1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THỬ NGHIỆM DUNG DỊCH LỤC BÌNH, BÁNH DẦU VÀ LOẠI CHẬU TRÊN HOA LAN HỒ ĐIỆP (Phalaenopsis)

85 52 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 1,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong đó, trồng chậu đất nung giúp cây sinh trưởng và phát triển ổn định hơn về cả số lá và diện tích lá, nhưng trồng chậu nhựa có tỷ lệ hình thành và tăng trưởng phát hoa cao hơn chậu đ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

THỬ NGHIỆM DUNG DỊCH LỤC BÌNH, BÁNH DẦU

VÀ LOẠI CHẬU TRÊN HOA LAN

Trang 2

THỬ NGHIỆM DUNG DỊCH LỤC BÌNH, BÁNH DẦU VÀ LOẠI CHẬU

TRÊN HOA LAN HỒ ĐIỆP (Phalaenopsis)

Tác giả

HỒ THỊ HỒNG QUÂN

Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu

cấp bằng Kỹ sư ngành Nông Học

Giáo viên hướng dẫn Th.S LÊ VĂN DŨ

Tháng 10/ 2007

Trang 3

LỜI CẢM TẠ

Con kính thành biết ơn cha mẹ đã sinh thành dưỡng dục và hết lòng yêu

thương, tạo mọi điều kiện để con có được như ngày hôm nay Xin cám ơn các anh chị

em và mọi người thân trong gia đình luôn bên cạnh động viên an ủi tôi trong suốt thời gian qua

Xin chân thành cảm ơn :

Ban giám hiệu trường Đại Học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh, Ban chủ nhiệm khoa Nông Học cùng tất cả quý thầy cô đã truyền đạt kiến thức cho tôi trong quá trình học tập tại trường

Tôi xin gởi lời biết ơn sâu sắc đến:

ThS Lê Văn Dũ đã hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài với tất cả lòng nhiệt thành và trách nhiệm

Xin cám ơn cô Nguyễn Thị Thanh Hương và thầy Lê Trọng Hiếu đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài tại bộ môn

Xin cám ơn các anh chị khoá trước và tất cả bạn bè trong và ngoài lớp Nông Học 29 đã luôn động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện đề tài

Tp Hồ Chí Minh, tháng 10 năm 2007 Người viết

Hồ Thị Hồng Quân

Trang 4

TÓM TẮT

Đề tài nghiên cứu “ Thử nghiệm dung dịch lục bình, bánh dầu và loại chậu trên

lan Hồ Điệp (Phalaenopsis)”, thời gian từ 15/4 – 25/9/2007 Thí nghiệm được bố trí

theo kiểu lô phụ hai lần (Split – Split – Plot Design) gồm ba yếu tố Trong đó, yếu tố tuổi lan được bố trí trên lô chính, yếu tố loại chậu được bố trí trên lô phụ 1 và yếu tố phân bón được bố trí trên lô phụ 2

Kết quả thu được:

- Dung dịch bánh dầu có hàm lượng dinh dưỡng cao hơn dung dịch lục bình, trừ

Mg2+, nhưng pH dung dịch lục bình cao hơn dung dịch bánh dầu

- Phân bón lá growmore, dung dịch lục bình, dung dịch bánh dầu đều có tác dụng giúp cây tăng trưởng số lá, diện tích lá ở lan Hồ Điệp 6 tháng tuổi và 12 tháng tuổi Đồng thời có tác dụng kích thích quá trình hình thành và tăng trưởng phát hoa ở lan 12 tháng tuổi

Về số lá: Xử lý phân growmore có số lá đạt cao nhất Xử lý dung dịch lục bình

và bánh dầu cho số lá tương đương nhau

Về diện tích lá: Xử lý phân growmore, dung dịch bánh dầu có diện tích lá tương đương nhau, xử lý dung dịch lục bình có diện tích lá đạt thấp nhất

Về tăng trưởng phát hoa: Ở lan 12 tháng tuổi, nghiệm thức xử lý phân growmore có tỷ lệ hình thành phát hoa thấp, kế đến là dung dịch lục bình và cao nhất

là dung dịch bánh dầu Nhưng về mặt sinh trưởng phát triển, phân growmore có tác dụng giúp phát hoa tăng trưởng nhanh và có chiều dài đạt cao nhất Phân lục bình và bánh dầu có hiệu quả tương đương nhau

- Loại chậu trồng cũng có ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của lan Hồ Điệp Trong đó, trồng chậu đất nung giúp cây sinh trưởng và phát triển ổn định hơn

về cả số lá và diện tích lá, nhưng trồng chậu nhựa có tỷ lệ hình thành và tăng trưởng phát hoa cao hơn chậu đất nung

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

Trang tựa i

Lời cảm tạ ii

Tóm tắt iii

Mục lục iv

Danh sách các chữ viết tắt vi

Danh sách các hình vii

Danh sách các bảng viii

CHƯƠNG 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục đích, yêu cầu 2

1.3 Giới hạn 2

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Sơ lược về hoa lan 3

2.1.1 Phân loại 3

2.1.2 Nguồn gốc 3

2.1.3 Sự phân bố 4

2.1.4 Tiềm năng sản xuất hoa lan của Việt Nam 4

2.1.5 Tình hình sản xuất hoa lan ở Việt Nam hiện nay 5

2.2 Khái quát về lan Hồ Điệp 6

2.2.1 Nguồn gốc, phân loại 6

2.2.2 Đặc điểm thực vật học 6

2.2.3 Kỹ thuật trồng và chăm sóc lan Hồ Điệp 8

2.2.4 Một số bệnh thường gặp ở lan Hồ Điệp 12

2.3 Phân bón cho hoa lan 13

2.3.1 Vai trò của một số nguyên tố thiết yếu đối với cây lan 13

2.3.2 Một số loại phân bón phổ biến hiện nay 16

2.3.3 Sự hấp thu và chế độ phân bón cho hoa lan 17

CHƯƠNG 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM 20

3.1 Thời gian và địa điểm thí nghiệm 20

Trang 6

3.2 Vật liệu thí nghiệm 20

3.3 Phương pháp thí nghiệm 21

3.3.1 Kiểu thí nghiệm 21

3.3.2 Sơ đồ bố trí thí nghiệm 21

3.4 Các bước thực hiện 23

3.5 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 24

3.6 Phương pháp xử lý số liệu 24

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 25

4.1 Tình hình thời tiết trong quá trình thí nghiệm 25

4.2 Số lá và diện tích lá ban đầu 25

4.2.1 Số lá 25

4.2.2 Diện tích lá 26

4.3 Một số tính chất hóa học của dung dịch lục bình và dung dịch bánh dầu ủ 27

4.4 Động thái và tốc độ ra lá 27

4.4.1 Động thái ra lá 27

4.4.2 Tốc độ ra lá 34

4.5 Động thái và tốc độ tăng trưởng diện tích lá 38

4.5.1 Động thái tăng trưởng diện tích lá 38

4.5.2 Tốc độ tăng trưởng diện tích lá 45

4.6 Hình thành và tăng trưởng phát hoa 50

4.6.1 Tỷ lệ hình thành phát hoa 50

4.6.2 Tăng trưởng phát hoa 51

4.7 Tình hình sâu bệnh 56

CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 57

5.1 Kết luận 57

5.2 Đề nghị 58

TÀI LIỆU THAM KHẢO 59

PHỤ LỤC 60

Trang 8

DANH SÁCH CÁC CÁC HÌNH VÀ SƠ ĐỒ

Sơ đồ 3.1: Sơ đồ bố trí thí nghiệm 22

Hình 1: Toàn khu thí nghiệm 61

Hình 2: Sơ đồ bố trí ở Rep I 61

Hình 3: Sơ đồ bố trí ở Rep II 61

Hình 4: Sơ đồ bố trí ở Rep III 61

Hình 5: Bệnh đốm lá 61

Hình 6: Bệnh thối nhũn 61

Hình 7: NT A1B1C1 62

Hình 8: NT A1B1C2 62

Hình 9: NT A1B1C3 62

Hình 10: NT A1B2C1 63

Hình 11: NT A1B2C2 63

Hình 12: NT A1B2C3 64

Hình 13: NT A2B1C1 64

Hình 14: NT A2B1C2 64

Hình 15: NT A2B1C3 64

Hình 16: NT A2B2C1 64

Hình 17: NT A2B2C2 64

Hình 18: NT A2B2C3 64

Trang 9

DANH SÁCH CÁC BẢNG

Bảng 4.1 : Trung bình các yếu tố khí hậu tại Củ Chi từ tháng 4 đến tháng 7 25

Bảng 4.2: Số lá ban đầu 26

Bảng 4.3: Diện tích lá ban đầu 26

Bảng 4.4: pH và nồng độ một số chất trong dung dịch lục bình và bánh dầu (ppm)26 Bảng 4.5: Động thái ra lá (lá/cây) giai đoạn 30 NST 28

Bảng 4.6: Động thái ra lá (lá/cây) giai đoạn 60 NST 29

Bảng 4.7: Động thái ra lá (lá/cây) giai đoạn 90 NST 31

Bảng 4.8: Động thái ra lá (lá/cây) giai đoạn 120 NST 32

Bảng 4.9: Động thái ra lá (lá/cây) giai đoạn 150 NST 33

Bảng 4.10: Tốc độ ra lá (lá/cây/30 ngày) giai đoạn 30 –60 NST 35

Bảng 4.11: Tốc độ ra lá (lá/cây/30 ngày) giai đoạn 60 – 90 NST 36

Bảng 4.12: Tốc độ ra lá (lá/cây/30 ngày) giai đoạn 90 – 120 NST 36

Bảng 4.13: Tốc độ ra lá (lá/cây/30 ngày) giai đoạn 120 – 150 NST 37

Bảng 4.14: Diện tích lá (cm2 lá/cây) giai đoạn 30 NST 39

Bảng 4.15: Diện tích lá (cm2 lá/cây) giai đoạn 60 NST 40

Bảng 4.16: Diện tích lá (cm2 lá/cây) giai đoạn 90 NST 41

Bảng 4.17: Diện tích lá (cm2 lá/cây) giai đoạn 120 NST 43

Bảng 4.18: Diện tích lá (cm2lá/cây) giai đoạn 150 NST 44

Bảng 4.19: Tốc độ tăng trưởng diện tích lá (cm2 lá/cây/30 ngày) giai đoạn 30 – 60 NST 45

Bảng 4.20: Tốc độ tăng trưởng diện tích lá (cm2 lá/cây/30 ngày) giai đoạn 60 – 90 NST 46

Bảng 4.21: Tốc độ tăng trưởng diện tích lá (cm2lá/cây/30 ngày) giai đoạn 90 – 120 NST 48

Bảng 4.22: Tốc độ tăng trưởng diện tích lá (cm2 lá/cây/30 ngày) giai đoạn 120 – 150 NST 49

Bảng 4.23: Số chậu hình thành phát hoa 50

Bảng 4.24: Tỷ lệ hình thành phát hoa 50

Bảng 4.25: Chiều dài phát hoa (cm/phát hoa) giai đoạn 122 NST 51

Trang 10

Bảng 4.26: Chiều dài phát hoa (cm/phát hoa) giai đoạn 129 NST 52 Bảng 4.27: Tốc độ tăng trưởng phát hoa (cm/phát hoa/7 ngày)

giai đoạn 122 – 129 NST 52 Bảng 4.28: Chiều dài phát hoa (cm/phát hoa) giai đoạn 136 NST 53 Bảng 4.29: Tốc độ tăng trưởng phát hoa (cm/phát hoa/7 ngày)

giai đoạn 129 – 136 NST 53 Bảng 4.30: Chiều dài phát hoa (cm/phát hoa) giai đoạn 143 NST 54 Bảng 4.31: Tốc độ tăng trưởng phát hoa (cm/phát hoa/7 ngày)

giai đoạn 136 – 143 NST 54 Bảng 4.32: Chiều dài phát hoa (cm/phát hoa) giai đoạn 150 NST 55 Bảng 4.33: Tốc độ tăng trưởng phát hoa (cm/phát hoa/7 ngày)

giai đoạn 143 – 150 NST 55

Trang 11

Chương 1

MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề

Hoa và cây cỏ là món quà mà thiên nhiên đã ưu ái ban tặng cho con người để góp phần làm cuộc sống tươi vui hạnh phúc, lãng mạn hơn và cũng là một phần không thể thiếu trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta Trong muôn ngàn loài hoa, vẻ đẹp hoa lan hấp dẫn nhiều người từ hình thái thanh nhã, duyên dáng của lá đến sự đa dạng sắc điệu, cấu trúc tinh xảo của hoa cũng như giá trị thương mại mà nó mang lại Trong lĩnh vực kinh doanh hoa và cây cảnh hiện nay, ngành nuôi trồng lan được xem là ngành mũi nhọn, thu hút được nhiều sự quan tâm đầu tư

So với các giống lan phổ biến như Oncidium, Dendrobium, Mokara, Vanda…

thì Phalaenopsis (Hồ Điệp) có rất nhiều đặc tính tốt: siêng ra hoa, cánh hoa dày, to

tròn khép kín và bóng mướt, sự phối trí màu sắc hài hòa, sáng đẹp, tươi tắn Đặc biệt là rất bền màu, có thể giữ tươi lâu từ 3 – 4 tháng Nên Hồ Điệp là đối tượng lan trồng chậu được nhiều nghệ nhân, nhà vườn chọn để trồng thử nghiệm và kinh doanh Bên cạnh đó, giống lan này có nhiều hạn chế: vốn đầu tư ban đầu cao, đòi hỏi chăm sóc công phu, tăng trưởng chậm Cây thường ra hoa đỉnh điểm ổn định và sung túc từ năm tuổi thứ ba trở đi Nhưng nhiều người trồng lan không có kinh nghiệm muốn cây ra hoa sớm để nhanh thu hồi vốn nên đã bón thúc nhiều phân Hậu quả là cây “ mau phát mau tàn”, nhiều sâu bệnh suy kiệt và lụi tàn dần chỉ sau vài đợt hoa

Qua đó cho thấy lựa chọn phân bón phù hợp là chìa khóa quan trọng quyết định

sự thành bại trong trồng và kinh doanh hoa lan Trong đó, phân bón lá là dạng phân có nhiều ưu điểm: Được cây hấp thu ngay trong vài giờ sau khi phun và còn có thể hấp thu tiếp tục trong vài ngày sau đó, một lần phân có thể cung cấp nhiều dưỡng chất và

có thể dùng kết hợp với một số thuốc bảo vệ thực vật khác Nhất là các loại phân bón

lá có nguồn gốc hữu cơ, tác dụng tuy chậm nhưng cây sinh trưởng phát triển ổn định, màu sắc hoa bền đẹp, giá thành thấp và giải quyết được nguồn phân tại chỗ

Trang 12

Ngoài ra, Hồ Điệp là loại lan vừa ưa ẩm vừa cần sự thông thoáng Nên chọn

chất liệu chậu trồng nhằm tạo ẩm độ trong chậu phù hợp sẽ góp phần giúp cây hấp thụ

phân bón tốt hơn, sinh trưởng phát triển ổn định đồng thời hạn chế sâu bệnh

Như vậy, ngoài các yếu tố giống, điều kiện ngoại cảnh, giá thể trồng, nước

tưới…phân bón và chất liệu chậu cũng là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến quá

trình sinh trưởng và phẩm chất của hoa lan nói chung và lan Hồ Điệp nói riêng Trên

cơ sở đó, được sự phân công của Khoa Nông học và sự đồng ý của giáo viên hướng

dẫn, đề tài: “Thử nghiệm dung dịch lục bình, bánh dầu và loại chậu trên lan Hồ Điệp

( Phalaenopsis ) “ được thực hiện

1.2 Mục đích, yêu cầu

1.2.1 Mục đích

Sử dụng nguồn phân bón tại chỗ và chọn vật liệu chậu thích hợp, rẽ tiền nhằm

tăng cường khả năng sinh trưởng phát triển và phẩm chất của lan Hồ Điệp đồng thời

giảm chi phí sản xuất

1.2.2 Yêu cầu

Phân tích hàm lượng dinh dưỡng trong dung dịch hữu cơ sử dụng như là một

loại phân bón lá (dung dịch lục bình ủ và dung dịch bã bánh dầu đậu phộng ngâm)

Theo dõi ảnh hưởng của ba loại phân bón lá và chất liệu của hai loại chậu đến

sự sinh trưởng và phát triển của lan Hồ Điệp ở hai lứa tuổi: 6 tháng và 12 tháng

Quan sát và đánh giá tình hình sâu bệnh của hoa lan Hồ Điệp khi sử dụng phân

bón lá

1.3 Giới hạn

Do điều kiện thời gian và kinh phí có hạn nên chỉ thử nghiệm ba loại phân bón

lá và hai loại chất liệu chậu trên đối tượng hoa lan thuộc giống lan Hồ Điệp ở hai lứa

tuổi 6 tháng và 12 tháng tuổi

Trang 13

Họ : Orchidaceae

2.1.2 Nguồn gốc

Hoa lan là một họ hoa lớn gồm 750 chi và 20000 – 25000 loài (theo

A.L.Takhtajan, 1987) xếp vị trí thứ 2 sau họ Cúc (Asteracea) trong ngành thực vật hạt

kín, lớp một lá mầm Bao gồm những cây thân thảo sống lâu năm (đôi khi hoá gỗ một phần ở gốc) có môi trường sống phong phú: sống trong đất (địa lan), mọc xen trên đá (thạch lan), hay sống bám trên cây (phong lan) Hoa lan đa dạng về màu sắc, gồm nhiều chủng loại khác nhau Bởi thế nghiên cứu và tìm hiểu về vẻ đẹp của hoa lan cũng như đặc tính thực vật của nó là cả một quá trình công phu, có hệ thống và lâu dài

Nhà triết học người Hy Lạp, Theophatus (372 – 287) trước Công nguyên, được xem là ông tổ của thực vật học và cũng có thể nói là cha đẻ của ngành học về lan Ông

đã dùng chữ “Okis” có nghĩa là dịch hoàn, để chỉ những cây lan tìm thấy ở Địa Trung Hải thường có hai củ như dịch hoàn của động vật Đến thế kỷ thứ nhất sau Công nguyên, Dioscorides đã dùng chữ Orchis để mô tả hai loài địa lan trong quyển sách về dược liệu của ông và đã được Linnaeus ghi lại trong quyển “Các loài cây cỏ” (Species Phantarum) vào năm 1753, sau đó John Lindley sử dụng đầu tiên để đặt cho hoa lan là

Orchidaceae từ năm 1936 và tồn tại đến nay Trong đó, ông dùng danh từ Orchid dịch

dành chung cho các loài lan, còn chữ Orchis dùng để chỉ một loài địa lan ở châu Á

Trang 14

2.1.3 Sự phân bố

Họ phong lan phân bố từ 68 0 vĩ độ Bắc đến 56 0 vĩ độ Nam, nghĩa là từ gần cực Bắc như Thụy Điển, Alaska xuống tận các đảo cuối cùng của cực Nam của Australia Tập trung nhiều nhất ở hai vùng nhiệt đới (250 chi và 6800 loài), đặc biệt là ở châu

Mỹ và các nước ở Đông Nam Á

Ngay trong vùng nhiệt đới, họ phong lan cũng phân bố rộng khắp, từ vùng đầm lầy sát hồ biển qua các đồi núi thấp lên cả vùng núi cao Mặc dù đa số các loài lan chỉ mọc ở dưới độ cao 2000 m so với mặt biển, song có ít loài sống ở cả độ cao 5000 m (ở Comlombia có một số loài lan sống ở núi quanh năm tuyết phủ)

Các loài lan đặc sản của châu Mỹ nhiệt đới gồm 60 loài Cattleya, 500 loài Epipedium, 200 loài Odontoglosum Ở vùng ôn hòa, số loài lan giảm đi một cách nhanh chóng và rõ rệt Bắc bán cầu có khoảng 75 chi và 900 loài Nam bán cầu có khoảng 40 chi và 500 loài (theo F.Gbigee, 1971)

2.1.4 Tiềm năng sản xuất hoa lan của Việt Nam

Theo các chuyên gia về hoa của trường Đại học Nông nghiệp 1, với khoảng 755 loại lan hiện có cùng rất nhiều giống lan mới được lai tạo từ công nghệ nuôi cấy mô, lại được thiên nhiên ưu đãi có nhiều vùng thích hợp để trồng lan Việt Nam có nhiều tiềm năng trở thành nước sản xuất lan lớn nhất trong khu vực

(Nguồn: http://www16.dantri.com.vn/kinhdoanh/2007/2/167248.vip)

2.1.4.1 Tiềm năng sản xuất hoa lan của Tp Hồ Chí Minh và các tỉnh phía nam

Thành phố Hồ Chí Minh cùng một số tỉnh Nam bộ là vùng khí hậu nóng ẩm

thích hợp với các loại lan nhiệt đới có yêu cầu nhiệt độ và ẩm độ cao: Mokara,

Oncidium, Dendrobium, Cattleya… Các chuyên gia về lan đã đánh giá rằng so với

Thái Lan, trồng Mokara ở Tp.HCM cây sinh trưởng và phát triển tốt hơn, năng suất

hoa cao hơn Tại hội thảo phát triển hoa lan cắt cành Mokara do hội sinh vật cảnh Tp.HCM tổ chức, Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn cho biết: Diện tích trồng lan hiện nay là 64 ha, tăng 220% so với năm 2003 Trong đó diện tích trồng lan cắt cành tăng nhanh đến 453%, phấn đấu đến năm 2010 sẽ tăng diện tích trồng lên đến 200 ha Thế mạnh của Tp.HCM trước hết là một thành phố lớn, có nhu cầu tiêu thụ một lượng hoa trong ngày cao, sau là trạm trung chuyển các loài hoa cảnh đặc trưng ở miền Nam

ra miền Bắc và ngược lại Bên cạnh đó, thành phố là nơi tập trung nhiều nông dân,

Trang 15

nghệ nhân tài ba, am hiểu nghệ thuật trồng lan, lại được các nhà khoa học chuyên ngành tư vấn, giúp đỡ, cùng nhau thực hiện mục tiêu đưa Hồ Chí Minh trở thành

“thành phố hoa công nghiệp”

(Nguồn:http://vietnamgateway.org/vanhoaxa/index.php?action=thongtin&chuyenmuc

=0204&id=050627100140)

2.1.4.2 Tiềm năng sản xuất hoa lan của Lâm Đồng

Hiện nay, Đà Lạt đang trở thành điểm thu hút các nhà đầu tư kinh doanh hoa do

sự thành công của các công ty nước ngoài đầu tư vào cách đây 10 năm như Dalat Hasfarm chuyên trồng hoa ôn đới, công ty Lâm Thăng Đài Loan chuyên về

Phalaenopsis

Lâm Đồng dẫn đầu cả nước về nguồn lợi lan rừng gồm 101 chi và 396 loài chiếm 55,3% về chi và 76,5% về lan rừng của Việt Nam Trong đó không ít loài lan được phát hiện đầu tiên trên thế giới mang tên Đà Lạt hay Langbian

(Nguồn: http://www.mientrung.com/content/view/5074/134/)

Đây là thành phố sản xuất hoa truyền thống, nông dân có nhiều kinh nghiệm và

có khả năng ứng dụng công nghệ và tiến bộ kỹ thuật để nâng cao trình độ sản xuất Diện tích trồng hoa toàn tỉnh là 1325 ha bao gồm cả giống địa phương và nhập nội

Trong đó, Đà Lạt chuyên sản xuất hoa Cybidium và một số lan rừng ôn đới, còn Đức Trọng và Di Linh với khí hậu vừa ấm áp vừa mát mẻ phù hợp trồng Phalaenopsis

Hàng năm, Đà Lạt không chỉ cung cấp cho thị trường trong nước một khối lượng lan cắt cành rất lớn mà còn xuất khẩu sang Mỹ, Nhật Bản, Singapore, EU, Đài Loan và một số nước châu Á và Đông Âu, chủ yếu là địa lan với khoảng 200.000 cành/năm (Nguồn: http://www.baohatay.com.vn/news_detail.asp?newsid=80305&CatID=11)

2.1.5 Tình hình sản xuất hoa lan của Việt Nam hiện nay

Trước 1975, tại Sài Gòn và một số tỉnh lân cận, các nghệ nhân hoa kiểng phát động phong trào trồng hoa lan, nhưng những vườn lan lớn chỉ đếm đầu ngón tay Hầu hết giống ở các vườn lan này đều là giống nhập nội đắt tiền Ngoài ra, cũng có một số nghệ nhân hoa kiểng ở vùng Sài Gòn, Chợ Lớn, Phú Nhuận, Gò Vấp lập ra nhiều vườn lan nhỏ, trồng khoảng đôi ba trăm chậu, đa số để tiêu khiển hoặc để trao đổi giống quý với bạn bè Cũng có một vài nhà vườn trồng với mục đích kinh doanh nhưng không phát triển lắm (Việt Chương và ctv, 2004)

Trang 16

Đến năm 1986, nghề trồng hoa ở Việt Nam bắt đầu khởi sắc nhưng chỉ tập trung ở một số làng nghề ở Hà Nội, Hải Phòng, Tp.HCM, Đà Lạt và một số tỉnh miền tây Nam Bộ Theo thống kê năm 1993, diện tích trồng hoa của nước ta chiếm 0,02% tổng diện tích đất nông nghiệp (khoảng 1585 ha) Tuy nhiên, trong số đó hoa lan chỉ chiếm xắp xỉ 10%

Vài năm lại đây, cùng với sự tăng trưởng kinh tế, đời sống văn hóa người dân được nâng cao, nhất là ở các đô thị và khu công nghiệp lớn Nên nhu cầu tiêu thụ hoa cắt cành ngày càng tăng Trong đó, mặt hàng hoa lan rất được ưa chuộng bởi sự phong phú về màu sắc chủng loại, tươi lâu mà giá cả cũng khá phù hợp Nên thu nhập do ngành trồng lan mang lại khá cao, đã khuyến khích sự phát triển ngành trồng lan trong

cả nước

Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn đã thống kê rằng nếu trồng phong lan cắt cành loài Dendrobium và Mokara, mỗi ha trồng có thể cho thu nhập từ 500 triệu đến 1 tỉ đồng/năm, cao gấp 70 – 80 lần so với trồng lúa hay một số hoa màu khác Chỉ tính riêng tại Tp.HCM doanh số kinh doanh hoa lan và cây cảnh năm 2003 là 200 –

300 tỉ đồng; năm 2005 là 600 – 700 tỉ đồng nhưng chỉ trong quý I năm 2006 đã đạt được 400 tỉ đồng

Tuy nhiên, tình hình sản xuất hoa lan hiện nay ở Việt Nam còn chưa tương xứng với tiềm năng Qua khảo sát, hiện chỉ có một số công ty lớn có vốn nước ngoài trồng hoa lan tại Đà lạt, Hồ Chí Minh, Đồng Nai với diện tích 50 – 60 ha/doanh nghiệp Một số địa phương khác chỉ mới trồng ở quy mô gia đình, trên diện tích từ vài

m2 đến vài nghìn m2, cá biệt mới có vài hộ trồng được 1 – 2 ha

(Nguồn: http://www.vnanet.vn/TrangChu/VN/tabid/58/itemid/184653/Default.aspx)

Thị trường tiêu thụ hoa lan trong nước rất tiềm năng và thuận lợi nhưng để đáp ứng được nhu cầu nội địa hàng năm nước ta phải nhập hàng tỉ đồng hoa lan cắt cành từ Thái lan, Đài loan Theo thống kê của cục hải quan, kim ngạch nhập khẩu phong lan cắt cành qua đường chính ngạch của nước ta trong tháng 2/2007 là 26.591 nghìn USD giảm 20,17% so với tháng 01/2007 nhưng vẫn tăng 51,7% so với 12/2006

(Nguồn: http://longdinh.com/?act=chitiet&ID=4683&catID=7;

http://vietnamnet.vn/kinhte/kinhdoanh/2007/02/665565/)

Trang 17

2.2 Khái quát về lan Hồ Điệp (Phalaenopsis)

2.2.1 Nguồn gốc, phân loại

Hồ Điệp có tên khoa học là Phalaenopsis amabilis BL do Carl Blume, nhà thực

vật người Hà Lan đặt tên vào năm 1825

Loài này có xuất xứ ở miền Bắc Australia, phía đông Ấn Độ, Úc Châu và khu vực Đông Nam Á thường mọc ở cao độ 200 – 400 m Vừa chịu khí hậu nóng ẩm vừa chịu khí hậu mát mẻ, nhiệt độ trung bình từ 20 – 30 0C Nhưng điều kiện lý tưởng để cây nở hoa quanh năm là 22 – 27 0C Ở Việt Nam, Hồ Điệp thích hợp trồng ở Di Linh (Lâm Đồng ) và Sapa (Lào Cai)

Trong hệ thống phân loại, Phalaenopsis được xếp vào họ Orchidaceae, họ phụ

Vandoideae, tông Vandeae Gồm 60 giống nguyên chủng, 21 loài phát sinh và hơn

40.000 loài lai tạo Những giống nguyên chủng thường nở hoa vào mùa đông xuân, còn cây lai thì nở hoa quanh năm Rừng Việt Nam có khoảng 7 giống Hồ Điệp nguyên

chủng và một giống tiểu Hồ Điệp (Doritis)

bộ phận quang hợp chủ yếu vừa là nơi dự trữ nước và dinh dưỡng nuôi cây Thông thường mỗi cây có 5 – 6 lá xanh Hình dạng lá cũng rất đa dạng, phổ biến là hình ngọn giáo, hình ovan hẹp ở phần gốc, hình giọt nước, hình elip… với độ dày, màu sắc, kích thước thay đổi tùy loài Riêng với loài lan lá thì màu sắc đa dạng với những đường vân chìm hay có sọc trắng ở mép lá, đốm ở bề mặt lá trông rất lạ và đẹp

2.2.2.2 Thân và rễ

Hồ Điệp có ít rễ gió, rễ ít khi ló ra ngoài mà bám chặt vào thành chậu hay chui vào giá thể, chất trồng Vì thế chậu trồng Hồ Điệp cần phải thông thoáng và có kích thước tương xứng với chiều cao thân và đường kính tán lá để hệ rễ phát triển tốt và

Trang 18

khoẻ mạnh Chậu trồng quá nhỏ sẽ cản trở sự gia tăng số rễ, còn chậu quá lớn chứa nhiều chất trồng thì rễ có khuynh hướng hút nhiều chất ẩm, cây sẽ hao mòn và dễ nhiễm bệnh

kéo dài từ 2 – 4 tháng với những cánh hoa bền màu, tươi lâu

Cấu trúc hoa gồm ba cánh đài to tròn và hai cánh bên xoè rộng kín với màu sắc giống nhau Ở giữa nổi bật là cánh môi với cấu trúc tinh xảo Trên cánh môi có hai râu dài, cong dẹp gắn vào chân trụ có hình bán nguyệt Trụ hoa tương đối dài và nhỏ, bên trong có hai khối phấn u lên chứa đầy phấn hoa Khối phấn này có thể là hình tròn hoặc hình trứng, vĩ phấn khá dài, rộng ở trên, hẹp ở dưới, gót dẹp Cả đoá hoa trông

như con bướm đang xoè cánh Tên gọi là Phalaenopsis, bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp,

trong đó Phalaina có nghĩa là “con bướm” và Opsis có nghĩa là “giống như”

Hoa Hồ Điệp sự thay đổi đáng kể về kích thước, hình dạng cũng như sắc điệu

và kiểu mẫu, có thể chia thành các nhóm sau: Nhóm màu trắng, nhóm nửa trắng, nhóm màu hồng, nhóm màu vàng, nhóm có sọc, nhóm có chấm tím, nhóm màu mới

2.2.3 Kỹ thuật trồng và chăm sóc lan Hồ điệp

2.2.3.1 Yêu cầu ngoại cảnh

a Nhiệt độ

Nhiệt độ là một nhân tố có tính chất quyết định đến sự phân bố các loài lan trên thế giới và sự sinh trưởng phát triển của chúng Đối với Hồ Điệp, yếu tố nhiệt độ còn ảnh hưởng đến quá trình ra hoa

Biên nhiệt chung của nhóm lan này là từ 20 – 30 0C, tuy nhiên nó cũng có khả năng chịu nóng hơn một vài giống khác, có thể thích nghi được ở những vùng có nhiệt

độ ban ngày trên 35 0C hay 25 0C ở ban đêm Nhưng lý tưởng nhất là từ 22 – 25 0C vào ban ngày và 18 0C vào ban đêm, Hồ Điệp sẽ ra hoa quanh năm, hoa to đẹp, lâu tàn

Hồ Điệp ra hoa liên tục, do đó xử lý nhiệt độ thấp càng dài thì hoa càng nhiều, khoảng cách giữa các hoa càng ngắn Nếu nhiệt độ trên 35 0C thì không thể phân hoá

Trang 19

mầm hoa và dưới 15 0C thì không ra nụ hoa Ngoài ra, để hoa bền lâu, trước khoảng 1 – 2 tháng cần đặt hoa ở nơi thoáng mát có nhiệt độ 20 – 25 0C, ánh sáng khoảng 30%

Dù trồng Hồ Điệp ở điều kiện nào đi nữa thì sự chênh lệch nhiệt độ ngày và đêm là giới hạn quan trọng, tốt nhất là 8– 10 0C Theo nghiên cứu của De Vries (1953)

cây Phalaenopsis schilleriana ở Indonexia chỉ trổ hoa khi nhiệt độ ban đêm xuống

dưới 21 0C Theo kết quả báo cáo của bà Trần Thanh Vân (1974) hai loài P allbilis và

P schilleriana dưới một năm tuổi trổ hoa trong điều kiện khí hậu dài với 20 0C vào ban ngày và 17 0C vào ban đêm (Trích dẫn bởi Nguyễn Công Nghiệp, 2002)

Khi cây đang ra nụ, sự thay đổi bất thường về nhiệt độ và ẩm độ sẽ khiến cây khựng lại, hoa héo rụng Do đó, khi xử lý Hồ Điệp ra hoa cần tiến hành đồng bộ và có biện pháp điều chỉnh nhiệt độ và ẩm độ phù hợp trong suốt thời kỳ ra hoa

b Ẩm độ

Ẩm độ ảnh hưởng đến sự tăng trưởng của rễ, thân, lá Ẩm độ thấp kết hợp nhiệt

độ cao thì rễ có khuynh hướng chui sâu, bám chặt vào chất trồng, lá mềm, rũ xuống vì

sự bốc thoát hơi nhanh nên tế bào bị co lại do mất nước Nhưng ẩm độ quá cao sẽ gây hiện tượng thối rễ hay nước đọng trên lá gây nên bệnh thối nhũn Ẩm độ thích hợp để trồng Hồ Điệp là từ 50 – 80% Trong đó, ẩm độ không khí từ 50 – 70%, và ẩm độ trong chậu từ 70 – 80%

Hồ Điệp là loại lan của vùng nhiệt đới nên sự tăng trưởng của chúng chịu ảnh hưởng của hai mùa mưa nắng rõ rệt Trong tự nhiên, vào mùa mưa ẩm độ cao nên cây sinh trưởng tốt hơn mùa khô Nhưng với điều kiện nuôi trồng như hiện nay, ta có thể điều chỉnh ẩm độ bằng cách tưới nước hoặc chọn giá thể phù hợp Khi ẩm độ quá cao

có thể dùng hệ thống thông gió để giảm ẩm độ, giúp vườn lan thông thoáng

Trang 20

cây sẽ có bộ lá màu xanh thẫm, yếu ớt và kháng bệnh kém Đặt chậu lan nơi có ánh sáng khuyếch tán thích hợp, lá có màu xanh ánh nhẹ vàng là tốt nhất

Trong điều kiện khí hậu nước ta, nếu lan Hồ Điệp được trồng với 12 giờ chiếu sáng trong ngày, trong đó khoảng 1 – 2 giờ cây nhận được ánh sáng trực tiếp sẽ phát triển tốt

d Sự thông thoáng

So với các loài lan khác, sự thông gió ở lan Hồ Điệp là tối cần thiết, là yếu tố có liên hệ đến các bệnh thối rửa thường gặp ở loài lan này Sự thông gió càng lớn, cây càng ít bệnh vì nó giúp cây mau khô sau khi tưới Tuy nhiên, một sự thông gió quá mạnh dễ làm cây mất nước và chuồn lá

Sự thông gió làm hạ nhiệt độ và ẩm độ, giúp luân chuyển không khí thường xuyên đảm bảo tốt cho sự lớn mạnh của lan Sự luân chuyển không khí vừa làm mát cây vừa thay đổi lượng CO2 cần cho sự quang hợp Trên mặt lá, lượng CO2 giảm nhiều

vì liên tục bị cây hấp thu Vì vậy không khí cần được đổi mới liên tục để tái lập lượng

có thể điều chỉnh ánh sáng cho từng giai đoạn sinh trưởng của cây

Vật liệu làm giàn lan có thể dùng giàn thép B40 hoặc đóng những thanh sắt, gỗ song song để treo móc chậu Cần đặt giàn lan cao cách mặt đất 1 – 1,2 m và rộng khoảng 2 m vừa tiện chăm sóc quan sát và tránh nước bẩn bắn vào lá truyền nấm bệnh

b Cách tưới nước

Hồ Điệp có nhu cầu nước tưới cao hơn các loại lan khác và không có mùa nghỉ nên cần được tưới nước quanh năm, đảm bảo giá thể không quá khô giữa hai lần tưới Thời điểm tưới nước thích hợp nhất là lúc 8 – 9 giờ sáng khi ẩm độ không khí bắt đầu giảm và lúc 3 – 4 giờ chiều khi ánh nắng vừa dịu lại nhằm bù đắp lượng nước mất đi giúp cây hồi sức vừa đảm bảo lá khô trước khi trời tối

Trang 21

Hệ thống tưới tiêu ngoài nguồn nước tốt, bố trí máy bơm, hệ thống lọc nước,

bể chứa, bec phun tự động và vòi phun sương có thể đầu tư hệ thống tưới của Israel,

Úc, Việt Nam…

Hồ Điệp có yêu cầu giá thể và nước tưới có pH khá thấp (pH= 5,2 ) nên có thể dùng thêm axit photphoric nhằm giảm pH nước (Nguyễn Công Nghiệp, 2002)

c Bón phân cho lan Hồ Điệp

Hồ Điệp cần bón phân quanh năm theo định kỳ 5 – 7 ngày/lần, bón cả theo hệ

rễ và bón qua lá Do bộ lá mềm và mọng nước nên bón phân cho Hồ Điệp phải từ tốn, chọn loại phân ít tạp chất và sử dụng ở nồng độ loãng, hạn chế gây hại cho lá Tỉ lệ NPK phải cân đối vì dư đạm cây có bộ lá xanh mướt sẽ thu hút côn trùng gây hại nhất

(Nguồn: http://longdinh.com/phonglan/?act=chitiet&ID=2005)

Phổ biến hiện nay là chậu đất nung, chậu nhựa, mỗi loại có ưu điểm khác nhau: Chậu nhựa bền, nhẹ, khó vỡ, dễ dàng tẩy uế, không giữ lại muối khoáng, duy trì

ẩm độ tốt hơn chậu đất nung nhưng thành chậu trơn, gây khó khăn cho sự bám của rễ

Chậu đất nung nặng, dễ vỡ, dễ bám rêu nhưng mau khô và thông thoáng hơn chậu nhựa Đất nung có tính sát khuẩn, rễ bám tốt vào thành chậu và ít ngã khi gặp gió lớn

 Giá thể

- Vỏ cây linh sam: gồm 3 dạng mịn, vừa phải và thô Trong đó dạng thô với kích thước 1,2 – 1,5 cm rất tốt cho lan Vanda và Hồ Điệp trưởng thành Vỏ linh sam giữ nước tốt nhưng mau hoai mục nên cần trồng phối hợp với các giá thể khác như đá trân châu, sỏi hay than củi để tăng sự thông thoáng trong chậu

Trang 22

- Cây dương sỉ: Đây là giá thể trồng phổ biến rất tốt cho việc làm tăng sự thông khí của môi trường trồng lan, chống lại sự thối rễ

- Xơ cây dương xỉ: Xơ cây dương xỉ gồm rễ cây dương xỉ hoàng gia (Osmunda

regalis) và dương xỉ đốm (Polypodium) Xơ dương xỉ giữ nước tốt nhưng đắt tiền và

khó kiếm

- Than củi: Có tính sát khuẩn, lọc các tạp chất, thông thoáng là chất trồng rẻ tiền và dễ kiếm nhất nhưng giữ lại muối khoáng nên làm xót rễ Đối với Hồ Điệp than củi là môi trường trồng tối hảo để tạo sự thông thoáng cần thiết Tránh tuyệt đối không dùng các loại than gỗ rừng sác (đước) vì hàm lượng Na cao trong than dễ làm chết lan

2.2.4 Một số bệnh thường gặp ở lan Hồ điệp

2.2.4.1 Bệnh do nấm

- Bệnh đốm nâu: Do nấm Collectotrichum thường xâm nhập nhiều ở cây con,

cây lớn ít bị bệnh hơn Trong thời kỳ bệnh nếu có mưa bệnh sẽ lây lan nhanh hơn

- Bệnh đốm vàng: Do nấm Cercospora sp bám vào lá nhất là ở mặt dưới lá

Nấm này có bào tử màu nâu làm cho lá cây rụng sớm Bệnh phát sinh nhiều vào mùa mưa, khi ẩm độ vườn quá cao hay những cây bị thiếu lân

- Bệnh khô lá (Leaf blight): Bệnh do nấm Phylostica lây lan bằng bào tử bay

theo gió

Phòng trị: Phun các loại thuốc trị nấm như aliette, zined, maned, carboxin, benomyl theo đúng khuyến cáo của nhà sản xuất Phun định kỳ 1lần/ tháng để phòng ngừa bệnh Ngoài ra, nên cách li cây bệnh và không nên tưới nước quá ẩm ướt

2.2.4.2 Bệnh do vi khuẩn

- Bệnh thối nhũn (Solf rot): Bệnh do vi khuẩn Erwinia cartovora gây ra, phát

triển mạnh vào mùa mưa do các vết thương của sâu rầy, hoặc do nước mưa nhiễu liên tục tại chỗ cũng như tưới nước quá mạnh, giọt nước bắn từ cây bệnh sang cây lành

- Bệnh thối nâu(Brownrot): Ở Phalaenopsis và Cattleya do vi khuẩn

Phytomonas cattleya gây nên còn ở lan Hài là do Erwinia cypripedidi

Phòng trị: Cắt bỏ chỗ bệnh, bội vôi ăn trầu vào chỗ vết cắt Phun thuốc boócđô 1%, thuốc oxyclorua đồng 1% phun trên lá, phun thuốc kháng sinh agrimycin, streptomycin, tetracyclin hòa tan với một ít nước phun trừ Đồng thời ngưng tưới nước trong vài ngày cho lá lành vết cắt

Trang 23

2.3 Phân bón cho phong lan

2.3.1 Vai trò của một số nguyên tố thiết yếu của cây lan

2.3.1.1 Nitơ (N 2 )

Nitơ là một trong những nguyên tố dinh dưỡng cơ bản cần thiết đối với cây, nitơ tham gia vào tất cả các protein, là thành phần chủ yếu của các chất nguyên sinh trong tế bào thực vật Nitơ là một trong các thành phần của axit nucleic tức AND ( Axit Desoxiribo Nucleic) và ARN (Axit Ribo Nucleic) và có vai trò hết sức quan trọng trong quá trình trao đổi chất của cây

Nitơ có trong diệp lục tố, alcaloit và tham gia trong thành phần nhiều chất khác trong tế bào thực vật

Thiếu N thì lá nhỏ và hơi vàng, không xanh tươi Cây không lớn được èo uột và cằn cỗi Cây già nhanh, ra hoa sớm dù cây còn nhỏ nên cây càng thêm cằn cỗi

Đối với lan, photpho có tác dụng trong việc kích thích khả năng ra hoa

Thiếu P cây sẽ nhỏ, cằn cỗi, sức đề kháng kém, lá xanh thẫm, rễ phát triển chậm, mầm mới ít phát triển, chậm ra hoa, ít đậu quả, hột không khoẻ thường nhiều hột lép, tỉ lệ nảy mầm thấp

2.3.1.3 Kali ( K )

Kali ảnh hưởng đến sự hình thành và chuyển hoá các phân tử protein và tổng hợp axit amin Kali có tác dụng xúc tiến quá trình quang hợp bằng cách thúc đẩy sự vận chuyển gluxit từ phiến lá vào các cơ quan khác trong cây Khi thiếu kali sự hình thành các liên kết cao năng bị chậm lại và hàm lượng photpho trong các nucleic bị giảm trong khi cây lại tích lũy photpho ở dạng vô cơ Kali cũng là nguyên tố quan trọng, cùng với photpho và nitơ giúp cho cây sinh trưởng và phát triển tốt Kali đặc

Trang 24

biệt thúc đẩy sự phát triển chồi mới, giúp cho sự chuyển hoá nước và các chất dinh dưỡng trong cây làm cho cây cứng và thúc đẩy cây lan ra hoa nhiều, màu sắc tươi, đề kháng bệnh tốt

Thiếu Kali cây ngừng phát triển, khô dần rồi chết hoặc lá ở ngọn mọc chụm lại thân cây trở nên lùn và èo uột, lá vàng rụng đi

2.3.1.5 Canxi (Ca )

Canxi là nguyên tố quan trọng trong việc tạo lập vách tế bào và điều hoà hoạt động của tế trong việc tạo lập protein, hấp thu đạm, là cây sinh trưởng phát triển tốt, thân cứng, rễ phát triển

Nếu cây hấp thu Ca quá liều lượng cây sẽ không hấp thụ được Fe nhưng hấp thu nhiều đạm Do đó khi cây có nhiều Ca ta có thể kết luận cây dư đạm Nếu thiếu Ca

rễ lan sẽ chậm phát triển, lá sẽ nhỏ, cây và lá đều lỏng khỏng, không đứng thẳng được Nếu thiếu Ca cùng một lúc với thiếu N thì cây càng suy yếu vì việc tạo lập protein sẽ

bị ngừng

2.3.1.6 Magie (Mg)

Magie là một nguyên tố nằm trong cấu trúc của diệp lục Magie có tác dụng điều hoà hoạt động sinh lý của cây, giúp cây phát triển cân đối

Thiếu Mg thì cây tăng trưởng chậm, lá đổi màu và mau rụng, biểu hiện rõ ngay

ở bộ rễ Bộ rễ phát triển quá tốt nhưng lá lại không phát triển, tỉ lệ giữa rễ thân lá không cân đối, rễ to khác thường

2.3.1.7 Sắt (Fe)

Sắt là một nguyên tố trong cấu trúc của diệp lục tố và việc quang tổng hợp Vai trò của sắt là làm cho lá cây có màu xanh, yêu cầu về sắt của cây rất ít nhưng không thể thiếu được đối với cây trong quá trình sinh trưởng và phát triển Sắt giúp cho quá

Trang 25

trình quang hợp khi ánh sáng nhiều Sắt có tác dụng làm cho cây khoẻ, hoa đẹp, màu sắc đẹp

Thiếu sắt lá nhạt màu dần hoặc không còn màu làm cho quang hợp chậm lại Cây không thể điều chế được glucozơ nên rễ ngừng phát triển, cây không hút được dưỡng chất

2.3.1.8 Đồng ( Cu )

Đồng có ý nghĩa quan trọng trong đời sống của cây, không có nguyên tố nào có thể thay thế được Nếu thiếu đồng thì cây không thể phát triển được; đồng đảm bảo cho sự nảy mầm của hạt và giúp cây sinh trưởng phát triển tốt

Thiếu Cu lá non có màu bạc tái khác thường, phần mất diệp lục xảy ra trước tiên ở bìa lá; ngọn lá sẽ có đốm trắng cách khoảng, lá mềm dễ rụng Nếu phát sinh ở đỉnh ngọn thì làm tế bào ở đó chết, cùng lúc chúng đua nhau mọc chồi mới thành chùm ở bên dưới, ngọn lá sẽ khô dần, cây dễ thối

2.3.1.10 Mangan ( Mn )

Mangan cần thiết đối với hoạt động sống của cây Mangan tham gia các quá trình oxy hoá xảy ra trong tế bào sống Mangan còn có vai trò quan trọng trong quá trình trao đổi đạm của cây, quá trình khử nitrat trong cây, đẩy mạnh quá trình sinh tổng hợp chất protein

Mangan là thành phần của nhiều men, tham gia tất cả những quá trình quan trọng nhất xảy ra trong cơ thể sống của cây

Khi tưới nước quá nhiều vôi và quá kiềm sẽ dẫn đến thiếu Mn, làm lá non mất màu xanh bóng thể hiện rõ ở lá non hơn là lá già Nhưng ít trường hợp cây thiếu Mn

Trang 26

2.3.1.11 Bo ( Bo )

Bo cần thiết với đời sống của cây, nó có tính đặc thù không thay thế và cần thiết với tất cả các giai đoạn sinh trưởng và phát triển của cây Do nó ảnh hưởng đến sự thu hút những nguyên tố dinh dưỡng khác vào cây, giảm sự thu hút lân, tăng sự thu hút kali (Sukbitaki và ctv, 1954)

Triệu chứng thừa và thiếu Mo cũng giống như là thừa và thiếu N Khi bón P sẽ tăng lượng Mo đối với cây (Phan Thúc Huân, 2003; Nguyễn Thiện Tịch và ctv, 2003)

2.3.2 Một vài loại phân bón phổ biến

- Phân hữu cơ – khoáng, phân khoáng có màng bọc chậm tan được chế biến với công nghệ cao, được cho vào từng túi nhỏ có kích thước 7 x 4 cm đặt trên mặt chậu, khi tưới nước phân sẽ tan ra từ từ cung cấp dinh dưỡng cho hệ rễ của cây Sử dụng làm phân bón gốc

- Phân hữu cơ sinh học dạng lỏng (Root Plex): growmore, orchid – 2, fish emulision… được chiết xuất từ rong biển hoặc từ cá giúp lan sinh trưởng khỏe hơn,

Loại phân này thích hợp với Dendrobium, Vanda, Archnia, Aranda, Mokara

Có báo cáo cho thấy sử dụng phân gà đã đem lại sản lượng hoa cao hơn và cả sự tăng trưởng nhanh hơn ở Aranda, Dendrobium (Nguyễn Thiện Tịch và ctv, 2004)

- Phân xác bã động vật ngâm: Là lông gà, lông vịt , xác tôm cá, lòng gà, lòng vịt… bỏ vào khạp đổ nước vô ngâm, đậy kín đến khi hết mùi thối thì lọc lấy nước

Trang 27

trong đem tưới, nồng độ tùy loài lan và tùy độ đậm đặc của phân gốc, tưới định kỳ 15 ngày/lần

Theo các nhà trồng lan Đài Loan thì nước ngâm lông vịt, gà, bột cá tuyệt hảo đối với Hồ Điệp mà không bị khuyết điểm lên rong xanh

- Phân bánh dầu ngâm: là xác bã đậu phộng, đậu nành sau khi đã ép dầu, đem ủ lọc lấy nước trong tưới cho lan Trong phân bánh dầu có chứa nhiều chất đạm

Công thức ủ phân bánh dầu như sau: 100 gram bánh dầu + 1 lít nước + dung dịch BAEM 1 o/oo hoặc pha thêm 100 gram nước tiểu để tăng quá trình lên men, giảm mùi thối Khoảng 15 – 30 ngày, khi thấy xác nổi lên trên, nước trong và hết mùi thối là

có thể dùng được Lọc bỏ xác để lấy nước trong tưới cho lan

Loại phân này thích hợp với Dendrobium, Phalaenopsis, Phaphiopedilum,

Oncidium, Renathera… không công dụng lắm với Brassolaeliocattleya (Nguyễn

Thiện Tịch và ctv, 2004)

Nhược điểm của loại phân này là có mùi khó chịu, đóng nhiều rêu xanh Nên phải phun kết hợp thuốc trừ nấm hoặc thuốc sát trùng để trừ nấm, vi khuẩn

- Phân ủ lục bình: Thân rễ cây lục bình băm nhỏ + dung dịch BAEM 5%, ủ kín

30 ngày thì xác sẽ phân huỷ Lọc lấy nước trong pha với các nồng độ 5 – 20% tưới

cho các loại lan Qua kết quả thử nghiệm cho thấy đối với Dendrobium và Oncidium

nồng độ 20%, tưới định kỳ 7 ngày/lần cho kết quả tốt về mặt sinh trưởng

Ưu điểm của phân lục bình ủ là có khả năng kích thích ra rễ, pH trung tính và không có mùi hôi

2.3.3 Sự hấp thu phân bón và chế độ bón phân cho phong lan

2.3.3.1 Sự hấp thu phân bón ở lan

Đối với cây lan, bộ rễ là cơ quan chính yếu giúp cây lan hấp thu nước và muối khoáng để nuôi cây Rễ lan có khả năng chọn lọc loại phân để hút qua lổ mao khổng của tế bào rễ Tế bào rễ có khả năng nhận biết nguyên tố nào cần thiết cho sự phát triển của cây lan Tế bào rễ có nhiều lông hút, lông hút phải dài, phải nhiều và tập trung ở

bộ phận còn non của rễ Muốn bộ rễ hấp thu tốt, phải xếp giá thể cho thoáng, giá thể dày đặc là giá thể ẩm, sinh ra khí H2S dẫn đến nghẽn rễ, thối rễ và không hấp thu được dưỡng chất

Trang 28

Ngoài ra, lá cũng có thể có khả năng hấp thu dưỡng chất, nhất là trường hợp lan con Nhưng đối với lan lớn, việc hấp thụ của lá không đủ cho nhu cầu phát triển, tăng trưởng của cây Do đó khi tưới ta cần chú ý đến bộ rễ

Qua lá, cây hấp thụ phân bón tốt nhất ở dạng dung dịch, vì dung dịch phân sẽ

dễ dàng bám vào rễ, lá và chất trồng, tăng diện tích hấp thụ nên hiệu quả và tiết kiệm hơn

Các chất tan dù ở dạng phân tử hay ion sẽ xuyên qua màng tế bào để vào bên trong nguyên sinh chất, thủy thể của tế bào Cho nên phân bón qua lá sẽ xâm nhập liên tục vào bên trong tế bào chừng nào phân còn ở dạng dung dịch Ngược lại, nếu tưới phân không lâu mà thấy chúng đã khô, đóng lại các vết trắng ở mặt lá thì chỉ một phần rất ít phân bón được cây hấp thụ mà thôi

Các vết muối đọng lại ở mặt ngoài của lá sẽ không thấm được vào bên trong cho đến khi chúng được hoà tan trở lại thành dung dịch Điều này chỉ xảy ra khi không khí có ẩm độ cao

Thí nghiệm của Rossi và Beauchamp cho thấy sự hấp thu Zn và Mn của muối sufat ở lá cây đậu vàng trong tủ kính có ẩm độ 70% tốt hơn trong tủ kính có ẩm độ 25% nhất là trong 24 giờ đầu Điều này chứng tỏ tưới phân qua đường lá vào lúc ẩm

độ cao cây sẽ hút được nhiều phân hơn (trích dẫn bởi Nguyễn Thiện Tịch và ctv, 2004)

2.3.3.2 Chế độ phân bón

Theo TS Nguyễn Đăng Nghĩa có thể bón phân cho hoa lan theo công thức sau:

a Giai đoạn cây con ( từ 0 – 6 tháng tuổi)

 Bón dưới gốc chậu ( theo hệ rễ )

Đặt trên mặt chậu mỗi chậu một túi phân hữu cơ sinh học hoặc phân hữu cơ - khoáng chậm tan, phân khoáng có màng bọc

Sử dụng phân lỏng xịt thêm 2 lần/ tháng Các loại phân thích hợp cho lan tuổi nhỏ là growmore 30 – 10 – 10, orchid 2, fish emulsion, vitamin B1

 Bón phân trên lá

Sử dụng phân hỗn hợp NPK 30 – 10 – 10 với liều lượng 2g/lít + acid humic với liều lượng 0,5g/lít phun xịt định kỳ cho lan Giai đoạn 0 – 3 tháng phun xịt 5 ngày/lần,

từ 3 – 6 tháng phun 7 ngày/lần

Trang 29

Phân hữu cơ sinh học dạng lỏng được chiết xuất từ rong biển hoặc cá biển phun xịt bổ sung thêm 7 ngày/lần giúp lan sinh trưởng khoẻ hơn, lá dày và xanh hơn

Bón phân qua lá được sử dụng bằng hệ thống phun sương của Israel đạt hiệu quả và năng suất cao

b Giai đoạn cây lớn ( từ 6 – 12 tháng tuổi)

c Giai đoạn cây từ 12 – 18 tháng

Trang 30

Chương 3

VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM 3.1 Thời gian và địa điểm

Thí nghiệm đã được bố trí trong nhà lưới tại thị trấn Củ Chi

Thời gian thực hiện: từ ngày 15/4/2007– 25/9/2007

3.2 Vật liệu thí nghiệm

3.2.1 Nhà lưới

Nhà lưới có hai lớp lưới che ánh sáng, cho 50% ánh sáng tán xạ đi qua, ngăn

côn trùng bay vào, diện tích 250 m2

Bố trí thí nghiệm trên sàn thép B40 cao 100 cm, diện tích 12 m2

3.2.2 Giống lan

Thí nghiệm trên loại lan nuôi cấy mô nhập nội thuộc giống Phalaenopsis có giá

trị kinh tế cao, phù hợp với điều kiện khí hậu Việt Nam Gồm hai lứa tuổi: 6 tháng và

- Bình phun nước dung tích 14 lít

- Bình phun phân dung tích 2 lít

Trang 31

(Split-Diện tích lô thí nghiệm khoảng 20 m2

Thí nghiệm có 12 nghiệm thức, mỗi nghiệm thức gồm 8 chậu, mỗi chậu trồng 1 cây Trong đó chọn ngẫu nhiên 2 chậu đánh dấu để lấy số liệu ban đầu và theo dõi các chỉ tiêu sinh trưởng trong suốt quá trình thí nghiệm.Vậy tổng thí nghiệm có 288 chậu trong đó có 72 chậu theo dõi

3.3.2 Sơ Đồ Bố Trí Thí Nghiệm

Thí nghiệm gồm 3 yếu tố, 3 lần lặp lại

 Yếu tố chính (C): 3 loại phân bón lá

Trang 32

Sơ đồ 3.1: Sơ đồ bố trí thí nghiệm REP I

Trang 33

3.4 Các bước thực hiện

3.4.1 Giai đoạn chuẩn bị (trước 2 ngày)

- Chặt than thành từng thỏi kích thước 1 x 2 x 3 cm

- Chuẩn bị 2 loại chậu (chậu nung và chậu nhựa) Loại đường kính 14 cm dùng trồng lan 6 tháng tuổi và loại 16,5 cm dùng trồng lan 12 tháng tuổi

- Đánh số thứ tự chậu đo số liệu và theo dõi (từ 1 – 72)

3.4.2 Ngày vào chậu ( ngày số 0 )

- Đếm tổng số lá trên cây theo chiều từ dưới lên

- Đo chiều dài và chiều rộng lá: chọn lá hoàn chỉnh (lá có cổ lá) trên cùng để

đo chiều dài từ cổ lá đến nơi dài nhất, đo chiều rộng ở nơi rộng nhất

- Vô chậu: Gỡ bỏ dớn cũ, cho than vào 1/3 chiều cao chậu, lấy một ít dớn khô sạch lót ở mặt than Đặt cây ở giữa chậu, một tay giữ cây rồi cho than vào từ từ đến cách mép chậu 2 cm Lèn chặt than để cây đứng vững

Yêu cầu tay và vật dụng phải khô ráo, tránh làm xây sát lá

3.4.3 Giai đoạn sau trồng ( từ ngày 0 đến ngày 15)

- Đặt cây trong mát 3 ngày giúp cây hồi sức, hạn chế bốc thoát hơi

- Tưới phun sương 2 lần/ ngày, buổi sáng tưới dung dịch BAEM 10/00 + dung dịch lục bình 1% nhằm kích thích rễ, buổi chiều tưới nước (liều lượng: 7 lít/288 chậu)

Sau 3 ngày chuyển chậu ra vườn, kiểm tra và loại bỏ cây yếu và cây hư hỏng thay bằng cây dự phòng, bố trí theo sơ đồ thí nghiệm

 Xử lý phân lần đầu (sau 15 ngày):

- Phân bón nền: Bón phân NPK tan chậm (Argoblem) và xác lục bình ủ theo liều lượng 5 viên NPK tan chậm + 1 muỗng cà phê lớn xác lục bình (1gram NPK gồm 32 viên; 1 muỗng cà phê xác lục bình nặng 6,3 g)

 Xử lý phân theo từng nghiệm thức:

- Growmore (30 – 10 – 10) theo tỉ lệ 1 gram/lít nước cho cả 2 lứa tuổi

- Lục bình nồng độ10% cho cây 6 tháng tuổi và 20% cho cây 12 tháng tuổi

- Phân bã dầu đậu phộng ngâm nồng độ 5% cho cây 6 tháng tuổi và 10% cho cây 12 tháng tuổi

Liều lượng phun phân: 15 ml/cây 6 tháng và 30 ml/cây 12 tháng tuổi

Trang 34

3.4.4 Giai đoạn theo dõi:

- Tưới nước ngày 2 lần vào 8 – 9 giờ sáng và 3 – 4 giờ chiều trong những ngày không mưa

- Phun phân định kỳ 7ngày/ lần

- Theo dõi, ghi chép số liệu 15 ngày/lần, kết hợp theo dõi tình hình sâu bệnh 3.5 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi

- Phân tích hàm lượng dinh dưỡng của phân bón lá (dung dịch lục bình ủ và bã bánh dầu đậu phộng ngâm

Gồm: pH (phương pháp kế); Nts (theo phương pháp Kjeldhal); P2O5 ( theo phương pháp Truog Meyer); K2O (theo phương pháp quang kế ngọn lửa), Carbon (theo phương pháp Tiurin), SO4(theo phương pháp chuẩn độ BaCl2), Fe hòa tan (theo phương pháp chuẩn độ, một số nguyên tố trung lượng Ca , Mg (theo phương pháp Complexon – Trilion B)

- Chỉ tiêu và phương pháp theo dõi sự sinh trưởng và phát triển của lan: mỗi nghiệm thức theo dõi 6 chậu (3 lần lập lại)

o Tổng số lá trên cây: đếm tất cả lá trên cây kể cả những lá đã rụng trước đó

- Chiều dài lá: đo từ cổ lá đến ngọn lá

- Chiều rộng lá: đo nơi rộng nhất

o Hình thành và tăng trưởng phát hoa

3.6 Phương pháp xử lý số liệu

Xử lý số liệu bằng phần mềm Microsoft Excel và xử lý thống kê bằng phần mềm MSTATC

Trang 35

Chương 4

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1 Tình hình thời tiết trong quá trình thí nghiệm

Bảng 4.1: Trung bình các yếu tố khí tượng tại Củ Chi từ tháng 4 đến tháng 7

Tháng

Nhiệt độ

TB

Lượng mưa

Ẩm độ không khí

Số giờ nắng

Lượng bốc hơi

Qua bảng 4.1 cho thấy :

Trong thời gian tiến hành thí nghiệm từ tháng 4 đến tháng 7 nhiệt độ (28 – 30

0C) và ẩm độ (70 – 77%) tương đối ổn định và phù hợp với yêu cầu sinh thái của lan

Hồ Điệp Nhưng lượng mưa ở tháng 5 (371,2 mm) và tháng 7 (400,1 mm) rất cao nên

có ảnh hưởng đến sự hấp thu phân bón Bên cạnh đó, ở giai đoạn này số giờ nắng thấp nên quá trình quang hợp của lan có nhiều hạn chế Theo quan sát chúng tôi nhận thấy

do ảnh hưởng của các đợt áp thấp nhiệt đới nên thời tiết ở tháng 6 và tháng 8 thay đổi bất thường Xen kẻ những đợt mưa kéo dài là những hôm trời nắng lớn nên lượng bốc thoát hơi rất cao, có ảnh hưởng đến sinh trưởng của lan

4.2 Số lá và diện tích lá của lan Hồ Điệp ban đầu

4.2.1 Số lá

Theo kết quả thể hiện ở bảng 4.2 chúng tôi nhận thấy:

Số lá của cây các cây dùng theo dõi ở tất cả các nghiệm thức tương đối đồng nhất, biến động từ 3,7 – 4,3 lá/cây Kết quả phân tích cho thấy sự khác biệt về số lá không có ý nghĩa về mặt thống kê

Trang 36

Bảng 4.2: Số lá ban đầu (lá/cây)

ns 3,8 ns 3,9 ns3,8 ns 4,3 ns 3,8 ns

ns 36,0ns 36,7ns36,7 ns 36,7 ns 36,9 ns

(Ghi chú: Các số liệu trên cột của yếu tố A, yếu tố B, tương tác AB; các số liệu trên cùng hàng của yếu tố C, tương tác AC, tương tác BC, tương tác ABC theo sau cùng một ký tự sai biệt có sự khác biệt không có ý nghĩa về mặt thống kê (P > 0,05); *: sai biệt có ý nghĩa (P<0,05 và **: sai biệt rất có ý nghĩa (P < 0,01))

Từ kết quả ở bảng 4.3 chúng tôi nhận thấy:

Về mặt thống kê, chỉ riêng ở hai lứa tuổi diện tích lá có sự khác biệt rất có ý nghĩa Diện tích lá trung bình trên lan 6 tháng tuổi là 21,5 cm2 lá/cây, và 51,9 cm2 lá/cây đối với lan 12 tháng tuổi Còn giữa hai loại chậu trồng cũng như giữa các công thức xử lý phân bón, các tương tác có diện tích lá tương đương nhau giữa các nghiệm thức và có sự khác biệt không có ý nghĩa về mặt thống kê

Trang 37

Qua đó thấy rằng mẫu cây ban đầu đồng đều, phù hợp với yêu cầu của thí nghiệm

4.3 Một số tính chất hóa học của dung dịch lục bình và dung dịch bánh dầu ủ Bảng 4.4: pH và nồng độ một số chất trong dung dịch lục bình và bánh dầu (ppm)

Dung

LB 7,2 374 20,3 238,4 10,5 17,8 52,6 35,5 14,6

BD 6,3 1371 1774,5 386,5 20,5 53,3 15,7 451,5 48,3 Qua kết quả trình bày ở bảng 4.4 cho thấy rằng:

Dung dịch lục bình có pH trung tính (pH = 7,2) thích hợp với đa số các loại lan Tuy nhiên đối với lan Hồ Điệp do có yêu cầu pH khá thấp (pH = 5,2) nên quá trình trao đổi chất qua lá bị hạn chế Ngược lại, dung dịch bánh dầu có pH hơi chua

(pH = 6,3) nên thích hợp hơn

Trong dung dịch lục bình trừ Mg2+, các yếu tố dinh dưỡng khác như: C, N, K,

P, S, Fe đều thấp hơn rất nhiều so với dung dịch bánh dầu Do đó trong thí nghiệm chúng tôi sử dụng dung dịch lục bình có nồng độ gấp hai lần dung dịch bánh dầu

Tuy nhiên, dung dịch bánh dầu có hàm lượng đạm cao nên có nhiều rong rêu bám ở thành chậu và giá thể Vì đạm là nguồn cung cấp dinh dưỡng cho rong rêu Mặt khác, khi tưới phân có nồng độ đạm cao, môi trường thêm acid nên phù hợp cho sự phát triển của chúng Do đó nếu sử dụng loại phân này thường xuyên thì hệ rễ lan dễ bị

các loại nấm có trong rong rêu như Nectria sp và Furarium sp tấn công (Trịnh Xuân

Vũ và ctv, 1976) Vì thế cần kết hợp phun các thuốc trừ nấm rêu để hạn chế những nhược điểm của loại phân này

4.4 Động thái và tốc độ ra lá

4.4.1 Động thái ra lá

Do không có giả hành nên đối với lan Hồ Điệp, cơ quan lá vừa là nơi xảy ra quá trình quang hợp vừa là bộ phận dự trữ dinh dưỡng nuôi cây Vì thế số lá trên cây có ý nghĩa rất quan trọng trong đời sống của lan Hồ Điệp

Sự ra lá ở lan chịu ảnh hưởng bởi thể trạng sinh lý cũng như độ tuổi của cây và

có tương quan với sự tăng trưởng của thân và rễ Qua giai đoạn cây con, số lá trên cây gần như đã ổn định, cây tập trung dinh dưỡng để tăng kích thước lá nhằm tăng diện tích quang hợp Vì thế ở giai đoạn cây trung và cây trưởng thành số lá trên cây tương

Trang 38

đương nhau ít chênh lệch, thông thường mỗi cây có từ 4 – 6 lá xanh Tuy nhiên đời sống của lá lan Hồ Điệp có giới hạn Khi lá quá trưởng thành và không còn đảm nhận được chức năng quan trọng của nó nữa thì rụng đi, cần có lá mới thay thế Như vậy sự xuất hiện lá mới chứng tỏ cây được cung cấp đầy đủ dưỡng chất và đang ở giai đoạn tăng trưởng mạnh nên cần tăng diện tích lá để tăng sự tích lũy chất hữu cơ

(Ghi chú: Các số liệu trên cột của yếu tố A, yếu tố B, tương tác AB; các số liệu trên cùng hàng của yếu tố C, tương tác AC, tương tác BC, tương tác ABC theo sau cùng một ký tự sai biệt có sự khác biệt không có ý nghĩa về mặt thống kê (P > 0,05); *: sai biệt có ý nghĩa (P<0,05 )và **: sai biệt rất có ý nghĩa (P < 0,01))

Qua bảng 4.5 chúng tôi nhận thấy:

NT A1 đã tăng thêm lá mới đạt 3,9 lá/cây nhưng ở NT A2 số lá không thay đổi

có 4,2 lá/cây Về mặt thống kê, giữa hai lứa tuổi sự khác biệt về số lá/cây trên lan 6 và

12 tháng tuổi không có ý nghĩa Về ảnh hưởng của yếu tố chậu, NT B1 và NT B2 đều

có 4,1 lá/cây và không có sự khác biệt về mặt thống kê

Do hệ rễ của lan sau khi chuyển chậu còn yếu nên sự hấp thu dinh dưỡng còn thấp Kết quả phân tích cho thấy số lá/cây giữa các công thức xử lý phân bón có sự khác biệt không có ý nghĩa về mặt thống kê Trong đó, NT C1 và NT C3 có 4 lá/cây, còn NT C2 có số lá cao hơn đạt 4,2 lá/cây

Tương tự ảnh hưởng của từng yếu tố, ở các cặp tương tác của yếu tố tuổi và chậu; tuổi và phân bón; chậu và phân bón đều có sự khác biệt không có ý nghĩa nhưng

Trang 39

ở tương tác của 3 yếu tố tuổi, chậu và phân bón kết quả thống kê cho thấy có sự khác biệt có ý nghĩa Thể hiện như sau:

Ở tương tác AB: Kết quả cho thấy các NT cùng nhóm tuổi có số lá bằng nhau

Cụ thể là NT A1B1 và NT A1B2 có 3,9 lá/cây; NTA2B1 và NT A2B2 có 4,2 lá/cây

Ở tương tác AC: Số lá biến động từ 3,8 – 4,3 lá/cây Trong đó, NT A2C2 tuy không tăng thêm lá mới nhưng có số lá đạt cao nhất và NT A1C3 có số lá đạt thấp nhất Các nghiệm thức còn lại có số lá tương đương nhau (4 – 4,1 lá/cây)

Ở tương tác BC: Số lá ít có chênh lệnh, cao nhất là NT B2C2 có 4,3 lá/cây còn thấp nhất là hai nghiệm thức B2C1 và B2C3 có 3,9 lá/cây

Ở tương tác ABC: Số lá biến động từ 3,5 – 4,8 lá/cây Trong đó, NT A2B2C2 có 4,8 lá/cây đạt cao nhất, kế đến là NT A2B1C3 có 4,5 lá/cây rất khác biệt với NT A1B1C3

có 3,5 lá/cây Các NT còn lại có từ 3,8 – 4,2 lá/cây không có sự khác biệt Trong giai đoạn này, cây tăng trưởng còn chậm Mặt khác, để có thêm lá mới cây cần tích lũy chất hữu cơ từ trước Do đó, kết quả vẫn chưa phản ảnh được ảnh hưởng của các yếu

tố thí nghiệm mà bị chi phối bởi thể trạng ban đầu của cây lấy mẫu

ns 4,5ns 4,6ns4,7 ns 4,8 ns 4,6 ns

(Ghi chú: Các số liệu trên cột của yếu tố A, yếu tố B, tương tác AB; các số liệu trên cùng hàng của yếu tố C, tương tác AC, tương tác BC, tương tác ABC theo sau cùng một ký tự sai biệt có sự khác biệt không có ý nghĩa về mặt thống kê (P > 0,05); *: sai biệt có ý nghĩa (P<0,05) và **: sai biệt rất có ý nghĩa (P < 0,01))

Trang 40

Qua bảng 4.6 chúng tôi nhận thấy:

Số lá ở hai lứa tuổi đều tăng trong đó, NT A2 có 4,8 lá/cây cao hơn so với số lá của NT A1 (4,5 lá/cây) Nhưng về mặt thống kê, số lá/cây của hai lứa tuổi có sự khác biệt không có ý nghĩa

Số lá trên hai loại chậu trồng ở giai đoạn này chênh lệch không đáng kể Trong

đó, NT B1 có 4,6 lá/cây và NT B2 có 4,7 lá/cây Nguyên nhân là lượng mưa trong tháng 5 rất cao (371,2 mm) nên khả năng giữ nước khác nhau giữa 2 loại chậu khác biệt không có ý nghĩa

Bên cạnh đó, mưa nhiều cũng làm giảm hiệu quả của phân bón Vì bón phân qua lá cây không những chỉ hấp thụ vài giờ sau xử lý mà còn kéo dài vài ngày sau đó Khi phun, phân sẽ ngấm vào chất trồng để rễ có thể hấp thu dần Nên ở 3 công thức xử

lý phân cho số lá gần bằng nhau Trong đó, NT C1 và NT C2 có 4,7 lá/cây còn NT C3

có 4,6 lá/cây Số lá/cây giữa các NT có sự khác biệt không có ý nghĩa về mặt thống kê

Kết quả ở bảng 4.4b cho thấy các NT trong tương tác hai yếu tố và tương tác ba yếu tố cũng có sự khác biệt không có ý nghĩa về mặt thống kê

Ở tương tác AB: Số lá biến động từ 4,4 – 4,9 lá/cây Trong đó, NT A2B2 có số lá/cây đạt cao nhất và thấp nhất là NT A1B1 So ảnh hưởng của từng yếu tố, chúng tôi nhận thấy ở giai đoạn này số lá/cây chịu ảnh hưởng của yếu tố A nhiều hơn yếu tố B

Ở cặp tương tác AC: Số lá biến động từ 4,3 – 4,9 lá/cây Trong đó, NT A2C3 có

số lá/cây đạt cao nhất và thấp nhất là NT A1C3 Qua kết quả ở bảng 4.4b chúng tôi thấy các NT xử lý phân growmore có số bằng nhau đạt 4,7 lá/cây Nhưng ở các NT xử lý dung dịch (DD) bánh dầu số lá trên lan 6 tháng và 12 tháng rất chênh lệch

Ở tương tác BC: Số lá giữa các NT tương đối đồng đều, biến động từ 4,5 – 4,8 lá/cây Trong đó, NT B2C2 có số lá cao nhất nhưng NT B1C2 lại có số lá thấp nhất NT

xử lý phân growmore và NT xử lý DD bánh dầu cho số lá bằng nhau trên hai loại chậu trồng (4,7 lá/cây và 4,6 lá/cây)

Ở tương tác ABC : Có số lá dao động từ 4,2 – 5,2 lá/cây Trong đó, NT A2B2C2

có số lá đạt cao nhất và NT A1B1C3 có số lá đạt thấp nhất Nhìn chung, các NT xử lý phân growmore và các NT xử lý DD lục bình cho kết quả đồng đều hơn các NT xử lý

DD bánh dầu

Ngày đăng: 28/02/2019, 09:41

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Thiên Ân, 2004. Những phương pháp trồng Lan (bản dịch). Nhà xuất bản Nghệ thuật, 82 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những phương pháp trồng Lan
Nhà XB: Nhà xuất bản Nghệ thuật
2. Việt Chương và Nguyễn Việt Thái, 2004. Kỹ thuật trồng và kinh doanh phong lan. Nhà xuất bản Tp. Hồ Chí Minh, 87 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật trồng và kinh doanh phong lan
Nhà XB: Nhà xuất bản Tp. Hồ Chí Minh
3. Trần Thị Dung, 2001. Bài giảng môn Cây Hoa Kiểng. Khoa Nông học, trường Đại học Nông Lâm Tp.Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng môn Cây Hoa Kiểng
4. Lê Văn Dũ, 2001.Bài giảng độ phì và phân bón. Khoa Nông học, trường Đại học Nông Lâm ,Tp.Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng độ phì và phân bón
5. Nguyễn Quang Đương, 2006. Sản xuất phân hữu cơ từ Lục bình và thử nghiệm dung dịch phân ủ này trên lan Dendrobium nuôi cấy mô 2 lứa tuổi 6 tháng và 12 tháng. Luận văn tốt nghiệp kỹ sư Nông học. Trường Đại học Nông Lâm Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sản xuất phân hữu cơ từ Lục bình và thử nghiệm dung dịch phân ủ này trên lan Dendrobium nuôi cấy mô 2 lứa tuổi 6 tháng và 12 tháng
6. Vũ Thị Điệp, 2006. Nghiên cứu và ứng dụng chế phẩm sinh học và phân bón lá để kích thích quá trình ra hoa của lan Dendrobium và lan Oncidium. Luận văn tốt nghiệp kỹ sư Nông học. Trường Đại học Nông Lâm Tp. Hồ Chí Minh, 69 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu và ứng dụng chế phẩm sinh học và phân bón lá để kích thích quá trình ra hoa của lan Dendrobium và lan Oncidium
7. ALBERTO FANFARNI AND WALTER ROSSI. Kỹ thuật nuôi trồng cấy lan. (Trần Văn Huân và Văn Tích Lượm, biên dịch), 2004. In lần thứ 3. Nhà xuất bản Nghệ thuật, 271 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật nuôi trồng cấy lan
Nhà XB: Nhà xuất bản Nghệ thuật
8. Trần Lưu Ngọc Thanh Giang, 2006. Thử Nghiệm ảnh hưởng dung dịch lục bình lên quá trình sinh trưởng và phát triển của hoa lan Hồ điệp và lan Mokara trồng trong chậu. Luận văn tốt nghiệp kỹ sư nông học. Trường Đại học Nông Lâm Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thử Nghiệm ảnh hưởng dung dịch lục bình lên quá trình sinh trưởng và phát triển của hoa lan Hồ điệp và lan Mokara trồng trong chậu
9. Nguyễn Hữu Hoàng, 2006. Sự ra hoa của lan Hồ điệp. Saigonbiotech. http://www.saigonbiotech.com/index.php?option=com_content&amp;task=view&amp;id=142&amp;Itemid=39 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự ra hoa của lan Hồ điệp
10. Dương Quốc Hùng, 2006. Ủ phân hữu cơ từ nguyên liệu Lục bình và thử nghiệm dung dịch phân này trên giống lan Oncidium trồng trong chậu tại huyện Củ Chi Tp. Hồ Chí Minh. Luận văn tốt nghiệp kỹ sư nông học. Trường Đại học Nông Lâm Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ủ phân hữu cơ từ nguyên liệu Lục bình và thử nghiệm dung dịch phân này trên giống lan Oncidium trồng trong chậu tại huyện Củ Chi Tp. Hồ Chí Minh
11. Tiến sĩ Nguyễn Đăng Nghĩa, 2005. Kỹ thuật trồng và bón phân cho lan. Báo khoa học phổ thông, số 27, trang 41 – 44 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật trồng và bón phân cho lan
12. Kỹ sư Nguyễn Công Nghiệp. Trồng hoa lan. In lần thứ 3. Nhà xuất bản trẻ, 283 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trồng hoa lan
Nhà XB: Nhà xuất bản trẻ
13. Ngô Đằng Phong, 2004. Trình bày và viềt luận văn tốt nghiệp. Khoa Nông học, trường Đại học Nông Lâm, Tp.Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trình bày và viềt luận văn tốt nghiệp
14. Ngô Đằng Phong, Huỳnh Thị Thùy Trang và Nguyễn Duy Năng, 2004. Hướng dẫn sử dụng phần mềm MSTATC trong phương pháp thí nghiệm nông nghiệp.Khoa Nông Học, trường Đại học Nông Lâm Tp. Hồ Chí Minh, 34 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn sử dụng phần mềm MSTATC trong phương pháp thí nghiệm nông nghiệp
15. Thanh Tâm, 2005. Cách thiết kế vườn hoa lan. Báo khoa học phổ thông, số 27, trang 34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cách thiết kế vườn hoa lan
16. Hoàng Minh Tấn và Nguyễn Quang Thạch, 1993. Chất điều hòa sinh trưởng đối với cây trồng. Nhà xuất bản Nông nghiệp, 82 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chất điều hòa sinh trưởng đối với cây trồng
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
17. Huỳnh Văn Thới, 2005.Cẩm nang nuôi trồng và kinh doanh phong lan.Nhà xuất bản Trẻ, 200 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang nuôi trồng và kinh doanh phong lan
Nhà XB: Nhà xuất bản Trẻ
18. Chu Thị Thơm, Phan Thị Lài và Nguyễn Văn Tó, 2005.Hướng dẫn sử dụng phân bón và thuốc trừ sâu hợp lý. Nhà xuất bản Lao Động, 87 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn sử dụng phân bón và thuốc trừ sâu hợp lý
Nhà XB: Nhà xuất bản Lao Động
19. Nguyễn Thiện Tịch, Đoàn Thị Hoa, Trần Sĩ Dũng và Trần Thị Ngọc Nhân, 2004. Kỹ thuật nuôi hoa lan. Tái bản lần thứ 11. Nhà xuất bản Nông nghiệp, 271 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật nuôi hoa lan
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
20. Nguyễn Danh Vàn, 2005. Hỏi đáp về phòng trừ sâu bệnh hại cây hoa kiểng. Nhà xuất bản trẻ, 127 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hỏi đáp về phòng trừ sâu bệnh hại cây hoa kiểng
Nhà XB: Nhà xuất bản trẻ

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w