Hội đồng chấm báo cáo khoá luận tốt nghiệp đại học khoa kinh tế, trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh xác nhận khoá luận “ Tình hình chăn nuôi bò sữa và ý kiến đề xuất chương t
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI BÒ SỮA VÀ Ý KIẾN ĐỀ XUẤT
CHƯƠNG TRÌNH TẬP HUẤN KỸ THUẬT CHĂM SÓC
NUÔI DƯỠNG BÒ SỮA TẠI XÃ TÂN AN HỘI, HUYỆN CỦ CHI, TP HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THANH XUÂN
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỂ NHẬN VĂN BẰNG CỬ NHÂN
NGÀNH PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VÀ KHUYẾN NÔNG
Thành phố Hồ Chí Minh Tháng 12/2007
Trang 2Hội đồng chấm báo cáo khoá luận tốt nghiệp đại học khoa kinh tế, trường Đại Học
Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh xác nhận khoá luận “ Tình hình chăn nuôi bò
sữa và ý kiến đề xuất chương trình tập huấn kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng bò
sữa tại Xã Tân An Hội, huyện Củ Chi Thành Phố Hồ Chí Minh” do Nguyễn Thanh
Xuân, sinh viên khoá (2003 – 2007), ngành Phát Triển Nông Thôn và Khuyến Nông,
đã bảo vệ thành công trước hội đồng vào ngày _
Ts Lê Quang Thông
Người hướng dẫn,
(Ký tên, ngày tháng năm 2007)
Chủ tịch hội đồng chấm báo cáo
_
Ký tên, ngày tháng năm 2007
Thư ký hội đồng chấm báo cáo
Ký tên, ngày tháng năm 2007
Trang 3LỜI CẢM TẠ
Chân thành cảm ơn:
Ban Giám Hiệu Trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh Ban chủ nhiệm cùng toàn thể quý thầy cô Bộ Môn nông nghiệp phát triển nông thôn, trường Đại Học Nông Lâm đã tận tình truyền đạt kiến thức cho em trong suốt quá trình học tập
Thầy Lê Quang Thông đã tận tình hướng, góp ý, sữa chữa và giúp đỡ em trong thời gian thực hiện luận văn tốt nghiệp
Ban lãnh đạo phòng kinh tế huyện Củ Chi, Ủy ban nhân dân xã Tân An Hội đã tích cực hỗ trợ tôi trong quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp
Xin chân thành cảm ơn các anh chị cùng các bạn trong và ngoài lớp đã chia sẻ giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện luận văn tốt nghiệp
Sinh viên thực hiện
NGUY ỄN THANH XU ÂN
Trang 4NỘI DUNG T ÓM TẮT
NGUYỄN THANH XUÂN Tháng 12 năm 2007 “Tình Hình Chăn Nuôi Bò Sữa
Và Ý Kiến Đề Xuất Đối Với Chương Trình Tập Huấn Kỹ Thuật Chăm Sóc Và Nuôi Dưỡng Bò Sữa Tại Xã Tân An Hội, Huyện Củ Chi”
Khoá luận tìm hiểu về tình hình chăn nuôi bò sữa trên cơ sở phân tích số lịêu điều tra 22 hộ rên địa bàn 02 ấp Mũi Lớn 1 và Mũi Lớn 2, xã Tân An Hội, huyện Củ Chi với kết quả sau:
- Phỏng vấn 22 hộ với tổng đàn là 116 con bò sữa
- Số hộ có nuôi thêm gia súc khác chiếm 63,63 %
- Người phụ trách công tác chăn nuôi bò sữa chủ yếu là người chồng chiếm 86,36 %, vợ và con chiếm 13,64 %
- Nguồn thu nhập chính từ chăn nuôi bò sữa chiếm 3,61 %
- Hầu hết các nông hộ chăn nuôi bò sữa chủ yếu lấy sữa cho nên 77,27 % bê đực bị loại thải sau khi sanh, kế đó là nuôi bán thịt chiếm 22,73 %
- Những khó khăn chủ yếu của nông hộ là thức ăn -vốn - đầu ra chiếm 72,72 %
kế đó là con giống chiếm 18,18 %
- Mái chuồng trại bằng tole lạnh chiếm 81,82 % và ngói 18,18%
- Nền chuồng bằng xi măng trong đó có lót nền bằng tấm cao su chiếm 22,73
% và cát chiếm 4,55 %
- Sát trùng chuồng trại bằng vôi chiếm 59,09 %, thuốc sát trùng chiếm 18,18
%, không có sát trùng chuồng trại chiếm 22,73 %
- Thức ăn chủ yếu là cỏ voi, ngoài ra còn sử dụng cỏ tự nhiên và các phụ phế phẩm công nông nghiệp
- Công tác tiêm phòng đã được chú trọng
Trang 5
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc
GIẤY XIN CHỨNG NHẬN
Kính gởi : UBND Xã Tân An Hội, Huyện Củ Chi
Tôi tên: Nguyễn Thanh Xuân, sinh viên lớp PTNT & KN TC03 thuộc khoa kinh tế, Trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh
Trong thời gian vừa qua tôi đã trải qua quá trình thu thập số liệu thực tập tốt nghiệp tại UBND Xã Tân An Hội, Huyện Củ Chi với đề tài “Tình hình chăn nuôi bò sữa và ý kiến đề xuất đối với chương trình tập huấn kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng bò sữa bò sữa tại Xã Tân An Hội, Huyện Củ Chi” Thời gian thực tập từ ngày 01 tháng 08 đến 01 tháng 12 năm 2007 Trong quá trình thực tập tôi đã được sự giúp đỡ tận tình của các cô chú lãnh đạo UBND và các ban ngành, đoàn thể của xã hhỗ trợ qua đó đã học được nhiều điều bổ ích
Nay tôi đã hoàn thành quá trình thực tập và do yêu cầu hoàn tất luận văn tốt nghiệp Kính xin UBND Xã Tân An Hội xác nhận cho tôi
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Xác nhận của UBND Xã Tân An Hội ĐHNL, ngày 07 tháng 12 năm 2007
Trang 62.1.5 Đất đai và tình hình sử dụng đất Huyện Củ Chi 9
2.1.7 Tình hình phát triển KT – VH – XH 11 2.2 Vài nét về kinh tế nông hộ khu vực ngoại thành 12
2.3 Ý nghĩa kinh tế xã hội của ngành chăn nuôi bò sữa 13
2.5 Tình hình sản xuất NN ở Củ Chi từ 1995 – 2007 15
Trang 72.6 Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp của Huyện Củ Chi 16
2.7 Tình hình sản xuất nông nghiệp Huyện Củ Chi 2007 17
2.9 Phương hướng sản xuất nông nghiệp năm 2008 của xã 20
Tân An Hội 2.10 Điều kiện thuận lợi để phát triển đàn bò sữa 20
Trang 82.10.4 Nơi tiêu thụ sản phẩm đáng tin cậy 24
CHƯƠNG 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
4.2 Kết quả quá trình chuuyển đổi cơ cấu nông nghiệp 29
4.3 Tình hình phát triển chăn nuôi bò sữa Huyện Củ Chi trong
4.4 Hướng phát triển đàn bò sữa của xã Tân An Hội 31
Trang 94.7 Hoạt động của chương trình tập huấn chuyển giao KHKT 53
4.8 Kết quả chăn nuôi của địa phương có chương trình tập huấn 54
Trang 10DANH SÁCH CÁC BẢNG VÀ ĐỒ THỊ
Trang
Bảng 2.1 Thổ nhưỡng khu vực Huyện Củ Chi 8
Bảng 2.2 Cơ cấu hiện trạng sử dụng đất Huyện Củ Chi 9
Bảng 3.1 Bảng phân phố số mẫu điều tra theo ấp 28
Bảng 4.1 Tổng đàn bò sữa Huyện Củ Chi 31
Bảng 4.2 Hướng phát triển đàn bò sữa 31
Bảng 4.3 Số hộ và số bò khảo sát 33
Bảng 4.4 Cơ cấu đàn bò khảo sát 33
Bảng 4.5 Số hộ nuôi them gia súc 34
Bảng 4.6 Người phụ trách công tác chăn nuôi 35
Bảng 4.7 Mục đích sử dung bê đực 35
Bảng 4.8 Bảng tỷ lệ dân số tham gia vào ngành chăn nuôi và ngành khác (%) 36
Bảng 4.9 Các khó khăn của nông hộ 36
Bảng 4.10 Hướng phát triển đàn bò sữa của nông hộ 37
Bảng 4.11 Phương thức nuôi dưỡng 37
Bảng 4.12 Kích thước chuồng trại 38
Bảng 4.12 Cấu trúc chuồng trại 38
Bảng 4.13 Đồng cỏ 41
Bảng 4.14 Nguồn rơm cung cấp cho bò sữa 42
Bảng 4.15.Mức độ sử dụng thức ăn hỗn hợp 43
Bảng 4.16 Thành phần thức ăn hỗn hợp Tân Sanh 43
Bảng 4.17 Thành phần thức ăn hỗn hợp Vina 901 44
Bảng 4.18 Thành phần thức ăn hỗn hợp Mê công 44
Bảng 4.19 Thành phần thức ăn hỗn hợp Con cò 45
Bảng 4.12 Mức độ sử dụng thức ăn bổ sung 45
Bảng 4.21 Mục đích sử dụng chất thải từ chuồng 46
Bảng 4.22 Khẩu phần ăn và năng suất sữa 48
Trang 11Bảng 4.23 Trọng lượng của bò qua các năm tuổi 48
Bảng 4.24 hệ số phối(lần) 49
Bảng 4.25 Hệ số phối do một số tác giả khảo sát 50
Bảng 4.26 Thời gian phối giống lại sau khi sanh 50
Bảng 4.27 Thời gian phối giống lại sau khi sanh do một số tác giả khảo sát 51 Bảng 4.28 Khoảng cách giữa 2 lứa đẻ 51
Bảng 4.29 Khoảng cách giữa 2 lứa đẻ do 1 số tác giả khác 52
Bảng 4.30 Sản lượng sữa của bò qua các tháng cho sữa 53
Bảng 4.31 Sản lượng sữa của bò qua các tháng cho sữa do một số tác giá khác 53
Đồ thị 4.1 Trọng lượng của bò qua các năm tuổi 49
Đồ thị 4.2 Sản lượng sữa của bò qua các tháng cho sữa 52
Trang 12bò là loại thực phẩm rất quan trọng trong khẩu phần ăn của cúng ta Nó có giá trị dinh dưỡng rất cao, rất cần thiết cho con người và đặc biệt là trẻ em và người già , người bệnh, người lao động nặng nhọc Từ đó xác định sữa rất cần thiết cho mọi người Trong khi đó Thành phố Hồ Chí Minh là nơi tập trung phát triển kinh tế mạnh nhất so với các Tỉnh, Thành trong cả nước và là đầu mối giao thương quốc tế Trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của Thành phố đã đặc biệt quan tâm đến chương trình chăn nuôi bò sữa Chương trình này được phát triển mạnh từ năm 1993 đến nay, đầu tư tập trung phát triển đàn bò sữa ở các quận, Huyện ngoại thành trong đó có Huyện Củ Chi
Huyện Củ Chi là một Huyện ngoại thành nằm phía Tây Thành Phố Hồ Chí Minh với điều kiện tự nhiên thuận lợi thích hợp cho việc phát triển ngành chăn nuôi bò sữa Hiện nay số lượng bò sữa của Huyện Củ Chi phát triển khá nhanh tính đến năm
2007 trên toàn địa bàn Huyện có tổng số đàn bò sữa là 23.595 con Ngành chăn nuôi nói chung và ngành chăn nuôi bò sữa nói riêng hiện nay đã đem lại lợi ích to lớn cho
Trang 13người nông dân góp phần xoá đói giảm nghèo cho nông dân, đồng thời góp phần giải quyết nhu cầu cho xã hội, tạo việc làm tại chỗ, đời sống kinh tế được nâng lên khá rõ nét
Tuy nhiên có một vấn đề cần phải chú ý giải quyết là hiện nay nhiều nông dân vẫn còn chăm sóc đàn bò thao kinh nghiệm thực tế, ít áp dụng kỹ thuật mới Xuất phát
từ nhu cầu thực tế này đồng thời được sự hướng dẫn của Thầy Lê Quang Thông tôi
tiến hành thực hiện đề tài “Tình hình chăn nuôi bò sữa và ý kiến đề xuất đối với
chương trình tập huấn kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng bò sữa tại Xã Tân An Hội, Huyện Củ Chi”
1.2 Mục đích và nội dung nghiên cứu
1.2.1 Mục đích
Khảo sát và tìm hiểu thực trạng về tình hình chăn nuôi bò sữa ở các nông hộ tại
Xã Tân An Hội
Khảo sát những vấn đề kinh tế và kỹ thuật trong chăn nuôi bò sữa ở địa phương
Đánh giá tác động của chương trình tập huấn kỹ thuật và ý kiến đề xuất
1.2.2 Nội dung
Đánh giá một số chỉ tiêu về khảo phần ăn, khả năng sinh sản, sản lượng sữa
Đề xuất, kiến nghị những giải pháp phát huy ưu điểm và khắc phục những hạn chế trong quá trình chăn nuôi bò sữa tại các nông hộ
Phân tích ảnh hưởng của chương trình tập huấn đối với người chăn nuôi bò sữa
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng khảo sát là các hộ chăn nuôi bò sữa tại xã Tân An Hội, Huyện Củ Chi với tổng đàn bò được chăn nuôi tại các hộ thuộc địa bàn 2 ấp Mũi Lớn 1 và Mũi Lớn 2 xã Tân An Hội
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu:
Trang 14Do địa bàn rộng nên chỉ nghiên cứu trên phạm vi 02 ấp: Ấp Mũi Lớn 1 và Ấp Mũi Lớn 2 Đây là những ấp mới đẩy mạnh chăn nuôi bò sữa từ năm 2000 trở về sau
và thuộc vùng đất đồi gò của Xã Tân An Hội
Trang 151.3.3 Phạm vi thời gian
Từ ngày 01 tháng 08 đến ngày 01 tháng 12 năm 2007
1.4 Sơ lược về cấu trúc luận văn
Nghiên cứu thực trạng chăn nuôi bò sữa tại xã Tân An Hội, Huyện Củ Chi
Phương pháp thu thập thông tin và xử lý thông tin
Đánh giá tình hình phát triển kinh tế - văn hoá – xã hội của Huyện Củ Chi Các chỉ tiêu đánh giá ý nghĩa kinh tế của chăn nuôi bò sữa
Chương 4: Kết quả và thảo luận:
Khảo sát tình hình chăn nuôi bò sữa và các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình chăn nuôi
Hoạt động của chương trình tập huấn và kết quả chăn nuôi bò của địa phương có chương trình tập huấn
Đánh giá hiệu quả của chương trình tập huấn và đề xuất hướng hoạt động
Chương 5: Kết luận và đề nghị
Nêu kết luận chủ yếu của thực trạng quá trình chăn nuôi từ yếu tố kỹ thuật, con giống và chương trình tập huấn
Trang 16CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN
2.1 Điều kiện tự nhiên
2.1.1 Vị trí địa lí
Củ Chi là huyện nông nghiệp ngoại thành nằm về phía Tây Bắc của Thành Phố
Hồ Chí Minh, Thị Trấn Củ Chi cách trung tâm Thành Phố 35km theo quốc lộ 22 Củ Chi nằm trong vành đai xanh của trung tân Thành phố với tổng diện tích tự nhiên là 428.562ha
Toạ độ địa lý của Huyện Củ Chi:
106022’ đến 106040’ kinh toạ độ Đông
10055’ đến 10010’ vĩ độ Bắc
Vị trí hành chánh của Huyện Củ Chi:
Bắc giáp Huyện Trảng Bàng, Tỉnh Tây Ninh Đông – Đông Bắc giáp Huyện Bến Cát, Tỉnh Bình Dương Tây – Tây Nam giáp Huyện Đức Hoà, Tỉnh Long An Nam giáp Huyện Hóc Môn, Thành Phố Hồ Chí Minh
Đặc điểm của Huyện Củ Chi rất quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh tế của cả Huyện và Thành Phố
Huyện Củ Chi nằm trên vùng chuyển tiếp từ vùng đất cao miền Đông Nam Bộ xuống vùng đất thếp đồng bằng sông Cửu Long nên hệ cây trồng phong phú, bao gồm
Trang 17các cây công nghiệp dài ngày (cao su, điều…), các cây lương thực (lúa, bắp…), rau màu các loại, thuận lợi việc phát triển ngành công nghiệp chế biến
Nằm trên tuyến đường giao thông Quốc tế nối Phnômpênh với Thành Phố Hồ Chí Minh (quốc lộ 22), Củ Chi có thuận lợi trong việc trao đổi thương mại với các thành phần kinh tế trong và ngoài nước
Củ Chi nằm giữa hai nhánh sông Sài Gòn và sông Vàm Cỏ Đông có nhiều kênh rạch, thuận lợi cho việc thiết lập các bến cảng, mở rộng giao lưu với các tỉnh miền Đông và Tây Nam Bộ
2.1.2 Khí hậu - thời tiết
Củ Chi thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo với 2 mùa rõ rệt trong năm là mùa mưa và mùa khô, nhiệt độ khá khá cao và ổn định giữa các tháng trong năm Khí hậu của Huyện Củ Chi mang những nét đặc trưng:
Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4
Nhiệt độ trung bình hàng năm là 29,90C rất thuận lợi cho các loại cây trồng nhiệt đới và chăn nuôi giá súc
Lượng ánh sáng dồi dào với số giờ nắng trong năm là 2.002,9 giờ
Chế độ mưa ở Củ Chi không đều: có năm mưa sớm nhưng cũng có năm mưa muộn và kết thúc cũng tương tự
Lượng mưa trung bình: 2.729,5 mm
Đội ẩm tương đối trung bình trong năm là: 77,0%
Gió ở Củ Chi có 3 hướng chính:
+Từ tháng 1 đến tháng 4: gió có hướng Đông hoặc Đông Nam
+Từ tháng 5 đến tháng 10: gió có hướng Tây hoặc Tây Nam
+Từ tháng 11 đến tháng 12: gió có hướng Bắc
Trong đó, hướng gió thịnh hành là Đông Nam (vào mùa khô) và Tây Nam (vào mùa mưa) với tốc độ trung bình 2 – 3m/s
Trang 18Củ Chi là khu vực ít chịu ảnh hưởng của gió bảo, không có gió nóng, sương muối
2.1.3 Địa hình - diện mạo
Nằm trong vùng chuyển tiếp giữa miền nâng Nam Bộ và miền sụt Tây Nam Bộ, thể hiện cụ thể là địa hình nghiêng thấp dần theo 2 hướng Tây Bắc – Đông Nam và Đông Bắc – Tây Nam
Độ cao trung bình trên mực nước biển là 8 – 10m
Nơi cao nhất ở phía Tây Bắc xã An Nhơn Tây với độ cao là 22m
Độ cao nhỏ nhất: 0,5m; năm rãi rác dọc theo các xã ven sông Sài Gòn như Bình
Mỹ, Tân Thạnh Đông
Địa hình Củ Chi có ảnh hưởng đến việc phân bố cây trồng vật nuôi
Cấu trúc địa hình của Huyện gồm có 3 dạng chính:
+Vùng gò đồi cao độ: có độ cao 10 – 15m tâp trung ở phía Bắc của Huyện bao gồm các xã: Phú Mỹ Hưng, An Nhơn Tây, Nhuận Đức Đây là các vùng rất thích hợp cho việc trồng cây lâu năm như cao su, điều…
+Vùng triền: là vùng chuyển tiếp giữa các vùng gò đồi và bưng trũng có độ cao
từ 5 – 10m, phân bố trên hầu hết các xã của Huyện, trừ các vùng phía Bắc và ven sông Sài Gòn Đây là vùng rất thích hợp cho việc trồng cây công nghiệp ngắn ngày, nhất là đậu phộng và rau màu Bên cạnh đó, lúa cũng được trồng ở vùng triền này nhưng năng suất không được cao so với vùng bưng trũng
+Vùng bưng trũng: cao từ 1 – 2m tập trung ở các xã phía Nam, Tây Nam và ven sông Sài Gòn (Xã Bình Mỹ và Trung An…) Vùng này thường bị ngập úng vào cuối mùa mưa
2.1.4 Thổ nhưỡng
Củ Chi có diện tích đất tự nhiên là 42.871ha và có thành phần thổ nhưỡng phân lọai thành 6 nhóm chính như sau:
Trang 19Bảng 2.1:Thổ nhưỡng khu vực Huyện Củ Chi
Loại đất Diện tích Cấu trúc (%)
Đất vàng đỏ, vàng xám:có diện tích 9.237 ha, chiến 21,54% diện tích tự nhiên,
phân bố trê vùng đồi gò các xã Phú Mỹ Hưng, An Phú, An Nhơn Tây, Nhuận Đức,
Phú Hoà Đông, Phước Vĩnh An
Đất xám: có diện tích 15.329ha, chiến tỷ lệ 35,55% là nhóm đất lớn nhất và
phân bố hầu hết các xã của Huyện
Đất động mùn trên phù sa cổ: có diện tích 1.538ha, chiến tỷ lệ 3,5%, phân bố
trên các triền thấp, tập trun ở các xã Trung Lập Thượng, Trung Lập Hạ
Đất nhiễm phèn, dốc tụ trên nền phèn: có diện tích 1.460ha, chiến tỷ lệ 3,41%
phân bố trên các vùng thấp, tập trung ở các xã Thái Mỹ, Trung Lập Hạ, Tân Phú
Trung
Đất phù sa trên nền phèn: diện tích 192ha, chiếm tỷ lệ 4,45%, phân bố dọc theo
sông Sài Gòn
Trang 20Đất phèn: chiến diện tích 15.011ha, chiến 35% diện tích, phân bố trên caá vùng
trũng, tập trung phía Tây Nam của Huyện (Ấp Tam Tân, Xã Tân An Hội) và một số
nơi sông Sài Gòn và kênh rạch
2.1.5 Đất đai và tình hình sử dụng đất ở Huyện Củ Chi
Tình hình đất đai huyện Củ Chi được tổng kết qua các bảng số liệu sau:
Bảng 2.2.Cơ cấu hiện trạng sử dụng đất của Huyện Củ Chi
Loại đất Diện tích Cơ cấu
1.5 Đất có mặt nước nuôi trồng thuỷ sản 318,0782 0,73
5 Đất chưa sử dụng và sông suối núi đá 2.331,8022 5,37
Nguồn: Phòng Kinh tế Huyện Củ Chi
Trang 21Theo tài liệu thống kê của Huyện thì toàn bộ quỹ đất đai của huyện Củ Chi là 43.450,2ha, chiếm 20,4% so với diện tích toàn Thành phố, trong đó diện tích đất nông nghiệp là 34.101,4151ha, chiếm 78,48% tổng diện tích đất Đất nông nghiệp của Huyện chiếm tỷ lệ lớn trên diện tích toàn Huyện và có nhiều loại thổ nhưỡng có giá trị kinh tế cao rất thích hợp cho việc phát triển các loại cây trồng
Hiện nay, toàn Huyện có 271,8398 ha diện tích đất cỏ cho chăn nuôi và 2.331,8022ha đất chưa sử dụng và sông suối núi đá Điều này chứng tỏ đây chính là tiền đề để mở rộng diện tích trồng cỏ trên các bờ bao tận dụng trong vườn nhà, cũng như phát triển các đồng cỏ thâm canh nhằm cung cấp thức ăn xanh nguồn dinh dưỡng chủ yếu cho chăn nuôi bò sữa
Mỹ Ngoài ra, tác dụng của hệ thống kênh đông Củ Chi đặc biệt là kênh thầy cai đã bổ sung một lượng nước ngầm đáng kể, nâng mức nước ngầm lên từ 2 – 4m
Huyện Củ Chi có 3 tầng nước:
Tầng thấp: sâu từ 40 – 100m khai thác bằng giống công nghiệp có thể cho lưu lượng 50 – 100m3/giờ
Trang 22Tầng trung bình: sâu từ 10 – 40m đào giếng thủ công thọc mọi nơi, có thể cho lưu lượng khai thác từ 10 – 30m3/giờ
Tầng cao: nằm sâu từ 5 -10m hiện nay đng khai thác bằng giếng thủ công cho lưu lượng 5 -10m3/giờ
Các hệ thống kênh rạch tự nhiện khai thác đa số chịu ảnh hưởng trực tiếp chế
độ thuỷ văn sông Sài Gòn như Rạch Tra, Rạch Sơn, rạch Bến Mương… Riêng chỉ có kênh Thầy Cai chịu ảnh hưởng chế độ thuỷ văn của sông Vàm Cỏ Đông
Nhìn chung nguồn nước ngầm ở Củ Chi giữ một vị trí rất quan trọng trong việc cung cấp nước cho chăn nuôi và sản xuất nông nghiệp
2.1.7 Tình hình phát triển kinh tế - văn hoá – xã hội
*Về phát triển kinh tế
Sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp tiếp tục phát triển ổn định, ước giá trị sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp là 1.087.337 triệu đồng, đạt 98,18% kế hoạch năm, tặng 48,21% so với cùng kỳ Doanh thu sản xuất công nghiệp là 2.043.873 triệu đồng, đạt 96,43% kế hoạch năm, tăng 57,99% so với cùng kỳ
Giá trị sản xuất nông nghiệp ước đạt 549.913 triệu đồng đạt 77,87% kế hoạch năm, tăng 8,65% so với cùng kỳ Cụ thể trồng trọt đạt tổng trị giá 260.758 triệu đồng, đạt 78,54% kế hoạch, tăng 4,5% so với cùng kỳ; thuỷ sản đạt tổng trị giá 12.583 triệu đồng đạt 196%, lâm nghiệp đạt tổng giá trị 9.497 triệu đồng, đạt 79,49% kế hoạch; chăn nuôi đạt 199.025 triệu đồng đạt 75% kế hoạch năm, tăng 99% so với cùng kỳ Thực hiện chương trình chuyển đổi cây trồng vật nuôi đến nay diện tích đất lúa đã giảm 1.026ha, còn 13.317ha, rau tăng 254,5ha, hoa lài tăng 22,5ha; hoa lan tăng 5,5ha, cây kiểng tăng 134,7ha, măng tây xanh tăng 4,7ha; cỏ tăng 306,4ha; cao su tăng 140,7ha; cây ăn quả tăng 360,4ha; diện tích thuỷ sản tăng 28,5ha; heo tăng 44.738 con;
bò sữa tăng 4.549 con
Thương mại - dịch vụ tổng doanh số bán ra là 1.932.960 triệu đồng, đạt 67,59%
kế hoạch năm, tăng 23,1% so cùng kỳ, trong đó doanh số bán lẻ là 1.616.252 triệu đồng, tăng 24,11% so với cùng kỳ, chiếm 83,61% Có 03 hợp tác xã mới thành lập, nâng tổng số hợp tác xã là 27
Trang 23*Về văn hoá – xã hội
Huyện tiếp tục quan tâm chăm lo đời sống vật chất tinh thần cho gia đình chính sách và các hộ nghèo Trong năm qua đã vận động xây dựng quỹ đền ơn đáp nghĩa 307.792.000đồng, xây dựng 42 căn nhà tình nghĩa, nâng tổng số lên 3.891 căn, Về công tác xoá đói giảm nghèo toàn huyện vận động quỹ xói đói giảm nghèo với số tiền
104 triệu đồng Đến tháng 9 năm 2007 huyện đã thực hiện các biện pháp hỗ trợ để nâng cao thu nhập lên 6 triệu đồng/người/năm cho 1.325 hộ và đưa ra khỏi chương trình số hộ này đạt tỷ lệ 51% so với chỉ tiêu kế hoạch Huyện đã xây dựng 212 căn nhà tình thương cho dân nghèo nâng tổng số nhà tình thương trên toàn Huyện hiên nay là 4.198 căn Giải quyết việc làm cho 8.772 lao động có việc làm ổn định, đạt 97% chỉ tiêu kế hoạch đề ra Phát vay vốn cho 3.083 hộ với số tiền 17,539 tỷ đồng để các hộ có điều kiện phát triển kinh tế gia đình
Trong công tác xây dựng đời sống văn hoá toàn Huyện có 168/172 ấp – khu phố, 8 xã - thị trấn đăng ký xây dựng ấp – khu phố văn hoá, xã - Thị trấn văn hoá Huyện đã có 112 ấp – khu phố được công nhận đạt chuẩn ấp – khu phố văn hoá, 60 khu phố được công nhận đạt chuẩn ấp – khu phố văn hoá, 60 khu dân cư tiến tiến, 22 công sở văn minh - sạch đẹp – an toàn, 57.033 hộ gia đình đạt tiêu chuẩn gia đình văn hoá
Tiếp tục chăm lo cho sự nghiệp giáo dục Huyện đã thực hiện tốt công tác chống
mù chữ và phổ cập giáo dục tiếp tục đạt kết quả khả quan, có 21/21 xã - Thị Trấn đạt chuẩn quốc gia về chống mù chữ
Với nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe nhân dân thực hiện tốt công tác phòng chống dịch bệnh, bệnh truyền nhiễm, các chương trình tiêm chủng mở rộng thực hiện đạt tỷ
lệ 105,97% Huyện cũng đã vận động các đơn vị, các mạnh thường quân chăm lo cho 1.083 trẻ em có hoàn cảnh khó khăn với tổng kinh phí 176.069.000 đồng và 44.500USD
2.2 Vài nét về kinh tế nông hộ khu vực ngoại thành
Trong việc xác định đường lối phát triển kinh tế nông nghiệp và nông thôn phải đánh giá đúng vai trò của kinh tế nông hộ có một ý nghĩa to lớn Đảng và Nhà nước ta
Trang 24đã xác định kinh tế nông hộ các vai trò đặc biệt quan trọng, nông hộ là đơn vị kinh tế
cơ sở để phát triển sản xuất nông nghiệp
Trước đây, khi chỉ có hợp tác xã được coi là đơn vị kinh tế trong sản xuất nông nghiệp ở nông thôn, kinh tế nông hộ không được chú trọng Thậm chí còn sai lầm khi cho rằng kinh tế nông hộ là kinh tế cá thể, kinh tế tư nhân, là nguy cơ phát triển kinh tế
tư bản ở nông thôn Trong suốt thời kỳ dài trên 20 năm, kinh tế nông hộ đã không phát huy được khả năng vốn có của mình
Từ khi nghị quyết 10 của Trung ương ra đời đã xác định một cách đúng đắn vai trò của kinh tế nông hộ, xem kinh tế nông hộ là tế bào của nền kinh tế quốc dân và một đơn vị kinh tế cơ sở để phát triển Từ đó đến nay đường lối phát triển kinh tế nông nghiệp đã có sự thay đổi, lấy kinh tế nông hộ là trọng tâm để đầu tư, bắt nguồn từ việc giao quyền sử dụng đất cho các nông hộ Các nguồn vốn đầu tư cho nông nghiệp đều được đưa về các nông hộ làm nông nghiệp Trong những năm qua từ khi thực hiện đường lối đổi mới trong nông nghiệp đã nhanh chóng vực nền kinh tế nước nhà từ một nước thường xuyên phải nhập khảo lương thực đã trở thành nước thứ hai về xuất khẩu gạo Trong giai đoạn hiện nay, mặc dù Đảng và nhà nước ta vẫn một mặc duy trì và phát triển các hình thức kinh tế tập thể trong nông nghiệp như hợp tác xã…mặt khác tạo điều kiện cho kinh tế nông hộ phát triển như hỗ trợ về vốn, kỹ thuật, về tiêu thụ, về thuỷ nông hay các nhu cầu khác
Kinh tế nông nghiệp nói chung và kinh tế nông hộ nói riêng có vai trò quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của nước ta Đối với một huyện ngoại thành như Củ Chi, kinh tế nông nghiệp chủ yếu là trồng lúa, chăn nuôi và buôn bán nhỏ hoặc tiểu thủ công nghiệp Tuy nhiên, thu nhập chủ yếu từ trồng lúa không ổn định, giá lúa giảm, phải phụ thuộc nhiều vào mùa vụ và thời tiết thì việc chuyển sang chăn nuôi bò sữa thu nhập ổn định hàng tuần là rất cần thiết, mặc dù phải đầu tư chi phí tương đối lớn
2.3 Ý nghĩa kinh tế - xã hội của ngành chăn nuôi bò sữa
Chăn nuôi bò sữa ở nước ta phát triển đã hơn 10 năm, nhưng nó cũng còn là một ngành mới so với các ngành chăn nuôi khác như heo, gà, vịt, bò thịt…Nó có khả năng đạt được hiệu quả kinh tế cao, việc chăn nuôi bò sữa có ý nghĩa kinh tế sau:
Trang 25 Góp phần cung cấp sữa và thịt cho xã hội với một lượng sữa rất lớn và góp phần tăng thu nhập cho người chăn nuôi bò sữa
Phát triển chăn nuôi bò sữa ở những vùng đất không có khả năng hoặc chưa có khả năng trồng trọt các loại cây lương thực, thực phẩm, tận dụng các phụ phẩm như rơm, ngọn mía trong nông nghiệp và cũng như phế phẩm trong công nghiệp như hèm bia, xác mì…
Nuôi bò sữa giải quyết lao động tại chỗ, tạo công ăn việc làm tương đối ổn định cho nông dân, góp phần tăng thu nhập cũng nhu việc xoá đói giảm nghèo
Cung cấp nguyên liệu sữa cho các nhà máy chế biến, giảm dần lượng ngoại tệ
mà Nhà nước đã bỏ ra để nhập sữa từ nước ngoài vào
Ngoài ra nuôi bò sữa còn cung cấp một lượng phân bón đáng kể cho ngành trồng trọt
Như vậy, chăn nuôi bò sữa là một ngành rất quan trọng trong nền kinh tế của nước ta, nó ảnh hưởng rất lớn đến ngành nông nghiệp và công nghiệp của nước ta trong thời gian qua Thấy được đều này, nên hiện nay Nhà nước ta đã và đang khuyến khích phát triển kinh tế hộ gia đình, kinh tế hộ giữ vai trò rất quan trọng trong nền kinh
tế quốc dân Trong đó ngành nông nghiệp nói chung mang lại cho hộ dân nguồn thu nhập đáng kể (có trường hợp làm giàu nhanh chóng), cung cấp thực phẩm ngày càng nhiều và chất lượng ngày càng cao cho xã hội
Chăn nuôi bò sữa hộ gia đình phát triển đã đẩy nhanh tốc độ phát triển của ngành chăn nuôi bò sữa Đây là hình thức tăng năng suất và sản lượng sữa đáp ứng cho
xã hội, mà ngược lại nhà nước không phảo bỏ vốn để đầu tư với quy mô lớn nhằm giải quyết 3 chương trình: Mục tiêu lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu Mặt khác, lao động ở nước ta còn đang dư thừa nhất là ngành nông nghiệp chưa bố trí sử dụng hợp lý
2.4 Tầm quan trọng của chăn nuôi bò sữa
Hiện nay, cùng sự phát triển của các ngành kinh tế trong cả nước, ngành chăn nuôi phát triển với tốc độ ngày càng cao, đặt biệt là ngành chăn nuôi bò sữa hộ gia đình Trong nông nghiệp, ngành chăn nuôi bò sữa là một ngành sản xuất vật chất quan
Trang 26trọng đối với đời sống hàng ngày của người dân và là ngành mang lại hiệu quả kinh tế
cao Sản phẩm của ngành chăn nuôi bò sữa chủ yếu là sữa, sữa là một loại thực phẩm
giàu dinh dưỡng, rất cần thiết cho sự phát triển của cơ thể con người
Phát triển chăn nuôi bò sữa sẽ tạo thêm nhiều ngành nghề, giải quyết được lao
động nhàn rỗi ở nông thôn, nâng cao mức sống của người dân, đồng thời tạo điều kiện
cho các ngành: chế biến thức ăn gia súc, chế biến sữa phát triển
2.5 Tình hình sản xuất nông nghiệp ở Huyện Củ Chi từ 1995 - 2007
Từ sau năm 1995 đến nay Củ Chi đã từng bước đầy mạnh tiến trình chuyển đổi
cơ cấu cây trồng vật nuôi và hình thành nhiều mô hình mới trong sản xuất nông nghiệp
như nuôi tôm càng xanh, cá kiểng, cá sấu, phát triển vườn cây ăn trái kết hợp du lịch
sinh thái vườn, trồng hoa lan cây kiểng Huyện đã quy hoạch vùng sản xuất rau an
toàn, khuyến cáo việc ứng dụng và phòng trừ dịch hại tổng hợp IPM, đầu tư công nghệ
cao và hướng dẫn kỹ thuật sản xuất, trợ vốn qua các chương trình tín dụng giúp nông
dân đầu tư máy móc trang thiết bị Trong giai đoạn này tốc độ tăng trưởng bình quân
hàng năm của Huyện là 3,16% Những năm gần đây tiến trình đô thị hoá diễn ra rất
nhanhh, diện tích đất nông nghiệp bị thu hẹp, do đó sản xuất nông nghiệp cần có sự
chuyển dịch cơ câấ cây trồng vật nuôi Huyện đã định hướng và tập trung các giải
pháp thực hiện có hiệu quả chương trình “Hai cây, hai con” đẩy mạnh phát triển chăn
nuôi bò sữa, cá sấu, mở rộng diện tích trồng rau an toàn, hoa lan cây cảnh, nâng tỷ
trọng ngành chăn nuôi trong cơ cấu nông nghiệp lên 30% Huyện cũng đã chú trọng
đầy mạnh đầu tư cơ giới hoá, tăng cường công tác khuyến nông và nhân giống các loại
cây trồng, vật nuôi có chất lượng cao Sản xuất nông nghiệp Huyện Củ Chi đã từng
bước khẳng định khâu giống đối với cây trồng, vật nuôi đóng một vai trò hết sức quan
trọng, quyết định đến năng suất, chất lượng hiệu quả của sản xuất nông nghiệp trong
thời kỳ mới
Nhờ định hướng đúng và có những chủ trương giải pháp cụ thể đối với sản xuất
nông nghiệp trong giai đoạn hội nhập kinh tến quốc tế, kết hợp việc thông tin giá cả thị
trường, dự đoán, dự báo thị trường đã góp phần đưa sản xuất nông nghiệp Huyện đi
vào ổn định và đạt hiệu quả kinh tế cao
Trang 272.6 Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp của huyện Củ Chi
2.6.1 Bò sữa
Sau giải phóng, Củ Chi có khoảng 35.000 trâu bò cày kéo phục vụ sản xuất nông nghiệp chưa có bò sữa Sự phát triển cơ giới hoá và tăng diện tích gieo trồng qua tăng vụ, bò sữa có ưu thế hơn về đồng cỏ chăn thả và có thu nhập đều đặn và hiệu quả hơn nhiều so với trâu bò cày kéo nên đàn bò sữa tăng nhanh đến cuối năm 2004 ước đạt 19.000 con trong đó 7.000 con cho sữa, sản lượng sữa trên 90 tấn sữa tươi / ngày
Cỏ tươi là nguồn thực phẩm chính, diện tích cỏ trồng tăng nhanh trên diện tích đất trồng lúa và hoa màu đến nay đạt 750 ha trồng cỏ; cỏ tỏ ra có hiệu quả hơn hẳn so với lúa và hoa màu Bò sữa và cỏ đã góp phần tăng thu nhập và giải quyết việc làm cho nông dân Hiện nay thu nhập của người chăn nuôi bò sữa giảm thấp do giá sữa tươi ổn định gần 10 năm nay trong khi giá các nguyên liệu đầu vào luôn tăng Bên cạnh việc
áp dụng các biện pháp để tăng năng suất sữa bò, góp phần hạ giá thành sữa tươi, ổn định hiệu quả cho người chăn nuôi xem ra chưa bù đắp nỗi phần tăng giá của chi phí đầu vào Nhu cầu thịt bò tươi cho các chuyên gia nước ngoài và bộ phận dân cư có thu nhập cao đang có tác động đến bò lai Sind được nuôi theo hướng thịt, đang có sự so sánh hiệu quả của việc chăn nuôi bò sữa và chăn nuôi bò lai Sind theo hướng thịt, mà chăn nuôi bò thịt đang có lợi thế hơn
2.6.2 Công tác kiên cố hoá kênh mương
Ngành nông nghiệp đã nuôi sống nhân dân Củ Chi trong quá khứ, trong hiện tại
và tương lai cũng sẽ còn một bộ phận không nhỏ người dân sống từ nông nghiệp nên vai trò của nước tưới là yếu tố quyết định sự tồn tại của nền kinh tế Từ nhận thức trên, kênh đông Củ Chi đã được đầu tư xây dựng từ năm 1985, công trình nhận nước từ hồ Dầu Tiếng về tưới cho 12 xã có địa hình cao và được đầu tư theo phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm, thi công nhanh gọn đồng bộ đưa vào phục vụ sản xuất Thực tế các năm qua đã khẳng định hiệu quả của công trình trong việc phát triển kinh
tế chính trị và xã hội của huyện Củ Chi Tuy nhiên do công trình chủ yếu được xây bằng đất, trãi dài trên diện rộng qua nhiều vùng có địa hình địa chất phức tạp, lại chịu nhiều tác động của tự nhiên và xã hội nên hệ thống kênh mương xuống cấp rất nhanh nên không đảm bảo an toàn công trình và khả năng phục vụ, gây khó khăn trong quản
Trang 28lý điều tiết, gây lãng phí nước và ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp Trước tình hình trên nhà nước đã chỉ đạo kiên cố hoá kênh mương
Qua thực tế ở các tuyến kênh đã kiên cố hoá có một số tác dụng thiết thực như sau:
- Đảm bảo an toàn phục vụ sản xuất và an toàn một số vùng dân cư khi vận hành công trình
- Tưới tự chảy và ổn định
- Rút ngắn thời gian lấy nước
- Tiết kiệm nước do hạn chế thấm, tăng diện tích tưới
- Nông dân chủ động hơn trong việc chọn cây trồng và bố trí mùa vụ
- Giảm chi phí quản lý công trình, giảm chi phí nạo vét sữa chữa đến mức thấp nhất
2.7 Tình hình sản xuất nông nghiệp của huyện Củ Chi năm 2007
Đậu phộng 1.485 ha, giảm 157 ha so cùng kỳ Giá đậu phộng có tăng cùng kỳ, nhưng chi phí đầu tư cao và tiêu tốn nhiều công lao động nên một phần diện tích được chuyển sang trồng bắp lai, hiện nay diện tích bắp giống 624,8 ha Cây rau phát triển nhanh với diện tích gieo trồng 3.067 ha, trong đó diện tích rau an toàn là 3.005 ha Đến nay trên địa bàn huyện đã có 14 xã được công nhận là vùng sản xuất rau an toàn với tổng diện tích canh tác 787,84 ha và xã Tân Thạnh Đông là vùng đủ điều kiện sản xuất rau an toàn với diện tích canh tác là 15 ha Các loại cây trồng khác như mía, cao su, cây ăn trái ổn định Đặc biệt cây hoa kiểng phát triển 41,6 ha, đạt 91,11 % kế hoạch năm, đây là loại cây trồng được tận dụng diện tích nhỏ trong khuôn viên nhà, nhưng có hiệu quả kinh tế khá cao và đang có chiều hướng phát triển tốt
Trang 292.7.2 Chăn nuôi
Đàn bò sữa 21.565 con, tăng 3.009 con so cuối năm 2004 Bò ta có giá cao nên
có xu hướng phát triển nhanh, tổng đàn đạt trên 11.000 con Đàn heo phát triển nhanh
do giá heo tăng, với tổng đàn 63.000
2.7.3 Công tác phục vụ sản xuất nông nghiệp
Huyện quan tâm công tác bảo vệ thực vật, công tác thú y bằng những biện pháp tích cực, chỉ đạo đẩy mạnh công tác kiên cố hoá hệ thống thuỷ lợi, đã đưa vào sử dụng
68 tuyến kênh nội đồng chiều dài 27.320 m, đạt 83,52 % các xã đã cơ bản hoàn thành kiên cố hóa kênh mương nội đồng theo kế hoạch
2.8 Tình hình sản xuất nông nghiệp của Xã Tân An Hội
Diện tích gieo trồng năm 2007 thực hiện được 1.050 ha Trong đó lúa 940 ha, đậu phộng 30 ha, bắp 20 ha và rau màu các loại 60 ha Diện tích gieo trồng giảm so với các năm 2006 là 100 ha, đạt 91,73 % so với nghị quyết Diện tích gieo trồng giảm được chuyển sang trồng cây lâu năm và một phần đất thổ cư, nguyên nhân giảm do nằm trong quy hoạch đô thị Tây Bắc nên nhân dân không đầu tư cây lúa mà chuyển sang trồng cây khác
Nhìn chung năm 2007 kinh tế phát triển mạnh, đó là nhờ vào sự thống nhất cao
của toàn Đảng bộ và nhân dân đồng tình với kế hoạch, chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi của Ủy ban nhân dân xã, kết hợp với các ngành chức năng của huyện, thành phố mở nhiều lớp tập huấn đưa khoa học kỹ thuật vào sản xuất nâng cao năng xuất, quy hoạch từng vùng phù hợp từng loại giống có chất lượng cao gắn liền với nhu cầu thị trường Duy trì 2 cây 2 con bò sữa, cá sấu, cây rau an toàn và hoa lan cây cảnh đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng bình quân mỗi năm là 6%
Trang 302.8.2 Công tác khuyến nông
Được sự quan tâm hỗ trợ của các cấp, các ngành của thành phố và huyện Mở lớp tập huấn sử dụng thuốc trên cây rau, cây lúa và kỹ thuật chăn nuơi trên đàn gia súc
Để nhân dân áp dụng khoa học kỹ thuật chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuơi đạt hiệu quả cao Trong năm 2007 đã mở được 8 lớp cĩ 380 lượt người tham dự và đặc biệt là chương trình rau sạch kết hợp với trạm Bảo vệ thực vật Huyện đã mở 3 lớp cĩ 85 người dự Kết quả đã được Thành phố cơng nhận cĩ 60 ha đất trồng rau sạch đạt kết hoạch và nghị quyết đã đề ra Xã cịn thành lập được câu lạc bộ hoa lan cây cảnh với chương trình 2 cây 2 con
2.8.3 Công tác thú y
Thực hiện kế hoạch tiêm phịng hàng năm của thú y huyện Củ Chi, xã cĩ kế hoạch tổ chức tiêm phịng, kịp thời ngăn ngừa được dịch bệnh nên trong năm 2007 khơng xảy ra dịch bệnh trên đàn gia súc, chủ động đề xuất với huyện hỗ trợ hố chất phun xịt những nơi cĩ nguy cơ bùng phát dịch
2.8.4 Cơ sở hạ tầng
Thủy lợi: Nhìn chung trong năm 2007 do ảnh hưởng của nguồn nước hồ Dầu
Tiếng xuống thấp dưới mực nước quy định nên việc phục vụ việc tưới vụ hè thu gặp nhiều khĩ khăn Nhưng được Ủy ban nhân dân huyện cĩ kế hoạch chỉ đạo cho Xí nghiệp thuỷ lợi Củ Chi và các xã sử dụng nguồn nước kênh đơng chuyển dịch cơ cấu cây trồng và phân ra vụ theo lịch Do đĩ trong năm 2006 việc điều tiết nước phục vụ sản xuất tương đối đủ nước
Trong năm 2007 xã đã hồn thành chương trình kiêng cố hố kênh mương cấp
3, trong năm đều cĩ kế hoạch tu sửa chữa kịp để đáp ứng cho nhu cầu sử dụng nước của nhân dân
2.8.5 Giao thông nông thôn
Được sự ủng hộ của Ủy ban nhân dân huyện Củ Chi bổ sung ngân sách, cấp phối sỏi đỏ 3 tuyến đường: đường Ba Lăng, đường Phan Thị Hồ, đường Lơ A, B ấp Cây Sộp, 1 tuyến bê tơng nhựa nĩng đĩ là đường Sân Chiêm Đến nay đã hồn thành 2 tuyến đường Ba Lăng dài 800 m, đường Phan Thị Hồ dài 300 m cịn lại đường Lơ A,
Trang 31B Cây Sộp và đường Sân Chiêm dự toán đã được duyệt chuẩn bị thi công Về ngân sách xã đã lập dự toán cắt phọt nâng cấp 4 tuyến đường ấp Bàu Tre 1, 3 tuyến đường
và ấp Tây một tuyến chờ giảm mưa đầu tư thi công
Ủy ban nhân dân xã đã lập kế hoạch đầu tư nâng sách sỏi đỏ 18 tuyến với chiều dài 13,95 km, thiết lập nền hạ 56 tuyến, chiều dài 19,1km trên địa bàn xã từ năm 2005
- 2010 từ nguồn vốn ngân sách với tổng kinh phí dự kiến 5 tyû đồng
2.9.Phương hướng sản xuất nông nghiệp năm 2008 của Xã Tân An Hội
Để giữ vững tốc độ tăng trưởng kinh tế theo nghị quyết đại hội Đảng bộ xã lần thứ IX, đầu tư tập trung cho việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi Phấn đấu đưa diện tích gieo trồng lên 1.200 ha, tăng cường đầu tư khoa học kỹ thuật để ứng dụng trong nông nghiệp, mạnh dạn chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi theo phương châm
2 cây 2 con, chủ động phòng ngừa dịch bệnh trên đàn gia súc, giữ vững đàn bò sữa, nhân rộng câu lạc bộ hoa lan cây cảnh và tiến tới thành lập tổ sản xuất rau an toàn trên diện rộng
Giữ vững tốc độ phát triển kinh tế ổn định, mở nhiều lớp tập huấn cho nhân dân trên nhiều lĩnh vực
Thực hiện theo phương án chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp theo mô hình khép kín, mạnh dạn chuyển đổi những khu vực sản xuất lúa kém hiệu quả chuyển sang lập vườn kết hợp VAC, nuôi cá, giữ cỏ nuôi bò, tập trung những chương trình mũi nhọn dựa theo đề án chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp đến 2010 Duy trì đàn bò sữa hộn có và
có kế hoạch tăng đàn qua những chương trình hỗ trợ vốn, tăng cường kiểm soát dịch bệnh long mồm lỡ móng tiên phòng chủng ngừa đúng thời gian qui định, hướng dẫn người dân chăn nuôi phải đảm bảo kỹ thuật và chống gây ô nhiễm môi trường
2.10 Các điều kiện thuận lợi để phát triển đàn bò sữa
2.10.1 Giống
2.10.1.1 Giống Hà Lan (Holstein Friesian)
Đây là giống bò có sản lượng sữa cao nhất và thích nghi tốt ở nhiều vùng khí hậu khác nhau trên thế giới Mặc dù có nguồn gốc ôn đới nhưng đã được nuôi lai tạo thành những dòng có thể nuôi được ở các vùng nhiệt đới Bò HF có màu lang trắng đen, tầm vóc lớn (khối lượng con cái từ 500 – 600 kg) Dáng hình thanh, bầu vú phát
Trang 32triển, sinh sản tốt, tính hiền lành Tại Việt Nam, một số bò HF thuần được nuôi tại Đức Trọng (tỉnh Lâm Đồng) có năng suất đạt bình quân 5.000 kg / chu kỳ sữa
2.10.1.2 Bò lai Sind
Là kết quả lai tạo giữa giống bò Red Sindhi có nguồn gốc từ Ấn Độ với bò vàng địa phương Bò lai Sind được dùng làm bò nền để lai với các giống bò sữa tạo ra bò lai hướng sữa Bò lai Sind có màu nâu lợt tới nâu đậm, có u, yếm phát triển U yếm càng phát triển, màu nâu càng đậm, tỷ lệ máu bò lai Sind càng cao, bò càng tốt Bò lai Sind
có tầm vóc lớn (khối lượng bò cái trên 250 kg) đầu thanh nhỏ, phần sau phát triển, vú
to, núm vú mềm, sinh sản tốt, đẻ con dễ, tính hiền Năng suất cho sữa trung bình khoảng 1.200 – 1.500 kg/chu kỳ Khi chọn bò lai Sind làm nền để lai tạo ra bò lai hướng sữa, phải chọn bò có tỷ lệ máu lai Sind cao và khối lượng trên 220 kg khi bắt đầu phối giống
2.10.1.3 Bò lai Holstein Friesian F 1
Gieo tinh bò Holstein Friesian cho bò cái nền lai Sind để tạo ra bò Holstein Friesian F1 Bò lai Holstein Friesian F1 thường có màu đen tuyền (đôi khi đen xám, đen nâu) Tầm vóc lớn (khối lượng bò cái khoảng 300 – 400 kg), bầu vú phát triển, thích nghi với điều kiện môi trường chăn nuôi của Việt Nam Năng suất sữa trung bình khoảng 8 – 9 kg / ngày (2.700 kg / chu kỳ)
2.10.1.4 Bò lai Holstein Friesian F 2
Bò cái Holstein Friesian F1 được tiếp tục gieo tinh bò Holstein Friesian để tạo
ra bò lai Holstein Friesian F2 Bò lai Holstein Friesian F2 thường có màu lang trắng đen (màu trắng ít hơn) Bò cái có tầm vóc lớn ( 380 – 480 kg ), bầu vú phát triển, thích nghi với điều kiện môi trường chăn nuôi của Việt Nam Năng suất sữa trung bình khoảng 8 – 9 kg / ngày ( 3.000 – 3.600 kg / chu kỳ )
2.10.1.5 Bò lai Holstein Friesian F 3
Bò cái Holstein Friesian F2 được tiếp tục gieo tinh bò Holstein Friesian để tạo ra
bò lai Holstein Friesian F3 Bò lai Holstein Friesian F3 thường có màu lang trắng đen
Trang 33(màu trắng nhiều hơn) Bò cái có tầm vóc lớn (400 – 500 kg), bầu vú phát triển Bò thích nghi kém hơn, nhưng nếu được nuôi dưỡng chăm sóc tốt thì vẫn cho năng suất cao Năng suất sữa bình quân khoảng 13 – 14 kg / ngày (3.900 – 4.200 kg / chu kỳ)
2.10.2 Nguồn thức ăn
2.10.2.1 Thức ăn thô xanh
Chủ yếu là cỏ Ngoài ra người ta còn trồng các loại cây xanh khác để sử dụng nuôi bò sữa như bắp Bên cạnh các loại cỏ hòa thảo, các loại cỏ họ đậu cũng được sử dụng cho bò sữa có chất lượng cao, đặc biệt là hàm lượng protein cao Các loại cỏ họ đậu phổ biến là cây đậu ma, cây bình linh, lá vông , thân lá các loại đậu (như dây đậu phộng…)
Cỏ trước khi cho ăn nên phơi héo (một nắng) để giảm lượng nước, tăng lượng thức ăn ăn vào và tận dụng được thân cỏ, tiết kiệm cỏ
2.10.2.2 Thức ăn thô khô
Thức ăn thô khô phổ biến là rơm Rơm là thức ăn phổ biến và trong chăn nuôi
bò
Ngoài rơm, dây đậu phộng cũng là một loại thức ăn thô khô cho bò sữa khá phổ biến Dây đậu có thành phần đạm thô vào khoảng 13 – 14%, xơ thô 37% là nguồn thức
ăn thô khô tốt, hoàn toàn có thể thay thế cho rơm khô
2.10.2.3 Các phụ phế phẩm công nông nghiệp
Trang 34Bã đậu nành:
Là phụ phẩm của chế biến sữa đậu nành và đậu hũ Bã đậu nành có hàm lượng đạm thô cao, mùi vị thơm ngon, dễ tiêu hoá Người ta có thể thay thế 1 kg thức ăn tinh bằng 7 kg bã đậu nành
Xác thơm:
Là phụ phẩm của chế biến thơm đồ hộp Xác thơm có hàm lượng đường cao, mùi thơm dễ tiêu hoá Tuy nhiên, cần lưu ý là khi cho bò ăn nhiều xác thơm sẽ gây rác lưỡi Vì vậy, chỉ nên cho ăn xác thơm hạn chế (dưới 15 kg / bò / ngày)
Rĩ mật đường:
Là phụ phẩm của quá trình sản xuất đường Rĩ mật đường chứa nhiều đường, khoáng, kích thích tính ngon miệng và có lợi cho sự hoạt động của hệ vi sinh vật dạ
cỏ Có thể bổ sung 1 – 2 kg / bò / ngày
2.10.2.4 Thức ăn bổ sung khoáng
Hầu hết các các loại hình khẩu phần của bò sữa đều thiếu phosphore Bột xương
và dicalcium phosphore là nguồn bổ sung phosphore rất tốt Bột xương loại tốt có từ 10% phosphore, dicalcium phosphore có từ 17-19% phosphore
Khối đá liếm, bánh dinh dưỡng cũng là một trong những loại thức ăn bổ sung khoáng rất tốt
2.10.2.5 Thức ăn hỗn hợp
Là hỗn hợp các loại thức ăn tinh giúp cân đối các chất dinh dưỡng, nhất là khoáng, vitamin, sử dụng tiện lợi, bảo quản dự trữ trong thời gian dài…
Sử dụng thức ăn tinh hỗn hợp cho bò sữa:
-Thức ăn tinh hỗn hợp không nên dự trữ lâu quá một tháng từ khi sản xuất để tránh bị hư hỏng và giảm chất lượng
-Cho ăn dạng ẩm, hoặc khô, hoặc hòa vào nước, hoặc trộn chung với thức ăn khác
-Số lượng thức ăn tinh hỗn hợp phụ thuộc vào năng xuất sữa, giai đoạn tiết sữa và thành phần thức ăn khác trong khẩu phần
2.10.3 Công tác thú y
Trang 35Tốt, đặc biệt là hệ thống gieo tinh nhân tạo trong chăn nuôi bò sữa
2.10.3.1 Lợi ích của thụ tinh nhân tạo
Một bò đực giống tốt truyền giống được cho nhiều bò cái trên một khu vực rộng lớn.Tinh của bò đực ở một lần lấy tinh sau khi pha loãng đủ phối cho 30-50 bò cái Tránh được lo sợ và nguy hiểm khi nuôi đực giống
Khắc phục được sự chênh lệch tầm vóc cơ thể khi truyền giống Một bò đực thuần Hà Lan năng 800 kg không thể truyền giống trực tiếp cho bò cái lai Sind chỉ nặng 300 kg
Giảm tốn kém so với nuôi đực giống, giảm chi phí so với vận chuyển đực giống
từ xa đến
Sử dụng tinh từ đực giống đã được kiểm tra về khả năng thụ thai, năng suất sữa
sẻ tránh được những rủi ro và chắc chắn con lai có năng suất sữa cao
Tránh được những bệnh lây lan qua đường sinh dục
Giúp cho Nhà Nước quản lý và thực hiện chương trình giống thống nhất Khắc phục được những hạn chế về khoảng cách và thời gian… Tinh của bò đực giống tốt có thể được cất giữ sau 30 năm và trong thời gian ấy có thể truyền giống cho
bò cái ở bất cứ nơi nào, bất cứ khi nào ta muốn
2.10.3.2 Những khó khăn
Thụ tinh nhân tạo đòi hỏi phải có trung tâm cung cấp tinh hoặc nuôi dưỡng đực giống, khai thác, bảo tồn tinh dịch Kỹ thuật viên phải được huấn luyện tốt, nhiều kinh nghiệm và đòi hỏi những thiết bị nhất định, như bình nitơ, bảo quản tinh, dụng cụ dẫn tinh…
2.10.4 Có nơi tiêu thụ sản phẩm đáng tin cậy
Công ty Vinamilk, Dutch Lady giúp cho người chăn nuôi yên tâm đầu ra
2.10.5 Có chính sách hỗ trợ
Sở Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn của Thành Phố Hồ Chí Minh về công tác tập huấn, khuyến nông, giống
2.10.6 Có Trung Tâm Kiểm Dịch Cây Trồng Vật Nuôi
Xây dựng mô hình điểm cho nông dân học tập, phổ biến một số kiến thức mới
Trang 362.11 Phương pháp chọn một bò sữa tốt
2.11.1 Căn cứ vào đặc điểm ngoại hình, thể chất
Bò sữa tốt có dạng hình tam giác, do thân sau phát triển hơn thân trước, đầu thanh, nhẹ, mồm to, mũi to, cổ dài vừa phải, sườn nở ngực sâu, hông rộng (dễ đẻ) Các đầu xương nổi rỏ Vai, lưng và hông không võng và rộng dần về phía xương chậu, mông phẳng, rộng và dài Bốn chân khỏe, chân sau thấp hơn chân trước, không chụm kheo Bầu vú phát triển, bốn núm vú đều đặn, tĩnh mạch vú (gân sữa) to, dài, có nhiều nếp gấp khúc Khi sờ vào bầu vú thấy mềm mại, ở dạng tuyến (vú da, vú sữa), chứ không phải ở dạng thịt
2.11.2 Căn cứ vào sản lượng sữa
Khi chọn bò cái sữa qua khả năng cho sữa, người ta thường kiểm tra lượng sữa
và phẩm chất sữa hàng ngày mà con bò sản xuất ra được Trong quá trình lựa chọn, có thể có con bò tuy ngoại hình chưa đẹp lắm, hoặc có khối lượng hơi thấp, nhưng sản lượng tương đối khá là được.Trái lại, có con bò khối lượng cao, ngoại hình đẹp mà cho sữa kém thì ta cũng không nên lựa chọn nó
Trong thực tiễn sản xuất, rất ít gia đình có ghi chép theo dõi đầy đủ số liệu về sản lượng sữa cả chu kỳ Vì vậy, dựa trên lượng sữa thực vắt hàng ngày, tại thời điểm theo dõi, chúng ta có thể dự đoán được một cách tương đối chính xác năng xuất sữa của cả chu kỳ vắt, dựa trên tỷ lệ phần trăm sản lượng sữa hàng tháng so với tổng sản lượng sữa cả chu kỳ
2.11.3 Căn cứ vào khả năng sinh trưởng phát triển
Dựa vào mức tăng khối lượng, tức là bò nặng hay nhẹ qua các lứa tuổi Bò tốt thì khoẻ mạnh lớn nhanh, bò xấu thì còi cọc chậm lớn Thường giống bò khác nhau có thể trọng khác nhau Để xác định thể trọng, người ta thường dùng cân đai gia súc để cân bò hoặc dùng thước đo trọng lượng đại gia súc (vòng ngực: chu vi mặt cắt phía sau khớp bả vai; dài thân chéo: chiều dài từ mấu xương bã vai đến điểm mấu xương chậu)
Trang 372.11.4 Căn cứ vào lý lịch (gia phả)
Chọn qua gia phả, tức là chọn bò hậu bị mà biết nguồn gốc và sức sản xuất của các đời trước Điều này chỉ có thể làm được khi có sự ghi chép lý lịch, năng xuất và chất lượng sữa một cách đáng tin cậy
2.11.5 Căn cứ vào tính tình và khả năng dễ vắt sữa
Nên chọn những bò sữa có tính tình hiền lành, dễ gần người Đối với bò đã vắt sữa thì chọn những con dễ vắt sữa, sữa xuống nhanh và ít bị ảnh hưởng của điều kiện
ngoại cảnh thay đổi
Trang 38CHƯƠNG 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Nội dung và chỉ tiêu nghiên cứu
Khảo sát tình hình chăn nuôi bò sữa tại xã Tân An Hội, huyện Củ Chi:
Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội tại huyện Củ Chi
Cơ cấu đàn bò sữa
Nguồn thức ăn cho bò sữa
Khẩu phần ăn của bò (kg/ ngày)
Khảo sát trọng lượng bò qua các năm tuổi (kg)
Khả năng sinh sản:
Hệ số phối là số lần phối cho bò cái đậu thai ( lần )
Thời gian phối lại sau khi sinh là số ngày tính từ khi bò sinh đến ngày phối giống lại ( ngày )
Khoảng cách giữa hai lứa đẻ được tính từ ngày đẻ lứa trước đến ngày đẻ lứa sau liền kề ( trừ trường hợp đẻ non và sẩy thai) ( ngày )
3.2 Phương pháp nghiên cứu
3.2.1 Phương pháp thu thập thông tin
*Thu thập dữ liệu sơ cấp
Phương pháp thu thập số liệu được dùng là phương pháp điều tra chọn mẫu ngẫu nhiên một số hộ gia đình chăn nuôi bò sữa tại Xã Tân An Hội Điều tra ngẫu nhiên các hộ giá đình chăn nuôi bò sữa tại 02 ấp: là phương pháp chọn mẫu sao cho khả năng được chọn của tất cả các đơn vị là như nhau (mỗi đơn vị được chọn ra đều không có dụng ý trước mà chỉ là sự ngẫu nhiên) Thực tế, hiện nay trên địa bàn xã có
10 ấp chăn nuôi bò sữa với tổng số hộ chăn nuôi bò sữa là 455hộ Trong đó số hộ gia đình chăn nuôi bò sữa tập trung nhiều nhất là Ấp Bàu Tre 1, Bàu Tre 2, Mũi Lớn 1 Vì
Trang 39thời gian có hạn nên tôi chỉ tiến hành điều tra ngẫu nhiên 22 hộ nông dân chăn nuôi bò sữa trên địa bàn 2 Ấp Mũi Lớn 1 và Ấp Mũi Lớn 2
Bảng 3.1 Bảng phân phối số mẫu điều tra theo ấp tại Xã Tân An Hội, Huyện Củ Chi
Trang 40CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 Hiệu quả kinh tế đối với các hộ chăn nuôi bò sữa
Hiệu quả kinh tế đối với các hộ chăn nuôi bò sữa là việc sử dụng một các hợp
lý, đầy đủ về lao động, trang thiết bị, thức ăn, kỹ thuật nuôi, nhằm mang lại lợi nhuận
và thu nhập cao trên đồng vốn bỏ ra
Hiệu quả kinh tế của các hộ chăn nuôi bò sữa góp phần giải quyết được thời gian lao động nhàn rỗi của nông dân, nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống cho người dân Đồng thời góp phần rất lớn cho công tác xoá đói giảm nghèo và thúc đẩy sản xuất cho các ngành khác như: trồng lúa, chế biến thực phẩm…
Để nâng cao hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi bò sữa hộ gia đình thì chúng ta cần phải:
Chọn mua một bò sữa giống tốt, bởi trong chăn nuôi bo sữa thì giống bò quyết định 60% sự thành bại của việc chăn nuôi
Ngoài ra, chúng ta cũng cần phải quan tâm đến các yếu tố quản lý, thú y và khẩu phần thức ăn của bò…
4.2 Kết quả quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp từng bước phân vùng sản xuất, nhằm tạo ra những vùng sản xuất chuyên canh Trong đó, hình thành vùng sản xuất lúa có giá trị kinh tế cao Sự chuyển dịch cơ cấu trong lĩnh vực trồng trọt thể hiện
sự thay đổi mạnh mẽ trong cơ cấu mùa vụ, giống cây trồng trong đó cơ cấu mùa vụ
bố trí hợp lý hơn, giảm diện tích lúa đông xuân sớm Đồng thời phát triển cây trồng, vật nuôi theo hướng sản xuất hàng hoá và xuất khẩu nên có nhiều giống mới cho năng suất, sản lượng cao Ngành chăn nuôi phát triển trở thành ngành nguồn thu nhập quan