1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỀN VÙNG TRỒNG MÍA TẠI XÃ TÂN HÒA HUYỆN BẾN LỨC TỈNH LONG AN

105 109 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 688,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để tạo thêm nguồn nguyên liệu mía cây cho hai công ty đường trong tỉnh Long An là: công ty đường Nagajurna 100% vốn Ấn Độ – huyện Bến Lức và công ty đường Hiệp Hòa Doanh nghiệp nhà nước

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH

NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI

Thành phố Hồ Chí Minh Tháng 07/2007

Trang 2

Hội đồng chấm báo cáo khóa luận tốt nghiệp đại học khoa Kinh Tế, trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh xác nhận khóa luận “NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN VÙNG TRỒNG MÍA TẠI XÃ TÂN HÒA, HUYỆN BẾN LỨC, TỈNH LONG AN” do NGUYỄN THỊ NGỌC PHƯƠNG, sinh viên khóa 29, ngành KINH TẾ NÔNG LÂM, đã bảo vệ thành công trước hội đồng vào ngày

Th.s LÊ VĂN MẾN Người hướng dẫn

Ngày…… tháng……năm 2007

Chủ tịch hội đồng chấm báo cáo Thư ký hội đồng chấm báo cáo

Ngày…… tháng……năm 2007 Ngày…… tháng……năm 2007

Trang 3

LỜI CẢM TẠ

Xin chân thành khắc ghi công ơn cha mẹ, người đã sinh ra, nuôi dưỡng và dạy

dỗ con nên người

Xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố

Hồ Chí Minh cùng các quý thầy cô của trường Cảm ơn các thầy cô trong Khoa Kinh

Tế đã tận tình dạy dỗ và truyền đạt những kiến thức quý báo cho tôi trong suốt quá trình học tại trường

Chân thành cảm ơn thầy Lê Văn Mến đã tận tình hướng dẫn tôi hoàn thành tốt luận văn tốt nghiệp này

Cảm ơn các cô, chú, các anh, chị ở phòng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn huyện Bến Lức, ban Nông Nghiệp xã Tân Hòa đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian thực tập tại địa phương

Sau cùng tôi xin chân thành cảm ơn các anh, chị, bạn bè đã giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập cũng như để hoàn thành tốt luận văn tốt nghiệp này

Chân thành cảm ơn! Sinh viên

Nguyễn Thị Ngọc Phương

Trang 4

NỘI DUNG TÓM TẮT

NGUYỄN THỊ NGỌC PHƯƠNG Tháng 07 năm 2007 “Nghiên Cứu Thực

Trạng và Đề Xuất Một Số Giải Pháp Phát Triển Vùng Trồng Mía tại Xã Tân Hòa, Huyện Bến Lức, Tỉnh Long An”

NGUYEN THI NGOC PHUONG July 2007 “The Study of Present

Situation and Put Forward Some Solutions of Developing Sugarcane Area in Tan Hoa Commune, Ben Luc District, Long An Province”

Để tạo thêm nguồn nguyên liệu mía cây cho hai công ty đường trong tỉnh Long

An là: công ty đường Nagajurna (100% vốn Ấn Độ) – huyện Bến Lức và công ty đường Hiệp Hòa (Doanh nghiệp nhà nước) – huyện Đức Hòa, tận dụng lực lượng lao động nông nghiệp dồi dào, đặc điểm khí hậu, đất đai phù hợp cho cây mía phát triển, các cấp chính quyền xã Tân Hòa đã khuyến khích người dân ở đây trồng mía nhằm tăng thu nhập cho mình và đáp ứng nhu cầu về nguyên liệu mía cho 2 công ty đường của tỉnh nói riêng và cho các công ty đường trong nước nói chung Do những điều kiện thuận lợi như thế nên việc nghiên cứu thực trạng sản xuất mía nhằm tìm hiểu những nguyên nhân ảnh hưởng đến công tác sản xuất mía, từ đó đưa ra hướng giải quyết nhằm khắc phục những điều kiện khó khăn của xã để phát triển ngày càng lớn mạnh

và hiệu quả hơn vùng trồng mía nguyên liệu của xã là điều rất cần thiết

Qua điều tra thực tế thì diện tích trồng mía của xã mỗi năm một tăng: năm

2000 là 1.120 ha, năm 2001 là 1.160 ha và hiện nay là 1.360 ha Nguyên nhân là do: trong những năm gần đây thì giá mía nguyên liệu ngày một tăng do đó người dân trồng mía sẽ có thu nhập cao hơn so với trồng các loại cây khác, điều này đã khuyến khích người nông dân trồng mía nhiều hơn Tuy nhiên, điều đáng lo ngại hiện nay là giá mía niên vụ 2006 – 2007 lại giảm hơn so với năm ngoái, người nông dân sợ phải lập lại tình trạng giá mía xuống quá thấp như niên vụ 2001 – 2002 Trong thời buổi kinh tế thị trường hiện nay thì giá cả các yếu tố đầu vào rất cao (giá phân bón không ổn định, nhân công khan hiếm, thiếu vốn…), trong khi đó giá mía đầu ra lại không ổn định nên người nông dân không dám mạnh dạn đầu tư cho cây mía, do đó không đạt hiệu quả

Trang 5

tối ưu làm ảnh hưởng đến năng suất Nếu được đầu tư đúng mức từ khâu giống đến kỹ thuật trồng, chăm sóc, vốn… và đặc biệt là giá mía ổn định thì cây mía rất có tiềm năng phát triển ở đây

Trang 6

vi

2.1 Tình hình sản xuất mía đường trong nước 5

2.2 Dự báo về giá mía trong nước và trên thế giới 6

2.4.3 Y tế 112.4.4 Cơ sở hạ tầng phục vụ cho sản xuất 11 2.4.5 Thị trường, giá cả và tình hình tiêu thụ mía của người

2.4.6 Tình hình sản xuất mía của tỉnh Long An 15

Trang 7

2.4.7 Phân bố diện tích các khu vực trồng mía của huyện Bến

2.4.8 Thực trạng sử dụng đất của xã Tân Hòa 16

CHƯƠNG 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18

3.1.2 Thời vụ gieo trồng, đặc điểm kỹ thuật và sinh học của

3.1.4 Tầm quan trọng của cây mía nói chung 22 3.1.5 Vai trò của cây mía đối với người dân trồng mía ở xã

4.1 Quá trình hình thành và phát triển của xã Tân Hòa 28

4.2 Tình Hình Sản Xuất Mía của Xã Tân Hòa 29

4.3.1 Dân số và lao động 31 4.3.2 Trình độ học vấn 31

4.3.4 Tập quán sản xuất 33 4.3.5 Tình hình tham gia và áp dụng kỹ thuật khuyến nông 34

4.3.6 Tình hình sử dụng vốn 36 4.3.7 Tình hình sử dụng giống của các hộ điều tra 36

4.3.8 Hình thức và phương thức sản xuất mía 384.3.9 Tình hình tiêu thụ mía của các hộ điều tra 38

Trang 8

viii

4.3.10 Những khó khăn tồn tại hiện nay của các hộ điều tra 41 4.3.11 Quy trình và công tác chăm sóc sử dụng phân bón cho mía 42 4.3.12 Sử dụng thuốc bảo vệ thực vật 43

4.4.1 Chi phí, kết quả sản xuất mía 43

4.5 Sản xuất phân theo quy mô diện tích 45

4.5.1 Chi phí sản xuất theo các quy mô 45 4.5.2 Kết quả sản xuất mía theo quy mô 47 4.5.3 Hiệu quả sản xuất mía theo quy mô 48 4.6 Nhân tố ảnh hưởng đến tình hình sản xuất mía tại xã Tân Hòa 51

4.6.1 Thị trường giá cả 51 4.6.2 Điều kiện đất đai 51 4.6.3 Chính sách đầu tư 51

4.7 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến năng suất mía xã Tân Hòa 52

4.7.1 Thiết lập mô hình toán học 52 4.7.2 Ước lượng các tham số của mô hình 53

4.8 Nhận xét, đánh giá những điều kiện thuận lợi và khó khăn trong

4.9 Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả và khuyến khích sản xuất mía

4.9.2 Những giải pháp cụ thể 60 CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 67

TÀI LIỆU THAM KHẢO 70

PHỤ LỤC

Trang 9

TSDT Tỷ suất doanh thu

TSLN Tỷ suất lợi nhuận

TSTN Tỷ suất thu nhập

TTTH Tính toán tổng hợp

UBND Ủy Ban Nhân Dân

Trang 10

x

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang Bảng 2.1 Tình Hình Sản xuất Mía Đường ở Việt Nam Thời Kỳ 2000-2005 5Bảng 2.2 Hiện Trạng Dân Cư và Lao Động tại Xã Tân Hòa Năm 2005 10Bảng 2.3 Trình Độ Văn Hóa Năm 2005 của Xã Tân Hòa 11Bảng 2.4.Diện Tích, Sản Lượng, Năng Suất Mía của Tỉnh Long An Thời Kỳ

Bảng 2.5 Diện Tích Các Loại Cây Trồng của Các Xã Trong Huyện Bến Lức

Bảng 2.6 Thực Trạng Sử Dụng Đất của Xã Năm 2005 16Bảng 4.1 Diện Tích, Năng Suất, Sản Lượng Mía Xã Tân Hòa Thời Kỳ 2002

Bảng 4.2 Cơ Cấu Giới Tính và Lao Động của Các Chủ Hộ Điều Tra 31 Bảng 4.3 Trình Độ Học Vấn của Các Chủ Hộ Điều Tra 32 Bảng 4.4 Tình Hình Sử Dụng Đất của Các Hộ Điều Tra 33Bảng 4.5 Số Năm Trồng Mía của Các Hộ Điều Tra 33 Bảng 4.6 Tình Hình Tham Gia Tập Huấn Khuyến Nông của Các Hộ Điều Tra 34 Bảng 4.7 Tình Hình Áp Dụng Khuyến Nông của Các Hộ Điều Tra 35 Bảng 4.8 Tình Hình Vốn Sản Xuất của Các Hộ Điều Tra 36 Bảng 4.9 Tình Hình Tiêu Thụ Mía của Các Hộ Điều Tra 40 Bảng 4.10 Những Khó Khăn của Các Hộ Điều Tra 41 Bảng 4.11 Chủng Loại, Số Lượng Phân Bón cho Các Giai Đoạn Tính Trên 1ha 42 Bảng 4.12 Chi Phí, Kết Quả Sản Xuất Mía trên 1Ha 43 Bảng 4.13 Hiệu Quả Sản Xuất Mía Trên 1 Ha Đất Canh Tác cho Từng Vụ 44Bảng 4.14 Kết Quả Sản Xuất Mía theo Quy Mô của Các Hộ Điều Tra 49

Bảng 4.16 Hiệu Quả Của Việc Sản Xuất Mía theo Quy Mô 50

Bảng 4.18 R2aux của Các Phương Trình Hồi Quy Bổ Sung 55Bảng 4.19 Kiểm Định t cho Các Hệ Số Ước Lượng 57

Trang 11

DANH MỤC CÁC HÌNH

Trang Hình 2.1 Biểu Đồ Năng Suất Mía Việt Nam Thời Kỳ 2000-2005 6 Hình 2.2 Biểu Đồ Cơ Cấu Giống Mía của Xã Tân Hòa 13Hình 2.3 Biểu Đồ Năng Suất Mía Tỉnh Long An Thời Kỳ 2000-2005 15Hình 4.1 Biểu Đồ So Sánh Diện Tích Mía của Xã Từ Niên Vụ 2002-2003

Trang 12

xii

DANH MỤC PHỤ LỤC

Phụ lục 1 Chi Phí và Doanh Thu Sản Xuất 1 Ha Mía Theo Các Vụ

Phụ lục 2 Chi Phí Sản Xuất 1 Ha Mía Theo Các Quy Mô

Phụ lục 3 Mô Hình Hồi Quy Gốc

Phụ lục 4 Mô Hình Hồi Quy Nhân Tạo

Phụ lục 5 Mô Hình Hồi Quy Bổ Sung

Phụ lục 6 Phiếu Thu Thập Thông Tin Về Tình Hình Trồng Mía ở Xã Tân Hòa – Huyện Bến Lức – Tỉnh Long An

Trang 13

Trong thời buổi kinh tế thị trường hiện nay, mía đường là một loại cây công nghiệp ngắn ngày có giá trị cao trong đời sống kinh tế xã hội Mía đường là một trong những mặt hàng chủ yếu nhằm phục vụ nhu cầu thiết thực cho đời sống hàng ngày của con người

Ngoài sản phẩm chính là đường, mía còn cho nhiều sản phẩm phụ khác như: chất đốt, bột giấy, phân hữu cơ, thức ăn gia súc, rượu…Từ đó phục vụ sản xuất cho các ngành có liên quan, góp phần phát triển đáng kể cho nền kinh tế Việt Nam

Trước năm 2000, năng suất mía chung của Việt Nam rất thấp khoảng 40-45 tấn/ha, chất lượng mía kém nên chưa đáp ứng được nhu cầu của công nghiệp chế biến đường trong nước Chính vì vậy, hàng năm nước ta phải nhập khẩu hàng vạn tấn đường (liên tục từ năm 1993 đến 1995), bình quân 100.000 tấn

Hiện nay, năng suất mía của nước ta đã được nâng lên cao hơn 50 tấn/ha, chất lượng mía cũng tốt hơn nhưng vẫn chưa đạt tối đa Sản xuất đường đã đáp ứng được nhu cầu trong nước và xuất khẩu Tuy nhiên, Việt Nam lại phải đối đầu với những vấn

đề mới như: sự xây dựng ồ ạt các nhà máy đường mà không kết hợp với xây dựng vùng nguyên liệu, hay sự phân bố vùng nguyên liệu không hợp lý (nơi nhiều, nơi ít); Công nghệ chế biến đường của các nhà máy chưa hiện đại, từ đó dẫn đến giá thành sản xuất đường của ta cao hơn so với các nước khác; Bên cạnh đó, đường của Thái Lan và

Trang 14

2

Trung Quốc lại nhập lậu qua Việt Nam với giá rẻ hơn rất nhiều Vì thế, đường của Việt Nam gặp khó khăn trong việc tiêu thụ trong nước và xuất khẩu, dẫn đến giá mía không ổn định, diện tích đất trồng mía tăng, giảm theo giá mía Thêm vào đó, chất lượng và năng suất mía của Việt Nam vẫn còn thấp rất nhiều so với các nước khác

Vì thế, Hiệp hội mía đường của ta đã khuyến khích là: nên phát triển các vùng nguyên liệu mía ở những vị trí phù hợp, quy mô đủ cung ứng nguyên liệu, ổn định với từng nhà máy đường, loại bỏ những vùng mía có năng suất thấp và các nhà máy hoạt động không hiệu quả Đồng thời, định hướng sản xuất theo hướng “Phát triển sản xuất hàng hóa có hiệu quả kinh tế cao nhằm tăng thu nhập cho người lao động và mang lại lợi nhuận cao cho người trồng mía” đã tạo động lực thúc đẩy người trồng mía an tâm hơn trong công tác sản xuất mía

Huyện Bến Lức có diện tích và sản lượng mía lớn nhất của tỉnh Long An Trong đó Tân Hòa là vùng kinh tế mới của huyện và cũng là xã có diện tích và sản lượng mía tương đối lớn của huyện, đang được các cấp chính quyền địa phương quan tâm Với điều kiện tự nhiên khá phù hợp cho cây mía phát triển, không bị ảnh hưởng của lũ lụt, hệ thống đê bao vững chắc, hệ thống giao thông đường thủy thuận lợi, người dân Tân Hòa cần cù, chịu khó đã tạo điều kiện cho cây mía ngày càng chiếm diện tích lớn và năng suất cao Tuy nhiên người dân trồng mía còn gặp nhiều khó khăn: thiếu vốn sản xuất, giá mía bấp bênh…nên nông dân không dám mạnh dạn đầu

tư để đạt năng suất tối đa

Xuất phát từ thực trạng nói trên, được sự chấp thuận của UBND xã Tân Hòa và

sự đồng ý của thầy hướng dẫn, tôi tiến hành đề tài: “Nghiên Cứu Thực Trạng và Đề

Xuất Một Số Giải Pháp Phát Triển Vùng Trồng Mía tại Xã Tân Hòa, Huyện Bến Lức, Tỉnh Long An” làm luận văn tốt nghiệp Mặt khác, đề tài được thực hiện nhằm

tìm ra một số nguyên nhân làm ảnh hưởng đến việc trồng và tiêu thụ mía của người dân Từ đó đưa ra một số biện pháp nhằm hạn chế những khó khăn hiện tại để giúp người nông dân ổn định sản xuất, đảm bảo vùng nguyên liệu, đồng thời tăng thu nhập, giúp đời sống người dân ngày càng tốt hơn

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Tìm hiểu tình hình thực tế sản xuất mía của địa phương, từ đó thấy được những

thuận lợi và khó khăn của việc sản xuất và tiêu thụ mía

Trang 15

Tìm hiểu những yếu tố chính ảnh hưởng đến năng suất mía và thu nhập của người dân

Xác định hiệu quả trong việc đầu tư trồng mía của người dân tại xã để có những

cơ sở lựa chọn phương thức đầu tư có hiệu quả Từ đó đưa ra một số giải pháp để hạn chế, khắc phục những khó khăn hiện tại trong việc sản xuất và tiêu thụ mía Tạo điều kiện thuận lợi cho việc sản xuất mía của nông dân để nâng cao thu nhập, giúp cuộc sống người dân tốt hơn

1.3 Phạm vi nghiên cứu của khóa luận

1.3.1 Phạm vi nội dung

- Tìm hiểu tình hình sản xuất mía thực tế tại xã Tân Hòa

- Đánh giá tình hình sản xuất, tình hình tiêu thụ mía của địa phương để thấy được những thuận lợi và khó khăn trong công tác sản xuất và tiêu thụ mía

- Đánh giá hiệu quả kinh tế của việc trồng mía tại địa phương

- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất mía

- Biện pháp đề xuất nhằm hạn chế những khó khăn hiện tại, từ đó có thể phát triển tốt hơn vùng trồng mía của xã

1.3.2 Phạm vi không gian

Đề tài được thực hiện trên phạm vi xã Tân Hòa, huyện Bến lức, tỉnh Long An

1.3.3 Đối tượng nghiên cứu của khóa luận

Khóa luận tiến hành nghiên cứu về cây mía ở xã Tân Hòa

1.3.4 Phạm vi thời gian

Khóa luận sử dụng số liệu thứ cấp của năm 2006 thông qua quá trình điều tra trực tiếp các hộ trồng mía ở xã Tân Hòa và các số liệu sơ cấp do ban nông nghiệp xã Tân Hòa, phòng nông nghiệp huyện Bến Lức cung cấp qua các năm 2005, 2006, 2007

1.4 Cấu trúc của khóa luận

Cấu trúc của khóa luận gồm 5 chương:

Chương 1: Mở đầu: nêu lý do, ý nghĩa của việc chọn cây mía để nghiên cứu; mục tiêu nghiên cứu; phạm vi nghiên cứu (nội dung, địa bàn, đối tượng, thời gian) Chương 2: Tổng quan: mô tả các đặc điểm về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của xã Tân Hòa Rút ra kết luận về thực trạng đang nghiên cứu tại xã

Trang 16

Chương 5: Kết luận và kiến nghị: Kết luận ngắn gọn về kết quả đã nghiên cứu ở chương 4, đánh giá và rút ra những hạn chế cần khắc phục Từ đó đề ra các giải pháp

để khắc phục những hạn chế đã nêu ra

Trang 17

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN

2.1 Tình hình sản xuất mía đường trong nước

Trong những năm qua, sản xuất mía đường luôn được nhà nước khuyến khích phát triển, nhất là ở vùng miền Trung, Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long Mía là cây không kén đất, khí hậu nước ta rất thích hợp cho cây mía sinh trưởng và phát triển Những tiến bộ về khoa học kỹ thuật của các nước trên thế giới đã tạo ra những giống mía mới có năng suất cao, phẩm chất tốt Đặc biệt là những giống mía của Đài Loan, Pháp, Trung Quốc đã thay thế dần những giống mía địa phương có năng suất thấp, phẩm chất kém Do đó, người trồng mía ngày càng có lãi hơn so với trước đây

Bên cạnh đó cũng nhờ sự quan tâm và giúp đỡ của nhà nước nên sản lượng cây mía không ngừng tăng lên, từ đó kéo theo việc sản xuất, chế biến đường cũng tăng Chúng ta có thể thấy được diễn biến tình hình mía đường Việt Nam qua bảng 2.1

Bảng 2.1 Tình Hình Sản Xuất Mía Đường ở Việt Nam Thời Kỳ 2000-2005

Năm (1000 ha) Diện tích Sản lượng (1000 tấn) Năng suất (tấn/ha)

Ta thấy diện tích và năng suất mía qua các năm đều tăng, giảm tỷ lệ thuận với nhau Nhìn chung, năng suất mía qua các năm đều tăng Điều này cho thấy ngành mía đường ở nước ta rất được sự quan tâm của Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn cũng như là của bà con nông dân Năng suất mía mỗi năm một tăng, điều đó chứng tỏ

Trang 18

2.2 Dự báo về giá mía trong nước và trên thế giới

Từ đầu tháng 10/2006 đến nay, giá đường bán ra tại các nhà máy liên tục giảm

và đứng ở mức thấp, hiện chỉ còn 7.000-7.600 đồng/kg tùy loại So với thời điểm “sốt giá” trong năm nay, giá đường đã giảm 4.000-5.000 đồng/kg Với mức giá này, đường nội địa đã “đánh bật” đường nhập lậu từng tràn ngập từ khu vực phía Nam trong thời gian qua

Những nước sản xuất đường lớn trên thế giới vẫn đang trợ giá cho người trồng mía thông qua hình thức bảo hộ xuất khẩu đường, làm cho giá đường thế giới rẻ và dưới giá thành sản xuất Trong khi đó, giá đường của Việt Nam hiện vẫn cao hơn nhiều so với mức giá đường bình quân của thế giới Giá đường thế giới bình quân 350-

370 USD/tấn, tính ra chỉ có 5.500-5.600 đồng/kg Do nhà nước Việt Nam bảo hộ ngành đường bằng thuế suất nhập cao và hạn ngạch nhập khẩu nên đường khập khẩu vào Việt Nam rất hạn chế

Không chỉ thế, trong đàm phán để đi đến cam kết với WTO, Việt Nam đã thành công trong việc tiếp tục duy trì các biện pháp bảo hộ ngành mía đường Điều này làm

Trang 19

cho đường giá rẻ ở các nước trên thế giới không thể nhập khẩu vào Việt Nam bằng con đường hợp pháp, do đó đã dẫn đến tình trạng đường nhập lậu ồ ạt vào Việt Nam Trong thời gian qua, đường trong nước còn chịu sức ép rất lớn từ đường Thái Lan nhập lậu, hiện nay lượng đường tồn kho tại các nhà máy đường và các doanh nghiệp kinh doanh đường trong nước là rất lớn Với giá đường như hiện nay đã khiến các nhà máy hoạt động cầm chừng chờ giá trong khi đó thì hàng ngàn hecta mía của bà con nông dân ở đồng bằng sông Cửu Long đã vào vụ thu hoạch mà không bán được Theo dự báo, lượng đường Thái Lan năm nay sẽ tăng hơn khoảng 20% so với năm trước, trên 6,3 triệu tấn Lý do là: ngành đường của họ được nhà nước bảo hộ và được sản xuất với công nghệ tiên tiến Cho đến nay, đường cát Thái Lan vẫn “vô tư” đi vào thị trường Việt Nam

Với tình hình mía đường của Thái lan trong niên vụ mới sẽ tăng trưởng mạnh thì lượng đường nhập lậu sẽ ngày càng gia tăng, như vậy ngành mía đường trong nước

sẽ có nguy cơ vẫn bị đường Thái Lan áp đảo

Trước tình hình này, nếu nhà nước không sớm đưa ra sách lược bình ổn hoạt động mía đường trong nước thì e rằng ngành mía đường của chúng ta sẽ khó lòng đứng vững trước sự tấn công ồ ạt của đường Thái Lan

2.3 Điều kiện tự nhiên của xã Tân Hòa

2.3.1 Vị trí địa lý

Tân Hòa là xã nằm ở phía Bắc của huyện Bến Lức, cũng là vùng ven của Đồng Tháp Mười với diện tích tự nhiên là 1.560 ha Xã hiện có 5 ấp và có ranh giới hành chính như sau: Phía Bắc giáp xã Lương Hòa của huyện Bến Lức; Phía Đông giáp xã Bình Lợi của huyện Bình Chánh và xã Tân Bửu của huyện Bến Lức; Phía Nam giáp xã

An Thạnh của huyện Bến Lức; Phía Tây giáp xã An Thạnh và xã Lương Hòa của huyện Bến Lức

2.3.2 Khí hậu, thời tiết

a) Nhiệt độ

Theo dự báo của trạm khí tượng thủy văn Tân An thì khí hậu chịu ảnh hưởng chung của khí hậu toàn huyện, với khí hậu đặc trưng là nhiệt đới gió mùa, hình thành 2 mùa rõ rệt, đó là mùa mưa và mùa khô Nhiệt độ trung bình chênh lệch không nhiều giữa các tháng trong năm

Trang 20

8

Nhiệt độ trung bình cả năm là 32 - 34oC

Nhiệt độ cao nhất là 37-38oC

Nhiệt độ thấp nhất là 27-30oC

Số giờ nắng trung bình cả năm là 2.660-2.700 giờ Tháng có giờ nắng cao nhất

là những tháng mùa khô, tháng có giờ nắng ít nhất là những tháng mùa mưa Số giờ nắng trung bình/ngày là 6,5 giờ

b) Mưa và phân bố mưa

Lượng mưa trung bình hàng năm là 1.484mm, nhưng phân bố mưa không đều Nhìn chung xã xó 2 mùa rõ rệt, đó là mùa mưa và mùa khô Mùa mưa bắt đầu từ tháng

5 và kết thúc vào tháng 11, chiếm 90% lượng mưa cả năm Mùa khô bắt đầu từ tháng

12 năm trước và kết thúc vào tháng 4 của năm sau, chiếm 10% lượng mưa cả năm

Lượng mưa cao nhất là 1.071mm

Lượng bốc hơi bình quân/ngày là 4,3mm Mùa khô lượng bốc hơi nhiều, mùa mưa lượng bốc hơi ít

d) Gió

Xã có 2 hướng gió chủ đạo: gió mùa Tây Nam và gió mùa Đông Bắc

- Gió mùa Tây Nam: thổi từ tháng 5 đến đầu tháng 12, mang lại nhiều mưa

- Gió mùa Đông Bắc: thổi từ giữa tháng 12 đến tháng 4 năm sau, mang lại thời tiết khô hạng

Trong mùa mưa thường xuất hiện các cơn gió lớn, kèm theo giông bão với tốc

độ khá cao ảnh hưởng trực tiếp đến cơ sở hạ tầng và mùa vụ

Trang 21

2.3.3 Thổ nhưỡng và nguồn nước

a) Thổ nhưỡng

Hầu hết đất đai trong khu vực có địa tầng đơn giản, thuộc loại đất phù sa nằm phía trên tầng sinh phèn (xuất hiện phía dưới > 50cm) Đặc tính của đất ở đây thuận lợi cho việc trồng các loại cây công nghiệp ngắn ngày như: thơm, mía…

b) Nguồn nước

Nhìn chung, nguồn nước của xã khá phong phú Xã có một hệ thống sông ngòi chằng chịt nên nguồn nước sử dụng cho trồng trọt tưới tiêu chủ yếu là từ kênh rạch (dở nắp cóng, bọng ra cho nước vào ruộng mía, ít sử dụng máy bơm) Bên cạnh đó lượng mưa lớn cũng góp phần tích cực trong việc cung cấp nước cho sản xuất

Nguồn nước sạch cho người dân sử dụng phần lớn là nước mưa, bên cạnh đó nước sạch từ các giếng khoan của xã đã cung cấp được khoảng 50% tổng số dân trong

xã sử dụng, số còn lại xã chưa đáp ứng được là do thiếu kinh phí

2.4 Điều kiện kinh tế, xã hội của xã Tân Hòa

2.4.1 Dân số và lao động

Tân Hòa là vùng kinh tế mới của huyện Bến Lức Trước đây nó chưa có tên xã

mà đó chỉ là vùng đất hoang hóa và dân cư ở các nơi khác đã đến đây để khai phá đất hoang và lập nghiệp Năm 1992, được sự quan tâm chỉ đạo của nhà nước về chương trình “Vùng kinh tế mới” nên huyện đã xuất hiện thêm 1 xã mới đó là Tân Hòa

Chính vì là vùng kinh tế mới và mới được xác lập tên xã nên dân cư ở đây rất thưa thớt, chỉ có 1.523 người, thấp hơn rất nhiều so với các xã trồng mía khác trong huyện như: xã Lương Hòa, Bình Đức, Thạnh Hòa…Tuy vậy nhưng đa số các hộ dân ở đây đều tham gia vào công tác sản xuất mía cũng không kém gì so với các xã nói trên

Theo báo cáo tổng kết 5 năm (2000-2005) của UBND xã Tân Hòa thì dân số hiện nay của xã là 1.523 người với tổng diện tích đất là 1.560 ha Mật độ thưa thớt, khoảng 98 người/km2

Số người đang trong độ tuổi lao động là thành phần rất được quan tâm bởi vì đây là lực lượng hái ra tiền cho gia đình và làm giàu cho xã hội Tình hình dân cư và lao động của xã Tân Hòa hiện nay được thể hiện rất rõ qua bảng 2.2

Trang 22

10

Bảng 2.2 Hiện Trạng Dân Cư và Lao Động tại Xã Tân Hòa Năm 2005

Nguồn tin: Báo cáo xã Tân Hòa

Qua bảng phân bố dân cư và lao động của xã Tân Hòa, ta thấy phần lớn người dân đều tham gia vào sản xuất nông nghiệp, chiếm hơn một nữa (52,5%), điều này phù hợp với điều kiện tại địa phương, trong khi đó xã lại thiếu những người có trình độ chuyên môn cao Theo như thống kê của UBND xã Tân Hòa thì hiện nay số người có trình độ đại học, cao đẳng và trung cấp tổng cộng chỉ có 13 người (chiếm 3,1% tổng số lao động) Tuy nhiên, số người có trình độ này hầu hết lại tham gia làm việc ở các công ty tư nhân của nước ngoài, còn số người có học vấn cao tham gia vào các cơ quan nhà nước thì chỉ có 3 người với trình độ trung cấp

Với trình độ hạn chế như vậy nên kinh nghiệm quản lý, năng lực lãnh đạo của các cấp chính quyền địa phương còn rất hạn chế Hiện nay, xã cũng đang tích cực cho cán bộ đi học nghiệp vụ, tuy nhiên số lượng này còn rất hạn chế

Mặt khác lao động của xã có một đặc điểm nổi bật là: lao động nam chiếm 335 người trên tổng số lao động của xã, tức chiếm hơn một nữa (80%) so với lao động nữ Trong khi đó lao động nữ chỉ có 84 người (chiếm 20% tổng số lao động của xã) Đặc điểm riêng có này của xã đã hứa hẹn một tương lai tươi sáng cho Tân Hòa bởi vì đã có một đội ngũ nam nhân tài giúp ích cho xã hội nếu như họ biết phát huy tối đa tài năng của bản thân mình

2.4.2 Giáo dục

Xã đã hoàn thành được phổ cập trung học cơ sở, 100% các em đủ tuổi học mẫu giáo và lớp 1 đều được đến trường Đây cũng là đặc điểm nổi bậc của xã Tân Hòa so với các xã khác trong huyện trong công tác nâng cao dân trí

Giáo dục là vấn đề được sự quan tâm hàng đầu của Đảng và Nhà nước ta trong giai đoạn công nghiệp hóa-hiện đại hóa hiện nay Xã Tân Hòa đã hoàn thành xuất sắc công tác xóa mù chữ mà Đảng và Nhà nước ta đưa ra

Trang 23

Bảng 2.3 Trình Độ Văn Hóa Năm 2005 của Xã Tân Hòa

Diễn giải Số người Tỷ lệ (%)

Nguồn tin: Thống kê xã

Qua thống kê xã cung cấp cho thấy: tổng số người có học vấn chiếm tuyệt đối 100% Trong đó cấp 1 chiếm tỷ lệ cao nhất 54,96% tương ứng với 837 người, còn các cấp học khác thì phát triển theo chiều hướng “cấp học càng cao, tỷ lệ người học càng ít”

Ở các cấp học càng cao như: cao đẳng, trung học chuyên nghiệp cũng như đại học chiếm 1 tỷ lệ rất nhỏ so với tổng số người đi học, cụ thể như sau: cao đẳng và trung học chuyên nghiệp chỉ chiếm 0,72% tương ứng với 11 người trong xã, còn Đại Học thì càng ít ỏi hơn, chỉ có 0,13% tương ứng với 2 người trong xã Đây là nhân tố chính ảnh hưởng đến tình hình áp dụng khoa học kỹ thuật mới của xã , bởi vì yêu cầu của kỹ thuật tiên tiến đòi hỏi phải có trình độ tiếp thu, phải có tầm nhìn rộng cùng với một lượng kiến thức dồi dào…

2.4.3 Y tế

Hiện tại, xã có 1 trạm y tế phục vụ cho nhân dân với 6 giường bệnh, 2 cán bộ y

sĩ, 1 cán bộ y tá và 1 bác sĩ Tuy đội ngũ cán bộ y tế còn ít, song các y bác sĩ luôn cố gắng hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình, đáp ứng được nhu cầu khám chữa bệnh cho người dân trong xã, tạo được lòng tin cho bệnh nhân và được sự tín nhiệm của nhân

dân địa phương cũng như của các cấp chính quyền địa phương

2.4.4 Cơ sở hạ tầng phục vụ cho sản xuất

a) Giao thông

Trong những năm gần đây, đường giao thông đã được các cấp chính quyền địa phương quan tâm, đầu tư xây dựng ngày càng rộng khắp Xã đã xây dựng được hệ thống các đường liên xã, liên ấp để thuận tiện cho việc đi lại và giao lưu kinh tế giữa địa phương với các nơi khác

Trang 24

12

Hệ thống giao thông đường thủy của xã khá tốt bởi có một hệ thống sông ngòi chằng chịt, hàng năm được nạo vét thêm để phục vụ cho việc vận chuyển mía, đáp ứng nhu cầu đi lại và sản xuất của bà con

Bên cạnh đường thủy thì hệ thống giao thông đường bộ của xã cũng khá dày đặc và phức tạp Hiện tại, xã có 3 tuyến đường liên xã cặp theo các kênh do tỉnh, huyện đầu tư (Gia Miệng, Trần Văn Mười, Bà Hai) và 1 tuyến đường liên ấp Ngoài ra còn có các đường bộ nhỏ đắp đất, trải đan hay đá đỏ đi vào các ấp do người lao động cùng góp ngân sách với nhà nước để làm

Phương tiện để nối liền giữa hệ thống giao thông đường bộ và đường thủy là

“cầu” Xã hiện có trên 60 cây cầu lớn nhỏ, trong đó 20 cây cầu bê tông cốt thép, còn lại là các cây cầu bằng cây lót ván

b) Mạng lưới điện

Những năm gần đây với phương châm “nhà nước và nhân dân cùng làm”, xã đã vận động được bà con đóng góp, kéo điện về các ấp ở những nơi vùng sâu Tính đến nay đã có 80% dân trong xã có điện để sử dụng cho sinh hoạt và giải trí, tuy nhiên đây chỉ là điện tổ chưa phải là mạng lưới điện trung và hạ thế Hiện tại, điện trung thế đã được phủ khắp 5/5 ấp của xã nhưng người dân trong vùng vẫn chưa sử dụng được do chưa hạ thế

c) Hệ thống thủy lợi

Hệ thống đê bao đã khép kín toàn xã, đảm bảo tiêu thoát nước, sản xuất và vận chuyển mía Xung quanh và trong xã có nhiều hệ thống kênh nội đồng, rạch lớn, nhỏ nằm ngang, dọc thuận lợi cho việc lấy nước vào ruộng mía Để lấy nước vào, người dân trồng mía chỉ việc dở nắp cống, bọng cho nước chảy vào

Xã không bị ngập lụt do đã có một hệ thống đê bao vững chắc nhưng đôi khi những cơn mưa lớn triền miên kéo dài thì mía sẽ bị ngập nước Lúc này, xã cần có thêm máy bơm để bơm nước ra khỏi ruộng mía nếu như nước mưa tự thoát từ ruộng mía ra các kênh rạch với tốc độ chậm Tuy nhiên trường hợp này xã hiếm khi gặp, nếu

có thì cũng chỉ cần ít máy bơm thôi

d) Hệ thống bưu điện

Bên cạnh các nơi gọi điện thoại công cộng thì hiện nay xã đã xây dựng được 1 bưu điện văn hóa, đã đáp ứng được nhu cầu thông tin liên lạc cho bà con trong xã

Trang 25

Toàn xã đã phủ sóng phát thanh truyền hình giúp cho người dân đáp ứng nhu cầu giải trí, nắm bắt kịp thời những thông tin chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội

e) Trạm cung cấp giống mía

Có 3 trạm cung cấp giống mía cho xã, đảm bảo nhu cầu giống cho bà con nông dân, đó là:

- Trạm mía đường Hiệp Hòa

- Trạm mía đường công ty mía đường Ấn Độ (Nagajurna)

- Trại giống mía Lương Hòa

Diện tích đất trồng mía của xã chiếm tỷ lệ khá cao so với diện tích đất tự nhiên Toàn xã có diện tích đất tự nhiên là 1.560 ha nhưng diện tích đất mía lại chiếm tới 1.313 ha (chiếm 84% tổng diện tích đất) Tương ứng với diện tích mía như thế là các giống mía rất khác nhau, cụ thể:

- Roc 10 chiếm 354 ha

- K84-200 chiếm 496 ha

- Pháp-R750 chiếm 350 ha

- MI, Roc 18, VN 85-1427, VN65-65 chiếm 1 tỷ lệ nhỏ: 113 ha

Hình 2.2 Biểu Đồ Cơ Cấu Giống Mía của Xã Tân Hòa

Róc 10 27%

K84-200 38%

Pháp-R750 26%

MI, Roc18, VN85-1427, VN65-65 9%

Nguồn tin: Ban nông nghiệp xã Qua biểu đồ cho thấy: giống mía K84-200 được bà con nông dân trồng nhiều nhất trong xã hiện nay, chiếm 38%, năng suất cao đến 110-130 tấn/ha Đây là giống mới, năng suất cao, ít sâu rầy Kế đến là Róc 10 (chiếm 27%) và giống mía Pháp-R750 (chiếm 26%), nếu được thâm canh đúng mức thì năng suất có thể đạt đến 100-120

Trang 26

f) Cơ sở chế biến mía đường

Thông thường người dân bán mía cho thương lái, hiếm khi bán trực tiếp cho các công ty đường bởi vì họ không thích cách mua mía bằng phương pháp thử chữ đường của các công ty đường Tuy nhiên, dù bán mía cây theo cách nào thì mía mua từ xã Tân Hòa cũng sẽ được vận chuyển đến hai cơ sở chế biến chính của tỉnh Long An, đó là:

- Công ty mía đường Hiệp Hòa (huyện Bến Lức)

- Công ty mía đường Ấn Độ hay Nagajurna (huyện Đức Hòa)

2.4.5 Thị trường, giá cả và tình hình tiêu thụ mía của người dân trồng mía ở xã Tân Hòa

Giá cả thị trường biến đổi liên tục như: giá phân bón, thuốc trừ sâu, thuốc cỏ, nhân công…tăng một cách liên tục

Nói đến tình hình tiêu thụ thì không chỉ mía mà tất cả các nông sản hàng hóa khác đang gặp khó khăn về tính ổn định của giá cả Giá cả mía thì thay đổi không lớn cho mấy nhưng bên cạnh đó là việc các công ty đường cho chữ đường thấp, bất thường nên đã ảnh hưởng đến giá mía, làm cho giá tăng giảm không thể đoán trước được Mặt khác, tình trạng khan hiếm nhân công đốn chặt đã tạo điều kiện cho thương lái ép giá mía khi đến ngày thu hoạch

Do mía là sản phẩm không thể để lâu sau khi thu hoạch (vì để lâu sẽ bị giảm lượng đường) nên dễ bị ép giá sau khi thu hoạch nếu như gặp phải thời điểm mía thu hoạch ồ ạt Nông dân thường ít bán mía cho công ty đường vì nếu bán cho công ty đường thì phải thông qua khâu “thử chữ đường” làm nông dân không hài lòng bởi vì: hiện nay công ty đường vẫn chưa làm cho dân hiểu rõ ràng về cách thử chữ đường của mình và chính quyền địa phương vẫn chưa có sự kiểm soát được phần nào những gúc mắc này cho dân

Trang 27

2.4.6 Tình hình sản xuất mía của tỉnh Long An

Mía là công nghiệp hàng năm chiếm diện tích lớn, sản lượng và năng suất cao trong số các cây công nghiệp hàng năm được trồng ở tỉnh Long An

Bảng 2.4 Diện Tích, Sản Lượng, Năng Suất Mía của Tỉnh Long An Thời Kỳ

Hình 2.3 Biểu Đồ Năng Suất Mía Tỉnh Long An Thời Kỳ 2000-2005

2.4.7 Phân bố diện tích các khu vực trồng mía của huyện Bến Lức năm 2007

Diện tích trồng mía của huyện Bến Lức phần lớn đều tập trung ở các xã: Thạnh Lợi, Lương Hòa, Bình Đức… còn Tân Hòa thì không nhiều bằng các xã nói trên Tuy

Trang 28

Nguồn tin: Phòng nông nghiệp huyện Bến Lức

Trong các loại cây trồng của huyện Bến Lức nói chung, cũng như xã Tân Hòa nói riêng thì cây mía là loại cây trồng chiếm vị trí trọng yếu nhất, các loại cây còn lại chỉ được trồng với diện tích nhỏ Điều này chứng tỏ huyện Bến Lức có tiềm năng rất lớn trong công tác phát triển mía nguyên liệu

2.4.8 Thực trạng sử dụng đất của xã Tân Hòa

- Đất đai sử dụng cho mục đích nông nghiệp chiếm diện tích lớn nhất (1.307 ha), tương ứng với tỷ lệ là 83,78% trên tổng diện tích đất của xã Trong diện tích đất nông nghiệp thì phần lớn là để trồng cây hàng năm với diện tích 1.100 ha, chiếm tỷ

Trang 29

trọng 70,51% Còn lại là diện tích trồng cây lâu năm 207 ha, chiếm tỷ trọng 13,27% trong tổng diện tích đất nông nghiệp Hầu hết diện tích cây lâu năm chủ yếu là cây ăn trái

- Đất chuyên dùng của xã chủ yếu dùng để xây dựng các công trình giao thông, thủy lợi, trường học, bệnh viện…với diện tích 210 ha, chiếm 13,46% so với tổng diện tích đất tự nhiên

- Đất thổ cư chỉ có 15 ha, dùng để xây nhà ở, chiếm 0,96% trong tổng diện tích đất tự nhiên của xã

- Ngoài ra, trong vùng còn có 28 ha đất chưa sử dụng đến, chiếm tỷ trọng 1,79% Đây là những khu đất có hố bom, những ao, đìa chưa được san lấp…

Nhìn chung cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp của xã tương đối hợp lý Qua đây cho thấy hướng phát triển chính của xã là sản xuất nông nghiệp mà chủ yếu là trồng các loại cây công nghiệp ngắn ngày và đặc trưng là cây mía

2.5 Định hướng phát triển của xã

Trước tiên, vẫn duy trì vùng chuyên canh cây mía, cố gắng phổ biến kỹ thuật khuyến nông sâu rộng và hiệu quả cho người dân trồng mía ở địa phương để có thể giảm chi phí sản xuất và nâng cao năng suất cây mía Trong tương lai sẽ cố gắng tìm tòi những giống cây trồng phù hợp để đưa về xã trồng nhằm đa dạng cơ cấu cây trồng của xã, làm cho bà con nông dân ngày càng có thu hoạch cao hơn

Trang 30

CHƯƠNG 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Cơ sở lý luận

3.1.1 Nguồn gốc của cây mía

Cây mía được xác định là có nguồn gốc từ khu vực Nam Á Mía đã được gieo trồng ở Ấn Độ khoảng 3.000 năm trước Công Nguyên Những người Bồ Đào Nha vượt biển Ấn Độ mang về trồng ở Châu Âu, C.Columbus mang sang Châu Mỹ trong chuyến vượt biển thứ hai Từ đó, mía được di cư dần sang nhiều nước trong khu vực

và trên toàn thế giới

Ở Việt Nam, từ 4.000 năm trước đây người Việt cổ đã biết trồng mía, nhiều giống mía dại được thuần hóa thành giống địa phương Thời Pháp thuộc, do nhu cầu sản xuất đường, nhiều giống mía được nhập vào Việt Nam như: POJ của Indonesia, Co của Ấn Độ… cho đến những năm 1960-1970 nhiều giống mía được nhập vào Việt Nam như: My 5514 của Cu Ba, F134, F156, F157 của Đài Loan, Co 310, Co147… của

Ấn Độ

Từ những năm của thập kỷ 80 đến nay, các loại giống mía ngày càng được bổ sung đa dạng nhiều hơn như: ROC 10, ROC 16 của Đài Loan, CP của Mỹ, nhóm Quế Đường, Tân Đại đường của Trung Quốc và một số giống do Việt Nam lai tạo Các giống mía mới có năng suất, phẩm chất ngày càng cao và được chú trọng phổ biến ở các vùng nguyên liệu của các nhà máy đường

3.1.2 Thời vụ gieo trồng, đặc điểm kỹ thuật và sinh học của cây mía

a) Thời vụ gieo trồng

Tại Long An, mía thường được trồng vào 2 vụ chính: vụ đầu mùa mưa (vụ Thu)

và vụ cuối mùa mưa (vụ Đông Xuân)

Vụ đầu mùa mưa (vụ Thu): trồng từ đầu tháng 4 đến đầu tháng 6 dương lịch và thu hoạch vào tháng 4 và tháng 5 của năm sau Không nên bố trí các giống mía có đặc

Trang 31

tính trổ cờ sớm vì thời gian để cho cây mía sinh trưởng, phát triển quá ngắn nên năng suất các giống này thường kém Nhìn chung, năng suất mía trồng trong vụ này thường thấp hơn so với vụ cuối mưa

Vụ cuối mùa mưa (vụ Đông Xuân): trồng từ đầu tháng 10 đến tháng 11 và có thể kéo dài đến hết tháng 12 dương lịch, tùy thuộc vào độ ẩm của đất Mía trồng trong

vụ này thường có thời gian sinh trưởng dài, thời kỳ vươn lóng gặp nhiều thuận lợi, mưa nhiều, nhiệt độ cao, ánh sáng đầy đủ Khi mía chín, gặp điều kiện mưa ít, nhiệt độ thấp nên năng suất cao, phẩm chất tốt Mía trồng vụ này còn tránh được tình trạng trổ

cờ của một số giống

Ở xã Tân Hòa, đa số mía được trồng vào vụ cuối mùa mưa và đây được coi là

vụ chính vì những tháng sau mùa mưa thì đất còn đủ độ ẩm thuận lợi cho khâu làm đất để trồng và mật độ nảy mầm cao Giai đoạn mía chín thì trời lại mát mẽ, khô ráo, bảo đảm cho mía tích lũy được hàm lượng đường cao nhất

b) Đặc điểm kỹ thuật

- Làm đất: Mía là cây trồng hàng năm nhưng có thể để gốc nhiều năm, bộ rễ

phát triển mạnh, có khả năng ăn rễ rất sâu Vì vậy, chuẩn bị đất trồng là khâu kỹ thuật đầu tiên rất quan trọng, làm đất sâu đúng yêu cầu kỹ thuật không những tác động đến mía tơ năm đầu mà còn ảnh hưởng có lợi đến mía gốc trong những năm tiếp theo Đất được cày 3 lần, sâu từ 20-30 cm, hướng của lần cày sau vuông góc với lần cày trước Sau 3 lần cày là 1 lần xới

- Lên líp (kéo máng): Mỗi líp mía thường có chiều rộng khoảng 4-5m, có thể

đặt ngang được 8-9 hom mía, còn chiều dài của líp tùy thuộc vào ruộng mía của bà con nông dân, trung bình 1ha có thể lên được khoảng 20 líp mía

- Hom giống và cách đặt hom: Hom phải có đường kính tối thiểu trên 2 cm, có

2-3 mắt, mầm khỏe không bị dập, không nhiễm sâu bệnh, không lẫn giống khác và loại

bỏ các hom quá già Số lượng hom giống từ 40.000-50.000 hom/ha Đặt hom nằm giữa rãnh và gối đầu nhau, mầm nằm 2 bên để tỷ lệ nảy mầm cao, sau đó lắp hom bằng một lớp đất tơi nhuyễn dày 10 -15 cm

- Dặm hom: Phải tranh thủ trồng dặm hom những chỗ mía lên thưa bằng cây

mía đã ươm sẵn, hoặc chiết những chỗ quá dày sang những chỗ quá thưa Có thể dặm bằng hom sau khi trồng 25 ngày

Trang 32

20

- Làm cỏ: Thường xuyên làm cỏ để cỏ dại không lấn át mía vì cỏ dại ảnh hưởng

đến năng suất và sản lượng mía sau này Thông thường làm cỏ 2-3 lần tùy theo cỏ nhiều hay ít Đôi khi cỏ nhiều quá thì có thể dùng thuốc trừ cỏ để xịt vì nếu cỏ nhiều

mà chỉ nhổ cỏ bằng tay thì đôi lúc cỏ con còn xót lại

- Cày đất và vun xới: Việc cày đất và vun xới có ảnh hưởng rõ rệt đến sự phát

triển và năng suất của mía Giúp cho đất xung quanh hàng mía được tơi xốp, giúp rễ mía phát triển mạnh hơn, từ đó khả năng hấp thụ chất dinh dưỡng tăng lên Ngoài ra việc cày xới còn có tác dụng diệt trừ cỏ dại rất tốt, giúp cho mía ít đổ ngã

- Phân bón: thông thường, người dân trồng mía thường bón lót vôi, phân

chuồng (hoặc phân vi sinh) và tro trấu trước lúc trồng với lượng phân như sau: 1.000 kg vôi, 3.000-4.000 kg phân chuồng (vi sinh) và 15.000-16.000 kg tro trấu cho 1

800-ha mía Lượng phân bón trung bình cho 1 800-ha mía trong 1 vụ như sau:

c) Đặc điểm sinh học

Chu kỳ sinh trưởng của cây mía chia thành 5 giai đoạn:

- Giai đoạn nảy mầm: Từ khi xuống giống đến khi nảy mầm mía trở thành cây

mẹ được xem là sự khởi đầu, ảnh hưởng đến mật độ sau này Độ ẩm phải đảm bảo 75%, nếu quá ẩm ướt thì sự nảy mầm sẽ kém

- Giai đoạn cây con: từ khi chấm dứt nảy mầm đến khi cây mẹ có 5 lá thật Đây

là giai đoạn non yếu nhất của cây mía, bộ phận rễ kém, chưa ăn lang vào giữa hàng nên dễ bị cỏ dại cạnh tranh Do đó phải làm sạch cỏ dại, bón lót đầy đủ nhất là phân đạm thì cây mới phát triển nhanh Độ ẩm đất phải đạt 60-70%, khô hạn hoặc úng nước thì cây mía sẽ chết

Trang 33

- Giai đoạn đẻ nhánh: từ khi cây mẹ được 6-7 lá thật, bắt đầu xuất hiện cây con đến khi bụi mía có số lượng nhánh tối đa và gốc mẹ thấy rõ 1-2 lóng Về mặt sinh lý thì đây là giai đoạn phát triển số nhánh từ mầm cây mẹ, từ gốc cây mẹ đẻ nhánh cấp 1, cấp 2, cấp 3, … Đẻ nhánh quyết định cây sau này, thời gian đẻ nhánh từ 3-4 tháng tùy thuộc vào giống mía, thời vụ trồng, kỹ thuật chăm sóc Độ ẩm thích hợp cho giai đoạn này là 70-80%

- Giai đoạn vươn lóng: từ khi bụi mía ngưng đẻ nhánh đến khi mía ngưng tăng trưởng và bắt đầu chín Về sinh lý thì đây là giai đoạn phát triển mạnh nhất trong đời sống cây mía Ở giai đoạn này, trung bình mỗi tháng phát triển 3-4 lá xanh, tốc độ phát triển lóng từ 10-12 cm Đây là giai đoạn đặc biệt quan trọng vì nó quyết định năng suất mía cây và năng suất đường, độ ẩm tốt phải đạt 80%, nhiệt độ phải trên

20oC

- Giai đoạn mía chín: được tính từ khi ngưng tăng trưởng đến khi thu hoạch Trong thực tế, giai đoạn này kéo dài từ 2-4 tháng tùy theo giống mía và điều kiện ngoại cảnh Mía có 2 loại chín: chín sinh lý và chín công nghiệp, chín sinh lý khi ra hoa trổ cờ và chín công nghiệp khi lượng đường Saccharose đạt cao nhất

Những yêu cầu kỹ thuật đối với sự sinh trưởng của cây mía:

- Nhiệt độ: có tác dụng đến sự sinh trưởng và phát triển của cây mía, nếu nhiệt

độ quá thấp từ 12oC trở xuống và quá cao từ 40oC trở lên thì cây mía không phát triển được

- Ánh sáng: mía là cây ưa sáng, lượng giờ chiếu sáng rất tốt cho cây mía phát triển bình quân trên 2.000 giờ/ năm Cây mía cần khoảng 2.000-2.500 giờ chiếu sáng trên năm thì sẽ cho năng suất cao

- Đất đai: mía có thể phát triển trên nhiều loại đất khác nhau: từ đất pha cát, đất sét, đất bị nhiễm phèn nhẹ đến đất sét nặng Mỗi loại đất phải có chế độ canh tác thích hợp để mía đem lại hiệu quả kinh tế cao

3.1.3 Thu hoạch mía

Thu hoạch mía để lấy hom vào lúc 5-7 tháng tuổi, thu hoạch mía thịt vào lúc mía chín 11-14 tháng tuổi tùy theo giống Cần chặt sát gốc, thu hoạch phải nhanh gọn, sạch sẽ và nhanh chóng chở về cơ sở chế biến ngay vì để phơi càng lâu thì mía mất đường càng nhiều

Trang 34

22

3.1.4 Tầm quan trọng của cây mía nói chung

a) Mía là nguyên liệu chế biến đường và các loại sản phẩm phụ khác

Khi chín, cây mía chứa nhiều đường kết tinh, trung bình trong thân cây mía chứa khoảng 12-16% đường Saccharose Đây là loại đường cho năng lượng cao, vị ngọt, nồng độ ổn định, có khả năng tồn trữ lâu ngày để xuất khẩu, dùng nhiều không độc hại như những loại đường hóa học khác

Đường mía là một nhu yếu phẩm của tất cả mọi người, mọi dân tộc trên thế giới, nó được sử dụng hàng ngày trong sinh hoạt ăn uống của gia đình Ở các nước phát triển, nhu cầu sử dụng đường rất cao (40 kg/người/năm), trong thời gian gần đây

có xu hướng tăng nhanh và ngày càng khẳng định vị trí không thể thiếu trong sản xuất

và đời sống… cho nên cây mía là nguồn nguyên liệu quan trọng trong công nghiệp chế biến đường

Ngoài sản phẩm chính của cây mía là đường, cây mía còn cho nhiều sản phẩm phụ khác từ mật mía và bã mía như: chất đốt, bột giấy, thức ăn gia súc, cồn, rượu… Sản xuất đường mang lại thu nhập rất cao, kim ngạch xuất khẩu lớn, giải quyết được vấn đề về việc làm cho người lao động ở hầu hết các nước trên thế giới như: Thái Lan, Braxin, Úc… Thu nhập từ công nghiệp chế biến các sản phẩm sau đường có thể đạt tới 40-50% tổng thu nhập của ngành chế biến đường Đối với Việt Nam, sản xuất đường

có những ý nghĩa chiến lược: thay thế hàng nhập khẩu, đáp ứng nhu cầu trong nước, tạo thêm việc làm, góp phần bố trí lại dân cư Phát triển ngành mía đường góp phần xóa đói giảm nghèo và hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn, tăng thu nhập quốc dân và góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên thiên nhiên và cải thiện môi trường

b) Mía là nguồn thức ăn cho gia súc

Nhờ có năng suất chất xanh cao, giá thành sản xuất tương đối thấp so với một

số loại cỏ gia súc, toàn bộ các phụ phẩm của cây mía kể cả ngọn và lá xanh đều chứa nhiều chất bổ dưỡng có thể sử dụng làm thức ăn cho gia súc để phát triển chăn nuôi

Có thể cho gia súc ăn trực tiếp hoặc ủ hay chế biến thành các loại thức ăn hỗn hợp

c) Sản xuất mía là quá trình gắn liền nông nghiệp và công nghiệp chế biến

Cây mía là loại cây hàng hóa không thể lưu kho mà phải tiêu thụ ngay sau khi thu hoạch thông qua các nhà máy, các cơ sở chế biến đường Do đó, quan hệ giữa

Trang 35

người trồng mía, các nhà máy và các cơ sở chế biến đường là mối quan hệ hữu cơ gắn

bó không thể tách rời, bởi vì không có sản xuất mía thì không có công nghiệp chế biến đường

3.1.5 Vai trò của cây mía đối với người dân trồng mía ở xã Tân Hòa

a) Về mặt kinh tế đời sống của xã

Từ khi cây mía được trồng ở xã với hệ thống đê bao hoàn chỉnh thì người dân ở đây đã có công ăn việc làm ổn định hơn, tăng thu nhập cho người dân trồng mía, đồng thời tăng ngân sách địa phương Mặt khác, đã cải tiến được cơ sở hạ tầng như: đường

sá giao thông, đầu tư phát triển các công trình thủy lợi, mở rộng giao lưu thương mại trong địa phương với các khu vực khác

b) Cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp

Việc sản xuất mía của xã đã góp phần đáng kể trong việc cung cấp nguyên liệu cho 2 công ty đường tại tỉnh Long An, đó là: Công ty đường Hiệp Hòa (doanh nghiệp nhà nước) và công ty đường Nagajurna (100% vốn Ấn Độ) để sản xuất đường Đồng thời có thể cung cấp nguyên liệu cho các ngành công nghiệp khác dưới hình thức trực tiếp hay gián tiếp như: công nghiệp chế biến phân bón, nấu rượu cồn, sản xuất giấy, chất đốt…

c) Vấn đề môi trường sinh thái

Người dân tham gia trồng mía sẽ có thu nhập cao hơn, việc làm ổn định hơn, đồng thời bảo vệ, cải tạo đất và môi trường sinh thái Đặc biệt là độ nhiễm phèn của đất sẽ bị giảm đi nhiều vì khi trồng mía lâu thì việc bón vôi và lân sẽ triệt tiêu tính năng nhiễm phèn của đất

3.1.6 Cơ sở lý luận về hiệu quả kinh tế

a) Khái niệm về hiệu quả kinh tế

Mối quan tâm hàng đầu trong nền sản xuất xã hội là không ngừng nâng cao hiệu quả trong sản xuất Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế đặc biệt quan trọng,

nó thể hiện kết quả sản xuất trong mỗi đơn vị chi phí của các ngành sản xuất Hiệu quả kinh tế là một đại lượng so sánh kết quả sản xuất với chi phí sản xuất bỏ ra Để đánh giá hiệu quả kinh tế phải đứng trên quan điểm toàn diện, phải biểu hiện trên các góc độ khác nhau và có quan hệ chặt chẽ với nhau theo không gian, thời gian, số lượng và chất lượng

Trang 36

24

- Theo không gian: khi xem xét hiệu quả kinh tế không nên xét một mặt, một ngành, một lĩnh vực mà phải xét trong mối quan hệ hữu cơ, trong tổng thể chung thì mới có được kết quả chính xác nhất

- Theo thời gian: sự toàn diện của hiệu quả kinh tế đạt được ở từng giai đoạn không là hiệu quả kinh tế, không chỉ xem xét hiệu quả kinh tế ở từng thời điểm, từng giai đoạn mà phải xem xét trong một chu kỳ dài Việc giảm một cách tùy tiện gián tiếp, cải tạo môi trường tự nhiên, hiện đại hóa, đổi mới tài sản cố định… nhờ đó làm cho mối tương quan giữa thu và chi giảm đi và cho rằng như thế là hiệu quả kinh tế thì hiệu quả đó không đáng kể, không toàn diện được

- Theo mặt định lượng: hiệu quả kinh tế thể hiện mối tương quan thu-chi theo

xu hướng tăng thêm, giảm đi có 3 trường hợp như sau:

Thu không đổi nhưng chi giảm

Thu tăng, chi tăng nhưng tốc độ của chi tăng chậm hơn tốc độ tăng của thu Thu tăng nhưng chi không đổi

- Theo mặt định tính: hiệu quả kinh tế phải đảm bảo cân đối giữa các mặt kinh

tế, chính trị, xã hội Việc xác định hiệu quả kinh tế là điểm xuất phát cho mọi tính toán kinh tế trong kế hoạch phát triển kinh tế quốc dân Đối với địa phương, nó là cơ sở để xác định đúng đắn một cơ cấu kinh tế hợp lý, tạo ra nguồn sản phẩm dồi dào đáp ứng cho nhu cầu xã hội, đồng thời mang lại lợi ích thiết thực cho nhà sản xuất

b) Hiệu quả kinh tế của cây mía

Qua nhiều công trình nghiên cứu, người ta nhận thấy rằng: không có một loại cây trồng nào khai thác hết tất cả các tiềm năng tự nhiên của một vùng Vì vậy, việc xác định loại cây trồng thích hợp cho từng vùng là một việc làm quan trọng và cần thiết Một loại cây trồng thích hợp tạo thành một hệ thống canh tác cho vùng phải được xác định trên cơ sở đánh giá về nhiều mặt, không chỉ về sản lượng thu được trên một đơn vị diện tích và mức lãi thu được mà phải cả về hiệu quả sinh học, hiệu quả

sử dụng tài nguyên thiên nhiên và nguồn nhân lực trong vùng Đồng thời, cây trồng đó

cũng phải tạo ra được nguồn sản phẩm đáp ứng cho nhu cầu của xã hội

Do đó, việc phân tích hiệu quả kinh tế của cây mía cũng được dựa trên cơ sở hiệu quả kinh tế của tất cả các loại cây trồng nói chung, đã nói ở trên Mặt khác, chúng

ta nên biết rằng: việc đánh giá hiệu quả của các ngành sản xuất không chỉ đứng trên

Trang 37

góc độ lợi ích cá nhân của người sản xuất mà còn phải xét đến lợi ích của các thành phần có liên quan Ở đây, người nông dân trồng mía là người trực tiếp sản xuất trên ruộng đồng của mình cho nên họ mong muốn: việc sản xuất của mình có hiệu quả để

có thể sinh sống và tái sản xuất mở rộng Bên cạnh đó, các cơ sở sản xuất kinh doanh tiêu thụ cây mía, cụ thể là các nhà máy đường trên cơ sở hạch toán kinh doanh cũng phải thu được lợi nhuận để sản xuất có tích lũy, đảm bảo sản phẩm tiêu thụ cuối cùng với giá mà xã hội chấp nhận được Giải quyết được vấn đề trên là điều kiện để sản xuất mía tồn tại và phát triển

c) Các chỉ tiêu xác định hiệu quả kinh tế

- Các chỉ tiêu kết quả sản xuất:

Giá trị tổng sản lượng (tổng doanh thu): Tổng doanh thu = Sản lượng*Đơn giá Trong đó: Sản lượng = Năng suất*Diện tích

Lợi nhuận: Về mặt tổng quát, lợi nhuận bao gồm sự chênh lệch giữa doanh thu

và chi phí Lợi nhuận là chỉ tiêu vừa phản ảnh kết quả, vừa phản ảnh hiệu quả của quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh Lợi nhuận chính là phần lãi thu được sau khi đã trừ đi các khoản chi phí (chi phí vật chất, chi phi lao động, thuế phải trả) Trong quá trình sản xuất, lợi nhuận còn biểu hiện khả năng tích lũy để tái đầu tư mở rộng sản xuất Lợi nhuận được tính như sau:

Lợi nhuận = Tổng doanh thu – Tổng chi phí – Thuế Thu nhập: Thu nhập = Doanh thu – Chi phí vật chất – Chi phí thuê ngoài

= Lợi nhuận + Chi phí lao động nhà

- Các chỉ tiêu hiệu quả sản xuất:

Tỷ suất lợi nhuận / Tổng Chi Phí: (TSLN/TCP):

Chỉ tiêu này nói lên rằng cứ 1 đồng chi phí bỏ ra thì thu vào được bao nhiêu đồng lợi nhuận

Tỷ suất thu nhập / Tổng chi phí: (TSTN / TCP):

Trang 38

26

Chỉ tiêu này nói lên rằng cứ 1 đồng chi phí bỏ ra thì thu vào được bao nhiêu đồng thu nhập

Tỷ suất Doanh thu / Tổng chi phí: (TSDT / TCP):

Chỉ tiêu này biểu hiện hiệu năng của chi phí Nó cho biết cứ 1 đồng chi phí bỏ

ra cho sản xuất thì sẽ đem lại bao nhiêu đồng doanh thu

Tỷ suất Lợi nhuận / Doanh thu: (TSLN / DT):

Chỉ tiêu này cho biết trong 1 đồng doanh thu có bao nhiêu đồng lợi nhuận Lưy ý: Các chỉ tiêu về hiệu quả sản xuất càng cao càng tốt, càng hiệu quả

3.2 Phương pháp nghiên cứu

3.2.1 Phương pháp thu thập số liệu

- Sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên không lặp để điều tra các hộ trồng mía (60 hộ) theo bảng câu hỏi đã được chuẩn bị sẵn

- Số liệu sơ cấp: thu thập bằng cách điều tra trực tiếp các hộ sản xuất

- Số liệu thứ cấp: thu được thông qua việc thu thập tại các phòng ban của địa phương, báo cáo, niên giám thống kê

3.2.2 Phương pháp xử lý số liệu

- Sử dụng phần mềm Excel, Eview, sử dụng những kiến thức kinh tế lượng, thống kê mô tả…để phân tích số liệu

3.2.3 Phương pháp phân tích số liệu

a) Phương pháp so sánh (Phương pháp số tuyệt đối)

Phương pháp số tuyệt đối là hiệu số của hai chỉ tiêu: chỉ tiêu kỳ phân tích và chỉ tiêu kỳ cơ sở

b) Phương pháp phân tổ

Từ 60 mẫu điều tra, phân tổ theo quy mô diện tích, phân tích các chỉ tiêu kết quả, hiệu quả kinh tế để thấy được quy mô nào có hiệu quả, quy mô nào không hiệu quả

Trang 39

c) Phương pháp hồi quy và tương quan

Phương pháp phân tích hồi quy nghiên cứu mối quan hệ phụ thuộc của một biến (biến phụ thuộc) với một hay nhiều biến khác (biến giải thích) Để phân tích hồi quy ta

có các bước sau:

Bước 1: Xác định biến phụ thuộc và biến độc lập

Bước 2: Định dạng phương trình hồi quy có thể định dạng dưới dạng chung như sau:

Y = f(X1, X2,… , Xn)

Trong đó:

Y: Biến phụ thuộc (biến được giải thích)

F: dạng hàm toán học

X: Các biến độc lập, (biến giải thích)

Bước 3: Tiến hành chạy mô hình hồi quy, xem xét mức độ chặt chẽ giữa các biến giải thích và các biến phụ thuộc

Bước 4: Kiểm định mức ý nghĩa, mức độ giải thích của mô hình, kiểm định các giả thuyết vi phạm mô hình Các hiện tượng đó là: hiện tượng tự tương quan, hiện tượng đa cộng tuyến, hiện tượng phương sai không đồng đều

Trang 40

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1 Quá trình hình thành và phát triển của xã Tân Hòa

Tân Hòa là vùng kinh tế mới, trước đây dân cư sinh sống rất thưa thớt bởi vào thời điểm đó thì nơi đây còn là vùng đất hoang sơ chưa được sự quan tâm của các cấp chính quyền địa phương, do đó xã chưa có tên chính thức Năm 1992, hưởng ứng theo chương trình “vùng kinh tế mới” nên người dân đến đây định cư nhiều hơn và đã hình thành thêm 1 xã mới của huyện Bến Lức, đó là Tân Hòa

Xã có điều kiện tự nhiên rất thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp, đặc biệt

là cây mía Khí hậu không khắc nghiệt, đất đai ít bị nhiễm phèn, hệ thống giao thông đường thủy thuận lợi, đặc biệt hệ thống đê bao vững chắc nên người dân an tâm sản xuất mà không sợ lũ lụt Từ xưa đến nay xã không hề bị cơn lũ nào đe dọa

Từ khi còn là vùng đất hoang sơ thì những người dân đến đây lập nghiệp lần đầu tiên đã bắt đầu công tác sản xuất nông nghiệp với cây trồng chủ đạo là cây mía Đến khi tên xã được chính thức xác lập thì người dân ở đây vẫn tiếp tục trồng mía và cho đến nay cũng vậy Do đó có thể nói kinh nghiệm trồng mía và chung sống với mía của người dân Tân Hòa là khá cao

Năm 1998, với nhu cầu xây dựng vùng nguyên liệu của tỉnh nên các cấp chính quyền địa phương đặc biệt quan tâm hơn đến xã, đồng thời đã đề ra chủ trương: “phát triển và tăng hiệu quả cây mía ở xã Tân Hòa vì cây mía có hiệu quả hơn những cây khác tại xã” Với chủ trương này nên diện tích mía, sản lượng, năng suất mía của xã ngày càng tăng nhanh, chất lượng mía ngày càng tốt, chữ đường ngày càng cao Do đó việc sản xuất mía của xã đã phục vụ tốt cho công tác cung cấp nguyên liệu cho 2 công

ty đường của tỉnh, đó là: công ty đường Hiệp Hòa (doanh nghiệp nhà nước) và công ty Nagajurna (100% vốn Ấn Độ) Kể từ đây, chất lượng cuộc sống của người dân trong

xã ngày càng được nâng cao, góp phần giảm đi nỗi lo lắng cho xã hội

Ngày đăng: 27/02/2019, 14:05

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm