Tạo ra một môi trường đầu tư thuận lợi là vấn đề thiết yếu để kêu gọi các nguồn vốn đầu tư nhằm phát triển kinh tế địa phương, đó cũng chính là góp phần vào sự tăng trưởng chung của đất
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN ĐẦU TƯ CỦA
CÁC DOANH NGHIỆP Ở CÁC TỈNH THÀNH VIỆT NAM
DƯƠNG THỊ TÚ ANH
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỂ NHẬN VĂN BẰNG CỬ NHÂN NGÀNH KINH TẾ NÔNG LÂM
Thành phố Hồ Chí Minh Tháng 07/2007
Trang 2Hội đồng chấm báo cáo khoá luận tốt nghiệp đại học khoa Kinh Tế, trường Đại
Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh xác nhận khoá luận “CÁC YẾU TỐ ẢNH
HƯỞNG ĐẾN ĐẦU TƯ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP Ở CÁC TỈNH THÀNH VIỆT
NAM” do DƯƠNG THỊ TÚ ANH, sinh viên khoá 29, ngành KINH TẾ NÔNG LÂM,
đã bảo vệ thành công trước hội đồng vào ngày
TS NGUYỄN VĂN NGÃI Người hướng dẫn,
Ngày tháng năm 2007
Chủ tịch hội đồng chấm báo cáo Thư ký hội đồng chấm báo cáo
Ngày tháng năm 2007 Ngày tháng năm 2007
Trang 3LỜI CẢM TẠ
Ghi khắc công ơn ba mẹ sinh thành và dưỡng dục con nên người
Chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu Đại học Nông Lâm Tp Hồ Chí Minh cùng toàn thể quý thầy cô khoa Kinh Tế đã trang bị vốn kiến thức thật sự quý giá cho tôi trong quá trình học tập
Xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Văn Ngãi, người đã tận tâm truyền đạt những kiến thức, kinh nghiệm quý báu cho tôi suốt thời gian thực thực tập vừa qua
Chân thành cảm ơn các bạn bè, người thân đã luôn giúp đỡ và ủng hộ để tôi có thể hoàn thành khoá luận này
Xin chân thành cảm ơn!
Tp Hồ Chí Minh, ngày 15 tháng 07 năm 2007
Sinh viên
Dương Thị Tú Anh
Trang 4ưu tiên hàng đầu của các chính quyền địa phương Không chỉ đơn thuần là việc tăng quy mô đầu tư, mà cả việc khuyến khích nâng cao năng suất đều là những vấn đề then chốt với tăng trưởng bền vững Qua việc lượng hoá các số liệu bằng mô hình cụ thể, các nhân tố tác động mạnh đến thu hút đầu tư là điểm số chi phí không chính thức, điểm số chi phí thời gian, tính minh bạch, GDP và giao thông Các nhân tố còn lại, về
lý thuyết tuy được kỳ vọng là có tác động đến môi trường đầu tư nhưng kết quả mô hình và thực tiễn cho thấy chúng không có các ảnh hưởng Để thu hút ngày càng nhiều các nhà đầu tư, mỗi tỉnh thành cần quan tâm đến việc cải thiện môi trường đầu tư nhiều hơn nữa; thông qua việc cải thiện các yếu tố về chính sách trong ngắn hạn và đầu tư hoàn thiện cơ sở hạ tầng trong dài hạn Tạo ra một môi trường đầu tư thuận lợi
là vấn đề thiết yếu để kêu gọi các nguồn vốn đầu tư nhằm phát triển kinh tế địa phương, đó cũng chính là góp phần vào sự tăng trưởng chung của đất nước và giảm dần khoảng cách chênh lệch kinh tế xã hội giữa các tỉnh, thành
Trang 5MỤC LỤC
Trang Danh mục các chữ viết tắt vii
1.3 Phạm vi nghiên cứu của khoá luận 2
1.4 Cấu trúc của khoá luận 2
2.2.1 Nguồn vốn đầu tư trong nước 7
CHƯƠNG 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18
3.1 Cơ sở lý luận 18
3.1.2 Các nhân tố tác động đến môi trường đầu tư 18 3.2 Phương pháp nghiên cứu 24
3.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 24
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 27
4.1 Phân tích yếu tố ảnh hưởng đến môi trường đầu tư 27
4.1.1 Các yếu tố mềm theo kết quả khảo sát PCI 2006 27
Trang 64.1.2 Phân tích các yếu tố cơ sở hạ tầng 40
4.2 Phân tích định lượng giữa đầu tư và các yếu tố ảnh
hưởng đến môi trường đầu tư 44
4.2.1 Mô hình kinh tế lượng 44
4.2.2 Kiểm định giả thuyết của mô hình 45
4.2.3.Giải thích mô hình hồi qui 49
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
AFTA Khu vực mậu dịch tự do cộng đồng các nước Đông Nam Á (ASEAN
Free Trade Agreement)
ASEAN Cộng đồng các nước Đông Nam Á (Association of South East Asian
DNNN Doanh nghiệp Nhà nước
DNTN Doanh nghiệp tư nhân
ĐBSCL Đồng bằng sông Cửu Long
ĐBSH Đồng bằng sông Hồng
FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investment)
GCNQSD Giấy chứng nhận quyền sử dụng
GDP Tổng sản phẩm quốc nội (Gross Domestic Product)
ICOR Tỷ số biên tế giữa vốn và sản lượng (Incremental Capital Output Ratios) IMF Quỹ tiền tệ quốc tế (International Monetary Fund)
ODA Viện trợ phát triển chính thức (Official Development Assistance)
UBND Ủy ban nhân dân
VCCI Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam
VNCI Dự án Nâng cao Năng lực cạnh tranh Việt Nam (Vietnam
Competitiveness Initiative)
WB Ngân hàng Thế giới (World bank)
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang Bảng 2.1 GDP Theo Giá thực Tế phân theo Khu Vực Kinh Tế từ 1990
Bảng 2.2 Cam Kết và Thực Hiện ODA Thời Kỳ 1993-2001 10
Bảng 2.3 Các Quốc Gia và Vùng Lãnh Thổ thuộc Các Châu Lục Đầu Tư
Vào Việt Nam qua các Thời Kỳ Từ 1988 Đến 2006
13
Bảng 2.4 Tỷ Trọng Vốn FDI của Các Châu Lục Đầu Tư Vào Việt Nam
Bảng 3.1 Giải Thích các Biến Độc Lập của Mô Hình 25
Bảng 4.1 Trọng Số của Các Chỉ Số Thành Phần Báo Cáo PCI 2006 28
Bảng 4.2 Kết Quả Khảo Sát PCI 2006 về Chi Phí Gia Nhập Thị Trường 31
Bảng 4.3 Kết Quả khảo Sát PCI 2006 về Tiếp Cận Đất Đai và Sự Ổn
Định Trong Sử Dụng Đất 32
Bảng 4.4 Kết Quả Khảo Sát PCI 2006 về Tính Minh Bạch và Tiếp Cận
Bảng 4.5 Kết Quả Khảo Sát PCI 2006 về Chi Phí Thời Gian để Thực Hiện
Các Quy Định của Nhà Nước 34
Bảng 4.6 Kết Quả Khảo Sát PCI 2006 về Chi Phí Không Chính Thức 35
Bảng 4.7 Kết Quả Khảo Sát PCI 2006 về Ưu Đãi Doanh Nghiệp Nhà Nước 36
Bảng 4.8 Kết Quả Khảo Sát PCI 2006 về Tính Năng Động và Tiên Phong
của Lãnh Đạo Tỉnh 37
Bảng 4.9 Kết Quả Khảo Sát PCI 2006 về Chính Sách Phát Triển Khu
Bảng 4.10 Kết Quả Khảo Sát PCI 2006 về Đào Tạo Lao Động 39
Bảng 4.11 Kết Quả Khảo Sát PCI 2006 về Thiết Chế Pháp Lý 40
Bảng 4.12 GDP Danh Nghĩa Năm 2005 của 10 Tỉnh, Thành Đứng Đầu
WTO Tổ chức Thương Mại Thế giới
Trang 9Cả Nước 43 Bảng 4.13 Kết Quả Ước Lượng Của Mô Hình Các Yếu Tố Ảnh Hưởng
Đến Đầu Tư của Các Doanh Nghiệp ở Tỉnh Thành Việt Nam 44
Bảng 4.14 Hồi Qui Phụ Cho Các Biến Giải Thích Để Kiểm Tra Hiện Tượng
Đa Cộng Tuyến 46
Bảng 4.16 Kiểm Định Giả Thuyết Về Các Hệ Số Hồi Qui Riêng 48
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang Hình 2.1 Biểu Đồ Cơ Cấu Tổng Sản Phẩm Trong Nước Năm 2005 theo
Giá Thực Tế phân theo Thành Phần Kinh Tế (%) 5
Hình 2.2 Biểu Đồ Cơ Cấu Tổng Sản Phẩm Trong Nước Năm 2005 theo
Hình 2.3 Biểu Đồ Cơ Cấu Vốn Đầu Tư theo Giá Thực Tế phân theo Thành
Hình 4.1 Bảng Xếp Hạng các Tỉnh, Thành theo Chỉ Số Năng Lực Cạnh
Tranh Cấp Tỉnh về Môi Trường Kinh Doanh ở Việt Nam, 2006 30
Hình 4.2 Tỷ Lệ Xã Thuộc Khu Vực Nông Thôn Có Điện Năm 2000 phân
theo Khu Vực 41
Hình 4.3 Tỷ Lệ Xã Thuộc Khu Vực Nông Thôn Có Đường Nhựa Đến Trung
Tâm Xã Năm 2000 phân theo Khu Vực 42
Trang 11DANH MỤC PHỤ LỤC
Phụ lục 1 Kết quả chạy Eview của mô hình
Phụ lục 2 Biểu đồ “hình sao” thể hiện hoạt động của tỉnh theo chỉ số thành phần Phụ lục 3 Số liệu báo cáo PCI 2006 tóm tắt
Trang 12Do nhận thức được vai trò quan trọng của đầu tư phát triển như vậy nên trong những năm vừa qua, nước ta cũng đã có nhiều chính sách và giải pháp để khơi dậy nguồn nội lực và tranh thủ các nguồn lực từ bên ngoài Trên thực tế có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư, tập hợp các yếu tố này tạo nên môi trường đầu tư Đầu tư là để kiếm lợi nhuận, tuy nhiên môi trường đầu tư tốt không phải chỉ nhằm mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp mà nó còn cải thiện các kết quả tạo ra cho toàn
xã hội
Trong một thế giới mở cửa hội nhập, môi trường đầu tư được coi là yêu cầu số một để khơi thông các các dòng vốn từ mọi tầng lớp dân cư trong nước và nước ngoài Một môi trường đầu tư thuận lợi sẽ kích thích, tạo mối quan tâm và là động lực để các doanh nghiệp, doanh nhân có thể toàn tâm toàn ý tập trung trí tuệ, vốn và kĩ thuật nhằm đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, tạo công ăn việc làm; điều này có ý nghĩa quan trọng đối với tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo ở từng địa phương Do vậy cải thiện môi trường đầu tư trong xã hội là một vấn đề thiết yếu góp phần vào sự tăng trưởng chung của đất nước và giảm dần khoảng cách chênh lệch kinh tế - xã hội giữa các tỉnh thành
Trang 13Vấn đề đặt ra là làm thế nào để có thể xác định các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư, từ đó đưa ra những giải pháp thích hợp nhằm cải thiện môi trường đầu tư của các địa phương Được sự đồng ý của khoa Kinh Tế trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh và dưới sự hướng dẫn của Tiến Sĩ Nguyễn Văn Ngãi
khoá luận được thực hiện là “Các Yếu Tố Ảnh Hưởng đến Đầu Tư của Các Doanh Nghiệp ở Tỉnh Thành Việt Nam”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Đề xuất một số giải pháp xúc tiến đầu tư các doanh nghiệp của các tỉnh
1.3 Phạm vi nghiên cứu của khoá luận
Về thời gian: Số liệu mà khoá luận thu thập có phạm vi giới hạn thời gian từ tháng 12/2000 đến 12/2006
Về không gian: Nghiên cứu các doanh nghiệp đang hoat động tại các địa phương trên phạm vi cả nước
Về nội dung: Đề tài thực hiện nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến đầu tư của các doanh nghiệp ỏ các tỉnh thành Việt Nam bao gồm các nhân tố PCI, cơ sở hạ tầng
và GDP Từ đó đưa ra một số đề xuất kiến nghị nhằm xúc tiến đầu tư của các tỉnh
1.4 Cấu trúc của khoá luận
Khoá luận bao gồm năm chương
Chương 1: Mở đầu; nêu lý do, ý nghĩa của việc chọn đề tài Đưa ra các mục tiêu nghiên cứu và đề cập đến những giới hạn về mặt nội dung, địa bàn, thời gian nghiên cứu
Chương 2: Tổng quan; mô tả về tình hình GDP Việt Nam, tình trạng vốn đầu tư
ở Việt Nam, các nguồn huy động vốn của nước ta qua các giai đoạn phát triển Sự ảnh hưởng của vốn đến GDP
Trang 14Chương 3: Nội dung và phương pháp nghiên cứu; trình bày toàn bộ cơ sở lý luận, lý thuyết về các nhân tố tác động đến môi trường đầu tư Nêu lên các phương pháp thu thập và xử lý số liệu
Chương 4: Kết quả và thảo luận; đưa ra những phân tích định tính và các kết luận sau khi đã thực hiện quá trình tính toán và lượng hoá các số liệu bằng mô hình kinh tế lượng cụ thể về các yếu tố ảnh hưởng đến đầu tư, đề xuất giải pháp xúc tiến đầu tư
Chương 5: Kết luận và đề nghị; trên cơ sở kết quả và thảo luận, tác giả cô đọng thành một số kết luận về tình hình các yếu tố ảnh hưởng đến môi trường đầu tư của doanh nghiệp ở các tỉnh thành Việt Nam Từ đó đưa ra các kiến nghị về việc cải thiện môi trường đầu tư nhằm thu hút đầu tư ở các địa phương
Trang 15CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN
Chương 2 mô tả về tình hình GDP của Việt Nam; tình trạng vốn đầu tư bao gồm nguồn vốn đầu tư trong nước và cả nguồn vốn đầu tư nước ngoài Ngoài ra trong chương này cũng đề cập đến tình hình đầu tư của Việt Nam và tìm hiểu ảnh hưởng của vốn đến GDP
2.1 Tình hình GDP của Việt Nam
Sau hai mươi năm thực hiện đổi mới, nước ta đã thực hiện nhất quán chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, nhờ đó đã huy động được nhiều nguồn lực của mọi thành phần kinh tế vào mục tiêu tăng trưởng kinh tế, làm cho
tỷ lệ tiết kiệm và đầu tư trên GDP đều tăng nhanh Cơ cấu GDP theo thành phần kinh
tế đã thay đổi đáng kể (xem bảng 2.1)
Việt Nam là một quốc gia nghèo và đông dân đang dần bình phục và phát triển sau sự tàn phá của chiến tranh, sự mất mát viện trợ tài chính từ khối các nước xã hội chủ nghĩa trước đây, và sự yếu kém của nền kinh tế tập trung Chính sách Đổi Mới năm 1986 thiết lập nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa Các thành phần kinh tế được mở rộng nhưng các ngành kinh tế then chốt vẫn dưới sự điều hành của Nhà nước Sau năm 1986, kinh tế Việt Nam đã có những bước phát triển to lớn và đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế trung bình khoảng 9% hàng năm từ 1993 đến
1997 Tăng trưởng GDP 8,5% vào năm 1997 đã giảm xuống 4% vào năm 1998 do ảnh hưởng của sự kiện khủng hoảng kinh tế châu Á năm 1997, và tăng lên đến 4,8% năm
1999 Tăng trưởng GDP tăng lên từ 6% đến 7% giữa những năm 2000-2002 trong khi tình hình kinh tế thế giới đang trì trệ Nếu năm 2000 tốc độ tăng trưởng GDP đạt 6,79% thì năm 2001 đạt 6,89%; năm 2002 đạt 7,04%
Trang 16Bảng 2.1 GDP theo Giá thực Tế phân theo Khu Vực Kinh Tế từ 1990 đến 2005
cao, thời tiết xấu và dịch cúm gia cầm trở lại nhưng tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế
vẫn đạt mức cao nhất trong 5 năm qua, cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, chất
lượng và hiệu quả được nâng lên Theo số liệu sơ bộ của cục thống kê, tổng sản phẩm
trong nước năm 2005 tăng 8,4% so với 2004, trong đó khu vực nông lâm nghiệp và
thuỷ sản tăng 4%; khu vực công nghiệp xây dựng tăng 10,6% và khu vực dịch vụ tăng
8,5%
Năm 2006, GDP theo giá so sánh ước tính tăng 8,17% so với cùng kỳ năm
trước, trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 3,4%; khu vực công nghiệp
và xây dựng tăng 10,37%; khu vực dịch vụ tăng 8,29% Trong 8,17% tăng trưởng
chung, khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản đóng góp 0,67 điểm phần trăm; khu vực
công nghiệp và xây dựng đóng góp 4,16 điểm phần trăm và khu vực dịch vụ đóng góp
3,34 điểm phần trăm (số liệu Tổng Cục Thống kê, 2006) Cơ cấu kinh tế tiếp tục dịch
Trang 17chuyển theo hướng tăng tỷ trọng khu vực công nghiệp, xây dựng và dịch vụ, giảm tỷ
trọng khu vực nông lâm nghiệp và thuỷ sản
Hình 2.1 Biểu Đồ Cơ Cấu Tổng Sản Phẩm Trong Nước Năm 2005 theo Giá Thực
Tế phân theo Thành Phần Kinh Tế (%)
Nguồn tin: Niên giám Thống kê 2005
Hình 2.2 Biểu Đồ Cơ Cấu Tổng Sản Phẩm Trong Nước Năm 2005 theo Giá Thực
Tế phân theo Khu Vực Kinh Tế (%)
Nguồn tin: Niên giám Thống kê 2005
Với tốc độ tăng trưởng như vậy, từ một nước có nền công nghiệp kém phát
triển, nay Việt Nam đã từng bước xây dựng một nền công nghiệp theo hướng hiện đại,
các nhà lãnh đạo Việt Nam tiếp tục các nỗ lực tự do hoá nền kinh tế và thi hành các
chính sách cải cách, xây dựng cơ sở hạ tầng cần thiết để đổi mới kinh tế và tạo ra các
ngành công nghiệp xuất khẩu có tính cạnh tranh hơn.Việt Nam chính thức trở thành
thành viên thứ 150 của tổ chức WTO ngày 11 tháng 1 năm 2007
Trang 18Dự thảo báo cáo chính trị Đại hội X nêu rõ: “Phấn đấu tăng trưởng kinh tế với nhịp độ nhanh hơn, có chất lượng cao hơn, bền vững hơn và gắn kết với phát triển con người” Coi trọng cả chất lượng và số lượng tăng trưởng nhưng trước hết là chất lượng hiệu quả, nhằm hướng tới mục tiêu trong thời gian tới nền kinh tế Việt Nam sẽ phát triển bền vững, giảm được nguy cơ tụt hậu xa hơn so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới
2.2 Tình hình vốn đầu tư của Việt Nam
2.2.1 Nguồn vốn đầu tư trong nước
Nguồn vốn trong nước được huy động từ nhiều nguồn khác nhau như nguồn vốn nhà nước, nguồn vốn từ khu vực tư nhân và thị trường vốn Trong những năm gần đây, quy mô tổng thu của ngân sách Nhà nước không ngừng gia tăng nhờ mở rộng nhiều nguồn thu khác nhau (thu từ thuế, bán hay cho thuê tài sản thuộc Nhà nước quản lý) Cùng với sự mở rộng quy mô ngân sách, mức chi cho đầu tư phát triển từ ngân sách Nhà nước cũng gia tăng đáng kể, tăng từ 2,3% GDP năm 1991 lên 6,1% GDP năm 1996 (Nguyễn Minh Phong, 2003) Tổng chi đầu tư phát triển từ ngân sách Nhà nước năm 2005 là 85.358 tỷ đồng, bằng 31,9% tổng chi ngân sách Nhà nước và 10,2% GDP (Thống kê của Bộ Tài chính) Cùng với quá trình đổi mới và mở cửa, tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước ngày càng đóng vai trò đáng kể trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Một số kết quả nghiên cứu cho thấy, nếu như trước năm 1990, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước chưa được sử dụng như một công cụ quản
lý điều tiết nền kinh tế thì trong giai đoạn 1991-2000, nguồn vốn này đã có mức tăng trưởng đáng kể và bắt đầu có vị trí quan trọng trong chính sách đầu tư của chính phủ Giai đoạn 1991-1995, nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước mới chiếm 5.6% tổng vốn đầu tư toàn xã hội thì giai đoạn 1996-1999 đã chiếm 14,5% và riêng năm 2000, nguồn vốn này đã đạt đến 17% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, năm 2001, nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà Nước đầu tư vào ngành công nghiệp trên 60% tổng vốn đầu tư (gần 55% số dự án) đã đóng góp quan trọng vào việc chuyển dịch cơ cấu đầu tư và cơ cấu kinh tế (Nguyễn Bạch Nguyệt, Từ Quang Phương, 2003)
Cùng với sự phát triển kinh tế của đất nước, một bộ phận không nhỏ trong dân
cư có tiềm năng về vốn do có nguồn thu nhập gia tăng hoặc do tích luỹ truyến thống tồn tại dưới dạng vàng, ngoại tệ, tiền mặt, nguồn vốn này có thể được huy động thông
Trang 19qua việc phát hành trái phiếu chính phủ và trái phiếu của một số ngân hàng thương mại quốc doanh Ngoài ra, khi nói đến nguồn vốn từ khu vực tư nhân thì phải kể đến phần đóng góp không nhỏ của các doanh nghiệp dân doanh Từ khi thực hiện chủ trương đổi mới, khu vực kinh tế tư nhân ở nước ta đã phát triển nhanh chóng và thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia Theo tính toán của Tổng Cục Thống kê, cho tới thời điểm đầu năm 1990 kinh tế tư nhân đã đầu tư 3.544 tỷ đồng, năm 1999 là 21 tỷ đồng Nhưng từ khi Luật Doanh Nghiệp ra đời, trong gần bốn năm (từ năm 2000 đến năm 2003), chỉ tính riêng các loại hình doanh nghiệp tư nhân đã đầu tư đạt hơn 145000 tỷ đồng, cao hơn vốn đầu tư nước ngoài và xấp xỉ bằng vốn đầu tư của doanh nghiệp Nhà nước cũng như tín dụng Nhà nước trong cùng kỳ Tỷ trọng vốn đầu tư của khu vực kinh tế tư nhân tăng lên nhanh chóng trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội: từ 20% (năm 2000) lên 25% (năm 2001), 25,3% (năm 2002) và gần 27% (năm 2003) “Thực tế cho thấy, đầu tư tư nhân đã đóng vai trò quan trọng, thậm chí là nguồn vốn chủ yếu cho phát triển kinh tế địa phương” (Vũ Đình Bách, Trần Minh Đạo, 2006)
Bên cạnh các nguồn huy động vốn đã nêu trên, thị trường vốn có ý nghĩa quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế của các nước có nền kinh tế thị trường Nó là kênh bổ sung các nguồn vốn trung và dài hạn cho các chủ đầu tư – bao gồm cả nhà nước và các loại hình doanh nghiệp “Thị trường vốn mà cốt lõi là thị trường chứng khoán như một trung tâm thu gọn mọi nguồn vốn tiết kiệm của từng hộ dân cư, thu hút mọi nguồn vốn nhàn rỗi của doanh nghiệp, các tổ chức tài chính, chính phủ trung ương
và chính quyền địa phương tạo thành một nguồn vốn khổng lồ cho nền kinh tế Đây được coi là một lợi thế mà không một phương thức huy động vốn nào có thể làm được” (Nguyễn Bạch Nguyệt, Từ Quang Phương, 2003)
Tuy nhiên hiện nay thị trường chứng khoán ở nước ta mới đi vào hoạt động, còn non trẻ, ngoài ra quy mô và cơ sở hạ tầng thị trường vốn Việt Nam khá khiêm tốn cần được đầu tư, học hỏi kinh nghiệm của các nước đã phát triển thị trường chứng khoán từ lâu Bên cạnh đó chính phủ cũng cần quan tâm, có những chính sách phù hợp
để khuyến khích và giúp thị trường chứng khoán đi vào hoạt động ổn định hơn, thu hút nguồn vốn từ mọi tầng lớp dân cư trong và ngoài nước tạo ra một nguồn cung cấp vốn cho nền kinh tế
Trang 20Hình 2.3 Biểu Đồ Cơ Cấu Vốn Đầu Tư theo Giá Thực Tế phân theo Thành Phần Kinh Tế ( %)
Năm 2000 Năm 2005
Nguồn tin: Niên giám Thống kê 2005
2.2.2 Nguồn vốn nước ngoài
Có rất nhiều nguồn huy động vốn từ nước ngoài như nguồn tín dụng từ các ngân hàng thương mại, đầu tư trực tiếp nước ngoài, thị trường vốn quốc tế và tài trợ phát triển chính thức (ODF – official development) bao gồm viện trợ phát triển chính thức (ODA – official development assistance) và các hình thức tài trợ phát triển khác
a) Nguồn vốn ODA
Thực tế ở Việt Nam thời gian qua, việc thu hút ODA phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá đã diễn ra trong bối cảnh trong nước và quốc tế có rất nhiều thuận lợi
Ngay từ khi bắt đầu thực hiện chiến lược đổi mới, Đảng ta đã chủ trương tích cực vận động để kêu gọi nguồn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) vào hỗ trợ cho công cuộc phát triển kinh tế, xã hội Sau khi ký hiệp định hoà bình Campuchia, cộng đồng tài trợ đã nối lại ODA dành cho nước ta vào tháng 10 năm 1993 Từ đó đến nay Việt Nam đã vận động được 15,25 tỷ USD vốn ODA cam kết và đã hợp thức hoá bằng các Hiệp định được ký kết trị giá hơn 10 tỷ USD, trong đó vốn vay ưu đãi khoảng 8,5
tỷ USD và vốn viện trợ không hoàn lại khoảng 1,7 tỷ USD Tính đến hết năm 1999, ta
đã giải ngân được khoảng 6,4 tỷ USD, đạt khoảng 42% số vốn ODA đã được ký kết (xem bảng 2.2)
Hàng năm, nguồn vốn cam kết tài trợ của các nước cho ta đều tăng đáng kể, việc giải ngân nguồn vốn ODA ngày càng tốt hơn Công tác điều phối và quản lý ODA
Trang 21đã được cải thiện và tăng cường về mặt pháp lý và tổ chức Hiệu quả sử dụng vốn ODA đã tăng lên đáng kể
Bảng 2.2 Cam Kết và Thực Hiện ODA Thời Kỳ 1993-2001
Nguồn tin: Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Ghi chú: (*) Chưa kể 0,5 tỷ USD dự định hỗ trợ cải cách kinh tế
(**) Chưa kể 0,7 tỷ USD dự định hỗ trợ cải cách kinh tế
Tuy vậy, việc thu hút nguồn vốn ODA đang bị hạn chế trên 2 khía cạnh: một là, trong xu thế chung nguồn vốn ODA trên thế giới bị chững lại, nhiều nguồn vốn ODA như Nhật Bản, Ngân hàng Thế giới, Ngân hàng Phát triển Châu Á và các tổ chức thuộc
hệ thống Liên Hiệp Quốc cũng có xu thế giảm, nhưng nhu cầu vốn ODA của các châu lục tăng nhanh làm cho sự cạnh tranh nguồn vốn này càng trở nên gay gắt, nếu Việt Nam không kịp thời xử lý những vướng mắc trong việc giải ngân theo tiến độ đã cam kết với các nhà tài trợ thì sẽ có những ảnh hưởng bất lợi trong thời gian tới; hai là, khả năng tiếp nhận nguồn vốn ODA của ta còn bị hạn chế do khả năng vốn đối ứng trong nước (từ ngân sách) bị co kéo bởi nhiều mục tiêu cấp bách khác, do vậy việc chọn lựa mục tiêu, cơ cấu để tiếp nhận và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn ODA là vô cùng có ý nghĩa
Tại Hội nghị Nhóm tư vấn các Nhà tài trợ năm 2005, diễn ra vào ngày 6/12/2005, Phó Thủ tướng Vũ Khoan nhấn mạnh một số đặc điểm của kế hoạch 2006-
2010, riêng về vốn ODA, Việt Nam đặt mục tiêu thực hiện khoảng 11 tỷ USD trong 5 năm, kể cả nguồn ODA đã ký kết nhưng chưa thực hiện Nguồn vốn này sẽ tập trung vào ba ưu tiên là hoàn thiện và phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội; giải quyết các
Trang 22vấn đề xã hội, môi trường, y tế, giáo dục; hoàn thiện chính sách, xử lý các vấn đề nảy sinh sau khi gia nhập WTO (Theo nguồn tin của Bộ Ngoại giao Việt Nam)
b) Nguồn vốn FDI
Sự kiện đánh dấu tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế đa phương trong khuôn khổ cộng đồng các nước XHCN là việc Việt Nam gia nhập Hội đồng Tương trợ Kinh tế SEV (1978) và ký kết Hiệp định hữu nghị hợp tác Việt Nam- Liên Xô ngày 3/11/1978 Tuy nhiên vì lý do chính trị (sự đối đầu giữa hai hệ thống chính trị những năm cuối thập kỷ 70 đầu 80 và quan hệ không bình thường giữa Việt Nam - Trung Quốc cùng với chính sách bao vây cấm vận của Mỹ, các nước phương Tây) đã làm cho tư duy về kinh tế đối ngoại thay đổi theo hưóng chủ yếu dựa vào Liên Xô và hệ thống các nước XHCN Doanh số thương mại và đầu tư thời kỳ này giữa Việt Nam- Liên Xô và các
nước CNXH tuy tăng nhưng rất nhỏ
Từ năm 1988 đến nay, đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam có thể được chia thành 4 giai đoạn gắn với sự phát triển của nền nền kinh tế thị trường trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam
Giai đoạn 1988-1990: Xuất phát từ những khó khăn của nền kinh tế và sự bất
ổn về chính trị, quan điểm kinh tế đối ngoại dựa chủ yếu vào Liên Xô và các nước XHCN không còn được đảm bảo, đòi hỏi phải có nhận thức mới, mở rộng hoạt động kinh tế đối ngoại đa phương Nới lỏng và từng bước tự do hoá thương mại và đầu tư, khai thông quan hệ với các tổ chức tài chính, tiền tệ: Quỹ Tiền tệ quốc tế, Ngân hàng Thế giới, Ngân hàng Phát Triển Châu Á Bước tiến quan trọng thể hiện quan điểm đổi mới và mở cửa trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại của Việt Nam là việc ban hành Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (1987), có hiệu lực năm 1988 Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam trong những năm đầu thời kỳ đổi mới đã đạt được những thành tựu đáng kể, 33 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam với tổng số 214
dự án và 1,58 tỷ USD vốn đăng ký
Giai đoạn 1991-1995: Bước phát triển mới của tiến trình hội nhập kinh tế quốc
tế Việt Nam là việc ban hành Hiến pháp 1992 Những quan điểm mới và chủ trương về hội nhập kinh tế có ý nghĩa hết sức to lớn trong bối cảnh của công cuộc đổi mới nhằm phá thế bao vây cấm vận của các thế lực thù địch, thiết lập và tái thiết lập các quan hệ
Trang 23với các quốc gia và các tổ chức quốc tế Nhờ đó mà sau 15 năm gián đoạn Việt Nam
đã nối lại được quan hệ với IMF, WB, ADB (1920), bình thường hoá quan hệ với Trung Quốc (1991), Mỹ (1994), tham gia Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) (1995); tham gia các tổ chức kinh tế trong khuôn khổ ASEAN, bao gồm các lĩnh vực thương mại (AFTA), công nghiệp (Chương trình AICO), dịch vụ (Hiệp định AFAS), đầu tư (Hiệp định AIA), khoa học công nghệ (Hiệp định E-ASEAN) Đây là thời kỳ phát triển rực rỡ của hoạt động đối ngoại của Việt Nam trên trường quốc tế Các hoạt động kinh tế đi vào chiều sâu và hiệu quả Đã có 1.398 dự án đầu tư vào Việt Nam với tổng vốn đăng ký 16,244 tỷ USD; mức tăng trưởng hàng năm rất ngoạn mục, năm 1991 là 1,275 tỷ USD, năm 1995 là 6,6 tỷ USD, bằng 5,3 lần năm 1991 Vốn thực hiện trong cả 5 năm là 7,153 tỷ USD, trong đó vốn của nước ngoài là 6,086 tỷ USD, bằng 32% tổng số vốn đầu tư của cả nước Hàng nghìn doanh nhân đến Việt Nam tìm kiếm cơ hội đầu tư, hàng trăm dự án mới chờ thẩm định, kết quả là đã có 55 quốc gia
và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư tại Việt Nam (Báo cáo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2006)
Giai đoạn 1996-2000: Cho tới cuối năm 1995 bắt đầu xuất hiện nhiều trở lực, trước hết là quan điểm, nhận thức đối với FDI, cơ chế, chính sách, pháp luật và thủ tục hành chính làm cho FDI vào Việt Nam bị giảm sút nghiêm trọng Cộng thêm sự tác động của cuộc khủng hoảng tài chính khu vực, năm 1997, hoạt động FDI ở Việt Nam lâm vào tình trạng suy thoái.Vốn đăng ký bắt đầu giảm từ năm 1998 và giảm mạnh trong 2 năm tiếp theo Năm 1998 vốn đăng ký là 3,89 tỷ USD thì năm 1999 chỉ bằng 40,2% là 1,568 tỷ USD và năm 2000 là 2,018 tỷ USD Sau khi đã đạt được kỷ lục về vốn thực hiện vào năm 1997 là 3,215 tỷ USD thì 3 năm tiếp theo đã giảm sút rõ rệt, năm 1998 là 2,369 tỷ USD, năm 1999 là 2,535 tỷ USD và năm 2000 là 2,413 tỷ USD (Báo cáo Bộ kế hoạch và Đầu tư, 2006)
Giai đoạn từ 2001 đến nay: Kết quả hoạt động đầu tư nước ngoài thời kỳ này đã
từng bước phục hồi: theo số liệu báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, vốn đăng ký năm 2001 là 2,592 tỷ USD bằng 12,8% của năm 2000 Hai năm tiếp theo vốn đăng ký lại giảm sút, năm 2002 là 1,621 tỷ USD, chỉ bằng 62,5% năm 2001; năm 2003 là 1,914
tỷ USD, xấp xỉ năm 2000; vốn đăng ký năm 2004 là 2,1 tỷ USD tăng 10,5% so với năm trước, năm 2005 Việt Nam đã thu hút 3,6 tỷ USD vốn đầu tư mới Riêng 6 tháng
Trang 24đầu năm 2006 đã có thêm 339 dự án được cấp giấy phép với tổng vốn đầu tư đăng ký
là 2,26 tỷ USD, tăng 5% về số dự án và tăng 21% về vốn đăng ký so với cùng kỳ năm trước Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, từ 1988 đến hết 6 tháng đầu 2006, cả nước đã cấp giấy phép đầu tư cho trên 7.550 dự án FDI với tổng vốn cấp mới 68,9 tỷ USD, trong
đó có 6.390 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đầu tư đăng ký là 53,9 tỷ USD, vốn thực hiện trên 28,0 tỷ USD, nếu tính cả các dự án đã hết hiệu lực thì vốn thực hiện đạt 36,0
tỷ USD.Hiện có 75 quốc gia và vùng lãnh thổ đang có dự án đầu tư tại Việt Nam, trong đó các nước châu Á có 5.776 dự án (chiếm 76,5%) và 37,62 tỷ USD (chiếm 69,8%) vốn đăng ký; các nước châu Âu có 755 dự án (chiếm 10,0%) và 9,00 tỷ USD (chiếm 16,7%) vốn đăng ký; các nước châu Mỹ có 453 dự án (chiếm 6,0%) và 3,23 tỷ USD (chiếm 6,0%) vốn đăng ký, riêng Hoa Kỳ có 339 dự án (chiếm 4,5%) và gần 2,00
tỷ USD (3,7%) vốn đăng ký; các khu vực khác có 566 dự án (chiếm 7,5%) và 4,05 tỷ USD (chiếm 7,5%) vốn đăng ký (Báo cáo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2006)
Bảng 2.3 Các Quốc Gia và Vùng Lãnh Thổ thuộc Các Châu Lục Đầu Tư Vào Việt Nam qua Các Thời Kỳ
Đơn vị: Quốc gia
Nguồn tin: Báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Kết quả hoạt động thu hút FDI ở Việt Nam trong những năm qua cho thấy, cho
dù đã có những bước thăng trầm song, khu vực kinh tế vốn FDI đã có những bước tăng trưởng khá ngoạn mục và gắn bó ngày càng chặt chẽ với các nền kinh tế khu vực
và thế giới
Trang 25Bảng 2.4 Tỷ Trọng Vốn FDI của Các Châu Lục Đầu Tư Vào Việt Nam qua Các Thời Kỳ từ 1988 đến 2005
Tỷ trọng Vốn
Tỷ trọng
Châu Á 0,78 49,3% 11,2 69% 13,51 62,4% 21,2 69,8%Châu Âu 0,69 43,4% 2,6 16,2% 4,55 21,0% 5,0 16,7%Châu Mỹ 0,11 7,3% 2,3 14,5% 2,68 12,4% 1,8 6,0% Châu Phi 0,00 0% 0,4 0,3% 0,9 4,2% 1,6 5,3% Châu Đại Dương 0,00 0% 0 0% 0 0% 0,6 2,2% Nguồn tin: Báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư Cùng với sự tăng tỷ trọng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của các châu lục thì
số lượng các quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam ngày càng tăng, điều này thể hiện ảnh hưởng tích cực của hội nhập kinh tế tới đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam, nằm trong mối quan hệ giữa phát triển khu vực kinh tế có vốn FDI và hội nhập kinh tế quốc tế
2.3 Tình hình đầu tư của Việt Nam
Môi trường kinh doanh và đầu tư của Việt Nam đã và ngày càng được cải thiện thông thoáng hơn, khu vực tư nhân và có vốn FDI đã có bước phát triển khá mạnh Cụ thể hơn 20 năm đổi mới, cơ cấu đầu tư ở nước ta đã có nhiều thay đổi theo hướng hợp
lý hơn, phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế xã hội trong thời kỳ công nghiệp hoá và hiện đại hoá Trong điều kiện khối lượng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội còn hạn chế
và nhất là nguồn vốn đầu tư tập trung của Nhà nước còn thấp nhưng bằng cách huy động ngày càng hợp lý hơn mọi nguồn vốn xã hội, đặc biệt vốn trong dân, sử dụng ngày càng hiệu quả phương pháp huy động vốn thông qua hình thức tín dụng đầu tư phát triển thì cơ cấu nguồn vốn đầu tư ở nước ta đang thay đổi theo chiều hướng tích
Trang 26cực Cơ chế bao cấp trong đầu tư đã từng bước được hạn chế và xoá bỏ dần cả về mức
độ lẫn phạm vi Mọi tiềm năng cho đầu tư phát triển được huy động Nguồn vốn trong nước được huy động ngày càng nhiều và sử dụng có hiệu quả trong khi vẫn coi nguồn vốn nước ngoài là vô cùng quan trọng Cơ cấu đầu tư theo ngành chuyển dịch theo hướng phục vụ yêu cầu phát triển toàn diện các ngành kinh tế - xã hội, thúc đẩy việc hình thành cơ cấu ngành bao gồm cả ngành sản xuất vật chất, dịch vụ và những ngành không vì mục tiêu lợi nhuận Cơ cấu đầu tư theo vùng, địa phương đã có những chuyển biến theo hướng tích cực Đầu tư đã góp phần hình thành nên những vùng chuyên môn hoá tập trung, những khu vực kinh tế trọng điểm và phát huy được lợi thế
so sánh trong từng vùng
Tuy nhiên cơ cấu đầu tư cũng còn thể hiện những bất cập Thứ nhất, cơ cấu nguồn vốn chưa hợp lý Nhu cầu vốn đầu tư phát triển của đất nước là rất lớn nhưng khả năng đáp ứng các nguồn vốn thấp Cơ chế chính sách huy động các nguồn vốn còn thiếu đồng bộ, chưa mang tính khuyến khích và hấp dẫn cao, thiếu tính năng động và sáng tạo trong khai thác các nguồn vốn Cán bộ ngành, địa phương còn trông chờ, ỷ lại vào vốn ngân sách Các thể chế thị trường (như thị trường vốn, hệ thống ngân hàng) kém phát triển, chưa đa dạng và rộng khắp, năng lực còn hạn chế Thư hai, hiệu quả sử dụng các nguồn vốn đầu tư chưa cao, còn dàn trải, lãng phí và thất thoát lớn trong đầu
tư xây dựng cơ bản, nhất là nguồn vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước Chưa phát huy lợi thế so sánh và lợi thế cạnh tranh của đất nước trên trường quốc tế Thứ ba, cơ cấu đầu tư theo ngành, vùng chưa chuyển dịch mạnh theo hướng phát huy lợi thế so sánh của từng ngành và từng vùng, chưa tạo ra được cơ cấu kinh tế có khả năng khai thác các thế mạnh trong từng ngành và từng vùng phát triển (Nguyễn Bạch nguyệt, Từ Quang Phương, 2003)
2.4 Ảnh hưởng của vốn đến GPD
Kết quả nghiên cứu của các nhà kinh tế cho thấy: muốn giữ tốc độ tăng trưởng kinh tế ở mức trung bình thì tỷ lệ đầu tư phải đạt từ 15-20% so với GDP tuỳ thuộc vào ICOR của mỗi nước (Nguyễn Bạch Nguyệt, Từ Quang Phương, 2003)
Trang 27Tóm lại, từ sau khi thực hiện chủ trương đổi mới 1986 đến nay, kinh tế Việt Nam đã có những bước phát triển to lớn Tốc độ tăng trưởng kinh tế trung bình khoảng 9% hàng năm từ năm 1993 đến 1997 Mặc dù tăng trưởng GDP 8,5% vào năm 1997 đã giảm xuống 4% năm 1998 do sự kiện khủng hoảng kinh tế Châu Á 1997 nhưng trong những năm tiếp theo (1999-2002), nền kinh tế Việt Nam đã phục hồi nhanh chóng và đạt được tốc độ 7,04% năm 2002 Năm 2005, tuy gặp những khó khăn khách quan như giá dầu thế giới tăng cao, thời tiết xấu và dịch cúm gia cầm trở lại nhưng tốc độ tăng trưởng vẫn đạt mức cao nhất trong 5 năm qua (8,4%) Cơ cấu kinh tế tiếp tục dịch chuyển theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp, xây dựng, dịch vụ và giảm tỷ trọng khu vực nông lâm nghiệp và thuỷ sản Cùng với quá trình đổi mới và mở cửa, tình hình vốn đầu tư và môi trường KD, đầu tư của Việt Nam đã và ngày càng được cải thiện thông thoáng hơn Cơ cấu đầu tư đã có nhiều thay đổi theo hướng hợp lý hơn, phù hợp với yêu cầu phát triển KT-XH trong thời kỳ CNH và HĐH Trong điều kiện khối
Trang 28lượng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội còn hạn chế và nhất là nguồn vốn đầu tư tập trung của Nhà nước còn thấp nhưng bằng cách huy động ngày càng hợp lý hơn mọi nguồn vốn xã hội, đặc biệt vốn trong dân, sử dụng ngày càng hiệu quả phương pháp huy động vốn thông qua hình thức tín dụng đầu tư phát triển thì cơ cấu nguồn vốn đầu
tư ở nước ta đang thay đổi theo chiều hướng tích cực Từ khi Luật Doanh Nghiệp ra đời, KV KTTN đã có bước phát triển mạnh và trở thành một trong những nguồn cung cấp vốn chủ yếu cho phát triển kinh tế địa phương Cơ chế bao cấp trong đầu tư đã từng bước được hạn chế và xoá bỏ dần cả về mức độ lẫn phạm vi Mọi tiềm năng cho đầu tư phát triển được huy động Bên cạnh nguồn vốn trong nước, có rất nhiều nguồn huy động vốn từ nước ngoài như nguồn tín dụng từ các ngân hàng thương mại, FDI, thị trường vốn quốc tế và tài trợ phát triển chính thức (ODF – official development) gồm viện trợ phát triển chính thức (ODA) và các hình thức tài trợ phát triển khác Thực tế ở Việt Nam thời gian qua, việc thu hút ODA đã diễn ra trong bối cảnh trong nước và quốc tế có rất nhiều thuận lợi Hàng năm, nguồn vốn cam kết tài trợ của các nước cho
ta đều tăng đáng kể, việc giải ngân nguồn vốn ODA ngày càng tốt hơn Tuy vậy, việc thu hút nguồn vốn ODA đang bị hạn chế trên 2 khía cạnh là trong xu thế chung nguồn vốn ODA trên thế giới bị chững lại nhưng nhu cầu vốn ODA của các châu lục tăng nhanh làm cho sự cạnh tranh nguồn vốn này càng trở nên gay gắt và khả năng tiếp nhận nguồn vốn ODA của ta còn bị hạn chế do khả năng vốn đối ứng trong nước bị co kéo bởi nhiều mục tiêu cấp bách khác Do vậy, Việt Nam cần kịp thời xử lý những vướng mắc trong việc giải ngân và chọn lựa mục tiêu, cơ cấu để tiếp nhận và sử dụng
có hiệu quả nguồn vốn ODA Về nguồn vốn FDI, hoạt động thu hút FDI ở Việt Nam trong những năm qua dù đã có nhiều thăng trầm song, khu vực kinh tế vốn FDI đã có những bước tăng trưởng khá ngoạn mục và gắn bó ngày càng chặt chẽ với các nền kinh tế khu vực và thế giới Cơ cấu đầu tư theo ngành chuyển dịch theo hướng phục vụ yêu cầu phát triển toàn diện các ngành KT-XH, thúc đẩy việc hình thành cơ cấu ngành bao gồm cả ngành sản xuất vật chất, dịch vụ và những ngành không vì mục tiêu lợi nhuận Cơ cấu đầu tư theo vùng, địa phương đã có những chuyển biến theo hướng tích cực Đầu tư đã góp phần hình thành nên những vùng chuyên môn hoá tập trung, những khu vực kinh tế trọng điểm và phát huy được lợi thế so sánh trong từng vùng
Trang 29CHƯƠNG 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Chương 3 trình bày toàn bộ cơ sở lý luận, lý thuyết về môi trường đầu tư và các nhân tố tác động đến môi trường đầu tư bao gồm các nhân tố thuộc chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của Việt Nam 2006, các yếu tố cơ sở hạ tầng (điện, giao thông) và GDP Đồng thời chương cũng nêu lên phương pháp thu thập và xử lý số liệu và các phương pháp phân tích
3.1 Cơ sở lý luận
3.1.1 Môi trường đầu tư là gì ?
Có rất nhiều định nghĩa về môi trường đầu tư Văn kiện đại hội Đảng CSVN lần thứ X định nghĩa: “môi trường đầu tư là tổng hòa các yếu tố bên ngoài liên quan đến lao động và đầu tư” (Văn kiện Đại hội X của Đảng CSVN, 2006)
Theo Ngân Hàng Thế Giới, “môi trường đầu tư là tập hợp những yếu tố đặc thù địa phương đang định hình cho các cơ hội và động lực để doanh nghiệp đầu tư có hiệu quả, tạo việc làm và mở rộng sản xuất” (World Bank, 2004) Tập hợp các yếu tố đặt thù này bao gồm hai phần là chính sách của chính phủ (mềm) và các nhân tố khác liên quan đến quy mô thị trường và ưu thế địa lý (cứng) Hai phần này sẽ tác động đến ba khía cạnh liên quan đến nhà đầu tư là chi phí cơ hội của vồn đầu tư, mức độ rủi ro trong đầu tư và những rào cản về cạnh tranh trong quá trình đầu tư
3.1.2 Các nhân tố tác động đến môi trường đầu tư
Có rất nhiều quan điểm để xác định các nhân tố tác động đến môi trường đầu tư
và hành vi đầu tư của doanh nghiệp Theo báo cáo của Lương Hữu Đức (2007), mô hình đầu tư theo lý thuyết tân cổ điển của Solow cho rằng doanh nghiệp sẽ dựa vào lợi nhuận để xác định đầu tư và đạt đầu tư tối ưu khi doanh thu biên tế của tư bản bằng chi phí đơn vị của tư bản và giá cả của sản phẩm cũng là một yếu tố tác động tới quyết định đầu tư, khi giá sản phẩm tăng sẽ kéo theo doanh thu tăng, nếu chi phí không đổi
Trang 30thì đầu tư có lợi và nhu cầu đầu tư lại phát sinh Theo mô hình ngoại tác của Romer và Lucas, một dự án đầu tư có thể không chỉ mang lai lợi ích cho bản thân dự án mà còn đem lại lợi ích cho dự án của các nhà đầu tư khác và toàn bộ nền kinh tế, đặt biệt giúp phát triển vốn con người (Nguyễn Văn Phúc, 2005)
a) Các nhân tố PCI
Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) và Dự án Nâng cao Năng lực Cạnh tranh Việt Nam (VNCI) đã xây dựng chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI dựa trên việc sử dụng dữ liệu điều tra doanh nghiệp, là đánh giá cảm nhận của doanh nghiệp đối với môi trường kinh doanh địa phương, kết hợp với các dữ liệu tin cậy và có thể so sánh được thu thập từ các nguồn chính thức và các nguồn khác về địa phương PCI bao gồm 10 chỉ số thành phần phản ánh những khía cạnh quan trọng khác nhau của môi trường kinh doanh cấp tỉnh, những khía cạnh này chịu tác động trực tiếp
từ thái độ và hành động của cơ quan chính quyền địa phương
- Chi phí gia nhập thị trường (chi phí thành lập doanh nghiệp): chỉ số thành
phần này đo lường thời gian một doanh nghiệp cần để đăng kí kinh doanh, xin cấp đất
và nhận được mọi loại giấy phép, thực hiện tất cả các thủ tục cần thiết để bắt đầu tiến hành hoạt đông kinh doanh Các yếu tố để đo lường chỉ số này là % doanh nghiệp phải mất hơn 1 tháng để khởi sự kinh doanh, % doanh nghiệp phải mất hơn 3 tháng để khởi sự kinh doanh, thời gian đăng kí kinh doanh, thời gian đăng kí lại, số lượng giấy đăng kí lại, số lượng giấy đăng kí, giấy phép kinh doanh và quyết định chấp thuận mà doanh nghiệp hiện có và % doanh nghiệp gặp khó khăn mới có đủ các loại giấy phép cần thiết
- Tiếp cận đất đai và sự ổn định trong sử dụng đất: chỉ số thành phần này được
tính toán dựa trên khía cạnh về đất đai mà doanh nghiệp phải đối mặt - việc tiếp cận đất đai có dễ dàng không và khi có đất rồi thì doanh nghiệp có được đảm bảo về sự ổn định, an toàn trong sử dụng đất hay không Khía cạnh thứ nhất phản ánh tình trạng doanh nghiệp có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hay không, có đủ mặt bằng thực hiện những yêu cầu mở rộng kinh doanh hay không, doanh nghiệp có đang thuê lại đất của doanh nghiệp Nhà nước không và đánh giá thực hiện chuyển đổi đất tại địa phương Khía cạnh thứ hai bao gồm đánh giá cảm nhận của doanh nghiệp về những rủi
ro trong quá trình sử dụng đất (ví dụ như rủi ro từ việc thu hồi, định giá không đúng,
Trang 31thay đổi hợp đồng thuê đất) cũng như thời hạn sử dụng đất Để đo lường chỉ số này, VCCI và VNCI đã sử dụng % doanh nghiệp có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hay đang trong quá trình chờ nhận, khả năng mở rộng kinh doanh nếu dễ có mặt bằng kinh doanh hơn, % doanh nghiệp thuê lại đất từ DN nhà nước, đánh giá của DN về nỗ lực của chính quyền tỉnh trong việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp, % diện tích đất có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, rủi ro mặt bằng kinh doanh bị chính quyền thu hồi cho mục đích khác, đánh giá về mức thoả đáng của số tiền bồi thường, rủi ro về thay đổi các điều kiện cho thuê, đánh giá về tính công bằng trong cách giải quyết tranh chấp về hợp đồng cho thuê và thời hạn thuê
- Tính minh bạch và tiếp cận thông tin: chỉ số thành phần này đánh giá khả năng mà doanh nghiệp có thể tiếp cận những kế hoạch của tỉnh và văn bản pháp lý cần thiết cho hoạt động kinh doanh, tính sẵn có của các loại tài liệu, văn bản này; liệu chúng có được đưa ra tham khảo ý kiến doanh nghiệp trước khi ban hành và tính có thể dự đoán được trong quá trình triển khai thực hiện các văn bản đó, mức độ tiện dụng của trang web của tỉnh đối với doanh nghiệp Tính minh bạch và tiếp cận thông tin được tính toán dựa trên các chỉ số tính minh bạch của các tài liệu kế hoạch, tính minh bạch của các quyết định nghị định, vai trò của các “mối quan hệ” để có được các tài liệu kế hoạch của tỉnh, vai trò của gia đình bạn bè khi thương lượng với cán bộ nhà nước, thương lượng với cán bộ thuế là phần thiết yếu trong hoạt động kinh doanh, khả năng có thể dự đoán được của hoạt động thực thi pháp luật của tỉnh, tỉnh có trao đổi với các DN về những thay đổi trong các quy định pháp luật, chất lượng dịch vụ tư vấn
do cơ quan của tỉnh cung cấp về thông tin pháp luật và đánh giá trang web tỉnh
- Chi phí thời gian để thực hiện các quy định của Nhà Nước: chỉ số thành phần này đo lường thời gian mà các doanh nghiệp phải tiêu tốn khi chấp hành các thủ tục hành chính, cũng như mức độ thường xuyên và thời gian doanh nghiệp phải tạm dừng kinh doanh để các cơ quan Nhà nước của tỉnh thực hiện việc thanh tra, kiểm tra Yếu
tố để đo lường chỉ tiêu này là số ngày làm việc với chính quyền địa phương giảm đi sau khi có luật DN, % DN sử dụng hơn 10% quỹ thời gian để làm việc với chính quyền, số cuộc thanh tra và số giờ làm việc với thanh tra thuế và tỷ lệ giảm số cuộc thanh tra sau khi có luật DN
Trang 32- Chi phí không chính thức: chỉ số thành phần này đo lường mức chi phí không chính thức mà doanh nghiệp phải trả và những trở ngại do những chi phí này gây nên đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, việc trả những chi phí không chính thức như vậy có đem lại kết quả hay “dịch vụ” như mong đợi không và liệu có phải các cán bộ nhà nước sử dụng các quy định pháp luật của địa phương để trục lợi không?
Để đo lường chi phí không chính thức người ta sử dụng các chi phí không chính thức
là cản trở chính đối với hoạt động kinh doanh, các DN cùng ngành đều trả chi phí không chính thức, % DN tốn hơn 10% doanh thu cho các loại chi phí không chính thức, cán bộ tỉnh sử dụng các quy định riêng của địa phương với mục đích trục lợi và công việc được giải quyết sau khi đã trả chi phí không chính thức
- Ưu đãi đối với doanh nhiệp Nhà nước (môi trường cạnh tranh): Chỉ số thành phần này đánh giá tính cạnh tranh của các doanh nghiệp tư nhân do ảnh hưởng từ sự
ưu đãi các doanh nghiệp Nhà nước và các doanh nghiệp Nhà nước đã cổ phần hóa của chính quyền cấp tỉnh, thể hiện dưới dạng các ưu đãi cụ thể, phân biệt về chính sách và việc tiếp cận nguồn vốn Chỉ tiêu này được biểu hiện như sau tính ưu đãi đối với DN Nhà nước, tính ưu đãi đối với DN cổ phần hoá, thái độ của tỉnh đối với DN tư nhân, thái độ của DN tư nhân đang được cải thiện, những đóng góp về tài chính ảnh hưởng đến thái độ đối với DN tư nhân, đánh giá của DN đối với nỗ lực thực hiện cổ phần hoá của tỉnh, tương quan tỷ trọng nợ của DN Nhà nước do địa phương quản lý trong tổng
số nợ của DN của tỉnh so với tỷ trọng doanh thu của của DN Nhà nước do địa phương quản lý trong tổng doanh thu của các DN của tỉnh, % thay đổi về số lượng DN Nhà nước do địa phương quản lý và tỷ trọng dư nợ cho vay của các ngân hàng thương mại quốc doanh cho DN Nhà nước
-Tính năng động và tiên phong của chính quyền tỉnh: chỉ số thành phần này do lường tính sáng tạo, sáng suốt của tỉnh trong quá trình thực thi chính sách Trung ương cũng như trong việc đưa ra những sáng kiến riêng nhằm phát triển khu vực kinh tế tư nhân, đồng thời đánh giá khả năng hỗ trợ và áp dụng những chính sách đôi khi chưa rõ ràng của Trung ương theo hướng có lợi cho doanh nghiệp Các yếu tố để đo lường chỉ tiêu này bao gồm tỉnh triển khai tốt các quy định của Trung ương, tỉnh sáng tạo và sáng suốt trong việc giải quyết những trở ngại của cộng đồng DN, tỉnh có sáng kiến tốt
Trang 33nhưng còn nhiều cản trở ở Trung ương, không có sáng kiến nào ở cấp tỉnh và tỉnh tham khảo ý kiến của DN khi xây dựng các quy định
- Chính sách phát triển khu vực kinh tế tư nhân: chỉ số thành phần này phản ánh
chất lượng và tính hữu ích của các chính sách cấp tỉnh để phát triển khu vực kinh tế tư nhân như xúc tiến thương mại, cung cấp thông tin pháp luật cho doanh nghiệp, hỗ trợ tìm kiếm đối tác kinh doanh, cung cấp dịch vụ công nghệ cũng như phát triển các khu
và cụm công nghiệp tại địa phương Các yếu tố đo lường chỉ tiêu bao gồm thông tin thị trường và xúc tiến thương mại, công nghệ và các dịch vụ liên quan đến công nghệ, thông tin tìm kiếm đối tác kinh doanh, đầu tư cho nhà sản xuất địa phương, xúc tiến xuất khẩu và hội chợ thương mại, khu công nghiệp và số lượng hội chợ thương mại cho tỉnh tổ chức
- Đào tạo lao động: chỉ số thành phần này phản ánh mức độ và chất lượng những hoạt động đào tạo nghề và phát triển kĩ năng do tỉnh triển khai nhằm hỗ trợ cho các doanh nghiệp địa phương cũng như tìm kiếm việc làm cho lao động địa phương Đào tạo lao động được đo lường bằng chất lượng dịch vụ giáo dục do các cơ quan cấp tỉnh cung cấp, chất lượng dịch vụ đào tạo nghề cho người lao động do các cơ quan của tỉnh cung cấp, chất lượng dịch vụ tuyển dụng và môi giới lao động do các cơ quan của tỉnh thực hiện và số lượng trường dạy nghề, có điều chỉnh theo số dân của từng tỉnh
-Thiết chế pháp lý: chỉ số thành phần này phản ánh lòng tin của doanh nhiệp tư nhân đối với các thiết chế pháp lý của địa phương, việc doanh nghiệp có xem các thiết chế tại địa phương này như là công cụ hiệu quả để giải quyết tranh chấp hoặc là nơi doanh nghiệp có thể khiếu nại những hành vi nhũng nhiễu của cán bộ công quyền tại địa phương hay không Chỉ số đo lường thiết chế pháp lý bao gồm hệ thống pháp lý tạo ra cơ chế để DN có thể khởi kiện hành vi tham nhũng của cán bộ công quyền, lòng tin của DN đối với thiết chế pháp lý, chủ yếu sử dụng thiết chế pháp lý để giải quyết tranh chấp và số vụ tranh chấp (mà bên nguyên không phải là DN nhà nước hay DN có vốn đầu tư nước ngoài) bình quân trên 100 DN đang hoạt động
b) Cơ sở hạ tầng
Bên cạnh những nhân tố “mềm” đã nêu thì cơ sở hạ tầng (điện, nước, giao thông, các khu công nghiệp) có thể xem là một nhân tố “cứng” cũng tác động đến môi trường đầu tư
Trang 34- Điện: trong nền kinh tế hiện đại, tất cả các ngành sản xuất đều phải sử dụng điện Đây là một điều kiện về cơ sở hạ tầng không thể thiếu Hiện nay nguồn điện của nước ta chủ yếu là nguồn từ thuỷ điện được cung cấp bởi tổng Công ty Điện Lực Việt Nam Cùng với sự phát triển của công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nhu cầu về năng lượng mà cụ thể là điện ngày một gia tăng Nhiều địa phương ở vùng sâu vùng xa vẫn chưa được hoà vào mạng lưới điện quốc gia Vì vậy trước khi có quyết định đầu tư vào bất kỳ một địa phương nào, nhà đầu tư hay doanh nghiệp đều phải nghiên cứu kỹ lưỡng về nguồn cung cấp năng lượng cho dự án, cụ thể là nguồn điện năng của địa phương Tuy nhiên, hiện tại các số liệu để đánh giá tình hình điện của các địa phương chưa được xác định rõ bởi một cuộc điều tra toàn diện trên quy mô cả nước Ngoài ra các điều kiện về cơ sở hạ tầng thương khó thay đổi trong ngắn hạn Ở đây mô hình sử dụng chỉ tiêu để đánh giá tình trạng điện của địa phương là tỷ lệ xã thuộc khu vực nông thôn có điện năm 2000 do Cục Thống kê Việt Nam tiến hành điều tra trên phạm
vi cả nước
- Giao thông: cùng với điện, giao thông cũng có thể xem là yếu tố quan trọng trong quá trình sản xuất, kinh doanh; nó gắn liền từ khâu vận chuyển nguyên vật liệu đến quá trình tiêu thụ sản phẩm Đối với một quyết định đầu tư vấn đề giao thông là yếu tố cần phải cân nhắc kỹ lưỡng, dự án có thể hoạt động và mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào khâu vận chuyển Cũng tương tự như yếu tố điện, mô hình sử dụng chỉ tiêu tỷ lệ xã ở khu vực nông thôn có đường nhựa đến trung tâm xã năm 2000 do Cục Thống kê Việt Nam điều tra
c) GDP
Một địa phương cũng giống như một doanh nghiệp luôn tìm cách đo lường kết quả hoạt động của mình sau mỗi thời kỳ nhất định Tuy vậy, doanh nghiệp thường quan tâm nhiều đến lợi nhuận thu được Lợi nhuận là thước đo tốt nhất kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Trong khi đó, thành tựu kinh tế của một địa phương phản ánh trong việc địa phương đó sản xuất ra được bao nhiêu, nói cách khác,
nó đã sử dụng những yếu tố sản xuất của mình đến mức độ nào, để tạo ra sản phẩm phục vụ cho đời sống nhân dân của tỉnh, thành mình
Chỉ tiêu GDP là một trong những thước đo về thành tựu kinh tế của địa phương hay một quốc gia Các nhà kinh tế, chủ đầu tư cũng có thể sử dụng chỉ tiêu này để so
Trang 35sánh quy mô sản xuất của các địa phương khác nhau trên toàn quốc để có thể đưa ra những quyết định đầu tư phù hợp Ở đây mô hình sử dụng giá trị GDP của các địa phương năm 2005
3.2 Phương pháp nghiên cứu
3.2.1 Phương pháp thu thập số liệu
Thu thập các số liệu thứ cấp, vì thời gian có hạn nên đề tài sử dụng số liệu khảo sát xếp hạng PCI 2006 của Phòng Thương Mại và Công Nghiệp Việt Nam (VCCI) và Dự án Nâng Cao Năng Lực Cạnh Tranh Việt Nam (VNCI) Ngoài ra đề tài cũng sưu tầm số liệu thống kê của Cục Thống kê Việt Nam về GDP, nguồn vốn đầu
tư và cơ sở hạ tầng của các doanh nghiệp thuộc các địa phương trên cả nước
3.2.2 Phương pháp phân tích
a) Phương pháp thống kê mô tả
Từ những số liệu đã thu thập, tiến hành tổng hợp, mô tả thực trạng của các yếu
tố ảnh hưởng đến đầu tư của các doanh nghiệp Việt Nam
b) Sử dụng phần mền Excel
Dùng công cụ phần mền xử lý số liệu Excel để tính toán, xử lý và tổng hợp các
số liệu cần thiết
c) Phương pháp dùng kinh tế lượng
Lượng hóa các số liệu bằng mô hình cụ thể với sự hỗ trợ của công cụ máy vi tính và phần mềm xử lý dữ liệu Eview 3.0 Trường hợp này ta quan tâm đến việc khảo sát tốc độ tăng trưởng (giảm sút) của biến đầu tư thêm của địa phương là biến kinh tế tầm vĩ mô, sử dụng mô hình log-lin (viết tắt của “linear”)
Xây dựng mô hình LnY = F(X1,X2,… ,X14)
Trang 36Bảng 3.1 Giải Thích Các Biến Độc Lập của Mô Hình
ST
Kì vọng dấu
Đo lường
+ Chỉ số tổng hợp
+ Chỉ số tổng hợp
3 Điểm số tính
minh bạch và
tiếp cận thông
tin
TMB Khả năng mà DN có thể tiếp cận thông
tin của tỉnh, mức độ tiện dụng của trang web của tỉnh đối với DN
+ Chỉ số tổng hợp
CPTG Thời gian DN phải tiêu tốn khi thực
hiện các thủ tục hành chính, thanh tra kiểm tra và mức độ của chúng
+ Chỉ số tổng hợp
5 Điểm số chi phí
không chính
thức
CPKCT Chi phí không chính thức DN phải trả
và trở ngại do chi phí này gây ra cho
DN
+ Chỉ số Tổng hợp
6 Điểm số ưu đãi
+ Chỉ số Tổng hợp
7 Điểm số tính
năng động và
tiên phong của
lãnh đạo tỉnh
LDAO Tính sáng tạo sáng suốt của tỉnh trong
việc thực thi chính sách và sáng kiến nhằm phát triển khu vực kinh kinh tế tư nhân
+ Chỉ số tổng hợp
+ Chỉ số tổng hợp
9 Điểm số đào tạo
lao động LD Mức độ và chất lượng hoạt động đào tạo nghề và phát triển kĩ năng do tỉnh
triển khai
+ Chỉ số tổng hợp
11 GDP GDP GDP của địa phương tính theo giá thực
12 Điện DIEN Tỷ lệ xã thuộc khu vực nông thôn có
13 Giao thông GT Tỷ lệ xã thuộc khu vực nông thôn có
đường ô tô đến trung tâm xã
+ %
Nguồn tin: Kết quả điều tra
Trang 37Tóm lại, “môi trường đầu tư là tập hợp những yếu tố đặc thù địa phương đang định hình cho các cơ hội và động lực để doanh nghiệp đầu tư có hiệu quả, tạo việc làm
và mở rộng sản xuất” (World Bank, 2004) Có rất nhiều quan điểm để xác định các nhân tố tác động đến môi trường đầu tư và hành vi đầu tư của doanh nghiệp Mô hình đầu tư theo lý thuyết tân cổ điển của Solow cho rằng doanh nghiệp sẽ dựa vào lợi nhuận để xác định đầu tư còn theo mô hình ngoại tác của Romer và Lucas, một dự án đầu tư có thể không chỉ mang lai lợi ích cho bản thân dự án mà còn đem lại lợi ích cho
dự án của các nhà đầu tư khác và toàn bộ nền kinh tế, đặt biệt giúp phát triển vốn con người Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) và Dự án Nâng cao Năng lực Cạnh tranh Việt Nam (VNCI) đã xây dựng chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI dựa trên việc sử dụng dữ liệu điều tra doanh nghiệp, là đánh giá cảm nhận của
DN đối với môi trường KD địa phương, kết hợp với các dữ liệu tin cậy và có thể so sánh được thu thập từ các nguồn chính thức và các nguồn khác về địa phương PCI bao gồm 10 chỉ số thành phần phản ánh những khía cạnh quan trọng khác nhau của môi trường KD cấp tỉnh, những khía cạnh này chịu tác động trực tiếp từ thái độ và hành động của cơ quan chính quyền địa phương Các nhân tố này bao gồm: chi phí gia nhập thị trường, tiếp cận đất đai và sự ổn định trong sử dụng đất, tính minh bạch và tiếp cận thông tin, chi phí thời gian để thực hiện các quy định của Nhà Nước, chi phí không chính thức, ưu đãi đối với DNNN (môi trường cạnh tranh), tính năng động và tiên phong của chính quyền tỉnh, chính sách phát triển khu vực kinh tế tư nhân, đào tạo lao động và thiết chế pháp lý Bên cạnh những nhân tố “mềm” đã nêu thì cơ sở hạ tầng (điện, nước, giao thông, các khu công nghiệp) và GDP có thể xem là những nhân tố
“cứng” tác động đến môi trường đầu tư Vì thời gian có hạn nên đề tài sử dụng số liệu khảo sát xếp hạng PCI 2006 của VCCI và VNCI kết hợp với số liệu thống kê của Cục Thống kê Việt Nam về GDP, nguồn vốn đầu tư và cơ sở hạ tầng của các doanh nghiệp thuộc các địa phương trên cả nước Khoá luận dùng phương pháp thống kê mô tả kết hợp với phần mền Excel để tính toán và lượng hóa các số liệu bằng mô hình cụ thể với
sự hỗ trợ của công cụ máy vi tính cùng phần mềm xử lý dữ liệu Eview 3.0
Trang 38CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
Chương 4 đưa ra những phân tích định tính và các kết luận sau khi đã thực hiện quá trình tính toán và lượng hoá các số liệu bằng mô hình kinh tế lượng cụ thể về các yếu tố ảnh hưởng đến đầu tư Từ các kết quả thu được, đề xuất một số giải pháp nhằm xúc tiến đầu tư của các tỉnh, thành
4.1 Phân tích yếu tố ảnh hưởng đến môi trường đầu tư
4.1.1 Các yếu tố mềm theo kết quả khảo sát PCI 2006
Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của Việt Nam PCI xếp hạng năng lực cạnh tranh các tỉnh trên thang điểm 100 Chỉ số tổng hợp PCI năm 2006 bao gồm 10 chỉ số thành phần phản ánh những khía cạnh quan trọng khác nhau của môi trường kinh doanh cấp tỉnh dựa trên sự đánh giá của các doanh nghiệp được điều tra trên cả nước
về thái độ và ứng xử của chính quyền địa phương đối với khu vực kinh tế tư nhân Xét thang điểm 100, Bình Dương xếp hạng cao nhất, với số điểm 76,23, tiếp sau là Đà Nẵng; Lai Châu xếp hạng cuối cùng, với số điểm 36,76
Trong quá trình nghiên cứu, để có thể đánh giá mức độ đóng góp tương đối của các chỉ số thành phần đối với chỉ số PCI tổng hợp cuối cùng; phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam và Dự án Nâng cao Năng lực Cạnh tranh Việt Nam đã tiến hành tính toán và đưa ra trọng số của các chỉ số thành phần dựa trên cơ sở hạ tầng ban đầu, được đo bằng số máy điện thoại bình quân đầu người trong năm 1995, qua kết quả thu được, các nhân tố chính sách phát triển khu vực kinh tế tư nhân, tính minh bạch, đào tạo lao động và tính năng động và tiên phong của chính quyền địa phương được xem là bốn nhân tố quan trọng nhất với trọng số cao (xấp xỉ 15%) Chi phí thời gian để thực hiện các quy định của Nhà nước và thiết chế pháp lý được đánh giá ở mức trung bình với trọng số làm tròn là 10% Các nhân tố còn lại xếp vào nhóm có trọng số thấp (xem bảng 4.1)
Trang 39Bảng 4.1 Trọng Số của Các Chỉ Số Thành Phần Báo Cáo PCI, 2006
Trọng số trung bình
Trọng số làm tròn
Loại trọng
số
Chính sách phát triển khu vực kinh tế tư nhân 17,2% 15% Cao
Chi phí thời gian để thực hiện các quy định của
Nguồn tin: Báo cáo PCI, 2006
VCCI và VNCI đã phân thành 6 nhóm xếp hạng, điều này có ý nghĩa quan
trọng hơn so với thứ hạng riêng biệt của từng tỉnh Khoảng cách giữa các nhóm ít nhất
là ¾ điểm Khoảng cách điểm giữa các nhóm lớn làm cho tình trạng một tỉnh từ nhóm
này có thể nhảy sang nhóm khác khó xảy ra Nhờ vậy, cách phân nhóm này có thể
phản ánh tương đối hợp lý kết quả của từng tỉnh cụ thể Hình 4.1 thể hiện bảng xếp
hạng các tỉnh, thành theo chỉ số PCI phân theo 6 nhóm cụ thể
Năm 2006, có thêm một nhóm mới được tạo ra là nhóm “Rất tốt”, gồm hai tỉnh
xếp hạng cao nhất là Bình Dương và Đà Nẵng, vượt lên trên tất cả các tỉnh khác Cả
hai tỉnh này đều có điểm số rất cao trong tất cả các chỉ số thành phần và đặc biệt có
đến ba hoặc bốn chỉ số thành phần có điểm trên 8 Đà Nẵng có chỉ số thành phần về
đất đai hơi thấp, nhưng bù lại các chỉ số thành phần khác đều cao
Nhóm thứ hai (nhóm xếp loại “Tốt”) bao gồm các tỉnh có điểm cao trong bốn
chỉ số thành phần quan trọng: chính sách phát triển kinh tế tư nhân, tính minh bạch,
đào tạo lao động và tính năng động tiên phong của tỉnh Thành phố Hồ Chí Minh có
chỉ số đất đai và chi phí không chính thức rất thấp (chỉ số gia nhập thị trường và ưu đãi
DNNN cũng khá thấp) nhưng bù lại có chỉ số đào tạo lao động, chính sách phát triển
Trang 40kinh tế tư nhân và chỉ số tính minh bạch cao Đặc biệt là Lào Cai, tuy mới được điều tra năm 2006; mặc dù có điểm thấp hơn trung bình đối với chỉ số thành phần đất đai, chi phí thời gian để thực hiện các quy dịnh của Nhà nước, tỉnh Lào Cai có điểm cao đều trong tất cả các chỉ số thành phần khác, nhất là ưu đãi DNNN và tính minh bạch
Nhóm thứ ba (nhóm xếp loại “Khá”) gồm các tỉnh có điểm số khá trong hầu hết các chỉ số thành phần, ví dụ như Bà Rịa-Vũng Tàu, Bắc Giang, Quảng Nam, Trà Vinh; hoặc các tỉnh có chỉ số thấp nhưng được bù lại bởi một số chỉ số cao Trong nhóm này Cần Thơ có điểm cao về tính minh bạch và chính sách phát triển kinh tế tư nhân, nhưng lại thấp về tính năng động, chi phí không chính thức và chi phí gia nhập thị trường Cũng tương tự như vậy, Phú Yên có điểm chi phí gia nhập thị trường và đất đai cao nhưng lại rất thấp đối với chi phí thời gian thực hiện các quy định Nhà nước (xếp hạng thấp nhất) và chi phí không chính thức
Nhóm thứ tư (nhóm xếp loại “Trung bình”) bao gồm các tỉnh có điểm trung bình trong hầu hết các chỉ số thành phần Nhìn chung các tỉnh đều có điểm khá đối với chi phí không chính thức, đặc biệt là Bến Tre và Hậu Giang (xếp hạng 1 và 2 đối với chỉ số thành phần này), cùng với Gia Lai, Bình Thuận, Tiền Giang, Hoà Bình, nhưng các tỉnh này đều có điểm dưới trung bình đối với chi phí gia nhập thị trường và ưu đãi DNNN, nhất là Hà Nội, Hải Phòng và Đắc Lắk
Nhóm thứ năm (nhóm xếp loại “Tương đối thấp”) bao gồm các tỉnh nói chung đều có điểm thấp trong các chỉ số thành phần Một số tỉnh có điểm chi phí gia nhập thị trường cao (Tây Ninh và Tuyên Quang) và ưu đãi DNNN (Nam Định, Cao Bằng và Sơn La) Đây là những tỉnh làm tốt cải cách giai đoạn một, nghĩa là chính quyền tỉnh
đã thành công trong việc khuyến khích doanh nghiệp gia nhập và tiếp cận thi trường Tuy nhiên số liệu cho thấy các tỉnh này chưa thật thành công ở giai đoạn hai, chẳng hạn như đối với tính minh bạch hay chi phí thời gian thực hiện quy định của Nhà nước, tức là cải cách sẽ giúp doanh nghiệp phát triển sau khi doanh nghiệp đã được thành lập Các tỉnh này đều có điểm tương đối thấp với cải cách giai đoạn ba, tức là cải cách hướng tới việc thực hiện chính sách can thiệp nhằm khác phục những phần mà thị trường làm không hiệu quả, hỗ trợ doanh nghiệp và xây dựng thể chế như cung cấp dịch vụ then chốt, đào tạo lao động và củng cố lòng tin vào các thiêt chế pháp lý