1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TÌM HIỂU HOẠT ĐỘNG CỦA DỰ ÁN “HỖ TRỢ NÔNG DÂN NGHÈO TÂY NGUYÊN QUA SẢN XUẤT TƠ LỤA” VIE – JFRP 9033. TRƯỜNG HỢP NGHIÊN CỨU: XÃ CỬU AN VÀ TÚ AN THỊ XÃ AN KHÊ TỈNH GIA LAI

72 111 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 659,69 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận, là phần mô tả các thông tin đã thu thập được, và phân tích các nội dung như: Tình hình hoạt động của dự án, phân tích đặc điểm của các hộ được

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH

TÌM HIỂU HOẠT ĐỘNG CỦA DỰ ÁN “HỖ TRỢ NÔNG DÂN NGHÈO TÂY NGUYÊN QUA SẢN XUẤT TƠ LỤA” VIE – JFRP 9033 TRƯỜNG HỢP NGHIÊN CỨU:

XÃ CỬU AN VÀ TÚ AN - THỊ XÃ AN KHÊ

TỈNH GIA LAI

TRƯƠNG THỊ HẢI VÂN

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP

ĐỂ NHẬN VĂN BẰNG CỬ NHÂN NGÀNH PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN & KHUYẾN NÔNG

Thành phố Hồ Chí Minh Tháng 07/2007

Trang 2

Hội đồng chấm báo cáo khóa luận tốt nghiệp đại học khoa Kinh Tế, trường Đại

Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh xác nhận khóa luận “TÌM HIỂU HOẠT

ĐỘNG CỦA DỰ ÁN “HỖ TRỢ NÔNG DÂN NGHÈO TÂY NGUYÊN QUA SẢN XUẤT TƠ LỤA” VIE – JFPR 9033 TRƯỜNG HỢP NGHIÊN CỨU: XÃ CỬU AN

VÀ TÚ AN – THỊ XÃ AN KHÊ – TỈNH GIA LAI” do Trương Thị Hải Vân, sinh viên

khóa 29, ngành PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN & KHUYẾN NÔNG, đã bảo vệ thành công trước hội đồng ngày

TRẦN ĐỨC LUÂN Người hướng dẫn (Chữ ký)

Trang 3

LỜI CẢM TẠ

Xin chân thành cảm ơn:

Trước tiên là cha mẹ người đã nuôi dưỡng và động viên con rất nhiều trong quá trình học tập

Quý thầy, cô trường Đại Học Nông Lâm TP.HCM đã tận tình dạy dỗ và truyền đạt kiến thức cho tôi suốt quá trình học tại trường

Thầy Trần Đức Luân đã tận tình chỉ dẫn, động viên tôi rất nhiều trong suốt quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp

Các anh chị và lãnh đạo ở các xã đã giúp đỡ tôi thực hiện đề tài này

Anh, chị và tất cả bạn bè đã giúp đỡ hỗ trợ tôi trong suốt quá trình học tập

Ngày 23 tháng 07 năm 2007 Sinh viên

Trương Thị Hải Vân

Trang 4

NỘI DUNG TÓM TẮT

TRƯƠNG THỊ HẢI VÂN Tháng 07 năm 2007 “Tìm Hiểu Hoạt Động của

Dự Án “Hỗ Trợ Nông Dân Nghèo Tây Nguyên qua Sản Xuất Tơ Lụa” VIE – JFPR 9033 Trường Hợp Nghiên Cứu: Xã Cửu An và Xã Tú An – Thị Xã An Khê – Tỉnh Gia Lai”

TRUONG THI HAI VAN July 2007 “Study on The Implications of JFPR 9033 Project “Supporting to The Poor Households on Silk Production in The Central Highlands of Vietnam” Case Study: Cuu An and Tu An Commune,

VIE-An Khe Town, Gia Lai Province”

Từ lâu trồng dâu – nuôi tằm - dệt lụa đã trở thành ngành nghề truyền thống của nhân dân ta Nhưng trồng sắn - nuôi tằm lại là một việc hoàn toàn mới mẽ và còn khá

lạ lẫm với nông dân Dự án nuôi tằm sắn do chính phủ Nhật tài trợ, mục tiêu chung của dự án là giảm ngèo một cách bền vững cho người nghèo và người dân tộc thiểu số

Vì thế vịêc chuyển giao kỹ thuật và công nghệ cho người dân được đặt lên hàng đầu,

để khi kết thúc dự án, bà con có đủ năng lực để tự nuôi và nhân giống mà không cần đến sự hỗ trợ nào khác, thêm vào đó sẽ dần khôi phục lại nghề dệt truyền thống đang dần mai một trong một số vùng đồng bào tại tỉnh, xa hơn nữa sẽ xây dựng những làng nghề truyền thống tại địa phương

Bằng phương pháp điều tra phỏng vấn trực tiếp các hộ trong và ngoài dự án, tham khảo các tài liệu về dự án Đề tài tiến hành phân tích, so sánh kết quả của các hộ được điều tra kết quả cho thấy: Bước đầu dự án đã và đang mở ra những triển vọng khả quan, hiệu quả cả về mặt kinh tế và xã hội, đem lại nguồn thu thêm cho gia đình, tận dụng được nguồn lao động dư thừa và thời gian nông nhàn của nông hộ Bên cạnh

đó cũng có một số yếu tố gây bất lợi đó là dịch bệnh hại tằm, nguồn thức ăn không được liên tục, ảnh hưởng của khí hậu, thời tiết đến việc nuôi tằm Từ đó đưa ra những giải pháp, bài học , nhằm nâng cao hiệu quả cho dự án trong thời gian tới

Trang 5

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

CHƯƠNG 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 13

3.1 Một số nét khái quát về dự án phát triển nông thôn 13

3.1.2 Phân tích kinh tế - xã hội của dự án phát triển nông thôn 13

3.2 Kinh tế nông hộ 14

3.2.1 Khái niệm 14

3.2.2 Vai trò của kinh tế nông hộ 14

3.2.3 Các thành phần cấu thành thu nhập nông hộ 14

3.2.4 Các chỉ tiêu tính toán kết quả và hiệu quả kinh tế nông hộ 15

3.3 Phương pháp nghiên cứu 16

3.3.1 Phương pháp thu thập số liệu 16

3.3.2 Phương pháp phân tích số liệu 16

Trang 6

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 18

4.2 Phân tích tình hình hoạt động của dự án 204.2.1 Tình hình thực hiện chương trình đào tạo và tập huấn kỹ thuật 124.2.2 Mua sắm trang thiết bị văn phòng 234.2.3 Xây dựng Trung tâm tằm sắn 244.2.4 Cung cấp dụng cụ, vật tư cho nông dân 24

4.2.6 Hoạt động thị trường 26

4.3.1 Tình hình nhân khẩu của các hộ điều tra 284.3.2 Thu nhập của các hộ điều tra trước khi có dự án (năm 2005) 294.3.3 Thu nhập của các hộ điều tra sau khi có dự án 334.4 Phân tích kết quả và hiệu quả kinh tế nuôi tằm sắn 354.4.1 Phân tích chi phí nuôi tằm 354.4.2 Phân tích chi phí đầu tư nuôi tằm theo từng thành phần tham gia 364.4.3 So sánh hiệu quả kinh tế tằm sắn giữa các nhóm hộ tham gia 384.5 Vai trò của dự án trong việc giải quyết lao động nông nhàn 404.6 Mức độ chấp nhận của người dân về dự án 414.7 Phân tích những khó khăn khi thực hiện dự án nuôi tằm sắn 44

4.8.1 Về mặt tổ chức 464.8.2 Về kỹ thuật 47

4.8.4 Về tài chính mua sắm 474.8.5 Về thu mua sản phẩm 48CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 495.1 Kết luận 495.2 Đề nghị 50

Trang 7

5.2.1 Đối với người sản xuất 505.2.2 Đối với chính quyền 50

PHỤ LỤC

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

TrangBảng 4.1 Tổng Hợp Các Chương Trình Đào Tạo Tập Huấn Kỹ Thuật 20Bảng 4.2 Danh Mục và Số Lượng Dụng Cụ, Vật Tư Đã Cấp Phát Cho Nông Dân 24Bảng 4.3 Sản Lượng Sản Phẩm 25Bảng 4.4 Tình Hình Nhân Khẩu của Nhóm Hộ Điều Tra 28Bảng 4.5 Cơ Cấu Thu Nhập của Hộ Trước Khi Tham Gia Dự Án 30Bảng 4.6 Cơ Cấu Thu Nhập của Nhóm Hộ Người Kinh Tham Gia Dự Án 33Bảng 4.7 Cơ Cấu Thu Nhập của Nhóm Hộ Người Thiểu Số Tham Gia Dự Án 34Bảng 4.8 Định Mức Chi Phí Dụng Cụ Nuôi Một Hộp Tằm 36Bảng 4.9 Chi Phí Đầu Tư/Hộp Trứng Giống Tằm Theo Nhóm Hộ Tham Gia Dự Án 37Bảng 4.10 So Sánh Hiệu Quả Đầu Tư Tằm Sắn Theo Nhóm Hộ Tham Gia Dự Án 38Bảng 4.11 Mức Độ Chấp Nhận của Người Dân đối với Dự Án 42

Trang 10

DANH MỤC CÁC HÌNH

Trang Hình 3.1 Khung Phân Tích Dữ Liệu 17

Hình 4.2 Tập Huấn Kỹ Thuật Nuôi Tằm Cho Người Dân 21Hình 4.3 Sơ Đồ Lịch Thời Vụ 40

Trang 11

DANH MỤC PHỤ LỤC

Phụ lục 1 Bảng Câu Hỏi Điều Tra Nông Hộ

Phụ lục 2 Nguồn Thức Ăn và Cách Tạo Nguồn Thức Ăn Ngoài Thời Vụ Sắn Phụ lục 3 Các Sản Phẩm Từ Tằm Sắn

Phụ lục 4 Hình Tằm Sắn

Trang 12

CHƯƠNG 1

MỞ ĐẦU

1.1 Sự cần thiết và lý do thực hiện đề tài

Năm 2002, Hiệp hội tằm tơ hoang dại Nhật Bản phối hợp với Hiệp hội phát triển kinh tế Phi Châu Nhật Bản, Trung tâm nghiên cứu và hỗ trợ phát triển nghề thủ công truyền thống Việt Nam và tổ chức Craft Link cùng phối hợp đệ trình ngân hàng

Phát Triển Châu Á đề xuất dự án giới thiệu và phát triển sản xuất tằm sắn ở Việt Nam

Một trong những nghiên cứu chuyên sâu cho thấy tằm sắn sản xuất tại Việt Nam có tiềm năng thương mại và giá trị rất lớn Tiềm năng thực tế của tằm sắn chỉ được khai thác khi chất lượng sản phẩm được cải thiện thông qua việc tổ chức sản xuất

và cung ứng hợp lý, là cơ sở để hình thành một ngành nghề nông thôn có tiềm năng kinh tế và đóng góp đáng kể vào nỗ lực giảm nghèo của Việt Nam

Một trong những đặc tính nổi bật của tằm sắn là cho tơ bóng nhẹ với kết cấu trơn mượt được ưa chuộng trên thị trường quốc tế do sự thay đổi nhu cầu thị hiếu tơ lụa cũng như các sản phẩm tằm dại, tơ tằm sắn được dệt thành các sản phẩm truyền thống trên cơ sở nghề dệt của đồng bào Tây Nguyên không chỉ góp phần giữ gìn các giá trị văn hoá truyền thống mà còn tăng thêm giá trị sản phẩm

Việc nuôi tằm, chế biến thành tơ, đánh sợi, nhuộm tự nhiên, thiết kế và dệt lụa

là các công việc phụ nữ có thể làm tại nhà Do đó, người phụ nữ nông thôn tham gia

dự án tằm sắn sẽ có cơ hội cải thiện thu nhập, học hỏi được các kỹ thuật sản xuất hàng thủ công

Nuôi tằm sắn ngoài các hiệu quả về mặt xã hội như tạo việc làm trong thời gian nông nhàn, cung cấp sản phẩm sợi cho nghề dệt truyền thống, cải thiện điều kiện dinh dưỡng cho bữa ăn hàng ngày, còn mang lại nguồn thu nhập bằng tiền quan trọng cho người nông dân nhất là đối với đồng bào dân tộc miền núi

Tây Nguyên là một trong các vùng có điều kiện thuận lợi để trồng sắn và nuôi tằm Người dân sống chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp và thu nhập còn thấp, ngành nghề nông thôn còn hạn chế Chính vì vậy dự án “Hỗ trợ nông dân nghèo Tây

Trang 13

Nguyên qua sản xuất tơ lụa” VIE – JFPR 9033 ra đời nhằm mục tiêu tạo việc làm, cải thiện thu nhập và nâng cao mức sống của người dân Dự án được phê duyệt vào ngày 12/10/2004 với sự tài trợ của ngân hàng Phát Triển Châu Á, được Bộ Nông Nghiệp

và phát Triển Nông Thôn trực tiếp điều hành, chủ dự án là ban quản lý các dự án lâm nghiệp tỉnh Gia Lai Thời gian thực hiện dự án là ba năm (từ 05/2005 đến tháng 05/2008)

Cho đến thời điểm nghiên cứu, dự án “Hỗ trợ nông dân nghèo Tây Nguyên qua sản xuất tơ lụa” VIE – JFPR 9033 vẫn đang trong giai đoạn thực hiện nên chưa thể kết luận một cách đầy đủ, chính xác về tính hiệu quả và lợi ích mà dự án mang lại Muốn

dự án có kết quả tốt thì Ban quản lý dự án cần phải nắm được tình hình hoạt động của

dự án diễn ra như thế nào để có thể xúc tiến và điều chỉnh các công việc của dự án một cách hợp lý Trong quá trình triển khai và quản lý, dự án gặp những thuận lợi và khó khăn gì? Dự án có hoàn thành các công việc và mục tiêu đề ra hay không? Và bước đầu dự án góp phần làm thay đổi thu nhập của người dân ra sao? Để trả lời cho các

câu hỏi trên, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Tìm hiểu hoạt động của dự án “Hỗ

trợ nông dân nghèo Tây Nguyên qua sản xuất tơ lụa” VIE – JFPR 9033 Trường hợp nghiên cứu: xã Cửu An và xã Tú An – thị xã An Khê – tỉnh Gia Lai”, với mong

muốn đóng góp những thông tin cần thiết cho Ban quản lý dự án và địa phương, đồng thời đưa ra những giải pháp khắc phục những khó khăn cho bản thân dự án và các dự

án phát triển nông thôn khác sẽ được thực hiện tốt hơn trong tương lai tại Việt Nam

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

- Tìm hiểu hoạt động của dự án diễn ra tại xã Cửu An và xã Tú An

- Bước đầu đánh giá hiệu quả của hoạt động sản xuất tằm sắn và tác động của dự

án đến đời sống của người dân

- Tìm hiểu thái độ và nhận thức của cộng đồng địa phương về dự án

- Xem xét những yếu tố ảnh hưởng đến thành công, thất bại của dự án, qua đó tìm ra những khó khăn và đưa ra giải pháp nhằm khắc phục những khó khăn khi thực hiện dự án

1.3 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài được thực hiện trên địa bàn xã Cửu An và xã Tú An, thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai Thời gian thực hiện từ 26/03/2007 đến 23/06/2007

Trang 14

1.4 Cấu trúc luận văn

Luận văn gồm có 5 chương:

Chương 1: Trình bày sự cần thiết, lý do và mục tiêu nghiên cứu của đề tài Chương 2: Mô tả tổng quan về:

- Vấn đề nghiên cứu: Giới thiệu sơ nét về dự án, trình bày các mục tiêu chung và mục tiêu cụ thể của dự án, vài nét về đối tượng, tiêu chuẩn lựa chọn, quyền lợi, nghĩa vụ của người hưởng lợi và các hoạt động cơ bản của dự án

- Địa bàn nghiên cứu: Trình bày tổng quan về điều kiện tự nhiên, kinh tế

xã hội của xã Cửu An và Tú An

Chương 3: Trong chương này trình bày khái niệm về dự án phát triển nông thôn, một số vấn đề khi phân tích kinh tế - xã hội của dự án phát triển nông thôn, khái niệm, tầm quan trọng của kinh tế hộ và giới thiệu một cách có hệ thống các phương pháp nghiên cứu mà luận văn đang sử dụng để đạt được các mục tiêu nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận, là phần mô tả các thông tin đã thu thập được, và phân tích các nội dung như: Tình hình hoạt động của dự án, phân tích đặc điểm của các hộ được điều tra, phân tích các kết quả và hiệu quả của việc nuôi tằm sắn, trình bày vai trò của dự án trong việc giải quyết lao động nông nhàn và mức độ chấp nhận của người dân về dự án Qua đó phân tích những khó khăn khi thực hiện dự

án và đưa ra các giải pháp để dự án thực hiện tốt hơn trong tương lai

Chương 5: Dựa trên các kết quả đạt được rút ra các kết luận về quá trình nghiên cứu đồng thời đưa ra các kiến nghị cho địa phương, Ban quản lý dự án nhằm nâng cao tính hiệu quả của dự án

Trang 15

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN 2.1 Vài nét về địa bàn nghiên cứu

Xã Cửu An và Tú An là hai xã nằm về hướng Đông Bắc thị xã An Khê - tỉnh Gia lai Sản xuất nông nghiệp vẫn giữ vai trò quan trọng Cùng với việc ngày càng đa dạng hơn về cây trồng vật nuôi hai xã đã biết áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất nhằm đem lại hiệu quả cao hơn Tuy nhiên do điều kiện về thời tiết khí hậu không được ổn định nên đã làm giảm năng suất của một số loại cây trồng chủ lực Để thấy rõ hơn đề tài xin tiến hành mô tả vài nét về điều kiện tự nhiên và kinh tế

b) Khí hậu thời tiết

Khí hậu nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa khí hậu cao nguyên mang sắc thái Đông Trường Sơn, mùa mưa thường đến muộn và kết thúc muộn hơn bên sườn Tây Trường Sơn từ một đến hai tháng Một năm có hai mùa rõ rệt

Mùa mưa từ tháng 6 đến tháng 11, có khi kéo dài đến tháng 12, lượng mưa tập trung vào các tháng mùa mưa thường chiếm 60-70% lượng mưa hàng năm

Lượng mưa trung bình năm 1.202 – 1.255mm

Trang 16

Hướng gió thịnh hành vào mùa khô là Đông Bắc, mùa mưa là Tây Nam, tốc độ gió thịnh hành 3,5 m/s, cao nhất có thể lên tới 20 m/s

c) Thuỷ văn

Xã có sông Ba là con sông lớn chảy qua, ngoài ra còn có rất nhiều nhánh suối

là lưu vực của sông Ba Đây là nguồn dự trữ và cung cấp nước mạch chủ yếu của xã cho các ngành sản xuất, dịch vụ cũng như sinh hoạt của nhân dân trong xã Sông Ba là sông lớn chảy theo hướng Bắc Nam, lưu tốc dòng chảy v = 1,5m/s, cường độ lũ mạnh,

có giá trị về phát triển thuỷ điện

Qua nghiên cứu nhiều năm của trạm thuỷ văn An Khê cho thấy mực nước dao động giữa hai mùa là 8,15m, mức thấp nhất vào mùa khô là 1,06m chênh lệch tới 7,09m Đây là điều kiện bất lợi cho việc khai thác nước dùng cho sinh hoạt Hơn nữa khi lũ về thì mực nước sông rất đục, đòi hỏi phải có dây chuyền xử lý phù hợp mới đảm bảo vệ sinh

d) Thổ nhưỡng

Có các nhóm đất chính sau :

- Xám và xám nâu hình thành trên đá granít, riolit, sa thạch

- Đất đỏ vàng trên đá granit, riolit

- Đất đỏ vàng trên đá granit và phiến thạch mica

- Đất dốc tụ thung lũng

- Đất nâu thẫm trên sản phẩm phong hoá Bazan

- Đất mòn trơ sỏi đá

- Đất phù sa không được bồi hàng năm

Trong số đó, giữ vai trò quan trọng nhất là đất xám và xám nâu vì nó thích hợp cho cây công nghiệp ngắn ngày (mía, vừng, thuốc lá, sắn, đậu đỗ các loại) Ngoài ra đất phù sa được phân bổ chủ yếu ở ven sông suối, thích hợp cho cây lúa nước, cây công nghiệp ngắn ngày (mía, lạc, cây thực phẩm )

Còn lại chất lượng đất ở mức trung bình, phần lớn có tầng canh tác dày, trừ một

số ít đất đồi núi do để trọc quá lâu, tầng đất mặt bị bào mòn sỏi đá nổi lên mặt thích hợp cho phát triển cây nông – lâm nghệp theo hướng đa dạng sinh học với nhiều cây trồng vật nuôi phong phú

Trang 17

B Điều kiện kinh tế - xã hội

Dân số toàn xã có 1.445 hộ với khẩu 6.882, chia thành 05 thôn Tỷ lệ tăng dân

số tự nhiên là 1,25% Thu nhập bình quân đầu người là 4.200.000đ/người/năm Theo tiêu chí mới là 251 hộ nghèo chiếm 19,5% tổng số hộ của toàn xã

đó lạc 49 ha, thuốc lá 7 ha, mía 412 ha Tổng diện tích rừng 363,3 ha Trong đó rừng

tự nhiên 78,4 ha, rừng trồng 284,90 ha Nhìn chung ngành trồng trọt đa dạng về cây trồng nhưng do sự ảnh hưởng của thời tiết và hạn hán kéo dài, sâu bệnh làm giảm năng suất của một số loại cây trồng chủ lực như mất trắng 27 ha lúa 1 vụ, mất trắng 8 ha dưa, bí

Toàn xã có 3.167 con, trong đó đàn trâu 274 con, đàn bò 2.893 con (bò lai 1.820 con đạt 62,9 % tổng đàn) Ngoài ra, địa phương còn phát triển các loại gia súc, gia cầm khác Đàn heo 2.865 con Đàn dê 270 con Gia cầm 17.048 con Hiện nay, địa phương đã tăng cường công tác phòng chống dịch cúm gia cầm đến với quần chúng nhân dân kịp thời và tích cực

- Công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp

Hiện nay, trên toàn xã có 04 lò gạch, 45 chiếc xe độ chế, 05 chiếc xe tải, 14 máy xay xác lương thực, thực phẩm, 12 chiếc tuốt lúa, 25 máy cày loại nhỏ, 05 máy cày loại lớn chủ yếu phục vụ ở địa phương

b) Cơ sở hạ tầng

Được Ủy Ban Nhân Dân thị xã cho chủ trương và kinh phí nâng cấp cải tạo các công trình thuỷ lợi trên địa bàn xã với tổng kinh phí dự toán được duyệt 464.035.000đ Tổng công trình được cải tạo, nâng cấp là 12 hạng mục/8 công trình thuỷ lợi Nâng cấp đường cấp phối và thi công các đường bê tông xi măng với nguồn hỗ trợ kinh phí từ tỉnh và nhân dân địa phương đóng góp Sửa chữa giao thông nông thôn từ nguồn sự

Trang 18

nghiệp giao thông, xây dựng hội trường, giếng nước Ủy Ban Nhân Dân xã, sân bê tông

xi măng Ủy Ban Nhân Dân xã, chợ xã Cửu An, tường rào lưới P40 và công trình vệ sinh trường Hoàng Hoa Thám, xây dựng trường mẫu giáo Cửu Định Địa chính xã phối hợp với phòng quản lý đô thị thị xã An Khê tiến hành cắm mốc các tuyến đường quy hoạch của khu trung tâm xã, đi khảo sát tình hình thực tế đất của từng hộ gia đình

có đất nằm trong khu quy hoạch trung tâm xã Phối hợp với các ngành các cấp mở rộng các tuyến đường sự nghiệp giao thông, mở đường giao thông nông thôn tạo điều kiện thuận lợi cho địa phương phát triển

Toàn xã có 04 trường học các cấp, 01 trường Trung học cơ sở với tổng số học sinh là 503 và 34 giáo viên, 02 trường tiểu học với tổng số học sinh 818 và 45 giáo viên, 01 trường mẫu giáo với 217 học sinh và 09 giáo viên

2.1.2 Xã Tú An

A Điều kiện tự nhiên

Xã Tú An là 1 xã thuộc thị xã An Khê, nằm về phía Đông Bắc thị Xã An Khê, cách trung tâm thị xã 20 km, có đường tỉnh lộ 669 xuyên qua Tổng diện tích tự nhiên

của xã là 6.326,95 ha Khí hậu thời tiết ở hai xã là như nhau nên đề tài đã trình bày

như trên chung cho hai xã

B Điều kiện kinh tế - xã hội

Gồm 1.635 hộ, 8.173 nhân khẩu, với tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là 1,85% Xã chia thành 11 thôn Kinh và 3 Làng đồng bào dân tộc Bahnar Làng Hoà Bình có 80 hộ với 421 nhân khẩu Làng Pơnang có 31 hộ với 159 nhân khẩu Làng Nhoi có 27 hộ với

145 nhân khẩu Đồng bào làng Hoà Bình và làng Nhoi đã định cư trước năm 1996, làng Pơnang mới di dời về định cư năm 2000 đến nay Cuộc sống tương đối ổn định,

đã xoá được hộ đói và giảm hộ nghèo toàn xã từ 20% xuống còn 7,6% Riêng đời sống

3 làng hiện nay, làng Hòa Bình còn 43 hộ nghèo chiếm 54%, làng Pơnang còn 6 hộ nghèo chiếm 19%, làng Nhoi còn 14 hộ nghèo chiếm 52% Hầu hết đồng bào dân tộc thiểu số 3 làng làm nghề nông và biết áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong trồng trọt như cày máy, gieo sạ lúa nước và trồng các cây sắn, mía, ngô, đậu để tăng thu nhập Tổng thu nhập tính bằng giá trị 4.000.000đ/người/năm, đồng bào 3 làng 1.500.000đ/người/năm Tổng số hộ nghèo năm 2006 theo tiêu chí mới là 165 hộ với

638 nhân khẩu chiếm 10,09% tổng số hộ toàn xã

Trang 19

a) Hoạt động sản xuất

- Nông nghiệp

Tổng diện tích gieo trồng toàn xã là 3.035 ha Tổng sản lượng cây trồng có hạt đạt 2.721 tấn Người dân đã chuyển đổi một số diện tích cây trồng của vụ Đông Xuân sang sản xuất vụ mùa đảm bảo mang lại hiệu quả kinh tế cao, bắp lai, sắn cao sản Do tình hình nắng hạn kéo dài ở thời điểm 6 tháng đầu năm nên đã làm cho 20 ha lúa tăng

vụ bị mất trắng, 50 ha mía bị bọ hung xén tóc làm giảm năng suất trên 50% Dưa hấu,

bí đỏ giá cả không ổn định, nhân dân bị thua lỗ nặng Tuy nhiên đến những tháng cuối năm thời tiết có mưa, cây trồng phát triển trở lại, cộng với giá cả thị trường ổn định, một số nông sản được các nhà máy tiêu thụ mạnh nên nhân dân có thu nhập ổn định Phối hợp với lâm trường Bắc An Khê bảo vệ rừng trồng và rừng tự nhiên Hòn Bùn – Núi Hai Ngoài, làm tốt công tác phòng cháy, chữa cháy, kiểm tra, ngăn chặn việc lấn chiếm phá rừng làm nương rẫy

Tổng số đàn bò 3.400 con (trong đó bò lai 2.550 con đạt 75% tổng đàn), đàn trâu là 250 con, heo 3.000 con, gia cầm 18.500 con đang có chiều hướng giảm do một

số tỉnh trong nước đang có dịch cúm, người dân không đầu tư chăn nuôi Dịch long móng lở mồm ở trâu bò có xảy ra ở thôn An Thạch nhưng đã phối hợp kịp thời với trạm thú y điều trị kịp thời không để lây lan tổ chức tiêm phòng vác xin tụ huyết trùng

ở trâu, bò 02 đợt với 2.500 liều

- Công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp

Hiện nay, trên toàn xã có 03 lò gạch, 25 chiếc xe độ chế, 04 chiếc xe tải, 14 máy xay xát lương thực, thực phẩm, 12 chiếc tuốt lúa, 12 máy cày loại nhỏ, 05 máy cày loại lớn chủ yếu phục vụ ở địa phương

b) Cơ sở hạ tầng

Ủy Ban Nhân Dân thị xã đầu tư nạo vét lòng hồ bàu Mới Tú Thủy 1, bàu Cây Cui Cửu Đạo 2 Chương trình sự nghiệp giao thông được thị xã đầu tư 8 km đã hoàn thành nhiều tuyến đường Đầu tư xây dựng các công trình hạ tầng cơ sở, đường giao thông cấp phối đất đồi đã đưa vào sử dụng

Toàn xã có 1 trạm y tế, 2 y sỹ, 2 y tá trạm, 1 nữ hộ sinh, 11 y tá thôn Công tác chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân, tiêm chủng trong năm đã thực hiện tốt, tỷ lệ tiêm chủng hàng năm đạt 98% Tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng 10%

Trang 20

Cơ sở giáo dục trường lớp đã được đầu tư xây dựng, ổn định công tác dạy và học, tổ chức tốt kỳ thi phổ cập tiểu học đạt 100%, học sinh lên lớp và thi tốt nghiệp Trung học cơ sở đạt 88%, tỷ lệ tốt nghiệp Trung học cơ sở năm 2006 đạt 93% Xã có

01 trường Trung học cơ sở có 20 lớp và 49 giáo viên với tổng số học sinh 735 em, 02 trường tiểu học có 32 lớp và 56 giáo viên với tổng số học sinh 1.150 em 01 trường mẫu giáo có 63 lớp và 09 giáo viên với 279 em

2.1.3 Nhận xét chung về địa bàn nghiên cứu

Xã Cửu An: Trong những năm gần đây và năm vừa qua thời tiết thay đổi thất

thường và khắc nghiệt, hạn hán kéo dài, sâu bệnh hại làm giảm năng suất một số loại cây trồng chủ lực, chăn nuôi cũng có chiều hướng giảm, đặc biệc là đàn gia cầm Trâu,

bò, dê, phát triển tương đối tốt Ảnh hưởng lớn đến sản xuất nông nghiệp của địa phương và các mục tiêu kinh tế xã hội khác Nhưng được sự quan tâm lãnh đạo chỉ đạo kịp thời của các cấp, các ngành nên đời sống vật chất và tinh thần của địa phương đang ngày càng đổi mới và chuyển biến tích cực, kinh tế xã hội phát triển tương đối ổn định an ninh chính trị giữ vững Đời sống nhân dân được ổn định và phát triển

Xã Tú An: Tuy có những khó khăn nhất định về thời tiết hạn hán kéo dài

nhưng giá trị nông nghiệp, thu ngân vẫn đảm bảo Việc đầu tư phát triển được triển khai kịp thời nhiều công trình đã được đưa vào sử dụng, góp phần làm chuyển dịch cơ cấu địa phương Ba làng đồng bào được quan tâm hơn về nhiều mặt như cấp giống cây trồng, các mặt chính sách trợ cước, trợ giá, điện sinh hoạt, đường giao thông Nhất là chương trình xây dựng nhà ở nước sinh hoạt được triển khai đồng bộ mang lại kết quả cao

Sự khác biệt giữa hai xã

Kết quả khảo sát cho thấy đời sống của các hộ dân ở xã Cửu An cao hơn xã Tú

An về các mặt ăn ở, đi lại và sinh hoạt Có một sự khác biệt lớn giữa hai xã đó là xã Tú

An có 3 làng đồng bào dân tộc Bahnar tập trung sinh sống, còn đối với xã Cửu An chỉ tập trung những hộ Kinh

Trang 21

2.2 Giới thiệu tóm tắt về dự án

Dự án “Hỗ trợ nông dân nghèo Tây Nguyên qua sản xuất tơ lụa” VIE – JFPR

9033 được sự tài trợ của ngân hàng Phát Triển Châu Á, Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn trực tiếp điều hành, chủ dự án là ban quản lý các dự án lâm nghiệp tỉnh Gia Lai Với tổng kinh phí gần 2 tỷ đồng Đây là dự án kỹ thuật nhằm tạo sinh kế, giảm nghèo một cách bền vững cho người nghèo và người dân tộc thiểu số góp phần bảo vệ và phát triển rừng bền vững ở Tây Nguyên, dự án chuyển giao những kỹ thuật của quá trình sản xuất tằm sắn để khi kết thúc dự án, không có sự hỗ trợ nào thì người dân vẫn có thể tự lực sản xuất Đây là một dự án thực sự có ý nghĩa quan trọng gợi mở

ra một hướng mới nhằm tạo thêm thu nhập cho người dân trên cơ sở tận dụng nguồn nguyên liệu phụ (lá sắn) tại địa phương

a) Mục tiêu chung của dự án

Mục tiêu lâu dài của dự án là việc giảm nghèo một cách bền vững thông qua sự phát triển sinh kế có sự tham gia trực tiếp của người nghèo ở Tây nguyên Mục tiêu này đạt được thông qua: (1) sử dụng phương pháp lập kế hoạch, thực hiện, và theo dõi các hoạt động của dự án có sự tham gia; (2) Trình diễn các phương pháp giảm nghèo bền vững thông qua việc lập kế hoạch và tổ chức từ cơ sở để đầu tư phát triển sinh kế thay thế, xây dựng kỹ năng, các vấn đề kỹ thuật và cơ sở hạ tầng liên quan; và (3) tăng cường sự liên kết giữa cộng đồng vùng sâu, vùng xa với thị trường trong nước và quốc

tế

b) Mục tiêu cụ thể của dự án

1 Hỗ trợ nuôi tằm ăn lá sắn và sản xuất lụa tơ để giảm nghèo một cách bền vững cho người nghèo và người dân tộc thiểu số chịu nhiều thiệt thòi ở Tây Nguyên để

họ tham gia bảo vệ và phát triển rừng một cách tốt hơn

2 Hỗ trợ phát triển cơ sở hạ tầng thiết yếu cho sản xuất và tiếp thị lụa tơ tằm ăn

lá sắn ở các vùng nghèo và hẻo lánh

3 Tăng cường năng lực cho các hộ nghèo người dân tộc thiểu số thông qua đào tạo và chuyển giao công nghệ thích hợp

4 Gắn vùng hẻo lánh với các thị trường quốc gia và quốc tế mới

5 Đa dạng hóa sinh kế

Trang 22

6 Hỗ trợ quá trình kế hoạch hóa thu hút sự tham gia của người dân có tính tới các yếu tố xã hội để lôi cuốn cả người nghèo, người dân tộc thiểu số và chủ hộ gia đình là phụ nữ…

7 Phát triển các phương cách để tạo dựng các sinh kế bền vững có thể nhân rộng được cho dự án vốn vay liên quan

c) Đối tượng, tiêu chuẩn lựa chọn, quyền lợi và nghĩa vụ của người hưởng lợi

1 Đối tượng hưởng lợi: Ai cũng có quyền tham gia vào dự án, tuy nhiên dự án

ưu tiên cho những hộ nghèo và người đồng bào dân tộc

Một số tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng hưởng lợi

- Ưu tiên cho hộ nghèo, hộ đồng bào dân tộc

- Có diện tích trồng sắn từ 0,5ha trở lên

- Có lao động nhàn rỗi và chăm chỉ

- Tự nguyện tham gia

2 Một số quyền lợi cơ bản của người hưởng lợi: Khi tham gia dự án, đối tượng tham gia được cung cấp miễn phí một số dụng cụ thiết yếu để nuôi tằm, như: Nong, đũi, kéo cắt kén,…và trứng giống trong suốt thời gian thực hiện dự án, được tập huấn

và hướng dẫn về quy trình kỹ thuật nuôi tằm sắn, chọn lọc và sơ chế kén Thêm vào

đó dự án sẽ có trách nhiệm liên kết thị trường để tiêu thụ hết sản phẩm vỏ kén người dân sản xuất ra Giá thu mua sẽ phụ thuộc vào giá thị trường, được điều chỉnh với sự thảo thuận giữa nhà thương mại và đại diện người sản suất

3 Trách nhiệm của người hưởng lợi

- Tạo đủ nguồn thức ăn cho tằm

- Thực hiện tốt công việc nuôi tằm theo sự hướng dẫn của cán bộ kỹ thuật để có thể đạt được năng xuất kén cao nhất

- Phân loại, sơ chế kén đảm bảo chất lượng và mang đến địa điểm thu mua

d) Các hoạt động cơ bản của dự án

1 Xác định nhu cầu và hỗ trợ mua sắm trang thiết bị, vật tư, dụng cụ,…cần

thiết cho tất cả các hoạt động của dự án

Trang 23

2 Đào tạo chuyển giao các kỹ thuật như: thâm canh sắn, kỹ thuật nuôi tằm ăn lá sắn, chọn lọc, phân loại và sơ chế, giám sát chất lượng kén, kỹ thuật nhân giống tằm sắn, nhuộm màu tự nhiên, kéo sợi thủ công và kỹ thuật dệt và sản xuất hàng thủ công

3 Hỗ trợ tổ chức và giám sát sản xuất (sản xuất kén, sợi, hàng thủ công,…)

4 Xúc tiến thương mại và hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm, thiết lập mạng lưới thị trường

5 Nâng cao năng lực cho cán bộ địa phương và người dân tham gia dự án

6 Hỗ trợ quản lý, giám sát và phát triển “Quỹ hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm”

Trang 24

CHƯƠNG 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Một số nét khái quát về dự án phát triển nông thôn

3.1.1 Mục tiêu của dự án

Mục tiêu của dự án là tạo ra những thay đổi về thực chất nông hộ, các doanh nghiệp và đời sống của dân cư nông thôn, điều chỉnh các nhu cầu thực, các vấn đề thực cũng như các khả năng thực của những người hưởng lợi chủ yếu Một dự án phát triển nông thôn phải góp phần làm cho nông thôn thêm văn minh thêm sinh lợi, góp phần không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, cải tiến bộ mặt kinh tế - xã hội của đất nước, được thể hiện qua các chỉ tiêu: giá trị gia tăng cho nền kinh tế, tăng năng suất lao động xã hội, tạo công ăn việc làm cho người lao động, xóa đói giảm nghèo và phát triển thêm nhiều ngành nghề cho người dân

3.1.2 Phân tích kinh tế - xã hội của dự án phát triển nông thôn

Với một dự án trước hết phải quan tâm tới tổng số lợi nhuận hoặc khả năng sinh lợi cho toàn xã hội và quan tâm ai trong xã hội đóng góp nguồn lực cho dự án và ai sẽ hưởng lợi từ dự án Việc phân tích kinh - tế xã hội của dự án phát triển nông thôn nhằm đánh giá tác động của một dự án với toàn xã hội, đánh giá sự đóng góp của dự

án vào việc thực hiện mục tiêu chung của nhà nước – nhân danh quyền lợi mọi người trong quốc gia, đánh giá sự đóng góp của dự án vào việc tăng thu nhập quốc dân ròng, mục tiêu về an toàn lương thực độc lập kinh tế, mục tiêu về công bằng xã hội, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững Bên cạnh đó việc phân tích các mặt xã hội của dự

án nhằm xác định các điểm yếu, các mâu thuẫn, các biến động và các ảnh hưởng tốt xấu mà dự án có thể gây ra cho xã hội từ đó có thể thiết lập hệ thống và có biện pháp

bổ sung để khắc phục ngăn chặn Mỗi dự án đều có những đối tượng phục vụ riêng, sự tham gia và chấp nhận của các đối tượng này rất quan trọng Bởi vậy ngoài tính hấp dẫn về kinh tế, kỹ thuật dự án cần được xã hội chấp nhận Một dự án phát triển nông thôn sẽ đáng giá nếu như nó giải quyết được việc làm cho người dân, cải thiện được

Trang 25

các vấn đề về văn hóa giáo dục, cơ cấu xã hội, dân số và tăng thu nhập cho nguời dân hay nói cách khác có thể làm giảm khoảng cách giàu nghèo trong xã hội Thực tế cho thấy nếu không tính toán một cách hệ thống quan hệ giữa kinh tế - xã hội thì đôi khi sự thua thiệt về xã hội và sẽ vượt cái lợi do dự án đưa lại

3.2 Kinh tế nông hộ

3.2.1 Khái niệm

Kinh tế nông hộ là đơn vị sản xuất và tiêu dùng của nền kinh tế nông thôn, kinh

tế nông hộ dựa chủ yếu vào lao động gia đình để khai thác đất và các yếu tố sản xuất khác nhằm đạt thu nhập thuần cao nhất Kinh tế nông hộ là đơn vị kinh tế tự chủ, căn bản dựa vào sự tích lũy, tự đầu tư để sản xuất kinh doanh nhằm thoát khỏi cảnh nghèo đói và vươn lên giàu có, từ tự túc tự cấp vươn lên sản xuất hàng hóa gắn với thị trường

3.2.2 Vai trò của kinh tế nông hộ

Do nông hộ có tính chất tự cung tự cấp đảm bảo nhu cầu lương thực cho gia đình Vì vậy vai trò của kinh tế hộ là thúc đẩy quá trình lưu thông trao đổi hàng hóa đưa nền kinh tế đi lên, do đó để phát triển nền kinh tế nhà nước cần phải chú trọng đến nền kinh tế nông hộ Đối với những nền kinh tế nông nghiệp như nước ta thì nền kinh

tế quốc gia sẽ phụ thuộc vào rất nhiều vào nền kinh tế nông hộ, hay nói cách khác thì nền kinh tế nông hộ là nền tảng của nền kinh tế quốc gia, khi nền kinh tế nông hộ phát triển sẽ là dây chuyền thúc đẩy các thành phần kinh tế khác đi lên và cả nền kinh tế

nhà nước

3.2.3 Các thành phần cấu thành thu nhập nông hộ

Không như tất cả các ngành nghề khác ngoài nông nghiệp, thu nhập nông hộ là phần còn lại sau khi trừ đi tất cả các chi phí có liên quan mua ngoài như: CPVC, CPLĐ thuê Phần còn lại của giá trị sản phẩm chính là thu nhập của người lao động Ở

hộ nông dân thu nhập chủ yếu của họ là dựa vào công sức của họ bỏ ra (lấy công làm lời) Đối với kinh tế hộ chỉ tiêu thu nhập là quan trọng nhất, khoản thu nhập đó có thể đảm bảo chi tiêu cho cuộc sống của hộ

Trong nông thôn thu nhập của người dân chủ yếu dựa vào thu nhập trong nông nghiệp Nhưng không hẳn tất cả là từ nông nghiệp mà trong đó còn có thu nhập từ phi nông nghiệp, tiền lương, tiền công chức, phụ cấp

Trang 26

Thu nhập trong nông nghiệp: Nguồn thu này có thể gồm các ngành nghề trong nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản hay làm thuê trong nông nghiệp

Thu nhập khác như: Tiền lương, tiền trợ cấp, tiền thu từ hoạt động dịch vụ, thương mại

3.2.4 Các chỉ tiêu tính toán kết quả và hiệu quả kinh tế nông hộ

a) Chỉ tiêu về thu nhập

Theo như khái niệm thì thu nhập là phần còn lại của giá trị sản phẩm sau khi trừ

đi các khoản chi phí thuê ngoài

GTTSL = Tổng sản lượng * Đơn giá

b) Chỉ tiêu về lợi nhuận

Lợi nhuận trong sản xuất là phần thu được sau khi trừ hết chi phí sản xuất, trong đó chi phí lao động nhà cũng được xem như một loại chi phí

c) Tỷ suất lợi nhuận/chi phí: Là chỉ tiêu so sánh giữa lợi nhuận thu được với

chi phí đầu tư cho sản xuất Chỉ tiêu này phản ánh cứ một đồng chi phí sản xuất bỏ ra

để đầu tư thì sẽ mang lại bao nhiêu đồng lợi nhuận cho người sản xuất Nếu tỷ suất lợi nhuận càng cao thì hiệu quả thu được từ đầu tư càng lớn

Trang 27

d) Tỷ suất lợi nhuận/doanh thu: Là chỉ tiêu so sánh giữa lợi nhuận thu được

với doanh thu hay giá trị tổng sản lượng thu được Chỉ tiêu này phản ánh cứ một đồng doanh thu thu được thì có bao nhiêu đồng lợi nhuận được tạo ra

3.3 Phương pháp nghiên cứu

3.3.1 Phương pháp thu thập số liệu

a) Số liệu thứ cấp: Các số liệu được thu thập từ Ủy Ban Nhân Dân hai xã Cửu

An và Tú An là các báo cáo về dự án do các tổ trưởng tổ dự án cung cấp

b) Số liệu sơ cấp: Bằng những bảng hỏi đã soạn sẵn cho 60 hộ có tham gia và

không tham gia dự án Việc tiến hành chọn mẫu một cách ngẫu nhiên phân tầng Trong

đó có 20 hộ không tham gia dự án (10 hộ dân tộc và 10 hộ Kinh), và 40 hộ tham gia dự

án (gồm có 20 hộ dân tộc và 20 hộ Kinh) Vì trong quá trình tiến hành điều tra gặp nhiều khó khăn như đường vào xã là đường đất đỏ đang trong giai đoạn làm đường, trời mưa nên rất khó khăn cho việc đi lại, thêm vào đó an hinh trật tự tại các làng dân tộc không được đảm bảo, thời gian không cho phép, số hộ sản xuất lại đông bản thân không thể điều tra hết toàn bộ

Ngoài ra, phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia của người dân (PRA) cũng được thực hiện trong nghiên cứu này, cụ thể là sử dụng công cụ lịch thời vụ để xác định mùa vụ gieo trồng ở địa phương, xác định mức độ sử dụng lao động, nguồn lực của địa phương trong mối quan hệ với thời gian, thời tiết trong năm cho các hoạt động sản xuất

3.3.2 Phương pháp phân tích số liệu

Tiến hành xác định các chỉ tiêu về kết quả hiệu quả kinh tế của các hộ có tham gia và không tham gia dự án Đánh giá, so sánh kết quả thực hiện dự án

Dùng phần mềm Word, Excel để nhập và xữ lý số liệu

Sử dụng phương pháp mô tả, giải thích để phân tích số liệu

Trang 28

Hình 3.1 Khung Phân Tích Dữ Liệu

Nguồn tin: Trương Thị Hải Vân, 2007

So sánh trong nhóm (Theo thời gian: trước và sau khi có dự án)

Trang 29

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1 Mô tả hệ thống tổ chức của dự án

Qua các tài liệu thu thập được từ các tổ trưởng và ban điều hành dự án tại địa phương, cùng với việc khảo sát thực tế, kết quả cho thấy giữa các “mắt xích” của hệ thống có sự tiếp nhận và phản hồi thông tin lẫn nhau để kịp thời có những điều chỉnh cần thiết, nhằm đạt được các mục tiêu của dự án và vai trò của Ban điều hành dự án xã

và các tổ là hết sức quan trọng Đó là những người trực tiếp thực hiện các hoạt động và

có ý nghĩa quyết định đến tính hiệu quả của dự án

Nhiệm vụ của Ban là phối hợp chặt chẽ với Tư vấn kỹ thuật, Ban QLDA tỉnh tổ chức thực hiện các hoạt động của dự án trên địa bàn như: Giám sát chất lượng, thu mua, bảo quản kén và bán kén cho nhà thương mại Sử dụng, quản lý và phát triển quỹ

hỗ trợ tiêu thụ kén Hướng dẫn kỹ thuật cho các hộ nuôi tằm Qui chế hoạt động của Ban Điều hành xã sẽ do Ban QLDA tỉnh đề ra có sự tham khảo ý kiến của Ban QLDA

TW và Tổ Tư vấn

Các tổ nuôi tằm gồm từ 20 – 25 thành viên, tổ trưởng được bầu bởi các thành viên trong tổ và có nhiệm vụ: Nhận và cấp phát dụng cụ, vật tư, hỗ trợ hướng dẫn kỹ thuật, giám sát việc nuôi tằm và sơ chế kén tại các hộ trong tổ, tiếp nhận các ý kiến, nguyện vọng của các thành viên và kịp thời báo cáo các khó khăn cho Ban điều hành

dự án xã (Gồm có: Đại diện UBND xã, đại diện hội phụ nữ xã, đại diện hội nông dân

xã, cán bộ khuyến nông, khuyến lâm xã, kế toán ngân sách xã), Ban QLDA tỉnh hoặc

Tư vấn

Trang 30

Ban QLDA tỉnh (PPMU)

Ban điều hành

dự án xã

Tổ nuôi tằm I,II,III Tổ kéo sợi Tổ dệt vải hàng TCTổ làm

Trang 31

4.2 Phân tích tình hình hoạt động của dự án

Để thấy dự án đã diễn ra như thế nào đề tài đã tiến hành tìm hiểu và phân tích các hoạt động của dự án tại hai xã Kết quả điều tra cho thấy đây là một dự án nhỏ nhưng với rất nhiều hoạt động, từ đào tạo chuyển giao kỹ thuật đến tổ chức sản xuất,

sơ chế, tiêu thụ sản phẩm, xây dựng hạ tầng kỹ thuật, cung cấp thiết bị, dụng cụ, được triển khai trên địa bàn hai xã Cửu An và Tú An thị xã An Khê tỉnh Gia Lai với số lượng đối tượng hưởng lợi 150 hộ nông dân

4.2.1 Tình hình thực hiện chương trình đào tạo và tập huấn kỹ thuật

Đây là hoạt động chính và xuyên suốt trong quá trình triển khai dự án, để đến khi dự án kết thúc hoặc không còn sự hỗ trợ của dự án thì người dân vẫn có thể duy trì

và phát triển sản xuất tằm sắn năng cao thu nhập cho gia đình bằng chính năng lực của

1 Thâm canh sắn và nuôi tằm

a Tiểu giáo viên

b Nông dân

23

130

115,00 100,00

12/2005 2-8/2006

2 Phân loại, sơ chế và bảo quản kén

4 Kéo sợi thủ công

a Tiểu giáo viên

b Nông dân

4

18

100,00 90,00

9,10/2006 11/2006

12/2006 12/2006

Nguồn tin: Báo cáo dự án tằm sắn, 2006

Trang 32

a) Đào tạo, tập huấn kỹ thuật thâm canh sắn và nuôi tằm sắn

Kỹ thuật thâm canh sắn và nuôi tằm được đào tạo cho hai đối tượng đó là tiểu giáo viên và nông dân Tìm hiểu thực tế tại hai xã cho thấy vào tháng 12 năm 2005, 23 người là cán bộ địa phương đã tham gia khóa tập huấn cho tiểu giáo viên, so với kế hoạch đạt 115% Các tiểu giáo viên này đã được trang bị những kiến thức cơ bản về kỹ thuật nuôi tằm, từ khâu chuẩn bị dụng cụ, thu hái lá sắn… đến khâu thu hoạch và chọn lựa kén Sau khi đào tạo cho tiểu giáo viên thì từ tháng 2 đến tháng 8 năm 2006, tiến hành đào tạo cho nông dân, với 130 người tham dự đạt 100% so với kế hoạch Những người dân tham gia khóa tập huấn là những người đã lớn tuổi, do đó mong muốn của

họ là trực tiếp làm và trao đổi kỹ thuật để có thể nhớ được lâu Chính vì vậy mà phương pháp đào tạo “cùng nhau làm trao đổi và giải thích” luôn được vận dụng xuyên suốt quá trình chuyển giao kỹ thuật cho người nông dân Thời gian mỗi khoá đào tạo từ 25-30 ngày (từ khi trứng nở đến khi tằm chín cho lên né làm kén) Đối với người dân tại hai xã cây sắn là cây trồng chủ lực vì vậy việc đào tạo kỹ thuật thâm canh sắn, người dân dễ dàng tiếp thu và việc nuôi tằm ăn lá sắn là một việc đơn giản vì vậy chương trình đào tạo kỹ thuật này không gây khó khăn cho người dân trong quá trình tập huấn và học hỏi Trong thời gian tập huấn học viên được thực hành nuôi tằm ngay tại lớp học Sau đó phát tằm cho tất cả các học viên mang về nuôi tại gia đình dưới sự kiểm tra hướng dẫn thường xuyên của cán bộ kỹ thuật cho đến khi tằm chín, làm kén và thu hoạch kén

Hình 4.2 Tập Huấn Kỹ Thuật Nuôi Tằm Cho Người Dân

Nguồn tin: Báo cáo dự án tằm sắn, Ảnh chụp tại xã Tú An, 2006

Trang 33

b) Tập huấn cho nông dân về phân loại, sơ chế và bảo quản kén

Theo như kết quả điều tra cho thấy sau một hai lứa thu hoạch đầu tiên kén có chất lượng không cao do người dân không thực hiện nghiêm túc việc phân loại kén trước khi sơ chế Vì vậy chương trình tập huấn về phân loại, sơ chế và bảo quản kén được tiến hành lại lần hai vào tháng 11/ 2006 Với 130 nông dân tham gia tập huấn đạt 100% so với kế hoạch Sau đợt tập huấn này, người dân đã thực hiện nghiêm túc hơn việc phân loại kén bởi vì họ đã nhận thức được lợi ích trong việc nâng cao chất lượng

và phân loại sản phẩm Số lượng kén xuất bán vào những lứa nuôi sau được phân loại khá tốt và có chất lượng cao tuy nhiên vẫn còn sót rất nhiều xác nhộng và một số tạp chất khác

c) Đào tạo nhuộm tự nhiên

Địa phương đã được tổ chức được hai khoá đào tạo nhuộm màu tự nhiên với tổng số 21 học viên tham gia, đạt 105% so với kế hoạch vào tháng 3/2006 Việc đào tạo nhuộm màu tự nhiên nhằm khôi phục và hoàn thiện một số phương pháp nhuộm màu truyền thống của đồng bào Dân Tộc trong vùng dự án, đồng thời chuyển giao một

số phương pháp, chất liệu nhuộm màu tự nhiên mới từ Nhật Bản đang được người tiêu dùng ưu chuộng Không chỉ có ý nghĩa về mặt nâng cao giá trị sản phẩm mà còn góp phần bảo tồn và phát huy nét văn hóa truyền thống của các dân tộc

d) Đào tạo kéo sợi thủ công

Qua quá trình khảo sát thực tế tại địa phương kết quả cho thấy vào tháng 09 và tháng 10/2006 địa phương đã tổ chức lớp đào tạo cho tiểu giáo viên với 4 người tham gia đạt 100% so với kế hoạch đã đặt ra Sau khóa đào tạo, số học viên này sẽ là hạt nhân để chuyển giao kỹ thuật và phát triển nghề kéo sợi thủ công từ kén tằm sắn ở địa phương với sự hỗ trợ tiếp theo của nhóm tư vấn và Ban QLDA Ngay sau khi hoàn thành khóa đào tạo tiểu giáo viên về kéo sợi thủ công, vào tháng 11/2006 đã tổ chức đào tạo kéo sợi thủ công cho nông dân Với 18 người tham dự khóa đào tạo đạt 90% so với kế hoạch đã đặt ra Học viên được học và thực hành tất cả các công đoạn từ nấu và

ủ kén, kéo sợi, vo sợi để tạo độ săn,vv khi tham gia, các học viên mặc dù đã rất nhiệt tình và chăm chú theo dõi nhưng họ vẫn còn cảm thấy lúng túng khi thực hành vì đây

là một công việc cần phải có thời gian dài để rèn luyện, đặc biệt họ phải được thực

Trang 34

hành một cách thường xuyên thì năng suất mới cao được, cho đến thời điểm nghiên cứu thì năng suất mới chỉ đạt 60 đến 65% so với một người thợ lành nghề

e) Đào tạo nhân giống tằm sắn

Đào tạo nhân giống tằm được xác định là một hoạt động quan trọng, một trong những yếu tố góp phần đảm bảo tính bền vững cho dự án Theo như kết quả điều tra, vào tháng 12/2006 với 11 người tham dự lớp đào tạo cho tiểu giáo viên, so với kế hoạch thực hiện được 110% Và vào tháng 12/2006 đã có 40 người, chủ yếu là người phụ nữ Bahnar ở xã Cửu An tham gia vào lớp đào tạo cho nông dân, kết quả đạt 100%

so với kế hoạch đề ra Hầu hết học viên đã nắm khá chắc trình tự các bước cũng như những nguyên tắc cơ bản trong quá trình sản xuất trứng giống tằm sắn Khoá học cũng

đã sản xuất được gần 1.000gr trứng và chia cho các học viên mang về nuôi sau khi kết thúc khóa đào tạo, một số học viên đã tự sản xuất trứng giống cho gia đình mình và cung cấp cho một số hộ lân cận, kết quả sau khi nuôi thì tằm sinh trưởng và phát triển tốt có chất lượng kén không thua kém gì so với nguồn trứng giống do dự án hỗ trợ

Nhận xét chung về chương trình tập huấn kỹ thuật: Việc triển khai các các

chương trình đã đạt được những kết quả khá tốt, bước đầu người dân đã tích cực tham gia các khóa đào tạo và không gặp khó khăn trong quá trình tiếp thu kỹ thuật đặc biệc

là đối với các hộ người Kinh, đây cũng là một yếu tố thuận lợi cho việc thực hiện dự

án Tuy nhiên trong tương lai người dân cần phải được thực hành nhiều hơn để nâng cao tay nghề, thêm vào đó các tổ trưởng, giám sát dự án cần phải theo dõi sát hơn đối với những hộ dân tham gia nuôi tằm để kịp thời khắc phục những thiếu sót trong quá trình thực hiện để nâng cao chất lượng sản phẩm

4.2.2 Mua sắm trang thiết bị văn phòng

Các trang thiết bị văn phòng như máy ảnh, máy tính, điện thoại, điều hòa, quạt, bàn ghế và các dụng cụ chuyên dùng cho đào tạo, đã được mua sắm đúng theo thiết kế của dự án, và được đặt tại Chi cục phát triển lâm nghiệp của tỉnh Cho đến thời điểm nghiện cứu, các thiết bị văn phòng đáp ứng đủ nhu cầu sử dụng Tuy nhiên trong tương lai khi dự án được mở ra trên quy mô rộng hơn thì nhu cầu các thiết bị trên cần phải được bổ sung

Trang 35

4.2.3 Xây dựng Trung tâm tằm sắn

Theo như kết quả điều tra cho thấy tại xã Tú An đã tiến hành xây dựng một trung tâm tằm sắn và đã được đưa vào sử dụng vào tháng 02/2006, trung tâm đã trở thành địa điểm đào tạo, tập huấn cho nông dân và bộ phận tiểu giáo viên, các buổi hội họp giao ban, hay là nơi thực hiện các nghiên cứu, giao dịch có liên quan đến dự án theo như kế hoạch mà dự án đưa ra

4.2.4 Cung cấp dụng cụ, vật tư cho nông dân

Đây là một dự án hỗ trợ cho người dân tất cả các dụng cụ, thuốc men, trứng giống phục vụ cho việc nuôi tằm, tức người dân không phải chịu bất kỳ một chi phí nào ngoài việc bỏ công lao động để nuôi tằm

Bảng 4.2 Danh Mục và Số Lượng Dụng Cụ, Vật Tư Đã Cấp Phát Cho Nông Dân

Nguồn tin: Báo cáo dự án tằm sắn, 2006

Cho đến thời điểm nghiên cứu về cơ bản Ban QLDA đã cung cấp đầy đủ những dụng cụ và vật tư thiết yếu cho các hộ dân theo như kế hoạch, một số dụng cụ vượt chỉ tiêu kế hoạch như nong đạt 103,8%, kéo cắt kén và găng tay đạt 102% so với kế hoạch Tuy nhiên qua việc tìm hiểu thực tế thì các dụng cụ cấp phát cho nông dân chưa được hợp lý Dụng cụ được chuyển tới cho các hộ dân về mặt số lượng và thời gian cấp phát đúng theo như kế hoạch đã đề ra nhưng một số hộ sau khi nuôi được một thời

50,00 80,00

Trang 36

gian ngắn đã dừng nuôi và dùng số nong đó để phơi lúa hay phục vụ cho các công việc

khác hoặc để không, ngược lại một số hộ lại không đủ dụng cụ để nuôi tằm, dẫn đến

tình trạng trung bình số lượng tằm nuôi trên một nong rất dày, điều này ảnh hưởng

nghiêm trọng đến năng suất và chất lượng kén sau này

Về vật tư: Số lượng các loại thuốc phòng trị bệnh (Papzol vôi, Clorua vôi,

Foocmol ) cấp cho các hộ nuôi tằm, mới thực hiện được 50% so với kế hoạch và sử

dụng 80% lượng trứng giống của năm 2006 Nguyên nhân là do vào cuối năm xảy ra

hiện tượng tằm bị chết và không kiếm đủ nguồn thức ăn cho tằm nên tạm thời số lượng

trứng được cấp giảm và không đạt chỉ tiêu

4.2.5 Tổ chức sản xuất kén

Sau khi tìm hiểu thực tế kết quả cho thấy song song với quá trình đào tạo

chuyển giao kỹ thuật, hầu hết các hộ được tập huấn kỹ thuật đã tham gia nuôi từ 6 đến

12 lứa tằm Việc tổ chức nuôi tằm ở giai đoạn này xem ra còn nằm trong quy mô nhỏ

và có sự chọn lọc đối tượng tham gia bởi vì nuôi tằm sắn tuy không khó nhưng lại tốn

nhiều thời gian đòi hỏi tính cần cù chịu khó, vì vậy cần có giai đoạn sản xuất thử

nghiệm và được sự giám sát chặt chẽ của cán bộ kỹ thuật, đội ngũ tiểu giáo viên để

đảm bảo tính thành công cho dự án và bước đầu tạo niềm tin cho người dân

Sản phẩm nhộng là 3.850kg đạt 30,15% so với kế họạch, sản phẩm phân từ nuôi tằm

đạt 30% so với kế hoạch tương ứng với số lượng là 8.400kg Sản lượng sản phẩm chưa

đạt được mục tiêu nguyên nhân do trứng giống tằm chưa phân phát hết như mục tiêu

đã đề ra, thêm vào đó trong năm chỉ thực hiện được 6 đến 12 lứa tằm, việc nuôi tằm

của các hộ chưa được liên tục và đồng đều, tằm trong những đợt sau đa số là bị chết do

bệnh và thiếu nguồn thức ăn , sản phẩm nhộng chưa thực sự hợp với khẩu vị của

Ngày đăng: 27/02/2019, 14:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w