) tác giả cuốn “Những quần thể thực vật thưa Nam Đông Dương”

Về sau, rừng nước ta đã được nhiều nhà nghiên cứu trong nước quan tâm Nhắc tới, ta phải kể đến công trình nghiên cứu của Thái Văn Trừng (1961) về “Thảm thực vật rừng” và Trần Ngũ Phương (1965) trong cuốn “Bước đầu nghiên cứu rừng miền Bắc Việt Nam” Trên cơ sở nghiên cứu và phân tích các nhân tố sinh thái phát sinh cũng như những vùng địa lý khác nhau, tác giả đi đến kết luận và phân loại các kiểu rừng ở miền bắc Việt Nam cũng như ở Việt Nam

Trong các công trình nghiên cứu về cấu trúc và trạng thái rừng ở Miền Bắc Việt Nam, ta không thể thiếu công trình của M Loschau (1962, 1964, 1966) đã đề xuất được các chỉ tiêu định lượng để phân loại các trạng thái rừng ở Miền Bắc Việt Nam dựa trên cơ sở cấu trúc, các đặc điểm lâm sinh và trữ lượng rừng…Cho đến nay, các công trình của ông nghiên cứu vẫn được áp dụng rộng rãi trong công tác điều tra, quy họach và điều chế rừng ở Việt Nam

Năm 1974, trong công trình nghiên cứu của Đồng Sĩ Hiền về “Lập biểu thể tích

và biểu độ thon cây đứng rừng Việt Nam” Ông đã đi sâu vào nghiên cứu quy luât phân bố cây theo chiều cao (Hvn) và đường kính (D1.3) và phân bố của các nhân tố hình dạng thân cây làm cơ sở cho việc xây dựng biểu thể tích (V) một hoặc hai, ba nhân tố Qua các kết quả nghiên cứu, tác giả đã rút ra kết luận về quy luật cấu trúc của rừng tự

Trang 28

nhiên hỗn loài nước ta có dạng phân bố giảm theo đường kính và dạng phân bố nhiều đỉnh theo chiều cao và sự phân bố của các chỉ tiêu hình dạng f0.1 và f1.3 của các loài cây trong rừng tự nhiên hỗn loài có dạng phân bố tiệm cận với phân bố chuẩn và các quy luật này khác hẳn so với rừng thuần loại đều tuổi Chính điều này, đã làm cho kết quả nghiên cứu về cấu trúc rừng tự nhiên Việt Nam của ông có điểm tương đồng với nghiên cứu của Prodan (1952): “Cấu trúc đứng của rừng tự nhiên Việt Nam đặc trưng bởi phân bố nhiều đỉnh về chiều cao và phân bố giảm một đỉnh lệch trái về đường kính”

Tiếp đến, 1983 Nguyễn Văn Trương khi nghiên cứu về cấu trúc rừng gỗ hỗn loài đã tập trung nghiên cứu một số quy luật về cấu trúc đứng của cây, cấu trúc thân cây theo cấp đường kính, cấu trúc thân cây và tổng tiết diện ngang trên mặt đất, cấu trúc nhóm loài cây, tình hình tái sinh và diễn thế các thế hệ của rừng… không những tác giả đã mô phỏng cấu trúc rừng hỗn giao nhiệt đới bằng các mô hình toán học để từ

đó phát họa ra khái niệm về cấu trúc rừng chuẩn có giá trị nâng cao lý luận đồng thời cũng có ý nghĩa phục vụ thực tiễn, mà còn đề xuất được các biện pháp xử lý rừng có khoa học và hiệu quả, vừa cung cấp lâm sản vừa nuôi dưỡng và tái sinh lại rừng, là cơ

sở để giải quyết chiến lược nghề rừng ở Việt Nam

Đến năm 1990, Trần Văn Con với mô hình toán học Weibull đã mô phỏng cấu trúc số cây theo cấp kính (N/D) của rừng khộp Ông cho rằng khi còn non thì phân bố

có dạng giảm, nhưng khi rừng càng lớn thì có xu hướng chuyển sang phân bố đỉnh và lệch dần từ trái sang phải Đồng quan điểm đó, Nguyễn Thanh Tâm (1996), cũng đã dùng hàm Weibull để thiết lập cho đối tượng rừng khộp tại Lâm trường Chư M’Lanh

và tác giả đã chia thành bốn cấp năng suất để nghiên cứu cấu trúc rừng và ông dùng hàm Weibull để mô phỏng phân bố số cây theo D1.3, Hvn…

¾ Rừng nước ta là một rừng nhiệt đới ẩm, với cây nhiều tầng tán và dây leo chằng chịt Vì thế, khi nghiên cứu về cấu trúc rừng thì tái sinh rừng cũng không kém phần quan trọng, là một việc làm không thể thiếu được trong các nghiên cứu về “cấu trúc” rừng tự nhiên Nó quyết định đến quá trình kinh doanh rừng bền vững

Ta có thể hiểu, tái sinh rừng là quá trình phục hồi lại thành phần cơ bản của rừng, chủ yếu là tầng cây gỗ Phục hồi rừng bằng khoanh nuôi có nghĩa là lợi dụng tái sinh tự nhiên kết hợp với tác động hợp lý của con người tạo ra một thế hệ mới có thành

Trang 29

phần loài cây đáp ứng mục đích kinh doanh và phù hợp với điều kiện tự nhiên, tạo ra

độ tàn che, thảm mục, độ dày tầng thảm mục, điều kiện lập địa…là những nhân tố ảnh hưởng đến số lượng và chất lượng cây con dưới tán rừng Không những thế, ông còn cho rằng tái sinh trong khu vực còn có dạng phân bố cụm

Cùng thời gian đó, Lê Đồng Tấn (1993 - 1999) nghiên cứu quá trình phục hồi rừng tự nhiên của một số quần xã thực vật sau nương rẫy tại tỉnh Sơn La theo phương pháp điều tra trên các ô tiêu chuẩn 400 m2, kết hợp điều tra trên các ô định vị Tác giả

đã rút ra kết luận: mật độ cây tái sinh giảm từ chân lên đỉnh đồi, trên ba dạng điạ hình,

ba cấp độ dốc khác nhau, tổ hợp cây ưu thế là giống nhau

Đến năm 2000, Trần Ngũ Phương khi nghiên cứu tái sinh rừng nhiệt đới ở Việt Nam đã nhấn mạnh, rừng tự nhiên có nhiều tầng, khi tầng trên già cỗi tàn lụi rồi tiêu vong, tầng kế tiếp sẽ thay thế…

Sau này, Phạm Ngọc Thường (2003) nghiên cứu tái sinh sau nương rẫy tại tỉnh Thái Nguyên - Bắc Cạn đã nhận xét: phân bố tái sinh cây gỗ theo cấp chiều cao có dạng một đỉnh và sử dụng hàm phân bố Weibull để mô phỏng quy luật đó Ngoài ra, tác giả còn cho thấy mật độ cây tái sinh giảm dần theo thời gian phục hồi rừng

Thông qua các nghiên cứu của các nhà khoa học và một tác giả đi trước về cấu trúc rừng, đó là những tài liệu tham khảo quý báu để cho tôi học tập và xác định được phương hướng và phương pháp nghiên cứu về cấu trúc rừng để thực hiện luận văn tốt nghiệp:

+ Ta nghiên cứu về đường cong phân bố để có thể xác định các vị trí của cây bình quân, hệ số biến động và phạm quy biến động

+ Dùng phương pháp biểu đồ để có một hình ảnh sinh động về quy luật phân bố,

đủ đáp ứng yêu cầu về định tính quy luật phân bố, giải đáp được đầy đủ các vấn đề của lập biểu thể tích

Trang 30

Chương 3 TÌNH HÌNH CƠ BẢN KHU VỰC NGHIÊN CỨU

3.1 CƠ SỞ THÀNH LẬP LÂM TRƯỜNG TÂN PHÚ - TỈNH ĐỒNG NAI

Năm 1997, theo quyết định số 4917/QĐCT-UBT ngày 31/12/1997 của Chủ tịch

Ủy Ban Nhân Dân tỉnh Đồng Nai chuyển Lâm trường Tân Phú thành loại hình doanh nghiệp nhà nước hoạt động công ích kể từ ngày 01/01/1998 cấp chủ quản là Sở Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Đồng Nai

3.1.2 Tổ chức bộ máy quản lý

Để đáp ứng nhu cầu thực hiện nhiệm vụ quản lý bảo vệ rừng, xây dựng và phát triển vốn rừng một cách chặt chẽ có hiệu quả cao Bộ máy quản lý Lâm trường được tổ chức theo mô hình hỗn hợp (trực tuyến và chức năng) nhằm thúc đẩy mạnh được sự chỉ đạo tập trung thống nhất trong các tổ chức quản lý một cách có hiệu quả nhất

Trang 31

- Phòng kỷ thuật - Quản lý bảo vệ rừng

- Phòng kinh tế

Bảng 3.1.2 Sơ đồ bộ máy quản lý lâm trường

Ghi chú: Quan hệ chức năng:

Quan hệ trực tuyến:

Phân trường trưởng Đội trưởng đội PCCC Trạm trưởng trạm KL

Tiểu khu trưởng

Phòng kỷ thuật quản lý bảo vệ rừng

Trang 32

3.2 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN

3.2.1 Vị trí địa lý-phạm vi ranh giới hành chính

” Lâm trường Tân Phú nằm ở vị trí địa lý:

Kinh độ: 107020’ – 107027’30’’ kinh độ đông

Vĩ độ: 11002’32’’ – 11010’ vĩ độ bắc

” Phạm vi ranh giới hành chính:

Lâm trường Tân Phú thuộc địa bàn quản lý hành chính Xã Gia Canh - Huyện Định Quán - Tỉnh Đồng Nai, có phạm vi ranh giới bao gồm:

- Bắc giáp Xã Gia Canh và công ty mía đường La Ngà

- Nam giáp Sông La Ngà (địa phận Huyện Xuyên Lộc)

- Đông giáp Sông La Ngà (địa phận Tỉnh Bình Thuận)

- Tây giáp Công ty mía đường La Ngà (ranh giới là suối Trà My)

Trụ sở chính của Lâm trường đặt tại km 105 - Quốc lộ 20 tính từ Tp Hồ Chí Minh đi Đà Lạt, thuộc ấp hai Xã Ngọc Phú - Huyện Định Quán - Tỉnh Đồng Nai Tổng diện tích đất Lâm trường quản lý là: 14.152,7 ha, còn lại là đất trống, đồng

cỏ và khu dân cư

3.2.2 Địa hình - địa thế

Lâm trường Tân Phú có hai dạng địa hình chủ yếu:

+ Địa hình đồi núi hình thành từ phún xuất và trầm tích sa phiến thạch dạng đồi độc lập, sườn thoải và lượn cong hình “sin” Phân cách tương đối mạnh, độ chênh lệch cao

90 m – 200 m Phân cách hai vùng là dãy núi nằm ở phía tây dài khoảng 13 km, độ dốc

Trang 33

Phú được hình thành với nguồn gốc từ Bazan phún xuất, trầm tích của Sa thạch, phiến thạch lượn sóng và bồi tụ của phù sa cổ Phân bố đất đai tại Lâm trường bao gồm:

hiệu Tên gọi

Diện tích đất (ha)

Tỷ lệ (%) Đ’K Đất Bazan trên đồi núi thấp 2.151,0 15,2

ĐK Đất Bazan trên đồi núi trung bình 4.175,0 29,5

” Khí hậu: ở khu vực mang đặc trưng khí hậu vùng Đông Nam Bộ và vùng nhiệt đới

gió mùa, nên một năm có hai mùa rõ rệt:

+ Mùa mưa từ tháng 5 - 10, mưa trên 80 %

+ Mùa khô từ tháng 11 - 4 năm sau, khô nóng

+ Tổng số ngày mưa trong năm 132 ngày/năm Lượng mưa bình quân 1662,1 mm/năm, tập trung tháng 7 - 9 Lượng bốc hơi nước bình quân 1172,8 mm/năm

” Độ ẩm

+ Bình quân 82,2 %, cao nhất 96 % tập trung vào các tháng mưa nhiều, thấp nhất

20 % tập trung vào những tháng hạn kéo dài

Trang 34

+ Khu vực nghiên cứu chịu ảnh hưởng của hai hướng gió chính: Gió Tây và Tây Nam vào các tháng mùa mưa, gió Đông và Đông Bắc vào các tháng mùa khô

BXQH 204 229 241 236 221 211 204 201 198 204 200 194

(Trạm khí tượng Xuân Lộc – Đồng Nai)

Bảng 3.2.3 Số liệu quan trắc khí tượng

” Thủy Văn

+ Lâm trường nằm trong khu vực hệ thống sông La Ngà, nhưng hầu hết các sông nhỏ bắt nguồn từ phía Tây và Tây Bắc Lâm trường nên chỉ có nước vào mùa mưa Với địa hình phân cách mạnh nên hầu hết suối hẹp và gập gềnh Không thể sử dụng giao thông đường thủy, mực nước có tốc độ dòng chảy không ổn định Nhưng ngoài chức năng đầu nguồn cho Hồ Trị An có thể quy hoạch làm thủy lợi phục vụ tưới tiêu trong nông nghiệp và làm thủy điện nhỏ phục vụ thắp sáng, sinh hoạt cho Lâm trường và người dân quanh vùng

+ Mực nước ngầm: sâu từ 3 - 5 m so với mặt đất, còn các vùng ở dạng địa hình cao thì khoảng chênh lệch này biến thiên từ 12 - 15 m Nhưng do hiện nay, một phần do rừng tự nhiên thu hẹp hơn so với trước đây, một phần do dân số gia tăng và người dân khai thác mạch nước ngầm một cách bừa bãi nên hiện nay tại khu vực này mực nước ngầm đã tụt xuống ở các vùng bằng và thấp có độ sâu từ 12 - 15 m so với mặt đất và các vùng có địa hình cao sự chênh lệch này trên 30 m

Trang 35

Nhìn chung, nguồn nước ở đây rất khó khăn vào mùa khô, gây thiếu nước nghiêm

trọng làm ảnh hưởng đến việc sản xuất nông nghiệp Điều này xuất phát từ đặc điểm

khí hậu phân mùa rõ rệt, cho nên công tác trồng rừng phải tuân theo đúng lịch thời vụ

mùa mưa và phải có quy hoạch hợp lý Đồng thời, tích cực phòng chống cháy rừng khi

mùa khô kéo dài Bên cạnh đó, với hệ thống sông suối nhiều thác ghềnh và lại có

nhiều cảnh quan đẹp, ta có thể dùng vào công tác phục vụ du lịch

3.2.4 Hiện trạng tài nguyên và các loại đất

Hạng mục

Số liệu năm 2000

Diện tích (ha)

Tỷ lệ (%)

ƒ Rừng trồng cây lấy gỗ và lấy trái 205,1 1,4

a Đất nông nghiệp tạm thời và thổ cư 989,8 7

ƒ Cây Công nghiệp dài ngày và cây ăn quả 933,8 6,6

ƒ Cây Nông nghiệp ngắn ngày 37,5 0,3

Trang 36

Nhận xét: Với diện tích đất chưa có rừng chiếm tỷ lệ rất nhỏ (9,3 %) so với diện

tích đất có rừng (90,7 %) thì việc trồng thêm rừng là không cần thiết mà lâm trường chỉ tập trung vào công tác quản lý và bảo vệ và điều đó đã gặt hái được những kết quả sau: sau một thời gian khoanh nuôi và bảo vệ tốt, các diện tích IB, IC (đất trống có cây

gỗ rãi rác) đã phục hồi thành rừng non IIA tham gia vào kết cấu tổng diện tích rừng tự

nhiên của lâm trường qua các giai đoạn sau:

- Năm 1988 - 1992: Từ 10.279,7 ha tăng lên 11.066 ha như vậy đã chuyển 786,3

ha từ đất có cây lùm bụi thành rừng non IIA

- Năm 1992 - 1996: Từ 11.066 ha, sau khi tiếp nhận thêm 103 ha rừng của Công

ty Mía đường La Ngà và khoanh nuôi tái sinh rừng đã đưa diện tích tái sinh rừng tự nhiên từ 11.169 ha lên 11.599,9 ha chuyển khoảng 431 ha từ diện tích

IC thành rừng non trong kết cấu rừng tự nhiên hiện nay

Qua các kết quả nêu trên, chúng tôi nhận thấy lâm trường Tân Phú đã rất thành công trong quản lý chăm sóc và bảo vệ rừng Cho nên, trong những năm gần đây tỷ lệ mất rừng hầu như không đáng kể mà trữ lượng rừng ngày được tăng lên nhờ khâu quản lý, chăm sóc bảo vệ tốt và xúc tiến các giải pháp kỹ thuật làm giàu rừng Bên cạnh đó, lâm trường phải hết sức chú ý đến công tác phòng cháy chữa cháy rừng

3.3 TÌNH HÌNH DÂN SINH KINH TẾ - XÃ HỘI

3.3.1 Dân tộc, dân số và lao động của vùng

Lâm trường Tân Phú chủ yếu nằm trên địa giới hành chính của hai Xã Gia Canh

và Phú Ngọc thuộc Huyện Định Quán, về phân bố dân cư hiện nay trên địa bàn Lâm trường quản lý gồm bảy cụm dân cư phân bố trên sáu phân trường, chủ yếu thuộc địa bàn hành chính Xã Gia Canh

Theo số liệu điều tra tình hình dân cư tại Lâm trường Tân Phú đến ngày 31/08/2000 gồm có:

Phân trường Số hộ

Số khẩu trong hộ

Ghi chú

Tổng số LĐ chính ≥ 16tuổi LĐ phụ ≤ 16 tuổi Già yếu ≥ 60 tuổi

Trang 37

PT5 31 65 32 25 8

TỔNG CỘNG 791 2.241 1.199 896 146

Bảng 3.3.1 Tình hình dân cư Lao động ở Lâm trường

Trong đó, chia theo thành phần dân tộc bao gồm:

- Dân tộc kinh: 718 hộ - 1975 khẩu, chiếm 90,8 % trong tổng số hộ

- Dân tộc Hoa: 36 hộ - 69 khẩu, chiếm 4,6 % trong tổng số hộ

- Dân tộc K’Ho + Châu Mạ: 37 hộ - 197 khẩu, chiếm 4,6 % trong tổng số hộ + Nguồn lao động chính có 1199 khẩu, chiếm 53,5 % trong tổng số khẩu

+ Nguồn lao động phụ có 896 khẩu, chiếm 40 % trong tổng số khẩu

+ Người già yếu có146 khẩu, chiếm 6,5 % trong tổng số khẩu

Nhận xét: Với nguồn lao động dồi dào (chiếm 53,5 % trong tổng số khẩu), đời

sống chủ yếu bằng sản xuất nông – lâm nghiệp Ngày nay, do thực hiện chính sách đóng cửa rừng để quản lý và bảo vệ nên cuộc sống của người dân gặp nhiều khó khăn

Vì thế, để giải quyết được tình trạng trên thì ta cần phải có những giải pháp tối ưu để

sử dụng hợp lý nguồn lao động này đồng thời sử dụng công tác khuyến nông, khuyến lâm hỗ trợ vốn, hướng dẫn kỷ thuật,…để ổn định sản xuất nhằm tăng thêm thu nhập ổn định cuộc sống

3.3.2 Hệ thống giao thông

Hệ thống giao thông nội hạt dài 22 km, với trục đường chính dài 4,5 km nối liền các phân trường, tiểu khu và các cụm dân cư Đây là điều kiện rất thuận lợi cho việc giao dịch thương mại, giao lưu văn hóa cũng như cho công tác điều tra, kiểm soát, và quản lý bảo vệ rừng của lâm trường

3.3.3 Thực trạng kinh tế xã hội

Trong nhiều năm qua lâm trường đã có những biện pháp tích cực nhằm tổ chức ổn định cuộc sống cho dân cư như: thực hiện việc giao khoáng, hợp đồng quản lý bảo vệ rừng,…tạo công ăn việc làm để nâng cao thu nhập cho họ, mặc dù bình quân thu nhập vẫn còn ở mức thấp chỉ đạt 3.500.000 - 4.000.000 đ/hộ/năm.Việc sử dụng đất đai vẫn còn lãng phí, dân cư chưa đủ khả năng về vốn, kỷ thuật để sản xuất thâm canh mà chỉ

Trang 38

canh tác quãng canh trên diện tích đất nông nghiệp Chính vì vậy, năng xuất cây trồng còn thấp, một số dịch vụ như khuyến nông - khuyến lâm chưa phát triển mạnh mẽ, việc truy cập thông tin trao đổi kinh nghiệm còn hạn chế nên vấn đề giống, tiêu thụ sản phẩm do thị trường tự điều tiết Để ổn định cuộc sống lâu dài thì cần phải được sự chú

ý đặc biệt quan tâm nhiều hơn nữa của các cấp quản lý

+ Về giáo dục: tỷ lệ mù chữ trong dân cư còn rất cao, do điều kiện còn khó khăn

nên đa số các em ít được đi học, một số cá nhân nhận khoáng quản lý bảo vệ rừng cũng không biết chữ Đây là vấn đề hết sức quan trọng cần được sự quan tâm của lâm trường Để nâng cao ý thức cho người dân, lâm trường cần đẩy mạnh giáo dục, thường xuyên tuyên truyền các chủ trương của nhà nước về những quy định của luật bảo vệ và phát triển rừng, làm thế nào để họ thấy được trách nhiệm của mình đối với việc bảo vệ môi trường sinh thái, bảo vệ rừng…

+ Về y tế: mạng lưới y tế chưa rộng khắp (có một trạm y tế, một bệnh viện thuộc

xã Gia Canh), cán bộ y tế không nhiều nên rất khó khăn cho bà con trong vấn đề khám chữa bệnh Đa số, người dân ở đây chưa có sổ bảo hiểm y tế, mặc dù được hỗ trợ cấp thuốc miễn phí bệnh sốt rét song các bệnh khác thì phải tự điều trị Dân cư sống không tập trung lại xa bệnh viện nên khi mắc bệnh thì rất là tốn kém nhất là đối với phụ nữ và trẻ em

+ Về công tác quản lý bảo vệ rừng: hằng năm lâm trường sử dụng 120 nhân

viên, các nhân viên này thường xuyên có măt tại các phân trường, tiểu khu và trạm chốt,…Với diện tích lớn như vậy chưa tương xứng với lực lượng hiện có, cần bổ sung thêm để đảm bảo thực hiện tốt nhiệm vụ được giao

+ Về phương tiện thông tin đại chúng: mạng lưới điện chưa được phân bố rộng

rãi nên việc cập thông tin và giao lưu văn hóa diễn ra hết sức khó khăn

+ Về công tác khuyến nông-khuyến lâm: Lâm trường đã giới thiệu các giống

mới có năng xuất về cây trồng, vật nuôi, quy trình kỷ thuật tiên tiến, dịch vụ đầu tư, đầu ra, đầu vào, thông tin thị trường giá cả…để sản xuất gắn liền với tiêu thụ và chế biến Xây dựng các mô hình sản xuất nông lâm bền vững đạt hiệu quả kinh tế cao để tham quan học tập, giới thiệu những gia đình sản xuất giỏi và tham gia quản lý bảo vệ rừng tốt để học tập trao đổi kinh nghiệm

Trang 39

+ Về cơ sở hạ tầng: Đã nâng cấp trục đường chính dài 46,5 km, sữa chữa hai cầu

gỗ, năm cống trên trục đường chính nhằm đáp ứng nhu cầu giao thông trong vùng

3.4 TÌNH HÌNH PHÂN BỐ VÀ ĐẶC TÍNH XUNG YẾU CỦA KHU VỰC PHÒNG HỘ

Với tổng diện tích rừng và đất rừng được giao là 14.152,7, được bao bọc bởi một vành đai chu vi khoảng 85 km, và xung quanh rừng đều tiếp giáp với các cụm dân cư hoặc đất đai sản xuất nông nghiệp nên có những đặc tính xung yếu cơ bản sau:

+ Vành đai chu vi nằm về phía Đông và Nam của Lâm trường được bao bọc bởi sông La Ngà, với chiều dài khoảng 45 km, là vùng giáp ranh với tỉnh Bình Thuận và Huyện Xuân Lộc Đồng Nai Đây là khu vực mang tính xung yếu cao nhất, trong toàn vùng rừng được giao quản lý Vì trên vành đai này, theo quy hoạch tổng quan Lâm nghiệp tỉnh Đồng Nai, có khoảng 2.100 ha rừng tự nhiên, thuộc quy hoạch rừng phòng

hộ ven sông La Ngà Trong điều kiện dọc tuyến sông này, nhiều ghềnh thác, nên công tác tuần tra bảo vệ theo dọc đường sông gặp nhiều khó khăn Nhưng đây lại là yếu tố lợi thế cho các băng nhóm chuyên phá rừng và lấy cắp lâm sản, chúng thường lợi dụng dòng nước để vận chuyển gỗ qua sông, nhất là vào những tháng mưa, vào mùa khô do nước sông cạn nhiều chỗ có thể lội bộ qua được Vì vậy, muốn quản lý bảo vệ rừng được tốt, phải thường xuyên bám trụ hoặc tuần tra tại các điểm xung yếu này để phát hiện và ngăn chặn kịp thời Ngoài ra, dọc theo dãy núi Xoài, núi Đốc với diện tích khoảng 2.500 ha có điạ hình đồi núi hiểm trở, đi lại khó khăn được quy hoạch diện tích rừng phòng hộ trong 4.600 ha theo phương án điều chế cũng là đối tượng rừng cần được quan tâm trong công tác Quản Lý Bảo Vệ Rừng

+ Do hầu hết dân cư xung quanh vùng rừng sinh sống bằng sản xuất nông nghiệp, vào những tháng mùa khô thường xảy ra tình trạng thiếu việc làm hoặc trong mùa vụ sản xuất, khi gặp thiên tai mất mùa, thường có xu hướng vào rừng chặt lấy củi,

để giải quyết công ăn việc làm và khó khăn của cuộc sống Mặc khác, do điều kiện dân sinh kinh tế xung quanh khu vực vùng rừng còn nhiều hạn chế như: Trình độ dân trí còn thấp, đời sống người dân chưa ổn định,…Nên áp lực đối với rừng cao, nhất là sau quyết định đóng cửa rừng của Ủy Ban Nhân Dân Tỉnh, tình trạng khan hiếm gỗ, củi do nhu cầu xã hội, đã là nhân tố gia tăng áp lực đối với rừng tại Lâm trường

Trang 40

+ Với đặc tính khí hậu mưa theo mùa và điều kiện mạng lưới đường xá thông tin liên lạc trên rừng còn nhiều hạn chế, nên công tác tuần tra cơ động trên diện tích rừng quản lý gặp rất nhiều khó khăn nhất là vào những tháng mùa mưa Vì vậy, lực lượng quản lý bảo vệ phải phân bố điều khắp trên các điểm xung yếu, ngay cả các vùng xa vùng sâu để làm nhiệm vụ quản lý bảo vệ rừng tại chỗ trên khu vực được giao Đặc điểm này cần phải tốn nhiều nhân lực, cũng như các chế độ chính sách cho các nhân viên làm nhiệm vụ bảo vệ rừng ở các vùng sâu, vùng xa trong rừng như phụ cấp khu vực, độc hại,…

3.5 NHÓM HỆ ĐỘNG-THỰC VẬT RỪNG TÂN PHÚ

Theo viện sĩ A.L Teklitajan (1977) cho rằng: các khu vực hệ thực vật ngày nay như một bức tranh khá phức tạp và “loang lỗ” là một kết quả của quá trình phân hóa lâu dài của hệ thực vật có hoa Nó xuất hiện do bốn kết quả chính là sự biến hóa, sự di

cư, quá trình loại trừ phân hóa (toàn bộ hay từng phần) của các tổ hợp thực vật và hoạt động của con người

3.5.1 Thực vật rừng: Gồm hai nhân tố: di cư và bản địa

3.5.1.1 Nhân tố di cư: với ba luồng di cư tới

˜ Từ phía Nam lên: là nguồn thực vật thân thuộc với hệ thực vật Malaysia-Indonesia

với họ Dầu (Dipterocarpaceae) là họ đặc trưng di cư vào Việt Nam từ thế kỷ 13: với

bốn chi, 12 loài hiện đang có ở khu vực rừng Tân Phú Đây là loại thực vật thân gỗ lớn, có giá trị kinh tế cao với tổ thành cá thể cây ưu thế và chiếm lĩnh tầng trên của rừng

˜ Từ phía Tây-Tây Nam sang: là nguồn thực vật thuộc hệ thực vật Ấn Độ-Miến Điện

xâm nhập vào vùng núi cao Tây Bắc và miền Bắc Việt Nam, tràn xuống cực Nam Trung Bộ với các họ đặc trưng hiện nay ở Lâm trường Tân Phú như:

+ Họ Tử Vi (Lythraceae): 1 chi, 6 loài

+ Họ Bàng (Combretaceae): 6 chi, 14 loài

+ Họ Cỏ Roi Ngựa (Verbenaceae): 7 chi, 13 loài

+ Họ Gòn (Bombaceae): 2 chi, 2 loài

Ngày đăng: 28/02/2019, 10:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm