Trên cơ sở phân tích số liệu điều tra 80 hộ thuộc xã Canh Vinh và thị trấn Vân Canh và nguồn số liệu thứ cấp từ các cơ quan có liên quan, đề tài đi vào đánh giá hiện trạng tài nguyên nướ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG CUNG CẤP, SỬ DỤNG VÀ QUẢN
LÝ NƯỚC SINH HOẠT TẠI HUYỆN VÂN CANH
TỈNH BÌNH ĐỊNH
TRẦN THỊ MAI QUỲNH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỂ NHẬN VĂN BẰNG CỬ NHÂN NGÀNH KINH TẾ NÔNG LÂM
Trang 2Hội đồng chấm báo cáo khóa luận tốt nghiệp đại học khoa Kinh Tế, trường Đại
Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh xác nhận khóa luận “ĐÁNH GIÁ HIỆN
TRẠNG CUNG CẤP, SỬ DỤNG VÀ QUẢN LÝ NƯỚC SINH HOẠT TẠI HUYỆN
VÂN CANH, TỈNH BÌNH ĐỊNH” do Trần Thị Mai Quỳnh, sinh viên khóa 29, ngành
KINH TẾ NÔNG LÂM, đã bảo vệ thành công trước hội đồng vào ngày
LÊ QUANG THÔNG Người hướng dẫn,
Ngày tháng năm 2007
Chủ tịch hội đồng chấm báo cáo Thư ký hội đồng chấm báo cáo
Ngày tháng năm 2007 Ngày tháng năm 2007
Trang 3LỜI CẢM TẠ
Với tất cả lòng kính trọng, con xin gởi lòng biết ơn đến Cha Mẹ và những người thân trong gia đình đã cùng nuôi dưỡng, dạy dỗ con khôn lớn và học thành tài như ngày hôm nay
Em trân trọng kính gởi lòng biết ơn chân thành đến Quý Thầy Cô, đặc biệt là Quý Thầy Cô khoa Kinh Tế, trường Đại Học Nông Lâm đã tận tình giảng dạy và truyền đạt những kiến thức quý báu cho em trong suốt quá trình học tập tại trường
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy Lê Quang Thông – người thầy đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn, giúp đỡ em trong quá trình thực hiện đề tài này
Tôi đồng kính gởi lời cảm ơn đến các cô chú, anh chị ở phòng Kinh tế & Hạ tầng, phòng Tài nguyên & Môi trường, phòng Thống Kê UBND huyện Vân Canh, Công Ty THNH tổng hợp Vân Canh, Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng huyện Vân Canh, UBND các xã, thị trấn cùng các hộ gia đình trên địa bàn huyện đã nhiệt tình hỗ trợ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành tốt luận văn này
Và cuối cùng, tôi xin gởi lời cảm ơn tới tất cả bạn bè đã chia sẻ, trao đổi và quan tâm giúp đỡ tôi trong quá trình học tập vừa qua
Xin chân thành cảm ơn!
TPHCM, ngày … tháng … năm 2007 Sinh viên thực hiện
Trần Thị Mai Quỳnh
Trang 4NỘI DUNG TÓM TẮT
TRẦN THỊ MAI QUỲNH Tháng 7 năm 2007 “Đánh Giá Hiện Trạng Cung Cấp, Sử Dụng và Quản Lý Nước Sinh Hoạt tại Huyện Vân Canh, Tỉnh Bình Định”
TRAN THI MAI QUYNH July 2007 “Evaluate Current Supply, Use and Management of Domestic Water in Van Canh District, Binh Dinh Province”
Huyện miền núi Vân Canh tỉnh Bình Định hiện đang đối mặt với tình trạng thiếu nước hết sức nghiêm trọng Hầu hết các công trình nước sạch tự chảy được Nhà nước đầu tư xây dựng nhằm cung cấp nước sinh hoạt cho đồng bào vùng cao vào mùa khô đều ngừng hoạt động vì nguồn nước suối cạn kiệt Bên cạnh đó, sự kém ý thức của người dân khi sử dụng nước và sự buông lỏng trong công tác quản lý của các cấp chính quyền đã làm cho các công trình cấp nước không phát huy được hiệu quả, làm hạn chế khả năng đáp ứng nhu cầu nước sinh hoạt của người dân
Trên cơ sở phân tích số liệu điều tra 80 hộ thuộc xã Canh Vinh và thị trấn Vân Canh và nguồn số liệu thứ cấp từ các cơ quan có liên quan, đề tài đi vào đánh giá hiện trạng tài nguyên nước của huyện Vân Canh, xác định nhu cầu sử dụng nước sinh hoạt của người dân để dự báo lượng nước tiêu thụ trong các năm tới Từ đó đánh giá khả năng cung cấp của các hệ thống cung cấp nước sinh hoạt so với nhu cầu Đề tài cũng đánh giá hiện trạng hệ thống quản lý tài nguyên nước và đề ra những biện pháp nhằm hoàn thiện tình hình quản lý và cung cấp nước ở địa phương
Trang 5MỤC LỤC
Trang Danh mục các chữ viết tắt viii
Danh mục các bảng ix
Danh mục phụ lục xii CHƯƠNG 1 MỞ ĐẦU 1
2.1 Tổng quan về tài liệu nghiên cứu có liên quan 5
2.3.2 Khó khăn 16 CHƯƠNG 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18
3.1.1 Các khái niệm cơ bản 18 3.1.2 Tầm quan trọng của nước đối với sự sống trong môi trường
3.1.3 Phân loại và phân bố nguồn nước trong tự nhiên 19
Trang 63.1.7 Các hệ số co giãn của cầu 24
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 30
4.1 Đặc điểm tài nguyên nước ở huyện Vân Canh 30
4.1.1 Tài nguyên nước mặt 30 4.1.2 Tài nguyên nước ngầm 32
4.3 Tình hình kinh tế - xã hội của mẫu điều tra 39
4.3.1 Qui mô hộ gia đình 39
4.4.3 Giá nước sinh hoạt 46
4.4.5 Thói quen tiêu dùng nước của người dân 50 4.4.6 Nhu cầu sử dụng nước theo mùa 51 4.5 Mô hình ước lượng hàm cầu nước sinh hoạt 51
4.5.1 Bước 1: Xác định các giả thiết của mô hình 51
4.5.3 Bước 3: Ước lượng các thông số của mô hình 53
4.5.4 Bước 4: Các kiểm định của mô hình (A) 53
Trang 74.5.6 Phân tích mô hình 57
4.5.8 Hàm cầu của nước sinh hoạt theo giá 59 4.5.9 Dự báo lượng cầu nước sinh hoạt trong những năm tới 60
4.6 Khả năng đáp ứng nhu cầu của các hệ thống cung cấp nước 61
4.6.1 Đối với khu vực dùng nước giếng hoàn toàn 62
4.6.2 Đối với khu vực dùng cả hai hệ thống giếng và nước sạch tự
chảy 63 4.7 Hiện trạng hệ thống quản lý tài nguyên nước 63
4.8 Các biện pháp bảo vệ và sử dụng hợp lý tài nguyên nước ở huyện
4.8.3 Đối với ý thức sử dụng nước của người dân 67
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 68
5.2.1 Đối với Ban quản lý hệ thống cung cấp nước sạch tự chảy 69
5.2.2 Đối với các cơ quan ban ngành chính quyền địa phương 69
Tài liệu tham khảo 71 Phụ lục
Trang 8UBND Uỷ Ban Nhân Dân
UNICEF Quỹ Nhi Đồng Liên Hiệp Quốc (United Nations
International Children’s Emergency Fund)
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.2 Tốc Độ Tăng Trưởng Kinh Tế của Huyện Vân Canh Thời Kỳ
Bảng 2.3 Cơ Cấu Kinh Tế Huyện Vân Canh Thời Kỳ 1995 – 2005 9
Bảng 2.4 Diện Tích, Dân Số Huyện Vân Canh Năm 2006 12
Bảng 4.1 Một Số Bệnh Thường Gặp Do Sử Dụng Nước Không Hợp Vệ Sinh 34
Bảng 4.2 Tình Hình Sử Dụng Nước Hệ Thống Đập Dâng Suối Phướng qua 3
Bảng 4.4 Cơ Cấu Độ Tuổi của Người Dân trong Nhóm Hộ Mẫu 40
Bảng 4.5 Cơ Cấu Trình Độ Học Vấn của Người Dân trong Nhóm Hộ Mẫu 41
Bảng 4.6 Cơ Cấu Hộ Theo Dân Tộc và Tôn Giáo của Mẫu điều tra 42
Bảng 4.7 Mức Thu Nhập Bình Quân/Người/Tháng của Nhóm Hộ Mẫu 44
Bảng 4.8 Chi Tiêu Sinh Hoạt Bình Quân Hộ/tháng 45
Bảng 4.9 Chi Tiêu Cho Nước Bình Quân/tháng/hộ 48
Bảng 4.10 Tỷ Lệ Chi Tiêu cho Nước trong Tổng Mức Chi Tiêu Sinh Hoạt
Hộ/tháng 48 Bảng 4.11 Nguồn Nước Sinh Hoạt của Nhóm Hộ Mẫu 49
Bảng 4.12 Cách Thức Sử Dụng Nước của Nhóm Hộ Mẫu 50
Bảng 4.13 Mức Độ Chênh Lệch Khối Lượng Nước Tiêu Thụ giữa Hai Mùa
Bảng 4.14 Kỳ Vọng Dấu cho Mô Hình Ước Lượng 52
Bảng 4.15 Kết Quả Hồi Quy Dạng Tuyến Tính giữa Nhu Cầu Sử Dụng
Nước/Hộ/Tháng với Các Nhân Tố Ảnh Hưởng, Các Hộ Điều Tra Tháng 4/2007 53
Bảng 4.16 Kiểm Tra Lại Dấu của Các Thông Số Ước Lượng 53
Trang 10Bảng 4.18 Hệ Số Tương Quan Cặp giữa Các Biến Độc Lập Của Mô Hình (B) 56
Bảng 4.19 Kết Quả Kiểm Tra Khả Năng Phục Hồi Nước Giếng 62
Trang 11DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang Hình 3.1 Ảnh Hưởng của Giá đến Lượng Cầu (các yếu tố khác không đổi) 25
Hình 4.1 Sơ Đồ Hoạt Động Hệ Thống Nước Sạch Tự Chảy 35 Hình 4.2 Cơ Cấu Độ Tuổi của Người Dân trong Nhóm Hộ Mẫu 40 Hình 4.3 Cơ Cấu Trình Độ Học Vấn của Người Dân trong Nhóm Hộ Mẫu 42
Hình 4.4 Cơ Cấu Hộ theo Dân Tộc, Mẫu Điều Tra 2007 43
Hình 4.5 Biểu Đồ Phân Bố giữa Số Nhân Khẩu và Khối Lượng Nước Tiêu Thụ 46
Hình 4.6 Biểu Đồ Phân Bố giữa Thu Nhập và Khối Lượng Nước Tiêu Thụ 46
Hình 4.7 Biểu Đồ Phân Bố giữa Giá Nước và Khối Lượng Nước Tiêu Thụ 47
Hình 4.8 Cơ Cấu Nguồn Nước Sinh Hoạt của Nhóm Hộ Mẫu 50 Hình 4.9 Đường Cầu Nước Sinh Hoạt Theo Giá ở Trường Hợp (B1) 60
Hình 4.10 Đường Cầu Nước Sinh Hoạt Theo Giá ở Trường Hợp (B2) 60
Trang 12DANH MỤC PHỤ LỤC
Phụ lục 1 Kết Xuất Mô Hình Hồi Quy Tuyến Tính Giữa Nhu Cầu Sử Dụng Nước/Hộ/Tháng Với Các Nhân Tố Ảnh Hưởng (Mô hình A)
Phụ lục 2 Kết Xuất Kiểm Định White Test Mô Hình A
Phụ lục 3 Kết Xuất Mô Hình Hồi Quy Tuyến Tính giữa Nhu Cầu Sử Dụng Nước/Hộ/Tháng với Các Nhân Tố Ảnh Hưởng (Mô Hình B)
Phụ lục 4 Kết Xuất Kiểm Định White Test Mô Hình B
Phụ lục 5 Hệ Số Tương Quan Cặp giữa Các Biến Độc Lập của Mô Hình B
Phụ lục 6 Các Mô Hình Hồi Quy Phụ trong Kiểm Định Hiện Tượng Đa Cộng Tuyến của Mô Hình B
Phụ lục 7 Danh Sách Các Hộ Điều Tra
Phụ lục 8 Bảng Câu Hỏi Điều Tra
Phụ lục 9 Một Số Hình Ảnh Minh Họa
Trang 13Mặc dù Việt Nam được đánh giá là quốc gia có trữ lượng nước dồi dào với hệ thống sông ngòi dày đặc, song cùng với sự tăng dân số, nhu cầu sử dụng nước cũng tăng lên khiến Việt Nam đang có nguy cơ bị xếp vào nhóm những quốc gia thiếu nước trên thế giới Cách đây 40 năm bình quân lượng nước sử dụng là 17.000
m3/người/năm, đến năm 2005 chỉ còn 4.600 m3/người/năm (http://home.ciren.gov.vn) Đặc biệt năm 2007, Việt Nam cũng nằm trong nhóm quốc gia và vùng lãnh thổ chịu ảnh hưởng nặng nề bởi hiện tượng El Nino thể hiện ở lượng mưa thấp hơn trung bình nhiều năm và mùa mưa kết thúc sớm hơn 1 tháng Dòng chảy sông, suối và hồ đập sụt giảm nhanh Đối với những vùng có lượng mưa phân bố không đều như vùng rừng núi phía Bắc, Tây Nguyên và đồng bằng ven biển thì tình trạng hạn hán kéo dài càng làm cho đời sống người dân gặp nhiều khó khăn Chính vì vậy việc phát triển tài nguyên nước một cách bền vững là hết sức cần thiết Mục tiêu để phát triển bền vững tài
Trang 14trạng thiếu nước trở thành phổ biến, các thảm họa về thiên tai luôn đe dọa sự phát triển của đất nước trong tương lai
Huyện miền núi Vân Canh tỉnh Bình Định cũng đang đối mặt với tình trạng thiếu nước hết sức nghiêm trọng Do cấu trúc địa chất, Vân Canh nằm ngay trên một vết nứt gãy, nước mặt thì mau cạn, nước ngầm thì khó tích tụ lại Mạng lưới sông, suối chảy qua huyện Vân Canh có chiều dài tổng cộng khoảng 190 km và chỉ đạt mật độ 2 km/km2 thấp hơn nhiều so với mật độ trung bình toàn tỉnh Tổng lượng mưa hàng năm của huyện khoảng 1.800 - 2.000 mm/năm, xấp xỉ mức bình quân cả tỉnh nhưng thấp hơn các huyện miền núi khác Mùa mưa từ tháng 9 - 12, tập trung 70 - 80% lượng mưa
cả năm, còn mùa khô thì kéo dài 6 tháng, đặc biệt tập trung trong 4 tháng, từ tháng 2 đến tháng 7 chỉ chiếm 17 - 18% lượng mưa cả năm gây thiếu nước ở nhiều nơi Hầu hết các công trình nước sạch tự chảy được Nhà nước đầu tư xây dựng nhằm cung cấp nước sinh hoạt cho đồng bào vùng cao vào mùa khô đều ngừng hoạt động vì nguồn nước suối cạn kiệt Công trình cung cấp nước sinh hoạt Suối Phướng có công suất 60
m3/giờ phải hoạt động cầm chừng vì nguồn nước ngầm cạn kiệt, khả năng cung cấp còn hạn chế, chỉ khoảng 600 hộ thuộc khu vực thị trấn Vân Canh Phần lớn các hộ đồng bào dân tộc phải đi khoảng 2 - 3 km mới lấy được nước từ các con suối Do khó khăn về nguồn nước sinh hoạt dẫn đến sự phát triển của một số bệnh liên quan đến sử dụng nguồn nước không hợp vệ sinh như tả, lỵ, thương hàn,… Việc thiếu nước sinh hoạt cũng là một trong những nguyên nhân kìm hãm sự phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương Trong những năm gần đây, Nhà nước cùng các tổ chức chính phủ đã quan tâm đầu tư xây dựng các công trình nước sạch tự chảy và các giếng nước tại các làng vùng cao mang nước sạch về tận nhà cho đồng bào dân tộc Từ khi được sử dụng nước sạch, đời sống của bà con đỡ vất vả hơn, cảnh quan thôn, làng cũng có nhiều thay đổi Hiện nay, bà con các dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện đã từng bước xoá bỏ tập quán
sử dụng nước sông, suối, góp phần hạn chế được nhiều chứng bệnh Tuy nhiên do sự
lơ là trong công tác quản lý của chính quyền địa phương và sự kém ý thức của một số đồng bào dân tộc nên nhiều công trình cấp nước sạch không đem lại hiệu quả Chẳng hạn như công trình cấp nước sinh hoạt cho các làng Canh Phước, Canh Thành (xã Canh Hoà, Vân Canh) vận hành chưa được bao lâu thì nhiều vòi nước công cộng bằng đồng bị bẻ gãy, trụ bê tông của điểm cấp nước cũng bị vỡ Tại các bể chứa người dân
Trang 15tuỳ tiện mở van lấy nước xong, không cần đóng van cứ để mặc cho nước tự chảy lâu ngày quanh các bể nước hình thành những vũng nước tụ đọng, bốc mùi hôi thối dễ gây dịch bệnh Một số bể nước sinh hoạt xây dựng chất lượng kém phải sửa chữa nhiều lần gây lãng phí tiền của Nhà Nước Trước tình trạng trên, chính quyền địa phương cần phải có những giải pháp gì để mùa khô năm nay người dân không còn nỗi lo thiếu nước sinh hoạt Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề trên, được sự cho phép của Khoa Kinh Tế, trường Đại Học Nông Lâm TPHCM cùng với UBND huyện Vân Canh,
đề tài “Đánh giá hiện trạng cung cấp, sử dụng và quản lý nước sinh hoạt tại huyện Vân Canh tỉnh Bình Định” đã được thực hiện Đề tài góp phần giúp chính quyền địa phương trong việc đề ra những chính sách về quản lý, bảo vệ và sử dụng nguồn nước một cách hiệu quả và bền vững
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chung Đánh giá hiện trạng cung cấp, sử dụng và quản lý nước sinh
hoạt trên địa bàn huyện Vân Canh tỉnh Bình Định
Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá hiện trạng tài nguyên nước của huyện Vân Canh;
- Xác định nhu cầu sử dụng nước sinh hoạt;
- Đánh giá khả năng cung cấp của các hệ thống cung cấp nước sinh hoạt so
với nhu cầu;
- Đánh giá hiện trạng hệ thống quản lý tài nguyên nước và đề ra những biện
pháp hoàn thiện tình hình quản lý và cung cấp nước ở địa phương
1.3 Phạm vi nghiên cứu
- Không gian: nghiên cứu được thực hiện tại huyện Vân Canh tỉnh Bình Định
- Thời gian nghiên cứu: từ 1/4/2007 đến 30/5/2007
- Nội dung nghiên cứu: đề tài tập trung nghiên cứu khả năng cung cấp nước sinh hoạt của các hệ thống cung cấp nước và công tác quản lý tài nguyên nước trên địa
bàn huyện Vân Canh
Trang 161.4 Cấu trúc của khóa luận
Chương 1 Mở đầu Chương này nêu lên lý do của việc chọn vấn đề nghiên
cứu, mục tiêu nghiên cứu cũng như phạm vi nghiên cứu của đề tài
Chương 2 Tổng quan Chương này mô tả tổng quan về một số nghiên cứu của
khóa trên có liên quan đến vấn đề sử dụng và quản lý tài nguyên nước và tổng quan về địa bàn nghiên cứu bao gồm đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội
Chương 3 Nội dung và phương pháp nghiên cứu Phần nội dung nghiên cứu
trình bày các khái niệm cơ bản như thế nào là nước sạch, nước tương đối sạch, tầm quan trọng của nước đối với sự sống trong môi trường sinh thái, đặc điểm tài nguyên nước, phân loại và phân bố nguồn nước trong tự nhiên, chính sách quản lý tài nguyên nước, một số lý luận cơ bản về đường cầu Còn phần phương pháp nghiên cứu trình bày chi tiết về các phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong đề tài bao gồm phương pháp thu thập số liệu thứ cấp, số liệu sơ cấp, phương pháp thống kê mô tả, phương pháp kinh tế lượng
Chương 4 Kết quả và thảo luận Phần này nêu lên đặc điểm tài nguyên nước
mặt và nước ngầm của huyện Vân Canh, các hệ thống cung cấp nước sinh hoạt, nhu cầu sử dụng nước sinh hoạt của người dân, phân tích khả năng cung cấp của các hệ thống cung cấp nước so với nhu cầu và hiện trạng hệ thống quản lý tài nguyên nước,
từ đó đề ra một số biện pháp hoàn thiện tình hình sử dụng và quản lý nước sinh hoạt của huyện Vân Canh
Chương 5 Kết luận và kiến nghị Chương này trình bày tóm tắt thực trạng
khai thác, sử dụng và quản lý nước sinh hoạt của huyện Vân Canh và một số kiến nghị
đề xuất
Trang 17CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN
2.1 Tổng quan về tài liệu nghiên cứu có liên quan
Nghiên cứu về vấn đề sử dụng và quản lý tài nguyên nước nói chung và nước cho sinh hoạt nói riêng không còn là đề tài mới mẻ Tuy nhiên mỗi nghiên cứu có một cách tiếp cận vấn đề khác nhau Nghiên cứu về nhu cầu nước sinh hoạt của tác giả Mai Thế Dinh, 2005 với đề tài “Nghiên cứu nhu cầu nước sinh hoạt địa bàn khu vực Đất
Đỏ, huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu” cho thấy cầu nước sinh hoạt phụ thuộc vào
4 yếu tố: giá nước sinh hoạt, số người trong hộ, thu nhập của hộ và nguồn nước đang
sử dụng Cũng đề tài nghiên cứu về nước sinh hoạt, tác giả Hà Phi Hùng, 2005 với đề tài “Tìm hiểu hiện trạng sử dụng nước sinh hoạt của người dân phường Vĩnh Hiệp, thị
xã Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang” đã tiến hành điều tra 2 vùng dân cư ở cạnh sông và xa sông để làm cơ sở phân tích, so sánh sự khác biệt về điều kiện môi trường sống làm ảnh hưởng đến ý thức bảo vệ và sử dụng nước Một hướng tiếp cận khác đối với vấn
đề sử dụng nước sinh hoạt đó là dự án xây dựng hệ thống cấp nước Dự án xây dựng
hệ thống cấp nước đang được UBND huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai triển khai để đáp ứng nhu cầu cấp thiết về nước của nhân dân Để xác định tính khả thi, hiệu quả kinh tế và các tác động đối với xã hội của dự án, tác giả Nguyễn Thị Thu (2006) đã
tiến hành nghiên cứu đề tài “Thẩm định dự án xây dựng hệ thống cấp nước cho huyện Thống Nhất – tỉnh Đồng Nai” Tuy nhiên các nghiên cứu trên đều được thực hiện ở
khu vực nông thôn có điều kiện nguồn nước không quá khó khăn, có thể xây dựng các
hệ thống cung cấp nước tập trung thông qua việc khai thác nước ngầm, hiện chưa có
đề tài nào nghiên cứu về khả năng cung cấp nước của khu vực miền núi, nơi có đặc điểm là khai thác nước ngầm rất khó khăn Xuất phát từ lý do đó tôi đã chọn huyện
Trang 18khô tại huyện Vân Canh vốn là bài toán nan giải của chính quyền nơi đây và cho đến nay cũng chưa có công trình nghiên cứu nào về vấn đề này được thực hiện tại đây
2.2 Đặc điểm tổng quát của địa bàn nghiên cứu
2.2.1 Điều kiện tự nhiên
a) Vị trí địa lý
Vân Canh là huyện miền núi nằm trong vùng kinh tế phía Nam của tỉnh Bình
Định, có mối liên hệ chặt chẽ với vùng này vì đây là nơi giữ nước để cấp cho cả khu vực Hệ thống hồ Núi Một tưới cho cả vùng lúa các huyện An Nhơn, Tuy Phước; hệ thống sông Hà Thanh góp phần cung cấp nước sinh hoạt cho thành phố Quy Nhơn và khu kinh tế Nhơn Hội trong tương lai
Huyện Vân Canh phía Bắc giáp huyện Tây Sơn và huyện An Nhơn, phía Nam giáp tỉnh Phú Yên, phía Đông giáp xã Phước Mỹ thành phố Quy Nhơn và phía Tây giáp tỉnh Gia Lai
Huyện nằm cách trung tâm thành phố Quy Nhơn 35 km về phía Tây, có đường sắt Bắc Nam chạy qua nối Vân Canh với các huyện khác trong tỉnh và đặc biệt với các tỉnh phía Bắc và phía Nam của cả nước; tỉnh lộ 638 nối liền thị trấn huyện lỵ với quốc
lộ 1 A tại thị trấn Diêu Trì và với huyện Đồng Xuân của tỉnh Phú Yên
b) Địa hình
Huyện Vân Canh nằm trong hệ thống sơn văn lớn của Trường Sơn Nam, có cấu trúc khá phức tạp, chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của chu kỳ tân kiến tạo muộn từ cuối kỷ
Đệ Tam đến đầu kỷ Đệ Tứ, gồm các kiểu địa hình chủ yếu sau:
Kiểu địa hình núi trung bình, núi thấp: với diện tích khoảng 49.000 ha, chiếm 61,4% diện tích tự nhiên của huyện Địa hình khá phức tạp, mức độ chia cắt mạnh Độ cao tuyệt đối trung bình khoảng 800 m Đỉnh cao nhất là 1.160 m Độ dốc bình quân khoảng 200
Kiểu địa hình đồi gò, bát úp ở trung du: đây là vùng chuyển tiếp giữa miền núi
và đồng bằng, biểu hiện sự kiến tạo nâng lên không lớn Kiểu địa hình này phân bố chủ yếu ở các xã Canh Vinh, Canh Hiển, Canh Hiệp, có diện tích khoảng 30.700 ha, chiếm 35% diện tích tự nhiên Độ cao tuyệt đối trung bình khoảng 100 m Độ dốc bình quân khoảng 10 - 150
Trang 19c) Khí hậu và thời tiết
Do điều kiện hoàn lưu gió mùa kết hợp với vị trí địa lý và điều kiện địa hình, Vân Canh có khí hậu nhiệt đới ẩm, mưa mùa như toàn tỉnh Mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 12 và mùa khô từ tháng 1 đến tháng 8
Nằm trong khu vực có bức xạ nhiệt hàng năm khá cao, nhiệt độ trung bình năm
25 - 26OC, tuy cao hơn các huyện miền núi khác nhưng thấp hơn trung bình các huyện chung quanh từ 1 - 1,5OC Độ ẩm không khí thấp nhất đạt 72% (tháng 7, tháng 8) và cao nhất 84% (các tháng 10, 11 và 12), trung bình năm đạt 80%
Tổng lượng mưa hàng năm của huyện khoảng 1.800 - 2.000 mm/năm, xấp xỉ mức bình quân cả tỉnh nhưng thấp hơn các huyện miền núi khác Mùa mưa trong 4 tháng tập trung khoảng 75% lượng mưa cả năm, lại trùng với mùa bão nên thường gây
ra ngập lụt Mùa khô kéo dài 6 tháng, đặc biệt tập trung trong 4 tháng, từ tháng 2 đến tháng 7 chỉ chiếm 17 - 18% lượng mưa cả năm gây thiếu nước ở nhiều nơi
Số giờ nắng trong năm khoảng 2.400 giờ, tháng 12 có số giờ nắng ít nhất (khoảng 102 giờ), tháng 4 và tháng 5 có số giờ nắng nhiều nhất trong năm (263 - 264
giờ)
d) Tài nguyên nước
Mạng lưới sông, suối chảy qua huyện Vân Canh có chiều dài tổng cộng khoảng
190 km và chỉ đạt mật độ 2 km/km2 (thấp hơn nhiều so với mật độ trung bình toàn tỉnh)
Sông Hà Thanh chảy qua huyện là hệ thống sông lớn thứ ba của tỉnh sau sông Kôn và sông Lại Giang Tuy nhiên, diện tích lưu vực sông không lớn, chỉ khoảng 580
km2 Sông bắt nguồn từ những đỉnh núi cao trên 1.100 m phía Tây Nam của huyện với tổng chiều dài khoảng 48 km, trong đó phần qua huyện 38 km Lưu lượng dòng chảy chuẩn khoảng 13,6 m3/s, tổng lượng dòng chảy 429 triệu m3 Sông ngắn, có độ dốc cao, lưu tốc dòng chảy lớn, độ che phủ của rừng thấp, chênh lệch giữa lưu lượng lũ và lưu lượng kiệt đến trên 1.000 lần nên mùa mưa thường gây lũ lụt, sa bồi, thuỷ phá nghiêm trọng Vì vậy nếu không đảm bảo tỷ lệ che phủ của rừng phòng hộ đầu nguồn cho con sông này thì hiện tượng lũ lụt gây ra những tổn thất nặng nề là không thể tránh
Trang 20Ngoài ra các suối lớn, nhỏ rãi rác khắp huyện tạo điều kiện để phát triển hệ thống thuỷ lợi, cấp nước cho sản xuất và dân sinh Thời gian qua, trên địa bàn huyện
đã xây dựng được 20 công trình thủy lợi lớn, nhỏ gồm các hồ chứa, đập dâng, trạm bơm, giếng khoan và trên 200 máy bơm và giếng khoan nhỏ chủ yếu phục vụ phát triển nông nghiệp
Nguồn nước ngầm rất khó khăn và rất ít có khả năng phục vụ nhu cầu sản xuất, chỉ đáp ứng được phần nhỏ cho sinh hoạt và sản xuất trên một số vùng ven sông suối
và đồng bằng sông Hà Thanh Người dân thường sử dụng tầng ngầm nước nông qua các giếng đào hoặc giếng khoan Tầng nước này ổn định khi lượng nước mặt dồi dào Việc khai thác sử dụng nước ngầm hiện nay trên địa bàn huyện còn ở quy mô nhỏ, chủ yếu phục vụ cho sinh hoạt, chưa có quy hoạch, kế hoạch khai thác phục vụ cho sản
xuất nông nghiệp hay công nghiệp
e) Tài nguyên rừng
Diện tích đất có rừng trên địa bàn huyện thì rừng tự nhiên còn 35.171 ha và diện tích rừng trồng khoảng 11.189 ha Tỷ lệ diện tích rừng trồng trên địa bàn huyện khá cao, chiếm đến 17,6% tổng diện tích rừng trồng toàn tỉnh Điều đáng lưu ý là quá trình diễn thế theo chiều hướng giảm diện tích rừng giàu, giảm diện tích rừng trung bình và tăng diện tích rừng hỗn giao tre nứa đang tiếp tục xảy ra Đây là xu thế xấu do quá trình khai thác quá mức làm cho chất lượng tài nguyên rừng giảm sút Điều này làm ảnh hưởng đến khả năng giữ nước và điều hòa sinh thái của rừng, gây xói mòn đất
và giảm thấp mực nước ngầm cũng như nước mặt vào mùa khô
Bảng 2.1 Diện Tích Rừng Huyện Vân Canh
Nguồn: Niên giám thống kê huyện Vân Canh năm 2006
Trang 212.2.2 Điều kiện kinh tế
a) Tăng trưởng kinh tế
Kinh tế của huyện Vân Canh 10 năm trong thời kỳ 1996 – 2005 có mức tăng
trưởng hàng năm là 6,35% thấp hơn bình quân cả tỉnh (8,95%) Tổng sản phẩm trên
địa bàn (GDP) của Vân Canh (theo giá 1994) năm 1995 đạt 27,6 tỷ đồng đến năm
Nông – lâm nghiệp 4,15 6,98 5,55
Dịch vụ
Tổng sản phẩm
24,29 4,83
28,85 7,89
26,55 6,35 Nguồn: Phòng thống kê huyện Vân Canh
b) Cơ cấu kinh tế
Bảng 2.3 Cơ Cấu Kinh Tế Huyện Vân Canh Thời Kỳ 1995 – 2005
ĐVT: %
Nông – lâm nghiệp 97,46 93,70 89
Trang 22đoạn 2001 – 2005 tăng bình quân 5,3% mỗi năm Trong đó: Diện tích gieo trồng cây lương thực có hạt (lúa và ngô) tương đối ổn định, năm 1995 là 1,98 nghìn ha, năm
2000 là 1,94 nghìn ha và năm 2005 ổn định ở mức 1,84 nghìn ha Sản lượng lương thực có hạt liên tục tăng, năm 1995 đạt 3,4 nghìn tấn đến năm 2000 đạt 4,3 nghìn tấn
và đến năm 2005 đạt 4,8 nghìn tấn Trên cơ sở giữ ổn định cây lương thực, huyện đã chủ trương chuyển đổi những vùng khô hạn sang phát triển các loại cây trồng có hiệu quả hơn, phù hợp với điều kiện đất khô và thường bị hạn ở Vân Canh
- Về chăn nuôi: phát triển cả về quy mô, chất lượng, giá trị sản xuất tăng bình quân 5,5% mỗi năm trong 10 năm từ năm 1995, riêng giai đoạn 2001 – 2005 tăng bình quân 5,9% Tổng đàn trâu bò năm 2005 khoảng 15 nghìn con, trong đó đàn bò khoảng 14,8 nghìn con, bò lai chiếm khoảng 11% tổng đàn Đàn heo có số lượng trên 9 nghìn con, trong đó tỷ lệ heo lai đạt trên 75% Ngoài ra còn có đàn dê gần 1.000 con và đàn gia cầm tổng số khoảng 50.000 con
- Các cơ sở dịch vụ nông nghiệp phục vụ cho sản xuất trong huyện hiện nay tập trung chủ yếu ở thị trấn, thị tứ, trung tâm xã Hệ thống dịch vụ khá phát triển bao gồm mạng lưới dịch vụ bán lẻ vật tư nông nghiệp như phân bón, thuốc trừ sâu, cung cấp giống cây con Tiến bộ khoa học kỹ thuật được áp dụng trong sản xuất ngày càng nhiều hơn, khâu làm đất và vận chuyển đã cơ bản được cơ giới hóa, diện tích tưới chủ động đã nâng lên 900 ha
d) Lâm nghiệp
Đang từng bước chuyển lâm nghiệp truyền thống sang phát triển lâm nghiệp xã
hội nhằm mục đích giữ và phát triển vốn rừng, tập trung đẩy mạnh khâu lâm sinh, quản lý bảo vệ rừng và trồng rừng đạt được kết quả nhất định, nhất là trong công tác trồng rừng Bước đầu thực hiện có hiệu quả việc gắn công tác định canh định cư với phát triển kinh tế lâm nghiệp
Diện tích rừng trồng tăng nhanh, trong đó giai đoạn 5 năm 2001 – 2005 trồng được xấp xỉ 11.416 ha Độ che phủ của rừng đạt trên 57,68%, tăng gần 6% so với năm
2000 là 51,82% Các giải pháp kỹ thuật, quy trình trồng rừng được nghiên cứu tổng kết đưa vào áp dụng đã nâng dần tỷ lệ sống và thành rừng lên cao (80 – 95%)
Các địa phương trong huyện đã đẩy mạnh công tác bảo vệ rừng với trên 12.000
ha rừng được giao khoán cho người dân quản lý, bảo vệ hoặc khoanh nuôi, tái sinh
Trang 23Bên cạnh đó việc khoanh vùng sản xuất cho nhân dân đi đôi với công tác tuyên truyền giáo dục bảo vệ và phát triển rừng đã góp phần hạn chế việc phá rừng làm rẫy, khai thác lâm sản trái phép
e) Các lĩnh vực khác trong nông nghiệp
Cùng với việc đẩy mạnh phát triển nông nghiệp, huyện đã chú ý đến phát triển nông thôn và quan tâm đến nông dân nên bộ mặt nông thôn có nhiều thay đổi Kinh tế nông thôn bước đầu phát triển theo hướng kết hợp nông nghiệp với ngành nghề và dịch vụ nhằm đa dạng hoá ngành nghề, tăng dần tỷ trọng của công nghiệp và dịch vụ nông thôn, giảm sản xuất thuần nông Bước đầu khôi phục làng nghề như dệt thổ cẩm của đồng bào Chăm… Cơ sở hạ tầng nông thôn, nhất là đường giao thông, thuỷ lợi, cấp điện, cấp nước, trường học, trạm xá, chợ… được chú ý đầu tư
Nông dân đã mạnh dạn đầu tư mở rộng sản xuất theo hướng sản xuất hàng hoá Xuất hiện nhiều mô hình sản xuất mới như kinh tế trang trại, kinh tế vườn rừng, nông lâm kết hợp có kết quả tốt Hiện nay trên địa bàn huyện có 68 trang trại, nhiều nhất là trồng cây lâu năm 35 trang trại, kinh doanh tổng hợp 15 Còn lại là 9 trang trại trồng cây hàng năm, 7 trang trại lâm nghiệp và 2 trang trại chăn nuôi Tổng diện tích các trang trại khoảng 774 ha, tổng vốn đầu tư trên 7 tỷ đồng và thu hút khoảng 360 lao động
Công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp Các ngành sản xuất tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn huyện chủ yếu là ngành nghề truyền thống như chế biến các sản phẩm đơn giản và thủ công như chế biến nông lâm sản, xay xát, may mặc, rượu trắng, nông cụ cầm tay… Tiểu thủ công nghiệp chế biến tuy có phát triển, nhưng so với tiềm năng nguồn nguyên liệu tại chỗ vẫn còn ở mức quá nhỏ, thiết bị công nghệ đa phần lạc hậu, chất lượng sản phẩm chưa cao, tính cạnh tranh yếu Theo thống kê, trên địa bàn huyện
có trên khoảng 170 cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp và ngành nghề nông thôn thu hút khoảng 230 lao động làm việc ổn định
f) Dịch vụ
Các ngành dịch vụ đã có những chuyển biến mới Thời kỳ 1996 – 2005 giá trị ngành dịch vụ tăng bình quân hàng năm là 26,55% Theo thống kê, giai đoạn 2001 –
Trang 24hướng tăng Năm 2000 có 308 hộ đã tăng lên khoảng 450 hộ với số lao động từ 326 lao động tăng lên khoảng 500 lao động
2.2.3 Điều kiện xã hội
a) Dân số
Dân số trên địa bàn huyện năm 2006 là 24.795 người, tốc độ tăng dân số bình quân là 1,88% Số dân thành thị và nông thôn đều tăng nhưng tốc độ tăng của số dân thành thị cao hơn nông thôn do quá trình đô thị hóa, sự phát triển và hình thành thị trấn Vân Canh Mật độ dân cư phân bố không đều giữa các xã, thị trấn Có 4 xã có mật độ thấp hơn 50 người, 2 xã từ 60 người đến 80 người Thị trấn Vân Canh có mật độ đông nhất, 282 người tuy chỉ xấp xỉ mật độ trung bình toàn tỉnh nhưng so với xã Canh Liên
có mật độ thấp nhất, 6 người, thì chênh lệch nhau hơn 45 lần
Bảng 2.4 Diện Tích, Dân Số Huyện Vân Canh Năm 2006
Khoản mục Diện tích
(km 2 )
Dân số trung bình (người)
Mật độ dân số (người/km 2 )
2.190 24.795
6
31 Nguồn: Niên giám thống kê huyện Vân Canh năm 2006
Cư trú tại địa bàn huyện thống kê có 8 dân tộc nhưng phần lớn có người Kinh chiếm hơn 60% dân số, Ba Na và Chăm mỗi dân tộc khoảng 4.000 – 4.300 người, người Tày, Thái, Mường từ 10 – 35 người Toàn huyện có đến 92% dân số không theo đạo nào Chỉ có khoảng 8% dân số còn lại theo 3 đạo chính là: Phật giáo (4,4%), Công giáo (1,9%), Cao đài (1,8%), còn Tin lành chỉ có một số ít người
Trang 25b) Lao động
Năm 2006, toàn huyện có khoảng 12 nghìn người trong độ tuổi lao động, tăng 16,8% so với năm 1995, bình quân mỗi năm tăng 1,57%, cao hơn so với tốc độ tăng của dân số Do vậy tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động so với dân số toàn huyện tăng từ 50,6% năm 1995 lên 51,4% năm 2000 và 52,3% năm 2006
Nguồn lao động trẻ, lao động dưới 30 tuổi chiếm tỷ trọng cao (56%), trong đó khoảng 73% làm trong các ngành thuộc khu vực nông – lâm, lao động công nghiệp chỉ chiếm 2,6% , thương nghiệp, dịch vụ có tỷ trọng khoảng 4,9% Chất lượng lao động còn thấp, tỷ lệ công nhân lành nghề, cán bộ kỹ thuật chưa tương xứng với yêu cầu phát triển kinh tế, chất lượng nguồn lao động không đồng đều giữa các vùng trong huyện, các khu vực và các ngành kinh tế Hiện tại hàng năm giải quyết việc làm cho khoảng
500 lao động
c) Giáo dục
Trong 10 năm qua, hệ thống giáo dục trên địa bàn huyện Vân Canh được củng
cố và phát triển, điều kiện cơ sở vật chất được nâng lên, chất lượng dạy và học có chuyển biến Toàn huyện có 1 nhà trẻ, 8 trường mẫu giáo, 9 trường tiểu học, 3 trường trung học cơ sở và 1 trường trung học phổ thông Hiện nay trên địa bàn huyện đã có 2 trường được công nhận đạt chuẩn quốc gia là trường tiểu học số 1 và số 2 thị trấn Vân Canh Năm học 2006 – 2007 toàn huyện có 6.918 học sinh các cấp, trong đó học sinh
nữ có 3.295 em; học sinh dân tộc là 2.864 em chiếm 41,39% Tổng số phòng học của
ngành hiện có là 198 phòng
d) Y tế
Được chú ý đầu tư phát triển cả về cơ sở vật chất, trang thiết bị và đội ngũ cán
bộ y tế, chất lượng điều trị được nâng cao hơn, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu khám chữa bệnh của nhân dân Hệ thống y tế từ huyện đến xã được củng cố, kiện toàn Toàn huyện có 8 cơ sở y tế, trong đó có 1 bệnh viện, 7 trạm y tế hộ sinh xã, thị trấn Như vậy đã có 100% số xã, thị trấn có trạm y tế hoạt động nhưng số trạm xá xã có bác
sỹ chỉ chiếm 2 trong tổng số 7 trạm Đã mở rộng bảo hiểm y tế cho người nghèo
Trang 26e) Mạng lưới giao thông
Về đường bộ: Vân Canh có hệ thống đường bộ gồm đường tỉnh, đường huyện
và mạng lưới giao thông nông thôn khá dày đặc với 100% số xã có đường ô tô đến trung tâm xã đảm bảo giao lưu đối nội và đối ngoại
- Đường tỉnh 638 (Diêu Trì - Mục Thịnh) dài 39,38 km, điểm đầu tại Thị trấn Diêu Trì huyện Tuy Phước và điểm cuối giáp huyện Đồng Xuân tỉnh Phú Yên Ngoài vai trò là tuyến huyết mạch nối liền thị trấn Vân Canh với các địa phương trong tỉnh và tỉnh Phú Yên, đường tỉnh 638 còn có vị trí quan trọng trong phát triển kinh tế, xã hội,
an ninh quốc phòng của cả hai tỉnh Bình Định và Phú Yên Tuyến được xây dựng bằng
bê tông nhựa, cầu cống được xây dựng bằng kết cấu bê tông cốt thép Đoạn cấp phối còn lại đang được tiếp tục đầu tư nâng cấp
- Đường huyện gồm các tuyến: Canh Thuận – Canh Liên dài 25,28 km, xuất phát từ Km28 ĐT 638 theo hướng Tây Tây Bắc đến làng Hà Giao xã Canh Liên Tuyến có vị trí quan trọng trong phát triển kinh tế, xã hội và an ninh quốc phòng của
xã Canh Liên và phía Tây Nam của tỉnh
- Giao thông nông thôn: Hệ thống giao thông nông thôn trên địa bàn huyện gồm
60 tuyến chính dài tổng cộng 189 km, gồm 68 km đường xã, 121 km đường xóm Từ năm 2000 thực hiện chủ trương bê tông hoá đường xã, đường xóm, trên địa bàn huyện
đã nổ lực trích ngân sách địa phương, huy động vốn ngày công lao động trong nhân dân để thi công đường bê tông xi măng trên địa bàn Kết quả đã bê tông hoá được 24
km đường giao thông nông thôn, làm thay đổi hẳn bộ mặt nông thôn trên địa bàn huyện
- Đường sắt: Đường sắt Bắc Nam đi qua huyện với chiều dài khoảng 40 km có
2 ga là Vân Canh và Tân Vinh Đây là yếu tố thuận lợi cho vận chuyển hàng hoá đi xa
nhưng rất hạn chế cho giao thông về hai phía của đường sắt
f) Thuỷ lợi
Toàn huyện đã xây dựng 23 công trình thuỷ lợi gồm 8 hồ chứa, 6 đập dâng, 7 trạm bơm và 1 giếng khoan Hầu hết các công trình thuỷ lợi xây dựng trong những năm qua đều hoàn thành đưa vào sử dụng và đã phát huy tác dụng như hồ Bà Thiền, đập Suối Nhiên, trạm bơm Gò Bồi (xã Canh Vinh), đập Cà Xim (xã Canh Thuận), hồ Suối Cầu (xã Canh Hiển), hồ Suối Mây (thị trấn Vân Canh) Ngoài các công trình hồ,
Trang 27đập, trạm bơm, do nhu cầu tưới lớn nên người dân tự xây dựng hàng trăm giếng đóng, nhất là ở xã Canh Vinh
Hệ thống kênh mương dài tổng cộng khoảng 22,5 km (12,4 km kênh cấp I; 3,9km kênh cấp II và khoảng 6,2 km kênh nội đồng); trong đó bê tông hoá được khoảng 7 km Tổng diện tích tưới hàng năm đạt 700 – 750 ha gieo trồng, chỉ bằng khoảng 13% tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm
g) Cấp nước sinh hoạt
Cấp nước đô thị: Toàn bộ thị trấn Vân Canh có hệ thống cung cấp nước sạch từ nguồn suối Phướng
Cấp nước nông thôn: Người dân nông thôn Vân Canh hiện đang sử dụng nước bình quân 50 lít – 100 lít nước mỗi người một ngày với nguồn cấp chủ yếu là nước mặt
và nước ngầm Ngoài mục đích sử dụng cho ăn uống, sinh hoạt, nước còn được khai thác, sử dụng vào các mục đích khác như chăn nuôi, trồng trọt hoặc dịch vụ… Số lượng các công trình cấp nước hiện nay của vùng nông thôn cả huyện là:
Cấp nước tập trung gồm 7 hệ thống, trong đó lớn nhất là hệ thống Suối Phướng, cấp nước cho gần 1.700 hộ dân cư dọc tuyến 638 ở thị trấn Vân Canh và các xã Canh Hiển, Canh Hiệp, Canh Thuận Hệ thống Suối Dú và Suối Diếp cấp nước cho dân cư
xã Canh Hoà và 4 công trình cấp nước xã Canh Liên
Giếng đào: là nguồn cung cấp nước chủ yếu trên địa bàn huyện với tổng số 2.150 giếng đào Nước từ các giếng đào phần lớn không đạt tiêu chuẩn vệ sinh, chỉ có khoảng 21% số giếng đào là được xây dựng đúng quy cách, hợp tiêu chuẩn vệ sinh
Giếng khoan tay: có số lượng ít, chỉ khoảng 94 cái Theo một số kết quả kiểm nghiệm thì chất lượng nước tại các giếng theo tiêu chuẩn vệ sinh của Bộ Y tế mới đạt 53% Lưu lượng khai thác của mỗi giếng đạt khoảng 1,5 – 2,5 m3/giờ và thời gian các giếng hoạt động mỗi ngày từ 1 đến 3 giờ, bình quân phục vụ cho khoảng 10 – 15 người Kinh phí xây dựng các giếng chủ yếu do người dân tự đầu tư, chỉ có một số nhỏ các giếng được hỗ trợ của Nhà Nước và của UNICEF Ngoài ra nguồn cấp nước còn có
khoảng 360 các bể, lu chứa nước, các bể lọc nước
Trang 282.3 Đánh giá chung
2.3.1 Thuận lợi
Từ vị trí địa lý như trên, cùng mối quan hệ kinh tế truyền thống với địa bàn kinh tế, với vùng động lực Diêu Trì trên quốc lộ 1 A, Vân Canh có điều kiện mở rộng mối quan hệ giao lưu phát triển kinh tế với các huyện phía Bắc của tỉnh Phú Yên và với cả nước theo tuyến này về phía Nam Sức hút của thành phố Quy Nhơn và trung tâm phát triển kinh tế Bắc Phú Yên tạo điều kiện cho huyện đẩy mạnh sản xuất hàng hóa, tiếp thu nhanh khoa học kỹ thuật Đồng thời cũng là một thách thức lớn đặt ra cho Vân Canh phải phát triển nhanh nền kinh tế nhiều thành phần trên những lĩnh vực, những sản phẩm đặc thù để mở rộng liên kết, liên doanh không bị tụt hậu so với khu vực và cả tỉnh
Với khí hậu nóng, ẩm, mưa nhiều, địa hình, đất đai đa dạng nên huyện Vân Canh có nguồn tài nguyên thiên nhiên rất phong phú
Vân Canh có các suối lớn, nhỏ rải rác khắp huyện đã tạo điều kiện để phát triển
hệ thống thủy lợi, cấp nước cho sản xuất và dân sinh
Một số sông suối đã tạo nên những cảnh quan thiên nhiên hấp dẫn đặc trưng bởi lưu vực hẹp giữa hai bờ sông, suối tạo lối đi bên trong rừng nhiệt đới ẩm Việc khai thác các tài nguyên du lịch về cảnh quan kết hợp với lịch sử và văn hóa đồng bào Chăm, Ba Na là thế mạnh của du dịch Vân Canh trong việc phát triển các sản phẩm du lịch như sinh thái, thăm quan, …
2.3.2 Khó khăn
Huyện Vân Canh, tỉnh Bình Định có điều kiện nguồn nước rất khó khăn, đặc biệt là vào mùa khô Mạch nước ngầm rất sâu nên không thể xây dựng các hệ thống cấp nước tập trung dựa vào khai thác nguồn nước ngầm mà chỉ có thể xây dựng các hệ thống nước sạch tự chảy dựa vào khai thác các nguồn nước suối hiện có tại địa phương Tuy nhiên vào mùa khô thì phần lớn các con suối đều cạn nước nên các hệ thống này phải ngừng hoạt động khiến sinh hoạt của người dân gặp rất nhiều khó khăn Mặt khác Vân Canh là một huyện miền núi, đồng bào dân tộc thiểu số chiếm gần 40% dân số, với lối canh tác nương rẫy lạc hậu, trình độ dân trí còn thấp, nên việc giải quyết tốt vấn đề cấp nước sinh hoạt cho người dân sẽ góp phần cải thiện đáng kể kinh
tế xã hội của địa phương
Trang 29Lượng mưa phân bố không đều kết hợp với địa hình thiếu nguồn sinh thủy là một trong những hạn chế lớn của Vân Canh Vì vậy, yếu tố thủy lợi để giữ nước và cấp nước có vai trò quan trọng cho phát triển kinh tế, nhất là sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt của cư dân
Đất đai của huyện Vân Canh là đất đã bị bạc màu, địa hình phức tạp, chia cắt bởi nhiều sông suối, nguồn nước mặt và nước ngầm rất hạn chế trong khi thủy lợi chưa phát triển
Hầu hết các điểm thị tứ nông thôn chưa có hệ thống thoát nước bẩn Tại các cơ
sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn huyện hầu như không có hệ thống xử lý chất thải trước khi cho thoát ra môi trường tự nhiên
Chất lượng lao động nói chung còn thấp, lao động tăng thêm chủ yếu là lao động phổ thông Điều này đã gây trở ngại cho việc khai thác nguồn nhân lực tại chỗ để phát triển kinh tế xã hội và quản lý
Trang 30CHƯƠNG 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Nội dung nghiên cứu
3.1.1 Các khái niệm cơ bản
a) Nước sạch
Nước được coi là nước sạch khi nó không màu, không mùi, không vị, trong, không có vẫn đục, không có vi trùng và các chất gây bệnh Ngoài ra, còn phải đạt tiêu chuẩn về chất lượng nước do Bộ Y tế ban hành
b) Nước tương đối sạch
Bao gồm nước giếng, nước mưa, nước ao hồ được bảo vệ không bị ô nhiễm (có nắp đậy, có bờ che chắn) Nước này dùng để tắm rửa, phải có lắng lọc, sát trùng và đun sôi mới dùng cho ăn uống
c) Nước sinh hoạt
Nước sinh hoạt là nước được con người sử dụng trong các hoạt động sinh hoạt hàng ngày như ăn, uống, tắm, rửa thức ăn, rửa chén, rửa bát, các dụng cụ nấu ăn và các
hoạt động khác
3.1.2 Tầm quan trọng của nước đối với sự sống trong môi trường sinh thái
Nước sạch là yếu tố tự nhiên có liên quan trực tiếp đến sự sống trên trái đất Con người mỗi ngày cần 1 kg thức ăn, riêng uống nước cần đến 1,38 lít nước/ngày Nước giúp cho con người và động thực vật trao đổi, vận chuyển thức ăn tham gia vào các phản ứng hóa học, các mối liên kết và cấu tạo vào cơ thể Nước cần cho tất cả vi sinh vật, động vật, thực vật và con người Con người có thể nhịn ăn 15 ngày, nhưng không thể nhịn uống được 2- 4 ngày Ở đâu có nước thì ở đó đã, đang có hoặc sẽ có sự sống Nhưng ngược lại ở đâu có sự sống thì tất yếu ở đó phải có nước Ngày nay khi
xã hội càng phát triển, càng văn minh thì nhu cầu nước dùng cho sinh hoạt càng cao, như ở các nước phát triển như Mỹ, Bắc Âu, Nhật Bản thì mỗi người cần 150 lít nước
Trang 31mỗi ngày Ở nước ta hiện nay nước dùng cho sinh hoạt vào khoảng 60 – 100 lít/người/ngày
Trong cơ thể con người có hơn 65% là nước và đối với người trẻ thì tỷ lệ này còn cao hơn nữa Khi mất đi từ 6 – 8% nước, con người có cảm giác mệt mỏi, nếu mất 12% sẽ dẫn đến hôn mê
Ngoài ra, nước cần cho sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, để chữa bệnh, giao thông vận tải và phát triển du lịch
3.1.3 Phân loại và phân bố nguồn nước trong tự nhiên
Tài nguyên nước được phân thành hai dạng chủ yếu theo vị trí cũng như đặc điểm hình thành: nguồn nước mặt (nước trên mặt đất) và nguồn nước ngầm (nước dưới mặt đất)
a) Nước mặt
Trên phạm vi lục địa, trữ lượng nước mặt bao gồm nước băng tuyết ở các địa cực và các vùng núi cao xứ hàn đới (chiếm 98,83% tổng trữ lượng), nước hồ (1,15% tổng trữ lượng), nước đầm lầy (0,015% tổng trữ lượng) và nước sông (0,005% tổng trữ lượng) Về khối lượng nước băng tuyết chiếm tỷ lệ tuyệt đối lớn (99% tổng trữ lượng) nhưng trong thực tế băng hà nằm ở khu vực giá lạnh vĩnh cửu nên khả năng sử dụng chúng còn rất hạn chế Ngược lại nước sông và hồ tuy chiếm tỷ lệ rất nhỏ (khoảng 1,2%) song do tham gia vào chu trình tuần hoàn vận động rất tích cực nên chúng có vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển KTXH của con người
Về lượng nước hồ, cho tới nay vẫn chưa tính được chính xác vì chưa được điều tra, thống kê đầy đủ Sơ bộ ước tính có 2,8 triệu hồ tự nhiên trong đó có trên 145 hồ có diện tích mặt nước trên 100 km2 Lượng nước của những hồ lớn này chiếm 95% tổng
số, trong đó khoảng 56% là nước nhạt Ngoài số hồ tự nhiên, trên lục địa đã xây dựng hơn 10.000 hồ chứa nước nhân tạo nhằm giải quyết các nhu cầu sử dụng nguồn nước mặt
Nước đầm lầy ước tính 11.470 km3 với tổng diện tích 2.682 km2, trong đó phần lãnh thổ Châu Âu là 925 km2, Châu Phi là 341 km2, Bắc Mỹ là 180 km2, Nam Mỹ là 1.332 km2 và Châu Úc là 4 km2
Trang 32chảy sông phong phú hơn nhiều tới 41.500 km3/ năm Khả năng tái hồi trung bình của các dòng sông là 34,6 lần trong mỗi năm Vì vậy có thể tăng khả năng khai thác dòng sông cho các mục tiêu sử dụng khác nhau nhưng cần chú ý đến sự phân bố không đồng đều theo thời gian và không đều giữa các vùng lãnh thổ
b) Nước ngầm
Phía dưới mặt đất, trong các lớp bên trên của quyển đá có các dạng nước thiên nhiên vận động theo phương thức ngấm và tự chảy tạo thành nước ngầm Nước dưới đất phân bố trong các đá có độ thấm tốt, ngược lại bị cản trở hay ngăn chặn ở những thành tạo đất đá ít thấm nước hay không thấm nước
Theo vị trí áp suất, nước ngầm được phân loại thành nước ngầm nông, nước ngầm trong các tầng thổ nhưỡng (tầng đất canh tác) và nước ngầm sâu trong các tầng chứa nước ngầm không áp và nước ngầm có áp Theo tài liệu khoan sâu, nước ngầm được phát hiện ở độ sâu 700 - 9.000 m Dựa vào các kết quả nghiên cứu địa vật lý và thực nghiệm, các nhà bác học dự đoán rằng có thể tìm thấy nước ngầm ở độ sâu 15 –
20 km Nước ngầm có thể xuất lộ tự nhiên (các mạch lộ) hoặc nhân tạo (giếng khoan hoặc giếng bơm) nơi xuất lộ chính là nơi nước ngầm giao tiếp trực tiếp với những hoạt động trên bề mặt
3.1.4 Chính sách quản lý tài nguyên nước
a) Định giá nước
Giá nước phải bao gồm chi phí khai thác và tô tức tài nguyên nước Hiện tại nhiều quốc gia đã bỏ qua tô tức nên khai thác sử dụng nhiều làm các nơi sử dụng khác không đủ nhu cầu, còn nước ngầm cạn kiệt nhanh
b) Quyền khai thác sử dụng nước
Cấu trúc quyền khai thác làm sử dụng hiệu quả nước Nếu không có bất cứ sự phân quyền hạn nào, nguồn nước vô chủ sẽ bị khai thác sử dụng theo cách tự do tiếp cận, làm nguồn nước bị cạn kiệt và ô nhiễm
Sự phân quyền sở hữu và sử dụng trong nhiều trường hợp là khó thực hiện vì vấn đề ranh giới và tính di động của nước Để hạn chế khiếm khuyết này, cần có các pháp luật quy định hạn chế khai thác sử dụng
c) Bảo vệ nguồn nước
Khôi phục rừng đầu nguồn
Trang 33Cấm thải các chất độc hại, nước thải chưa xử lý và rác vào hệ thống sông, kênh, rạch
Không hình thành khu dân cư bên bờ sông (nên là đường giao thông)
Khai thác nước ngầm cần có sự quản lý nhà nước về số lượng khai thác, trả tô tức tài nguyên (thuế tài nguyên)
3.1.5 Một số lý luận cơ bản về đường cầu
a) Khái niệm về cầu
Cầu là số lượng hàng hóa hay dịch vụ mà người mua có khả năng và sẵn sàng
mua ứng với các mức giá khác nhau trong một thời gian nhất định
Nhu cầu có khả năng thanh toán là một hình thức biểu hiện của nhu cầu Nhu cầu có khả năng thanh toán là một hiện tượng xã hội phức tạp, nó được xác định bởi những điều kiện của sản xuất, những nguyên tắc phân phối sản phẩm giữa các thành viên trong xã hội
Nhu cầu có khả năng thanh toán nằm trong nhu cầu nói chung và không phải tất
cả nhu cầu biểu hiện bằng phương thức nhu cầu có khả năng thanh toán Nhu cầu có khả năng thanh toán là một hình thức biểu hiện nhu cầu không gắn với nhu cầu chung chung, mà gắn với nhu cầu cụ thể về hàng hóa dịch vụ được thỏa mãn bằng tiền
b) Cầu cá nhân
Cầu cá nhân về một loại hàng hóa X là một hàm số phụ thuộc vào:
- Giá hàng hóa X (PX)
- Thu nhập của người tiêu dùng (I)
- Thị hiếu, sở thích, khẩu vị của người tiêu dùng (T)
- Giá hàng hóa liên quan (PY)
Hàm cầu được biểu diễn như sau:
QDX = f (PX, I, T, PY) Lượng cầu hàng hóa X (QDX) sẽ thay đổi bởi những yếu tố sau thay đổi: Giá hàng hóa của X tăng hoặc giảm, thu nhập của người tiêu dùng, giá của hàng hóa bổ sung và giá cả của hàng hóa thay thế thay đổi, ngoài ra cùng với sự thay đổi theo thời gian, khẩu vị hay thị hiếu của người tiêu dùng cũng dẫn đến sự thay đổi về lượng cầu
Trang 34Đồ thị của đường cầu thị trường cho biết mối quan hệ giữa mức giá và tổng số lượng của các cá nhân Đường cầu cá nhân ít co giãn theo giá hơn so với đường cầu thị trường
Cầu thị trường về hàng hóa X nào đó phụ thuộc vào:
- Giá cả của hàng hóa X (PX)
- Thu nhập của người tiêu dùng (I)
- Thị hiếu và sở thích của người tiêu dùng (T)
- Giá cả của hàng hóa có liên quan (PY)
- Số lượng người tiêu dùng (N)
Hàm cầu được biểu diễn như sau:
),,,
Trong điều kiện các yếu tố khác không đổi (thu nhập, sở thích, giá cả hàng hóa
có liên quan.v.v) giữa giá và lượng cầu có quan hệ nghịch biến
- Khi giá của một sản phẩm hàng hóa tăng thì lượng cầu giảm
- Khi giá của một sản phẩm hàng hóa giảm xuống thì lượng cầu tăng
3.1.6 Một số yếu tố tác động đến đường cầu
Hình 3.1 Ảnh Hưởng của Giá đến Lượng Cầu (các yếu tố khác không đổi)
Nguồn: Giáo trình kinh tế vi mô 1
a) Giá của hàng hóa đó
Mối quan hệ giữa giá và lượng cầu là nghịch biến, tuân theo luật cầu có nghĩa là khi giá của một hàng hóa tăng lên dẫn đến lượng cầu giảm và ngược lại khi giá giảm
Trang 35thì lượng cầu tăng Tác động của các yếu tố giá làm di chuyển điểm cân bằng dọc theo đường cầu
Một trong các yếu tố khác thay đổi như là thu nhập, thị hiếu và sở thích, giá các hàng hóa liên quan sẽ làm dịch chuyển đường cầu Chúng ta sẽ lần lượt khảo sát các yếu tố đó
b) Giá cả của các mặt hàng có liên quan
Các mặt hàng này được phân làm 2 loại:
- Đối với hàng bổ sung: Tăng giá mặt hàng này sẽ có xu hướng làm giảm cầu đối với mặt hàng kia và ngược lại
- Đối với hàng thay thế: Tăng giá mặt hàng này làm giảm cầu chính mặt hàng
đó và làm tăng nhu cầu về mặt hàng kia và ngược lại
c) Thu nhập của người tiêu dùng
Khi thu nhập tăng thì nhu cầu đối với đa số hàng hóa cũng tăng thêm, thường là người tiêu dùng sẽ mua nhiều hơn Thực tế tính bình quân trên thế giới, các nước nghèo tiêu thụ chỉ vào khoảng 20 – 30 lít nước/người/ngày, còn các nước giàu từ 100 –
130 lít/người/ngày, chênh lệch nhau hàng chục lần Tuy nhiên cũng có trường hợp ngoại lệ là khi thu nhập tăng thì lượng tiêu thụ hàng hóa đó giảm, để tìm hiểu thêm
chúng ta sẽ đi vào tiêu chí phân loại sau:
- Hàng thứ cấp là những mặt hàng có cầu giảm khi thu nhập tăng
- Hàng thông thường là những mặt hàng có nhu cầu tăng khi thu nhập tăng Như tên gọi của chúng, đa số là hàng thông thường
- Hàng thứ cấp thường: là những hàng rẻ nhưng chất lượng thấp và mọi người
sẽ không muốn khi họ có khả năng chi tiêu nhiều hơn
d) Thói quen
Phần nào đó thì vấn đề này được quyết định bởi sự thuận tiện và phong tục Gần đây hơn, khi con người tập trung chú ý nhiều vào sức khỏe và phòng bệnh hơn là chữa bệnh thì vấn đề nước sạch trở nên bức xúc, người ta đã bắt đầu xem nước là một hàng hóa tức phải bỏ tiền ra mua thì mới có nước sử dụng và đồng thời họ cũng quen với mùi Clo có trong nước máy vốn trước đây không có trong các nguồn nước khác
Trang 363.1.7 Các hệ số co giãn của cầu
a) Độ co giãn của cầu theo giá
Là tỷ số giữa mức thay đổi tình bằng % của lượng cầu một mặt hàng đối với mức thay đổi % tương ứng về giá của mặt hàng đó
Đối với bất kỳ một hàng hóa nào thì đây là vấn đề được các nhà sản xuất quan tâm hàng đầu Nó là phần thông tin chủ chốt của nhiều vấn đề kinh tế vì giá có ảnh hưởng rất nhiều đến việc quyết định mua hay không mua hàng hóa đó của người tiêu dùng Điều này thể hiện rõ nhất thông qua luật cầu, nhưng lượng cầu đó tăng lên hay giảm xuống ở mức nào, cụ thể bao nhiêu là vấn đề quyết định
Công thức tính độ dao động của lượng cầu đối với giá :
Q
P P Q
P P Q Q
P dP Q
E < 0 phản ánh độ dốc của đường cầu
ΔP: sự thay đổi của giá
ΔQ: sự thay đổi lượng cầu
P: giá của hàng hóa X
Q: lượng cầu về hàng hóa X
D
P
E <1: Cầu không co giãn tương đối, nghĩa là % thay đổi lượng cầu nhỏ hơn
% thay đổi của giá cả Người tiêu dùng hầu như không phản ứng gì đối với sự thay đổi giá cả, khi giá tăng thì người tiêu dùng không giảm bao nhiêu so với mức tiêu dùng hiện tại của họ và ngược lại, nếu nhà sản xuất giảm giá bán thì nhu cầu tăng từ phía người tiêu dùng cũng không đáng kể, lượng cầu không nhạy cảm với sự thay đổi của giá cả Người ta vẫn sẵn lòng và có khả năng mua một lượng cầu như cũ mặc dù giá tăng
E >1: Cầu co giãn tương đối, trong trường hợp này người tiêu dùng rất nhạy
cảm đối với sự thay đổi của giá cả
Trang 37P
E = 0: Cầu hoàn toàn không co giãn, nghĩa là khi tăng hoặc giảm giá thì
lượng cầu vẫn không thay đổi
D
P
E = ∞: Cầu hoàn toàn co giãn, nghĩa là tăng giá thì lượng cầu sẽ giảm gần
bằng 0
b) Độ co giãn của cầu theo giá chéo
Độ co giãn của cầu theo giá chéo đo độ nhạy cảm của lượng cầu của một mặt
hàng đối với sự thay đổi giá của một mặt hàng có liên quan
- Độ co giãn theo giá chéo cho ta biết ảnh hưởng của sự thay đổi giá của một mặt hàng khác mặt hàng i, đến lượng cầu của mặt hàng i
- Độ co giãn giá chéo của một mặt hàng i xét theo sự thay đổi của mặt hàng j, là mức thay đổi % trong lượng cầu mặt hàng i chia cho mức thay đổi % tương ứng về giá mặt hàng j
Công thức tính:
i j j i
j j i
i D
P P Q P
P Q
Pj: giá mặt hàng j
ED
j: độ co giãn chéo của 2 mặt hàng i và j
Ta có các trường hợp cầu co giãn theo giá chéo như sau:
- Độ co giãn dương (ED
j > 0): có xu hướng hàm ý rằng các mặt hàng có thể thay thế cho nhau
- Độ co giãn âm (ED
j > 0): có nghĩa là các mặt hàng có thể bổ sung nhau
Do giá trị của hệ số co giãn giá thay đổi dọc theo đường cầu nên khi nói rằng cầu của một hàng hóa là co giãn hay không co giãn là không đúng về mặt kỹ thuật Cầu chỉ co giãn hay không co giãn trong một phạm vi giới hạn nào đó của giá cả
Trang 38c) Độ co giãn theo thu nhập
Độ co giãn của cầu theo thu nhập đối với cầu của một mặt hàng thể hiện % thay đổi trong lượng cầu chia cho % mức thay đổi tương ứng của thu nhập
Công thức tính:
Q
I I Q
I I Q
Q
X
X D
Trong đó: ΔQX: sự thay đổi lượng cầu hàng hóa X
ΔI: sự thay đổi thu nhập của người tiêu dùng
I: thu nhập của người tiêu dùng
Hàng thiết yếu là mặt hàng khi thu nhập tăng thì lượng cầu về hàng hóa đó
không đổi
Trang 393.2 Phương pháp nghiên cứu
3.2.1 Phương pháp thu thập số liệu
- Thu thập số liệu thứ cấp: từ phòng Thống kê, phòng Kinh Tế & Hạ Tầng, phòng Tài Nguyên & Môi Trường… thuộc UBND huyện Vân Canh, Trạm Kiểm Lâm huyện Vân Canh, UBND các xã, thị trấn, các đơn vị quản lý, khai thác công trình cấp nước về điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế xã hội, hiện trạng tài nguyên đất, tài nguyên rừng, tài nguyên nước, hiện trạng khai thác và trồng rừng, nhu cầu sử dụng nước sinh hoạt và nước tưới, thông tin về các hệ thống cung cấp nước, diện tích cung cấp…
- Thu thập số liệu có liên quan trên internet, tham khảo các tài liệu khác
3.2.2 Phương pháp phân tích
- Phương pháp nghiên cứu lịch sử: Phương pháp này sử dụng nhằm thu thập có
hệ thống và đánh giá khách quan các số liệu của hiện tượng xảy ra trước đó, nhằm mục đích kiểm tra những giả thiết liên quan đến các nguyên nhân có ảnh hưởng hay tác động đến xu hướng phát triển của các sự vật hiện tượng trong quá khứ, làm cơ sở vững chắc cho việc dự báo xu hướng trong tương lai
- Phương pháp thống kê: gồm thống kê mô tả và thống kê so sánh Số bình quân, tần suất, số tối đa, số tối thiểu, số tuyệt đối, số tương đối được dùng để mô tả hiện trạng khai thác, sử dụng tài nguyên nước cũng như hiện trạng khai thác rừng
Trang 40- Phương pháp phân tích hồi quy:
Hồi quy là công cụ cơ bản để đo lường kinh tế Phân tích hồi quy đo lường mối liên hệ phụ thuộc của một biến (gọi là biến phụ thuộc hay biến được giải thích) với một hay nhiều biến khác (được gọi là biến độc lập hay biến giải thích)
Phân tích hồi quy được tiến hành theo các bước sau:
+ Bước 1: Xác định và nêu ra các giả thiết mối quan hệ giữa các biến kinh tế Trong nghiên cứu đề tài này, chúng tôi sử dụng kỹ thuật ước lượng hồi quy tuyến tính bằng phương pháp bình phương bé nhất (OLS_Ordinary Least Squares) + Bước 2: Thiết lập mô hình toán học để mô tả quan hệ giữa các biến số
Như đã trình bày ở trên phương trình hồi quy được sử dụng ở dạng tuyến tính:
Y = β0 + β1X1 + β2X2 + … + βnXn + ε
Trong đó: Y là biến phụ thuộc
Xi là biến độc lập (i = 1,2,3,…, n)
βi là hệ số ước lượng (i = 1,2,3,…, n)
ε là sai số của mô hình + Bước 3: Ước lượng các tham số của mô hình (βi)
Các ước lượng này là các giá trị thực nghiệm của các tham số trong mô hình Ngoài ra, theo lý thuyết kinh tế lượng, nếu các giả thiết của mô hình đều thỏa các hàm ước lượng βi là các hàm ước lượng tuyến tính không thiên lệch (BLUE_Best Linear Unbiased Estimation)
+ Bước 4: Kiểm định các giả thiết đặt ra
+ Bước 5: Phân tích mô hình
Áp dụng lý thuyết trên, tiến hành xây dựng hàm số đường cầu về nước sinh hoạt của người dân huyện Vân Canh gồm các yếu tố:
Q = f(H, I, P, W) Trong đó:
Q: Nhu cầu sử dụng nước trong tháng (m3/hộ/tháng), H: Số nhân khẩu (người/hộ),
I: Thu nhập của người tiêu dùng (đồng/người/tháng), P: Giá nước sinh hoạt (đồng/m3),