Đề tài được thực hiện nhằm mục đích đánh giá tác hại của nguồn nước ô nhiễm Fluor đối với sức khoẻ của người dân ở xã Bình Tường Đề tài sử dụng phương pháp giá thị trường, những phương p
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐẦO TẠO
ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
ĐÁNH GIÁ TỔN HẠI VÀ XÁC ĐỊNH NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC SẴN LÒNG TRẢ ĐỂ CẢI THIỆN NGUỒN NƯỚC NHIỄM FLUOR XÃ BÌNH TƯỜNG HUYỆN TÂY SƠN
TỈNH BÌNH ĐỊNH
NGUYỄN THỊ PHÚC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỂ NHẬN VĂN BẰNG CỬ NHÂN NGÀNH KINH TẾ NÔNG LÂM
Thành phố Hồ Chí Minh Tháng 07/2007
Trang 2Hội đồng chấm báo cáo khóa luận tốt nghiệp đại học khoa Kinh Tế, trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh xác nhận khóa luận “Đánh Giá Tổn Hại
và Xác Định Nhân Tố ảnh Hưởng Đến Mức Sẵn Lòng Trả Để Cải Thiện Nguồn Nước
Nhiễm Fluor Xã Bình Tường Huyện Tây Sơn Tỉnh Bình Định” do Nguyễn Thị Phúc,
sinh viên khóa 29, ngành Kinh Tế Nông Lâm, đã bảo vệ thành công trước hội đồng vào ngày
Trang 3Đặc biệt xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy Nguyễn Văn Ngãi, đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo em trong suốt thời gian nghiên cứu thực hiện luận văn tốt nghiệp này
Cảm ơn các Cô Chú, Anh Chị công tác tại Sở Tài Nguyên Môi Trường tỉnh Bình Định và Trung Tâm Y Tế Dự Phòng tỉnh, Trung Tâm Y Tế huyện Tây Sơn, UBND Xã Bình Tường, đã tận tình giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài
Cho tôi gởi lời cảm ơn đến bạn bè tôi, những người đã giúp đỡ tôi về mặt tinh thần, cũng như đóng góp ý kiến để tôi hoàn thành luận văn này
Chân thành cảm ơn!
Sinh viên thực hiện Nguyễn Thị Phúc
Trang 4NỘI DUNG TÓM TẮT
NGUYỄN THỊ PHÚC Tháng 07 năm 2007 “Đánh Giá Tổn Hại và Xác Định Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Mức Sẵn Lòng Trả Để Cải Thiện Nguồn Nước Nhiễm Fluor Xã Bình Tường, Huyện Tây Sơn, Tỉnh Bình Định”
NGUYEN THI PHUC July 2007 “The Haramfulness To The Local Residents and Some Factors Influencing To The Expected Payable Price Is Evaluted To Improve The Fluor Polluted Situation In Binh Tuong Commune, Tay Son Distric, Binh Đinh Province”
Đề tài được thực hiện nhằm mục đích đánh giá tác hại của nguồn nước ô nhiễm Fluor đối với sức khoẻ của người dân ở xã Bình Tường
Đề tài sử dụng phương pháp giá thị trường, những phương pháp đánh giá tổn hại môi trường bao gồm phương pháp tài sản nhân lực và phương pháp liều lượng đáp ứng để đánh giá tổn hại do ô nhiễm nước gây ra đôí với sức khoẻ con người, giá trị đất đai, thu nhập từ nguồn lợi trồng trọt và chăn nuôi Các số liệu thu được qua điều tra phỏng vấn trực tiếp 60 hộ dân ở xã Bình Tường huyện Tây Sơn tỉnh Bình Định
Kết quả nghiên cứu cho thấy tổng mức tổn hại ở xã trong năm 2006 ước tính là: 1.619.079.300 đồng Tổng mức sẵn lòng trả của toàn địa bàn xã là 90.992.070 triệu đồng Đây là một món tiền lớn cho việc cải thiện môi trường nước ở địa phương Số tiền này lớn hơn chi phí bỏ ra để lắp đặt đường ống chính từ nhà máy nước Vĩnh An
về thôn Hòa Hiệp thuộc xã Bình tường là 85.200.000 đồng
Đồng thời đề tài còn sử dụng phương pháp phân tích hôì quy bằng kinh tế lượng tập trung vào phân tích các nhân ảnh hưởng đến WTP và tìm ra mối quan hệ giữa WTP và thu nhập và những biến khác như giới tính và chi phí bệnh tật Từ những tính toán, phân tích giúp đề ra những giải pháp cải thiện tình trạng này là một việc làm rất có ý nghĩa
Trang 51.3.4 Phạm vi nôi dung thực hiện 4
2.1 Điều kiện tự nhiên xã Bình Tường 6
2.2 Các tác động của Fluor đối với con người và môi trường 7
2.2.1 Những tác động bất lợi lên cơ thể con người 7
2.2.2 Những ảnh hưởng đến sinh vật 9
2.3 Tổng quan về tình trạng nguồn nước bị nhiễm Fluor ở một số nước
2.4 Tổng hợp các tài liệu liên quan về các dạng bệnh lý nhiễm độc Fluor 13
2.5 Tình hình sức khoẻ nhân dân ở một số vùng bị nguồn nước ô nhiễm Fluor 15
CHƯƠNG 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17
3.1 Cơ sở lý luận 17
Trang 63.1.2 Khái niệm nước ngầm 18
3.1.3 Khái niệm về ô nhiễm nước 18
3.1.5 Những chỉ tiêu đánh giá về chất lượng môi trường nước VN 19 3.2 Cơ sở dữ liệu và phương pháp nghiên cứu 20
3.2.1.Cơ sở dữ liệu 20 3.2.2 Phương pháp mô tả 21
3.2.3 Thủ tục và kỉ thuật xử lí số liệu 20 3.2.4 Cơ sở lý thuyết cuả các phương pháp đánh giá giá trị kinh
tế của tài nguyên thiên nhiên môi trường 21 3.2.5 Phương pháp đánh giá tổn hại do ô nhiễm môi trường 22 3.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến giá sẵn lòng trả (WTP) 23
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 26
4.1 Mô tả hiện trạng nguồn nước bị nhiễm Fluor của những hộ dân ở
xã Bình Tường 26
4.1.1 Hiện trạng nguồn nước ô nhiễm 26 4.2 Nguyên nhân gây ô nhiễm Fluor cao trong nước dưới đất 35
4.3 Ước tính mức thiệt hại do nguồn nước bị nhiễm Fluor đối với sức khoẻ con người 37
4.3.1 Thiệt hại đối với sức khoẻ người dân xã 37 4.3.2 Thiệt hại về giá trị đất đai 41 4.3.3 Thiệt hại thu nhập từ nguồn lợi trồng trọt 42 4.3.4 Thiệt hại thu nhập từ nguồn lợi chăn nuôi 44 4.4 Mức sẵn lòng chi trả để cải thiện chất lượng nước 45
4.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến mức giá sẵn lòng trả (WTP) 47
4.7 Các giải pháp góp phần cải thiện tình trạng nguồn nước bị nhiễm Fluor ở
4.7.1.giải pháp về mặt kinh tế 50 4.7.2 Công tác quản lý tài nguyên nước của chính quyền địa phương 51
Trang 74.7.3 Các biện pháp về mặt kỉ thuật 52 CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 53
5.2 Kiến nghị 54 TÀI LIỆU THAM KHẢO 57
PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BYT Bộ y tế
TCCP Tiêu Chuẩn Cho Phép
TCVN Tiêu Chuẩn Việt Nam
Trang 9DANH SÁCH CÁC BẢNG
Trang Bảng 2.1 Hàm Lượng Fluor của Một Số Nguồn Nước Khoáng- Nước Nóng ở
Bảng 2.2 Kết quả Xét Nghiệm Mẫu Nước Xã Nhơn Tân Huyện An Nhơn Tỉnh Bình Định 11
Bảng 2.3 Giá Trị Giới Hạn Của Hàm Lượng Fluor Trong Nước 13
Bảng 2.4 Dấu Hiệu Nhận Biết Bệnh Đặc Xương và Viêm Cột Sống Dính Khớp 15
Bảng 3.1.Giá Trị Giới Hạn Cho Phép của Các Thông Số và Nồng Độ Các Chất
Ô Nhiễm Trong Nước Mặt (TCVN 5942-1995) 19
Bảng 4.1 Kết Quả Phân Tích Nước Mặt 27
Bảng 4.2 Kết Quả Phân Tích Chất Lượng Nước Ngầm 28
Bảng 4.3 Kết Quả Quan Trắc Khí Sản Xuất, Khu Dân Cư 28
Bảng 4.5 Nguồn Nước Uống và sinh Hoạt Hiện Tại 31
Bảng 4.6 Một Số Bệnh Thường Gặp của Những Hộ Dân 37
Bảng 4.7 Các Trường Hợp Bệnh Liên Quan Đến Nước Nhiễm Fluor 37
Bảng 4.8 Tổng Hợp Chi Phí Bệnh của Các Hộ ở Xã Bình Tường Trong Năm 2006 39
Bảng 4.9 Tổng Chi Phí Các Bệnh Về Răng Miệng của Người Dân Xã Bình Tường 40
Bảng 4.10 Chênh Lệch Mức Giá Đất giữa Khu Vực Nguồn Nước Bị Nhiễm Fluor So
Với Khu Vực Nước Không Bị Nhiễm Fluor Trong Năm 2006 Xã Bình Tường 41
Bảng 4.11 Tổng Thiệt Hại Giá Trị Đất Đai 42
Bảng 4.12 Sản Lượng Thu Hoạch Từ Trồng Trọt Trung Bình 1 Hộ năm 2006 42
Bảng 4.13 Thiệt Hại Về Trồng Lúa Bình Quân Một Hộ Trong Năm 2006 43
Bảng 4.14 Thiệt Hại Về Trồng Mía Trung Bình của Một Hộ Trên 1 Năm ở Xã 43
Bảng 4.15 Thiệt Hại Về Trồng Mì Trung Bình của Một Hộ Trên 1 Năm ở Xã 44
Bảng 4.16 Thiệt Hại Từ Chăn Nuôi Trung Bình Một Hộ 44
Bảng 4.17 Bảng Giá Sẵn Lòng Trả (WTP) của Những Hộ Dân Trong Trường Hợp
Nguồn Nước Được Cải Thiện 45 Bảng 4.18 Mối Quan Hệ giữa WTP và Thu Nhập 46
Trang 10DANH SÁCH CÁC HÌNH
Trang Hình 2.1 Mối Quan Hệ giữa Bệnh Hoại Men Răng và Nồng Độ Fluor Trong Nước Uống 8
Hình 3.1 Phân Loại Những Phương Pháp Đánh Giá Phi Thị Trường 21
Hình 4.1 Biểu Đồ Biểu Diễn Hàm Lượng Fluor xã Bình Tường Năm 2005 29
Hình 4.2 Hình Ảnh Người Trung Niên Bị Hư Răng Xã Bình Tường 30
Hình 4.3 Hình Ảnh Những Đứa Trẻ Bị Bệnh Đốm Răng Xã Bình Tường 30
Hình 4.4 Hình Ảnh Những Người Trung Niên Bị Bệnh Đơ Xương Xã Bình Tường 32
Hình 4.5 Hình Ảnh Những Người Dân Tuổi Hơn 60 Bị Liệt Xã Bình Tường 32
Hình 4.6 Biểu Đồ Biểu Diễn Mức Độ Nhiễm Flour của Hộ Dân ở Xã 33
Hình 4.7 Hình Ảnh Dụng Cụ Chứa Nước Giếng của Người Dân Xã Bình Tường 33
Hình 4.9 Biểu Đồ Biểu Diễn Tỉ Lệ Hộ Dân Sử Dụng Nước Có Qua Xử Lí 35
Hình 4.10 Biểu Đồ Tỷ Lệ Số Hộ Có và Không Có NVS 36
Hình 4.11 Biểu Đồ Biểu Diễn Thu Nhập của Người ở Xã Năm 2006 36
Hình 4.12 Biểu đồ Biểu Diễn Tỉ Lệ Hư Răng của người Dân Xã Bình Tường 38
Trang 11DANH MỤC PHỤ LỤC
Phụ lục 1 Kết Quả Ước Lượng Của Mô Hình Hồi Quy Tuyến Tính Phụ lục 2.Kiểm Tra Thống Kê Mô Tả
Phụ lục 3 Kiểm Tra Tự Tương Quan
Phụ lục 4 Kiểm tra phương sai thay đổi
Phụ lục 5 Kiểm tra đa cộng tuyến:
Phụ lục 6 Kiểm định sự vi phạm giả thiết
Phụ lục 7 Bảng câu hỏi
Trang 12Ô nhiễm môi trường là một vấn đề được quan tâm trên toàn thế giới Bảo vệ môi trường trở thành thách thức cho toàn nhân loại, trong đó giữ cho nguồn nước sạch
là một trong những vấn đề quan trọng nhất, đặc biệt ở các quốc gia đang phát triển (Torado, 1994)
Ông Jonh Hendra- điều phối viên thường Liên Hợp Quốc tại Việt Nam nói tại lễ công bố “Báo cáo phát triển con người” diễn ra tại Hà Nội: “Khó có thể tưởng tượng được rằng vào thời đại ngày nay, hơn 1,1 tỷ người dân ở các nước đang phát triển vẫn chưa được sử dụng nước sạch và 2,6 tỷ người vẫn chưa được tiếp cận với điều kiện vệ sinh cơ bản, 1,8 triệu trẻ em tử vong trong năm 2003 do căn bệnh tiêu chảy” Trong buổi lễ báo cáo diễn biến môi trường Việt Nam năm 2003 ông Đại Sứ Đan Mạch tại Việt Nam Bjarne H Sorensen phát biểu: “Hành động vì quản lý và phát triển nguồn tài nguyên nước hiệu quả và hội nhập để đóng góp cho phát triển kinh tế bền vững lâu dài
về mặt môi trường là một trong những thách thức quan trọng nhất của Việt Nam Để
có một chương trình quản lí nguồn tài nguyên nước thống nhất, điều quan trọng là phải đảm bảo quyền tiếp cận nguồn nước cho những người dân nghèo và những nhóm
Trang 13người dễ bị tổn thương khác và trao quyền cho họ để cải thiện đời sống của mình” Thực tế, ở những vùng nông thôn xa xôi, nghèo nàn việc tiếp cận nguồn nước sạch là vô cùng khó khăn Trong bài báo tuổi trẻ số ra gần đây có một bài với tựa đề:
“Chờ Đến Bao Giờ?” in trên báo tuổi trẻ ngày 13/11/2006
Bài báo đã viết về: “Thôn Hoà Hiệp xã Bình Tường thuộc huyện Tây Sơn tỉnh Bình Định nằm lọt thỏm giữa thung lũng bao quanh là những dãy núi chập chùng có sáu xóm nhỏ với tổng cộng hơn 4.000 dân Thật lạ: 3/4 (khoảng 3.000) trong số đó đã
bị mục răng Một số chứng bệnh lạ như: mục răng, đơ xương, teo cơ, co quắp chân tay thì xóm nào cũng có người mắc Xóm Hoà Lộc Hạ có hơn 20 hộ đã có hơn chục trường hợp bị đê cột sống, tê tay chân hay tê nửa người Xóm Hoà Bình có 3 người bị triệu chứng đau nhức rồi bụng cứ to dần lên, nằm chờ chết Xóm đã có 10 người chết
vì ung thư Riêng xóm Hoà Khánh đã có 3 người chết vì căn bệnh này Có người mới
30, 40 tuổi đang khoẻ mạnh bỗng mắc chứng bệnh này giờ nằm liệt bỏ bầy con không
ai nuôi” (trích báo Tuổi Trẻ ngày 13/11/2006) Thực trạng này đã kéo dài gần 20 năm nay, những căn bệnh lạ xuất hiện ngày càng nhiều khoảng 7 năm gần đây Điều này đã làm cho người dân ở đây luôn sống trong tình trạng hoang man, lo sợ
Hầu hết dân cư ở xã Bình Tường huyện Tây Sơn đều sử dụng nước giếng riêng
để cung cấp nước sinh hoạt nhưng: “Tất cả các giếng nước đều bị nhiễm phèn nặng, đóng thành váng nổi lờ nhờ như vết dầu loang” (trích báo tuổi trẻ ngày 13/01/2006)
Điều này ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khoẻ của dân cư trên địa bàn xã Trước thực trạng đã gần 20 năm nay những người dân ở miền quê này đã sống trong một tâm trạng đầy lo âu và chờ đơị Vậy ai sẽ có nhiệm vụ làm giảm tình trạng này? Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn hay Bộ Tài Nguyên Môi trường, chính quyền địa phương hay những người dân ở đây? Ai sẽ gánh chịu hậu quả trực tiếp từ tình trạng này? Thiệt hại kinh tế là bao nhiêu? Hàng loạt câu hỏi đặt ra đối với một làng có tên gọi là: “Thôn không cười” hay “Làng ung thư” vẫn chưa có lời giải đáp Từ những vấn đề cùng với sự nhận biết tính cấp thiết của vấn đề cần phải cung cấp nước sạch cho những người dân ở xã, nghiên cứu này tập trung vào thực hiện đề tài: “Đánh giá tổn và xác định nhân tố ảnh hưởng đến mức sẵn lòng trả để cải thiện nguồn nước nhiễm Fluor xã Bình Tường huyện Tây Sơn tỉnh Bình Định”
Trang 14Trong suốt hai thập kỉ qua, nhiều quốc gia phát triển đã thực hiện những chính sách để bảo vệ môi trường Và bằng chứng cho thấy việc gia tăng thu nhập là con đường tốt nhất để giải quyết vấn đề môi trường
Vì vậy chúng ta có thể mong đợi mối quan hệ dương giữa thu nhập và môi trường, đặc biệt đạt được nguồn nước sạch Vì thế để khảo sát mối liên hệ giữa thu nhập và WTP cho việc cải thiện chất lượng nước ở xã Bình Tường, nghiên cứu đưa ra câu hỏi nghiên cứu: “Có chăng mối quan hệ dương giữa thu nhập và WTP cho việc cải thiện nguồn nuớc đến mức độ có thể ăn uống ở xã ?”
1.2 Mục tiêu của nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung của đề tài
Đánh giá mức độ thiệt hại và phân tích những nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến mức giá sẵn lòng trả của hộ dân đối với việc cải thiện chất lượng nước
Tính tổng mức sẵn lòng trả WTP của xã cho việc cải thiện chất lượng nước Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến WTP để cải thiện chất lượng nước
Đề xuất những giải pháp góp phần cải thiện tình trạng này
12.3 Câu hỏi nghiên cứu
Ai sẽ là người gánh chịu hậu quả trực tiếp do ô nhiễm nguồn nước?
Thiệt hại kinh tế là bao nhiêu?
1.3 Phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng chính của đề tài là 60 hộ dân ở xã Bình Tường huyện Tây Sơn tỉnh Bình Định đang sống trong khu vực có nguồn nước bị nhiễm Fluor đã mắc bệnh mục răng, đốm răng, chết răng và những bệnh khác như: xơ cứng khớp, xưng khớp, liệt chi
1.3.2 Địa bàn nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu tại xã Bình Tường huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định
Trang 151.3.3 Thời gian nghiên cứu
Phạm vi đề tài sử dụng số liệu, thông tin có liên quan qua các năm 2004-2006 Thời gian thực hiện đề tài từ tháng: 26- 03-2007 đến 23-06-2007
1.3.4 Phạm vi nôi dung thực hiện
Vì thời gian có giới hạn nên đề tài chỉ có thể phản ánh lại thực trạng ô nhiễm nước và nhũng hậu quả để lại của những hộ dân ở xã Bình Tường - một trong những địa điểm có tổng số hộ dân mà nguồn nước bị nhiễm Fluor nhiều nhất
Số mẫu điều tra của đề tài chọn từ danh sách các hộ bị nhiễm Fluor nặng mà Trung Tâm Y Tế Dự Phòng Tỉnh Bình Định đã tiến hành lấy mẫu nước giếng để xét nghiệm trong năm 2005
Từ đó, xác định mức độ thiệt hại về sức khoẻ, giá trị đất đai? Con số ấy nói lên điều gì? Tính tổng mức sẵn lòng chi trả mà người dân của xã Bình Tường sẵn lòng chi trả cho việc cải thiện chất lượng nước Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến WTP của các hộ dân cho việc cải thiện chất lượng nước? Bởi vì khoảng thời gian thực hiện đề tài có hạn nên không thể tránh khỏi những thiếu sót, kính mong sự đóng góp ý kiến của thầy cô và các bạn
1.4 Cấu trúc của đề tài
Luận văn bao gồm 5 chương:
Trang 16Tổng hợp các tài liệu liên quan về các dạng bệnh lý nhiễm độc Fluor Tình hình sức khoẻ nhân dân ở một số vùng bị ô nhiễm nguồn nước sinh hoạt do Fluor
Đánh giá tổn hại về sức khoẻ, giá trị đất đai, trồng trọt, chăn nuôi
Tính tổng mức sẵn lòng chi trả cho việc cải thiện chất lượng nguồn nước Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến mức sẵn lòng trả Nếu kết quả cho ra mối quan hệ dương giữa thu nhập và WTP nhưng mức chi trả còn thấp mặc dù người dân ở
xã thật sự muốn chất lượng nguồn nước được tốt hơn nhưng vì thu nhập quá thấp Chính phủ có thể ưu tiên và phân vổ nguồn ngân sách để tăng ngân sách cho dự
án cung cấp nước sạch đến các vùng nước bị ô nhiễm bên cạnh việc thu tiền người dân Đề xuất một số giải pháp góp phần làm cải thiện tình trạng này
Trang 17CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN
Trong chương này, mô tả về điều kiện tự nhiên xã Bình Tường Nêu các tác động bất lợi của việc dư Fluor đối với con người đặc biệt ảnh huởng đến răng, xương
và cây cối, chăn nuôi Tổng quan về tình trạng nguồn nước bị nhiễm Fluor ở một số nước trên thế giới và ở việt nam, tổng hợp các tài liệu liên quan đến các dạng bệnh lý nhiễm độc Fluor Tình hình sức khỏe nhân dân ở một số vùng có nguồn nước bị nhiễm Fluor
2.1 Điều kiện tự nhiên xã Bình Tường
Bình Tường nằm về phía Tây Nam huyện Tây Sơn cách trung tâm huyện 1km
có ba thôn: Hoà trung, Hoà hiệp, Hoà sơn
Phía Bắc giáp xã Bình Thành, Nam giáp xã Vĩnh An, Tây giáp xã Tây Giang, Đông giáp Thị Trấn Phú Phong Có quốc lộ 19 đi ngang qua Trung Tâm xã
Đất đai: Tổng diện tích đất tự nhiên: 3.321 ha với tổng số hộ dân là 2.158 hộ tương đương 10.903 nhân khẩu chia ra các thôn: Hoà Trung: 612 hộ, Hoà Sơn: 839 hộ,
Hoà Hiệp: 707 hộ Khí Hậu của xã Bình Tường: nhiệt độ cao nhất là 31,10 C, nhiệt độ trung bình là 26,70 C, nhiệt độ thấp nhất là 24,10C
Độ ẩm không khí trung bình năm: 71,84% tháng thấp nhất: 20,42% Lượng bốc hơi trung bình năm (mm) chiếm 50% tổng lượng mưa, mùa khô kéo dài 8 tháng (từ tháng 12 đến tháng 8 năm sau) Mùa khô nắng nóng cao tập trung vào tháng 5, 6, 7
Gió bão: khu vực nằm trong vùng duyên hải nam trung bộ chịu ảnh hưởng trực tiếp của khí hậu nhiệt đới gió mùa bão thường xuất hiện từ tháng 9 đến tháng 12 hàng năm Vận tốc gió bão từ 25-35m/s
Cơ sở kinh tế- hành chính:
Có 3 hợp tác xã nông nghiệp, 3 trường học, 1 trạm xá xã Số Hộ Nghèo ở xã
Bình Tường: Hòa sơn còn 221 hộ, Hòa trung có 115 hộ, Hòa hiệp còn 175 hộ
Trang 182.2 Các tác động của Fluor đối với con người và môi trường
2.2.1 Những tác động bất lợi lên cơ thể con người
Fluor được tìm thấy trong dòng thải của quá trình sản xuất công nghiệp Lượng lớn Fluor đến từ các nguồn: sản xuất kính, mạ điện, thuốc trừ âu và phân bón, nước ngầm và công nghệ bán dẫn Khi có Fluor thấm vào nguồn nước cấp ở nồng cao thì có thể gây ra nhiều căn bệnh nguy hiểm
Những nghiên cứu của các nhà khoa học trong những năm gần đây đã chứng minh những ảnh hưởng lâu dài và sự tích luỹ Fluor gây nên không chỉ đến hệ răng và xương của con người mà còn thay đổi cấu trúc DNA, mất khả năng tư duy, ung thư Trong thế chiến thứ hai người ta tìm cách để làm tù nhân chiến tranh và dân chúng mất khả năng tư duy để chiếm lãnh thổ bằng cách thêm Fluor vào nước uống
Bởi vì Fluor là chất độc và nguy hiểm khi dùng quá liều lượng nên nhiều quốc gia đã ngưng việc thêm Fluor vào nước uống như: Cộng Hoà Liên Ban Đức (bắt đầu thêm Fluor vào nước uống năm 1952 và ngưng lại năm 1971), Thuỵ Điển (1952-1971), Hà Lan (1953-1976), Tiệp Khắc (1958-1976), Cộng Hoà Dân Chủ Đức (1959-1993), Nhật (1952-1972),…
a) Khả năng gây độc cấp tính
Ngộ độc Fluor qua đường miệng dẫn đến nôn mửa, đau bụng, tiêu chảy, mệt mỏi, ểu oải, hôn mê, đau thắt ruột, suy tim và có thể dẫn đến tử vong (Kaminsky et al, 1990; Whitford, 1990; Augenstien et al., 1991) Huỷ hoại mô nghiêm trọng, suy tim và ảnh hưởng đến hô hấp được phát hiện ở một số trường hợp tiếp xúc với Fluor qua da (Buckingham, 1988; Upfal & Doyle, 1990; Bordelon et al., 1993) Sự suy tim khi tiếp xúc với Fluor nồng độ cao là do ảnh hưởng cấp tính của Fluor đối với hệ thần kinh Trung Ương dẫn đến giảm canxi huyết và ức chế các tế bào sản sinh một số Enzym thiết yếu, ảnh hưởng đến hô hấp (xuất huyết, thở gấp…)
Lượng Fluor gây chết người được ước tính từ 5-10g (32-64 mg Fluor/kg trọng lượng cơ thể) và 5mg Fluor/kg trọng lượng cơ thể cũng đã gây ảnh hưởng xấu đối với sức khoẻ (Whitford, 1996) Độc tính Fluor phụ thuộc vào dạng hoặc loại hợp chất Fluor Nhìn chung, dạng muối vô cơ dễ tan (như NaF) độc hơn các dạng có tính tan kém hoặc không tan (như CaF2) (WHO, 1984) Ảnh hưởng đến hệ tiêu hoá do ăn phải một lượng Fluor cấp tính là do sự ăn mòn của HF sinh ra trong môi trường axít của dạ dày (Spak et al., 1990; Whitford,1990; Augenstien et al., 1991) Ảnh hưởng đến dạ dày
Trang 19được biểu hiện ở những trường hợp tiếp xúc nhiều với Acid Phosphate Fluor và dung dịch Fluor hoà tan
b) Ảnh hưởng đến răng
Nếu trong nước cấp sinh hoạt có hàm lượng Fluor lớn hơn 1,5 mg/l hoặc nhỏ hơn 0,7 mg/l sẽ gây ra bệnh hoại men răng
Hình 2.1 Mối Quan Hệ giữa Bệnh Hoại Men Răng và Nồng Độ Fluor trong Nước Uống
Nguồn: J M Dunning, Principles of Dental Public Health, Harvard University Press
Cambidge, 1962
c) Ảnh hưởng đến xương
Từ thập niên 60, Fluor (ở dạng Sodium Fluor NaF hoặc Sodium Mon Fluorophosphate liên kết với Ca hoặc Vitamin D) được sử dụng để chữa trị bệnh loãng xương do tuổi già với liều lượng cao (20- 30mg Fluor/ngày) Ngoài những hiệu quả biểu hiện ở tăng mật độ xương, nó không đem lại vỏ xương cứng chắc Tuy nhiên tác dụng phụ của phương pháp điều trị này là đau dạ dày, đau chân dữ dội Tiếp xúc với Fluor trong suốt qua trình điều trị đã gây thiếu hụt Canxi vì sự kích thích phát triển xương và thậm chí trong một số trường hợp, bệnh nhân phải bổ sung thêm Canxi Ở nồng độ 3-5 mg/l sẽ gây còi xương cho trẻ em
d) Ảnh hưởng đến gan, thận và hệ tuần hoàn
Fluor ở nồng độ từ 3-5 mg/l sẽ ảnh hưởng xấu đến sự hoạt động của hệ tim mạch, hệ
cơ năng và tuyến giáp
Trang 20e) Ung thư
Không có bằng chứng chắc chắn về việc sử dụng nước uống có Fluor có thể gây ung thư Tuy nhiên một số nghiên cứu cho thấy việc sử dụng nước uống có Fluor gây nên xacôm xương ở đối tượng có độ tuổi <24 (Gelberg et al, 1995)
f) Fluor hoá xương
Do ảnh hưởng bởi việc tiếp xúc với Fluor trong một thời gian dài Mặc dù sự hợp nhất của Fluor và xương giúp cấu trúc xương vững chắc và làm cho xương ít bị hoà tan nhưng sự khoáng hoá vẫn xảy ra chậm hoặc bị kìm hãm và thông thường làm xương dễ gãy và sức chịu đựng cũng giảm đi Sự nguy hại tuỳ thuộc vào lượng Fluor gắn kết với xương Ở giai đoạn đầu bệnh nhân không có dấu hiệu rõ ràng ngoài việc trọng lượng xương tăng lên Nhưng ở giai đoạn thứ hai, bệnh nhân sẽ cảm thấy thỉnh thoảng bị đau và cứng khớp, đau khớp mãn tính, vôi hoá dây chằng, xương xốp Ở giai đoạn thứ ba khớp khó cử động, dây chằng bị vôi hoá nghiêm trọng và huỷ hoại cơ Việc hấp thu một lượng lớn Fluor sẽ làm tăng thời gian khoáng hoá xương
Nồng độ Fluor của những bệnh nhân khoáng hoá xương lên đến 5.500mg/kg xương hoặc >8.000mg/kg Chế độ dinh dưỡng, lượng Canxi sử dụng, độ tuổi cũng có ảnh hưởng đến nồng độ Fluor trong xương
3.500-2.2.2 Những ảnh hưởng đến sinh vật
a) Cây cối
Fluor vô cơ có độc tính rất cao đối với cây cối như: giảm tốc độ phát triển, ảnh hưởng đến qúa trình quang hợp, gây vàng chết lá, giảm sự hút nước Không chỉ các loài hoa mà cả các loại cây quả hình nón, địa y, cỏ…cũng đều nhạy cảm với Fluor nhất
là HF, do đó fluor ảnh hưởng rất lớn đến mùa màng Độc tính của Fluor đối với cây phụ thuộc vào sự nhạy cảm của cây đối với Fluor, loại đất, thành phần tính chất của đất, sự không đồng nhất của đất …
b) Động vật có xương sống trên cạn
Loài bò sữa sử dụng Fluor với lượng 50 mg Fluor/kg trọng lượng cơ thể trong vòng 5 năm cũng bị ảnh hưởng đế hệ xương, khớp ở mức độ nặng
2.3.Tổng quan về tình trạng nguồn nước bị nhiễm Fluor trên thế giới và ở Việt Nam
Ô nhiễm nguồn nước sinh hoạt do Fluor đã được biết đến từ lâu Năm 1901, người ta đã thấy nhân dân thành phố Barlett, bang Taxas, Hoa Kỳ đã tiêu thụ nước nguồn chứa 8 ppm Fluor Năm 1943, người ta đã tiến hành điều tra và phát hiện 10-15% số dân sống trên 19 năm ở đó có hình ảnh mờ tổ chức xương Tại nhiều quốc gia như:
Trang 21Trung Quốc, Angieri, Hy Lạp, Ấn Độ, Thái Lan…người ta cũng đã phát hiện nồng độ
Fluor trong nước cao trên 5 mg/lít Đây là một thực trạng khá phổ biến ở nhiều nước
trên thế giới như các nước khu vực Nam Phi, Trung Quốc, Ấn Độ…
Ở Việt Nam tình trạng ô nhiễm Fluor trong nước sinh hoạt cũng đã được phát
hiện ở nhiều vùng thuộc các tỉnh Miền Trung như Bình Thuận, Ninh Thuận, Khánh
Hoà, Bình Định, Phú Yên; dẫn đến tình trạng người dân mắc các bệnh về răng, xương
khá nghiêm trọng Tình trạng ô nhiễm Fluor trong nước sinh hoạt đã được phát hiện ở
huyện Ninh Hoà, tỉnh Khánh Hoà, kết quả xét nghiệm cho thấy 29% mẫu nước có hàm
lượng Fluor trên 1,5 mg/l và có mẫu lên đến 6,8 mg/lít Kết quả khám răng ở vùng ô
nhiễm cũng cho thấy có trên 90% người dân sử dụng nguồn nước này bị tổn thương
răng và người ta đã gọi nơi đây là “Vùng đất không có nụ cười”
Kết quả của một số công trình công bố gần đây cũng như số liệu nghiên cứu
chất lượng nước dưới đất ở một số khu vực có nguồn nước bị nhiễm Fluor nặng ở Việt
Nam tại các tỉnh như: Khánh Hòa gồm các vùng: Ninh Hòa, Vạn Ninh, Khánh Vĩnh
Bảng 2.1 Hàm lượng Fluor của Những Nguồn Nước Khoáng- Nước Nóng Tỉnh Khánh Hòa
STT Tên nguồn nước khoáng,
nước nóng
Hàm lượng Fluor (mg/l) Phân tích tại Viện
Nguồn tin: Báo cáo hội nghị khoa học lần thứ 15 Trường ĐH Mỏ- Địa chất Hà Nội năm 2002
Đặc biệt, ở Phú Yên ngày 25/11, đoàn công tác của bệnh viện Răng -Hàm -Mặt
Trung Uơng Thành Phố Hồ Chí Minh đã tiến hành khảo sát tình trạng bệnh răng đen
tại xóm Trường, thôn Phú Xuân B, Xuân Phước, Đồng Xuân, Phú Yên Qua khám
răng cho 35 học sinh ở trường Tiểu Học Xuân Phước số 1 (đóng tại xóm trường), đã
phát hiện đến 32 em bị nhiễm Fluor khá nặng Việc nghiên cứu mẫu nước cho thấy,
nguồn nước ở đây bị nhiễm Fluor trầm trọng, khiến gần 1.000 người dân bị đen và hư
răng (Theo MONREnet)
Trang 22Tại Bình Định qua khảo sát của một số cơ quan đã cho thấy tình trạng ô nhiễm
nguồn nước sinh hoạt do Fluor là tương đối phổ biến ở các xã nằm dọc quốc lộ 19
thuộc các huyện Tây Sơn, An Nhơn và Vân Canh
Ngày 14/12/2004, qua xét nghiệm nước ở xóm Quế Châu, xã Nhơn Tân, huyện
An Nhơn, Trung Tâm Y Tế Dự Phòng Bình Định phát hiện có mẫu nước có hàm
lượng Fluor trên 2 mg/lít và đã có cảnh báo không nên cho trẻ em sử dụng nguồn nước
này Trên cơ sở phát hiện này tháng 11/2005, Sở Y Tế và Trung Tâm Dự Phòng tỉnh
đã kết hợp với Viện Răng Hàm Mặt TW TP Hồ Chí Minh tiến hành khảo sát sơ bộ tình
hình bệnh tật ở xã Nhơn Tân và đã lấy 18 mẫu nước
Bảng 2.2 Kết Quả Xét Nghiệm Mẫu Nước Xã Nhơn Tân huyện An Nhơn Tỉnh Bình Định
Tên xóm Xóm Quế Châu Xóm Gò Sơn Xóm An Dương Xóm Tân An
Số mẫu xét
Kết quả xét
nghiệm (mg/l) 3,6 – 6,6 0,7 0,04 4,5 – 7,5
Nguồn: Trung Tâm Y Tế Dự Phòng tỉnh Bình Định
Ngày 22/11/2005, Trung Tâm Y Tế Dự Phòng tỉnh phối hợp với Viện Pasteur
Nha Trang tiếp tục lấy 5 mẫu nước thuộc xóm Quế Châu xét nghiệm tại Viện Pasteur
Nha Trang, kết quả tất cả 5/5 mẫu đều có hàm lượng Fluor từ 1,93- 5,94 mg/lít Ngày
26/4/2006, Trung Tâm Y Tế Dự Phòng tỉnh tiếp tục lấy 20 mẫu nước ở xóm An
Dương và Tân An xét nghiệm nhưng tất cả các mẫu nước đều có hàm lượng Fluor
<1,5 mg/lít Các kết quả này chứng tỏ tình trạng ô nhiễm Fluor trong nước sinh hoạt ở
xã Nhơn Tân chủ yếu tập trung ở xóm Quế Châu
Tại huyện Tây Sơn, ngày 28/7/2005, qua giám sát chất lượng nước sinh hoạt,
Trung Tâm Y Tế Dự Phòng đã lấy 8 mẫu nước thuộc thôn Hoà Trung, xã Bình Tường
xét nghiệm, kết quả có 4/8 mẫu có hàm lượng Fluor trên 1,5 mg/lít Ngày 14/11/2006
Trung Tâm tiếp tục lấy 9 mẫu nước thuộc thôn Hoà Hiệp xét nghiệm, kết quả có 7/7
mẫu nước có hàm lượng Fluor và độ cứng vượt TCCP với hàm lượng Fluor từ 4,6-8,6
mg/lít và độ cứng từ 400-600 mg CaCO3/lít (2 mẫu lấy ở vòi của hệ thống cấp nước
tập trung có hàm lượng Fluor 1.5 mg/lít) Để đánh giá tình trạng ô nhiễm Fluor ở Bình
Tường, Trung Tâm đã tiếp tục lấy 12 mẫu nước thuộc thôn Hoà Xuân và Hoà Trung
xét nghiệm Tại huyện Vân Canh, Trung Tâm cũng đã xét nghiệm 2 mẫu nước thuộc
thôn Tăng Vinh, xã Canh Vinh, kết quả hàm lượng Fluor cũng cao trên 2 mg/lít
Trang 23Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu của một số tác giả khác còn cho thấy tình trạng ô nhiễm Fluor không chỉ xảy ra ở các địa phương trên mà còn ở một số nơi khác như: Tây Thuận, Tây Giang, Tây Phú, Bình Hoà, Tây Bình thuộc huyện Tây Sơn Tuy nhiên thực tế thế nào cần có tổng hợp một cách có hệ thống
Theo kết quả từ Sở Khoa Học Công Nghệ Môi Trường tỉnh Bình Định cùng Trung Tâm Y Tế Dự Phòng cho biết sau khi tiến hành khảo sát, lấy mẫu phân tích chất lượng nước ngầm tại khu vực huyện Tây Sơn và An Nhơn, trong đó đáng chú ý là có hai địa bàn Thôn Hoà Hiệp, xã Bình Tường Huyện Tây Sơn và thôn Nam Tượng 1 xã Nhơn Tân Huyện An Nhơn có 100% mẫu phân tích chỉ tiêu Fluor vượt quá tiêu chuẩn cho phép Giá trị hàm lượng Fluor tối đa trong các mẫu nước ngầm đo được là 8mg/l
Một số mẫu nước có tình trạng ô nhiễm chỉ tiêu kim loại như: 7/45 mẫu phân tích có chỉ tiêu Fets và 12/45 mẫu phân tích có chỉ tiêu Mn vượt quá tiêu chuẩn quy định đối với nước cấp cho sinh hoạt Ngoài ra, hàm lượng NO3- trong một số mẫu nước khá cao Có 13/45 mẫu nước ngầm có chỉ tiêu NO3- vượt quá quy định Và 8/45 mẫu nước ngầm có chỉ tiêu Cl- vượt tiêu chuẩn Ngoài ra nhiều mẫu nước có tình trạng
ô nhiễm hữu cơ thông qua sự có mặt của giá trị COD, N-NH3 Một số mẫư nước có độ cứng CaCO3 cao, điều này phù hợp với phản ứng của người dân về phổ biền tình trạng đóng cặn trong các ấm, nồi nấu nước
Như vậy, tình trạng ô nhiễm Fluor trong nước sinh hoạt phải nói là tương đối phổ biến Bình Định Đây là vấn đề quan trọng nhằm xác định chính xác vùng bị ô nhiễm để có biện pháp xử lý thích hợp nhằm bảo vệ sức khoẻ cho nhân dân
Từ lâu, người ta đã nhận thức được rằng sự thiếu hoặc thừa một nguyên tố vi lượng Fluor là một vi chất cần thiết cho sức khoẻ con người Sự thiếu hay thừa nguyên tố như vậy chỉ mang tính cục bộ, biểu hiện ở một số địa phương nào đó và gây
ra các bệnh gọi là “bệnh địa phương”, biểu hiện rõ nhất là các bệnh về răng và xương
Kết quả cuả nhiều công trình nghiên cứu về tác hại của hàm lượng Fluor cao (trong nước uống) cho thấy: khi sử dụng nước có hàm lượng Fluor từ 1,5 đến 2 mg/l (trong ăn uống) có thể gây ra các bệnh như: đốm răng, mục răng, chết răng; còn khi hàm lượng Fluor vượt quá 5 mg/l thì thường xảy ra các chứng nhiễm Fluor (Fluorisis)
ở khung xương như: xơ cứng khớp, xưng khớp, liệt chi…Chính vì vậy, ở nước ta từ
1985 đến nay, đã có nhiều tiêu chuẩn về giới hạn hàm lượng Fluor áp dụng cho nước uống, cho nước mặt và nước ngầm phục vụ cấp nước làm cơ sở cho việc đánh giá mức
độ ô nhiễm: nguồn nước (giới hạn tối đa hàm lượng fluor là 1,5 mg/l)
Trang 24Bảng 2.3 Giá Trị Giới Hạn của Hàm Lượng Fluor trong Nước
Tiêu chuẩn việt nam Giới hạn tối đa hàm lượng Fluor (mg/l)
Mức mong muốn 0,75 TCVN 505 BYT/QĐ-1992 (nước cấp cho
ăn uống và sinh hoạt) Giới hạn tối đa:1,5
TCVN 5942-1995 (chất lượng nước mặt) 1-1,5 (tùy mục đích sử dụng)
TCVN 5944-1995 (chất lượng nước dưới
2.4.Tổng hợp các tài liệu liên quan về các dạng bệnh lý nhiễm độc Fluor
Tuy nhiên khi nguồn nước uống có nồng dộ Fluor vượt quá 2mg/l sẽ gây nên những tổn thương về răng, xương cùng những tác hại khác đối với cơ thể
Theo một số tài liệu: Fluor đi vào cơ thể qua đường hô hấp hay đường tiêu hoá
Qua da khi tiếp xúc trong các trường hợp do nhiễm độc do nghề nghiệp Với lượng 5mg đi vào cơ thể sẽ gây nên ngộ độc cấp Ngộ độc Fluor cấp chủ yếu lên thành ống tiêu hoá tương tự như bỏng do uống phải các lọai acid hay kiềm mạnh, người ta thường dùng các chế phẩm có Calci để trung hoà trong trường hợp ngộ độc cấp Fluor Trong trường hợp mãn tính nhiễm độc Fluor có các biểu hiện sau:
Tác động trước tiên và dễ thấy nhất là nhiễm độc Fluor lên men răng Tác động thứ hai là xảy ra sau 10- 20 năm tập nhiễm là gây ra tình trạng xơ đặc xương đựơc nêu trong báo cáo này Tác động khác có tính toàn thân do hoạt tính oxy hoá cao nên Fluor tăng hoạt các Hormon và các Enzyme trong cơ thể đẩy nhanh quá trình lão hoá các cơ quan và toàn bộ cơ thể và gây ra tình trạng cao huyết áp Những tác động này có tính chất âm thầm và chậm nên khó nhận biết và không ai để ý
Trường hợp nhiễm độc Fluor với tổn thương ở xương và dây chằng đầu tiên đã được báo cáo năm 1933 theo y văn Khi Fluor vào cơ thể ở dạng hoà tan nó sẽ được hấp thu nhanh và chậm thải trừ qua nước tiểu Fluor cũng tiết ra nước bọt vào khoan
Trang 25miệng làm cho môi trường miệng ở mức độ pH acid nhẹ tăng khả năng khử trùng bảo
vệ trong khoan miệng Trong cơ thể hơn 96% lượng chất Fluor tồn tại trong mô xương, ở đó chúng kết hợp với các Ion Ca++ gây tăng lượng Calci lắng đọng trong mô xương Sự kết hợp giữa Calci và Fluor rất bền vững, ngăn cản quá trình đào thoát Calci từ mô xương vào máu Quá trình này làm tăng thêm sự tích tụ các ion Ca++ trong mô xương theo thời gian Lắng đọng Calci cũng có ở mô mềm, mô sụn và cốt hoá dây chằng Theo nguyên lý này giải thích tại sao người có dấu hiệu đặc xương do nhiễm Fluor thường ở người lớn tuổi và kèm theo vôi hoá dây chằng
Có một nghiên cứu tại Bang Texas USA (5), (1901) nguồn nước tại Thành Phố Barlelt có 8 mgF/l Năm 1943, chụp X- quang điều tra phát hiện có 10-15% người dân
có dấu hiệu đặc xương Năm 1952, người ta xử lý nước giảm được nồng độ Fluor xuống còn 1mg/l nươc sử dụng Sau 10 năm kiểm tra lại các dấu hiệu mờ đặc xương cũng không có biểu hiện thay đổi
Theo L.Derobert (1971) trong các triệu chứng của bệnh chỉ xác định được trên phim chụp X- quang Tổn thương xương do nhiễm độc Fluor thường đầu tiên các tổn thương xuất hiện khu trú ở các đầu xương dài Về sau màng xương tăng nhiễm đọng Cacli tăng sinh sản, dày lên, và hình ảnh cấu trúc xương bình thường mất đi không rõ tổ chức vân xương, các lồi xương dẹt xuống, đặc xương lan rộng ở vỏ xương Thương tổn rõ nhất tại cột sống và khung chậu Các thân đốt sống bị vôi gia hoá hình mỏ vẹt
và có khuynh hướng dính liền nhau do vôi lắng đọng các dây chằng Xương dù dày lên nhưng lại dễ gây mất độ dẻo cứng do tình trạng xơ xương
Các xét nghiệm huyết học cũng như định lượng Fluor niệu trong chẩn đoán bệnh lý nhiễm độc Fluor chỉ có giá trị trong trường hợp cấp tính và có tính chất chẩn đoán cộng đồng có bị nhiễm hay không Trong trường hợp nhiễm Fluor mãn tính chẩn đoán dựa vào chủ yếu là tình trạng hư tổn răng cũng như dấu hiệu đặc xương lan tỏ trên phim X-quang
Theo Harrison dấu hiệu đặc xương trên phim X-quang hiếm thấy hơn các biểu hiện tiêu xương hay loãng xương Các bệnh lý có dấu hiệu đặc xương trên phim chụp X-quang trong ba nhóm bệnh lý chủ yếu sau:
Các bệnh lý bẩm sinh không rõ căn nguyên như bệnh xương hoá đá có hình ảnh đặc xương ở bệnh lý trẻ em, có nhiều đặc điểm dị dạng xương sọ đặc trưng.Các bệnh
lý nội sinh như các bệnh lý nội tiết (bệnh lý tuyến yên, tăng hoạt tuyến giáp, tuyến cận giáp) hay
Trang 26các bệnh lý thuộc dạng chuyển hoá như tăng hoạt men Phosphatasa không rõ nguyên nhân hay ngộ độc vitamin A, D…
Các bệnh lý ngoại sinh chủ yếu là nhiễm độc các chất như: Fluor, Chì, Berry… nhiễm độc Fluor là một dạng bệnh lý đặc trưng duy nhất gây nên dấu hiệu đặc xương lan toả toàn thân Một dạng bệnh có hình ảnh trên phim X quang tương tự mà chúng ta thường dễ nhầm lẫn và quy gộp bệnh nhiễm Fluor mạn tính vào chung một dạng Đó
là bệnh viêm cột sống dính khớp, hai bệnh này khi có bệnh nguyên hoàn toàn khác nhau Viêm cột sống dính khớp là một dạng bệnh lý Nội căn nguyên chưa xác định rõ;
có nhiều nguyên nhân là yếu tố gây bệnh có thể có tính di truyền theo quy luật Mendel
và cơ chế đa yếu tố Đặc biệt xét nghiệm yếu tố HLA B27 (+) trong 96% các trường hợp có giá trị chẩn đoán Về chẩn đoán hai bệnh này có nhiều nét tương đồng nhưng căn bản chúng vẫn có dấu hiệu khác biệt
Bảng 2.4 Dấu Hiệu Nhận Biết Bệnh Đặc Xương và Bệnh Viêm Cột Sống Dính Khớp Đặc xương do nhiễm Fluor Bệnh viêm cột sống dính khớp
Đặc xương toàn bộ bao gồm cả các xương
dẹt và thân sông, cuốn sống
Đặc xương chậu không chỉ khu trú phần
xương dầy mà lan rộng cả các xương xốp
hThương tổn chỉ ở các dây chằng liên đốt
sống không gây cứng khớp các chi
Các dây chằng vôi hoá thẳng góc đối diện
Các dây chằng vôi hoá góc với diện khớp thân sống bị thưa xương
Nguồn tin: Trung Tâm Y Tế Dự Phòng tỉnh Bình Định
2.5 Tình hình sức khoẻ nhân dân ở một số vùng bị ô nhiễm nguồn nước sinh hoạt do Fluor
Một số người dân thôn Hòa Hiệp, xã Bình Tường, huyện Tây Sơn, Bình Định chết đột ngột trong tình trạng bụng phình to, toàn thân rỉ nước Rất nhiều người khác
bị teo cơ, tay chân co quắp, hoặc hàm răng đen ố, vỡ rụng hết
Qua một số khảo sát cho thấy có mối liên quan rõ rệt giữa tình trạng ô nhiễm Fluor trong nguồn nước sinh hoạt với sức khoẻ nhân dân Năm 2005, Nguyễn Tấn Bửu
đã có nghiên cứu về hình ảnh mờ đặc tổ chức xương hiệu trên phim X quang của 32 bệnh nhân đến khám và điều trị tại bệnh viện Đa Khoa tỉnh Bình Định Các biểu hiện
Trang 27trên phim X quang được mô tả như các trường trường hợp tổn thương xương do Flour
đã được y văn mô tả và những bệnh nhân này có một đặc điểm chung là đều sống trong vùng bị ô nhiễm Fluor.Viện Răng Hàm Mặt TW Tp Hồ Chí Minh đã tiến hành khám răng cho 44 trẻ em thuộc xóm Quế Châu và có kết luận: 18 trẻ bị nhiễm Fluor ở mức độ nặng, 11 trẻ nhiễm Fluor ở mức độ trung bình và 15 trẻ nhiễm ở mức độ nhẹ
Ngày 14/11/2006, Sở Y Tế Bình Định đã tổ chức đoàn khám gồm Bệnh Viện
Đa Khoa tỉnh, Trung Tâm Y Tế Dự Phòng, Trung Tâm Y Tế Tây Sơn đến kiểm tra tại các gia đình thuộc thôn Hoà Hiệp, xã Bình Tường, huyện Tây Sơn Kết quả cho thấy, tất cả người dân ở hộ này điều có biểu hiện bệnh lý tổn thương răng do Fluor Trong
34 bệnh nhân được kiểm tra có 27 trường hợp thoái hoá khớp; 2 trường hợp viêm cột sống dính khớp và 5 trường hợp suy kiệt tuổi già Thời gian mắc bệnh từ năm 1986 đến 2005, nhóm tuổi mắc bệnh chủ yếu từ 40 tuổi trở lên (30/34 ca) chụp X- quang cho 7 trường hợp thì cả 7 trường hợp đều có dấu hiệu thoái hoá xương khớp và đặc xương Trước thực trạng về nguồn nước ngầm bị nhễm nặng Fluor đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình sức khỏe, và thẩm mỹ của gần 2.000 hộ của xã Bình Tường
Tóm lại, phần tổng quan trong nghiên cứu này đã phản ánh thực trạng nguồn nước bị nhiễm Fluor ở một số nước trên thế giới như: Trung Quốc, Angiêri, Hylạp, Ấn
Độ, Thái Lan Ở Việt Nam tình trạng này diễn ra khá phổ biến ở các tỉnh Miền trung như: Bình thuận, Ninh Thuận, Khánh Hòa, Bình Định, Phú Yên dẫn đến tình trạng hàng loạt người dân mắc các bệnh về răng, xương khá nghiêm trọng Đặc biệt thôn Hòa Hiệp xã Bình Tường huyện Tây sơn tỉnh Bình Định nơi đây là một bức tranh điển hình nhất về những tác hại do nguồn nước bị nhiễm Fluor để lại Rất nhiều người bị teo cơ tay chân co quắp hoặc hàm răng đen ố, vỡ rụng hết Tình trạng người dân ở khu vực có độ tuổi từ 40 tuổi trở lên đã bắt đầu có những dấu hiệu về các bệnh liên quan đến xương như: khòm lưng, các khớp xương bắt đầu xơ cứng Chính điều này đã ảnh hưởng không ít đến tâm lý của những người dân ở đây, đặc biệt là thế hệ mai sau Đây
là một vấn đề mang tính cộng đồng, chính vì vậy trách nhiệm không chỉ thuộc về nhân dân, chính quyền địa phương mà đã trở thành vấn đề chung của toàn thể cộng đồng
Trang 28CHƯƠNG 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đây là một phần khá quan trọng trong nghiên cứu này Bởi nó là nền tảng để giải quyết những vấn đề đưa ra trong phần mục tiêu nghiên cứu Các lý thuyết về đặc tính của nguồn nước và lý thuyết hàng hóa công được dùng để kiểm chứng việc cải thiện chất lượng nước ở xã Bình Tường huyện Tây Sơn tỉnh Bình Định có phải là tài nguyên công
Chương này còn trình bày chi tiết cơ sở dữ liệu và những phương pháp được áp dụng trong đề tài Phần cơ sở dữ liệu có được dựa trên phương pháp thu thập số liệu thứ cấp và phương pháp thu thập số liệu sơ cấp qua điều tra 60 hộ dân của xã Bình Tường huyện Tây Sơn tỉnh Bình Định
Trong chương này còn trình bày những phương pháp nghiên cứu phục vụ cho
đề tài và những cơ sở để lập luận cho việc lựa chọn lựa những phương pháp này để sử dụng vào đề tài Phương pháp mô tả, phương pháp sử dụng thị trường, các phương pháp đánh giá tổn hại môi trường như phương pháp tài sản nhân lực và phương pháp liều lượng đáp ứng Áp dụng WTP vào mục đích tính tổng mức sẵn lòng trả cho việc cải thiện chất lượng nước trên toàn địa bàn xã Cuối cùng là sử dụng phương pháp kinh tế lượng thông qua mô hình tuyến tính để đưa ra các biến quyết định của WTP
3.1 Cơ sở lý luận
Vấn đề ô nhiễm Fluor đã và đang ảnh hưởng đến sức khoẻ và cuộc sống của người dân tại các vùng nông thôn thuộc tỉnh Bình Định, phương hại đới với sự phát triển kinh tế- xã hội của địa phương Nghiên cứu xử lý nguồn nước ngầm ô nhiễm Fluor trong thời điểm hiện nay thực sự là một nhu cầu cấp bách của người dân và cũng
là trách nhiệm của các nhà khoa học, các nhà quản lý
Nguồn nước có nhiều đặc tính như tài nguyên công, ngoại tác, và tính không chắc chắn Những đặc tính này gây khó khăn trong phân biệt quyền lợi hợp pháp
Trang 29(Colby, 1995) Vì vậy cần có sự can thiệp của chính phủ để bảo vệ môi trường nước
Lý thuyết về tài nguyên công sẽ được trình bày dưới đây để làm rõ hơn đặc điểm của nước, quyết định của chính phủ trong việc cung cấp hàng hoá công và đưa ra một định hướng cho việc phân tích đề tài này Vì nguồn nước ngầm bị nhiễm Fluor ở xã Bình Tường nguyên nhân do cấu trúc địa lý chính vì vậy mà nó không có đặc tính ngoại tác
3.1.1 Lý thuyết tài nguyên công
Tài nguyên công có hai đặc điểm chính: không loại trừ nhưng có tính cạnh trạnh Đặc điểm không loại trừ có nghĩa là không ai có thể bị loại trừ việc thưởng thức nguồn tài nguyên này và đặc điểm có tính cạnh tranh có nghĩa là việc tăng thêm một người sử dụng nguồn tài nguyên này sẽ làm ảnh hưởng đến tiêu dùng của người khác Với tài nguyên công, tất cả mọi người nhận được lợi ích nhưng không muốn chi trả cho nó vì đặc điểm không loại trừ Vấn đề ăn theo đã gây ra những khó khăn trong việc cung cấp bởi vì khu vực tư nhân (Salanie, 2000) Vì vậy chỉ có chính phủ mới có thể cung cấp hàng hoá công một cách hiệu quả, và bằng những quy định chính phủ cũng có thể thu tiền từ người dân để đóng góp vào việc cung cấp nguồn tài nguyên này (Pindyck and Rubinfeld, 1992)
3.1.2 Khái niệm nước ngầm
Mạch nước ngầm có độ sâu từ 25-300 m, có nhiều mạch nước ngầm có độ sâu
từ 100-300 m có chất lượng rất tốt, chưa phát hiện dấu hiệu ô nhiễm về các chỉ tiêu lý hoá cũng như vi sinh Nước ngầm tầng nông (dưới 100 m) ở tất cả các huyện, thị, thành phố trong tỉnh đều bị nhiễm chất hữư cơ và vi sinh ở mức: BOD5 là 150mg/l, COD là 100mg/l và tổng Coliform là 100- 103 MNP/100ml (cao hơn từ 2-20 lần TCMTVN)
3.1.3 Khái niệm về ô nhiễm nước
Ô nhiễm nước là sự thay đổi thành phần và tính chất của nước, có hại cho hoạt động sống bình thường của sinh vật và con người, bởi sự có mặt của một hay nhiều hóa chất lạ vượt qua ngưỡng chịu đựng của sinh vật Hiến chương Châu Âu về nước
đã định nghĩa về ô nhiễm nước: “là sự biến đổi nói chung do con người đối với chất lượng nước làm ô nhiễm nước và gây ô nhiễm cho con người, cho công nghiệp, nông nghiệp, nuôi cá, nghỉ ngơi, giải trí, đối với động vật nuôi và các loài hoang dại”
Có nhiều loại ô nhiễm nước như: Ô nhiễm chất hữu cơ: khi chất hữu cơ có nhiều trong nước, sẽ bị ôxy hóa và tạo ra nhu cầu ôxy Ô nhiễm do độc chất: ô nhiễm
Trang 30các Cation (kim loại nặng) và Anion, một số kim loại như: Chì, Thủy Ngân, Nhôm,….ở nồng độ cao Ô nhiễm thuốc trừ sâu, ô nhiễm nhiệt, ô nhiễm sinh vật
3.1.4 Khái niệm Fluor
Fluor ở dạng khí, nó có màu vàng lục nhạt và là chất độc cực mạnh Fluor là
một chất ôxi hoá và hoạt động rất mạnh nhất trong các nguyên tố Ở dạng nguyên chất,
nó là chất cực kì nguy hiểm, sinh ra những vết bỏng hoá học trên da cực kỳ nguy hiểm
3.1.5 Những Chỉ Tiêu Đánh Giá Về Chất Lượng Môi Trường Nước Việt Nam
Bảng 3.1.Giá Trị Giới Hạn Cho Phép của Các Thông Số và Nồng Độ Các Chất Ô
Nhiễm trong Nước Mặt (TCVN 5942-1995)
STT Thông số Đơn vị Giá trị giới hạn
Trang 31Cột A áp dụng đối với nước mặt có thể dung làm nguồn nước cấp sinh hoạt nhưng phải qua xử
lý như quy đinh
Cột B áp dụng đối với nước mặt dung cho mục đích khác Nước dùng cho nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản có quy định riêng
3.2 Cơ sở dữ liệu và phương pháp nghiên cứu
3.2.1 Cơ sở dữ liệu
a) Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
Tham khảo các số liệu thứ cấp từ: Sở Khoa Học Công Nghệ và Môi Trường tỉnh Bình Định, Sở Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn tỉnh Bình Định, Trung Tâm Y Tế Dự Phòng tỉnh Bình Định, Trung Tâm Cấp Nước Sinh Hoạt và Vệ Sinh Môi Trường Nông Thôn tỉnh Bình Định, UBND huyện Tây Sơn, Ban quản lý và Kiểm Tra Nước huyện Tây Sơn, UBND xã Bình Tường, Trạm Y Tế Xã Bình Tường và các phòng ban có liên quan
b) Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp
Chọn số hộ được phỏng vấn là những hộ bị ảnh hưởng nặng do ô nhiễm nước Tiến hành chọn mẫu điều tra theo số mẫu điều tra của đề tài chọn từ danh sách các hộ bị nhiễm Fluor nặng mà Trung Tâm Y Tế Dự Phòng tỉnh Bình Định đã tiến hành lấy mẫu nước giếng để xét nghiệm trong năm 2005
Tiến hành chọn mẫu điều tra theo: Tiến hành lập bảng câu hỏi phỏng vấn Tiến hành phỏng vấn trực tiếp thông qua 60 hộ dân của xã Bình Tường huyện Tây Sơn tỉnh Bình Định
Sử dụng 3 phương pháp chính đáp ứng cho mục tiêu đề ra:
3.2.2 Phương pháp mô tả
Qua thực tế tìm hiểu về thực trạng nước sinh hoạt ở xã Bình Tường và tham khảo các tài liệu của những cuộc hội thảo về vấn đề nước bị nhiễm Fluor, các thông tin trên truyền hình, báo đài, internet,….mô tả về thực trạng nước bị nhiễm nặng chất Flour
3.2.3 Thủ tục và kĩ thuật xử lí số liệu
Từ số liệu sơ cấp ban đầu ta sẽ quy đổi số liệu về dạng định lượng cho những biến định tính, sàn lọc số liệu, loại bỏ bớt những số liệu không đáng tin cậy
Sử dụng chương trình Excel, Eview, Word, tổng hợp và rút ra nhận xét từ những số liệu đã có
Sử dụng phương pháp phân tích hồi quy chạy trên nền Eview, khẳng định sự ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến mức sẵn lòng chi trả của những
Trang 32hộ dân đối với việc cải thiện chất lượng nước Đó là cơ sở để đề xuất giải pháp và đề nghị cho nghiên cứu
3.2.4 Cơ sở lý thuyết cuả các phương pháp đánh giá giá trị kinh tế của tài nguyên thiên nhiên môi trường
Cơ sở lý thuyết của các phương pháp định giá TNTNMT dựa trên khái niệm sẵn lòng trả (Willingness ToPay-WTP)
Ý thích của một cá nhân đối với một sản phẩm nào đó trên thị trường được thể hiện qua mức sẵn lòng trả (WTP) của họ đối với mặt hàng đó.dựa vào khái niệm này,
ta có thể đo lường được mức sẵn lòng trả của một ca 1nhân để họ tránh một điều gì đó
mà họ không thích Trên cơ sở đánh giá mức sẵn lòng trả của các cá nhân và đo được giá trị của TNTNMT hay giá trị của một sự thay đổi về chất lượng TNTNMT
Các phương pháp định giá TNTNMT:
Hình 3.1 Phân Loại Những Phương Pháp Đánh Giá Phi Thị Trường
Nguồn tin: Asafu-Adjaye (2000) Trong những phương pháp trên, phương pháp giá trị hay phương pháp chi phí thị trường để đánh giá các ảnh hưởng vật chất do sự thay đổi của môi trường Phương pháp này được trình bày chi tiết hơn trong phần tiếp theo để áp dụng vào nghiên cứu
3.2.5 Phương pháp đánh giá tổn hại do ô nhiễm môi trường
Phương pháp đánh giá phi thị trường
Những phương pháp nêu rõ sự ưa thích
Phương pháp giá trị hay chi phí thị trường
Phương pháp chuyển lợi nhuận
Phương pháp đánh giá ngẫu nhiên
Những thí nghiệm lựa chọn Những phương pháp
tiết lộ sự ưa thích
Trang 33Dùng phương pháp sử dụng giá thị trường để đánh giá tổn hại do ô nhiễm nguồn nước: giá trị của sự thay đổi chất lượng môi trường trong khu vực được đánh giá thông qua việc quan sát sự thay đổi chất lượng nước sinh hoạt và ước lượng giá trị của các ảnh hưởng từ sự thay đổi này đối với giá trị các hàng hoá có liên quan như: sức khoẻ, giá trị đất đai, vẻ thẩm mỹ của răng, năng suất của trồng trọt và chăn nuôi
a) Phương pháp tài sản nhân lực (Human Capital Method)
Phương pháp này dùng để ước lượng chi phí về tổn hại sức khoẻ do nước bị ô nhiễm gây ra đối với con người
Chi phí này được ước lượng qua ảnh hưởng của ô nhiễm nước đối với năng suất lao động của con người
Ô nhiễm nước ảnh hưởng đến sức khoẻ con người: tỉ lệ tử vong tăng, tổng số ngày bị bệnh, nghỉ làm, giảm sức khoẻ, giảm năng suất lao đông, chi phí thuốc chữa bệnh, chi phí phòng ngừa
Sử dụng chi phí cơ hội để đánh giá các giá trị này, thể hiện chi phí tăng thêm do giảm chất lượng nguồn nước
Tổng chi phí= (chi phí chữa bệnh trung bình ngày/ người*số ngày bệnh* số người)+ (tiền lương trung bình ngày/ người* tổng số ngày không lao động do bị bệnh)+ (tiền lương trung bình ngày/người* tổng số ngày thân nhân chăm sóc bệnh nhân)
b) Phương pháp liều lượng đáp ứng (Dose response method)
Với mức độ liều lượng của ô nhiễm nước, gây ra một mức thiệt hại đối với con người, thực vật, đất đai, … các mức thiệt hại này sẽ được đo lường bằng giá cả thị trường trực tiếp, tổng mức thiệt hại sẽ cho thấy gía trị của môi trường nước khi không
có ô nhiễm Trong phần nghiên cứu này đề tài sử dụng phương pháp này để đo lường tổn hại ô nhiễm nước do Fluor thông qua việc phân tích nồng độ Fluor quá cao vượt mức tiêu chuẩn cho phép theo WHO và sự ảnh hưởng hay những tác hại của nó đối với răng và xương ở người và động vật, làm giảm giá trị đất đai, giảm năng suất cây trồng vật nuôi Sự ảnh hưởng này sẽ được lượng hoá bằng giá trị kinh tế bằng cách sử dụng giá trên thị trường
Công thức tính:
Doanh thu = sản lượng* giá bán
Trang 34Thu nhập = tổng doanh thu- chi phí vật chất-chi phí lao động thuê
c) Giá sẵn lòng trả (WTP)
Mức đo lường ý thích của một cá nhân về một mặt hàng trên thị trường được bộc lộ bằng mức giá sẵn lòng trả (WTP) của họ đối với mặt hàng đó
d) Những cách đo lường mức sẵn lòng chi trả
Có 3 phương pháp để đo lường WTP cho việc cải thiện môi trường nước (Field, 1997) Chúng ta có thể lấy trường hợp ô nhiễm nguồn nước để minh họa Nguồn nước ngầm bị nhiễm Fluor đã ảnh hưởng rất lớn đến đời sống của người dân và những người này sẵn lòng chi trả bao nhiêu để giảm sự ô nhiễm, chúng ta có thể sử dụng phương pháp như sau:
Thứ nhất người dân đã bị nhiễm bệnh và họ phải tốn một khoảng tiền cho sức khỏe của họ Vì vậy chúng ta có thể ước lượng dựa trên chi phí này
Thứ hai nguồn nước bị ô nhiễm có sẽ ảnh hưởng đến giá nhà, những ngôi nhà ở gần nơi có nguồn nước bị ô nhiễm giá sẽ thấp hơn nhiều và khả năng bán được là rất thấp so với những ngôi nhà không nằm trong vùng có nguồn nước bị nhiễm Fluor Vì vậy, chúng ta có thể ước lượng WTP để giảm ô nhiễm bằng sự khác biệt giữa hai ngôi nhà
Thứ ba là một phương pháp trực tiếp, chúng ta có thể thực hiện một cuộc điều tra ở các hộ gia đình và hỏi họ sẵn lòng chi trả bao nhiêu cho một m3 nước có chất lượng khi được cải thiện
3.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến giá sẵn lòng trả (WTP)
Mô hình tổng quát có dạng sau:
Trang 350: là hệ số tự do
i: là hệ số hồi quy riêng I=1 đến 6
GT: Giới tính của chủ hộ (nam: 1; nữ: 0)
TN: Thu nhập của gia đình (triệu đồng/năm)
POL: mức độ ô nhiễm (nghiêm trọng:1; rất nghiêm trọng: 2)
TG: Thời gian bệnh (năm)
TTSK: Tình trạng sức khỏe (xấu:1; rất xấu:2)
CP: Chi phí bệnh tật của hộ gia đình (ngàn đồng/hộ) Đối với biến giới tính ta đặt biến giả cho giới tính chủ hộ (nam giới = 1, nữ giới = 0)
Cơ sở lí luận cho sự phụ thuộc WTP của hộ gia đình trên các yếu tố ảnh
hưởng nhóm biến độc lập có tác động đến WTP của hộ gia đình
Đặc điểm hộ nhóm này thể hiện những thông tin về hộ giới tính chủ hộ
Giới tính: theo thống kê của điều tra về mức sống của Việt Nam thì chủ hộ là
nữ thì thường có thu nhập thấp hơn so với chủ hộ là nam Do đó mà mức giá sẵn lòng
trả giữa nam và nữ cũng khác nhau Điều đó chứng tỏ nó cũng phụ thuộc vào giới tính
Nam thường sẵn lòng trả cao hơn nữ giới
Thu nhập: là biến quan trọng là yếu tố quyết định tiêu dùng, quyết định mức
sống và vì vậy nó ảnh hưởng trực tiếp đến WTP của hộ đối với việc cải thiện chất
lượng nước Thu nhập của người dân cao thì họ sẽ sẵn sàng chi trả cao hơn cho việc
cải thiện chất lượng nước và ngược lại
Mức độ ô nhiễm: cũng là một trong những biến khá quan trọng cần phải được
đưa vào mô hình Vì theo giả thiết nếu mức độ ô nhiễm càng cao thì người dân sẽ sẵn
lòng trả ở mức giá càng cao để có thể cải thiện được nguồn nước Ở mô hình này sử
dụng hai mức độ ô nhiễm Fluor khác nhau là: nghiêm trọng được quy định là 1 nghĩa
là những hộ sử dụng nước giếng có nồng độ Fluor từ 1,5 đến 3 mg/l, theo mẫu nước
xét nghiệm của TTYTDP tỉnh Mức độ thứ 2 là Rất nghiêm trọng là nồng độ Fluor từ
3 đến 4,5mg/l quy định là 2
Ngoài ra, chi phí bệnh tật cũng là một trong những nhân tố không thể thiếu
trong mô hình này Bởi vì, ở đây thu nhập của những hộ dân là rất thấp, chính vì vậy mà nếu chi
phí để mua thuốc, đi bác sĩ quá cao sẽ làm cho mức giá sẵn lòng trả của hộ dân thấp xuống
Trang 36Tình trạng sức khỏe: là biến quan trọng bởi vì nếu tình trạng sức khỏe tốt thì mức giá sẵn lòng trả sẽ thấp và ngược lại Vì vậy mà mức giá sẵn lòng trả phụ thuộc vào tình trạng sức khỏe Đây là một biến định tính, phần lớn người dân trả lời theo cảm tính Có hai mức độ: TTSK xấu là 1, rất xấu là 2
Thời gian bệnh: cũng được xem là biến có ý nghĩa Những người đã bị bệnh trong thời gian càng lâu thì mức giá sẵn lòng trả của họ thường sẽ thấp Kì vọng dấu là
âm Thường những hộ có người mới bệnh thì họ lại có mức giá sẵn lòng trả cao hơn vì
hy vọng có thể cải thiện được tình trạng này
Tóm lại: Như đã đề cập ở trên, có nhiều phương pháp để ước lượng giá trị của tài nguyên thiên nhiên và môi trường nhưng phương pháp ử dụng thị trường hay còn gọi là phương pháp giá trên thị trường để định giá các ảnh hưởng vật chất do sự thay đổi của chất lượng nguồn nước đã gây ra Trên cơ sở đó sẽ tính ra được tổng mức tổn hại do tình trạng ô nhiễm nước bằng một con số cụ thể Đánh giá tổn hại do nguồn nước ngầm bị nhiễm Fluor là một vệc làm cần thiết vì dựa vào con số này sẽ giúp chính quyền địa phương so sánh với chi phí để cải thiện tình trang này và lựa chọn ra phương án giải quyết tối ưu Đồng thời con số này còn nói lên được tính nghiêm trọng của tình trạng ô nhiễm này Vì vậy đề tài đã lựa chọn phương pháp này là một trong những phương pháp giải quyết vấn đề
WTP được áp dụng để xác định tổng mức sẵn lòng chi trả cho việc cải thiện chất lượng nguồn nước thích hợp khi một cá nhân muốn có hang hóa đó và họ sẵn lòng chi trả để có nó, nên việc áp dụng WTP vào nghiên cứu là thích hợp
Một kết luận khác chính là mối quan hệ giữa WTP và những biến khác Thu nhập được xem như một nhân tố quyết định quan trọng đối với WTP nhưng những biến khác như giới tính, mức độ ô nhiễm, chi phí bệnh tật, tình trạng sức khỏe, thời gian bệnh cũng ảnh hưởng đáng kể đến WTP cho việc cung cấp nước
Phương pháp phân tích kinh tế lượng thông qua mô hình tuyến cũng được áp dụng vào nghiên cứu này để xác định những nhân tố quyết định chính của WTP cho việc cải thiện chất lượng nước
Trang 37CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
Chương này gồm 5 phần chính Phần 4.1 là phản ánh thực trạng nguồn nước bị nhiễm Fluor của những hộ dân ở xã Bình Tường Phần 4.2 sẽ nói về nguyên nhân gây
ô nhiễm Fluor cao trong nước dưới đất Trong phần 4.3 đã đưa ra các kết quả tính toán
về mức tổn hại do nguồn nước bị nhiễm Fluor gây ra làm phương hại về mặt sức khỏe
và kinh tế đối với những hộ dân ở xã
Kết quả được tính toán bằng phương pháp giá trên thị trường và phương pháp tài sản nhân lực, phương pháp liều lượng đáp ứng Phần 4.4 tính tổng mức sẵn lòng chi trả cho việc cải thiện chất lượng nước Phần 4.5 đưa ra những nhân tố quyết định của WTP cho việc cải thiện chất lượng nước Kết quả này được giải thích bằng mô hình kinh tế lượng thông qua mô hình tuyến tính Phần 4.6 trình bày kết quả hồi quy và phân tích mối quan hệ của các biến trong mô hình Cuối cùng là phần 4.7 là phần đưa ra những đề xuất để góp phần cải thiện tình trạng trên
4.1 Mô tả hiện trạng nguồn nước bị nhiễm fluor của những hộ dân ở xã Bình Tường 4.1.1 Hiện trạng nguồn nước ô nhiễm
Xã Bình Tường là một trong những vùng có điều kiện kinh tế xã hội còn rất nghèo nàn lạc hậu Điều đó được thể hiện qua tập quán sinh sống, thu nhập, trình độ học vấn của người dân còn thấp và nhiều yếu tố khác Qua điều tra phỏng vấn các hộ dân sống đã lâu năm trên địa bàn xã cho biết nguồn nước mà họ đã và đang sử dụng đã bắt đầu bị ô nhiễm từ rất lâu biểu hiện cụ thể nhất là nước bị vôi và rất mặn Hầu hết nước giếng mà họ sử dụng đều có màu vàng và đóng thành những lớp cặn dày ở đáy
ấm và các dụng cụ đựng nước của gia đình chỉ sau vài ngày
Tuy nhiên do trình độ học vấn của người dân còn hạn chế, hầu hết họ đều là những người suốt năm quanh quẩn ruộng đồng vì vậy mà cái nhìn cũng hạn chế Họ biết rằng nguồn nước mà mình đang sử dụng bị nhiễm bẩn, nhưng không có một biện pháp
Trang 38nào làm giảm tình trạng này Chính vì vậy thực trạng này đã kéo dài gần 15 năm, kết quả là tất cả những người dân ở xã Bình Tường đều bị bệnh đốm răng, và mục răng Khoảng 5 năm gần đây hàng loạt những hộ có từ một đến hai người bị bệnh đơ xương, lưng khòm, tay chân đơ cứng Trước thực trạng ngày càng nghiêm trọng này năm 2005, TTYTDP cùng sở TN và MT tỉnh Bình Định đã phối hợp tiến hành đợt kiểm tra xét nghiệm các giếng nước và các mạch nước ngầm, nước mặt trên địa bàn
xã Kết quả phân tích chất lượng nước mặt như sau:
Bảng 4.1 Kết Quả Phân Tích Nước Mặt
BOD (mg/l)
COD (mg/l)
NH 4 (mg/l)
NO 3 (mg/l)
-NO 2 (mg/l)
-Pts (mg/l)
Fe (mg/l)
Cu (mg/l) M28 6-8,5 8 0,8 8,5 0,08 2,4 0,015 0,13 0,20 0,01
Nguồn: Sở Tài Nguyên và Môi Trường tỉnh Bình Định M28: Sông Kôn, Trạm thủy văn Bình Tường
Chất lượng nước mặt ở xã Bình Tường nhìn chung không bị ô nhiễm, điều đó thể hiện qua các thông số được trình bày ở (bảng 4.1)
Độ Ph của nước theo TCVN 5945:1995 ở mức từ 6 -8,5 mg/l Theo kết quả đo được từ Sở Tài Nguyên và Môi trường tỉnh Bình Định ở khu vực xã Bình Tường đều nằm trong ngưỡng cho phép
Chất rắn lơ lửng (SS): là các hạt rắn vô cơ hoặc hữu cơ, kích thước bé, rất khó lắng gây nên độ đục, màu sắc và các tính chất khác Ở khu vực của xã này hầu như nước đều nổi phèn và từng váng dầu nổi lờ nhờ trên mặt nước nhưng không có sự hiện diên của những chất rắn lơ lửng
BOD5, COD: là lượng chất ôxy hoá cần thiết để phân huỷ sinh học nhờ vi sinh các chất hữu cơ có trong nước ở điều kiện tiêu chuẩn về nhiệt độ và thời gian Hai thông số này có mặt nhưng với sự hiện diên thấp hơn so với TCCP đối với nguồn nước mặt ở xã
Các thông số còn lại như: NH4, NO3-, NO2-, Pts, Fe, Cu, đều nằm trong giới hạn TCVN 5945:1995 (loại A) cho phép (bảng 4.1)
Trang 39Bảng 4.2 Kết Quả Phân Tích Chất Lượng Nước Ngầm
Tên
mẫu
pH Độ cứng
TS (mg CaCO 3 /l)
COD (mg/l)
N23 7,04 334,5 1,0 3,8 29 0,00 28,0 33,4 0,02
Nguồn tin: Sở Tài Nguyên và Môi Trường tỉnh Bình Định N23: Khu dân cư Hòa Hiệp, xã Bình Tường
Kết quả phân tích chất lượng nước ngầm ở khu vực xã Bình Tường trong năm
2005 cho thấy: các thông số như: độ pH, COD, NO3-, SO42-, Fe, Cl, Cu, đều nằm trong mức giới hạnTCVN 5495:1995 cho phép (bảng 4.2)
Riêng thông số Độ cứng (TS) ở khu vực thôn Hoà Hiệp xã Bình Tường là: 334,5 mg CaCO3/l (bảng 4.2) vượt quá TCCP (Theo Quyết định 1329/2002/QĐ-BYT): ≤ 300
Bên cạnh đó thông số Fluor có trong nước ngầm ở xã Bình Tường là 3,34 mg/l (bảng 4.2) vượt quá TCCP (Theo Quyết định 1329/2002/QĐ-BYT) từ 0,7-1,5
Theo nguồn tin từ Trung Tâm Y Tế Dự Phòng tỉnh Bình Định kết quả xét nghiệm mẫu nước ở khu vực xã Bình Tường thực chất có rất nhiều mẫu nước đạt đến nồng độ từ 8,6 mg/l vượt hơn nhiều lần so với mức giới hạn cho phép đối với nước dung cho ăn uống và sinh hoạt
Bảng 4.3 Kết Quả Quan Trắc Khí Sản Xuất, Khu Dân Cư
Bình Nghi
Nguồn: Sở Tài Nguyên và Môi Trường tỉnh Bình Định
Sự gia tăng các cơ sở sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp tại các điạ phương trong điều kiện các hệ thống xử lý môi trường chưa đảm bảo đã phát sinh
Trang 40Bảng 4.4 Hàm Lượng F - Trong Một Số Mẫu Nước Ngầm
1 Thôn Hòa Hiệp, Xã Bình Tường 3,34
Có thể kết luận, đây chính là một trong những nguyên nhân gây bệnh cho người dân Hịên tượng này còn được ghi nhận tại một số thôn của xã nhơn Tân, An Nhơn
Tình trạng ô nhiễm này đã kéo dài trong thời gian khá dài đã ảnh hưởng rất nhiều đến sức khoẻ của những người dân nơi đây
Hình 4.1 Biểu Đồ Biểu Diễn Hàm Lượng Fluor Xã Bình Tường Năm 2005, Các
Năm 2005
Hàmlượng Fluor xã BT TCVN 5594:1995
Nguồn tin: Kết quả điều tra