1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ẢNH HƯỞNG CỦA TRÌNH ĐỘ HỌC VẤN CHỦ HỘ ĐẾN TỔNG THU NHẬP VÀ ĐỜI SỐNG NÔNG HỘ TẠI XÃ VĨNH THỊNH HUYỆN VĨNH THẠNH TỈNH BÌNH ĐỊNH

75 143 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 546,8 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HỒ CHÍ MINH ẢNH HƯỞNG CỦA TRÌNH ĐỘ HỌC VẤN CHỦ HỘ ĐẾN TỔNG THU NHẬP VÀ ĐỜI SỐNG NÔNG HỘ TẠI XÃ VĨNH THỊNH HUYỆN VĨNH THẠNH TỈNH BÌNH ĐỊNH NGUYỄN THỊ PHƯƠNG THẢO KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH

ẢNH HƯỞNG CỦA TRÌNH ĐỘ HỌC VẤN CHỦ HỘ ĐẾN TỔNG THU NHẬP VÀ ĐỜI SỐNG NÔNG HỘ TẠI

XÃ VĨNH THỊNH HUYỆN VĨNH THẠNH

TỈNH BÌNH ĐỊNH

NGUYỄN THỊ PHƯƠNG THẢO

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

ĐỂ NHẬN VĂN BẰNG CỬ NHÂN NGÀNH PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

Thành phố Hồ Chí Minh Tháng 07/2007

Trang 2

Hội đồng chấm báo cáo khóa luận tốt nghiệp đại học khoa Kinh Tế, trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh xác nhận khóa luận “ẢNH HƯỞNG CỦA TRÌNH ĐỘ HỌC VẤN CHỦ HỘ ĐẾN TỔNG THU NHẬP VÀ ĐỜI SỐNG NÔNG

HỘ TẠI XÃ VĨNH THỊNH - HUYỆN VĨNH THẠNH - TỈNH BÌNH ĐỊNH”, do

NGUYỄN THỊ PHƯƠNG THẢO, sinh viên khóa 2003 - 2007, KHOA KINH TẾ,

ngành PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VÀ KHUYẾN NÔNG, đã bảo vệ thành công trước hội đồng vào ngày _

TRẦN ĐẮC DÂN Người hướng dẫn

Ngày tháng năm 2007

Chủ tịch hội đồng chấm báo cáo Thư ký hội đồng chấm báo cáo

_ _ Ngày tháng năm 2007 Ngày tháng năm 2007

Trang 3

LỜI CẢM TẠ

Để hoàn thành đề tài này, tôi đã được sự ủng hộ và sự giúp đỡ tận tình của quý thầy cô, gia đình thân yêu và các bạn trong thời gian vừa qua Đặc biệt là gởi lời cảm

ơn chân thành đến:

Công nuôi dưỡng và sự động viên của ba mẹ yêu quý

Thầy Trần Đắc Dân, đã hướng dẫn tôi trong suốt thời gian thực tập và hoàn thành đề tài tốt nghiệp

Chú Tạng (Phó chủ tịch xã Vĩnh Thịnh) và các anh ở Ban thống kê xã Vĩnh Thịnh, phòng Kinh tế và Ủy Ban Nhân Dân huyện Vĩnh Thạnh đã tận tình trong việc cung cấp các số liệu thứ cấp trong thời gian thực tập trong tháng 4/2007

Đồng thời, cảm ơn các bạn đã quan tâm, động viên tôi, đã cùng tôi đi suốt quá trình thực tập và hoàn thành luận văn này

Lời chân thành!

Ngày tháng năm 2007

Trang 4

NỘI DUNG TÓM TẮT

NGUYỄN THỊ PHƯƠNG THẢO Tháng 7 năm 2007 “Ảnh Hưởng Của Trình Độ

Học Vấn Chủ Hộ Đến Tổng Thu Nhập và Đời Sống Nông Hộ Xã Vĩnh Thịnh, Huyện Vĩnh Thạnh, Tỉnh Bình Định”

NGUYEN THI PHUONG THAO July 2007 “The Effects of the Householders’s

Education Level to the Total Income and to the Livelihoods in Vinh Thinh Commune, Vinh Thanh District, Binh Dinh Province”

Khoá luận tìm hiểu về sự ảnh hưởng của trình độ học vấn chủ hộ đến tổng thu nhập và đời sống nông hộ trên địa bàn xã Vĩnh Thịnh huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định Để nghiên cứu vấn đề trên, đề tài đã điều tra được 53 mẫu các hộ trên địa bàn để tiến hành tổng hợp phân tích Bằng phương pháp phân tích kinh tế lượng và các phương pháp phân tích tổng hợp số liệu cần thiết, đề tài đã xác định được mức độ ảnh hưởng của trình độ học vấn chủ hộ đến tổng thu nhập các gia đình làm nông nghiệp tại

xã Vĩnh Thịnh Đồng thời, xác định được vai trò quan trọng của học vấn con người trong đời sống kinh tế xã hội trong giai đoạn hiện nay

Bằng mô hình hồi quy, đề tài cũng đã xác định được các vấn đề có liên quan mật thiết đến sự biến động của tổng thu nhập và xếp hạng mức độ ảnh hưởng của nó đến tổng thu nhập và đời sống nông hộ ở xã Vĩnh Thịnh Từ đó, đưa ra kết luận rằng, giáo dục luôn là vấn đề quan tâm của toàn xã hội trong việc cải thiện đời sống trong thời đại công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông thôn ngày nay

Để nâng cao đời sống kinh tế - xã hội cho nông hộ, ngoài các chính sách về giáo dục, còn phải kết hợp nhiều chính sách kinh tế xã hội khác mang tính thiết thực

và lâu dài phù hợp với con người và hoàn cảnh khách quan Dựa vào đó, đề tài đưa ra các chính sách chiến lược có thể áp dụng ở xã Vĩnh Thịnh, huyện Vĩnh Thạnh

Trang 5

MỤC LỤC

Trang Danh mục các chữ viết tắt viii

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.3 Các giả thiết của vấn đề nghiên cứu 2

1.5 Cấu trúc của khoá luận 3

2.1.4 Môi trường nông thôn và nước sinh hoạt 5

2.2 Tình hình hoạt động kinh tế trên địa bàn xã Vĩnh Thịnh 6

2.2.1 Cơ cấu ngành nghề 6

2.2.2 Giá trị sản xuất các ngành kinh tế của xã 7

2.2.3 Hoàn cảnh của kinh tế nông hộ 7

2.3 Đặc điểm về văn hoá - xã hội tại xã Vĩnh Thịnh 8

2.3.1 Tình hình dân số và lao động tại địa phương 8

Trang 6

2.3.3 Y tế - sức khoẻ 9 2.3.4 Cơ sở hạ tầng 10 2.4 Các chỉ tiêu kinh tế - xã hội 10

2.5 Các chương trình, chính sách đã và đang thực hiện từ năm 2006 đến nay 10

NỘI DUNGVÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 12

3.1 Một số khái niệm 12 3.1.1 Hộ gia đình 12

3.1.3 Chủ hộ và người lãnh đạo gia đình 13

3.1.4 Tổng thu nhập 13 3.1.5 Thu nhập bình quân đầu người 14

3.1.6 Giáo dục, trình độ học vấn, chuyên môn 14

3.2 Vai trò của trình độ học vấn 15

3.2.1 Thu nhập từ nông nghiệp và trình độ học vấn 16

3.2.2 Nâng cao năng lực để phát triển bền vững 16

3.3 Những yếu tố cấu thành nên thu nhập 16

3.4 Nội dung nghiên cứu 17

3.4.3 Đặc điểm sản xuất và chi tiêu cơ bản của nền kinh tế nông hộ 23

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 26

4.1 Đặc điểm cơ bản của nông hộ ở xã Vĩnh Thịnh 26

4.2 Ảnh hưởng của trình độ học vấn chủ hộ đến tổng thu nhập nông hộ 32

4.2.1 Mối quan hệ của trình độ học vấn và tổng thu nhập nông hộ 32

4.2.2 Ảnh hưởng của trình độ học vấn chủ hộ đến tổng thu nhập nông hộ 34

4.3 Các yếu tố đồng ảnh hưởng đến tổng thu nhập nông hộ 35

4.3.2 Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đồng ảnh hưởng trong nghiên cứu đến

tổng thu nhập nông hộ 41

Trang 7

4.4 Vai trò của giáo dục đối với đời sống 43

4.4.1 Mục tiêu của việc đầu tư cho giáo dục 43

4.4.1 Nhận thức của người dân về tầm quan trọng của học vấn 44

4.5 Các hoạt động kinh tế - xã hội để phát triển nông thôn tại xã Vĩnh Thịnh 47

4.5.1 Kinh tế 47 4.5.2 Xã hội 48 4.5.3 Hoạt động của các tổ chức cộng đồng 48

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 50

5.1 Kết luận 50 5.2 Đề nghị 51 TÀI LIỆU THAM KHẢO 53

Trang 8

1

Trang 9

Giáo dục được đặt lên sự quan tâm hàng đầu của đất nước ta Khi đánh giá sự quan trọng của ngành giáo dục, chúng ta thường xét đến các mối quan hệ của nhiều yếu tố khác nhau như: trình độ học vấn, thu nhập, chính sách giáo dục ảnh hưởng thế nào đến đời sống, Hiện nay, sự chênh lệch về mức sống giữa khu vực thành thị và nông thôn, miền núi ngày càng cao hơn Không giống như thành thị, người dân ở nông thôn, mà đặc biệt là khu vực miền núi không có điều kiện để tiếp thu khoa học kỹ thuật, thông tin cập nhật, và không có điều kiện học tập trau dồi bản thân Có rất nhiều nguyên nhân cho việc này, nhưng chung quy lại là vì thu nhập họ quá thấp Như vậy, yếu tố giáo dục có vai trò quan trọng như thế nào trong việc cải thiện mức sống và cho quá trình phát triển nông nghiệp nông thôn? Trên thực tế, sự tăng thu nhập và giảm tình trạng nghèo đã đi kèm với việc tăng các chỉ số về nguồn nhân lực, được đo lượng bằng trình độ học vấn và sức khoẻ

Có rất nhiều nghiên cứu về sự tương quan giữa trình độ học vấn và giáo dục ở khu vực nông thôn Nước ta có trên 75% dân số sống ở nông thôn và sống dựa vào nguồn thu nhập chính là từ sản xuất nông nghiệp Và huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định cũng là một trong những huyện miền núi được sự quan tâm lớn của tỉnh Bình Định và nhà nước ta hiện nay Trong đó, xã Vĩnh Thịnh là một trong 9 xã/thị trấn có

Trang 10

động kinh tế Do đó, đề tài nghiên cứu có tên là: “Ảnh hưởng của trình độ học vấn

chủ hộ đến tổng thu nhập và đời sống nông hộ tại xã Vĩnh Thịnh, huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định”

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu chung: Tìm hiểu mức độ ảnh hưởng của trình độ học vấn chủ hộ đến tổng thu nhập nông hộ

Mục tiêu cụ thể:

- Tìm hiểu ảnh hưởng của trình độ học vấn chủ hộ đến tổng thu nhập nông hộ

- Phát hiện các yếu tố khác có thể đồng ảnh hưởng đến tổng thu nhập các gia đình nơi nghiên cứu

- Khảo sát nhận thức của người dân về tầm quan trọng của học vấn

- Xác định sự tương quan giữa thu nhập và chi tiêu cho giáo dục - học hành

- Từ các mục tiêu trên, sẽ chứng minh rằng các giải pháp giáo dục là giải pháp quan trọng góp phần cải thiện và nâng cao mức sống nông hộ miền núi nơi đây

1.3 Các giả thiết của vấn đề nghiên cứu

- Giả thiết ban đầu: trình độ học vấn có ảnh hưởng đến mức thu nhập gia đình Đặc biệt chú ý là học vấn người quyết định cao nhất trong gia đình có ảnh hưởng nhiều đến tổng thu nhập gia đình hay không?

- Nếu học vấn chủ hộ không ảnh hưởng nhiều đến tổng thu nhập nông hộ, vậy yếu tố nào ảnh hưởng nhiều nhất đến mức sống của gia đình

Đây là các giả thiết ban đầu trước khi thực hiện nghiên cứu đề tài: “Ảnh hưởng của trình độ học vấn chủ hộ đến tổng thu nhập và đời sống nông hộ”

1.4 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

Không gian: Xã Vĩnh Thịnh, huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định

Thời gian: Thu thập số liệu năm 2006 đến 30/4/2007

Trang 11

1.5 Cấu trúc của khoá luận

Nội dung khái quát các chương trong đề tài:

Các khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài và phương pháp thu thập, phân tích

số liệu thứ cấp, sơ cấp trong quá trình thực tập

Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Thực hiện giải quyết các mục tiêu ở chương mở đầu

Chương 5: Kết luận và đề nghị

Đưa ra kết luận sau khi thực hiện việc tổng hợp và phân tích số liệu nội dung

Từ đó nêu ý kiến riêng về việc giải quyết các vấn đề

Trang 12

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN

2.1 Tình hình cơ bản về các điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên của xã Vĩnh Thịnh

Phía Bắc giáp xã Vĩnh Hiệp

Phía Nam giáp xã Tây Thuận, huyện Tây Sơn

Phía Đông giáp xã Cát Sơn, huyện Phù Cát

Phía Tây giáp xã Vĩnh Quang

Vị trí địa lý xã nằm gần trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá của huyện, thuận tiện cho sự tiếp thu các thông tin cho sự phát triển kinh tế, xã hội của xã

2.1.2 Khí hậu thời tiết

Nhiệt độ trung bình năm: 26,7oC

Ánh sáng trung bình mỗi ngày: 6-7h, cao nhất 7-9h (tháng 6-7), thấp nhất 4h (tháng 11-12) Điệu kiện này thuận lợi cho các loại cây trồng ngắn ngày có năng suất cao

Lượng mưa trung bình năm 2100 mm, mùa mưa bắt đầu từ tháng 9-12, chiếm 70% tổng lượng mưa năm Lượng mưa lớn đem đến nguồn nước dồi dào nhưng phân

Trang 13

bố không đều, chỉ tập trung trong vòng vài tháng, đặc biệt ánh sáng và lượng mưa

không kết hợp hài hoà với nhau Do đó, gây khó khăn cho việc bố trí mùa vụ và các

biện pháp kỹ thuật thâm canh

2.1.3 Đất và tình hình sử dụng đất

Theo kết quả đánh giá của Hội khoa học đất Việt Nam, hiện toàn xã có 4 loại

đất cơ bản là : Đất xám điển hình (620 ha) chiếm 10,2% tổng diện tích đất các loại,

canh tác cây công nghiệp hoặc cây lâu năm và hoa màu; đất Glây nông (430 ha) chiếm

7,1% tổng diện tích, canh tác lúa 2-3 vụ; đất phù sa chua (500 ha) chiếm 8,2% tổng

diện tích, canh tác lúa 2-3 vụ; đất xám Feralit (4.525 ha) chiếm 74,5% tổng diện tích

đất các loại

Hiện nay tổng diện tích đất giao quyền sử dụng là 274,05 ha Tuy nhiên, đất

chưa sử dụng vẫn còn chiếm diện tích lớn

tổng số hộ là 1560, và 6340 nhân khẩu, trung bình có 4,1 người /hộ Hầu hết đất được

sử dụng làm nông nghiệp như trồng lúa là chính và các cây ngắn ngày (đậu…) hay cây

hàng năm (mía, mì…) Trong đó, gần 100% hộ đều trồng lúa làm lương thực chính

hàng năm

2.1.4 Môi trường nông thôn và nước sinh hoạt

Hiện nay có hơn 90% số hộ có công trình vệ sinh, giếng nước và hơn 300 nhà

tắm…Tuy nhiên, số lượng gia súc nhiều, việc xử lý chất thải chưa tốt trong khu vực

dân cư, ảnh hưởng đến môi trường Bên cạnh đó, diện tích rừng tự nhiên chưa phát

triển nhiều, hiện xã đang thực hiện chương trình hỗ trợ trồng rừng sản xuất theo

chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng để cải thiện môi trường và đời sống toàn dân

Trang 14

Từ năm 2002 xã đã bắt đầu xây dựng đường ống giếng nước sạch cấp 1 cho 3 thôn An Ngoại, Vĩnh Định, Vĩnh Thái Các hộ trong xã hầu hết là sử dụng nước giếng đào, đa số đều hợp tiêu chuẩn vệ sinh môi trường

2.2 Tình hình hoạt động kinh tế trên địa bàn xã Vĩnh Thịnh

2.2.1 Cơ cấu ngành nghề

Vĩnh Thịnh là một xã thuần nông và có hoạt động sản xuất nông nghiệp từ xa xưa, những năm gần đây CNH, HĐH ngày càng phát triển thì cơ cấu ngành nghề ngày càng mở rộng sang các ngành phi nông nghiệp Trong năm 2006, số hộ có thu nhập lớn từ các ngành nông nghiệp chiếm 84,6% tổng hộ; công nghiệp-xây dựng là 1,3% tổng hộ; dịch vụ - thương mại là 9% tổng hộ; và các ngành khác là 5% tổng hộ Cơ cấu ngành nghề theo hộ được thể hiện qua hình 2.1 sau:

Hình 2.1 Biểu Đồ thể hiện Tỷ Lệ Cơ Cấu Ngành Nghề theo Hộ Gia Đình

84,6%

0,8%

2,4%

0,4% 1,4% 5,5% 4,9%

Khác

Nguồn tin:Số liệu tổng hợp từ Ban Thống Kê Kinh Tế Xã Vĩnh Thịnh Trên biểu đồ ta thấy, có tới 85% số hộ làm nông nghiệp, còn các ngành phi nông nghiệp chỉ chiếm 15% gồm ngành dịch vụ, thương nghiệp, vận tải,… Các hộ làm ngành phi nông nghiệp trên thực tế là những ngành tiểu thủ công nghiệp, hay buôn bán nhỏ lẻ ở quy mô hộ gia đình như: xay xát gạo, nghề gạch, làm bánh tráng,bún, nấu rượu, cơ khí nhỏ (xe độ, máy tuốt lúa, máy cày)

Trang 15

2.2.2 Giá trị sản xuất các ngành kinh tế của xã

Nông nghiệp sẽ là ngành chiếm ưu thế trong giá trị sản xuất toàn xã Giá trị sản

xuất các ngành nghề ngày càng tăng: Năm 2005: 28.163 triệu đồng

Năm 2006: 31.180 triệu đồng Năm 2007 (dự tính): 32.860 triệu đồng

Riêng năm 2006, tỷ lệ các ngành chiếm cụ thể như sau:

Bảng 2.2 Giá Trị Sản Xuất theo Ngành với Giá Hiện Hành và Giá Cố Định

tỷ lệ cao là nông nghiệp (80% tổng giá trị sản xuất) vì quy mô số hộ làm nông nghiệp

chiếm tỷ lệ cao Ngành lâm nghiệp với 200ha rừng trồng được chăm sóc nhằm khai

thác gỗ tròn (33m3) nên chiếm khoảng 5% tổng giá trị sản xuất, đứng thứ 3 sau ngành

thương mại dịch vụ (chiếm 8,5% tổng giá trị sản xuất) Trong thời gian tới, xã Vĩnh

Thịnh sẽ khuyến khích phát triển mở rộng các ngành phi nông nghiệp như: Công

nghiệp, thương mại, dịch vụ… là những ngành có thu nhập cao để cải thiện mức sống

xã hội

2.2.3 Hoàn cảnh của kinh tế nông hộ

Từ năm 2002 đến nay, trên địa bàn xã bước đầu đã phát triển 20 trang trại, chủ

yếu là trang trại trồng cây lâu năm (trồng điều), trang trại thuỷ sản (nuôi cá),… Bước

đầu đã thu được trên 12 triệu đồng /năm Tuy nhiên, sự phát triển trang trại còn ít và

quy mô trang trại còn nhỏ, trung bình chỉ 2-3 ha Lý do là thiếu đất nông nghiệp, trung

Trang 16

Trồng , thu hoạch mì, mía

bình chưa tới 500m2/ người Bên cạnh đó, có nhiều gia đình có đất nhưng không có vốn hoặc không có điều kiện vay vốn để mở rộng quy mô sản xuất

Hoạt động sản xuất nông nghiệp của nông hộ được thể hiên qua lịch thời vụ sau Trong đó, có những tháng nông hộ sẽ tận dụng tối đa lao động cho đầu và cuối vụ mùa như tháng 3, 6, 8, 10, 12, 1 Còn những tháng giữa mùa vụ sẽ tận dụng đi làm thêm như làm mướn, thợ xây,… kiếm thêm thu nhập cho gia đình

Hình 2.2 Sơ Đồ Lịch Thời Vụ trên Địa Bàn Xã Vĩnh Thịnh

1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 1 2 3 4 5

Hiện tại, trên địa bàn xã đã có nhiều chương trình khuyến nông để phát triển kinh tế hộ gia đình như cho vay vốn từ nhiều tổ chức, hội (Hội Phụ Nữ, Hội Nông Dân, Ngân Hàng…), học các lớp tập huấn IPM, trồng lúa giống lai mới, trồng 3 vụ chuyển sang 2 vụ đạt năng suất cao, tiết kiệm công lao động nhà Mục đích chuyển số lao động nhà dư thừa sang làm phi nông nghiệp có thu nhập cao hơn

2.3 Đặc điểm về văn hoá - xã hội tại xã Vĩnh Thịnh

2.3.1 Tình hình dân số và lao động tại địa phương

Năm 2006, toàn xã Vĩnh Thịnh có 3.261 số người trong độ tuổi lao động, chiếm 17% tổng số người trong độ tuổi lao động trên toàn huyện Vĩnh Thạnh

Năm

Vụ

Hè Thu

Đông Xuân Thu Đông

Trồng ngô, lạc, đậu Trồng , thu hoạch mì, mía

Trang 17

Dân số trung bình năm 2006: 6592 người, chiếm 24% dân số huyện, trong đó

dân tộc Kinh chiếm 92%, dân tộc Bana chiếm 8% Tốc độ tăng dân số hàng năm là

1,01% Mật độ dân số trung bình là 128 người/ km2

Như vậy, lực lượng lao động trẻ tại địa phương rất dồi dào, chiếm 49,9% toàn

dân số Đây là một trong những nguồn lực quan trọng để phát triển nông thôn miền núi

như xã Vĩnh Thịnh

2.3.2 Giáo dục và hệ thống thông tin

Toàn xã có 10 trường mẫu giáo, trong đó có một trường mẫu giáo đạt chuẩn

quốc gia, 3 trường tiểu học, và 1 trường THCS Vĩnh Thịnh, gồm 106 giáo viên các

cấp

Số học sinh theo các cấp được thống kê như sau:

Bảng 2.3 Số Học Sinh theo Cấp Học Năm 2006

bộ khuyến nông, ngày càng hoàn thiện trình độ chuyên môn, và đạo đức UBND xã

đang phấn đấu với chỉ tiêu 85% đội ngũ cán bộ được chuẩn hoá đại học

Về hệ thống thông tin: Hiện mỗi xã thuộc huyện Vĩnh Thạnh đều có một đài

phát thanh, và việc lưu chuyển thông tin được cập nhật hàng ngày Hệ thống điện lưới

đáp ứng 100% số hộ trong xã

2.3.3 Y tế - sức khoẻ

Toàn xã có một trạm y tế Chính sách chăm sóc sức khỏe được đặc biệt quan

tâm đối với các nông hộ nghèo và gia đình có người già (>70 tuổi) như cung cấp

BHXH dành cho hộ nghèo

Trang 18

2.3.4 Cơ sở hạ tầng

Đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách huyện, xã để thực hiện các chương trình như bêtông hoá, xây đường liên thông, kiên cố hóa kênh mương, hệ thống cấp nước sạch, và mua sắm các thiết bị y tế, giáo dục, đầu tư phát triển chăn nuôi, trồng trọt, thuỷ sản, lâm nghiệp, và các ngành nghề khác,…

Xã Vĩnh Thịnh thuộc huyện miền núi, tuy nhiên đã xây dựng các cơ sở hạ tầng

cơ bản nhất để phục vụ nhân dân tối đa, như đường bêtông, các cơ quan uỷ ban,…

2.4 Các chỉ tiêu kinh tế - xã hội

Trong năm 2006, toàn xã có 767 hộ nghèo (chiếm 49.3% tổng hộ), thu nhập bình quân đầu người là 3,9 triệu đồng /năm Đến đầu năm 2007, xã Vĩnh Thịnh đã được công nhận là xã thoát nghèo

Theo kế hoạch hết năm 2007, xã sẽ còn 610 hộ nghèo (chiếm 42% tổng hộ), thu nhập trên 4,1 triệu đồng /năm

2.5 Các chương trình, chính sách đã và đang thực hiện từ năm 2006 đến nay

Chính sách xoá đói giảm nghèo:

BHXH hộ nghèo, hỗ trợ 10 kg gạo /năm

Ngân hàng chính sách xã hội cho hộ nghèo vay vốn đầu tư xản xuất và chăn nuôi

Hội nông dân, Hội phụ nữ, Thanh niên cho nông hộ vay với lãi suất thấp 0,6 %)

(0,4-Chính sách giáo dục-đào tạo:

Ngân hàng chính sách tạo điều kiện cho con em hộ nghèo vay từ 3-5 triệu để đi học

Vận động xây dựng quỹ khuyến học ở xã, miễn học phí cho học sinh thi đậu vào trường PTTH nội trú

Công tác đào tạo học trung học, đại học quan tâm nhất đối với giới nữ đồng bào dân tộc thiểu số

Các chương trình, đề án công tác khuyến nông đã và đang thưc hiện ở xã từ 2 năm nay:

Trang 19

Chương trình 134, 135

Chương trình do WB: đầu tư hạng mục, chương trình tạo công ăn việc làm cho người dân Ngân sách đóng góp theo tỷ lệ 5%, mở rộng bêtông, kênh mương

Chương trình của tổ chức Đan Mạch: “Giống nông hộ”, phòng khuyến nông mở

16 lớp tập huấn giống nông hộ

Chuyển đổi lúa 3 vụ sang 2 vụ giai đoạn 2006 - 2009 tạo điều kiện tăng năng suất, giảm chi phí và công lao động

Chương trình cải tạo vườn điều., trồng ngô lai, vườn cây ăn quả

Mở lớp tập huấn IPM

Tóm lại, Vĩnh Thịnh là một xã mạnh về lĩnh vực nông nghiệp trong toàn huyện Bên cạnh đó, công tác khuyến nông cũng luôn theo sát việc sản xuất của nông hộ, nhằm giảm thiểu thiệt hại từ thời tiết và sâu bệnh Đồng thời, HTX nông nghiệp dịch

vụ tổng hợp cung cấp giống lúa lai, thuốc, khâu làm đất và thu mua lúa sau khi được

hỗ trợ làm điểm trình diễn với giá cao hơn thị trường

Trang 20

CHƯƠNG 3 NỘI DUNGVÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Một số khái niệm

3.1.1 Hộ gia đình

Theo từ điển Tiếng Việt, “hộ” đơn vị quản lý dân số ở Việt Nam, bao gồm những người có quan hệ về gia đình cùng ở chung một nhà, được cơ quan nhà nước cấp cho hộ khẩu ghi rõ họ tên, ngày sinh, nghề nghiệp của từng người

Hộ gia đình gồm những người có quan hệ như ông bà, ba mẹ, vợ chồng, con, anh, chị, em ruột và những người khá được chủ hộ đồng ý cho nhập vào cùng ở chung một nhà

Dựa vào tính chất cơ bản của hộ gia đình, có thể chia thành 2 loại hộ gia đình

Hộ gia đình làm nông nghiệp và hộ gia đình làm phi nông nghiệp Đối với những hộ làm nông nghiệp, thu nhập của các thành viên trong gia đình đều dựa vào hoạt động sản xuất nông nghiệp Đồng thời chi phí và công lao động cũng bỏ thời gian cho các hoạt động nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp Đối với hộ làm phi nông, các thành viên trong gia đình hay lao động chính trong gia đình tham gia vào các hoạt động không thuộc lĩnh vực nông - lâm - ngư nghiệp Do đó, thu nhập của họ cũng phụ thuộc vào các hoạt động này Các hộ phi nông có thể có đất nông nghiệp và sống ở nông thôn nhưng các hoạt động và thu nhập từ nông nghiệp chỉ là thứ yếu

Trang 21

3.1.2 Kinh tế hộ gia đình miền núi

Kinh tế hộ gia đình là loại hình sản xuất tự cấp tự túc kết hợp với sản xuất hàng hoá nhỏ, chủ yếu dựa trên sức lao động và tư liệu sản xuất của hộ gia đình Kinh tế hộ gia đình rất quan trọng trong việc đáp ứng nhu cầu tiêu dùng cho các hộ nông dân ở miền xuôi cũng như ở miền núi

Đặc trưng của kinh tế hộ gia đình thường phát triển tổng hợp, nhiều ngành nghề, mức độ chuyên môn hoá chưa cao Ở miền núi, kinh tế hộ gia đình thường gắn liền sản xuất nông nghiệp với lâm nghiệp Và lực lượng lao động nhà là chủ yếu, nhưng vẫn có thể thuê mướn lao động ngoài khi sản xuất thời vụ hay đột xuất Đồng thời, ít vốn và lao động, sản xuất ở quy mô nhỏ nên việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật khá khó khăn Hầu hết là canh tác và sản xuất theo kinh nghiệm cha ông để lại, hoăc áp dụng những kỹ thuật đơn giản, quy mô nhỏ, ít tốn kém và dễ áp dụng

3.1.3 Chủ hộ và người lãnh đạo gia đình

Chủ hộ là đại diện gia đình chịu trách nhiệm về pháp lý của nhà nước, thực hiện việc đăng ký và quản lý hộ khẩu của gia đình

Người lãnh đạo gia đình là người có quyền quyết định cao nhất trong gia đình

về các lĩnh vực quan trong như đầu tư, chi tiêu sản xuất, đổi mới phương thức sản xuất,…

Trong nghiên cứu này, đối tượng nghiên cứu chính là chủ hộ hoặc là người có ý kiến ảnh hưởng lớn đến gia đình Tuy nhiên, khi chủ hộ không còn năng lực sản xuất (như lớn tuổi, người tàn tật, mất khả năng lao động,…) thì quyền quyết định sẽ thuộc

về thành viên khác trong gia đình Lúc này, họ có thể được xem là chủ hộ

Trên địa bàn nghiên cứu là một vùng nông thôn miền núi, nên trong tất cả các hoạt động kinh tế, 2 vợ chồng đều là người cùng tham gia bàn bạc và ra quyết định Tuy nhiên, người chồng thông thường luôn đứng đầu nên được xem là chủ hộ

3.1.4 Tổng thu nhập

Thu nhập là những khoảng thu về của lao động sau một thời gian nhất định làm một công việc nào đó Thu nhập có thể được tính bằng tiền hoặc bằng công Tính bằng tiền khi người lao động bán sản phẩm họ làm ra hoặc thu được từ hoạt động làm thuê, mướn, làm công ăn lương Thu nhập được tính bằng công khi người dân lấy công lao

Trang 22

1 Thu nhập từ nông nghiệp: trồng trọt (lúa, mì, đậu, mía đường,…), chăn nuôi (heo, bò, gà), phần thu là sản phẩm thu hoạch được (kể cả bán và tiêu dùng) trong năm quy đổi ra giá trị tại thời điểm tương ứng Các phần không tính vào thu nhập là: các sản phẩm phụ để tiêu dùng trong gia đình, hàng hoá hay sản phẩm có giá trị quá nhỏ, trâu bò dùng cho sản xuất

2 Thu nhập từ hoạt động phi nông nghiệp: công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ, làm thuê, mướn, cán bộ công chức, nhà nước

3 Đối với thu nhập từ người đi làm xa (ngoài huyện, tỉnh thành, xuất khẩu lao động) thì tính luôn phần thu nhập hàng năm của họ vào thu nhập của tổng thu nhập gia đình

4 Thu nhập hàng tháng từ các chế độ ưu đãi của nhà nước như: lương hưu, trợ cấp chế độ xã hội (hộ nghèo, có công, thương binh)

5 Và các khoản thu nhập khác ngoài các thu nhập kể trên

3.1.5 Thu nhập bình quân đầu người

Được tính bằng công thức: (Tổng thu nhập - tổng chi phí tương ứng) / số nhân khẩu hộ gia đình Thu nhập bình quân đầu người được tính theo từng năm

Thu nhập bình quân đầu người trên năm thể hiện mức thu nhập thuần Khi chỉ tiêu này tăng hay giảm phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: số người trong gia đình, số tuổi (hay số năm làm việc hoặc kinh nghiệm), lĩnh vực hoạt động,…Thu nhập bình quân đầu người trên năm tăng thể hiện chất lượng cuộc sống ngày càng tăng

3.1.6 Giáo dục, trình độ học vấn, chuyên môn

Giáo dục là hoạt động hướng tới con người thông qua một hệ thống các biện pháp tác động nhằm truyền thụ những tri thức và kinh nghiệm, rèn luyện kỹ năng và lối sống bồi dưỡng tư tưởng, đạo đức cần thiết cho đối tượng, giúp hình thành và phát

Trang 23

triển năng lực, phẩm chất nhân cách phù hợp với mục đích, mục tiêu chuẩn bị cho đối tượng tham gia hoạt động sản xuất và đời sống xã hội (Từ điển Giáo Dục, 2001) Trình độ học vấn là tổng số vốn kiến thức, kỹ năng tiếp thu được trong quá trình học tập, được so sánh, đánh giá xếp loại theo tiêu chuẩn học lực quy định trong chương trình giáo dục các cấp bậc, cấp học Trong nghiên cứu, trình độ học vấn của chủ hộ được tính bằng số năm đi học các cấp

Trình độ chuyên môn là tổng số vốn kiến thức thu được trong quá trình học tập, nghề nghiệp nhất định và thực hiện bằng kết quả tham gia hoạt động thực tế trong nghề đó Năng suất, chất lượng, hiệu quả là thước đo trình độ chuyên môn chứ không phải chỉ có vốn kiến thức và kỹ năng tiềm ẩn

Học vấn là một trong những nhiệm vụ hàng đầu của giáo dục nước ta nhằm nâng cao trình độ dân trí, cũng như trình độ văn hoá của dân trí Trước mắt, là việc phổ cập tiểu học và sau đó tiến tới bậc trung học cơ sở Đó là nhiệm vụ của ngành giáo dục trong giai đoạn hiện nay

3.2 Vai trò của trình độ học vấn

Trình độ học vấn được xem là một yếu tố đóng vai trò quan trọng trong đời sống con người, và là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến “thu nhập”

Hình 3.1 Sơ Đồ về Ảnh Hưởng của Trình Độ Học Vấn

Nguồn tin: Rank và Cheng, 1995 Trong sơ đồ 3.1 ta thấy rằng, trình độ học vấn là một trong 4 yếu tố có sự ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập Đồng thời, TĐHV cũng góp phần cho đối tượng tiếp cận với những lợi ích từ các chương trình của cộng đồng, ví dụ như: chương trình phát triển nông thôn, xoá đói giảm nghèo,…Như vậy, theo Rank và Cheng thì học vấn có

Trang 24

ảnh hưởng đến thu nhập và có vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế, xã hội của đối tượng khi nghiên cứu

3.2.1 Thu nhập từ nông nghiệp và trình độ học vấn

Thu nhập từ nông nghiệp, năng suất là yếu tố quan trọng hàng đầu và quyết định nhiều đến thu nhập của hộ gia đình Theo Antle và Susan, cách tính năng suất hiện đại trong nông nghiệp là tính theo năng suất tổng hợp (Total Factor Productivity) Những yếu tố làm tăng năng suất là: tăng sử dụng đầu vào, thay đổi công nghệ và có hiệu quả về kỹ thuật Việc tiếp thu tiến bộ khoa học kỹ thuật, và áp dụng như thế nào,

có hiệu quả cao hay không còn tuỳ thuộc vào trình độ học vấn của con người

Như vậy, trình độ học vấn là yếu tố quan trọng giúp người dân tăng năng suất trong lao động nông nghiệp từ đó làm tổng thu nhập nông hộ được tăng lên

3.2.2 Nâng cao năng lực để phát triển bền vững

Nâng cao năng lực chính là tăng cường vốn người, là đầu tư phát triển vốn người Đầu tư phát triển vốn người là cung cấp kiến thức phát triển hay khả năng chuyên môn nhằm nâng cao trình độ học vấn

Một trong 5 nguyên tắc của phát triển bền vững là học tập xã hội: “Learning to know, to do, to live together and to be” (Nguyễn Thị Hiên, Lê Ngọc Hùng 2003) Nghĩa là, học để biết, để làm, để giúp đỡ lẫn nhau Như vậy, việc học tập, trau dồi kỹ năng chuyên môn của tất cả các thành viên trong gia đình khi tham gia sản xuất là không thể tách rời với trình độ học vấn Đây là yếu tố gián tiếp nhằm nâng cao mức sống hộ gia đình và xã hội Đồng thời, giúp cho mối quan hệ cộng đồng ngày càng tốt hơn

3.3 Những yếu tố cấu thành nên thu nhập

Theo Strauss (1986), thu nhập của nông hộ bao gồm thu nhập từ nông nghiệp

và phi nông nghiệp

Thu nhập từ nông nghiệp là thu nhập từ việc đầu tư đất đai, lao động và vốn vào các hoạt động sản xuất nông nghiệp, là những cái thu về từ hoạt động sản xuất nông nghiệp Như vậy, thu nhập là những lợi nhuận thu về từ sản xuất nông nghiệp

Trang 25

Lợi nhuận từ nông nghiệp có thể được tính đưa vào hàm sản xuất, giá trị thu về

từ SXNN là một hàm số của đất đai, lao động và những yếu tố đầu vào khác Lao động hay nguồn lực của gia đình phụ thuộc vào những đặc điểm của gia đình Jolliffe (1998)

đã đề nghị mô hình như sau để tính thu nhập từ nông nghiệp:

π i =π (A i , X i , P i ) (*)

Ai:Giá trị đất canh tác và những thiết bị dành cho sản xuất nông nghiệp

Xi: Đặc điểm của nông hộ (trình độ học vấn, độ tuổi, quy mô hộ,…)

Pi: Giá cả của các yếu tố đầu vào, đầu ra của sản xuất nông nghiệp

Trong phương trình trên thể hiện trình độ học vấn nằm trong đặc điểm riêng của nông hộ và là một biến của hàm thu nhập

Thu nhập từ các hoạt động phi nông nghiệp như: công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, làm công ăn lương, làm thuê mướn,… thì theo Jolliffe cũng được biểu diễn thông qua mô hình (*) Như vậy, trình độ học vấn cũng có ảnh hưởng lớn đến hoạt động phi nông nghiệp của từng hộ

Từ các lập luận của các lý thuyết trên, ta có thể kết luận rằng: tổng thu nhập của nông hộ bị ảnh hưởng bởi các yếu tố sau:

+ Đất đai, tài sản và vốn

+ Đặc điểm riêng của nông hộ (học vấn, độ tuổi, số nhân khẩu,…)

+ Giá cả đầu vào (giống, phân bón,…), giá cả đầu ra Giá cả lao động thuê mướn, lương,…

Tóm lại, tổng thu nhập có hàm số như sau:

Tổng thu nhâp của hộ gia đình = f (vốn, lao động, giá cả)

3.4 Nội dung nghiên cứu

3.4.1 Tên đề tài

“Đánh giá ảnh hưởng của trình độ học vấn chủ hộ đến tổng thu nhập và đời sống nông hộ tại xã Vĩnh Thịnh, huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định.”

Trang 26

3.4.2 Mô hình hồi quy

Để nghiên cứu đề tài này, tôi dùng phương pháp Kinh tế lượng nhằm thiết lập mối liên hệ phụ thuộc của một biến (biến phụ thuộc hay biến được giải thích) với một hay nhiều biến khác (biến độc lập hay biến giải thích) Một kỹ thuật được sử dụng là phân tích hồi quy

Cụ thể trong đề tài này chỉ sử dụng một chương trình kinh tế lượng là Eview4.1

để phân tích và giải thích vấn đề nghiên cứu

Các bước hình thành giả thiết ban đầu là:

Biến phụ thuộc: Tổng thu nhập (triệu đồng) Mục đích đề tài là cải thiện thu nhập nông hộ thông qua trình độ học vấn chủ hộ và các yếu tố đồng ảnh hưởng khác

Do đó, ta chọn tổng thu nhập làm biến phụ thuộc

Các biến độc lập có ảnh hưởng đến biến “tổng thu nhập” gồm: Trình độ học vấn chủ hộ, tuổi chủ hộ Nhưng đối tượng nghiên cứu lớn của đề tài là thu nhập của nông

hộ, và theo giả thiết của Jolliffe (1998) thì đặc điểm riêng của nông hộ rất quan trọng trong việc nghiên cứu tổng thu nhập hộ gia đình Do đó, khi nghiên cứu, đề tài đưa thêm các biến cũng rất quan trọng liên quan đến tổng thu nhập như sau:

Diện tích đất canh tác, số lao động chính trong gia đình, Số lao động phi nông nghiệp, nhân khẩu gia đình, trình độ học vấn và tuổi trung bình các thành viên trong gia đình, và sự tham gia của gia đình vào các tổ chức cộng đồng (Hội Nông Dân, Phụ

Nữ, Thanh Niên) và tham gia lớp tập huấn khuyến nông hay không

Khi đó, việc phân tích mô hình hồi quy bằng phương pháp bình phương bé nhất OLS (Ordinary Least Square) trong chương trình Eview 4.1 sẽ cho ta thấy được các thông số cần thiết cho việc nhận xét mức độ ảnh hưởng của các biến giải thích liệt kê trên đối với biến được giải thích là “tổng thu nhập nông hộ”

Danh sách các biến độc lập và dấu β kỳ vọng ban đầu trong mô hình hồi quy trong bảng 3.1 sau:

Trang 27

Bảng 3.1 Liệt Kê các Biến Phụ Thuộc và Độc Lập

tính

Kỳ vọng dấu β

X1 DIENTICH Diện tích đất canh tác nông

nghiệp

X2 LDCHINH Số lao động chính trong gia đình

(kể cả người đi làm xa)

X3 LDPNN Số lao động làm nghề phi nông

nghiệp trong gia đình

X8 TUOI_TBTV01 Tuổi trung bình của các thành

viên trong gia đình

X9 TAPHUANKN Tập huấn khuyến nông Có=1,

Không=0

+

Ý nghĩa của các biến:

* Biến phụ thuộc:

Log tổng thu nhập (LnY)

Theo như các nghiên cứu trước, mô hình tuyến tính - logarit được sử

dụng rộng rãi trong lý thuyết về vốn nhân lực, đặc biệt mô hình bán logarit (semilog,

log-lin) có ý nghĩa quan trọng cho các nhà hoạch định chính sách Lý thuyết cho rằng

lấy log biến thu nhập sẽ tốt hơn cho các quyết định và ra dự báo các vấn đề kinh tế

Trang 28

Trong lý thuyết tiền tệ, tài chính ngân hàng, chúng ta đã biết đến công thức tính lãi gộp: Yt=Y0(1+r)t Như vậy, giả sử tỷ suất thu nhập của một năm học tập thêm là r, vậy đối với thời đoạn thứ nhất, thu nhập Y1 = (1+r)Y0 , đối với 2 năm học công thức này sẽ là Y2 = (1+r)2Y1 Đối với n năm học ta có Yn= (1+r)nYn Lấy log 2 vế ta có: Ln(Yn) = ln(Y0) + nln(1+r) = β1 + β2n Từ mô hình ta có:

dt dt Y Hay, β2 là hệ số thể hiện sự thay đổi tương đối của biến phụ thuộc (Y) / thay đổi tuyệt đối của biến độc lập (số năm học)

Vậy β2 là tác động biên tế của n năm học lên ln(Yn), khi nhân với 100, β2 cho phần trăm thay đổi của Yn

Theo Chiswick (1997), vì mức thu nhập khác nhau bị ảnh hưởng mạnh bởi trình

độ học vấn, do vậy khi sử dụng biến phụ thuộc logarit của thu nhập thay vì sử dụng biến thu nhập trong hàm vốn nhân lực (Human Capital Earning Function) sẽ tránh được hiện tượng phương sai sai số thay đổi và phân phối của phần dư gắn với phân phối chuẩn

Vậy với sự chuyển đổi như vậy, ta có thể thấy được sự thay đổi của thu nhập tăng lên bao nhiêu % khi trình độ học vấn nông hộ tăng lên được một năm học tập Do

đó, trong đề tài dùng hàm hồi quy semilog (log-lin) để nghiên cứu

* Biến độc lập:

X1: Diện tích đất canh tác (ha)

Đây là phần đất mà nông hộ dùng để sử dụng cho mục đích làm nông nghiệp như chăn nuôi và trồng trọt Theo thuyết “Lợi nhuận theo quy mô” thì khi diện tích đất nông nghiệp lớn thì nông hộ có điều kiện để gia tăng sản xuất, năng suất, từ đó làm tăng thu nhập cho nông hộ Do đó, β kỳ vọng dấu dương

Trang 29

X2: Lao động chính trong gia đình (người)

Các thành viên trong gia đình có nhiều người bỏ công tham gia vào hoạt động sản xuất nông nghiệp thì tiết kiệm chi phí sản xuất, tăng lợi nhuận Đồng thời, gia đình

có nhiều thành viên có việc làm thì sẽ đóng góp làm tăng tổng thu nhập của gia đình mình Vì thế, β kỳ vọng dấu dương

X3: Lao động phi nông nghiệp (người)

Trong gia đình có người làm phi nông nghiệp thì mức thu nhập hàng năm của

họ cũng cao hơn so với canh tác nông nghiệp Do đó, khi gia đình có nhiều người làm phi nông nghiệp thì tổng thu nhập gia đình cũng cao hơn Do đó, β kỳ vọng dấu dương

X4: Số nhân khẩu trong gia đình (người)

Số nhân khẩu thể hiện số người trong gia đình càng nhiều thì có nhiều lao động hơn và giảm gánh nặng trong việc canh tác nông nghiệp vào những lúc đầu hay cuối mùa vụ, giảm chi phí thuê mướn công lao động Do đó, dấu β kỳ vọng dấu dương X5: Trình độ học vấn của chủ hộ (năm)

Trình độ học vấn chủ hộ biểu hiện qua số năm đi học của chủ hộ Khi số năm đi học hay cấp học của chủ hộ càng cao thì quy trình canh tác và khả năng tiếp thu và áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật nhanh và dễ dàng hơn, tạo điều kiện cho năng suất cây trồng vật nuôi được cải thiện, làm tăng thu nhập Nên β kỳ vọng dấu dương

X6: Tuổi chủ hộ (năm)

Nếu chủ hộ trẻ tuổi, sẽ có sức lao động cao hơn, hiệu quả tham gia sản xuất cao hơn Theo các nghiên cứu của các nhà kinh tế như Lokshin và Ravallion (2001) nói rằng những chủ hộ tuổi càng trên 60 thì có tổng thu nhập càng ít đi Theo Viverberg (1996) cho rằng những người ở độ tuổi nhỏ hơn 26 và lớn hơn 25 thì sản xuất không hiệu quả bằng những người ở độ tuổi từ 26 - 55 Tuy nhiên cũng có nghiên cứu cho

Trang 30

rằng tuổi chủ hộ không ảnh hưởng đến rõ rệt đến thu nhập hộ gia đình Do đó, ta chưa xác định được dấu kỳ vọng của biến này Vì thế, xin đặt dấu β là dấu “?”

X7: Trình độ học vấn trung bình các thành viên (năm)

Đây là một trong những biến thể hịện đặc điểm riêng của gia đình Thông thường các gia đình có nhiều người có trình độ học vấn cao thì cơ hội làm nghề phi nông nghiệp nhiều hơn, thu nhập gia đình cũng cao Tuy nhiên, nếu hiện tại gia đình

có nhiều thành viên đang học tập chưa đi làm thì chỉ chi tiêu cho giáo dục nhiều, còn nguồn thu nhập vẫn chưa nhiều Tuy nhiên tương lai thì thu nhập của gia đình này cũng sẽ cao hơn các gia đình có các thành viên có học vấn thấp Do đó, β kỳ vọng dấu dương

X8: Tuổi trung bình của các thành viên trong gia đình (năm)

Khi chưa xác định rõ dấu của biến tuổi chủ hộ đối với tổng thu nhập thì biến này cũng có kết quả tương tự

X9: Tập huấn khuyến nông (có/không)

Kỳ vọng β dương, vì khi gia đình tham gia các lớp tập huấn khuyến nông như: việc tiếp thu trồng giống lúa lai mới, kỹ thuật chăm sóc cho cây trồng,… sẽ giúp nông

hộ bảo toàn và tăng năng suất sản xuất, làm thu nhập gia đình có cơ hội tăng lên

X10: Vay vốn (triệu đồng)

Đây là số vốn vay của hộ gia đình cho các hoạt động sản xuất ( chăn nuôi), nhằm cải thiện đời sống Do đó, khi gia đình có điều kiện vay với số vốn nhiều hay có điều kiện đầu tư cao thì cơ hội tăng thu nhập cũng cao Vì thế, β có dấu kỳ vọng dương

Trong mô hình hồi quy ở lĩnh vực nông nghiệp, các biến độc lập trên luôn luôn ảnh hưởng đến tổng thu nhập của gia đình, vì tính chất đặc trưng của kinh tế nông hộ

Trang 31

3.4.3 Đặc điểm sản xuất và chi tiêu cơ bản của nền kinh tế nông hộ

Khi thu nhập cao thì chi tiêu cũng tăng theo Lúc đó, đời sống gia đình được

phát triển hơn, vì họ có cơ hội chăm lo cho sức khoẻ và y tế thường xuyên hơn, thay vì

chỉ lo cho cái nhu cầu cơ bản (ăn mặc) Sơ đồ sau chỉ rõ các khoản chi tiêu và xu

hướng biến đổi trong đời sống

Hình 3.2 Sơ Đồ Cơ Cấu Chi Tiêu của Hộ Gia Đình và Xu Hướng Biến Đổi

Ngày càng chiếm tỷ trọng càng lớn

Bộ phận tự cấp tự túc

Bộ phận SXHH

Nguồn tin: Phạm Khắc Hồng, 2000 Theo sơ đồ trên, ta thấy xu hướng biến đổi chung trong chi tiêu của nông hộ

miền núi Trong đó, nền kinh tế nông hộ dần chuyển sang nền kinh tế sản xuất hàng

hoá theo cơ chế thị trường, giảm dần sự tự cấp tự túc Điều này gián tiếp làm cải thiện

đời sống nông hộ trong tương lai Thu nhập gia đình tăng lên thì chi tiêu cũng ngày

càng chiếm tỷ trọng cao hơn, trong đó chi tiêu cho học hành, sức khỏe, đời sống tinh

thần và quan hệ xã hội, tích luỹ tăng lên Khi đó, đầu tư cho nông nghiệp cao, cho

năng suất cao, và làm tăng thu nhập, cải thiện đời sống vật chất, nâng cao giá trị tinh

thần cho nông hộ

Đồng thời, gia đình sẽ có mối quan hệ giữu con người và môi trường cộng đồng

được mở rộng và bền vững Đời sống sản xuất của nông hộ luôn luôn có mối quan hệ

nội tại và ngoại tại như trong sơ đồ 3.3 sau:

SK

HH

Ăn Mặc QH

XH ĐSTT

TL

Trang 32

Hình 3.3 Sơ Đồ Các Mối Quan Hệ Nội và Ngoại Tại

Nguồn tin: Phạm Khắc Hồng, 2000 Yếu tố con người đóng vai trò quan trọng trong mối quan hệ ngoại tại và nội tại Các quan hệ nội tại thể hiện sự ảnh hưởng trực tiếp đến gia đình, đặc biệt là các hộ làm nông nghiệp Các yếu tố đó gồm: hoạt động sản xuất nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi), tiểu thủ công nghiệp (quy mô hộ gia đình), và tham gia các hoạt động lâm nghiệp (trồng rừng phòng hộ, bảo vệ chống phá rừng) Đây cũng là các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến mức sống (thu nhập, chi tiêu) của nông hộ Đồng thời, vai trò của các mối quan hệ ngoại tại như (chính sách kinh tế - xã hội, môi trường sinh thái, các hoạt động của các tổ chức cộng đồng, thị trường giá cả, ) cũng ảnh hưởng đến nông

hộ Các yếu tố này thuộc tác động gián tiếp đến nông hộ Mối quan hệ nội tại và ngoại tại luôn luôn ảnh hưởng đến sự tổ chức hệ thống thu nhập, chi tiêu và lập kế hoạch cho các phương thức sản xuất trong gia đình

CON NGƯỜI

Môi trường sinh thái

Trồng rừng bảo

vệ rừng

Thị trường Chăn

KTXH

trên địa bàn

Môi trường sinh thái

CON NGƯỜI

Trồng rừng bảo

vệ rừng

Trang 33

3.2 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp ( bảng câu hỏi, phỏng vấn chuyên gia, các công cụ PRA) : là phương pháp lập questionnaire cho nông hộ, nhằm thu thập các

thông tin sơ cấp cần thiết cho nghiên cứu Đồng thời phỏng vấn các chuyên gia am hiểu, giúp ta có cái nhìn tổng quát và chính xác nhất về địa bàn nghiên cứu

Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp: Liên hệ các phòng, ban của huyện xã các tài liệu về các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội

Phương pháp thống kê mô tả: là phương pháp tổng hợp, xử lý số liệu thu được

từ thực tế thành các bảng số liệu thể hiện kết quả, hoặc thành các biểu đồ thể hiện các

tỷ lệ,… Từ đó, kiểm chứng những giả thiết, hoặc để giải quyết một câu hỏi liên quan đến tình trạng hiện tại của đối tượng nghiên cứu, tìm ra mối quan hệ các vấn đề liên quan trong nghiên cứu

Phương pháp so sánh nhân quả: là phương pháp mà theo đó, nhà nghiên cứu cố

gắng tìm ra những nguyên nhân gây hay là lý do làm tồn tại những hành vi, hành động khác biệt của đối tượng nghiên cứu Nói cách khác, là giải thích nguyên nhân sự khác biệt và tìm ra nguyên nhân sự khác biệt đó

Phương pháp hồi quy: là phương pháp lập hàm quan hệ giữa các biến khi biết

được giá trị tương ứng của chúng, nhằm làm rõ các mối liên hệ cần thiết cho nghiên cứu

Phương pháp lấy mẫu: lấy mẫu ngẫu nhiên không phân tầng Là quá trình lựa

chọn một mẫu hoặc một tiểu bộ phận từ tập hợp của tất cả các đơn vị lấy mẫu, trong khi tạo cho mỗi đơn vị lấy mẫu trong khung lấy mẫu một cơ hội được lựa chọn như nhau vào mẫu Lý do vì tại nơi nghiên cứu, các mẫu đều đại điện cho tổng thể Gần 100% hộ làm nông nghiệp và hầu hết đều có mức thu nhập thấp, hộ nghèo chiếm đa

số Khi chạy mô hình kinh tế lượng, số mẫu trên 30 đảm bảo độ tin cậy là trên 90%, do

đó, trong thời gian thực tập tôi xin lấy 53 mẫu đã đại diện cho tổng thể (toàn xã Vĩnh

Thịnh)

Trang 34

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1 Đặc điểm cơ bản của nông hộ ở xã Vĩnh Thịnh

Toàn xã có 1560 hộ, hầu hết làm nông nghiệp Các đặc điểm cơ bản của các nông hộ ở xã được liệt kê theo các yếu tố đồng ảnh hưởng đến đời sống kinh tế nông

hộ ở thời điểm hiện tại

Trang 35

Bảng 4.1 Đặc Điểm Nông Hộ tại xã Vĩnh Thịnh

tối thiểu

Giá trị tối đa

Giá trị trung bình

Độ lệch chuẩn

Tuổi trung bình các thành viên

trong gia đình (năm)

xã Vĩnh Thịnh Có sự khác nhau giữa các nông hộ được điều tra Trong đó, biến tuổi chủ hộ, biến tuổi trung bình các thành viên và thu nhập nông hộ có sự chênh lệch cao nhất

Trang 36

Ở xã Vĩnh Thịnh, hầu hết tất cả các hộ đều làm nông nghiệp, nên hầu hết các

gia đình đều có đất nông nghiệp Trung bình, diện tích đất nông nghiệp chiếm 0,5

ha/hộ dùng để chăn nuôi, trồng trọt và thuộc quyền sở hữu của gia đình Tuy nhiên,

diện tích đất nông nghiệp phân hoá không đồng đều giữa các hộ gia đình, thể hiện ở độ

lệch chuẩn khá lớn (0,55), nghĩa là khoảng 0, 5 ha diện tích đất chênh lệch giữa các hộ

Số nhân khẩu trung bình của hộ gia đình là từ 4-5 người, trong đó chỉ có

khoảng 2-3 người là lao động chính trong gia đình Như vậy, thu nhập mỗi người sẽ

nuôi một người ăn theo trong gia đình

Lao động phi nông nghiệp ở đây gồm những đối tượng như: công nhân viên

chức (giáo viên, cán bộ uỷ ban), người đi làm xa - làm công ăn lương cho các công ty,

các khu công nghiệp ngoài huyện Vĩnh Thạnh (trong thành phố, hoặc ngoài tỉnh Bình

Định) Số lao động phi nông nghiệp có vai trò rất quan trọng cho thu nhập của gia

đình Đặc biệt là khi tính đến tổng thu nhập, gia đình nào có nhiều lao đông phi nông

nghiệp thì mức tổng thu nhập của gia đình đó lớn hơn

Về trình độ học vấn, chủ hộ có trình độ ở cấp 2 (lớp 7) là hầu hết Trong đó,

trình độ học vấn cao nhất là hết cấp 3, thấp nhất là học hết lớp 1, không có chủ hộ mù

chữ trong số mẫu điều tra Hiện tại, trình độ học vấn trung bình của các thành viên

trong gia đình cũng tương đương với trình độ học vấn chủ hộ Độ lệch chuẩn từ 2-3

nên sự chênh lệch về trình độ học vấn không lớn, chỉ từ 2-3 số năm học Trình độ học

vấn của chủ hộ gia đình được thể hiện cụ thể qua bảng 4.2 như sau:

Trang 37

Nếu chia theo cấp học của chủ hộ thì sự phân hoá về trình độ học vấn của chủ

hộ sẽ được thấy rõ hơn trong biểu đồ 4.1

Hình 4.1 Biểu Đồ thể hiện Trình Độ Học Vấn Chủ Hộ theo Cấp Học

Trình độ học vấn chủ hộ cao hay thấp còn phụ thuộc vào các yếu tố khách quan: điều kiện gia đình không đủ ăn học, tính chất chủ quan của đối tượng,…

Ta có thể xét sự tương quan giữa học vấn trung bình của chủ hộ và tuổi trung bình của các chủ hộ đã điều tra trong biểu đồ 4.2 như sau:

Ngày đăng: 27/02/2019, 14:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w