Hội đồng chấm thi báo cáo khóa luận tốt nghiệp đại học khoa Kinh Tế, trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hố Chí Minh xác nhận khóa luận “TÌM HIỂU THỰC TRẠNG ĐÓI NGHÈO VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA HOẠT
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
TÌM HIỂU THỰC TRẠNG ĐÓI NGHÈO VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI CÔNG TÁC XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO TẠI XÃ BÌNH KHÁNH, HUYỆN CẦN GIỜ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH,
GIAI ĐOẠN 2004-2006
LÊ THỊ NGỌC HÀ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỂ NHẬN BẰNG CỬ NHÂN NGÀNH KHUYẾN NÔNG VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
Thành Phố Hồ Chí Minh Tháng 12/2007
Trang 2Hội đồng chấm thi báo cáo khóa luận tốt nghiệp đại học khoa Kinh Tế,
trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hố Chí Minh xác nhận khóa luận “TÌM HIỂU THỰC TRẠNG ĐÓI NGHÈO VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI CÔNG TÁC XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO TẠI XÃ BÌNH KHÁNH, HUYỆN CẦN GIỜ,TPHCM, GIAI ĐOẠN 2004-2006.”do Lê Thị
Ngọc Hà, sinh viên khóa 2003-2008, ngành Khuyến Nông và Phát Triển Nông
Thôn, đã bảo vệ thành công trước hội đồng vào ngày…/…/2007
Giáo viên hướng dẫn Tiến sĩ LÊ QUANG THÔNG
Ngày tháng năm 2007
Chủ tịch hội đồng chấm báo cáo Thư kí hội đồng chấm báo cáo
Ngày tháng năm 2007 Ngày tháng năm 2007
Trang 3LỜI CẢM TẠ
Lời đầu tiên tôi xin gửi đến Ba Mẹ- người đã nuôi dạy tôi khôn lớn, cho tôi học hành và luôn bên cạnh tôi những lúc tôi gặp khó khăn trong học tập cũng như trong cuộc sống
Tôi xin chân thành cảm ơn Thầy Lê Quang Thông, Khoa Kinh Tế Trường Đại Học Nông Lâm TPHCM, người đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn cho tôi, để tôi hoàn thành được quyển luận văn này Tôi xin cảm ơn Thầy
Tôi cũng xin cảm ơn tất cả những giáo viên của khoa Kinh Tế, những giáo viên của trường Nông Lâm đã tham gia giảng dạy, cung cấp cho tôi những kiến thức về kinh tế, xã hội, những giá trị văn hóa, đạo đức, giúp tôi hoàn thiện hơn về nhân cách, lối sống và phát huy tốt năng lực bản thân trong việc góp phần xây dựng quê hương đất nước
Để hoàn thành được quyển luận văn này, tôi cũng xin chân thành cảm ơn đến những Cô, Chú tổ trưởng Ban Nhân Dân các ấp, nơi mà tôi tiến hành điều tra phỏng vấn Tôi xin gửi lời cảm ơn đến chú Phó Chủ Tịch xã Đặng Minh Cảnh và chị Lê Thị Hồng Mai-cán bộ chuyên trách XĐGN đã cung cấp cho tôi những tài liệu quý báu liên quan đến đề tài nghiên cứu
Sau cùng tôi xin gửi lời cảm ơn đến những người bạn, những người thân trong gia đình đã động viên, cổ vũ cho tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn
Trang 4NỘI DUNG TÓM TẮT
LÊ THỊ NGỌC HÀ Tháng 12 năm 2007 “Tìm hiểu thực trạng đói nghèo
và ảnh hưởng của hoạt động tín dụng đối với công tác xoá đói giảm nghèo tại
xã Bình Khánh, Huyện Cần Giờ, Thành Phố Hồ Chí Minh, giai đoạn 2004 – 2006”
LE THI NGOC HA December 2007 “Study on poverty and impact of credit activities to poverty reduction at Binh Khanh commune, Can Gio district, Ho Chi Minh city, from 2004 to 2006”
Đề tài được thực hiện nhằm tìm hiểu thực trạng nghèo tại xã Bình Khánh Qua đó, đánh giá công tác xoá đói giảm nghèo thông qua tác động của hoạt động tín dụng Bình Khánh là xã có số nhân khẩu đông hơn so với các xã khác của huyện Là xã có vị trí địa lí thuận lợi cho việc tổ chức các hoạt động sản xuất kinh doanh Mặc dù vậy, do xuất phát từ truyền thống là nghề nông, đời sống của người dân trong xã còn rất thấp với nghề chủ yếu là trồng lúa Vào năm 2002, từ khi có
cơ cấu chuyển đổi , đời sống của người dân có phần được cải thiện Tuy nhiên, qua điều tra phỏng vấn trực tiếp 60 hộ nghèo, chúng tôi đã thấy được tình trạng nghèo hiện nay của địa phương đang trở thành một vấn đề hết sức cấp thiết, đòi hỏi sự quan tâm của các ban ngành, các cấp ở địa phương
Trang 5v
MỤC LỤC
Trang Danh mục các chữ viết tắt ix
Danh mục các bảng x
Danh mục phụ lục xiii CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU 1 1.1 Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Phạm vi nghiên cứu 3 1.3.1 Phạm vi không gian 3
1.4 Cấu trúc luận văn 3
2.1 Đặc điểm, tình hình chung của Xã Bình Khánh, Huyện Cần Giờ 4
2.3 Điều kiện kinh tế - xã hội 6
Trang 6vi
2.4.5 Thông tin liên lạc 11
2.5 Văn hóa giáo dục 11
2.5.3 Vấn đề kế hoạch hóa gia đình 11
2.6 Tình hình sản xuất nông nghiệp năm 2006 13
2.6.4 Các loại vật nuôi cây trồng khác 18
CHƯƠNG 3:NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
3.2 Khái niệm nghèo đói và các tiêu chí đánh giá nghèo đói 21
3.3 Thực trạng nghèo đói 22
3.3.1 Nghèo đói trên toàn thế giới 22
3.3.2 Ngưỡng đánh giá nghèo đói trên thế giới 23
3.4.1 Ngưỡng đánh giá nghèo đói ở Việt Nam 24
3.4.2 Thành quả xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam 24
3.5 Nguyên nhân nghèo đói và vòng luẩn quẩn nghèo đói 25
3.5.1 Nguyên nhân của nghèo đói 25
3.6 Nội dung cơ bản của chương trình mục tiêu quốc gia XĐGN và việc làm
3.6.1 Quan điểm XĐGN và đặc điểm của chương trình XĐGN 27
3.6.2 Mục tiêu, đối tượng và chỉ tiêu của chương trình 27
3.7 Thực trạng đói nghèo và công tác xóa đói giảm nghèo tại xã Bình Khánh 28
3.7.1 Đánh giá công tác XĐGN tại xã Bình Khánh (1992 – 2003) 28
3.7.2 Các giải pháp và chính sách trợ giúp của chương trình 30
3.8 Phương pháp nghiên cứu 31
Trang 7vii
3.8.1 Phương pháp thu thập số liệu 31
3.8.2 Phương pháp nghiên cứu mô tả 32
3.10 Đối tượng nghiên cứu 33 CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 34
4.1 Kết quả thực hiện công tác XĐGN của xã Bình Khánh năm 2006 34
4.1.2 Kết quả thực hiện kế hoạch giảm hộ nghèo năm 2006 35
4.1.3 Công tác huy động các nguồn vốn phục vụ chương trình 36
4.1.4 Công tác quản lý, cho vay vốn XĐGN 36
4.1.5 Các chính sách ưu đãi đối với hộ nghèo 37
4.2 Mục tiêu và nhiệm vụ XĐGN – VL năm 2007 38
4.2.2 Mục tiêu cụ thể 39
4.2.4 Các giải pháp thực hiện đối với chương trình 40
4.3 Cơ cấu tổ chức ban chỉ đạo xóa đói giảm nghèo của xã Bình Khánh 41
4.3.1 Cơ cấu tổ chức 41 4.3.2 Cơ cấu nhân sự 44 4.4 Phân tích đánh giá tình hình thực hiện chương trình XĐGN
4.4.1 Tình hình chung của nông hộ điều tra 44
4.4.2 Trình độ học vấn - đất đai và tình trạng nghèo của nông hộ điều
4.4.3 Tình hình chi tiêu, thu nhập của các nông hộ điều tra 52
4.4.4 Phân tích các nguyên nhân chủ yếu của nghèo đói
4.4.5 Tình hình vay vốn tín dụng của hộ nghèo 55
4.4.6 Khó khăn của nông hộ khi tiếp cận nguồn vốn vay 57
Trang 8viii
4.4.7 Kết quả thực hiện của chương trình xóa đói giảm nghèo
4.4.8 Đánh giá tổng quát tình hình thực hiện chương trình xóa đói
giảm nghèo và những vấn đề còn tồn động của công tác XĐGN
Trang 10x
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BCĐ XĐGN & VL: Ban chỉ đạo xóa đói giảm nghèo và việc làm
UBND: Ủy ban nhân dân
UNESCO: United nations educational scientific and cultural organization: tổ chức văn hóa, khoa học, giáo dục của Liên Hiệp Quốc
KHHGĐ: Kế hoạch hóa gia đình
KHKT: Khoa học kĩ thuật
ESCAP: Ủy ban kinh tế xã hội Châu Á- Thái Bình Dương
Bộ LĐ- TBXH: Bộ lao động - thương binh xã hội
Chính sách KT- XH: Chính sách kinh tế - xã hội
MTTQ: Mặt trận tổ quốc
Trang 121
CHƯƠNG 1
MỞ ĐẦU
1.1 Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu
Trong tiến trình hội nhập quốc tế, vấn đề nghèo đói và phát triển xã hội không còn là vấn đề nội bộ của của từng quốc gia mà trở thành mối quan tâm của hầu hết các quốc gia trên thế giới Nếu vấn đề nghèo đói không dược giải quyết thì không một mục tiêu nào mà cộng đồng quốc tế, quốc gia đặt ra như hòa bình, ổn định, công bằng xã hội…có thể giải quyết được
Việt Nam vốn là nước nghèo có điểm xuất phát thấp, lại trải qua nhiều cuộc chiến tranh, thường xuyên bị thiên tai, nên có nhiều khó khăn trong giải quyết các vấn đề kinh tế xã hội, nhất là vấn đề XĐGN
Với chính sách đổi mới, kinh tế Việt Nam tăng trưởng nhanh, đời sống của dân cư đã được nâng lên một cách rõ rệt Tuy vậy, vẫn còn một bộ phận dân cư, đặc biệt là vùng cao, nông thôn hoặc vùng ven đô thị, thậm chí cả ở vùng đô thị…đang chịu cảnh thiếu thốn, chưa đảm bảo được điều kiện tối thiểu của cuộc sống
Đói nghèo là một vấn đề kinh tế xã hội sâu sắc, muốn giải quyết được vấn đề này đòi hỏi phải trải qua một quá trình lâu dài Giải quyết đói nghèo đòi hỏi phải có sự nổ lực vươn lên từ bản thân người nghèo, sự giúp đỡ của cộng đồng, đặc biệt là nhà nước, các ban ngành phải có định hướng và giải pháp cụ thể thích hợp cho những vùng, những giai đoạn nhất định
Chương trình mục tiêu quốc gia XĐGN và việc làm giai đoạn
2001-2005 là một chương trình tổng hợp có tính chất liên ngành trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, nhằm tạo điều kiện thuận lợi phù hợp
để hỗ trợ người nghèo, hộ nghèo, xã nghèo phát triển sản xuất tăng thu nhập, tiếp cận các dịch vụ xã hội XĐGN, giảm tỉ lệ thất nghiệp ở khu thành thị và
Trang 132
nâng cao tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở khu vực nông thôn, chuyển dịch cơ cấu lao động phù hợp với cơ cấu kinh tế, bảo đảm việc làm cho người có nhu cầu làm việc, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân
Xã Bình Khánh có diện tích tự nhiên là 4345 ha nằm về phía Bắc của Huyện, cách trung tâm thành phố khoảng 16 km, là một trong năm xã nghèo của Huyện Cần Giờ Theo điều tra mới nhất năm 2006, toàn xã có 3725 hộ, trong đó có 1106 hộ thuộc diện nghèo, chiếm 29 % so với tổng số hộ trong xã
Tỷ lệ này thật đáng lo ngại cho công tác XĐGN cũng như các ban ngành liên quan của xã Bình Khánh
Từ những lý do đã nêu ở trên, cũng như sau thời gian tìm hiểu tình hình thực tế trên địa bàn xã Bình Khánh, được sự đồng ý của UBND xã, ban XĐGN
và sự hướng dẫn của thầy Lê Quang Thông – Khoa Kinh Tế Trường Đại Học Nông Lâm, TPHCM Tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “ Tìm hiểu thực trạng đói nghèo và ảnh hưởng của hoạt động tín dụng đối với công tác XĐGN tại xã Bình Khánh, Huyện Cần Giờ, TPHCM, giai đoạn 2004-2006 ”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Tìm hiểu thực trạng nghèo và đánh giá ảnh hưởng của chương trình XĐGN thông qua hoạt động tín dụng.Từ đó đề xuất các giải pháp để XĐGN thích hợp hơn, đạt hiệu quả hơn, nhằm cải thiện sinh kế của người dân nghèo ở
Trang 14CHƯƠNG 3: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CứU
CHUONG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Trang 154
CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN
2.1 Đặc điểm, tình hình chung của Xã Bình Khánh, Huyện Cần Giờ
Xã Bình Khánh có diện tích tự nhiên là 4345 ha, nằm về phía Bắc của Huyện, cách trung tâm Thành Phố 16 km Là một trong năm xã nghèo của Huyện Toàn xã có 3725 hộ với 17645 nhân khẩu được phân bổ trong 8 ấp, gồm 153 tổ nhân dân Bình Khánh là một xã thuần nông của Huyện Cần Giờ, sản xuất chính là nuôi trồng thủy sản và trồng lúa một vụ Các ngành sản xuất như công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp hầu như không có, thương nghiệp dịch
vụ quy mô nhỏ, ngành thủy sản chủ yếu là nuôi tôm sú, đánh bắt tự nhiên sản lượng thấp Tình hình sản xuất trong năm có diễn biến khó khăn bất lợi, dịch bệnh ở tôm đã gây thiệt hại lớn, bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá ở lúa cùng với dịch bệnh cúm gia cầm đã làm ảnh hưởng đến đời sống nhân dân vào việc đầu tư tái sản xuất, từ đó làm ảnh hưởng đến mục tiêu giảm nghèo
2.2 Điều kiện tự nhiên
2.2.1 Vị trí địa lý
Xã Bình Khánh nằm ở phía Bắc của Huyện Cần Giờ, có vị trí địa lý như sau:
Bắc giáp xã Phú Xuân, Huyện Nhà Bè,
Tây giáp xã Hiệp Phước,
Đông Nam giáp với xã Tam Thôn Hiệp,
Nam giáp với xã An Thới Đông, và
Đông giáp với xã Phước Khánh – Huyện Long Thành - Tỉnh Đồng Nai Mục đích sử dụng đất là sản xuất nông nghiệp và đánh bắt thủy sản Là
xã đầu cầu của Huyện Cần Giờ, có vị trí hết sức đặc biệt về kinh tế, quốc phòng, an ninh, là một địa bàn rộng lớn, sông ngòi chằn chịt, cây lá bao phủ,
Trang 165
giao thông trắc trở, đi lại khó khăn Xã nằm ngay giao điểm ngã ba sông Lòng Tàu, được bao bọc bởi hai con sông lớn là sông Lòng Tàu và sông Soài Rạp Là điều kiện thuận lợi cho tàu thuyền ngoài nước ra vào cảng Thành Phố Hồ Chí Minh Trung tâm xã có trục đường chính bằng nhựa dài 9 km nối liền tuyến đường Rừng Sát về trung tâm Huyện, có một bến phà phục vụ cho hành khách qua lại
2.2.2 Khí tượng thủy văn
a Khí hậu
Huyện Cần Giờ mang tính chất khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo,
có hai mùa mưa và nắng rõ rệt, nên nhiệt độ cao và ổn định, Cần Giờ là Huyện
có lượng mưa thấp so với các Quận Huyện khác
Số giờ nắng trung bình 5 - 9 giờ/ngày, các tháng mùa nắng đều đạt trên
240 giờ nắng, cao nhất là tháng 3 với 276 giờ, thấp nhất là tháng 9 với 169 giờ
Chế độ nhiệt độ cao và ổn định, biên độ nhiệt trong ngày từ 5o – 9oC, nhưng giữa các tháng biên độ nhiệt không quá 4oC Nhiệt độ trung bình giữa các tháng từ 25oC đến 29oC Từ tháng 3 đến tháng 5 là thời gian có nhiệt độ cao nhất trong năm, nhiệt độ thấp nhất trong năm ở tháng 7 đến tháng 1 năm sau
Độ ẩm và không khí: Cao hơn các Quận, Huyện khác trong Thành Phố
từ 4% đến 8%, ẩm nhất là tháng 9,83%, khô nhất là tháng 4,74%, độ ẩm cao tuyệt đối là 100%, độ ẩm thấp tuyệt đối là 40%
Lượng mưa: Lượng mưa ở Huyện Cần Giờ thấp, giảm dần từ Bắc xuống Nam, từ 1600 mm xuống 1200 mm Lượng mưa trung bình đạt 150 mm/tháng, tháng 6 và tháng 7 là hai tháng có lượng mưa cao nhất, số ngày mưa trung bình khoảng 95 ngày/năm Mùa mưa ở Cần Giờ thường bắt đầu muộn và kết thúc sớm hơn các nơi trong Thành Phố
Lượng bốc hơi: Trung bình là 120 mm, cao nhất vào tháng 4 là 173mm/tháng, thấp nhất vào tháng 9 là 83 mm
Gió: Hướng gió chủ đạo ở Cần Giờ là gió Đông Nam ứng với mùa khô
từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau, tốc độ 1 – 3 m/s, hướng gió này làm tăng khả năng dồn nước mặn xâm nhập sâu vào đất liền trong mùa khô; gió Tây Nam thổi trong các tháng 5 đến tháng 10, tốc độ lên tới 26 m/s
Trang 176
b Nguồn nước
Toàn Huyện Cần Giờ có hệ thống sông ngòi dày đặc, nguồn nước dồi dào Người dân sử dụng nguồn nước này để nuôi trồng thủy sản, làm muối, phát triển rừng ngập mặn Cần Giờ thành “ Khu dự trữ sinh quyển của thế giới”, rất thuận lợi để phát triển các loại hình du lịch sinh thái.Tuy nhiên, nguồn nước này thường xuyên bị nhiễm mặn, do đó việc sử dụng nguồn nước này cho trồng trọt và sinh hoạt còn hạn chế
c Tài nguyên rừng
Rừng ngập mặn Cần Giờ chiếm hơn một nửa diện tích toàn Huyện, được xem là “ Lá phổi xanh ” của Thành Phố, có ý nghĩa quan trọng trong việc điều hòa khí hậu Rừng có chức năng chính là phòng hộ, nhưng đồng thời cũng mở
ra những triển vọng to lớn về du lịch sinh thái Năm 2000, rừng ngập mặn Cần Giờ đã được UNESCO công nhận là “ Khu dự trữ sinh quyển”
Hệ thực vật rừng ngập mặn chủ yếu là cây đước có nguồn gốc phát tán
từ Indonesia và Malaysia; gồm nhiều kiểu phụ thổ nhưỡng nước mặn, nước lợ
và phụ thứ sinh nuôi trồng nhân tạo Thành phần các loại cây này tương đối đơn giản và có kích thước cá thể dạng trung bình
2.3 Điều kiện kinh tế - xã hội
2.3.1 Dân số
Bảng 2.1: Tình Hình Dân Số Toàn Xã Năm 2006
Hộ Người
17645
8643
9002
3725 4.7
100 48,9 51,1
Nguồn tin: Phòng ban dân số và KHHGĐ
Qua bảng 2.1 cho ta thấy tổng số nhân khẩu toàn xã tính đến cuối năm
2006 là 17645 người, trong đó:
Nam là 8640 người, chiếm 48,9% tổng số nhân khẩu toàn xã
Trang 187
Nữ là 9005 người, chiếm 51,1% tổng nhân khẩu toàn xã
Tổng số hộ toàn xã là 3725 hộ với số nhân khẩu trung bình hộ là 4-5
người
2.3.2 Tình hình sử dụng đất
Đất đai trong nông nghiệp là tư liệu sản xuất chủ yếu Năng suất cây
trồng vật nuôi phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng đất Việc quản lý và sử dụng
đất tốt sẽ góp phần làm tăng thu nhập cho người sản xuất
Bảng 2.2: Cơ Cấu Đất Đai Xã Bình Khánh Năm 2006
Chỉ tiêu Diện tích (ha) Cơ cấu (%)
Nguồn tin: Phòng địa chính xã Bình Khánh
Qua bảng 2.2 cho thấy đa số diện tích đất là đất nông nghiệp (66%) Đời
sống của người dân chủ yếu là nghề nông
Hệ thống sông ngòi dày đặc, diện tích đất sông suối và mặt nước chuyên
dùng cũng chiếm một tỷ lệ rất lớn gần 30% Điều này tạo thuận lợi cho việc
vận chuyển, giao lưu hàng hóa bằng đường thủy, tạo điều kiện cho các ghe tàu
xuất nhập cảng trong và ngoài nước
Tiếp theo đó là diện tích đất ở với 153 ha, chiếm tỷ lệ 3,5% tổng diện
tích Đất chuyên dùng chiếm tỷ lệ là 1,2% với 52 ha Diện tích đất nghĩa trang
gần 7 ha chiếm 0,2% Còn diện tích đất cho tôn giáo, đất chưa sử dụng chiếm
một tỷ lệ không đáng kể
Bảng 2.3: Hiện Trạng Sử Dụng Đất Nông Nghiệp Năm 2006
Trang 198
Đất sản xuất nông nghiệp
Qua bảng 2.3 cho thấy với 2852 ha đất sản xuất nông nghiệp thì đất
trồng cây lâu năm (cây đước, cây ăn trái ) đã chiếm một phần diện tích lớn
nhất, 1789 ha chiếm tỷ lệ gần 63% tổng diện tích đất nông nghiệp Tiếp đó là
diện tích trồng cây hàng năm 604 ha chiếm 21% Trong đó, diện tích đất trồng
lúa là 492 ha chiếm 81% tổng diện tích đất trồng cây lâu năm, phần còn lại là
diện tích trồng các loại cây khác 113 ha chiếm 19% Diện tích đất nuôi trồng
thủy sản chiếm 458 ha chiếm 16% tổng diện tích đất nông nghiệp
Bảng 2.4: Biến Động Đất Đai của Xã Giai Đoạn 2004 – 2006
Diện tích (ha)
Cơ cấu (%)
Diện tích (ha)
Cơ cấu (%)
Số người trong độ tuổi lao động của xã chiếm tỷ lệ cao, nhưng mức học
vấn bình quân còn thấp chiếm tỷ lệ khá cao (54,2%) Vì vậy, khi chia công việc
Trang 209
thì rất khó khăn cho từng việc khác nhau và đòi hỏi phải có vốn kiến thức nhất định để tạo công ăn việc làm cho họ
Bảng 2.5 Cơ Cấu Tuổi trong Thành Phần Dân Số
Tuổi Số khẩu (người) Tỷ lệ (%)
sống hơn
Hình 2.1: Biến Động Thu Nhập Qua các Năm 2004 – 2006
Thu nhập của người dân ở xã có chiều hướng tăng chậm Năm 2004, mức thu nhập là 5.384.000/năm Đến năm 2005 tăng lên 641.000đ/người/năm,
và đến năm 2006 là 6.412.000đ/người/năm, tăng 387.000 người/năm so với
Trang 2110
năm 2005 Nhìn chung, mặc dù mức thu nhập của người dân qua các năm có tăng lên, nhưng hầu như với mức thu nhập này, không đủ cho các khoảng chi tiêu trong gia dình, vì vậy, người dân vẫn chưa thoát khỏi cảnh nghèo đói, vẫn chưa ổn định được cuộc sống của gia đình
2.4 Cơ sở hạ tầng
2.4.1 Giao thông
Trung tâm xã có trục đường chính bằng nhựa dài 9km, nối liền tuyến đường Rừng Sát về trung tam Huyện Xã cũng có một bến phà phục vụ liên tục
cho hành khách qua lại
Hiện xã vẫn còn nhiều tuyến đường bằng đá đỏ, gây rất nhiều khó khăn cho người dân vào mùa mưa Các trục đường liên ấp bằng đá đỏ:
Trục đường Trần Quang Quờn dài 6km,
Trục đường Hà Quang Vóc dài 2 km,
Trục đường Bá Xán dài 3km, và
Trục đường Trần Hưng đạo dài 1,8 km
2.4.2 Nước sinh hoạt
Hiện nay hầu như toàn xã đã có nước sạch để dùng, nguồn cung cấp chủ yếu là nước máy
Có khả năng điều trị bệnh thông thường và sơ cấp cứu ban đầu, đảm bảo phục
vụ chăm sóc sức khỏe cho nhân dân trong địa phương, nhất là bệnh nhân nghèo được khám và cấp thuốc miễn phí
2.4.5 Thông tin liên lạc
Bưu điện của xã hoạt động rất hiệu quả phục vụ các nhu cầu nghe, nhìn,
và thông tin liên lạc của các tầng lớp nhân dân Đến nay, toàn xã có khoảng
Trang 2211
2879 cái điện thoại, bao gồm các mạng vô tuyến, hữu tuyến, điện thoại của điện lực Ngoài ra, còn có hệ thống truyền thông của xã, phục vụ công tác tuyên truyền chính sách, chủ trương và đường lối của Đảng và nhà nước cũng như nhu cầu giải trí của nhân dân
2.5 Văn hóa giáo dục
2.5.1 Văn hóa
Toàn xã có 3725 hộ dân với 17645 nhân khẩu được phân bổ trong 8 ấp, gồm 153 tổ nhân dân Nhưng trên địa bàn chỉ có một địa điểm sinh hoạt văn hóa Điều này đã gây không ít khó khăn cho việc nâng cao nhận thức của người dân, làm cho người dân ít có cơ hội tiếp thu với cộng đồng cũng như gây trở ngại cho việc tuyên truyền, phổ biến những kiến thức, những chủ trương đường lối của Đảng
2.5.2 Giáo dục
Các trường học đều được tập trung xây dựng hoặc nâng cấp, đảm bảo cho việc dạy và học Tình hình giáo dục của Xã được thể hiện như sau:
Bảng 2.6: Tình Hình Giáo Dục của Xã Bình Khánh Năm Học 2005 - 2006
Khoản mục Sồ lượng trường Số lớp học Số học sinh
Nguồn tin: Phòng thống kê Xã Bình Khánh
2.5.3 Vấn đề kế hoạch hóa gia đình
Sự gia tăng dân số đẩy mạnh sự nghiệp xây dựng kinh tế, phát triển văn hóa, giữ gìn và củng cố an ninh quốc phòng, cùng với việc thực hiện chiến lược
ổn định dân số Hạn chế mức gia tăng dân số, nâng cao mức sống của người dân về mọi mặt là đường lối phát triển, xây dựng và bảo vệ đất nước, là sự phấn đấu của cả nước, của mọi người dân Việt Nam chúng ta
Sự gia tăng dân số cũng là một trong những nguyên nhân chính làm cho đời sống của người dân đã nghèo lại càng nghèo hơn Vì thế giảm gia tăng dân
số và cải thiện mức sống dân cư là vấn đề quan trọng mang tính chiến lược
Trang 2312
Khi dân số tăng lên, làm cho công tác quản lý, công tác giải quyết việc làm không tốt, không đáp ứng được lượng lao động dư thừa hiện nay Bên cạnh những gia đình đông con không có điều kiện cho con cái học hành tới nơi tới chốn, các phương tiện học hành cho con cái, phương tiện đi lại và các nhu cầu cho cuộc sống, từ đó cũng có thể là mầm móng dẫn đến các tệ nạn xã hội Một giải pháp để ngăn chặn và làm giảm mức sinh là tuyên truyền sử dụng các biện pháp tránh thai
Bảng 2.7: Tỷ Lệ Phụ Nữ Sử Dụng Biện Pháp Tránh Thai Năm 2006
Tổng số phụ nữ trong độ tuổi sinh sản
Tổng số phụ nữ có chồng
Tổng số phụ nữ dùng biện pháp tránh thai
- Biện pháp tránh thai thông thường
- Biện pháp tránh thai hiện đại
100 79,31 20,69 Nguồn tin: Phòng ban dân số và KHHGĐ
Qua bảng 2.7, cho thấy tổng số phụ nữ có chồng là 3929 người, chiếm 67,86% trong tổng số phụ nữ trong độ tuổi sinh sản Có 3625 phụ nữ sử dụng thuốc ngừa thai, trong đó có 2875 phụ nữ sử dụng biện pháp thông thường, chiếm 79,31% , còn lại là 20,69% sử dụng các biện pháp hiện đại như đình sản, sử dụng thuốc ngừa thai, dùng bao cao su…Điều này cho thấy người dân
đã có ý thức hơn trong việc kế hoạch hóa gia đình, đồng thời đây cũng là chiều hướng tốt cho sự nghiệp xóa đói giảm nghèo
Trang 2413
2.6 Tình hình sản xuất nông nghiệp năm 2006
2.6.1 Nuôi tôm sú
Trong những năm qua, nhờ cơ cấu chuyển đổi vật nuôi cây trồng, từ
trồng lúa sang nuôi tôm 2 vụ/năm Người dân đã phần nào thay đổi được cuộc
sống, con cái có điều kiện học hành và đời sống đỡ vất vả hơn
Bảng 2.8: Diện Tích và Số Lượng Hộ Nuôi Tôm Theo Mô Hình Năm 2006
Tổng số
hộ (hộ)
Diện tích (ha)
Con giống (con)
Tổng
số hộ (hộ)
Diện tích (ha)
Con giống (con)
Nuôi ruộng lúa 289 226,43 27,83 117 103,83 13
Nguồn tin: Phòng thống kê Xã Bình Khánh
` Tuy nhiên, do trình độ học vấn thấp, ít có điều kiện để tiếp thu với
những tiến bộ khoa học kĩ thuật mới, nên đa số những hộ nuôi tôm thường gặp
nhiều khó khăn trong việc xử lý con giống, nguồn nước, bên cạnh đó là dịch
bệnh….làm cho sản lượng thu hoạch thấp, ảnh hưởng rất nhiều đến đời sống
của nông hộ sản xuất
Trang 2514
Bảng 2.9: Sản Lượng Thu Hoạch Nuôi Tôm Sú Theo Mô Hình Năm 2006
Tồng số hộ (hộ)
Sản lượng (tấn)
Năng suất bình quân (tấn/ha)
Tồng số
hộ (hộ)
Sản lượng (tấn)
Năng suất bình quân (tấn/ha) Nuôi ruộng
Trong 310 hộ thả nuôi, nhưng chỉ có 293 hộ có thu hoạch với sản lượng
thu hoạch 148,29 tấn Giá trị sản lượng khoảng 11,121 tỷ đồng (giá bình quân
70.000 – 80.000 đ/kg cỡ 50 con/kg) Nhưng trong 293 hộ có 253 hộ có lãi
chiếm khoảng 80% Trong đó hộ có lãi dưới 15 triệu đồng là 104 hộ chiếm
41% số hộ có lãi
+ Vụ 2
Trong 137 hộ thả nuôi, nhưng chỉ có 124 hộ có thu hoạch với sản lượng
thu hoạch 80,8 tấn Giá trị sản lượng khoảng 6,46 tỷ đồng (giá bình quân
70.000 – 80.000 đ/kg cỡ 50 con/kg) Nhưng trong 124 hộ đó, có 118 hộ cò lãi
chiếm 95% Trong đó hộ có lãi dưới 15 triệu đồng là 20 hộ chiếm 16 % số hộ
có lãi
Tôm bệnh
Vào những tời điểm này, tình hình dịch bệnh đốm trắng bị hạn chế, do
đó thuốc Neguvon đã được bộ thủy sản quy định nằm trong danh mục thuốc
cấm sử dụng trong nuôi trồng thủy sản Hiện tại trạm kiểm dịch Huyện đang sử
Trang 2615
dụng thuốc TCCA để dập dịch bệnh nhưng hiệu quả cho thấy chưa cao, không tiêu diệt tôm bệnh và ký chủ mang mầm bệnh trong ao nuôi
Bệnh phân trắng đã xuất hiện rải rác, nhưng không gây thiệt hại nhiều
do đa số hộ nuôi tôm đã có kinh nghiệm xử lý bệnh bằng cách sát trùng ao nuôi
và tăng cường thay nước, bổ sung men vi sinh
Nguyên nhân tôm bệnh
Thời tiết những tháng đầu vụ thay đổi bất thường, gây bất lợi cho quá trình sinh trưởng và phát triển của tôm Con giống chưa được kiểm tra chặt chẽ
và đầy đủ, nhất là con giống bà con mua trực tiếp từ Vũng Tàu
Môi trường ao nuôi tôm ngày càng xấu do qua nhiều vụ nuôi nhưng chưa được cải tạo tốt, việc đầu tư cơ bản chưa đáp ứng các yêu cầu kĩ thuật cần thiết, còn chủ quan như nuôi tôm không có ao lắng để xử lý nước, do đó môi trường xung quanh có bệnh thì khó khống chế được
Ý thức trách nhiệm của một bộ phận không nhỏ người dân nuôi tôm chưa cao, khi tôm bệnh đã xả nước ra sông rạch khi ao chưa được xử lý nên bệnh có điều kiện lây lan và phát triển trên diện rộng Tình hình bệnh đốm trắng trong năm 2006 tuy có giảm so với năm 2005 do số hộ và diện tích nuôi đầu vụ (trước và sau Tết âm lịch) có giảm nhưng tính chất bệnh vẫn còn diễn biến phức tạp và khá dài
Nguyên nhân tôm bệnh có cả chủ quan lẫn khách quan Song nguyên nhân chính vẫn do người nuôi tôm chưa tuân thủ nghiêm lịch thời vụ đã được khuyến cáo Tuy nhiên, số hộ còn lại hoặc thả sau (đúng thời vụ) thì tôm phát triển tốt, phần lớn thu hoạch đều có lãi nên lợi nhuận bình quân mang lại khá cao ( khoảng 20 triệu/ha/năm) Qua đó cho thấy nghề nuôi tôm sú mặc dù còn nhiều khó khăn, nhưng nếu người nuôi chủ động tổ chức sản xuất đúng mùa vụ
và áp dụng đúng quy trình kỹ thuật cũng như thực hiện tốt những khuyến cáo của các ngành chức năng thì nghề nuôi tôm vẫn phát triển tốt và mang lại hiệu quả kinh tế cao cho địa phương
Về mặt xã hội, đây là ngành giải quyết được tình trạnh chưa có việc làm cho khoảng 1500 lao động có trình độ văn hóa thấp tại địa phương, giúp cho
Trang 2716
nhiều hộ có điều kiện vươn lên ổn định cuộc sống… Đồng thời thúc đẩy các
ngành nghề khác phát triển như thương mại, dịch vụ
2.6.2 Trồng lúa
Bước vào đầu vụ, UBND Xã đã nhận 13 tấn lúa giống của phòng kinh tế
Huyện và bán cho dân gieo cấy (có trợ giá 50%) bao gồm 10 tấn OM và 3 tấn
CS 996
Vụ lúa mùa năm 2006, tình hình thời tiết đầu vụ không được thuận lợi,
lượng mưa ít và phân bổ đều, nước măn kéo dài nên gieo mạ gặp khó khăn và
bị chết nhiều, lúa cấy bị chết nhiều và chậm phát triển đến cuối vụ thời tiết
thuận lợi hơn Nhưng do rầy nâu xuất hiện ngay thời điểm lúa trổ cộng gối vụ
(2 lứa rầy) nên đã ảnh hưởng nhiều đến năng suất cả về số lượng lẫn chất
lượng
Diện tích gieo cấy: Diện tích lúa được tập trung nhiều ở các khu vực
như: Doi Mỹ Khánh, Sông Chà, Xóm Quán và rải rác ở các khu vực đan xen
với ao tôm nên việc theo dõi và quản lý sâu bệnh có khó khăn hơn
Bảng 2.10: Cơ Cấu Giống Lúa Năm 2006
Tổng cộng giống gieo cấy là 24,6 tấn trong đó giống được Huyện bổ trợ
giá 8 tấn, còn lại 16,6 tấn là giống tự có trong dân
Vụ lúa mùa năm 2006 chỉ cấy được 410 ha (giảm 15 ha so với năm
2005) đạt được 68,3% so với kế hoạch
Tình hình sâu bệnh
Chủ yếu là sâu cuốn lá 1,5 ha; riêng chuột phá khoảng 4 ha, thiệt hại
20% và đặc biệt là rầy nâu xuất hiện nhiều ở giai đoạn làm đồng và giai đoạn
Trang 2817
trổ bông Diện tích nhiễm rầy khoảng 80 ha, trong đó có 30 ha nhiễm mật độ cao khoảng 100 con/bụi Diện tích cháy rầy tuy ít nhưng do xuất hiện ở giai đoạn lúa trổ nên làm cho lúa chín sớm, không chắc hạt do đó ảnh hưởng nhiều đến năng suất Khu vực nhiễm rầy tập trung ở các khu vực: Mỹ Khánh, Sông Chà, Xóm Quán
Năng suất
Năng suất bình quân toàn xã ướt đạt 2,45 tấn/ha theo 3 nhóm sau:
Nhóm năng suất cao: 3,2 tấn/ha, diện tích 120 ha, tổng sản lượng 384 tấn
Nhóm năng suất trung bình: 2,4 tấn/ha, diện tích 200 ha, tổng sản lượng
về số hộ nuôi nhỏ lẻ trong khu dân cư đã giảm đi nhiều do ảnh hưởng đến môi
trường xung quanh
Vừa qua, với tác động của dịch cúm gia cầm đầu năm 2004 và 2005, thị trường tiêu thụ mạnh mẽ nên giá heo hơi khá cao (khoảng 2 triệu/tạ) rất có lợi cho người chăn nuôi Thời gian gần đây, giá heo hơi có giảm nhưng vẫn được người nuôi quan tâm đầu tư và phát triển và là mặt hàng chủ lực ở các chợ trên địa bàn xã hiện nay
Dịch cúm gia cầm gây thiệt hại rất lớn cho người chăn nôi Đầu năm
2005, toàn xã có 221 hộ đăng kí tiêu hủy gia cầm với số lượng 19841 con, và
số tiền hổ trợ cho thiệt hại là 290.215.000 đồng Đến cuối năm 2005 thì có 492
hộ nuôi gia cầm, thủy cầm bị tiêu hủy với số lượng là 5872 con Trong đó có
Trang 2918
346 hộ nuôi gia cầm số lượng 4030 con, có 20 hộ nuôi quy mô tổng đàn từ 50 con đến 150 con và 146 hộ nuôi thủy cầm số lượng 1818 con, có 1 hộ nuôi trên
50 con…Tiếp đến năm 2006 đã tổ chức thu gom tiêu hủy 1090 con, trong đó có
653 con gà, 347 con vịt, 88 con ngang, 2 con ngỗng
Ngoài ra, các hộ còn nuôi thêm một số vật nuôi khác như cua (cua cứng, cua lột), nuôi cá…Đặc biệt năm 2006 đã tổ chức nuôi tôm càng xanh Trong năm có 22 hộ nuôi với diện tích là 27 ha với 1,7 triệu con giống Trong đó, có
17 hộ thu hoạch lỗ, nguyên nhân ban đầu là do ao chưa được xây dựng đúng quy trình kỹ thuật, ao quá cạn, thiếu kinh nghiệm trong quản lý, chăm sóc Còn lại 5 hộ nuôi có lãi trên 10 triệu đồng Đặc biệt hộ có lãi 80 triệu đồng Nhưng nhìn chung đây là vật nuôi có nhiều triển vọng vì nó có nhiều ưu điểm như: ít nhiễm bệnh, và không chết hàng loạt Đặc biệt môi trường phát triển tự nhiên của tôm rất phù hợp với môi trường tự nhiên của địa phương Hơn nữa giá tôm thương phẩm hiện nay khá cao, dễ tiêu thụ nên nghề nuôi tôm càng xanh có thể phát triển trong thời gian tới với mô hình luân canh một vụ tôm sú, một vụ tôm càng xanh
2.6.4 Các loại vật nuôi cây trồng khác
Nhìn chung chưa được quan tâm, đầu tư đúng mức như đầu tư thử nghiệm đưa tiến độ KHKT vào áp dụng như mô hình nuôi cua (gồm cua cứng, cua cốm, cua lột), nuôi cá (cá điêu hồng, cá rô phi dòng gret, cá rô đồng, cá
chình lóc, cá mú, cá kèo) nên hiệu quả vật nuôi này chưa cao và chưa rõ nét
Trang 3019
CHƯƠNG 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Cơ sở luận về nghèo
Các quan niệm về nghèo đói thường phản ánh 3 khía cạnh chủ yếu của người nghèo:
Không được thụ hưởng những nhu cầu cơ bản tối thiểu dành cho con người
Có mức sống thấp hơn mức sống nhu cầu của cộng đồng dân cư
Thiếu cơ hội lựa chọn và tham gia vào quá trình phát triển cộng đồng Quan niệm của từng vùng, từng quốc gia, từng khu vực, từng nhóm dân
cư, nhìn chung không có sự khác biệt đáng kể Tiêu chí chung nhất để xác định nghèo đói là thu nhập và chi tiêu
Tại hội nghị về chống nghèo đói do Ủy Ban Kinh Tế Xã Hội Khu Vực Châu Á – Thái Bình Dương ( ESCAP) tổ chức tại Bangkok, Thái Lan vào tháng 9/2003 cho rằng: “ Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư không có điều kiện thõa mãn nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu ấy phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế xã hội, phong tục tập quán của từng vùng
và những phong tục ấy được xã hội thừa nhận.”
Quan niệm của chính người nghèo ở nước ta về nghèo đói đơn giản hơn
Đó là khi hộ có mức thu nhập dưới ngưỡng do bộ LĐ & TBXH qui định và điều kiện hạn chế trong sở hữu hoặc sử dụng các tài sản cần thiết cho sinh kế
Bộ Lao Động Thương Binh Xã Hội đã đưa ra tiêu chí đánh giá ngưỡng nghèo đói thời kỳ 1997 – 1998 như sau:
Hộ đói: Là hộ có thu nhập bình quân tính theo đầu người/tháng dưới 13
kg gạo tương ứng với 45000 đồng
Hộ nghèo:
Trang 3120
Ở miền núi hải đảo < 15Kg gạo/người/tháng tương đương với 55.000 đồng
Ở nông thôn < 20Kg gạo/người/ngày tương đương với 70.000 đồng
Ở thành thị < 25Kg gạo/người/ngày tương đương với 90.000 đồng Theo tiêu chuẩn này thì tỷ lệ nghèo đói ở Việt Nam biến động như sau: năm 1993 là 20,3%, năm 1997 là 17,7%, đến năm 1998 còn 15,5%
Do mức sống của người dân nói chung ngày càng tăng, cùng với định hướng chung là từng bước tiếp cận với các nước phát triển trong khu vực về XĐGN, nên chuẩn nghèo giai đoạn 2001 – 2005 không còn phù hợp với giai doạn mới Vì vậy, việc điều chỉnh chuẩn nghèo cho giai đoạn 2006 – 2010 là hết sức cần thiết Theo quyết định số 170/2005/QĐ - TTg của bộ trưởng bộ LĐ
& TBXH điều chỉnh hộ nghèo giai đoạn 2006 – 2010 của nước ta bắt đầu có hiệu lực ngày 8/7/2005, cụ thể như sau:
Bảng 3.1: Chuẩn Thu Nhập Nghèo Theo Bộ LĐ & TBXH Giai Đoạn 2006 – 2010
Mức thu nhập BQ người/ tháng (đồng)
Mức thu nhập BQ người/ năm (đồng)
Những hộ có mức thu nhập bình quân đầu người thấp hơn hoặc bằng chuẩn nghèo được xác định là hộ nghèo Theo chuẩn nghèo trên, ước tính vào cuối năm 2005, cả nước có khoảng 3,9 triệu hộ nghèo, chiếm 22% số hộ toàn quốc Vùng có tỷ lệ hộ nghèo thấp nhất là vùng Tây Bắc (42%), và Tây Nguyên (38%), thấp nhất là vùng Đông Nam Bộ (9%)
Trang 3221
Hình 3.1: Tỷ Lệ Hộ Nghèo Theo Chuẩn Giai Đoạn 2006 – 2010 Năm 2005
Nguồn tin: ĐT - TTTH
3.2 Khái niệm nghèo đói và các tiêu chí đánh giá nghèo đói
Dựa trên quan niệm của các tổ chức quốc tế đưa ra thì khái niệm chung
về nghèo đói được thể hiện như sau:
Nghèo: Là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có điều kiện vật chất và tinh thần để duy trí cuôc sống của gia đình ở mức tối thiểu trong điều kiện chung của cộng đồng
“ Mức sống tối thiểu ở đây được hiểu là các điều kiện ăn, ở, mặc, và các nhu cầu khác như văn hóa, y tế, giáo dục, đi lại giao tiếp… chỉ đạt ở mức duy trì cuộc sống rất bình thường và dưới đó là đói khổ ” ( Nguyễn Thị Cành, 2001)
Nghèo tuyệt đối: Là việc không thỏa mãn nhu cầu tối thiểu để nhằm duy trì cuộc sống của con người
Nghèo tương đối: Là tình trạng không đạt tới mức sống tối thiểu tại một thời điểm nào đó để nhằm duy trì cuộc sống của con người
Khái niệm nghèo tuyệt đối có xu hường đề cập đến những người đang bị thiếu ăn (nghèo đói) Khái niệm nghèo tương đối đề cập đến những người nghèo nhất về phân phối thu nhập ở một nước nhất định, một vùng, địa phương nhất định
42 33
14
35
23 38
9 18 22
Trang 33lường thống nhất
Chỉ tiêu về nhà ở và các tiện nghi sinh hoạt
Hộ nghèo thường sống trong những căn nhà tồi tàn, nhà tranh vách đất (miền Bắc) hoặc lợp lá dừa, lợp tôn (miền Nam) Đồ dùng sinh hoạt không có
gì ngoài giường gỗ, tre, phảng, và những thứ khác dưới mức trung bình về vật chất Trường hợp cá biệt một người tuy nghèo nhưng vẫn có nhà xây, có đồ dùng khá, đó là tài sản thừa kế hoặc những tài sản có trước khi nghèo
Chỉ tiêu về vật tư sản xuất
Hộ nghèo có ít đất đai, ít công cụ lao động, tư liệu sản xuất thô sơ, một bộ phận hầu như không có đất để canh tác, sản xuất Họ chủ yếu dựa vào sức lao động của mình là chính, ngoài ra họ còn sử dụng đến sức lao động của trâu, bò… hoặc phải làm thêm để kiếm sống, trang trải cho gia đình
Chỉ tiêu về vốn
Vốn là yếu tố quan trọng cho mọi quá trình sản xuất kinh doanh Người nghèo thường không có đủ vốn, họ thường phải vay nợ, những người đói gay gắt phải vay nợ để chi tiêu lương thực cứu đói Ở một số nơi cho vay nặng lãi, người nghèo vay mà không trả nợ được bên nợ chồng chất Đã không ít trường hợp phải bán tài sản, ruộng vườn (nếu có) hoặc làm thuê để trả nợ hoặc bỏ quê
ra Thành Phố lớn để kiếm kế sinh nhai
3.3 Thực trạng nghèo đói
3.3.1 Nghèo đói trên toàn thế giới
Theo số liệu của Ngân Hàng Thế giới thì trong năm 2001 trên toàn thế giới có 1,1 tỉ người (tương đương với 21% dân số thế giới) có ít hơn 1 đô la Mỹ tính theo sức mua địa phương và vì thế được xem là rất nghèo (Năm 1981 là
Trang 3423
1,5 tỉ người, vào thời gian đó là 40% dân số, năm 1987 là 1,227 tỉ người ứng
với 30% và năm 1993 là 1,314 tỉ người tương đương với 29%)
Phần lớn những người này sống ở Châu Á, thế nhưng thành phần những người nghèo trong dân cư tại Châu Phi còn cao hơn nữa Các thành viên của Liên Hiệp Quốc trong cuộc họp thượng đỉnh thiên niên kỉ năm 2000, đã nhất trí với mục tiêu cho đến năm 2015 giảm một nửa số người có ít hơn 1 đô la Mỹ Theo thông tin của Ngân Hàng Thế Giới vào tháng 4/2004 có thể đạt được mục tiêu này nhưng không phải ở tất cả các nước Trong khi đó nhờ vào tăng trưởng kinh tế tại nhiều vùng của Châu Á, tỷ lệ người nghèo giảm xuống rõ rệt ( từ 58% xuống còn 16% tại Đông Á) thì con số những người nghèo nhất lại tăng lên ở Châu Phi ( gần gấp đôi từ năm 1981 đến năm 2001 phía Nam sa mạc Sahara) Tại Đông Âu và Trung Á con số những người nghèo nhất đã tăng lên đến 6% dân số Nếu như đặt ranh giới nghèo là 2 đô la Mỹ thì tổng cộng là 2,7
tỉ người nghèo, gần một nửa dân số thế giới
3.3.2 Ngưỡng đánh giá nghèo đói trên thế giới ( Ngân Hàng Thế Giới )
Đối với nước nghèo: Các cá nhân bị coi là nghèo đói khi có thu nhập dưới 0,5 USD/ngày
Đối với nước phát triển là 1 USD/ngày
Các nước thuộc Châu Mỹ và Caribe là 2 USD/ngày
Các nước Đông Ấu là 4 USD/ngày
Các nước công nghiệp phát triển là 14,4 USD/ngày
Tuy vậy, các quốc gia tự đưa ra chuẩn nghèo của mình, thông thường nó thấp hơn thang nghèo đói của Ngân Hàng Thế Giới đưa ra Ví dụ Mỹ đưa ra chuẩn nghèo là thu nhập dưới 16.000 USD/năm đối với hộ gia đình chuẩn (gia đình 4 người), tương dương với 11,1 USD/ngày/người Trung Quốc đưa ra chuẩn nghèo là 960 nhân dân tệ/người/năm, tương đương 0,33 USD/ngày/người
3.4 Thực trạng nghèo đói ở Việt Nam
Theo số liệu của chương trình Phát Triển Liên Hiệp Quốc ở Việt Nam, vào năm 2004 chỉ số phát triển con người ở Việt Nam xếp thứ 122 trên 177 nước, chỉ số phát triển thế giới xếp 87 trên 144 nước và chỉ số nghèo tổng hợp
Trang 3524
xếp hạng 41 trên 95 nước Cũng theo số liệu của chương trình Phát Triển Liên Hiệp Quốc, vào năm 2002 tỉ lệ nghèo theo chuẩn quốc gia của Việt Nam là 12,9 %, theo chuẩn thế giới là 29% và tỉ lệ nghèo lương thực (% số hộ nghèo ước lượng năm 2002) là 10,87%
3.4.1 Ngưỡng đánh giá nghèo đói ở Việt Nam ( Bộ LĐ & TBXH)
Theo quyết định số 170/2005/QĐ – TTg của thủ tướng chính phủ ngày 8/7/2005, về việc ban hành chuẩn nghèo áp dụng giai đoạn 2006 – 2010 như sau:
Đối với những vùng nông thôn, hộ nghèo là hộ có thu nhập bình quân 200.000đ/người/tháng (2.400.000đ/người/năm)
Đối với khu vực thành thị, hộ nghèo là hộ có thu nhập bình quân 260.000 đ/người/tháng (3.120.000 đ/người/năm)
Tiêu chuẩn nghèo tại Thành Phố Hồ Chí Minh năm 2004 là hộ có thu nhập bình quân < 330.000 đ/tháng (4.000.000 đ/năm)
3.4.2 Thành quả xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam
Tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh ở Việt Nam trong suốt thập kỉ 1990 đã
có tác động quan trọng đến công tác xóa đói giảm nghèo và phát triển xã hội
Tỷ lệ người nghèo, tính theo chuẩn quốc tế, đã giảm liên tục từ 60% vào năm
1990, xuống 58% vào năm 1993, 37% vào năm 1998, 32% vào năm 2000, 29% vào năm 2002 và còn 18,1% vào năm 2004 Vào năm 2006, có khoảng 10,8%
số hộ được xếp vào loại thiếu ăn (nghèo lương thực) theo chuẩn quốc tế
Căn cứ vào chuẩn nghèo quốc gia do Bộ LĐ & TBXH ban hành, tỷ lệ hộ nghèo đã giảm từ hơn 30% vào năm 1990, 30% vào năm 1992, 15,7% vào năm
1998 xuống xấp xỉ 17% vào năm 2001 (2,8 triệu hộ) và 10% vào năm 2002
Theo chuẩn nghèo của chương trình xóa đói giảm nghèo quốc gia, đầu năm 2000 có khoảng 2,8 triệu hộ, chiếm khoảng 17,2 % tổng số hộ trong cả nước, chủ yếu tập trung vào các vùng nông thôn Các vùng nông thôn miền núi, cùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số…Tỷ lệ nghèo còn cao hơn con số trung bình này nhiều Có tới 64% số người nghèo tập trung ở vùng núi phía Bắc, Bắc Trung Bộ, Tây Nguyên và Duyên Hải Miền Trung
Trang 36xã đặc biệt khó khăn) đã có những thay đổi chuyển biến rõ nét Nếu năm 1993,
có tới 60 – 70% số xã nghèo trong diện 135, thì đến năm 2004 giảm xuống còn khoảng 20 – 25%
Số hộ nghèo của năm 2004 là 1,44 triệu hộ, tỷ lệ hộ nghèo là 8,3% đến cuối năm 2005 còn khoảng 7% với 1,1 triệu hộ Như vậy tỷ lệ hộ nghèo năm
2005 đã giảm 50% so với năm 2000
3.5 Nguyên nhân nghèo đói và vòng luẩn quẩn nghèo đói
3.5.1 Nguyên nhân của nghèo đói
Những nguyên nhân chính gây ra nghèo đói có thể phân chia làm 3 nhóm:
Nhóm nguyên nhân do điều kiện tự nhiên – xã hội: thiên tai, bão lụt, hạn hán, khí hậu khắc nghiệt…
Nhóm nguyên nhân chủ quan của người nghèo: thiếu kiến thức làm ăn, thiếu vốn, đông con…
Nhóm nguyên nhân thuộc về cơ chế chính sách: thiếu hoặc không đồng
bộ về chính sách đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cho các khu vực khó khăn
3.5.2 Vòng lẩn quẩn nghèo đói
Người nghèo thường không có vị trí cao trong xã hội, không có quyền lực và họ thường chịu thiệt thòi trong cộng đồng Chúng ta có thể hình dung cơ chế của sự nghèo đói trong một vòng lẩn quẩn:
Trang 3726
Hình 3.2: Vòng Lẩn Quẩn Nghèo Đói
Nguồn tin: Điều tra tổng hơp
Vòng lẩn quẩn nghèo đói có thể được bắt đầu từ việc thiếu vốn sản xuất, đẫn đến đầu tư thấp, do đó thu nhập thấp, điều này làm cho khả năng tiết kiệm của họ thấp, tích lũy về vốn không cao, làm cho họ thiếu vốn để đầu tư thâm canh sản xuất… Điều này tạo nên một vòng lẩn quẩn nghèo đói, và người nghèo khó có cơ hội thay đổi cuộc sống của họ
Vòng lẩn quẩn nghèo đói này gây ra những hậu quả sau
Cản trở tăng trưởng kinh tế, kìm hãm phát triển con người, tăng bất bình đẳng xã hội, phá hủy môi trường và gây ra nguy cơ mất ổn định xã hội
Vòng lẩn quẩn nghèo đói luôn xoay quanh các vần đề thuộc về kinh tế - đời sống xã hội Nhất là làm cho sự cản trở kinh tế, kìm hãm sự phát triển của con người như: suy dinh dưỡng, thất học, tệ nạn xã hội, môi trường sống, bệnh tật…Dẫn đến những bất bình đẳng xã hội, phá hủy môi trường, dẫn đến nguy
cơ mất ổn định xã hội
NGHÈO ĐÓI
Thiếu ăn Bệnh tật
Trang 3827
3.6 Nội dung cơ bản của chương trình mục tiêu quốc gia XĐGN và việc làm giai đoạn 2006 – 2010
3.6.1 Quan điểm XĐGN và đặc điểm của chương trình XĐGN
XĐGN là sự nghiệp cách mạng của toàn dân, là một chính sách xã hội
cơ bản, là hướng ưu tiên trong toàn bộ các chính sách KT – XH Hoạt dộng XĐGN đi đôi với phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn, kinh tế hộ, dịch vụ, ngành nghề, lồng ghép XĐGN với chương trình mục tiêu quốc gia và anh sinh
xã hội Xác định rõ vùng trọng điểm, các hoạt động ưu tiên để tập trung nguồn lực có hiệu quả
Chương trình XĐGN do chính phủ trực tiếp chỉ đạo và bố trí vốn đầu tư hàng năm từ ngân sách nhà nước
Chương trình có cơ chế và bộ máy quản lý, điều hành thống nhất từ trung ương đến các xã
Đối tượng hỗ trợ là người nghèo, xã nghèo, hộ nghèo
3.6.2 Mục tiêu, đối tượng và chỉ tiêu của chương trình
Ngày 5/2/2007, Thủ tướng chính phủ đã kí ban hành quyết định số 20/2007/QĐ – TTg, vế phê duyệt chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo giai đoạn 2006 – 2010 với những nội dung cơ bản như sau:
Mục tiêu tổng quát
Đẩy nhanh tốc độ giảm nghèo, hạn chế tái nghèo; củng cố thành quả giảm nghèo, tạo cơ hội cho hộ đã thoát nghèo vươn lên khá giả; cải thiện một bước điều kiện sống và sản xuất ở các xã nghèo, xã đặc biệt khó khăn; hạn chế tốc độ gia tăng khoảng cách chênh lệch về thu nhập mức sống giữa thành thị và
nông thôn, giữa đồng bằng và miền núi, giữa nhóm hộ giàu và nhóm hộ nghèo
Trang 3928
Đối tượng của chương trình
Đối tượng là người nghèo, hộ nghèo, xã đặc biệt khó khăn, xã nghèo; ưu tiên đối tượng hộ nghèo mà chủ hộ là phụ nữ, hộ nghèo dân tộc thiểu số, hộ nghèo có đối tượng Bảo trợ xã hội (người già, người tàn tật, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn)
Các chỉ tiêu cần đạt được đến năm 2010
Đối với các xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển và hải đảo cơ bản xây dựng đủ các công trình cơ sở hạ tầng thiết yếu theo qui định:
Sáu lượt hộ nghèo được vay vốn tín dụng ưu đãi
Thực hiện khuyến nộng – lâm – ngư, chuyển giao kĩ thuật, hướng dẫn cách làm ăn cho 4,2 triệu lượt người nghèo Miễn, giảm học phí học nghề cho
150 ngàn người (30 ngàn người/năm)
100% người nghèo được nhà nước cấp thẻ bảo hiểm y tế, khi ốm đau được khám chữa bệnh miễn phí Miễn, giảm học phí và khoản đóng góp xây dựng trường cho 19 triệu lượt học sinh nghèo ( trong đó có 9 triệu học sinh tiểu học)
Tập huấn nâng cao năng lực cho 170 ngàn cán bộ tham gia công tác giảm nghèo các cấp, trong đó 95% là cán bộ sơ cấp
Hỗ trợ xóa nhà tạm cho 500.000 hộ nghèo
Phấn đấu 98% người nghèo có nhu cầu được trợ giúp pháp lý
3.7 Thực trạng đói nghèo và công tác xóa đói giảm nghèo tại xã Bình Khánh
3.7.1 Đánh giá công tác XĐGN tại xã Bình Khánh (1992 – 2003)
a Chủ trương chính sách của chương trình
Chương trình XĐGN năm 1992 do Thành Phố, Huyện chủ trương triển khai, cấp Ủy Đảng, chính quyền toàn thể đã học tập quán triệt và nhận thức sâu sắc rằng đây là một chủ trương đúng đắn, kịp thời và hợp lòng dân, nhằm để xóa nạn đói giảm hộ nghèo cho nhân dân vùng sâu vùng xa, vùng khó khăn nghèo đói mà trong suốt 17 năm miền Nam hoàn toàn giải phóng chưa thoát ra cảnh nghèo nàn lạc hậu Chương trình XĐGN đã có nhiều phương án có trọng tâm trọng điểm, phương án trợ vốn, giúp kinh doanh làm kinh tế từ những đồng
Trang 4029
vốn ít ỏi ban đầu nhưng biết tính toán, chí thú làm ăn sẽ có hiệu quả Xã đã
triển khai nhanh và thành lập ban chỉ đạo XĐGN xã do phó chủ tịch phụ trách
văn hóa xã hội làm trưởng ban xây dựng kế hoạch phương án hoạt động cụ thể,
bên cạnh đó được sự quan tâm chỉ đạo của lãnh đạo Huyện, ban chỉ đạo XĐGN
Huyện, và các cơ quan chức năng thường xuyên giúp đỡ bằng nhiều chủ trương
phù hợp và nhiều biện pháp, phương án để thực hiện XĐGN trên địa bàn suốt
11 năm qua
b Những thay đổi do thực hiện công tác XĐGN (1992 – 2003)
+ Hộ nghèo xã quản lý từ năm 1992 – 2003
Đến cuối năm 2003 hộ nghèo trong chuẩn còn 74/3328 hộ,tỷ lệ 2,22% Cuối
năm 2003 thì ấp Bình Trung phấn đấu không còn hộ nghèo
+ Số hộ vượt nghèo theo Thành Phố quy định: (2.500.000
đ/người/năm)
Bảng 3.2: Số Hộ Vượt Nghèo Giai Đoạn 1992 – 2003
Năm Tổng số hộ nghèo (hộ) Số hộ vượt nghèo (hộ)