Hồ Chí Minh vụ khô 2007” 1.2 Mục tiêu và yêu cầu 1.2.1 Mục tiêu nghiên cứu Nghiên cứu này nhằm mục tiêu: - Tìm hiểu ưu thế lai về các tính trạng sinh trưởng, phát triển, năng suất, ch
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
NGHIÊN CỨU ƯU THẾ LAI CỦA MỘT SỐ TỔ HỢP BÔNG LAI F1 VÀ TƯƠNG QUAN GIỮA CÁC TÍNH TRẠNG CHỦ YẾU CỦA CÂY BÔNG VẢI
Trang 2NGHIÊN CỨU ƯU THẾ LAI CỦA MỘT SỐ TỔ HỢP BÔNG LAI F1 VÀ TƯƠNG QUAN GIỮA CÁC TÍNH TRẠNG CHỦ YẾU CỦA CÂY BÔNG VẢI
TẠI THỦ ĐỨC TP HỒ CHÍ MINH
VỤ KHÔ 2007
Tác giả
NGUYỄN THỊ LIÊN
Khoá luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu
cấp bằng kỹ sư nông nghiệp ngành Nông học
Giảng viên hướng dẫn:
PGS.TS PHAN THANH KIẾM
Tp Hồ Chí Minh Tháng 10/2007
Trang 3Em xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc PGS.TS Phan Thanh Kiếm, Trưởng bộ môn Di truyền giống – khoa Nông học đã hướng dẫn em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này với tất cả tinh thần trách nhiệm và lòng nhiệt tình
Đồng cảm ơn tới tất cả các anh chị trong ban quản lý trại thực nghiệm khoa Nông học, các bạn sinh viên lớp Nông học 29 đã giúp đỡ tôi trong suốt thời gian tiến hành thí nghiệm ngoài trại
TP Hồ Chí Minh tháng 10/2007
Nguyễn Thị Liên
Trang 4TÓM TẮT
Đề tài nghiên cứu “Nghiên cứu ưu thế lai của một số tổ hợp bông lai F1 và tương quan giữa các tính trạng chủ yếu của cây bông vải tại Thủ Đức Tp Hồ Chí Minh vụ khô 2007” được thực hiện tại trại thực nghiệm khoa Nông Học trường Đại học Nông Lâm Tp Hồ Chí Minh Thời gian thực hiện từ tháng 01/2007 đến tháng 07/2007 Thí nghiệm được bố trí theo kiểu đơn yếu tố khối đầy đủ hoàn toàn ngẫu nhiên
Kết quả nghiên cứu cho thấy:
- Phần lớn các con lai F1 có thời gian sinh trưởng từ khi gieo đến khi có 50 %
số cây nở quả ngắn hơn trung bình các giống bố mẹ Trong đó có 50 % số tổ hợp lai chín sớm hơn giống bố mẹ chín sớm nhất, tổ hợp lai D99-1/TM1 có thời gian sinh trưởng từ khi gieo tới khi có 50 % số cây có quả nở ngắn nhất là 98,7 ngày
- Với các tính trạng chiều cao cây, số quả trên cây, trọng lượng quả hầu hết các
tổ hợp lai đều xuất hiện ưu thế lai và có nhiều tổ hợp lai có ưu thế lai rất có ý nghĩa Phần lớn các tổ hợp lai đạt ưu thế lai trung bình về tỷ lệ xơ
- Các tổ hợp lai F1 đều có năng suất cao hơn năng suất của giống đối chứng VN02-2, phần lớn các tổ hợp lai xuất hiện ưu thế lai theo hướng là tăng năng suất, 50
% số tổ hợp lai có năng suất vượt năng suất thực thu của giống bố mẹ có năng suất cao nhất Trong đó bốn tổ hợp lai đạt năng suất cao là: C92-52/C118, C92-52/D99-1, D99-1/TM1, S02-13/TM1; trong các giống bố mẹ có giống S02-13 đạt năng suất cao
là 26,8 tạ/ha
- Với các tính trạng chất lượng xơ, ưu thế lai biểu hiện không đáng kể ở các con lai F1 Các con lai có chất lượng xơ tốt
- Năng suất bông của các nghiệm thức chủ yếu phụ thuộc vào trọng lượng quả
và hầu như không có tương quan với các tính trạng chất lượng xơ Giữa các tính trạng quy định chất lượng xơ tương quan thuận được xác định giữa: chiều dài xơ và độ đều
xơ, chiều dài xơ và độ bền xơ, chỉ số độ mịn xơ và độ chín xơ; tương quan có xu hướng nghịch được xác định giữa tỷ lệ xơ với các tính trạng chất lượng còn lại, giữa
độ mịn với chiều dài xơ, độ bền xơ, độ đều xơ
Trang 5- Các tổ hợp lai C92-52/C118, C92-52/D99-1, D99-1/TM1, S02-13/TM1 là các tổ hợp lai triển vọng có năng suất cao, phẩm chất tốt
Trang 6MỤC LỤC
Nội dung Trang
Trang tựa i
Cảm tạ ii
Tóm tắt iii
Mục lục v
Danh sách các chữ viết tắt ix
Danh sách các hình x
Danh sách các bảng và biểu đồ xi
Chương 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu và yêu cầu 2
1.2.1 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.2 Yêu cầu 2
1.3 Giới hạn của đề tài 3
Chương 2 TỔNG QUAN 4
2.1 Khái quát về cây bông vải 4
2.1.1 Vài nét về nguồn gốc, phân loại và đặc điểm thực vật học của cây bông vải 4
2.1.2 Đặc tính của giống bông 6
2.1.3 Đặc điểm của giống bông lai F1 7
2.1.4 Một số đặc tính chống chịu sâu bệnh ở cây bông vải 8
2.2 Đặc điểm và cơ sở di truyền học của ưu thế lai 9
2.2.1 Hiện tượng và đặc điểm của ưu thế lai 9
2.2.2 Cơ sở di truyền học của hiện tượng ưu thế lai 10
2.3 Tình hình sản xuất và nghiên cứu về cây bông vải trên thế giới 11
2.3.1 Tình hình sản xuất 11
2.3.2 Tình hình nghiên cứu, thành tựu sử dụng ưu thế lai ở cây bông trên thế giới 12
2.4 Tình hình sản xuất và nghiên cứu về cây bông vải ở Việt Nam 14
2.4.1 Sơ lược lịch sử và tình hình sản xuất bông vải ở Việt Nam 14 2.4.2 Tình hình nghiên cứu và những thành tựu đạt được trong lĩnh vực chọn tạo
Trang 7giống, sử dụng UTL trên cây bông vải 17
Chương 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
3.1 Vật liệu nghiên cứu 20
3.2 Điều kiện thí nghiệm 21
3.2.1 Điều kiện khí hậu 21
3.2.2 Điều kiện đất đai 22
3.3 Phương pháp thí nghiệm 22
3.3.1 Thời gian và địa điểm thí nghiệm 22
3.3.2 Bố trí thí nghiệm 23
3.3.3 Quy trình kỹ thuật trồng 24
3.4 Chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 24
3.4.1 Tình hình sinh trưởng, phát triển và đặc điểm thực vật học 24
3.4.2 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất 25
3.4.2.1 Các yếu tố cấu thành năng suất 25
3.4.2.2 Năng suất 26
3.4.3 Các chỉ tiêu phẩm chất xơ 26
3.4.4 Khả năng chống chịu sâu bệnh 27
3.5 phương pháp xử lý số liệu 28
Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 30
4.1 Biểu hiện kiểu hình của các kiểu gen nghiên cứu 30
4.1.1 Tình hình sinh trưởng, phát triển và các đặc điểm thực vật học 30
4.1.1.1 Về thời gian sinh trưởng 31
4.1.1.2 Chiều cao cây 31
4.1.1.3 Số cành quả trên cây 32
4.1.1.4 Số cành đực trên cây 32
4.1.1.5 Vị trí cành quả thứ nhất 32
4.1.1.6 Chiều dài cành quả 33
4.1.2 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất 34
4.1.2.1 Số quả trên m2 34
4.1.2.2 Trọng lượng quả 35
4.1.2.3 Trọng lượng 100 hạt 35
Trang 84.1.2.4 Năng suất bông hạt lý thuyết (NSLT) 35
4.1.2.5 Năng suất bông hạt thực thu (NSTT) 36
4.1.2.6 Về tỷ lệ xơ 36
4.1.2.7 Về chỉ số xơ 36
4.1.2.8 Năng suất bông xơ (NSBX) 37
4.1.3 Một số chỉ tiêu về phẩm chất xơ 38
4.1.3.1 Độ mịn xơ 38
4.1.3.2 Chiều dài xơ 39
4.1.3.3 Độ bền xơ 39
4.1.3.4 Độ chín xơ 40
4.1.3.5 Độ đều xơ 40
4.1.4 Khả năng chống chịu sâu bệnh 41
4.1.4.1 Cấp rầy hại 41
4.1.4.2 Tỷ lệ bệnh xanh lùn 42
4.2 Ưu thế lai (UTL) 43
4.2.1 UTL về thời gian sinh trưởng 43
4.2.2 UTL về chiều cao cây 44
4.2.3 UTL về số quả trên cây 45
4.2.4 UTL về trọng lượng quả 46
4.2.5 UTL về trọng lượng 100 hạt 47
4.2.6 UTL về năng suất bông hạt thực thu 48
4.2.7 UTL về tỷ lệ xơ 49
4.2.8 UTL về năng suất bông xơ 50
4.2.9 UTL về chiều dài xơ 51
4.2.10 UTL về độ bền xơ 52
4.3 Mối tương quan tuyến tính giữa những tính trạng chủ yếu của cây bông 53
4.3.1 Mối tương quan tuyến tính giữa năng suất với một số tính trạng 53
4.3.2 Tương quan tuyến tính giữa các tính trạng chất lượng xơ 54
4.4 Một số tổ hợp lai triển vọng 55
Chương 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 56
5.1 Kết luận 56
Trang 95.2 Đề nghị 57
TÀI LIỆU THAM KHẢO 58 PHỤ LỤC 61
Trang 10DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT
TT Viết tắt/ký hiệu Viết đầy đủ/ý nghĩa
5 SCĐ/C Số cành đực trên cây
Trang 11DANH SÁCH CÁC HÌNH
Hình
Trang Hình 1: Toàn cảnh khu thí nghiệm 61
Hình 2: Giống bông C92-52 61
Hình 3: Giống bông C118 62
Hình 4: Giống bông D99-1 62
Hình 5: Giống bông S02-13 63
Hình 6: Giống bông TM1 63
Hình 7: Tổ hợp lai C92-52/C118 64
Hình 8: Tổ hợp lai C92-52/D99-1 64
Hình 9: Tổ hợp lai D99-1/TM1 65
Hình 10: Tổ hợp lai S02-13/TM1 65
Trang 12DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ BIỂU ĐỒ
Bảng Trang Bảng 2.1: Diện tích, năng suất, sản lượng bông vải của một số nước trồng bông trên
thế giới niên vụ 2005/06 11
Bảng 2.2: Diện tích, năng suất và sản lượng bông của nước ta trong những năm gần đây 16
Bảng 3.1: Số liệu khí tượng tại vùng đặt thí nghiệm từ tháng 01 – 05 năm 2007 21
Bảng 3.2: Một số thông số phân tích đất tại nơi bố trí thí nghiệm 22
Bảng 3.3: Bảng phân cấp các chỉ tiêu chất lượng xơ bông theo hệ thống thiết bị HVI 27
Bảng 4.1: Thời gian sinh trưởng, chiều cao cây, và một số đặc điểm thực vật học của các giống bố mẹ và các tổ hợp bông lai F1 30
Bảng 4.2: Giá trị các yếu tố cấu thành năng suất, năng suất của các tổ hợp bông lai F1 và các giống bông bố mẹ 34
Bảng 4.3: Một số chỉ tiêu về phẩm chất xơ của các giống bông bố mẹ và các tổ hợp bông lai F1 38
Bảng 4.4: Phân cấp rầy hại, tỷ lệ bệnh xanh lùn của các tổ hợp bông lai F1 và các giống bông bố mẹ 41
Bảng 4.5: Giá trị UTL về thời gian sinh trưởng từ gieo đến khi có 50 % số cây nở quả của một số tổ hợp bông lai F1 43
Bảng 4.6: Giá trị UTL về tính trạng chiều cao cây của một số tổ hợp bông lai F1 44
Bảng 4.7: Giá trị UTL về số quả trên cây của một số tổ hợp bông lai F1 45
Bảng 4.8: Giá trị UTL về trọng lượng quả của một số tổ hợp bông lai F1 46
Bảng 4.9: Giá trị UTL về trọng lượng 100 hạt của một số tổ hợp bông lai F1 47
Bảng 4.10: Giá trị UTL về năng suất bông hạt thực thu của một số tổ hợp bông lai F1 48
Bảng 4.11: Giá trị UTL về tỷ lệ xơ của một số tổ hợp bông lai F1 49
Bảng 4.12: Giá trị UTL về năng suất bông xơ của một số tổ hợp bông lai F1 50
Bảng 4.13: Giá trị UTL về chiều dài xơ của một số tổ hợp bông lai F1 51
Trang 13Bảng 4.14: Giá trị UTL về độ bền xơ của một số tổ hợp bông lai F1 52
Bảng 4.15: Hệ số tương quan tuyến tính (r) giữa năng suất với các tính trạng chính
của cây bông 53
Bảng 4.16: Hệ số tương quan tuyến tính (r) giữa các tín trạng chất lượng xơ của cây
bông 54
Bảng 4.17: Một số tổ hợp lai triển vọng 55 Biểu đồ
Biểu đồ 4.1: Phân loại chiều dài xơ 39
Trang 14xe sợi), co giãn tốt, bền, thoáng khí, thấm mồ hôi (hợp vệ sinh) nên mặc vải bông mát Nhân hạt bông có chứa 18 - 20 % dầu, là nguyên liệu quan trọng trong công nghiệp ép dầu Phần nhân hạt bông sau khi ép dầu gọi là khô dầu bông; khô dầu bông
có chứa nhiều protein, chất béo… nên sau khi loại trừ gossypol tự do sẽ là nguồn thức
ăn bổ sung tốt cho gia súc hay làm phân bón có giá trị dinh dưỡng cao (chứa 7 % N; 1,2 % P2O5; 2,5 % K2O) Thân cây bông dùng làm bột giấy, than luyện, gỗ gia dụng hoặc làm củi đun….Với nhiều công dụng như trên, cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật chắc chắn cây bông vải sẽ được khai thác sử dụng nhiều hơn nữa
Ở Việt Nam, cây bông vải được trồng từ lâu để phục vụ vải mặc cho nhân dân Nhưng chủ yếu là trồng các giống bông Cỏ năng suất không cao khoảng 3 – 4 tạ bông hạt/ha Mãi đến năm 1975 nước ta mới bắt đầu nhập giống bông Luồi, tuy nhiên năng suất chỉ khoảng 8 – 9 tạ bông hạt/ha Những năm gần đây, ngành dệt may Việt Nam
có nhu cầu rất lớn về bông xơ (khoảng 60 – 70 ngàn tấn bông xơ hàng năm) Trong khi đó việc sản xuất bông trong nước vẫn chưa đáp ứng được đủ nguồn nguyên liệu này nên hàng năm nước ta vẫn phải nhập bông từ nước ngoài
Chiến lược tăng tốc của ngành dệt may nước ta đã được chính phủ phê duyệt tại quyết định số 55/2001/CD-TTG, trong đó mục tiêu là tăng tỷ lệ nội địa hóa ngành dệt may với kế hoạch sản xuất bông nguyên liệu trong nước đến năm 2010 đạt 80 ngàn tấn bông xơ đáp ứng 70 % nhu cầu ngành dệt may, năng suất bình quân 1,8 tấn/ha Sản xuất xơ bông trong nước gần đây đã đạt được mức tăng trưởng khá (20
Trang 15%/năm) Tuy nhiên theo đánh giá là mức ổn định chưa cao, chưa đạt được kế hoạch hàng năm, năng suất và sản lượng chưa tăng bao nhiêu Có nhiều nguyên nhân nhưng chủ yếu là do năng suất còn thấp Từ năm 2002 đến nay nhờ áp dụng đồng thời những tiến bộ khoa học kỹ thuật: dùng giống bông lai, trồng trễ, trồng dầy, sử dụng chất điều hòa sinh trưởng,… nên năng suất tăng lên 1,6 – 1,7 tấn bông hạt/ha Như vậy yếu tố quyết định trong các giải pháp khoa học công nghệ làm tăng năng suất, mở rộng diện tích bông là tiến bộ về giống bông lai kháng sâu, kháng rầy, chịu hạn, năng suất cao… Việc tìm kiếm những giống bố mẹ có khả năng phối hợp cao, những tổ hợp lai có năng suất cao hơn nữa và ổn định, chín sớm và chín tập trung, thích nghi cho từng vùng cụ thể…là cần thiết và chưa có điểm dừng Đứng trước những yêu cầu này, được sự đồng ý của khoa Nông học trường Đại học Nông Lâm Tp Hồ Chí Minh,
dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Phan Thanh Kiếm tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu
ưu thế lai của một số tổ hợp bông lai F1 và tương quan giữa các tính trạng chủ yếu của cây bông vải tại Thủ Đức Tp Hồ Chí Minh vụ khô 2007”
1.2 Mục tiêu và yêu cầu
1.2.1 Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu này nhằm mục tiêu:
- Tìm hiểu ưu thế lai về các tính trạng sinh trưởng, phát triển, năng suất, chất lượng của một số tổ hợp bông lai F1;
- Tìm hiểu mối tương quan tuyến tính giữa các tính trạng chủ yếu của cây bông;
- Xác định tổ hợp lai triển vọng
1.2.2 Yêu cầu
Để đạt được mục tiêu trên cần:
- Tiến hành bố trí thí nghiệm trên đồng ruộng nhằm theo dõi và thu thập các
dữ liệu về đặc điểm thực vật học, tình hình sinh trưởng, năng suất chất lượng, khả năng chống chịu sâu bệnh của các giống bố mẹ và các tổ hợp bông lai F1;
- Xác định ưu thế lai của các tổ hợp bông lai F1 ở các tính trạng sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng;
Trang 16- Tính toán hệ số tương quan (r), hệ số góc (b), hằng số (a) trong mối quan hệ tuyến tính giữa một số tính trạng chủ yếu của cây bông vải;
- Rút ra được kết luận theo mục đích yêu cầu
1.3 Giới hạn của đề tài
- Nghiên cứu một số đặc điểm về thực vật học, sinh trưởng, năng suất, chất lượng, khả năng chống chịu sâu bệnh trên 10 tổ hợp lai theo sơ đồ luân giao (diallel cross) một nửa, 5 giống bông Luồi làm bố mẹ, 1 giống đối chứng VN02-2;
- Xác định giá trị ưu thế lai trên 10 tổ hợp bông lai F1;
- Tìm hiểu mối tương quan tuyến tính giữa các tính trạng chính của cây bông;
- Đề tài đã được thực hiện từ 07/01/2007 đến tháng 07/2007 Trong đó, từ 07/01/2007 đến tháng 05/2007 tiến hành bố trí thí nghiệm và theo dõi thí nghiệm ngoài đồng ruộng; từ tháng 06/2007 đến tháng 07/2007 tiến hành phân tích mẫu bông trong phòng thí nghiệm
Trang 17Chương 2
TỔNG QUAN
2.1 Khái quát về cây bông vải
2.1.1 Vài nét về nguồn gốc, phân loại và đặc điểm thực vật học của cây bông vải a) Nguồn gốc, phân loại
Cây bông vải thuộc lớp Malvales, họ Malvaceae, tộc Gossypieae, chi Gossypium Theo hệ thống phân loại của Anh-Mỹ (Fruxell, 1984) thì cây bông vải có
39 loài, nhưng phần lớn là hoang dại, chỉ có 4 loài được trồng trọt đó là: bông Cỏ
châu Á (Gossypium arboreum L.), bông Cỏ châu Phi (Gossypium herbaceum L.), bông Hải Đảo (Gossypium barbadense L.), bông Luồi (Gosypium hisutum L.) Trong
đó bông Cỏ châu Á và bông Cỏ châu Phi là hai loài lưỡng bội (2n = 26 NST), bông Hải Đảo và bông Luồi là thể tứ bội (2n = 52 NST)
Cây bông vải có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới và bán nhiệt đới Hiện nay người
ta tìm thấy bông dại mọc ở miền nam châu Mỹ, châu Phi, châu Đại Dương, quần đảo Hawai và một số đảo khác Loài bông này thuộc loại hình lâu năm, là thủy tổ của loài bông trồng hiện nay Về sau, những loài bông này được đưa dần lên trồng ở các vĩ độ cao, qua sự chọn lọc và thích nghi lâu đời biến thành loại hình cây hàng năm Cây bông vải đã được loài người sử dụng từ rất lâu nhưng không ai biết chính xác vào lúc nào Những cuộc khai quật ở Mohenjo-daro trong thung lũng sông Indus thuộc miền tây Pakistan đã thu được những mảnh vải bông có từ khoảng 3000 năm trước công nguyên Đây là những sợi bông vải thuộc loài bông cỏ (Nguyễn Thị Sâm, 1998)
b) Đặc điểm thực vật học
Bộ rễ cây bông vải thuộc loại rễ cọc, gồm có rễ cái (rễ chính) và nhiều rễ phụ (rễ con) Bộ rễ bông vải phát triển tương đối sâu, rễ cái có thể ăn sâu đến 2 – 3 m, rễ con dài 0,6 – 1 m Rễ bông phát triển mạnh hơn cả về chiều sâu và chiều ngang khi
Trang 18bông bắt đầu ra nụ Từ lúc cây bông bắt đầu ra hoa đến khi hoa nở rộ thì tốc độ phát triển của rễ chậm dần lại và từ khi hoa nở rộ trở đi thì rễ bông không phát triển nữa
Thân cây bông thuộc loại thân gỗ, mang cành, lá, hoa và quả Cây bông có một thân chính mọc thẳng đứng, mang các cành và lá thật, mỗi đốt thân mang một lá xếp theo hình xoắn ốc, giữa chiều cao cây và năng suất không có tương quan cùng chiều, nghĩa là không phải thân cây bông to cao sẽ cho năng suất cao Trên thân thường có lông, riêng loài bông Hải Đảo thân nhẵn Thân cây bông màu xanh, có khi màu tía Trên thân có tuyến dầu làm nhiệm vụ bài tiết Từ khi gieo đến khi ra lá thật thân phát triển chậm nhưng từ khi có lá thật đến nụ thân phát triển nhanh và nhất là từ khi có nụ đến ra hoa, từ lúc hoa đầu tiên nở đến quả đầu tiên nở cây bông tiếp tục phát triển nhưng chậm dần và sau đó ngừng sinh trưởng
Ở cây bông vải có hai loại cành đó là cành lá (cành đực) và cành quả Cành lá
to mọc thẳng hợp với thân chính một góc nhỏ và không trực tiếp mang quả Cành quả mảnh dẻ, khúc khuỷu dạng chữ chi hợp với thân chính một góc lớn và trực tiếp mang hoa quả Cành quả có loại cành vô hạn và hữu hạn tùy thuộc vào giống
Do đặc điểm của giống chia làm 6 dạng hình cây bông:
- Hình ống: cành trên và cành dưới có chiều dài gần bằng nhau;
- Hình tháp: cành dưới dài, cành trên ngắn lại Dạng này chống đổ ngã tốt;
- Hình bụi: thân chính thấp, cành lá nhiều và cao gần bằng thân;
- Hình cầu: cành ở phía gốc và phía ngọn ngắn, cành giữa dài;
- Quả chạc: đâm nhiều quả chạc ở góc cành quả;
- Quả chùm: quả tập trung quanh thân chính, lóng cành rất ngắn (bông Hải Đảo)
Xu hướng chung ngày nay là chọn giống bông cành ngắn, tốt nhất là hình tháp, hình ống
Lá bông thay đổi hình dáng và chức năng tùy theo giai đoạn sinh dục của cây
Lá sò chứa nhiều chất dinh dưỡng dự trữ làm nhiệm vụ nuôi cây khi cây chưa có lá thật và bộ rễ còn non yếu, đồng thời còn làm nhiệm vụ quang hợp Lá sò của các giống bông đều khác nhau Thời gian ra lá thật dài hay ngắn tùy giống, đồng thời tùy
vụ và điều kiện trồng Các loài bông vải khác nhau có hình dạng, kích thước và độ lông trên lá cũng khác nhau Đa số giống bông có lá màu xanh; một số có lá tím
Trang 19thường dùng làm giống chỉ thị trong lai tạo, ít có giá trị trong sản xuất Lá bông gồm nhiều bộ phận như tai lá, cuống lá, phiến lá Lông trên lá là đặc trưng cho loài, những giống bông nhiều lông trên lá có khả năng chống rầy
Nụ bông đầu tiên xuất hiện cùng với cành quả đầu tiên, có hình tháp tam giác cân giới hạn bằng 3 tai nụ (lá bắc) Hoa bông gồm cuống hoa, lá bắc, đài hoa, tràng hoa, ống nhị đực và bầu nhụy cái
Quả bông thuộc loại quả tự khai Số lượng quả trên cây thay đổi tùy giống bông và điều kiện canh tác (bông Luồi có khi đến 500 quả nếu được chăm sóc và để lưu niên) Hình dáng quả khác nhau tùy giống; quả bông Cỏ nhỏ, dáng dài, mũi hơi nhọn, phía cuống hơi bằng, màu xanh, có nhiều điểm dầu rõ; bông Luồi quả to, dáng tương đối tròn, vỏ quả nhẵn, màu xanh, điểm dầu nằm sâu dưới biểu bì Quả bông thường có 3 – 5 ngăn, mỗi ngăn chứa một múi bông, mỗi múi bông gồm nhiều ánh bông
Hạt bông trong mỗi múi bông xếp thành hai hàng trên thai tòa Hạt bông một đầu nhọn và một đầu bầu Đầu nhọn của hạt đính vào thai tòa Hạt gồm có vỏ, xác phôi nhũ và phôi
Xơ bông là một thứ lông bao bọc hạt bông Trên hạt bông có hai loại xơ: xơ dài (chiều dài từ 20 - 40 mm) và xơ ngắn (dài từ 2 – 5 mm) Cấu tạo của xơ bông gồm
5 phần: Tầng sáp, vách sơ sinh, vách thứ sinh, vách xoang và xoang Xơ bông đã chín
là một ống rỗng ruột, dẹt và uốn xoăn lại Chiều dài của xơ là một đặc tính vô cùng quan trọng, xơ càng dài càng xe được chỉ săn, nhỏ và dệt được loại vải mỏng, bền, đẹp Xơ dài hay ngắn, dai hay bở, thô hay mịn… phụ thuộc vào giống, độ chín của
xơ, điều kiện sống của cây bông
2.1.2 Đặc tính của giống bông
Theo Phan Thanh Kiếm (1998) giống bông có các đặc tính sau:
- Tính khu vực: không có giống bông nào tốt cho mọi địa phương, mọi loại đất, mọi trình độ canh tác Mỗi giống chỉ thích ứng với một địa phương nhất định, ở
đó phát huy được tiềm năng năng suất của giống, chẳng hạn như giống TM1 phù hợp với những vùng khô hạn…Ở mỗi địa phương, ở các khu vực khác nhau có điều kiện đất đai và trình độ canh tác khác nhau đòi hỏi phải phổ biến các giống khác nhau
Trang 20- Tính thời gian của giống bông: đặc tính này biểu hiện ở 2 mặt: giống bông tốt nhưng trồng lâu năm không chọn lọc lại sẽ dẫn đến thoái hóa do tạp giao, phân ly,
do đột biến tự nhiên và có cả sự lẫn tạp cơ giới, kết cục sau một số năm phải thay giống mới; sự xuất hiện các giống bông mới có năng suất cao hơn các giống cũ Như vậy không có giống bông nào lại không bị thay thế bởi các giống mới
- Tính tương đối về sự biểu hiện các tính trạng của giống: mỗi tính trạng chỉ biểu hiện trong những điều kiện nhất định và không thể tồn tại một giống bông có tất
cả các đặc tính hoàn toàn lý tưởng
2.1.3 Đặc điểm của giống bông lai F 1
Giống bông lai F1 là giống được tạo ra do giao phối giữa hai giống bố mẹ ở đời thứ nhất Con lai được tạo ra có ưu thế về sinh trưởng, phát dục, tính chống chịu
và kết quả giống F1 có năng suất cao hơn giống bố (mẹ) cho năng suất cao nhất, phẩm chất cao hơn hoặc tương đương bố mẹ Nói chung giống lai có những ưu thế sau đây:
- Năng suất cao: thông thường các con lai cùng loài H x H có thể cho năng suất tăng từ 30 – 60 %, thậm chí gấp 2 – 3 lần bông thường Ở Ấn Độ năng suất bông lai toàn quốc gấp 1,5 – 1,6 lần bông thường
- Chất lượng xơ tốt: nhìn chung các giống ưu thế lai F1 có xu hướng làm tăng chiều dài xơ (khoảng 9 %), tăng độ bền (khoảng 6 – 7 %), có nhiều cặp lai tăng tỷ lệ
xơ, các tính trạng khác giữ nguyên hoặc có phần cải tiến
- Chống chịu tốt, đặc biệt trong giai đoạn cây con bông mọc khỏe, ít bị bệnh, sinh trưởng mạnh, chịu phân và có thể trồng thưa Trong giai đoạn đầu cây mọc nhanh, đều, khỏe Giai đoạn trước khi nở hoa cây to khỏe, nhiều cành, lá dày Với mật độ thưa 20 – 25 ngàn cây/ha, cây phát triển cân đối, bón nhiều phân nhưng không
bị lốp, duy trì bộ lá lâu Ưu điểm này đã làm cho giống F1 có năng suất rất cao, có cơ hội để đầu tư phân bón tăng hiệu quả trồng trọt
Quy luật chung của các loại cây trồng là năng suất và chất lượng thường mâu thuẫn với nhau Giống năng suất cao, phẩm chất không tốt và giống có phẩm chất tốt thì năng suất thấp Với bông vải, có nhiều giống đã vượt qua được sự ràng buộc này, đặc biệt có giống bông lai có ưu thế lai cả về năng suất và chất lượng Đó là lợi thế của ưu thế lai bông
Trang 212.1.4 Một số đặc tính chống chịu sâu bệnh ở cây bông vải
Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Hai (1996), trên cây bông ở Việt Nam có 49 loài sâu gây hại, trong đó có các loài gây hại quan trọng như là rầy xanh
(Amarasca devastans) và sâu xanh hại quả (Helicoverpa armigera) Đồng thời, theo
Nguyễn Thị Thanh Bình (1999), bệnh hại bậc nhất trên cây bông vải là bệnh xanh lùn (Blue disease), bệnh này do virus gây nên được lan truyền chủ yếu qua vectơ rệp
bông (Aphis gossypii) và gây thiệt hại nặng về năng suất cây bông
Theo Nguyễn Hữu Bình (1990), khi nghiên cứu về khả năng chống chịu sâu ở cây bông hầu hết các nghiên cứu đều cho rằng tính chống chịu của cây bông có liên
hệ chặt chẽ với các đặc điểm cấu tạo của nó Đối với loại chích hút như nhện đỏ, rầy xanh, bọ trĩ thì những giống có lông nhiều gần như kháng rất cao như các giống M456-10, Baghe Tất cả các dạng chống chịu côn trùng chích hút đều có lông, nhưng không phải tất cả các dạng có lông đều chống chịu với côn trùng chích hút Vai trò quan trọng là mật độ lông, chiều dài lông, góc dính của lông và độ dày của lá Những giống không có lông (thân, lá nhẵn) thường bị nhiễm côn trùng chích hút Các nghiên cứu khác cũng cho thấy mật độ sâu xanh ở những giống bông lá nhẵn thấp hơn những giống có lông và nhiều lông Lý do là sâu xanh đẻ trứng rải rác, những lông trên lá có tác dụng giữ cho trứng không bị trôi khi mưa gió Còn sâu keo thì đẻ trứng thành từng
ổ nên chọn nơi bằng phẳng Vì thế những giống bông lá nhẵn có mật độ sâu keo cao hơn các giống có lông Sự chống chịu của cây bông đối với sâu xanh còn được thể hiện bởi vai trò của độc tố Gossypol, khi sâu ăn vào thì gây độc làm cho sinh trưởng
và phát triển không bình thường, lượng trứng của bướm đẻ ít nên mật độ tăng chậm Đối với sâu miệng nhai, chúng ít gây hại trên những giống bông không có tuyến mật trên hoa Nhìn chung, đối với sâu miệng nhai như sâu xanh, sâu keo cơ chế chống chịu như: trốn tránh (chín sớm), không thu nhận (giống lá nhẵn, lá chân gà, không tuyến mật thường kháng sâu xanh), kháng sinh (giống có hàm lượng Gossypol, tanin cao kháng hầu hết các loại sâu đục trái), chịu đựng (khả năng tái sinh, sức sống của cây cao, sự bù của cây bên cạnh)
Trang 222.2 Đặc điểm và cơ sở di truyền học của ưu thế lai
2.2.1 Hiện tượng và đặc điểm của ưu thế lai
Hiện tượng UTL (ưu thế lai) dùng để chỉ hiện tượng con lai đời F1 hơn bố mẹ
về một số tính trạng Căn cứ vào loại nhóm tính trạng, người ta thường phân biệt 4 loại UTL: UTL sinh dưỡng, UTL thích ứng, UTL tích lũy, UTL sinh sản
- UTL sinh sản: biểu hiện sự tăng số lượng và chất lượng của các bộ phận sinh sản như nhiều hoa, nhiều quả và quả lớn, nhiều hạt và hạt to, tăng tỷ lệ đậu quả, kết hạt so với bố mẹ Loại UTL này có lợi cho các cây thu hoạch quả, hạt
- UTL sinh dưỡng: biểu hiện sự tăng khối lượng của các bộ phận sinh dưỡng như thân to, nhiều cành nhánh, lá lớn, nhiều rễ và rễ khỏe, nhiều củ và củ to so với bố
mẹ Loại UTL này có lợi cho các cây thu hoạch thân, lá, củ
- UTL thích ứng: biểu hiện sự tăng sức sống, tăng tính chống chịu với các điều kiện bất thuận so với bố mẹ Loại UTL này làm cho năng suất cây trồng tăng
- UTL tích lũy: biểu hiện sự tăng cường tích lũy các chất vào các bộ phận của cây như hàm lượng tinh bột ở củ cao, hàm lượng protein và hàm lượng dầu ở hạt cao, hàm lượng đường ở thân, củ cao, hàm lượng các chất thơm cao, … Loại UTL này làm tăng chất lượng sản phẩm nông sản
Theo Phan Thanh Kiếm (2006), không phải tất cả các con lai đều có UTL mà
nó chỉ xuất hiện ở những cặp lai nhất định Mức độ UTL phụ thuộc vào loại cây trồng, loại tính trạng và thực liệu bố mẹ Với năng suất, UTL có thể làm tăng 25 – 35
%, đặc biệt có thể lên tới 50 % so với bố mẹ tốt nhất
Ngày nay, việc sản xuất giống UTL phát triển mạnh ở nhiều loại cây trồng mà điển hình là ở ngô, lúa nước, bông vải Ở Mỹ, người ta đã sản xuất ra giống ngô lai đạt năng suất 25,4 tạ/ha/vụ Các nhà chọn giống Trung Quốc đã tạo ra tổ hợp lúa lai hai dòng cho năng suất 17,1 tấn/ha, các giống bông lai có năng suất cao hơn năng suất giống sản xuất đại trà 30 – 65 %
UTL thể hiện mạnh ở đời F1 và giảm dần ở các thế hệ sau (Lê Đình Lương, 1991) Hầu hết các tính trạng có UTL dương Với UTL dương, con lai có giá trị tính trạng cao hơn bố mẹ Biểu hiện của UTL dương là: phôi phát triển khỏe, các cơ quan phát triển mạnh (hệ thống rễ phát triển mạnh, nhiều lá, thân cao to, khả năng cho năng suất cao, khả năng thích ứng rộng), chất lượng sản phẩm tốt Tuy nhiên, ở một
Trang 23số tính trạng của một số cây thể hiện UTL âm Với UTL âm, con lai biểu hiện xấu hơn bố mẹ, thậm chí xấu hơn bố mẹ thấp nhất UTL âm có lợi cho một số tính trạng như thời gian sinh trưởng,….UTL âm theo thời gian sinh trưởng thường bắt gặp ở các cặp lai ở cây ngô, cây lúa nước, cây bông
Trong các giai đoạn của sự phát triển của cá thể, sự biểu hiện UTL được thể hiện không đều: ở một vài giai đoạn của sự phát triển cá thể, thể hiện UTL về một vài tính trạng này, ở những giai đoạn khác về những tính trạng khác, hoặc chỉ về một tính trạng Ngoài ra UTL thể hiện không những toàn bộ cơ thể mà cả ở mức độ tế bào (Lê Đình Lương, 1991)
2.2.2 Cơ sở di truyền học của hiện tượng ưu thế lai
Để giải thích cơ sở hình thành UTL, đến nay vẫn chưa có ý kiến thống nhất và hiện đang tồn tại các giả thuyết sau (Phan Thanh Kiếm, 2006):
- Thuyết ưu thế dị hợp tử (thuyết siêu trội): giả thuyết này khẳng định rằng các
dị hợp tử thường đảm bảo tính trội và sức sống lớn hơn là mỗi allen có trong nó (cả trội lẫn lặn) ở trạng thái đồng hợp tử Các dị hợp tử có ưu thế rất đặc biệt trong những điều kiện sống biến động và bất lợi, càng có nhiều ổ gen (locus) dị hợp tử thì biểu hiện của UTL càng cao và ở F1 số ổ gen dị hợp tử là cao nhất Trong trường hợp 2 allen, giả thuyết này biểu thị như sau: a1a1 < a1a2 > a2a2 hay AA < Aa > aa
- Thuyết ưu thế trội (thuyết tính trội): thuyết này cho rằng sự xuất hiện UTL ở F1 là kết quả của sự phục hồi vai trò của các gen trội ở những ổ gen mà bố mẹ đã trở thành đồng hợp tử lặn có hại Nếu một dòng có kiểu gen AAbbCC lai với một dòng
có kiểu gen aaBBcc thì F1 sẽ có các kiểu gen AaBbCc Do những gen trội lấn át gen lặn ở trạng thái dị hợp tử nên AaBbCc có giá trị cao hơn bố mẹ và xuất hiện UTL
- Thuyết cân bằng di truyền: theo giả thuyết này thì mỗi cơ thể sinh vật ở trạng thái cân bằng di truyền nhất định, đảm bảo cho sự hình thành một kiểu hình thích ứng với điều kiện sống Khi lai các cá thể có kiểu cân bằng di truyền khác nhau sẽ hình thành cơ thể mới có trạng thái cân bằng di truyền mới, do vậy con lai xuất hiện những tính trạng mới tốt hơn bố mẹ
- Thuyết đồng tế bào chất: theo H Nilsson, nhà di truyền - chọn giống Thụy Điển, tự giao không chỉ làm cho vật chất di truyền ở nhân trở nên đồng nhất và đồng
Trang 24hợp thể mà còn làm cho tế bào chất cũng trở nên đồng nhất và đồng hợp thể Sự đồng
nhất và đồng hợp thể của tế bào chất có thể là nguyên nhân của sự thoái hóa khi tự
giao Sau khi lai, tính đồng nhất ở tế bào chất đã mất, làm xuất hiện UTL
2.3 Tình hình sản xuất và nghiên cứu về cây bông vải trên thế giới
2.3.1 Tình hình sản xuất
Bảng 2.1: Diện tích, năng suất, sản lượng bông vải của một số nước trồng bông lớn
trên thế giới niên vụ 2005/06
(triệu ha)
Năng suất (kg/ha)
Sản lượng (triệu tấn)
Nguồn: United States Department of Agriculture – USDA, tháng 3/2007
Công nghiệp dệt may là ngành công nghiệp quan trọng ở cả các nước phát
triển và đang phát triển Theo thống kê của bộ nông nghiệp Mỹ hiện nay trên thế giới
có khoảng 120 nước trồng bông vải phục vụ cho ngành công nghiệp dệt Trong đó
các nước dẫn đầu sản xuất bông vải là Mỹ, Ấn Độ, Trung Quốc, Pakistan,
Uzbekistan, Brazil, Thổ Nhĩ Kỳ Diện tích, năng suất và sản lượng bông không ngừng
ra tăng trong những năm gần đây Trong niên vụ 2005/06 Ấn độ là nước dẫn đầu thế
giới về diện tích trồng bông với 8,87 triệu ha kế đến là Mỹ và Trung Quốc trên 5 triệu
ha, tuy nhiên dẫn đầu về năng suất bông hạt là Australia với 1814 kg/ha và Syria với
1452 kg/ha, dẫn đầu về sản lượng là Trung Quốc (5,7 triệu tấn) và Mỹ (5,2 triệu tấn)
Theo dự báo của bộ nông nghiệp Mỹ, tổng sản lượng bông thế giới năm
2006/07 sẽ đạt 25,196 triệu tấn tăng 1,39 % so với 24,808 triệu tấn của năm 2005/06
Trong đó sản lượng của một số nước dự báo sẽ đạt như sau: Brazil 1,14 triệu tấn;
Trung Quốc 6,53 triệu tấn; Ấn Độ 4,57 triệu tấn; pakistan 2,07 triệu tấn; Thổ Nhĩ Kỳ
0,95 triệu tấn; Mỹ 4,64 triệu tấn; Uzbekistan 1,2 triệu tấn; các nước khác 4,14 triệu
Trang 25tấn Tổng mức tiêu dùng bông thế giới năm 2006/07 dự báo sẽ đạt 26,32 triệu tấn, tăng so với 25,22 triệu tấn năm 2005/06 và sẽ là năm thứ hai liên tiếp có mức tiêu dùng cao hơn sản lượng Tổng xuất khẩu bông trên thế giới năm 2006/07 dự báo đạt 9,05 triệu tấn giảm so với 9,88 triệu tấn xuất năm 2005/06 Xuất khẩu bông của một
số nước năm 2006/07 dự báo sẽ đạt như sau (đơn vị triệu tấn): Australia 0,53; Brazil 0,30; Burkina Faso 0,30; Hi lạp 0,27; Cadăcxtan 0,91; Mali 0,22; Mỹ 3,53; Uzbekistan 1,02 (Sản xuất thị trường nông nghiệp và phát triển nông thôn số 48 năm 2006)
2.3.2 Tình hình nghiên cứu, thành tựu sử dụng ưu thế lai ở cây bông trên thế giới
Ở cây bông vải ưu thế lai được nghiên cứu từ năm 1874, được phát hiện đầu tiên ở năng suất, một số đặc tính xơ (Mell, 1894) và đã được khẳng định có thể khai thác về mặt kinh tế (Cook,1909) Từ đó việc nghiên cứu sử dụng ưu thế lai trên cây bông đã được tiến hành rộng rãi ở hầu hết các nước trồng bông trên thế giới Ưu thế lai đã được khẳng định trên hầu hết các tính trạng kinh tế quý Nhiều giống lai cùng loài và khác loài đã được trồng thử nghiệm và khẳng định ưu thế lai hơn hẳn các giống thuần về khả năng sinh trưởng, chống chịu sâu bệnh, nhất là năng suất với ưu thế lai chuẩn từ 20 – 150 %
Khi lai giữa các giống bông Luồi với nhau, hầu hết các tác giả cho biết có xuất hiện UTL về năng suất (Khan Gill và ctv, 1984; Maksudov.Yu, 1987; Jabtap và Kolhe, 1988; Kapoor, 1994; Gencer và ctv, 1994) (dẫn theo Trần Thanh Hùng, 1995) Maksudov.Yu và ctv (1985) cho rằng năng suất cao được điều khiển bằng nhiều gen trội, sự xuất hiện UTL phụ thuộc vào số lượng gen trội có trong bố mẹ Kết quả phân tích tương quan đường dẫn của Phanda và ctv (1985) cho thấy các yếu tố cấu thành năng suất: số quả trên cây, trọng lượng quả đóng góp tới 70 % thành phần cấu thành năng suất Có nhiều công trình nghiên cứu khác cho thấy con lai giữa các giống trong loài bông Luồi cho UTL rất cao về năng suất nhưng UTL thường biểu hiện không đáng kể về các tính trạng chất lượng xơ (Raw và Kohel, 1969; Miller, 1971; Meredith
và Bridge, 1972; Basu, 1993) (dẫn theo Lê Minh Thức, 1995) Về tính trạng tỷ lệ xơ, Gesos và Ashirkulov (1989) thấy rằng có thể xuất hiện UTL ở con lai khi lai hai bố
Trang 26mẹ có tỷ lệ xơ tương đương nhau Theo Dhanda và ctv (1985) tỷ lệ xơ có tương quan nhưng không chặt với năng suất
Khi nghiên cứu UTL về các tính trạng quy định chất lượng xơ Bhatade (1985) cho rằng khi lai giữa các giống bông Luồi với nhau, một số cặp lai có xuất hiện UTL
về chiều dài xơ, độ bền và độ mịn Nhưng qua vài thế hệ tự phối, các cá thể có xu hướng giảm trở về trạng thái trung bình bố, mẹ; trong trường hợp này việc chọn lọc nên tiến hành chậm lại sau một số thế hệ tự phối thì sẽ hiệu quả cao, giống nhanh thuần (kapoor, 1994) Các con lai khác loài giữa bông Luồi và bông Hải Đảo thường
có UTL về chiều dài xơ, độ bền xơ nhưng giảm độ mịn và độ chín Để nâng cao chất lượng xơ cần nâng cao các biện pháp hồi giao để nâng cao giá trị tính trạng hoặc lai tạo giữa bông Luồi và bông Hải Đảo
Về thành tựu sử dụng UTL trên thế giới:
Ấn Độ là quốc gia đầu tiên sử dụng thành công UTL trong sản xuất trên quy
mô lớn Lần đầu tiên giống bông lai Hybrid-4 được đưa vào sản xuất tại Ấn Độ năm
1968, tiềm năng cho năng suất 100 tạ/ha (Patel, 1979 và 1990) Từ năm 1970 đến
1989 Ấn Độ đã đưa ra sản xuất 11 giống bông lai khác loài và 10 giống bông lai cùng loài (Patel, 1990) Năm 1998, ở Ấn độ bông lai chiếm 40 % diện tích và đóng góp 50
% sản lượng bông quốc gia Năng suất bông lai ở Ấn Độ cao hơn bông thuần 1,5 – 1,6 lần (kairon M.S và Phundan Singh, 1998) (dẫn theo Nguyễn Thị Sáu, 1999)
Mỹ là một trong những nước có sản lượng bông cao nhất trên thế giới Việc tiến hành nghiên cứu UTL của Mỹ được tiến hành từ rất sớm Kime và Tilley (1949) phát hiện UTL ở một số tính trạng cấu thành năng suất, chiều dài xơ, độ mịn xơ; trong đó UTL về chiều dài xơ biến động từ 1,1 – 3,6 % và UTL về độ bền biến động
từ 4,7 – 5,6 % (Lê Quang Quyến, 1997)
Trung Quốc là nước có lịch sử trồng bông lâu đời nhất (cách đây 2000 năm) Bốn mươi năm trở lại đây Trung Quốc đã tiến hành 6 lần đổi giống Mỗi lần đổi giống, sản lượng tăng được 10 – 15 % Hiện nay Trung Quốc có khoảng 330 ngàn ha bông lai, năng suất bình quân 4000 – 4500 kg/ha Đặc biệt Trung Quốc sử dụng giống F2 trên 80 % diện tích bông lai, nhưng năng suất vẫn cao hơn giống đối chứng từ 7 –
15 % (SH %) Hiện nay Trung Quốc tập trung các nghiên cứu cho việc tạo các giống bông lai hai dòng, lai ba dòng nhằm có thể giảm 1/3 giá thành hạt giống lai Kết quả
Trang 27tạo ra một số giống như: Yiyou-1 có thể đạt 2260 kg xơ/ha, Yiyou-3 đạt 3000 kg bông xơ/ha (Lê Quang Quyến, 1997)
Ngoài Ấn Độ, Mỹ và Trung Quốc, các nước trồng bông khác như Liên Xô cũ, Pakistan, Israel, Úc,…cũng có đầu tư nhiều nghiên cứu và sử dụng bông lai Ở Israel các nghiên cứu và sử dụng UTL đạt được nhiều thành công, năng suất đạt trên 6000 kg/ha (Lê Quang Quyến, 1995)
Do việc sản xuất hạt lai theo phương pháp thủ công gặp khó khăn vì tốn nhân công và chi phí cao, nên việc đưa bông lai vào sản xuất chỉ thành công ở những nước
có nhân công dồi dào và rẻ như Trung Quốc, Ấn Độ Để khắc phục điều này, gần đây một số nước tăng cường nghiên cứu sử dụng giống F2 cũng như sử dụng công nghệ bất dục đực trong sản xuất hạt lai như Trung Quốc, Israel và đã đạt được hiệu quả cao (Chi-yang cao, 1990; Dick D.David, 1990) (Dẫn theo Lê Quang Quyến, 1995) Các công trình nghiên cứu của Raut R.S (1998) đều xác nhận con lai theo cơ chế bất dục đực gen và bất dục đực tế bào chất có UTL hơn giống đối chứng về tiềm năng năng suất và chất lượng
2.4 Tình hình sản xuất và nghiên cứu về cây bông vải ở Việt Nam
2.4.1 Sơ lược lịch sử và tình hình sản xuất bông vải ở Việt Nam
Trong “Vân Đài Loại Ngữ”, nhà bác học Lê Quý Đôn cho rằng nghề trồng bông dệt vải có ở nước ta từ khi mới hình thành nền văn minh nông nghiệp Loài
bông mà cha ông ta trồng từ xưa chính là bông Cỏ châu Á (G arboreum L.) có năng
suất không cao và phẩm chất xơ thấp Ngày nay chúng ta vẫn có thể tìm thấy thế hệ sau của loài này ở nhiều nơi có truyền thống trồng bông dệt vải trước đây, đặc biệt là các tỉnh miền núi phía Bắc
Lịch sử của công tác thu thập, bảo quản nguồn gen cây bông vải tại Việt Nam được bắt đầu khi có hoạt động chọn tạo giống bông phục vụ cho sản xuất bông hàng hóa của người Pháp ở Việt Nam (Vũ Công Hậu, 1978) Giai đoạn trước năm 1945, giống bông Cỏ là phổ biến, năng suất rất thấp chỉ khoảng 3 - 4 tạ bông hạt/ha (Nguyễn Thơ, 1995)
Theo Nguyễn Thị Sâm (1998), từ năm 1954 đến nay Sự phát triển của ngành sản xuất bông vải ở nước ta có thể chia ra các giai đoạn sau:
Trang 28- Giai đoạn từ 1954 – 1960: cây bông được nhà nước quan tâm phát triển và đặt vấn đề tự cân đối nhu cầu nguyên liệu trong nước cho công nghiệp dệt Đặc điểm nổi bật của giai đoạn này là trồng bông phân tán, kỹ thuật canh tác thô xơ, quảng canh, giống chủ yếu là giống bông Cỏ (xơ dài 13 – 15 cm, tỷ lệ xơ 28 – 30 %, quả bé 1,5 – 1,7 g), năng suất thấp, chất lượng xơ kém, chủ yếu phục vụ cho ngành dệt tại chỗ thủ công và nửa cơ khí
- Giai đoạn 1961 – 1965: thực hiện phương hướng nghị quyết đại hội Đảng lần thứ III: phát triển ngành bông, hết sức chú trọng giải quyết kỹ thuật trồng bông, cải tạo và phổ biến giống bông dài sợi, quy định thời vụ cho từng vùng,… nhằm nâng cao năng suất và đảm bảo thu hoạch Các trại nghiên cứu bông Quỳnh Côi, Gia Lâm được xây dựng, củng cố Bộ nông nghiệp đã tổng kết các thí nghiệm về lai giống, kỹ thuật trồng bông của các trại nghiên cứu, thu thập hàng trăm mẫu giống bông ở các vùng trồng trong và ngoài nước (Liên Xô, Trung Quốc, Ai Cập, Bungari, Thái Lan,
Ấn Độ,…) để trồng thử nghiệm và nhân ra diện rộng, tìm ra những vùng trồng bông
có triển vọng như Sơn La, Thanh Hóa (bông Luồi), các tỉnh ở Tây Bắc (Bông Quầy Vịt), thành lập các nông trường bông (Tô Hiệu) Diện tích và sản lượng đều tăng so với giai đoạn trước
- Giai đoạn 1966 – 1975: sản xuất bông giảm một cách rõ rệt cả về diện tích và năng suất Một trong những nguyên nhân chính là do chưa chọn và bình tuyển được giống bông chịu sâu bệnh phù hợp với điều kiện từng vùng sinh thái
- Giai đoạn 1976 – 1980: ngành bông vẫn khẳng định được vị trí của mình trong cơ cấu của nền kinh tế quốc dân do được hưởng chế độ bao cấp Chúng ta chưa lai tạo được những giống bông chịu được sâu bệnh, chịu hạn nhưng vẫn đảm bảo chất lượng và năng suất cao, thích hợp với điều kiện tự nhiên của các vùng trồng bông trong cả nước Giống chủ yếu vẫn là giống bông Cỏ địa phương Diện tích bông chỉ đạt 8000 ha, năng suất khoảng 3 tạ bông/ha, sản lượng bình quân 2400 tấn bông hạt/năm
- Giai đoạn 1981 – 1993: đây là giai đoạn chuyển từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường đã tác động mạnh đến ngành bông Việt Nam Năm
1987 trung tâm nghiên cứu bông Nha Hố đã đưa ra giống bông mới MCU.9 và M456-10 chống hạn, chống rầy, tiềm năng năng suất và chất lượng xơ cao (xơ dài 29-
Trang 2931mm), phù hợp với vùng trồng bông nhờ nước trời Giống bông cỏ mới AK.235 giữ được tính chống chịu sâu bệnh, đạt năng suất chất lượng xơ cao (xơ dài 24 – 26 mm) phù hợp cho vùng núi phía Bắc,…Những tiến bộ khoa học về giống, chuyển đổi thời
vụ trồng bông nhờ nước trời, dùng thiên địch để loại trừ sâu bệnh,…đã mở ra triển vọng cho ngành bông phát triển Diện tích bông Luồi công nghiệp tăng lên từ 10000
ha (1991) lên 14260 ha (1992) và năng suất bình quân từ 7 tạ/ha (năm 1991) lên 8 tạ/ha (1992), bước đầu hình thành vùng nguyên liệu tập trung (Đồng Nai, Ninh Thuận, Bình Thuận, Đaklak, Sông Bé)
- Sản xuất bông lai 1994: trong năm 1994, ngành bông đã tự sản xuất được hơn 2 tấn hạt giống lai, cùng với 11 tấn nhập từ Ấn Độ và Israel để đưa vào sản xuất Bông lai là yếu tố quan trọng nhất cho phép ngành bông có bước nhảy vọt trong phát triển diện tích và sản lượng bông Năm 1994 diện tích bông đạt 17000 ha Năm 1997, giống chủ lực là giống L18, VN20, giống số 7 (Bioseed) Năm 1998, diện tích bông
cả nước đạt 20200 ha, sản lượng 20700 tấn và năng suất bình quân 10,2 tạ/ha
Trong những năm gần đây, đáng chú ý là các giống bông lai đã thay thế dần các giống bông thường và tập trung nhiều ở các tỉnh Đông Nam Bộ, Tây Nguyên và Duyên Hải miền Trung với các giống như L18, L19, VN20, VN35, VN42
Về phẩm chất xơ bông, các giống bông lai hiện nay đã đáp ứng được yêu cầu của công nghiệp dệt nước ta như chiều dài xơ đạt 26 – 31 mm; độ đều UR% 45 – 50,
độ mịn 3,5 – 4,9 M; độ chín 85 – 100 %; độ bền trên 30 g/tex So với các nước trồng bông trên thế giới, xơ bông Việt Nam có thể xếp vào nhóm chất lượng cao
Bảng 2.2: Diện tích, năng suất và sản lượng bông của nước ta trong những năm gần
Trang 302.4.2 Tình hình nghiên cứu và những thành tựu đạt được trong lĩnh vực chọn tạo giống, sử dụng UTL trên cây bông vải
Ở Việt Nam, nghiên cứu và sử dụng UTL trên cây bông vải bắt đầu vào những năm 1980 Tuy nhiên công tác này thực sự tiến hành có hệ thống và đạt đựợc những thành tựu từ năm 1990
Theo Nguyễn Hữu Bình và Đặng Minh Tâm (1998), ưu thế lai là sự vượt trội của con lai so với bố mẹ Sự vượt trội này có thể là: tăng năng suất, tăng khả năng sinh sản, tăng kích thước và sức sống, chất lượng xơ tốt hơn, ra hoa và nở quả sớm hơn, tăng khả năng chống chịu đối với sâu bệnh và các yếu tố ngoại cảnh, tăng cường hoạt tính enzym, sự phân chia tế bào, hàm lượng tanin, dầu, gossypol,…trong hạt hoặc một số đặc tính sinh hóa khác
Khi nghiên cứu UTL trên cây bông vải, các công trình nghiên cứu của Nguyễn Hữu Bình, Đặng Hữu Vinh (1998); Đặng Minh Tâm (1998) cho thấy lai khác loài UTL mạnh hơn lai cùng loài Trong lai cùng loài giữa bông Cỏ x bông Cỏ, Luồi x Luồi, Hải Đảo x Hải Đảo thì con lai cùng loài bông Cỏ và bông Hải Đảo cho năng suất cao nhưng thời gian sinh trưởng quá dài không phù hợp với trồng bông nhờ nước trời, chất lượng xơ chưa đáp ứng được nhu cầu công nghiệp dệt, dễ nhiễm bệnh Vì vậy các con lai cùng loài bông Luồi được lựa chọn để tạo giống bông lai
Theo Lê Minh Thức (1996), xét về chỉ tiêu chất lượng xơ thì con lai khác loài biểu hiện khá tốt, tất cả chúng đều biểu hiện trạng thái siêu trội về chiều dài xơ (hp > 1) Độ bền xơ của các con lai khác loài biểu hiện trung gian giữa bố mẹ chúng, nhưng vẫn cao hơn đáng kể so với độ bền xơ của các con lai trong loài bông Luồi hoặc các giống bông Luồi Khi lai các giống bông Luồi, UTL biểu hiện ở mức độ cao trên các tính trạng trọng lượng quả (trung bình 10 %), khối lượng hạt (4 %), các tính trạng chất lượng xơ và tỷ lệ xơ UTL biểu hiện không đáng kể Cũng theo tác giả này thì qua đánh giá UTL trong điều kiện mùa mưa ở Việt Nam, lai giữa các giống bông Luồi thu được UTL cao về các tính trạng năng suất và đã đạt được từ 20 – 138 %, lai giữa bông Luồi và bông Hải Đảo sử dụng để cải thiện chất lượng xơ Theo Phan Thanh Kiếm (1990), các con lai khác loài (Luồi x Hải Đảo) di truyền tính trạng chiều dài xơ rất cao và trội hoàn toàn hoặc siêu trội; cũng theo tác giả này thì thời gian sinh trưởng của các con lai cùng loài trong cả hai năm đều biểu hiện đặc tính trung gian
Trang 31giữa bố và mẹ, giữa các con lai khác loài có hiện tượng UTL theo hướng chín sớm khi hai bố mẹ có thời gian sinh trưởng tương đương nhau Qua nghiên cứu một số thông số di truyền chọn giống bông Luồi qua phương pháp lai phân tích Line x Tester Đàng Năng Bửu (1996) thấy rằng lai cùng loài bông Hải Đảo và lai giữa bông Hải Đảo và bông Luồi có UTL đối với số quả trên cây
Kết quả nghiên cứu về tương quan giữa những tính trạng chính trên cây bông vải của Phan Thanh Kiếm (1990), Bùi Thị Ngọc (1995) cho thấy năng suất tương quan thuận và chặt với số quả Theo Trần Thanh Hùng (1995), Bùi Thị Ngọc (1995) năng suất hầu như không tồn tại mối tương quan với các đặc tính chất lượng xơ như:
độ bền, độ mịn, độ chín, chiều dài xơ Khi phân tích tương quan giữa các tính trạng quy định chất lượng xơ Trần Thanh Hùng (1995) cho thấy có hai nhóm đối cực nhau (tương quan âm) đó là chiều dài xơ, độ bền với độ mịn, độ chín, độ đều
Về thành tựu:
Giai đoạn 1982 – 1990, các nhà chọn tạo giống Việt Nam đã lai tạo được một
số cặp lai khác loài G hirsutum x G barbadense như Baghe/Menuffi có UTL về sinh
trưởng và chất lượng xơ nhưng chín muộn (6-7 tháng), cặp lai cùng loài như
Tamsctosp35N/MCU9 biểu hiện UTL về năng suất và chất lượng xơ nhưng kháng rầy kém nên không thành công trong sản xuất (Vũ Công Hậu 1986)
Từ năm 1990 trở đi nước ta kết hợp nhập nội và thử nghiệm một số giống lai
từ Ấn Độ đồng thời đẩy mạnh nghiên cứu sử dụng UTL, đặc biệt tập trung vào các giống UTL cùng loài bông Luồi, kết hợp sử dụng giống lai nhập nội như Bioseed 7,
và ba giống lai nội địa đầu tiên là L18, VN20, VN35 thành công trong sản xuất đã góp phần mở rộng diện tích đáng kể và tăng năng suất từ 1,5 – 2 lần (từ 0,6 – 0,7 tấn bông hạt/ha lên 1 – 1,2 tấn bông hạt/ha) Các giống này vượt trội so với các giống bông thường TM1, M456-10, MCU9 cả về năng suất và tính chống chịu sâu bệnh, thích nghi rộng, tỷ lệ xơ cũng như phẩm chất xơ
Ngoài ra, việc tạo giống bông theo cơ chế bất dục đực tế bào chất mới được quan tâm từ năm 1993 và bất dục đực gen từ năm 1997 Với thao tác thụ phấn đơn giản, không phải khử đực, giảm được công lao động, có thể cung cấp đủ giống theo yêu cầu sản xuất với giá thành hạ hơn so với hạt lai hiện nay Việc sử dụng phương pháp bất dục đực còn tăng độ thuần hạt giống, tăng đậu quả và tăng năng suất hạt lai
Trang 32so với phương pháp khử đực thông thường Với những ưu điểm của hệ thống lai này
là đảm bảo được năng suất và chất lượng của cây bông lai F1, đến nay một số cặp lai theo cơ chế này đang được đánh giá cao trong các thí nghiệm so sánh, khảo nghiệm
và trong sản xuất như: GL03, GM5/D16-2 (Nguyễn Thị Kim Yến)
Theo Lê Quang Quyến (2000), từ năm 1997-2000 công tác chọn tạo giống bông đã gặt hái được rất nhiều thành công, các tổ hợp bông lai F1: VN20, VN35, NH.4, NH.38, VN40, VN41 là các giống lai có UTL cao về tăng trưởng và năng suất, phẩm chất xơ tốt và có những đặc điểm như kháng rầy, dạng hình thoáng gọn, tỷ lệ
xơ cao, chín sớm, phù hợp với yêu cầu chọn tạo và bước đầu đáp ứng nhu cầu về giống cho từng vùng cụ thể
Kết quả nghiên cứu chọn tạo và đánh giá những năm gần đây đã xác định được nhiều giống lai triển vọng, kết hợp khả năng cho năng suất cao, kháng một số sâu hại chủ yếu, đồng thời có phẩm chất tốt, trong đó nổi bật là các giống lai mới VN04-3, VN04-4, VN04-5 Như vậy yếu tố quyết định trong các giải pháp khoa học và công nghệ làm tăng năng suất, mở rộng diện tích bông là tiến bộ về các giống bông lai Các giống bông lai đã được sản xuất đại trà như: VN35, VN15, VN01-2, VN02-2 kháng sâu, kháng rầy, chịu hạn lần lượt đã thay thế các giống bông lai không kháng sâu như L18, VN20 Những tiến bộ về giống bông lai sẽ tạo tiền đề để khai thác triệt để năng lực của hệ thống sản xuất đang ngày một nâng cao, bông xơ có chất lượng tốt sẽ đáp ứng nhu cầu cho công nghiệp dệt may các mặt hàng cao cấp trong nước
Trang 33Chương 3
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Vật liệu nghiên cứu
Vật liệu nghiên cứu gồm:
- 5 giống bông Luồi được sử dụng làm bố mẹ: C92-52, C118, D99-1, S02-13, TM1 Trong đó:
+ Giống C92-52: chọn từ giống nhập nội Úc năm 1993, có thời gian sinh trưởng trung bình, tiềm năng năng suất khoảng 25 – 30 tạ/ha, cây dạng hình nón, quả
to dạng tròn, mỏ quả ngắn, tỷ lệ xơ khoảng 40 %, xơ dài
+ Giống bông C118 do bộ môn di truyền và chọn tạo giống bông Nha Hố chọn Đây là giống bông Luồi thuần chủng được chọn từ tổ hợp lai TH.1/LRA.5166, được công nhận giống quốc gia năm 1997, cây cao từ 110 – 130 cm, 17 – 18 cành quả, 1 – 2 cành đực, thời gian sinh trưởng từ gieo đến 50 % số cây nở quả là 100 –
105 ngày, tận thu 120 – 130 ngày Ra hoa, đậu quả tập trung, chín sớm, mật độ lông trên lá trung bình, kháng rầy trung bình khá, thích hợp thâm canh, năng suất 1,5 – 1,7 tấn/ha, khối lượng quả 4,5 – 4,7 g, tỷ lệ xơ cao (39 – 40 %), chiều dài xơ 27 – 28 mm, thích hợp cho vùng thâm canh ở Đông Nam Bộ và Tây Nguyên
+ Giống D99-1: chọn từ giống nhập nội từ Trung Quốc năm 1999, có khả năng kháng sâu, trọng lượng quả bé khoảng 4 g, thời gian sinh trưởng ngắn, năng suất tiềm năng lớn khoảng 30 – 35 tạ/ha
+ Giống S02-13: chọn lọc từ tổ hợp lai CS94/VN36P, lá có nhiều lông tơ, có khả năng kháng rầy, tiềm năng năng suất cao khoảng 30 tạ/ha, tỷ lệ xơ khoảng 41 %,
xơ dài
+ Giống TM1: chọn lọc từ con lai tự nhiên giữa giống bông TH.1 và bông địa phương (Baghe), được công nhận giống quốc gia năm 1992 Thời gian từ gieo đến nở quả từ 105 – 110 ngày, chịu hạn rất tốt và kháng rầy khá Có tiềm năng năng suất cao (2 – 2,5 tấn/ha) Tỷ lệ xơ 37 – 38 % Thích hợp cho vùng duyên hải miền Trung
Trang 34- 10 tổ hợp lai F1 được phối hợp theo kiểu luân giao (diallel cross) một nửa từ
5 giống bố mẹ trên: C92-52/C118, C92-52/D99-1, C92-52/S02-13, C92-52/TM1, C118/D99-1, C118/S02-13, C118/TM1, D99-1/S02-13, D99-1/TM1, S02-13/TM1
- Giống VN02-2 đang phổ biến trong sản xuất được sử dụng làm giống đối chứng
Tổng số kiểu gen nghiên cứu là 16
Dụng cụ, trang thiết bị cần dùng trong khi tiến hành thí nghiệm gồm: Cuốc, dây, cọc để rạch hàng khi chuẩn bị đất và xới xáo, làm cỏ, bón phân, bình xịt thuốc trừ sâu, thước dây có chia độ để đo chiều cao cây và chiều dài cành quả, bao và túi vải để thu hoạch bông, cân, sổ sách ghi số liệu…
3.2 Điều kiện thí nghiệm
3.2.1 Điều kiện khí hậu
Bảng 3.1: Số liệu khí tượng tại vùng đặt thí nghiệm từ tháng 01 – 05 năm 2007
Nguồn: Số liệu khí tượng thủy văn khu vực Nam Bộ - Viện khí tượng thủy văn
Nhận xét: Thí nghiệm được bố trí trong vụ khô nên nhiệt độ trung bình tuy không cao (khoảng 27 0C) nhưng ẩm độ không khí giảm thấp và đầu vụ hầu như không có mưa nên cần chủ động nước tưới để đảm bảo sinh trưởng phát triển của cây bông trong các giai đoạn quan trọng (ra nụ, nở hoa và đậu quả) Trong tháng 3 lượng mưa tăng nhẹ tạo điều kiện cho sự phát triển của quả và phẩm chất xơ Vào giai đoạn thu hoạch bông (tháng 04 và 05/2007) bắt đầu vụ mưa nên khó khăn cho thu hoạch Nhìn chung điều kiện thời tiết thuận lợi cho sự sinh trưởng và phát triển của cây bông vải
Trang 353.2.2 Điều kiện đất đai
Thí nghiệm được bố trí trên nền đất xám bạc màu tại trại thực nghiệm khoa
Nông học trường Đại học Nông Lâm TP HCM
Bảng 3.2: Một số thông số phân tích đất tại nơi bố trí thí nghiệm
1 Thành phần cơ giới (%) Thành phần cơ giới cát
Nguồn: Phòng phân tích đất bộ môn nông hóa thổ nhưỡng khoa Nông học, trường
Đại học Nông Lâm Tp HCM
3.3 Phương pháp thí nghiệm
3.3.1 Thời gian và địa điểm thí nghiệm
Thí nghiệm đã được tiến hành từ 07/01/2007 đến tháng 05/2007 Các nghiệm
thức được gieo trồng trên nền đất xám bạc màu tại trại thực nghiệm khoa Nông học
trường Đại học Nông Lâm Tp Hồ Chí Minh
Trang 363.3.2 Bố trí thí nghiệm
Các nghiệm thức được bố trí thí nghiệm trên đồng ruộng theo kiểu đơn yếu tố
khối đầy đủ hoàn toàn ngẫu nhiên (RCBD), nhắc lại 3 lần Trong đó các các nghiệm
thức được mã hóa như sau:
Giống/Tổ hợp lai Số mã hóa Giống/Tổ hợp lai Số mã hóa
Bảo vệ
Ghi chú: Các chữ số 1, 2, 3, … là mã hóa của các nghiệm thức
Mỗi nghiệm thức gieo hai hàng, khoảng cách hàng gieo là 0,8 m, hốc cách hốc
0,3 m, mỗi hốc gieo 2 hạt sau đó tỉa bớt chỉ để lại 1cây/hốc để đảm bảo mật độ là
4,17 vạn cây/ha
Bảo
vệ Bảo
vệ
Trang 37- Khoảng cách, mật độ: 0,8 m x 0,3 m x 1 cây (mật độ 4,17 vạn cây/ha)
- Lượng phân bón: N, P2O5, và K2O là 150 kg, 75 kg, 75 kg cho 1 ha
- Phân bón chia 3 lần: - lần 1: bón toàn bộ Super lân + 1/3 lượng Ure
- lần 2: bón 1/3 Ure + 1/2 Kaliclorua
- lần 3: bón 1/3 Ure + 1/2 Kaliclorua
- Mỗi hốc gieo 2 hạt và gieo sâu khoảng 2 – 3 cm ở mép liếp
- Dặm tỉa: bẩy ngày sau khi gieo ta tiến hành trồng giặm Tỉa 1 lần khi cây mọc đều, tỉa bỏ bớt chỉ chừa lại 1cây/hốc
- Làm cỏ - vun xới: việc làm cỏ, vun xới được tiến hành kết hợp với các thời điểm bón phân
- Tưới nước: tưới nước theo định kỳ 7 ngày/lần
- Phòng trừ sâu bệnh: phun thuốc khi phát hiện sâu bệnh hại (phun sau khi đã theo dõi sâu bệnh)
3.4 Chỉ tiêu và phương pháp theo dõi
3.4.1 Tình hình sinh trưởng, phát triển và đặc điểm thực vật học
* Thời gian sinh trưởng: theo dõi thời gian sinh trưởng của các nghiệm thức từ khi gieo đến khi có 50 % số cây có hoa nở và 50 % số cây có quả nở
* Chiều cao cây: là chiều cao cây ở giai đoạn tận thu, đo chiều cao tính từ vị trí
lá sò của 10cây/nghiệm thức/lần nhắc Chiều cao cây được tính theo công thức sau:
Tổng chiều cao các cây Tổng số cây đo Chiều cao trung bình (cm) =
Trang 38* Số cành đực trên cây: đếm tổng số cành đực trên 10 cây/nghiệm thức/lần nhắc vào giai đoạn 50 % số cây có quả nở Số cành đực trên cây được tính theo công thức:
:
* Số cành quả trên cây: đếm tổng số cành quả trên 10 cây/nghiệm thức/lần nhắc vào giai đoạn 50 % số cây có quả nở Số cành quả trên cây được tính theo công thức:
* Vị trí cành quả thứ nhất: là vị trí đốt thân mang cành quả đầu tiên tính từ vết
lá thật thứ nhất là vị trí thứ nhất
* Chiều dài cành quả: đo trên 10 cây/nghiệm thức/lần nhắc, mỗi cây đo 3 cành
ở vị trí 3, 5, 7 Chiều dài cành quả được tính theo công thức:
3.4.2 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất
3.4.2.1 Các yếu tố cấu thành năng suất
* Số quả/cây và số quả/m2: ở giai đoạn trước khi thu hoạch tiến hành kiểm kê
số quả trên 10 cây chọn/nghiệm thức/lần nhắc Số quả/cây và số quả/m2 được tính theo các công thức:
Số quả/m2 = Số quả/cây x Số cây/m2
Trong đó số cây/m2 của tất cả các công thức là 4,17 cây
* Trọng lượng quả được tính theo công thức sau:
Tổng khối lượng mẫu (g)
Số quả của mẫu Trọng lượng quả (g) =
Tổng số quả đếm được
10
Số quả trên cây (quả) =
Tổng chiều dài các cành Tổng số cành đo Chiều dài cành quả (cm) =
Tổng số cành đực Tổng số cây theo dõi
Số cành đực/cây (cành) =
Tổng số cành quả Tổng số cây theo dõi
Số cành quả/cây (cành) =
Trang 39* Tỷ lệ xơ (%): tỷ lệ xơ là tỷ lệ % của trọng lượng xơ so với trọng lượng bông hạt, được tính theo công thức:
* Khối lượng 100 hạt: sau khi cán mẫu xong, lấy hạt tiến hành cân 5 mẫu/nghiệm thức/lần nhắc Khối lượng 100 hạt được tính theo công thức:
Tỷ lệ xơ x Trọng lượng 100 hạt
100 - Tỷ lệ xơ Chỉ số xơ (g) =
Số quả/m2 x Trọng lượng quả
10 NSLT (tạ/ha) =
Trọng lượng xơ (g) Trọng lượng bông hạt (g)
Trang 40* Độ chín của xơ (%): cho biết quả bông có chín hoàn toàn hay không, độ chín của xơ càng cao thì càng tốt
Chất lượng xơ bông của các giống và tổ hợp lai được phân tích bằng hệ thống HVI Spectrum II
Bảng 3.3: Bảng phân cấp các chỉ tiêu chất lượng xơ bông theo hệ thống thiết bị HVI
3.4.4 Khả năng chống chịu sâu bệnh
* Rầy xanh (Amarasca devastans): đánh giá cấp rầy ở các giai đoạn 70, 90 và 110
ngày sau gieo Theo dõi trên toàn bộ nghiệm thức, sau đó tính trung bình Đánh giá cấp rầy theo bảng phân cấp, mức độ rầy hại chia thành 6 cấp:
- Cấp 0: cây không bị hại – rất kháng
- Cấp 1: lá bị chớm cong – kháng