1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

XÂY DỰNG ĐƯỜNG CẦU THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT SINH HỌC TẠI HUYỆN NGÃ NĂM TỈNH SÓC TRĂNG

89 86 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 659,37 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trước thực tế đó, nhu cầu cấp bách là phải nghiên cứu các chế phẩm sinh học có khả năng thay thế, hoặc giảm thiểu thuốc hoá học, tiến tới xây dựng nền nông nghiệp sinh thái không sử dụng

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH

XÂY DỰNG ĐƯỜNG CẦU THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT

SINH HỌC TẠI HUYỆN NGÃ NĂM

TỈNH SÓC TRĂNG

NGUYỄN THANH HUYỀN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

ĐỂ NHẬN VĂN BẰNG CỬ NHÂN

NGÀNH KINH TẾ CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ NÔNG LÂM

Thành phố Hồ Chí Minh Tháng 07/2007

Trang 2

Hội đồng chấm báo cáo khóa luận tốt nghiệp đại học khoa Kinh Tế, trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh xác nhận khóa luận “XÂY DỰNG ĐƯỜNG CẦU THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT SINH HỌC TẠI HUYỆN NGÃ NĂM TỈNH

SÓC TRĂNG” do Nguyễn Thanh Huyền, sinh viên khóa 29, ngành KINH TẾ, chuyên

ngành KINH TẾ NÔNG LÂM, đã bảo vệ thành công trước hội đồng vào ngày

ĐẶNG MINH PHƯƠNG Người hướng dẫn,

_

Ngày tháng năm

Chủ tịch hội đồng chấm báo cáo Thư ký hội đồng chấm báo cáo

_ Ngày tháng năm Ngày tháng năm

Trang 3

LỜI CẢM TẠ

Để có thể hoàn thành khóa luận này, trước tiên cho con tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cha mẹ, những người đã sinh thành và dưỡng dục nuôi con khôn lớn nên người

Em xin chân thành cảm ơn Quý thầy cô trường Đại học Nông Lâm Thành Phố

Hồ Chí Minh đã tận tình dạy bảo, truyền đạt cho em những kiến thức, những bài học quý báu làm hành trang cho em bước vào đời

Em xin trân trọng tỏ lòng biết ơn đến sự chỉ dạy tận tình của thầy Đặng Minh Phương, người đã giúp đỡ và hướng dẫn trực tiếp trong quá trình thực tập và hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Em xin chân thành cảm ơn sự quan tâm giúp đỡ của Ban Giám Đốc, các phòng ban nghiệp vụ của Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, đặc biệt là bác Cua – phó giám đốc Sở và các cô chú thuộc Dự án Nâng cao chất lượng Cây trồng Vật nuôi Xin chân thành cảm ơn chú Sinh, chú Thành − giám đốc công ty hợp danh Sinh Thành, anh Trí − trưởng trạm Khuyến Nông huyện Ngã Năm cùng các hộ gia đình trên địa bàn huyện Ngã Năm đã cung cấp thông tin quý báu và hết lòng chỉ dẫn, giúp đỡ em trong quá trình thực tập và thực hiện đề tài

Cuối cùng một lần nữa em xin chân thành cảm ơn tất cả những người đã luôn bên cạnh và hỗ trợ cho em hết mực cả về vật chất lẫn tinh thần để giúp em hoàn thành luận văn tốt nghiệp này

Sinh viên thực hiện Nguyễn Thanh Huyền

Trang 4

và do không còn thiên dịch trên đồng ruộng để đảm nhận chức năng tự nhiên là hạn chế sâu hại phát triển thành dịch Trước thực tế đó, nhu cầu cấp bách là phải nghiên cứu các chế phẩm sinh học có khả năng thay thế, hoặc giảm thiểu thuốc hoá học, tiến tới xây dựng nền nông nghiệp sinh thái không sử dụng hóa chất, duy trì sự cân bằng tự nhiên Đó là lý do cho việc nghiên cứu và xây dựng đường cầu thuốc bảo vệ thực vật

Trong giới hạn nội dung của khóa luận, chúng tôi thực hiện việc nghiên cứu mức độ ảnh hưởng của một số yếu tố đến nhu cầu sử dụng và xây dựng đường cầu thuốc BVTV sinh học tại khu vực huyện Ngã Năm − tỉnh Sóc Trăng Đề tài sử dụng các tài liệu, số liệu tổng kết cũng như những bài viết về các vấn đề có liên quan Đồng thời sử dụng phương pháp phân tích hồi quy và ước lượng bốn yếu tố: giá thuốc BVTV sinh học, giá thuốc BVTV hóa học, thu nhập, mức độ tin tưởng tác động đến hàm cầu thuốc BVTV sinh học Từ đó chúng tôi tính toán sự nhạy cảm của lượng cầu thuốc khi các yếu tố đó thay đổi

Từ việc tính toán, phân tích, so sánh chúng tôi rút ra một số kiến nghị, đóng góp

ý kiến đối với các cơ quan quản lý của Nhà nước nói chung và các cơ quan ban ngành chính quyền địa phương, các doanh nghiệp nói riêng nhằm hoàn thiện tốt hơn công tác bảo vệ thực vật nông nghiệp cũng như hoạt động sản xuất kinh doanh để thuốc bảo vệ thực vật thực sự phát huy hiệu quả kinh tế, an toàn cho con người và môi sinh

Trang 5

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3

1.3 Phạm vi nghiên cứu của khóa luận 3

1.3.1 Nội dung nghiên cứu 3

1.3.3 Đối tượng và thời gian nghiên cứu 4

1.4 Cấu trúc của khóa luận 4

2.1.2 Đất đai 6 2.1.3 Khí hậu 6 2.1.4 Nước và chế độ thủy văn 7

2.1.5 Tài nguyên sinh vật 7

2.1.6 Tài nguyên thủy sản 8

Trang 6

CHƯƠNG 3 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15

3.2 Một số lý luận cơ bản về đường cầu 21

3.2.1 Khái niệm về cầu 21

3.2.3 Cầu thị trường (cầu xã hội) 22

3.2.4 Luật cầu 22 3.2.5 Một số yếu tố tác động đến đường cầu 23

3.2.6 Các hệ số co giãn của cầu 24

3.4 Phương pháp nghiên cứu 28

3.4.3 Phương pháp xử lí số liệu 30

4.1 Diễn biến tình hình sâu hại và công tác BVTV trong sản xuất

nông lâm nghiệp 31 4.2 Tình hình chung về vấn đề sử dụng thuốc BVTV trên thị trường 32

4.3 Đặc trưng của mẫu nghiên cứu 34

4.3.1 Cơ cấu dân tộc 34 4.3.2 Nguồn thu nhập trong năm của các hộ điều tra 35

Trang 7

4.3.5 Khả năng phát triển của thuốc BVTV sinh học trong thời gian tới 40

4.4 Xây dựng mô hình hàm cầu thuốc BVTV sinh học 40

4.4.1 Bước 1: Xác định các giả thiết của mô hình 40

4.4.3 Bước 3: Ước lượng các tham số của mô hình 42

4.4.4 Xác định hàm toán học 45

4.4.5 Bước 4: Kiểm định tính hiệu lực và các vi phạm mô hình 51

4.4.8 Hàm cầu của thuốc BVTV sinh học theo giá 61

5.1 Kết luận 64 5.1.1 Kết quả đạt được 64

5.2 Kiến nghị 65 TÀI LIỆUTHAM KHẢO 68

PHỤC LỤC

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang Bảng 2.1 Thu Nhập Bình Quân Đầu Người Huyện Ngã Năm 2001 – 2005 10

Bảng 2.2 Tình Hình Giáo Dục Huyện Ngã Năm Năm 2004 – 2005 11

Bảng 2.3 Tình Hình Y Tế Huyện Ngã Năm 12

Bảng 2.4 Cơ Cấu Sử Dụng Đất Đai Huyện Ngã Năm 12

Bảng 2.5 Cơ Cấu Các Loại Cây Trồng Huyện Ngã Năm 13

Bảng 4.3 Cơ Cấu Dân Tộc 34

Bảng 4.4 Cơ Cấu Giống Lúa Gieo Trồng của Các Hộ Điều Tra 36

Bảng 4.5 Thuốc Cỏ Dùng Trong Sản Xuất Lúa của Các Hộ Điều Tra 37

Bảng 4.6 Thuốc Sâu Dùng Trong Sản Xuất Lúa của Các Hộ Điều Tra 37

Bảng 4.7 Thuốc Bệnh Dùng Trong Sản Xuất Lúa của Các Hộ Điều Tra 37

Bảng 4.8 Thuốc Kích Thích Sinh Trưởng Dùng Trong Sản Xuất Lúa của Các

Hộ ĐiềuTra 38 Bảng 4.9 Nhận Xét của Người Dân Khi Sử Dụng Thuốc BVTV Sinh Học 38

Bảng 4.10 Các Lý Do Dẫn Đến Thuốc BVTV Sinh Học Chưa Được Sử Dụng

Bảng 4.11 Dự Đoán Quá Trình Định Vị của Thuốc BVTV Sinh Học 40

Bảng 4.12 Kỳ Vọng Dấu Cho Mô Hình Ước Lượng 41

Bảng 4.13 Các Chỉ Tiêu Mô Tả Thống Kê của Hàm Tuyến Tính Cobb-Douglas

Bảng 4.14 Kết Quả Ước Lượng Hồi Quy Hàm Cobb-Douglas của vụ Hè Thu 43

Bảng 4.15 Các Chỉ Tiêu Mô Tả Thống Kê của Hàm Tuyến Tính Cobb-Douglas

Bảng 4.16 Kết Quả Ước Lượng Hồi Quy Hàm Cobb-Douglas của vụ Đông Xuân 44

Bảng 4.17 Kiểm Định Các Giá Trị T của Mô Hình Cobb-Douglas Vụ Hè Thu 52

Bảng 4.18 Kiểm Định Các Giá Trị T của Mô Hình Cobb-Douglas Vụ

Bảng 4.20 Kiểm Tra Lại Dấu của Các Thông Số Ước Lượng của Hai Mô Hình 58

Trang 10

x

DANH MỤC CÁC HÌNH

Trang Hình 2.1 Biểu Đồ Cơ Cấu Đất Đai 13 Hình 3.1 Ảnh Hưởng của Giá Đến Lượng Cầu (Các Yếu Tố Khác Không Đổi) 23

Hình 3.2 Sự Dịch Chuyển Do Kỳ Vọng Tương Lai 24

Hình 4.1 Cơ Cấu Nguồn Thu Nhập Trong Năm của Các Hộ Điều Tra 35

Hình 4.2 Sơ Đồ Lịch Thời Vụ Trồng Lúa của Các Hộ Điều Tra 35

Hình 4.3 Biểu Đồ Phân Bố giữa Giá Thuốc BVTV Sinh Học và Lượng Cầu

Hình 4.4 Biểu Đồ Phân Bố giữa Giá Thuốc BVTV Hóa Học và Lượng Cầu

Hình 4.5 Biểu Đồ Phân Bố giữa Thu Nhập và Lượng Cầu Thuốc BVTV

Hình 4.6 Biểu Đồ Phân Bố giữa Mức Độ Tin Tưởng và Lượng Cầu Thuốc

Hình 4.7 Biểu Đồ Phân Bố giữa Giá Thuốc BVTV Sinh Học và Lượng Cầu

Hình 4.8 Biểu Đồ Phân Bố giữa Giá Thuốc BVTV Hóa Học và Lượng Cầu

Hình 4.9 Biểu Đồ Phân Bố giữa Thu Nhập và Lượng Cầu Thuốc BVTV

Hình 4.10 Biểu Đồ Phân Bố giữa Mức Độ Tin Tưởng và Lượng Cầu Thuốc

Hình 4.11 Đường Cầu Thuốc BVTV Sinh Học Theo Giá của Vụ Hè Thu 61

Hình 4.12 Đường Cầu Thuốc BVTV Sinh Học Theo Giá của Vụ Đông Xuân 62

Trang 11

DANH MỤC PHỤ LỤC

Phụ lục 1 Kết quả ước lượng mô hình hàm Cobb-Douglas của vụ Hè Thu

Phụ lục 2 Hệ số tương quan cặp của các biến trong mô hình (1)

Phụ lục 3 Các mô hình hồi quy bổ sung của vụ Hè Thu

Phụ lục 4 Kiểm định White test mô hình Cobb-Douglas của vụ Hè Thu

Phụ lục 5 Kết quả ước lượng mô hình hàm Cobb-Douglas của vụ Đông Xuân Phụ lục 6 Hệ số tương quan cặp của các biến trong mô hình (2)

Phụ lục 7 Các mô hình hồi quy bổ sung của vụ Đông Xuân

Phụ lục 8 Kiểm định White test mô hình Cobb-Douglas của vụ Đông Xuân

Phụ lục 9 Bảng câu hỏi phỏng vấn

Trang 12

vệ thực vật là một thành phần không thể thiếu ở giai đoạn này

Những năm gần đây, việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trong nông nghiệp mang lại nhiều lợi ích kinh tế to lớn, song việc lạm dụng thuốc đã gây ra những hậu quả nghiêm trọng cho sức khỏe cộng đồng, gây ô nhiễm môi trường, tiêu diệt nhiều loài động vật có ích, từ đó làm phát sinh nhiều bệnh dịch do sâu hại kháng thuốc và do không còn thiên địch trên đồng ruộng để đảm nhận chức năng tự nhiên là hạn chế sâu hại phát triển thành dịch Đối với tính mạng và sức khoẻ con người, hàng năm trên thế giới có khoảng 20 ngàn người chết do làm việc với thuốc trừ sâu (Johansson, 1993) Báo Tuổi Trẻ (1996) có nêu khoảng 30 người chết ở TP Hồ Chí Minh năm 1995 do sử dụng và do ăn rau nhiễm thuốc và do xịt thuốc trừ sâu Hiện tượng ngộ độc thuốc trừ sâu năm 1992 là 4572 người Tổn hại được ghi nhận dưới giá trị kinh tế từ dùng thuốc cho bảo vệ lúa ở ĐBSCL đối với hệ thống nước mặt là 251 triệu USD (khoảng 3900 tỷ đồng) (Phương và Chennat, 2003) Tổn hại đối với sức khỏe của người nông dân trực tiếp sử dụng thuốc là 108 triệu USD/năm (Dũng và Dung, 1997) Trước thực tế đó, nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam, đang chuyển dần sang sử dụng các biện pháp phòng trừ sinh học, nghiên cứu các chế phẩm sinh học có khả năng thay thế,

Trang 13

hoặc giảm thiểu thuốc hóa học, tiến tới xây dựng nền nông nghiệp sinh thái không sử dụng hóa chất, duy trì sự cân bằng tự nhiên

Thuốc bảo vệ thực vật sinh học là những hợp chất được chiết xuất từ cơ thể sâu hại hoặc là những chất được chế biến từ những vi sinh vật gây gại cho chúng Thuốc bảo vệ thực vật sinh học có khả năng làm thay đổi quá trình phát triển sinh học bình thường của sâu hại theo chiều hướng bất lợi đối với quần thể côn trùng So với cách phun thuốc trừ sâu, việc sử dụng thuốc sinh học hiệu quả và an toàn cho con người và môi trường hơn, tuy nhiên đây là phương pháp còn mới mẻ và lạ lẫm với người nông dân ở nước ta nên vẫn chưa được áp dụng trên quy mô rộng

Đại hội X của Đảng đã đề ra đường lối phát triển toàn diện về mọi mặt Trong

đó, lấy sự nghiệp đổi mới phát triển kinh tế làm trọng, đẩy mạnh phát triển nông nghiệp nông thôn Từ chủ trương đó, Nhà nước ta đã cố gắng tạo mọi điều kiện thuận lợi cho người dân nhằm khuyến khích kinh tế hộ phát triển, khuyến khích nông dân làm giàu chính đáng, từng bước động viên người dân chuyển đổi cơ cấu cây trồng, áp dụng các phương pháp tiến bộ mới để tăng thu nhập và nâng cao hiệu quả kinh tế Việc áp dụng các tiến bộ kỹ thuật mới có tác động rất lớn đến năng suất cây trồng, tiết kiệm nguồn kinh phí…và quan trọng hơn là đạt được sự cân bằng sinh thái, bảo vệ môi trường và sức khỏe con người Xác định nhu cầu sử dụng, giá trị và lợi ích của sử dụng của thuốc bảo vệ thực vật sinh học có ảnh hưởng như thế nào đến năng suất và chất lượng nông sản là việc làm hết sức cần thiết hiện nay, vấn đề nghiên cứu sẽ đưa ra được cơ sở thực tiễn cho việc áp dụng và nhân rộng phương pháp sử dụng của thuốc bảo vệ thực vật sinh học Giảm thuốc hoá học và thay thế bằng thuốc sinh học phải dựa vào một số chính sách như thuế, trợ cấp, lệnh cấm, hạn chế Muốn thực hiện được các chính sách này cần phải biết đường cầu sử dụng thuốc bảo vệ thực vật Đây chính

là công việc mà đề tài này hướng đến

Được sự đồng ý của ban chủ nhiệm Khoa Kinh Tế trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh và sự giúp đỡ tận tình của giáo viên hướng dẫn, thầy Đặng Minh Phương cùng sự chấp thuận của Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh

Sóc Trăng Tôi tiến hành thực hiện đề tài: “ Xây dựng đường cầu thuốc bảo vệ thực vật sinh học tại huyện Ngã Năm tỉnh Sóc Trăng”

Trang 14

 Tìm hiểu tình hình áp dụng thuốc bảo vệ thực vật;

 So sánh việc sử dụng thuốc BVTV hoá học với thuốc BVTVsinh học;

 Xác định đường cầu cho thuốc bảo vệ thực vật sinh học tại huyện Ngã Năm;

 Nhận định về khả năng phát triển của thuốc sinh học trong thời gian tới 1.3 Phạm vi nghiên cứu của khóa luận

1.3.1 Nội dung nghiên cứu

 Tìm hiểu về thực trạng áp dụng thuốc bảo vệ thực vật ở Việt Nam nói chung

và ở huyện Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng nói riêng;

 Phân tích tình hình sử dụng thuốc BVTV;

 Phân tích khả năng làm hạn chế sự áp dụng thuốc sinh học;

 Xây dựng và xác định đường cầu thuốc BVTV sinh học tại huyện Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng;

 Ứng dụng đường cầu trong các trường hợp giá thuốc hóa học và sinh học thay đổi;

 Đánh giá và các đề xuất chính sách để tăng cường áp dụng thuốc sinh học

1.3.2 Giới hạn đề tài

Phạm vi của khóa luận là tiến hành xây dựng đường cầu của thuốc BVTV tại huyện Ngã Năm tỉnh Sóc Trăng Nghiên cứu và đánh giá những yếu tố ảnh hưởng làm thay đổi lượng cầu của thuốc BVTV, cụ thể là các yếu tố về giá thuốc BVTV sinh học, giá thuốc BVTV hóa học, thu nhập, mức độ tin tưởng

Các yếu tố khác ảnh hưởng đến đường cầu như quy mô thị trường, dân số, những ảnh hưởng đặc biệt…được giả định là hằng số trong nghiên cứu này Lý do số liệu điều tra mẫu không đủ để thực hiện các yếu tố này

Phân tích đề tài giới hạn ở phân tích tĩnh tại thời điểm điều tra

Trang 15

1.3.3 Đối tượng và thời gian nghiên cứu

 Phạm vi không gian: số liệu điều tra thực hiện đề tài được thu thập tại thông tin từ “Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Sóc Trăng”, “Phòng Khuyến nông huyện Ngã Năm”, và các mẫu điều tra thu thập từ các hộ gia đình cư trú tại ấp Vĩnh Tiền, Vĩnh Sử, Vĩnh Thành thuộc xã Vĩnh Biên, Vĩnh Quới, huyện Ngã Năm

 Phạm vi thời gian: đề tài được thực hiện trong thời gian từ 26/03/2007 đến23/07/2007

1.4 Cấu trúc của khóa luận

Với nội dung nghiên cứu, khóa luận được thực hiện trong các chương sau: Chương 1 Nêu lên sự cần thiết, các nội dung, mục tiêu chính của đề tài

Chương 2 Mô tả về vấn đề nghiên cứu và địa bàn nghiên cứu

Chương 3 Nêu lên các nội dung thực hiện trong đề tài đồng thời nêu lên những

cách thức chính của việc thực hiện đề tài

Chương 4 Đây là phần chính của đề tài, vận dụng các cơ sở lý luận để tiến

hành phân tích, so sánh và xây dựng hàm hồi quy, xác định đường cầu của thuốc BVTV sinh học từ đó đưa ra những kết luận, kiến nghị để hoàn thành mục tiêu nghiên cứu

Chương 5 Kết luận và Kiến nghị

Trang 16

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN

Ngã Năm là Huyện nông nghiệp, toàn Huyện có 16.216 hộ trong đó có trên 80% hộ nông dân sản xuất nông nghiệp chủ yếu là độc canh cây lúa, ngoài ra các ngành nghề khác như dịch vụ, mua bán nhỏ, đánh bắt cá tự nhiên, nghề truyền thống…chiếm tỉ lệ thấp ở nông hộ nông thôn Thu nhập chính vẫn là hai vụ lúa nên mức sống của nông hộ đa phần còn gặp rất nhiều khó khăn Xuất phát từ tình hình thực

tế đó, theo định hướng phát triển của từng địa phương, thực hiện nghị quyết 03 của Huyện ủy về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn, và từng bước tạo điều kiện nâng cao giá trị sản xuất trên từng đơn vị diện tích, tận dụng lao động nhàn rỗi tại địa phương, giải quyết công ăn việc làm, và tăng thu nhập ổn định cho người lao động góp phần vào việc xóa đói giảm nghèo, ổn định và phát triển kinh tế-xã hội Để thấy rõ được điều đó tôi đi tìm hiểu tổng quan về huyện Ngã Năm

2.1 Điều kiện tự nhiên

2.1.1 Vị trí địa lý

Huyện Ngã Năm được thành lập vào năm 2004, tách ra từ phần đất phía Bắc của huyện Thạnh Trị cũ, với vị trí địa lý như sau:

– Phía Tây giáp huyện Hồng Dân (tỉnh Bạc Liêu)

– Phía Đông giáp huyện Mỹ Tú (tỉnh Sóc Trăng)

– Phía Nam giáp huyện Thạnh Trị (tỉnh Sóc Trăng)

– Phía Bắc giáp huyện Long Mỹ (tỉnh Hậu Giang)

Huyện có 07 xã (Tân Long, Long Tân, Long Bình, Mỹ Bình, Mỹ Quới, Vĩnh Quới, Vĩnh Biên) và 01 thị trấn với tổng dân số năm 2003 là 78.146 người, trong đó dân tộc Kinh chiếm khoảng 93%, các dân tộc khác chiếm 7% Khu vực hành chính của Huyện là thị trấn Ngã Năm nằm tại trung tâm của Huyện, nơi tiếp giáp của 5 tuyến giao thông thủy bộ chính kết nối với 4 địa phương lân cận: Bạc Liêu, Cà Mau, Thạnh

Trang 17

Trị, Long Mỹ đã tạo nên 1 địa thế mang tầm chiến lược về kinh tế, văn hóa, xã hội của vùng Tổng diện tích tự nhiên là 23.564,74 ha, trong đó có 17.444 ha đất trồng cây hàng năm, riêng đất canh tác lúa 16.841 ha Sản xuất lúa hai vụ chính là Hè Thu sớm

và Đông Xuân chính vụ

2.1.2 Đất đai

Đất đai của huyện có nguồn gốc từ trầm tích biển, và thuộc nhóm đất phèn nhẹ đến nặng, chủ yếu là phèn hoạt động hình thành ở các địa hình trũng thấp và thoát thủy kém

2.1.3 Khí hậu

Khí hậu mang tính chất chung của khu vực ĐBSCL Khí hậu nóng ẩm quanh năm, có hai mùa mưa nắng rõ rệt Theo số liệu của trạm đo khí tượng thủy văn Sóc Trăng như sau:

Nhiệt độ trung bình hàng năm cao và tương đối ổn định, mùa khô nhiệt độ

dao động mạnh hơn mùa mưa, biến thiên nhiệt độ trong ngày lớn

Nắng có tổng số giờ trong năm là 2396 giờ Số giờ nắng bình quân là

7giờ/ngày, trung bình là 230 giờ/tháng Nắng nhiều ở các tháng 3, 4, 5

Bốc hơi: lượng nước bốc hơi biến đổi theo mùa:

+ Lượng bốc hơi cao nhất : 3 mm/ngày đêm (tháng 3)

+ Lượng bốc hơi thấp nhất : 1,7 mm/ngày đêm (tháng 10)

+ Lượng bốc hơi trung bình: 2,25 mm/ngày đêm

Gió bị ảnh hưởng chế độ gió mùa:

+ Gió mùa Đông bắc từ tháng 12 năm trước đến cuối tháng 4 năm sau

+ Gió Tây nam từ tháng 5 đến tháng 11

+ Mùa mưa từ tháng 5 và kết thúc ở tháng 11 dương lịch

+ Mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 dương lịch

Trang 18

7

Lượng mưa bình quân năm là 1846 mm, tập trung 90% vào mùa mưa Số ngày mưa bình quân là 136 ngày

2.1.4 Nước và chế độ thủy văn

Nước: Ngã Năm nằm trong vùng ngọt hóa bán đảo Cà Mau, có nguồn nước

ngọt quanh năm Nguồn nước cung cấp cho sản xuất chủ yếu là hệ thống Kênh Quản

Lộ Phụng Hiệp và hệ thống sông rạch nối liền với các huyện Mỹ Tú và Long Mỹ Hàng năm trên địa bàn Huyện luôn bị ảnh hưởng lũ từ tháng 9 đến tháng 11 DL, mức

+ Từ tháng 9-4 DL nguồn nước phục vụ cho sản xuất nông nghiệp là nước mưa

và chủ yếu từ thượng nguồn đổ về thông qua hệ thống Kênh rạch: kênh Quản lộ Phụng Hiệp, và các sông lớn nối liền với huyện Long Mỹ Nguồn nước tương đối tốt, ít bị nhiễm phèn Tuy nhiên có một phần ở các xã Vĩnh Biên, Vĩnh Quới, Mỹ Quới và Mỹ Bình bị ảnh hưởng mặn ở cuối vụ Đông xuân và đầu vụ Hè thu sớm (khoảng tháng 3-5 DL)

Chế độ thủy văn: chịu ảnh hưởng bởi chế độ thủy văn của sông Hậu Tuy

nhiên, với vị trí nằm sâu trong phần đất liền với sự điều tiết của hệ thống kênh Quản lộ Phụng Hiệp nên biên triều khá ổn định và không ảnh hưởng đến sản xuất

2.1.5 Tài nguyên sinh vật

a Các loại cây trồng

− Cây lúa: Có hơn 10 giống lúa được gieo trồng phổ biến tại huyện từ các

giống chất lượng cao như ST3, ST5 đến các giống cao sản như OM 576, IR88, OM3536, v.v

− Rau màu: Bao gồm một tập đoàn phong phú như khổ qua, dưa leo, dưa hấu,

gừng, bí đỏ, cà chua, v.v Trong đó có tập đoàn giống địa phương bao gồm hành lá,

Trang 19

hành tím, hẹ, rau cần, rau muống, rau thơm, cải bẹ xanh, cải ngọt, v.v và một tập đoàn giống nhập từ vùng nhiệt đới (Đà Lạt) bao gồm bắp cải, xu hào, cà chua, v.v

− Cây công nghiệp ngắn ngày: Bao gồm đậu nành, cải bắp nhưng diện tích

không đáng kể

− Cây lâu năm: Cây lâu năm ở đây chủ yếu là các loại cây phân tác và vườn tạp

có giá trị rất thấp về mặt kinh tế Bên cạnh đó, còn có một số ít cây ăn trái quy mô nhỏ

lẻ bao gồm các loại như mít các loại, xoài, bưởi, cam sành, quýt đường, vú sữa, dừa các loại, v.v Ngoài ra còn có các loại cât ăn trái khác như chanh, mận, ổi, mãng cầu xiêm, đu đủ, v.v Nhìn chung, các loại cây ăn trái kể trên chủ yếu trên đất vườn tạp, vườn chuyên canh có diện tích không đáng kể

b Vật nuôi

Bao gồm các loại vật nuôi như heo, bò, trâu, dê, cừu, gà, vịt với những nhóm giống khác nhau

2.1.6 Tài nguyên thủy sản

Nguồn tài nguyên thủy sản của huyện Ngã Năm là thủy sản nước ngọt với đặc tính đa dạng và phong phú, bao gồm nhiều loại thủy sản nước ngọt như: lóc, rô đồng, trê, sặc rằn, thát lát, chim trắng, cá tra, mè vinh, hường, mè trắng, rô phi,… và một số thủy đặc sản khác như: basa, cá sấu, rùa, lươn, ếch cũng được một số ít hộ dân nuôi thử nghiệm Thủy sản tự nhiên có chủ yếu ở các sông, kênh, rạch nhưng không đáng

kể, chủ yếu là các thủy sản nuôi trong các mô hình lúa – cá, tràm – cá, và trong các ao, mương Với đặc tính này, sự phát triển của ngành thủy sản phụ thuộc vào khả năng đầu tư nuôi thủy sản và các điều kiện thị trường

2.1.7 Tài nguyên rừng

Ngã Năm không có rừng tự nhiên, tài nguyên rừng ở đây là rừng trồng (rừng tràm); ngoài lâm trường tại xã Long Bình thuộc Tỉnh quản lý, các khu rừng tràm tập trung của Huyện đã và đang hình thành với quy mô khoảng 200 – 500 ha tại các vùng đất trũng phèn sản xuất lúa kém hiệu quả Nhìn chung, tài nguyên rừng của Huyện đang có lợi thế phát triển do khả năng thích nghi tốt với vùng đất kém điều kiện phát triển, tính hiệu quả và khả năng khai thác các mô hình sản xuất kết hợp (tràm – cá)

Trang 20

9

2.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

2.2.1 Phát triển kinh tế chung

a Giá trị sản xuất (GRP – Gross Regional Product)

Theo giá cố định, giá trị sản xuất năm 2005 đạt 463.5 tỷ đồng chiếm 4,88% giá trị sản xuất của tỉnh Sóc Trăng Tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2001 – 2005 là 6,2% thấp hơn tốc độ tăng trưởng bình quân của cả nước (8,4%)

Xét về tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất trong từng khu vực kinh tế trong giai đoạn 2001 – 2005 thì cả 3 khu vực đều có tốc độ tăng trưởng hàng năm khá ổn định., trong đó tốc độ tăng trưởng bình quân khu vực I là 5,0%; khu vực II là 18,9%; khu vực III là 16,7%

Xét về cơ cấu kinh tế trong giai đoạn 2001 – 2005 thì khu vực I chiếm tỷ trọng lớn (90%), khu vực II và III chiếm tỷ trọng thấp (10%) Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng dần khu vực II và III Đây là dấu hiệu tích cực về chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo quy luật chung của Tỉnh và của cả nước theo hướng tăng dần cơ cấu kinh

tế phi nông nghiệp

Nhận xét:

- Kinh tế tăng trưởng ổn định nhưng vẫn còn ở mức thấp

- Nền kinh tế vẫn còn mang tính chất thuần nông, vai trò kinh tế phi nông nghiệp chưa được phát huy, chưa ngang tầm với vị trí chiến lược của Huyện, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn chậm

b Giá trị gia tăng (VA – Value Added)

Theo giá cố định, GTGT của Huyện năm 2005 đạt 243,67 tỷ đồng chiếm 5,14% giá trị gia tăng của toàn tỉnh Sóc Trăng Tốc độ tăng bình quân của GTGT giai đoạn

2001 – 2005 là 5,6% thấp hơn tốc độ GTGT của tỉnh (47%)

Xét về tốc độ tăng trưởng GTGT trong từng khu vực kinh tế thì khu vực II có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao nhất (18,7%), khu vực III là 17,1% và khu vực I là 4,8%

Xét về cơ cấu kinh tế theo GTGT thì khu vực I chiếm tỷ trọng rất cao (93%), tổng khu vực II và III chiếm tỷ trọng 7% Cơ cấu kinh tế theo GTGT chuyển dịch theo hướng tăng dần khu vực II và III Điều này cho thấy khu vực II và III đang có dấu hiệu phát triển

Trang 21

c Thu nhập bình quân đầu người

Bảng 2.1 Thu Nhập Bình Quân Đầu Người Huyện Ngã Năm 2001 – 2005

4.87 309,2

5.143 326,2

5.458 346,5

5.497 349,0

5.532 351,2

1,056 1,056

1,061 1,061

1,007 1,007

1,129 1,129

1,136 1,136

Nguồn tin: Phòng Thống kê huyện Ngã Năm

Ghi chú: Bảng trên dùng giá so sánh năm 1994

Theo giá cố định, thu nhập bình quân đầu người năm 2005 của Huyện đạt 5.53 triệu đồng (khoảng 351 USD), tốc độ tăng trung bình qua 5 năm là 7,78%

Thu nhập bình quân đầu người có xu hướng tăng mạnh vào những năm cuối giai đoạn 2001 – 2005 và đạt 351 USD vào năm 2005 Tuy nhiên, mức này vẫn còn thấp so với mức bình quân của cả nước nên khả năng tích lũy của người dân chưa được cao Chính vì vậy, mọi sự đột phá về phát triển kinh tế đòi hỏi phải có sự hỗ trợ đầu tư từ các nguồn bên ngoài Đây là yếu tố rất quan trọng mà Huyện cần phải chú ý khi xây dựng chính sách phát triển kinh tế

2.2.2 Dân số và lao động

a Dân số

Năm 2005, toàn Huyện có 78.146 người, chiếm 9% dân số toàn tỉnh Mật độ dân số trung bình là 332 người/km2, thấp hơn mật độ bình quân của Tỉnh (370 người/km2) Tốc độ tăng dân số tự nhiên của Huyện giảm qua các năm, cụ thể là năm

2001 có tốc độ tăng là 1,58%, đến năm 2005 giảm xuống còn 1,41%, điều này cho thấy công tác kế hoạch hóa gia đình của Huyện khá tốt

Trang 22

Đặc điểm dân số của huyện Ngã Năm là có tỷ lệ cộng đồng dân tộc Kinh chiếm hơn 92% dân số toàn huyện, phần lớn người Kinh có mặt bằng dân trí tương đối cao, trình độ thâm canh tăng vụ, khả năng ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và ý thức phát triển kinh tế, đây là một lợi thế lớn so với các Huyện khác trong việc vận dụng nhanh tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi theo định hướng phát triển nông nghiệp – nông thôn chung của Huyện

b Lao động

Huyện có hơn 84% lực lượng lao động làm việc trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp và thủy sản; trong đó, có khoảng 83% làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp Lĩnh vực phi nông nghiệp chiếm 16%; trong đó, tỷ lệ lao động trong lĩnh vực công nghiệp – xây dựng là 1,97%, lĩnh vực thương nghiệp và dịch vụ là 13,78% Qua đó cho thấy, lĩnh vực công nghiệp – xây dựng, thương mại và dịch vụ chưa tạo được nhiều việc làm cho lao động nông thôn

đó chủ yếu là trường tiểu học chiếm nhiều nhất với số lượng là 13 trường, trường PTTH và mẫu giáo thì còn rất ít Với 425 phòng học, 619 lớp học, 783 giáo viên, và 20.109 học sinh, bình quân mỗi lớp học có 32 học sinh

Nhìn chung, Huyện không có lớp học ca 3, mỗi xã đều có trường THCS, có 2 trường THPT tại thị trấn Ngã Năm và xã Mỹ Qưới So với yêu cầu phát triển giáo dục như hiện nay thì số trường mẫu giáo và trường cấp III chưa đáp ứng, các trường mẫu giáo còn lồng ghép trong các trường tiểu học Như vậy, để nâng cao trình độ dân trí cho toàn Huyện phải có sự đầu tư mở rộng trường điểm mẫu giáo và trường cấp III

Trang 23

bệnh viện, 1 phòng khám đa khoa khu vực ở xã Tân Long và 5 trạm y tế

Các cở sở y tế có tổng số giường bệnh là 65 giường, trong đó có 30 giường

bệnh tại bệnh viện huyện, 15 giường bệnh tại phòng khám đa khoa khu vực và 20

giường bệnh tại 5 trạm y tế xã, phường

Tính đến năm 2005, tổng số cán bộ y tế là 61 người, trong đó số cán bộ ngành y

là 55 người và ngành dược là 6 người

Nhìn chung, hệ thống và dịch vụ y tế của huyện còn rất nhiều hạn chế về số

lượng cũng như về chất lượng Do đó, mạng lưới y tế cần được đầu tư phát triển đồng

thời cần có chính sách để khuyến khích đội ngũ cán bộ y bác sỹ về làm việc tại Huyện

nhằm đảm bảo điều trị, chăm sóc sức khỏe

2.2.5 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp

Bảng 2.4 Cơ Cấu Sử Dụng Đất Đai Huyện Ngã Năm

Trang 24

Qua bảng cơ cấu sử dụng đất đai của Huyện ta thấy đất nông nghiệp là 30.662

ha chiếm diện tích lớn nhất 87,68% tổng diện tích đất của huyện, xếp thứ hai là đất

chuyên dùng chiếm 5,11%, tiếp theo là đất chưa sử dụng và đất lâm nghiệp, đất khu

dân cư chiếm tỉ lệ thấp nhất

Hình 2.1 Biểu Đồ Cơ Cấu Đất Đai

Nguồn tin: Kết quả điều tra

Với đặc điểm cơ cấu đất nông nghiệp chiếm tỷ lệ cao nhất đây cũng là điều kiện

thuận lợi cho các hoạt động sản xuất nông nghiệp

Bảng 2.5 Cơ Cấu Các Loại Cây Trồng Huyện Ngã Năm

- Rau đậu các loại 1.070 2,82

- Cây công nghiệp ngắn ngày 70 0,18

2 Cây lâu năm 2.607 6,88

Trong đó:

- Cây công nghiệp lâu năm 359 0,94

- Cây ăn quả 575 1,51

Nguồn tin: Niên giám Thống kê huyện Ngã Năm, 2005

Trang 25

Trong tổng diện tích các loại cây trồng thì cây trồng chủ yếu là cây hàng năm,

trong đó cây lúa chiếm diện tích lớn nhất 89,75%

2.3 Hiện trạng phát triển nông thôn

2.3.1 Thủy lợi

Toàn Huyện có 482 tuyến kênh với tổng chiều dài 729,326 km; trong đó 75 tuyến kênh tạo nguồn có chiều dài 296,621 km và 407 tuyến kênh nội đồng có chiều dài 432,075 km

Hệ thống cống: tính đến năm 2005, toàn Huyện có 57 cống các loại, trong đó có

11 cống ngầm và 46 cống hở Hệ thống cống của huyện rãi đều ở các xã

2.3.2 Giao thông

Hệ thống giao thông là hệ thống quyết định cho sự phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn Do đó, trong những năm qua, hệ thống giao thông nông thôn được chú trọng xây dựng, nhiều tuyến đường liên xã và ấp đã được bê tông hóa và nhựa hóa Tính đến năm 2005, toàn Huyện có 91 tuyến đường các loại với tổng chiều dài 390,15

km, và 5 tuyến đường nhựa với tổng chiều dài 33,72 km

2.3.3 Mạng lưới điện khí hóa nông thôn

Tính đến năm 2005, toàn huyện Ngã Năm có 418 km đường dây điện, trong đó

có 158 km đường dây trung thế và 260 km đường dây hạ thế, 210 trạm biến áp với dung lượng là 8.800 KVA

Số lượng điện bình quân cung cấp cho huyện trong giai đoạn 2001 – 2005 là 7,571 Kwh/năm, tương ứng với tốc độ tăng cung cấp điện là 36,08%/năm

2.3.4 Cơ giới hóa

Trong những năm gần đây tốc độ phát triển cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp của huyện diễn ra khá nhanh Sự phát triển cơ giới hóa cho thấy một tiềm năng phát triển thâm canh tăng vụ trong sản xuất nông nghiệp cũng như phát triển quy mô sản xuất, tăng năng suất lao động

Trang 26

CHƯƠNG 3

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Thuốc bảo vệ thực vật

3.1.1 Khái niệm chung

Thuốc bảo vệ thực vật là những hợp chất hóa học (vô cơ, hữu cơ), những chế phẩm sinh học (chất kháng sinh, vi khuẩn, nấm, siêu vi trùng, tuyến trùng, v.v), những chất có nguồn gốc thực vật, động vật được sử dụng để bảo vệ cây trồng và nông sản, chống lại sự phá hại của những sinh vật gây hại (côn trùng, nhện, tuyến trùng, chuột,

chim, thú rừng, nấm, vi khuẩn, rong, rêu, cỏ dại, v.v)

3.1.2 Thuốc BVTV sinh học

Là các chế phẩm sinh học có nguồn gốc từ các hợp chất có trong tự nhiên không chứa độc tố gây hại cho người, ít gây ô nhiễm môi trường và không tiêu diệt các

thiên địch có ích trong quá trình tiêu diệt sâu bệnh hại cây trồng

Theo quy định tại Điều I, Chương I, Điều lệ Quản lý thuốc BVTV (ban hành kèm theo nghị định số 58/2002/NĐ-CP ngày 03/06/2002 của Chính phủ), ngoài tác dụng phòng trừ sinh vật gây hại tài nguyên thực vật, thuốc BVTV còn bao gồm cả những chế phẩm có tác dụng điều hòa sinh trưởng thực vật, các chất làm rụng lá, làm khô cây giúp cho việc thu hoạch mùa màng bằng cơ giới được thuận tiện (thu hoạch bông vải, khoai tây bằng máy móc) Những chế phẩm có tác dụng xua đuổi hoặc thu hút các loài sinh vật gây hại tài nguyên thực vật đến để tiêu diệt

Ở nhiều nước trên thế giới thuốc BVTV có tên gọi là thuốc trừ dịch hại (Pesticide) Sở dĩ gọi là thuốc trừ dịch hại là vì những sinh vật gây hại cho cây trồng

và nông sản (côn trùng, nhện, tuyến trùng, chuột, chim, thú rừng, nấm, vi khuẩn, rong rêu, cỏ dại, v.v) có một tên chung là những dịch hại, do vậy những chất dùng để diệt trừ chúng được gọi là thuốc trừ dịch hại

Trang 27

Từ xưa đến nay, trong sản xuất nông nghiệp, thuốc BVTV là một vật tư cần thiết để góp phần hạn chế dịch hại, bảo vệ cây trồng, giữ vững và nâng cao sản lượng, chất lượng nông sản Hiện nay, sử dụng thuốc BVTV cũng là một biện pháp quan trọng trong hệ thống các biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp (IPM)

Vài nét về lịch sử Một nghìn năm trước Công nguyên, người Trung Quốc đã

biết sử dụng lưu huỳnh như một chất xông hơi diệt nấm Tương tự, hàng nghìn năm trước đây người Châu Âu cũng đã dùng lưu huỳnh trong phòng trừ nấm bệnh trên cây

ăn quả

Đến thế kỷ XVII, người ta đã biết dùng dịch chiết lá cây thuốc lá phun lên cây

để diệt sâu Sang thế kỷ XIX, các loại thuốc trừ sâu như rotenon từ rễ cây Derris

eliptica, pyrethrum chiết từ hoa cúc (Chrysanthemum) đã được sử dụng để diệt sâu

Sau đó, một số hợp chất vô cơ như đồng arsenit (Xanh Paris), đồng sulfat + nước vôi [hỗn hợp Bordeaux] đã được dùng để phòng trừ sâu bệnh ở Châu Âu Nói chung, trước Chiến tranh Thế giới lần thứ hai, các loại thuốc trừ sâu mới chỉ giới hạn ở một vài hợp chất của arsen, nicotin, pyrethrum, rotenon, dầu hoả…

Sau Chiến tranh Thế giới lần thứ hai, nhu cầu sử dụng ngày càng lớn các hoá

chất độc để phòng diệt các côn trùng gây hại cho người và cây trồng đã mở ra Kỷ nguyên của các chất hoá học phòng trừ dịch hại Hàng loạt các công trình nghiên cứu

về lĩnh vực này đã được ứng dụng, với những sản phẩm hoá học có đặc tính sinh học

ưu việt Từ đó, một khái niệm mới xuất hiện: thuốc BVTV hữu cơ tổng hợp, mở đầu lầ

thuốc trừ sâu DDT (p,p’-diclodiphenyltricloetan)

Ngày nay, trên thế giới có hàng vạn hoạt chất cùng với nhiều dạng gia công khác nhau được sử dụng để phòng trừ trên một triệu loài sâu, bệnh trong lĩnh vực nông nghiệp

Sử dụng các hoá chất BVTV trong công tác phòng trừ dịch hại, đặc biệt trong nông nghiệp đã, đang và vẫn sẽ trở thành một công cụ không thể thiếu được đối với tất

cả các nước trên thế giới

Tuy nhiên, cùng với sự gia tăng sử dụng các chất BVTV, do tính chất độc hại của chúng đối với người và động vật máu nóng, vấn đề ô nhiễm môi trường sinh thái

và ảnh hưởng tới sức khoẻ con người cũng trở nên trầm trọng Vì vậy, từ những năm cuối thế kỷ XX trở lại đây đã có nhiều loại chất mới có độc tính cao đối với sâu bệnh

Trang 28

nhưng an toàn hơn đối với người và môi trường thay thế cho những loại thuốc trước đây Đó là các loại pyrethroid tổng hợp thế hệ mới, các loại thuốc có nguồn gốc sinh học hoặc tự nhiên… Vì vậy, bức tranh thế giới về các chất BVTV đã thay đổi nhiều so với thế kỷ trước Nó sẽ còn luôn biến đổi theo hướng thân thiện hơn đối với môi trường

3.1.2 Các nhóm thuốc BVTV

Thuốc bảo vệ thực vật được chia thành từng nhóm theo công dụng: thuốc trừ sâu, thuốc trừ nhện hại cây, thuốc trừ tuyến trùng, thuốc trừ ốc sên (nhớt), thuốc trừ chuột, thuốc trừ chim hại mùa màng, thuốc trừ động vật hoang hại mùa màng, thuốc trừ cá hại mùa màng, thuốc xông hơi diệt trừ sâu bệnh hại nông sản trong kho, thuốc trừ nấm (còn gọi là thuốc trừ sâu bệnh), thuốc trừ cỏ dại, thuốc trừ thân cây mộc, thuốc làm rụng lá cây, thuốc làm khô cây, thuốc điều hòa sinh trưởng cây

Trong nhóm thuốc BVTV nêu trên đây, được sử dụng phổ biến hơn cả là các thuốc trừ sâu, thuốc trừ bệnh và thuốc trừ cỏ dại Mỗi loại thuốc BVTV chỉ diệt trừ được một số loài dịch hại nhất định, chỉ thích hợp với những điều kiện nhất định về thời tiết, đất đai, cây trồng, canh tác, v.v

Cơ sở phân loại

Mỗi chế phẩm thuốc có 3 tên gọi: Tên khoa học, tên chung (do Tổ chức tiêu chuẩn Quốc tế quy định) và tên thương mại (tên ghi trên bao bì đăng kí với Nhà nước)

– Tên thuốc: Do nhà sản xuất đặt tên để phân biệt sản phẩm của hãng này với hãng khác

– Hoạt chất: Là thành phần chính của thuốc, quyết định đặc tính và công dụng của thuốc Cùng một hoạt chất có thể có nhiều tên thương mại khác nhau

– Các chất phụ gia: Giúp thuốc phân bố đều khi pha chế, bám dính tốt và loang trải đều trên bề mặt cây trồng khi phun Cùng một hoạt chất nhưng hiệu quả thuốc có thể khác nhau là do bí quyết về các chất phụ gia của mỗi nhà sản xuất khác nhau – Tính độc: Biểu thị bằng LD 50 là liều lượng cần thiết gây chết 50% cá thể thí nghiệm (chuột bạch) tính bằng đơn vị mg/kg thể trọng

Hiện nay, thuốc bảo vệ thực vật được phân loại theo tính độc như sau:

+ Vạch màu đỏ trên nhãn là thuốc độc nhóm I, rất nguy hiểm

+ Vạch màu vàng là thuốc độc nhóm II, cảnh báo có hại

Trang 29

+ Vạch màu xanh da trời là thuốc độc nhóm III, lưu ý cẩn thận

+ Vạch màu xanh lá cây là thuốc độ nhóm IV, ít độc

3.1.3 Các dạng chế phẩm thuốc BVTV thông dụng trong sản xuất Nhà nước

a Chế phẩm ở thể rắn khi dùng không cần hòa với nước

– Thuốc hạt (ký hiệu H, G, Gr): Thuốc ở thể rắn có kích thước như hạt cát, hạt

gạo Kích thước các hạt của một loại chế phẩm thườn tương đối đồng đều Màu sắc thay đổi tùy loại thuốc Rất nhiều loại thuốc hạt dùng chất tải (chất độn) là các hạt cát thô có cở tương đối đồng đều rồi bao bên ngoài một lớp thuốc kỹ thuật theo tỉ lệ nhất định trước hàm lượng hoạt chất thuốc hạt thường không cao (khoảng 10%) Ví dụ thuốc trừ sâu Cazinon 10H (Diazinon), Lorsban 15G (Chlorpyritos) Thuốc hạt được dùng để rải vào đất (không hòa với nước, không trộn thêm với tro, đất bột) theo liều lượng do nhà sản xuất qui định để trừ sâu, trừ bệnh cỏ dại…

– Thuốc bột rắc (ký hiệu BR, D): Thuốc ở thể rắn, hạt mịn, màu sắc thay đổi tùy loại thuốc hàm lượng hoạt chất trong thuốc bột rắc thương không cao (5-10%) Thuốc được dùng phun lên cây hoặc phun lên mặt đất hoặc trộn với hạt giống (không hòa với nước) Thuốc bột rắc ngày nay ít được sử dụng trong sản xuất do có một số nhược

điểm: khi phun trên đồng ruộng thuốc dễ bị gió cuốn đi xa, dễ bị mưa làm rửa trôi v.v

b Chế phẩm ở dạng rắn phải hòa với nước trước khi dùng

– Thuốc hạt phân tán trong nước (ký hiệu WDG, Wg): Thuốc ở thể rắn, dạng hạt thô: màu sắc thay đổi tùy loại thuốc hòa tan với nước để cho vào bình bơm phun lên cây

– Thuốc bột thấm nước (ký hiệu BTN, Wp, DF): Thuốc ở thể rắn, hạt mịn, màu sắc thay đổi tùy theo loại thuốc Được hòa với nước để phun xịt lên cây

– Thuốc bột tan trong nước (ký hiệu SP, Wsp): Thuốc thể rắnhạt mịnmàu sắc thay đổi tùy theo loại thuốc Được hòa tan với nước để phun xịt lên cây

c Chế phẩm ở thể lỏng khi dùng không hòa loãng với nước

− Thuốc UVL: thuốc ở dạng lỏng, bao gồm hoạt chất được hòa tan trong một dung môi đặc biệt và có thêm các chất phụ gia khác Thuốc trong suốt và có màu sắc thay đổi tùy theo loại thuốc Thuốc này khi dùng không phải hòa loãng với nước và phải được phun bằng một loại máy bơm đặc biệt chạy bằng pin Lượng thuốc dùng cho

Trang 30

mỗi ha cây trồng thường rất thấp khoảng 1 lít/ha Dạng thuốc này chỉ mới được sử dụng thử nghệm để phòng trừ sâu hại cải, đay, bông, chưa phổ biến trong sản xuất

d Chế phẩm ở thể lỏng khi dùng phải hòa với nước

 Thuốc nhũ dầu (ký hiệu ND, EC): Thuốc ở dạng lỏng, trong suốt, màu sắc thay đổi tùy theo loại thuốc Được hòa loãng để phun xịt lên cây

 Thuốc dạng dung dịch (ký hiệu DD, AS, SC, SL…): Thuốc ở dạng lỏng, trong suốt, có màu sắc thay đổi tùy theo loại thuốc, hòa loãng để phun xịt lên cây

 Thuốc dạng huyền phù (ký hiệu HP, FL, F): Thuốc ở dạng lỏng, sánh hoặc hơi đặc sệt Thường có màu trắng đục hoặc một số màu khác tùy theo loại thuốc Ở trong bao bì thuốc dễ bị lắng, do vậy phải lắc cho đều trước khi rót đong thuốc

Ngoài những dạng chế phẩm nêu trên đây, trong nông nghiệp còn sử dụng một

số các dạng chế phẩm khác như: thuốc khói để xông hơi ở trong kho hoặc để hun chuột, thuốc ba (ở thể rắn, có hình dạng, kích cỡ và màu sắc thay đổi tùy loại) để trừ chuột, trừ ốc sên

3.1.4 Các phương pháp sử dụng thuốc BVTV

Thuốc BVTV có thể sử dụng theo nhiều phương pháp tùy theo dạng thuốc Các dạng thuốc nước (dung dịch, nhũ dầu, huyền phù nước), các dạng thuốc bột (hoặc hạt) thấm nước hoặc hòa tan dùng hòa với nước để phun lên cây, dạng hạt thô dùng rải xuống đất, có dạng thuốc bột chỉ dùng phun bột

Có nhiều phương pháp phun thuốc:

 Phun mưa: cỡ giọt nước thuốc phun ra có đường kính từ 150-300(Micron=1/1000 mm) Bơm tay và tất cả các kiểu bơm phun thuốc nước đều có thể dùng để phun mưa Do giọt nước thuốc phun ra tương đối lớn nên lượng thuốc cần phun cho một đơn vị diện tích phải nhiều, trung bình 400-600 lít/ha với lúa và rau, màu, từ 800-1000 lít/ha với cây lâu năm đã lớn

 Phun sương: cỡ giọt nước phun ra từ 50-150, lượng nước phun thuốc trung bình 100-200 l/ha với lúa, rau, màu, từ 300-600 l/ha với cây lâu năm đã lớn Chỉ có các loại bơm có động cơ mới có thể phun sương

Trang 31

 Phun mù: cở giọt nước thuốc khoảng 50-60 (dưới 50 gọi là soi khí), lượng thuốc phun từ 5-15 l/ha và chỉ có các loại bơm động cơ có cấu kiện phun mù mới phun được

 Phun lượng cực nhỏ (Ultra Low volum = ULV) Đây là cách phun không dùng nước mà phun trực tiếp bằng thuốc với lượng cực ít (dưới 5 l/ha) Người ta phải chế những loại thuốc và máy bơm chuyên dùng để phun lượng cực nhỏ Do hạt thuốc rất nhỏ nên phương pháp này có ưu điểm là thuốc phân bố đều khắp tán lá cây, thuận tiện cho việc phun thuốc với các cây ăn quả và cây công nghiệp lâu năm, giá thành thấp (chỉ bằng 50-70% với phun mưa hoặc phun sương)

 Phun và rải thuốc bột, thuốc hạt tương đối đơn giản và tốn ít công hơn nhưng lượng thuốc dùng thường cao hơn 1,5-3 lần so với phương pháp phun nước Vì vậy hiện nay người ta có xu hướng chế tạo các dạng thuốc phun nước thay cho phun bột Phương pháp rải thuốc xuống đất vẫn cần thiết để phòng trừ các loại sâu hại sống gần mặt đất và một số cỏ dại

 Phương pháp trộn hoặc ngâm hạt giống, hom giống (xử lý giống) chủ yếu để phòng trừ các nguồn bệnh tồn tại, lan truyền qua hạt và hom giống

 Ngoài ra, nhiều loại thuốc BVTV còn dùng xử lí kho để trừ sâu, mọt bằng phun nước hoặc xông hơi, tẩm vào gỗ trừ mối, mọt, dùng ống tiêm xuống lớp đất sâu quanh gốc cây để trừ tuyến trùng và nấm hại rễ

3.1.5 Bảo quản thuốc BVTV

Thuốc BVTV mua về chưa sử dụng hoặc dùng chưa hết phải được cất giữ trong phòng riêng biệt, không dột khi mưa, có khóa cửa chắc chắn, xa nhà ở và chuồng trại gia súc

Dụng cụ đong thuốc, pha thuốc, bình bơm thuốc, quần áo bảo hộ lao động phải được giặt giũ, rửa sạch sẽ sau mỗi lần phun thuốc và phải được cất giữ trong kho riêng (cùng với nơi lưu chứa thuốc BVTV của gia đình) Tuyệt đối không được dùng các đồ dùng trong sinh hoạt (xô chứa thức ăn, chậu rửa rau vo gạo, muỗng thìa, chén ăn cơm…) để đong pha thuốc

Không trút đổ thuốc dư thừa, chưa dùng hết sang bất kì đồ đựng khác (vỏ chai bia, chai nước mắm, túi xà phòng bột…) Sau khi đã dùng hết thuốc không được dùng

Trang 32

bao bì thuốc BVTV (chai thuốc, bị thuốc BVTV) vào bất kỳ mục đích nào khác: phải hủy và chôn những bao bì này

3.2 Một số lý luận cơ bản về đường cầu

3.2.1 Khái niệm về cầu

Cầu là số lượng hàng hóa hay dịch vụ mà người mua có khả năng và sẵn sàng mua ứng với các mức giá khác nhau trong cùng một thời gian nhất định

Nhu cầu có khả năng thanh toán là một hình thức biểu hiện của nhu cầu Nhu cầu có khả năng thanh toán là một hiện tượng xã hội phức tạp, nó được xác định bởi những điều kiện của sản xuất, những nguyên tắc phân phối sản phẩm giữa các thành viên trong xã hội

Nhu cầu có khả năng thanh toán nằm trong nhu cầu nói chung và không phải tất

cả nhu cầu biểu hiện bằng phương thức nhu cầu có khả năng thanh toán Nhu cầu có khả năng thanh toán là một hình thức biểu hiện nhu cầu không gắn với nhu cầu chung chung, mà gắn với nhu cầu cụ thể về hàng hóa, dịch vụ được thỏa mãn bằng tiền

3.2.2 Cầu cá nhân

Cầu cá nhân là một loại hàng hóa X là một hàm số phụ thuộc vào:

 Giá hàng hóa X (PX)

 Thu nhập của người tiêu dùng (I)

 Thị hiếu, sở thích, khẩu vị của người tiêu dùng (T)

 Giá hàng hóa liên quan (PY)

Hàm cầu được biểu diễn như sau:

Q D X = f ( P X , I , T , P Y )

Lượng cầu hàng hóa X (QD

X) sẽ thay đổi khi một trong những yếu tố sau thay đổi: giá hàng hóa X tăng hoặc giảm, thu nhập của người tiêu dùng, giá của hàng hóa

bổ sung và giá hàng hóa thay thế thay đổi, ngoài ra cùng với sự thay đổi theo thời gian, khẩu vị hay thị hiếu của người tiêu dùng cũng dẫn đến sự thay đổi về lượng cầu Tóm lại mối quan hệ giữa các biến giải thích (yếu tố tác động) với lượng cầu được thể hiện trong bảng sau:

Trang 33

Bảng 3.1 Mối Quan Hệ Giữa các Biến Giải Thích với Lượng Cầu

Nguồn tin: Paul.A.Samuelson, 1995

3.2.3 Cầu thị trường (cầu xã hội)

Đường cầu thị trường là tổng theo hoành độ các đường cầu cá nhân

Ở mức giá nào đó, một cá nhân có lượng cầu riêng, từ đó cầu của thị trường là tổng hợp của các lượng cầu cá nhân

Đồ thị của đường cầu thị trường cho biết mối quan hệ giữa mức giá và tổng số lượng của các cá nhân Đường cầu cá nhân ít co giãn theo giá hơn so với đường cầu thị trường

Cầu thị trường về hàng hóa X nào đó phụ thuộc vào:

– Giá cả của hàng hóa X (PX)

– Thu nhập của người tiêu dùng (I)

– Thị hiếu và sở thích (T)

– Giá cả hàng hóa có liên quan (PX)

– Số lượng người tiêu dùng (N)

Hàm cầu được biểu diễn như sau:

Q D

X = f ( P X , I , T , P Y , N )

3.2.4 Luật cầu

Trong điều kiện các yếu tố khác không đổi (thu nhập, sở thích, giá cả hàng hóa

có liên quan.v.v.) giữa giá và lượng cầu có mối quan hệ nghịch biến:

Khi giá của một sản phẩm hàng hóa tăng thì lượng cầu giảm

Khi giá của một sản phẩm hàng hóa giảm xuống thì lượng cầu tăng

D

X

Trang 34

3.2.5 Một số yếu tố tác động đến đường cầu

a Giá của hàng hóa đó

Mối quan hệ giữa giá và lượng cầu là nghịch biến, tuân theo luật theo luật cầu

có nghĩa là khi giá của một hàng hóa tăng lên dẫn đến lượng cầu giảm và ngược lại khi giá giảm thì lượng cầu tăng Tác động của yếu tố giá làm di chuyển điểm cân bằng dọc theo đường cầu

Hình 3.1 Ảnh Hưởng của Giá Đến Lượng Cầu (Các Yếu Tố Khác Không Đổi)

Nguồn tin : Kết quả tổng hợp Một trong các yếu tố khác thay đổi như là thu nhập, thị hiếu và sở thích, giá các hàng hóa có liên quan sẽ làm dịch chuyển đường cầu Chúng ta sẽ lần lượt khảo sát các yếu tố đó

b Giá cả của các mặt hàng có liên quan

Các mặt hàng này được phân làm 2 loại:

– Đối với hàng hóa bổ trợ: Tăng giá mặt hàng này sẽ có xu hướng làm giảm cầu đối với mặt hàng kia và ngược lại

– Đối với hàng thay thế: Tăng giá mặt hàng này sẽ làm cầu chính mặt hàng đó

và làm tăng nhu cầu về mặt hàng kia và ngược lại

c Thu nhập của người tiêu dùng

Khi thu nhập tăng thì nhu cầu đối với đa số hàng hóa cũng tăng thêm, thường là người tiêu dùng sẽ mua nhiều hơn Tuy nhiên cũng có những trường hợp ngoại lệ là

Trang 35

khi thu nhập tăng thì lượng tiêu thụ hàng hóa đó giảm, để tìm hiểu thêm chúng ta hãy

đi vào tiêu chí phân loại sau:

Hàng thứ cấp: thường là những mặt hàng có nhu cầu giảm khi thu nhập tăng

Hàng thông thường: là những mặt hàng có nhu cầu tăng khi thu nhập tăng Như tên gọi của chúng, đa số là hàng thông thường

Hàng thứ cấp thường: là những hàng rẻ nhưng chất lượng thấp và mọi người người sẽ không muốn khi họ có khả năng chi tiêu nhiều hơn

d Kỳ vọng tương lai

Trong tương lai một sự gia tăng về thu nhập, khẩu vị thay đổi, dân số tăng…sẽ làm dịch chuyển đường cầu sang phải, thể hiện ở đồ thị dưới đây:

Hình 3.2 Sự Dịch Chuyển Do Kỳ Vọng Tương Lai

Nguồn tin : Kết quả tổng hợp

e Quy mô thị trường

Dân số càng tăng dẫn đến lượng cầu (các hàng hóa nói chung) càng tăng Đường cầu có xu hướng dịch sang phải, đồ thị có dạng tương tự như trường hợp kỳ vọng vào tương lai

3.2.6 Các hệ số co giãn của cầu

a Sự co giãn của cầu theo giá

Độ co giãn của cầu theo giá: là số đo độ nhạy cảm của lượng cầu đối với giá Mặt khác, đây còn là phần thông tin chủ chốt của nhiều vấn đề kinh tế

Độ co giãn của cầu theo giá là tỉ số giữa mức thay đổi tính bằng % của lượng cầu một mặt hàng với mức thay đổi % tương ứng về giá của mặt hàng đó

Trang 36

Công thức tính: ED

P =

P dP Q

dQ

=

P P Q Q

Q 

ED

P< 0 phản ánh sự nghiêng (hướng) xuống của đường cầu

Trong đó: PX: sự thay đổi của giá

QX: sự thay đổi lượng cầu

PX : giá cả hàng hóa X

QX : lượng cầu hàng hóa X

Ta có các trường hợp co giãn của cầu theo giá sau đây:

Tóm lại: chúng ta nói rằng độ co giãn của cầu theo giá là cao khi nó là một số

âm có giá trị tuyệt đối lớn, lúc đó lượng cầu sẽ rất nhạy cảm với giá, ngược lại độ co giãn của cầu là thấp khi nó là số âm có giá trị tuyệt đối nhỏ và lượng cầu sẽ tương đối không nhạy cảm với giá cả

Các yếu tố ảnh hưởng đến độ co giãn theo giá của cầu

Trang 37

Độ co giãn của cầu theo giá trong thời gian ngắn thấp hơn so với thời gian dài khi có nhiều khả năng hơn để thay thế bằng những hàng hóa khác có nghĩa là hệ số co giãn theo giá của cầu sẽ phụ thuộc vào:

– Tính sẵn có của các hàng hóa thay thế cho mặt hàng đó

– Thời gian mà số lượng hàng hóa đó đáp ứng được sự thay đổi về giá cả

b Sự co giãn của cầu theo giá chéo

Độ co giãn của cầu theo giá chéo do độ nhạy cảm của lượng cầu của một mặt

hàng đối với sự thay đổi giá của một mặt hàng khác có liên quan

Độ co giãn chéo cho ta biết ảnh hưởng của sự thay đổi giá của một mặt hàng khác mặt hàng i, đến lượng cầu của mặt hàng i

Độ co giãn chéo của cầu một mặt hàng i xét theo sự thay đổi của mặt hàng j là mức thay đổi % trong lượng cầu trong mặt hàng i chia cho mức thay đổi % tương ứng

về giá mặt hàng j

Công thức tính: ED

P =

j j i i

P P Q Q

Trong đó: Qi: Sự thay đổi lượng cầu mặt hàng i

Qi : Lượng cầu mặt hàng i

Pj: Sự thay đổi giá mặt hàng j

Pj : Giá mặt hàng j

ED

P: Độ co giãn chéo của 2 mặt hàng i và j

Ta có các trường hợp co giãn của cầu theo giá chéo như sau:

– Độ co giãn dương ( ED

P > 0) có xu hướng hàm ý rằng các mặt hàng có thể thay thế cho nhau

– Độ co giãn âm ( ED

P < 0) có nghĩa là các mặt hàng có thể bổ sung cho nhau

Do giá trị của hệ số co giãn giá thay đổi dọc theo đường cầu nên khi nói rằng cầu của một hàng hóa là co giãn hay không co giãn là không đúng về mặt kỹ thuật Cầu chỉ co giãn hay không co giãn trong một phạm vi giới hạn nào đó của mức giá Tuy nhiên, vẫn có thể phù hợp khi nói rằng cầu của một hàng hóa là co giãn hay không

co giãn Cách nói ngắn gọn này thể hiện hệ số trong phạm vi thông thường của giá cả

Trang 38

Trong thực tế ước lượng hệ số co giãn giá về cầu, thông thường hệ số được tính ở mức giá trị trung bình của số lượng cầu và giá cả của kết quả điều tra

c Sự co giãn theo thu nhập

Độ co giãn theo thu nhập, đo lường nhạy cảm của lượng cầu đối với sự thay đổi trong thu nhập của người tiêu dùng

Độ co giãn theo thu nhập đối với cầu của một mặt hàng thể hiện % thay đổi trong lượng cầu chia cho % mức thay đổi tương ứng của thu nhập

Công thức tính: ED

P =

I I Q

Trong đó: QX: Sự thay đổi lượng cầu hàng hóa X

I : Sự thay đổi thu nhập của người tiêu dùng

I : Thu nhập của người tiêu dùng

Hàng thứ cấp là mặt hàng khi thu nhập tăng thì lượng cầu về mặt hàng đó giảm

Hàng xa xỉ cũng giống như hàng thông thường, là mặt hàng có cầu tăng khi thu nhập tăng

Hàng thiết yếu là mặt hàng khi thu nhập tăng thì lượng cầu về mặt hàng đó không thay đổi

Trang 39

3.3 Lý thuyết về hành vi người tiêu dùng

Mô hình này có 4 yếu tố mô tả bối cảnh của người tiêu dùng và của thị trường : – Thu nhập của người tiêu dùng

– Giá cả mà người tiêu dùng có thể mua hàng hóa ở mức đó

– Sở thích của người tiêu dùng, sở thích này xếp loại các nhóm hàng theo mức thỏa mãn mà chúng đem lại

– Giả định về hành vi rằng người tiêu dùng cố gắng hết sức để đem lại lợi ích cho bản thân họ Trong số những hàng hóa tiêu dùng mà họ có thể mua được, người tiêu dùng sẽ chọn nhóm hàng có khả năng đem lại sự thỏa mãn tối đa

3.4 Phương pháp nghiên cứu

3.4.1 Phân tích hồi quy

a Lý thuyết xây dựng phương trình hồi quy

Hồi quy là công cụ cơ bản để đo lường kinh tế Phân tích hồi quy là đo lường mối liên hệ phụ thuộc của một biến (gọi là biến phụ thuộc hay biến được giải thích) với một hay nhiều biến khác (được gọi là biến độc lập hay biến giải thích) Phân tích hồi quy được tiến hành theo các bước sau:

Bước 1: Xác định và nêu ra các giả thiết mối quan hệ các biến kinh tế

Trong nghiên cứu đề tài này, kỹ thuật ước lượng hồi quy bằng phương pháp bình phương bé nhất (OLS_ Ordinary Least Squares) được sử dụng dựa trên ba giả thiết của mô hình như sau:

i Mối quan hệ giữa Y và Xi là tuyến tính

ii Xi là các biến số không ngẫu nhiên và các giá trị của nó là không đổi, cố định Ngoài ra, không có sự tương quan hoàn hảo giữa hai hay nhiều hơn các biến độc lập

iii Số hạng sai số có giá trị kỳ vọng bằng không và phương sai không đổi (là hằng số) cho tất cả các quan sát tức là E(εi) = 0 và E(ε2i) = 0 Các biến số ngẫu nhiên εi

là độc lập về mặt thống kê Như vậy, E(εiεj) = 0 với i = j; và các số hạng sai số có phân phối chuẩn

Bước 2: Thiết lập mô hình toán học để mô tả quan hệ giữa các biến số

Như đã trình bày ở trên phương trình hồi quy được sử dụng ở dạng tuyến tính:

Y = α0 + α1X1 + α2X2 +…+ αnX n + ε

Trang 40

 : Hệ số ước lượng (i=1,2,…n)

ui : sai số ngẫu nhiên

Bước 3: Ước lượng các tham số của mô hình (αi)

Các ước lượng này là các giá trị thực nghiệm của các tham số trong mô hình Ngoài ra, theo lý thuyết kinh tế lượng, nếu các giả thiết của mô hình đều thỏa các hàm ước lượng αi là các hàm ước lượng tuyến tính không thiên lệch (BLUE_Best Linear Unbiased Estimation)

Bước 4: Kiểm định các giả thiết đặt ra

Bước 5: Phân tích mô hình

b Xây dựng phương trình đường cầu cho thuốc bảo vệ thực vật

Áp dụng lý thuyết trên để tiến hành xây dựng theo các bước sau:

Trước hết là xác định các biến có ảnh hưởng đến đường cầu của thuốc BVTV

Xác định mô hình toán học: chọn phương trình đường cầu có dạng tuyến tính

a …Xan

n eε Chuyển đổi hàm trên về dạng Log-Log:

LnY = Lnα0 + Lnα1X1 + Lnα2X2 +…+ LnαnXn + εi (B) Bằng phần mềm Eview 3.0 ước lượng các thông số của mô hình

Kiểm định mức ý nghĩa của mô hình về R2, kiểm định Ftest, kiểm định t…

Cuối cùng là phân tích ý nghĩa của mô hình

Ngày đăng: 27/02/2019, 14:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w