Đó chính là sự giảm tốc độ phát triển của trẻ thơ, giảm khả năng chống đỡ bệnh tật và giảm sự phát triển giống nòi… Đối tượng SDD chủ yếu vẫn là trẻ em và SDD ở độ tuổi học đường chính l
Trang 1Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu cấp bằng kỹ sư ngành
Bảo Quản Chế Biến Nông Sản Thực Phẩm và Dinh Dưỡng Người
Giáo viên hướng dẫn:
Ths TRẦN VŨ HUY
Tháng 8 năm 2010
Trang 2Em xin gởi lời tri ân sâu sắc đến thầy Trần Vũ Huy, giảng viên khoa Công Nghệ Thực Phẩm trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh, người đã tận tình quan tâm, hướng dẫn em thực hiện đề tài
Xin chân thành cảm ơn ban giám hiệu trường mẫu giáo Tân Tập xã Tân Tập, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An đã tạo điều kiện hết sức thuận lợi cho em hoàn thành tốt
đề tài tốt nghiệp của mình
Em chân thành cảm ơn bác sĩ Trần Quốc Cường, Nguyễn Thanh Sơn đã rất nhiệt tình giúp đỡ em thực hiện đề tài
Xin trân trọng cảm ơn sự hợp tác chân thành của quý phụ huynh học sinh trường mẫu giáo Tân Tập, xã Tân Tập huyện Cần Giuộc tỉnh Long An
Sau cùng xin gửi lời cảm ơn đầy thân thương đến những người thân, bạn bè, những người đã luôn quan tâm, chia sẻ, động viên tôi trong khoảng thời gian qua
Nhờ có những sự giúp đỡ này mà tôi mới có thể hoàn thành tốt đề tài tốt nghiệp của mình
Xin chân thành cảm ơn!
Tp Hồ Chí Minh ngày 8 tháng 8 năm 2010
Võ Thị Mỹ Phương
Trang 3iii
TÓM TẮT
Suy dinh dưỡng (SDD) ảnh hưởng đến tăng trưởng thể chất, nhận thức phát triển, bệnh tật, tỉ lệ tử vong, khả năng sinh sản và làm việc của con người Do đó có thể nói SDD có tác động đến sức khỏe và vấn đề sống còn của con người SDD còn là yếu tố tiềm
ẩn cho nhiều bệnh tật cho cả trẻ em và người lớn và đặc biệt phổ biến ở các nước đang phát triển Từ quan điểm y tế cộng đồng, SDD là một trong những vấn đề quan trọng nhất
ở Việt Nam hiện nay SDD gây ra những hậu quả to lớn về mặt xã hội Đó chính là sự giảm tốc độ phát triển của trẻ thơ, giảm khả năng chống đỡ bệnh tật và giảm sự phát triển giống nòi… Đối tượng SDD chủ yếu vẫn là trẻ em và SDD ở độ tuổi học đường chính là nguyên nhân làm cho trẻ giảm tốc độ phát triển cả về trí lực lẫn thể lực, giảm khả năng tiếp thu bài, chậm chạp trong phản xạ…
Mục tiêu của đề tài nghiên cứu “Khảo sát một số yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng suy dinh dưỡng thể nhẹ cân và thấp còi của học sinh trường mẫu giáo Tân Tập” là khảo sát tình trạng SDD của trẻ đang theo học tại trường mẫu giáo Tân Tập, tìm hiểu một số yếu tố liên quan ảnh hưởng đến tình trạng SDD thể nhẹ cân và thấp còi của trẻ Cuộc khảo sát đã được thiết kế theo phương pháp điều tra cắt ngang bằng cách thu thập các chỉ tiêu
về nhân trắc của 274 học sinh trường mẫu giáo Tân Tập và các yếu tố liên quan Các chỉ tiêu về nhân trắc như cân nặng theo tuổi (CN/T), chiều cao theo tuổi (CC/T), cân nặng theo chiều cao (CN/CC) Các thông tin liên quan khác được thu thập từ việc phỏng vấn người chăm sóc chính Các yếu tố này bao gồm trình độ văn hoá của người chăm sóc chính của trẻ, số anh chị em cùng sống chung trong gia đình, nguồn nước sinh hoạt, tình hình tiêm chủng và một số yếu tố khác Số liệu được xử lí bằng phần mềm WHO Anthro Plus, Microsoft Office Excel 2003, SPSS 11.5 Thời gian nghiên cứu từ 1/3/2010 đến 12/8/2010 tại trường mẫu giáo Tân Tập, xã Tân Tập, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An
Trang 4iv
Kết quả nghiên cứu cho thấy tỉ lệ trẻ em SDD vẫn còn khá cao Tỉ lệ SDD thể nhẹ cân, thể thấp còi và thể gầy còm lần lượt là 17,58%; 23,52% và 5,15% và ở trẻ em nam cao hơn nữ Các bữa ăn hằng ngày có năng lượng thấp (1261,5 Kcal) chưa đáp ứng đầy
đủ về nhu cầu năng lượng cho trẻ Trình độ học vấn của người chăm sóc chính còn thấp với số năm đi học trung bình là 5,83 năm Các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng SDD thể nhẹ cân của trẻ là trình độ văn hóa của người chăm sóc chính, còn được tiếp tục uống sữa hay không, số bữa ăn mỗi ngày, năng lượng trung bình cung cấp từ các bữa ăn hằng ngày (Kcal/ngày) với mức ý nghĩa thống kê là p<0,05 Các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng SDD thể thấp còi của trẻ bao gồm việc còn được uống sữa hay không, năng lượng trung bình cung cấp từ các bữa ăn hằng ngày (Kcal/ngày), số con trong gia đình (p<0,05)
Trang 5v
MỤC LỤC
TRANG TỰA i
LỜI CẢM ƠN ii
TÓM TẮT iii
MỤC LỤC v
DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT vii
DANH SÁCH CÁC HÌNH ix
DANH SÁCH CÁC BẢNG x
Chương 1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.1 Lí do chọn đề tài 1
1.2 Mục đích nghiên cứu 3
1.3 Mục tiêu và nhiệm vụ 3
Chương 2 TỔNG QUAN 4
2.1 Tân Tập 4
2.2 Trường mẫu giáo Tân Tập 6
2.3 Tình trạng dinh dưỡng 7
2.3.1 Định nghĩa tình trạng dinh dưỡng 7
2.3.2 Béo phì 8
2.3.3 Suy dinh dưỡng 10
2.3.3.1 Khái niệm 10
2.3.3.2 Phân loại 10
2.3.2.3 Tình trạng suy dinh dưỡng trẻ em hiện nay 13
2.3.2.4 Nguyên nhân suy dinh dưỡng 21
2.3.2.5 Hậu quả 22
2.4 Đánh giá tình trạng dinh dưỡng ở trẻ em 23
2.4.1 Đánh giá tình trạng dinh dưỡng bằng phương pháp nhân trắc học 24
2.4.2 Nhận định tình trạng dinh dưỡng trẻ em 25
2.5 Kết luận 26
Trang 6vi
Chương 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
3.1 Nội dung nghiên cứu 27
3.1.1 Nội dung nghiên cứu 27
3.1.2 Giả thuyết nghiên cứu 27
3.2 Phương pháp nghiên cứu 28
3.2.1 Mô hình điều tra và phạm vi nghiên cứu 28
3.2.2 Đối tượng khảo sát 28
3.2.2.1 Học sinh 29
3.2.2.2 Người chăm sóc chính của trẻ 29
3.2.3 Đánh giá tình trạng dinh dưỡng 30
3.2.4 Thói quen ăn uống và một số yếu liên quan 32
3.2.5 Mô hình phân tích nguyên nhân và các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng suy dinh dưỡng trẻ em: 34
Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 35
4.1 Đặc điểm học sinh trường mẫu giáo Tân Tập 35
4.2 Tình trạng suy dinh dưỡng 36
4.2.1 Tổng quát về tình trạng suy dinh dưỡng của học sinh của trường mẫu giáo Tân Tập 36
4.3 Một số yếu tố xã hội liên quan 39
4.3.1 Đặc điểm người chăm sóc chính 39
4.3.2 Thói quen ăn uống và một số yếu tố khác 42
4.3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng suy dinh dưỡng thể nhẹ cân và thấp còi của học sinh trường mẫu giáo Tân Tập 47
Chương 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 49
5.1 Kết luận 49
5.2 Đề nghị 50
TÀI LIỆU THAM KHẢO 51
PHỤ LỤC 56
Trang 7vii
DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CC/T Chiều cao theo tuổi
CN/CC Cân nặng theo chiều cao
CN/T Cân nặng theo tuổi
FDI Foreign Direct Investment
NCHS National Center for Health Statistics
Trang 8viii WHO World Health Organization WSH Water Sanitation and Health
Trang 9ix
DANH SÁCH CÁC HÌNH
Hình 1.1: Biểu đồ so sánh tình trạng SDD giữa trẻ em dưới 5 tuổi của tỉnh Long An, Tp
HCM và cả nước năm 2009 (Nguồn: Viện Dinh Dưỡng, 2009) 2
Hình 2.1: Biểu đồ diễn biến suy dinh dưỡng thể nhẹ cân (CN/T) ở trẻ em dưới 5 tuổi toàn
quốc từ 1999 - 2009 (Nguồn: Viện Dinh Dưỡng, 2009) 15
Hình 2.2: Biểu đồ diễn biến suy dinh dưỡng thể thấp còi (CC/T) ở trẻ em dưới 5 tuổi toàn
quốc từ 1999 - 2009 (Nguồn: Viện Dinh Dưỡng, 2009) 15
Hình 2.3: Suy dinh dưỡng thể nhẹ cân, thấp còi và gầy còi theo nhóm tuổi 17
Hình 3.1 Mô hình phân tích nguyên nhân và các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng suy dinh
dưỡng trẻ em 34
Hình 4.1 Biểu đồ tỉ lệ giới tính học sinh trường mẫu giáo Tân Tập 35
Hình 4.2 Biểu đồ so sánh đường cong phân bố CN/T của quần thể khảo sát với quần thể
Trang 10x
DANH SÁCH CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Thang phân loại suy dinh dưỡng nặng theo Wellcome 11
Bảng 2.2: So sánh tỉ lệ suy dinh dưỡng thấp còi của hai xã điều tra với số liệu của tỉnh Bắc Ninh và toàn quốc 17
Bảng 3.1: Phân bố đối tượng nghiên cứu theo từng điểm của trường 29
Bảng 3.2 Bảng đánh giá tình trạng SDD thể nhẹ cân dựa vào CN/T 311
Bảng 3.3 Bảng đánh giá tình trạng SDD thể thấp còi dựa vào CC/T 31
Bảng 3.4 Bảng đánh giá tình trạng SDD thể gầy còm dựa vào CN/CC 32
Bảng 3.5 Bảng đánh giá tình trạng béo phì dựa vào CN/CC 32
Bảng 4.1 Kết quả đánh giá tỉ lệ SDD của học sinh trường mẫu giáo Tân Tập 36
Bảng 4.2: Tỉ lệ trẻ SDD theo đặc điểm người chăm sóc chính 40
Bảng 4.3 Tỉ lệ SDD của trẻ theo một số yếu tố khác 43
Bảng 4.4 Kiểm định giá trị trung bình của biến “Số bữa ăn trong ngày” 46
Bảng 4.5 Tỉ lệ trẻ SDD theo mức năng lượng cung cấp hằng ngày 46
Bảng 4.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng SDD thể nhẹ cân của trẻ 47
Bảng 4.7 Các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng SDD thể thấp còi của trẻ 48
Trang 111
Chương 1 ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Lí do chọn đề tài
Suy dinh dưỡng (SDD) trẻ em dưới 5 tuổi là một vấn đề y tế công cộng nổi cộm, đặc biệt là ở các nước đang phát triển Theo ước tính của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) thì hiện nay trên thế giới có 170 triệu trẻ em SDD thể nhẹ cân, khoảng 60% tử vong ở trẻ dưới 5 tuổi trên toàn thế giới có liên quan đến SDD SDD có ảnh hưởng rất lớn tới sự phát triển thể chất và tinh thần của trẻ và có liên quan đến nhiều bệnh khác đặc biệt là các bệnh nhiễm khuẩn và các bệnh mãn tính (Phan Văn Hợp, 2004)
Trong những năm qua, trên thế giới, các hoạt động dinh dưỡng đã ngày càng được chú trọng và khoa học dinh dưỡng cũng ngày càng phát triển Tại Việt Nam, nhiều chương trình phòng chống SDD cũng được thực hiện Thế nhưng, Việt Nam vẫn đang đứng trước những khó khăn tồn tại và thách thức lớn Theo số liệu thống kê những năm gần đây cho thấy tỉ lệ trẻ em SDD dưới 5 tuổi ở Việt Nam đã giảm rõ rệt tuy nhiên vẫn còn khá cao, SDD cân nặng là 18,9%, tương ứng với 2 triệu trẻ em, tỷ lệ SDD thể thấp còi vẫn còn ở mức cao 31,9% Tuy nhiên, tỉ lệ này phân bố không đồng đều và cao dần ở các tỉnh vùng sâu vùng xa (Viện Dinh Dưỡng, 2009)
Mặc dù các yếu tố ảnh hưởng tới tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ dưới 5 tuổi có rất nhiều như điều kiện kinh tế – xã hội, kiến thức của người mẹ, chế độ ăn không hợp lí, không đầy đủ năng lượng… nhưng các yếu tố đó không giống nhau ở các quốc gia hay khu vực khác nhau (Trần Văn Long, 2004)
Trang 122
Từ quan điểm y tế cộng đồng, SDD là một trong những vấn đề quan trọng nhất ở Việt Nam hiện nay SDD gây ra những hậu quả to lớn về mặt xã hội Đó chính là sự giảm tốc độ phát triển của trẻ thơ, giảm khả năng chống đỡ bệnh tật và giảm sự phát triển giống nòi… Đối tượng SDD chủ yếu vẫn là trẻ em và SDD ở độ tuổi học đường làm cho trẻ giảm sự tăng cân, giảm khả năng tiếp thu bài, chậm chạp trong phản xạ, giảm tốc độ phát triển…
Mặc dù có vị trí chiến lược là tiếp giáp Trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh (Tp HCM), nơi mà nền kinh tế phát triển mạnh mẽ, tình trạng dinh dưỡng của trẻ em cũng được cải thiện rõ rệt trong những năm qua Thế nhưng, nhìn chung tỉnh Long An có tỉ lệ trẻ em SDD còn khá cao, với thể nhẹ cân là 16%, thể thấp còi là 25,9% (Viện Dinh Dưỡng, 2009) Hình 1.1 cho ta thấy sự chênh lệch tỉ lệ SDD trẻ em của tỉnh Long An, Tp HCM và cả nước năm 2009
18.9 16
5.3
31.9 25.9
6 6.9 6.6
2.9 0
5 10
Biểu đồ so sánh tình trạng SDD giữa trẻ em dưới 5 tuổi của
tỉnh Long An, Tp HCM và cả nước năm 2009
Cả nước Long An
Tp HCM
Hình 1.1: Biểu đồ so sánh tình trạng SDD giữa trẻ em dưới 5 tuổi của tỉnh Long An, Tp
HCM và cả nước năm 2009 (Nguồn: Viện Dinh Dưỡng, 2009)
Trên thực tế, các nghiên cứu về tình trạng dinh dưỡng trẻ em tuổi học đường trên địa bàn tỉnh Long An vẫn còn nhiều hạn chế, đặc biệt là ở các xã vùng hạ Để góp phần
Trang 133
đánh giá tình trạng SDD của trẻ, cung cấp thêm thông tin cho công tác dự báo dinh dưỡng cộng đồng, dự báo sức khỏe, các vấn đề xã hội cần giải quyết nhằm giúp các nhà chức trách, các cơ quan có thẩm quyền và trách nhiệm đề ra những phương hướng chiến lược phù hợp, nâng cao sức khỏe người dân, cải thiện tầm vóc của người Việt Nam; với mong muốn góp phần quan tâm đến vấn đề dinh dưỡng của trẻ em trên quê hương mình, được
sự chấp nhận của khoa công nghệ thực phẩm trường Đại học Nông Lâm Tp HCM, dưới
sự hướng dẫn của thầy Trần Vũ Huy và sự giúp đỡ tận tình của các bác sĩ đang làm việc
tại Trung tâm Dinh Dưỡng Tp HCM, tôi đã tiến hành thực hiện đề tài “KHẢO SÁT
MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SUY DINH DƯỠNG THỂ NHẸ CÂN VÀ THẤP CÒI CỦA HỌC SINH TRƯỜNG MẪU GIÁO TÂN TẬP”
1.2 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của cuộc nghiên cứu bao gồm: khảo sát tình trạng SDD của trẻ đang học tại trường mẫu giáo Tân Tập, tìm hiểu một số yếu tố liên quan gây ra tình trạng SDD thể nhẹ cân và thấp còi của trẻ
1.3 Mục tiêu và nhiệm vụ
o Thu thập các chỉ số nhân trắc: cân nặng của trẻ, chiều cao đứng; đánh giá các chỉ tiêu cân nặng theo tuổi (CN/T), chiều cao theo tuổi (CC/T), cân nặng theo chiều cao (CN/CC) học sinh trường mẫu giáo Tân Tập
o Khảo sát tỉ lệ SDD của của trẻ
o Khảo sát một số yếu tố liên quan đến tình trạng SDD như trình độ văn hoá của người chăm sóc trẻ, số anh chị em của trẻ trong gia đình, nguồn nước sinh hoạt, tình hình tiêm chủng và một số yếu tố liên quan khác
o Ước lượng năng lượng trung bình cung cấp mỗi ngày cho từng đối tượng điều tra
Trang 144
Chương 2 TỔNG QUAN
2.1 Tân Tập
Là một xã vùng hạ, Tân Tập nằm chếch ở cực đông của huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An, có diện tích tự nhiên là 31km2, phía Bắc giáp xã Phước Vĩnh Đông, phía Tây giáp xã Đông Thạnh, hai mặt Đông và Nam giáp sông Soài Rạp và Rạch Cát Xã hiện nay
có 7 ấp: Tân Đông, Tân Hòa, Tân Chánh, Vĩnh Hòa, Tân Đại, Tân Quí và Tân Thành Toàn xã có hệ thống đê bao dài 11km Hệ thống giao thông đường thủy chằng chịt với mạng chi lưu hơn 76 con sông rạch nhỏ
Về khí hậu và hệ sinh thái, Tân Tập nói riêng cũng như các địa phương khác trong tỉnh Long An nói chung đều nằm trong vùng khí hậu hệ sinh thái Nam Bộ, thuộc chế độ nhiệt đới gió mùa nóng ẩm với đặc trưng cơ bản là nền nhiệt độ cao, ít biến đổi trong năm Nhiệt độ trung bình hằng năm là 27,8oC và theo số liệu thống kê những năm gần đây cho thấy nhiệt độ cao nhất có năm có thể lên đến 40oC Quần thể động vật ở Tân Tập thuộc quần thể động vật ven sông rạch, gần biển, chịu ảnh hưởng của nước mặn và nước
lợ với sư có mặt và chiếm ưu thế của các loại đước, mắm, bần, xen lẫn với dừa nước, cóc, quao nước, ô rô, cóc kèn, lác nước , cùng với sự có mặt của các loài động vật như cá bống, cá vượt, cá đối, cá út vàng, cá út thép, cá phèn, cua, còn và các loại tôm như tôm đất, tôm thẻ, tôm bạc, tôm sú…
Trang 155
Về đất đai, nằm trên địa hình thấp dọc ven biển và ven các cửa sông, Tân Tập thuộc nhóm đất mặn, loại mặn nhiều, chịu ảnh hưởng sâu của biển, thiếu nước ngọt nên chỉ làm được 1 vụ lúa vào mùa mưa Về địa chất, đất Tân Tập thuộc loại trầm tích Holoxen, loại trầm tích đồng bằng ven biển, với vật liệu chủ yếu là đất sét bùn xám xanh, giàu vỏ sinh vật
Về dân cư, Tân Tập có 14800 người, là xã có dân số cao nhất ở huyện Cần Giuộc Mật độ trung bình là 426 người/ km2 Các địa bàn tập trung đông nhất là dọc theo trục giao thông lộ 19 và các tuyến sông rạch chính như sông Ông Kiệt, sông Tắc Cạn Dân cư chủ yếu ở Tân Tập là người kinh, đại đa số có tính ngưỡng thờ cúng ông bà, tổ tiên, 1,6% theo phật giáo và 6,6% tín ngưỡng đạo cao đài
Về vấn đề văn hóa giáo dục, xã Tân Tập đã hoàn thành phổ cập tiểu học và đang phấn đấu hoàn thành phổ cập trung học cơ sở Hiện xã có 1 trường mẫu giáo, 3 trường tiểu học và 1 trường trung học cơ sở Chất lượng dạy và học được giữ vững, tỉ lệ lên lớp
và tốt nghiệp cuối cấp khá cao Cơ sở vật chất trong giáo dục được cải thiện xây dựng kiên cố và bán kiên cố, không còn mái tranh vách lá
Về xã hội, xã chú trọng đến việc cải thiện, nâng cao các chương trình về hạ tầng cơ
sở phục vụ dân sinh, cộng đồng như giao thông nông thôn, điện, nước sinh hoạt và các chương trình khác như vệ sinh môi trường, xóa đói giảm nghèo,… Hiện xã có 90% đường giao thông nông thôn được rải sỏi đỏ, 99% hộ gia đình được phủ lưới điện, tỉ lệ hộ nghèo còn 19% Trạm y tế xã có 22 giường với mạng lưới tổ chức y tế cơ sở góp phần có ý nghĩa trong công tác chăm sóc sức khỏe người dân địa phương (Lịch sử truyền thống Đảng bộ và nhân dân Tân Tập, 2008)
Với những đặc điểm trên, xã Tân Tập có rất nhiều cơ hội để phát triển Bên cạnh
đó, xã cũng đứng trước những khó khăn và thách thức mới Đời sống nhân dân còn bấp bênh, tình hình dân trí thấp, điều kiện giao thông nhiều khó khăn, y tế và sức khỏe cũng chưa đảm bảo, tình trạng dinh dưỡng trẻ em vẫn chưa được quan tâm đúng mức quan tâm
Trang 166
tới vấn đề sức khỏe trẻ em cũng chính là quan tâm đến con đường phát triển lâu dài trên chính mảnh đất có đầy tiềm năng này
2.2 Trường mẫu giáo Tân Tập
Trường mẫu giáo Tân Tập được thành lập vào năm 1998 với hai điểm trường tọa lạc tại ấp Tân Đông và ấp Tân Đại, xã Tân Tập huyện Cần Giuộc tỉnh Long An Tại thời điểm này, cơ sở vật chất của trường rất thô sơ, thiếu thốn cả về phòng ốc lẫn dụng cụ dạy
và học
Sau đó, trường lần lượt mở thêm các cơ sở mới ở ấp Tân Hòa (2001), Tân Chánh, Rạch Núi (2005), Tân Đại (2007), Tân Quý (2009) xã Tân Tập huyện Cần Giuộc tỉnh Long An Riêng cơ sở tại ấp Tân Quý vừa được xây dựng xong và chuẩn bị đưa vào hoạt động vào đầu năm học 2010
Hiện tại, trường đã có 6 cơ sở riêng với 10 lớp học (tám lớp buổi sáng và một lớp buổi chiều) Các lớp học được xây dựng kiên cố, an toàn hơn, không còn các lớp học mái
lá, không bị ngập vào mùa nước nổi Tuy nhiên, cơ sở vật chất còn nhiều thiếu thốn, không có không gian cho trẻ vui chơi Đặc biệt các em vẫn còn sử dụng chung nhà vệ sinh với các anh chị học sinh tiểu học
Các lớp học chỉ học một buổi sáng hoặc chiều Thứ sáu hàng tuần, trường có tổ chức bữa ăn phụ cuối tuần Các món ăn thường là cháo, nuôi, bánh kẹo, trái cây… do các giáo viên trường tự tổ chức và kinh phí không quá 5000 đồng/học sinh (trường mẫu giáo Tân Tập, 2009)
Vượt qua những khó khăn, thiệt thòi của một trường vùng hạ, trường mẫu giáo Tân Tập cũng đã gặt hái được nhiều thành tích trong thời gian qua như: giải nhất đơn ca Tiếng Hát Măng Non năm 2010, giải nhất múa thúng Liên hoan Văn Nghệ các trường mầm non huyện Cần Giuộc tỉnh Long An năm 2010, giải khuyến khích cuộc thi “Đổi mới công tác giảng dạy” tỉnh Long An năm 2009,…
Trang 177
Mặc dù vẫn còn tồn tại nhiều khó khăn trong công tác dạy và học, nhưng được sự
hỗ trợ tích cực của các cấp, ban ngành địa phương cùng những nỗ lực của đội ngũ cán bộ, giáo viên, công nhân viên, trường mẫu giáo Tân Tập đang dần dần cải thiện cơ sở vật chất, nâng cao chất lượng dạy và học, tạo sự an tâm hơn cho các bậc phụ huynh, góp phần nâng cao chất lượng cho nền giáo dục của địa phương
2.3 Tình trạng dinh dưỡng
2.3.1 Định nghĩa tình trạng dinh dưỡng
Tình trạng dinh dưỡng được định nghĩa là tập hợp các đặc điểm cấu trúc, các chỉ tiêu hóa sinh và đặc điểm các chức phận của cơ thể phản ánh mức đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng (Viện Dinh Dưỡng, 1998)
Tình trạng dinh dưỡng của các cá thể là kết quả của ăn uống và sử dụng các chất dinh dưỡng của cơ thể Số lượng và chủng loại của các loại thực phẩm cần để đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của con người khác nhau tùy theo tuổi, giới tính, tình trạng sinh lí, mức độ hoạt động thể lực và trí lực Việc sử dụng thực phẩm chủ yếu phụ thuộc vào tình trạng sức khỏe của cá thể Tình trạng dinh dưỡng tốt phản ánh sự cân bằng giữa thức ăn
ăn vào và tình trạng sức khỏe
Tình trạng dinh dưỡng của một quần thể dân cư được thể hiện bằng tỉ lệ của các cá thể bị tác động bởi các vấn đề dinh dưỡng Tình trạng dinh dưỡng của trẻ em từ 0 - 5 tuổi thường được coi là đại diện cho tình hình dinh dưỡng và thực phẩm của toàn bộ cộng đồng Đôi khi người ta cũng lấy tình trạng dinh dưỡng của phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ làm đại diện (Viện Dinh Dưỡng, 1998)
Sức khỏe của trẻ em là mối quan tâm sâu sắc của mỗi gia đình, tình trạng dinh dưỡng trong những năm đầu cũng là nền tảng quan trọng của sức khỏe trong cả cuộc đời
Ở Việt Nam, các can thiệp phục hồi dinh dưỡng cho trẻ suy dinh dưỡng, phòng chống thừa cân béo phì và dinh dưỡng trong hệ thống trường học cũng chưa có điều kiện triển
Trang 188
khai đầy đủ Nếu nhìn vào các vấn đề dinh dưỡng ở trẻ em, chúng ta có thể thấy rằng các vấn đề về SDD và béo phì là nghiêm trọng, đa dạng và dàn trải ở tất cả các địa phương trên cả nước
Hiện tại tỉ lệ SDD về chiều cao (SDD thấp còi - một dạng suy dinh dưỡng mãn tính) của trẻ em cũng hết sức nghiêm trọng Nó để lại hậu quả lâu dài về thể chất khi trưởng thành, dễ mắc phải các bệnh khi trưởng thành như: thừa cân béo phì, đái tháo đường
Vấn đề thừa cân béo phì ở trẻ em đang tăng nhanh, tỉ lệ này chung trên cả nước ở trẻ em 0 - 5 tuổi đã ở mức 5% Ở các thành phố lớn như Hà Nội, Tp.HCM tỉ lệ này đã ở mức 9 - 12% (Trần Chí Liêm, 2010)
Công tác phòng chống SDD và giảm tỉ lệ trẻ em thừa cân béo phì là vấn đề không chỉ ở Việt Nam mà các nước phát triển trên thế giới đang phải đối mặt và nếu không sớm khởi động các giải pháp và can thiệp thì việc tăng số lượng các bệnh mãn tính không lây ở người trưởng thành liên quan đến dinh dưỡng như cao huyết áp, đái tháo đường, ung thư… sẽ đến trong một tương lai không xa
2.3.2 Béo phì
Béo phì là kết quả của sự cân bằng năng lượng dương tính giữa năng lượng ăn vào
và năng lượng tiêu hao Là một trạng thái bệnh lý được đặc trưng bởi sự tích tụ mỡ quá mức cần thiết cho những chức năng tối ưu của cơ thể và làm tổn hại đến sức khỏe hay số lượng mỡ tăng cao bất thường đủ để gây nguy hiểm (Đào Thị Ngọc Diễn và Lê Thị Hải, 2002) Thừa cân và béo phì là tình trạng tập trung mỡ không bình thường hoặc quá mức gây nguy hại đến sức khỏe (WHO, 2006)
Theo Hills và Wahlqvist (1994) thì có 2 dạng béo phì được phân biệt ở nam và nữ
là dạng béo hình trái táo ở nam và dạng béo hình trái lê ở nữ Béo hình trái táo là dạng béo có lượng mỡ tập trung chủ yếu ỏ phần bụng, đây là dạng béo có mối nguy hiểm đến
Trang 19Nguyên nhân cơ bản sinh ra béo phì là sự mất cân bằng giữa năng lượng thu vào và năng lượng tiêu thụ của cơ thể theo hướng thay đổi chế độ ăn tăng lượng thức ăn giàu năng lượng, ít chất khoáng, vitamin… kết hợp với việc giảm các hoạt động thể lực Ngoài
ra béo phì còn chịu tác động của nhiều nguyên nhân về kinh tế, văn hóa, xã hội khác
Béo phì đang là mối đe dọa nghiêm trọng đến sức khỏe và tuổi thọ Béo phì ở trẻ
em là yếu tố nguy cơ cho béo phì ở tuổi trưởng thành, tăng nguy cơ mắc các bệnh: tăng huyết áp dẫn đến tai biến mạch máu não, tăng cholesterol dẫn đến nhồi máu cơ tim, đái tháo đường, bệnh xương khớp, thoái hóa cột sống do các khớp và cột sống luôn phải chịu sức nặng quá tải của cơ thể, bệnh sỏi mật, bệnh ngoài da và có nguy cơ cao mắc một số bệnh ung thư như ung thư vú, tử cung, tuyến tiền liệt…
Béo phì là một loại bệnh lý tốn rất nhiều kinh phí để phòng chống Ở Mỹ với khoảng 30% dân số béo phì đã phải chi phí hơn 50 tỉ đô la trong một năm Tổ chức Y tế Thế giới cũng đã khuyến cáo các nước hãy quan tâm hơn nữa đến béo phì và tác hại của
nó đối với sức khỏe Béo phì ở trẻ em nếu không phòng ngừa và điều trị sớm sẽ trở thành một gánh nặng cho y tế và xã hội
Trang 20Theo tổ chức UNICEF thì suy dinh dưỡng là một thuật ngữ chung thường được sử dụng để chỉ sự thiếu hụt dinh dưỡng nhưng theo chuyên môn thì nó còn liên quan đến vấn
đề dư thừa dinh dưỡng Người bị suy dinh dưỡng khi bữa ăn của họ không cung cấp đủ năng lượng và protein cho sự sinh trưởng và duy trì các chức năng của cơ thể hoặc khi người đó không có khả năng hấp thu đầy đủ lượng thực phẩm họ ăn vào do bệnh tật (UNICEF, 2006)
Về phương diện lâm sàng thì SDD được miêu tả là kết quả của sự dung nạp không đầy đủ của protein, năng lượng, và kết quả của việc mắc các bệnh truyền nhiễm kéo dài gây nên sự rối loạn chuyển hóa trong cơ thể (WHS, 2001)
2.3.3.2 Phân loại
Hiện nay trên thế giới có hai hệ thống phân loại suy dinh dưỡng: phân loại theo lâm sàng và phân loại trên cộng đồng (Nguyễn Công Khẩn, 2008)
2.3.3.2.1 Phân loại theo lâm sàng
Phân loại theo lâm sàng là kiểu phân loại khá kinh điển theo lâm sàng gồm các thể
thiếu dinh dưỡng nặng theo thang đo Wellcome:
Trang 2160 - 80% Kwashiorkor Thiếu dinh dưỡng (suy
dinh dưỡng độ I, II)
(Nguồn: Vũ Ngọc Ruẩn, 2008)
Trẻ có cân nặng theo tuổi còn 60 - 80% so với chuẩn và có phù là thể
Kwashiorkor
Trẻ có cân nặng theo tuổi còn <60% so với chuẩn và có phù là
Marasmus-Kwashiorkor, không có phù là thể Marasmus
2.3.3.2.2 Phân loại trên cộng đồng
Trên cộng đồng, SDD thể vừa và nhẹ thường gặp, nó có ý nghĩa quan trọng nhất vì
ngay cả SDD nhẹ cũng làm tăng gấp đôi nguy cơ bệnh tật và tử vong ở trẻ em Để xác
định tình trạng SDD chủ yếu người ta dựa vào các chỉ tiêu nhân trắc (CN/T, CC/T,
CN/CC)
a Một số cách phân loại trước đây:
Năm 1956, bác sĩ Gomez người Mexico đã đề xuất cách phân loại như sau: quy
cân nặng của đối tượng theo phần trăm so với cân nặng được xem là chuẩn của quần thể
tham khảo Havard Theo đó SDD độ I tương ứng với 75% - 90% cân nặng chuẩn, SDD
độ II tương ứng với 60% – 75% cân nặng chuẩn, SDD độ III khi dưới 60% cân nặng
chuẩn Trong một thời gian dài, cách phân loại theo Gomez được sử dụng như là cách
phân loại SDD duy nhất trên cộng đồng
Trang 2212
b Cách phân loại theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO)
Cách phân loại của Gomez khá đơn giản và dễ hiểu Tuy nhiên các ngưỡng phần trăm đề ra chưa tính đến các phân phối bình thường (phân phối chuẩn hay phân phối Gassian) trong cộng đồng và cách phân loại này không phân biệt được SDD mới xảy ra hay xảy ra lâu rồi Hầu hết các số đo nhân trắc cơ thể người của tất cả các nhóm dân tộc khác nhau đều tuân theo quy luật phân phối bình thường Giới hạn thường được sử dụng nhất là khoảng giới hạn từ -2 đến +2 độ lệch chuẩn (SD)
Năm 1981, WHO đã chính thức khuyến nghị sử dụng khoảng giới hạn từ -2SD đến +2SD để phân loại tình trạng dinh dưỡng trẻ em Quần thể tham khảo được sử dụng là NCHS (National Center for Health Stastistics) Cho tới nay, đây vẫn là thang phân loại rộng rãi nhất trên thế giới Thang phân loại SDD theo WHO được sử dụng theo các chỉ số sau:
Cân nặng theo tuổi:
SDD độ I: CN/T < -2SD đến – 3SD tương đương với cân nặng còn 70 -
80% so với trẻ bình thường
SDD độ II: CN/T < -3SD đến -4SD tương đương với cân nặng còn 60 - 70%
SDD độ III: CN/T < -4SD tương đương với cân nặng còn dưới 60%
Chiều cao theo tuổi:
SDD độ I: CC/T < -2SD đến – 3SD
SDD độ II: CC/T < -3SD đến -4SD
SDD độ III: CC/T < -4SD
Cân nặng theo chiều cao:
Cân nặng so với chiều cao thấp so với điểm ngưỡng là dưới -2 SD
Trang 2313
Để phân biệt SDD mới xảy ra gần đây hay đã lâu, Waterlow đã đề nghị cách phân loại như sau: SDD thể gầy còm (wasting - tức là hiện nay đang thiếu dinh dưỡng) biểu hiện bằng cân nặng theo chiều cao thấp so với chuẩn, SDD thể còi cọc (stunting – tức là SDD trường diễn) dựa vào chiều cao so với tuổi thấp hơn so với chuẩn
Trong phần mềm tính tỉ lệ SDD hiện nay, người ta sử dụng SD Score hay Z score tương đương như sau:
ethamkhao ncuaquanth
Dolechchua
ethamkhao hcuaquanth
Sotrungbin oduoc
kê, 60% trường hợp tử vong dưới 5 tuổi xảy ra ở các trẻ em có liên quan đến SDD (WHO, 2004)
Theo báo cáo của UNICEF (2006), trên thế giới, ở các nước đang phát triển có khoảng hơn 1/4 trẻ em bị SDD Ước tính gần 200 triệu trẻ em bị SDD sinh sống tại các nước đang phát triển, trong đó 73% của số này tập trung ở 10 nước ( Ấn Độ, Bangladesh, Pakistan, Trung Quốc, Nigeria, Ethiopia, Indonesia, Congo, Philippines, Việt Nam) Hơn 90% trẻ em sống tại châu Phi và châu Á không được cung cấp đủ dinh dưỡng, dẫn đến nhiều rối loạn phát triển thể chất, ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng dân số
Năm 2000, Liên hợp quốc đã nhất trí thông qua chương trình “Tám Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ (MDGs)” với ý kiến phê chuẩn của 190 quốc gia thành viên, cam kết
Trang 2414
thực hiện Một trong những mục tiêu quan trọng hàng đầu là giảm 2/3 tỷ lệ tử vong ở trẻ
em dưới 5 tuổi trong giai đoạn 1990 – 2015 (Hải Lê, 2009)
2.3.2.3.2 Tình hình suy dinh dưỡng ở Việt Nam
Số liệu thống kê những năm gần đây cho thấy tỷ lệ SDD chung ở trẻ em nước ta giảm nhanh rõ rệt, tuy nhiên SDD vẫn còn cao theo đánh giá của Tổ chức Y tế Thế giới, đặc biệt là SDD thể thấp còi và các vấn đề thiếu vi chất tiền lâm sàng Rõ ràng, SDD trẻ
em vẫn còn là một thách thức lớn đối với sức khỏe cộng đồng ở Việt Nam (WHO, 2008) Theo Jennifer Bryce (2005) “Tỷ lệ SDD và thiếu vi chất ở trẻ em Việt Nam xếp vào loại cao nhất thế giới 90% trẻ SDD thấp còi trên thế giới tập trung ở 36 nước nghèo, trong đó
có Việt Nam”
Việt Nam vẫn có tên trong số 20 nước trên thế giới có gánh nặng về dinh dưỡng
Cụ thể, tỷ lệ SDD về chiều cao của trẻ em vẫn còn là một vấn đề hết sức nghiêm trọng, đặc biệt SDD thể thấp còi là 31,9% (Lê thị Hợp, 2009) Hiện nay, tỷ lệ SDD cân nặng theo tuổi của trẻ em giảm từ 36,7% (1998) xuống 18,9% (2009), vượt hai năm so với mục tiêu đề ra của Chiến lược quốc gia về dinh dưỡng 2001 – 2010 (Viện Dinh Dưỡng, 2009)
Như vậy, mặc dù nước ta đã đạt được những thành tích đáng kể trong công tác phòng chống tỉ lệ SDD ở trẻ em trong những năm qua nhưng nhìn chung diễn biến SDD trẻ em vẫn còn khá phức tạp và kém bền vững (hình 2.1 và hình 2.2)
Trang 2515
Hình 2.1: Biểu đồ diễn biến suy dinh dưỡng thể nhẹ cân (CN/T) ở trẻ em dưới 5 tuổi toàn
quốc từ 1999 - 2009 (Nguồn: Viện Dinh Dưỡng, 2009)
Hình 2.2: Biểu đồ diễn biến suy dinh dưỡng thể thấp còi (CC/T) ở trẻ em dưới 5 tuổi toàn
quốc từ 1999 - 2009.(Nguồn: Viện Dinh Dưỡng, 2009)
Trang 2616
SDD trẻ em làm ảnh hưởng lâu dài và nghiêm trọng đến sự phát triển của kinh tế -
xã hội, làm tăng nguy cơ mắc bệnh và tử vong ở trẻ em Việt Nam đang đối mặt với gánh nặng kép về dinh dưỡng khi tỷ lệ trẻ SDD cao, tỷ lệ dân chúng có chiều cao thấp quá lớn,
tỷ lệ còi xương lớn, thiếu vi chất dinh dưỡng…
Thực trạng suy dinh dưỡng ở một số tỉnh thành trong nước:
Cùng với sự phát triển của khoa học dinh dưỡng và xuất phát từ những yêu cầu bứt thiết của xã hội, các công trình nghiên cứu tình trạng SDD của trẻ em cũng ngày càng gặt hái được nhiều thành tích tích cực hơn cả về số lượng lẫn chất lượng Kết quả của các nghiên cứu này là những đóng góp to lớn cho những kế hoạch can thiệp dinh dưỡng đúng đắn, phù hợp với từng thời kì phát triển của xã hội ứng với từng điều kiện về kinh tế, văn hóa, xã hội ở từng địa phương khác nhau Dưới đây là kết quả của một số cuộc khảo sát tình trạng dinh dưỡng ở tỉnh Bắc Ninh, Nam Định, Quảng Ngãi, Dak Lak, Thành phố HCM, Đồng Tháp, An Giang và Long An
Khảo sát tình trạng suy dinh dưỡng thấp còi và thiếu vi chất dinh dưỡng ở trẻ em 6 -
36 tháng tuổi tại hai xã thuộc huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh
Kết quả khảo sát tình trạng SDD thấp còi và thiếu vi chất dinh dưỡng ở trẻ em 6 -
36 tháng tuổi tại 2 xã thuộc huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh cho thấy tỷ lệ SDD thể nhẹ cân (CN/T), thể thấp còi (CC/T) và thể gầy còi (CN/CC) lần lượt là 33,2%; 36,7% và 8,4%
Trang 2717
Hình 2.3: Suy dinh dưỡng thể nhẹ cân, thấp còi và gầy còi theo nhóm tuổi
Hình 2.3 cho thấy suy dinh dưỡng thấp còi thấp nhất ở nhóm 6 - 12 tháng tuổi, tăng cao ở nhóm tuổi 13 - 24 tháng (từ 11,5% lên 36,5% và từ 13,8% lên 40,0%) và tiếp tục tăng ở nhóm 25 - 36 tháng, tuy nhiên mức độ tăng chậm hơn (từ 36,5% lên 46,3% và
từ 40% lên 50,8%) (sự khác biệt đều có ý nghĩa thống kê với p<0,001)
Bảng 2.2: So sánh tỉ lệ suy dinh dưỡng thấp còi của hai xã điều tra với số liệu của tỉnh
Bắc Ninh và toàn quốc
Tỷ lệ SDD thể thấp còi ở địa bàn nghiên cứu cao hơn số liệu của toàn quốc và tỉnh Bắc Ninh (36,7% so với 33,9% và 34%), sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,001 Tuy nhiên, ở địa bàn nghiên cứu, SDD chủ yếu là độ I, tỷ lệ SDD độ II ở địa bàn nghiên
Trang 28Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng suy dinh dưỡngtrẻ em dưới 5 tuổi xã Nam Vân ngoại thành Nam Định
Kết quả khảo sát cho thấy tỷ lệ SDD của trẻ dưới 5 tuổi ở xã Nam Vân còn ở mức cao, đặc biệt là suy dinh dưỡng thể còi cọc ( 22,5%) và gầy còm (12%) Tỷ lệ SDD tăng dần theo nhóm tuổi ở tất cả các thể Nghiên cứu đã xác định được một số yếu tố nguy cơ làm tăng tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi SDD một cách có ý nghĩa thống kê (OR > 1; ữ2 > 3,84 ; p < 0,05) là trẻ có bệnh tật ( tiêu chảy, ho sốt); trình độ học vấn của mẹ trẻ thấp (Trần Văn Long, Phan văn Hợp và CS, 2004)
Thực trạng suy dinh dưỡng theo chiều cao của trẻ em dưới 5 tuổi tại Nghệ An, năm
Tỷ lệ SDD chiều cao của trẻ em cao nhất trong các gia đình có 3 con (41,5%); và thấp nhất ở các gia đình có 1 con (28,7%), sự khác biệt này có ý nghĩa
Trang 2919
thống kê (p<0,01) Có sự khác biệt giữa tỷ lệ SDD trẻ em nông thôn (37,7%), miền núi (31,8%) và thành thị (11,1%) với p<0,05 (Phạm Văn Thao, 2009)
Thực trạng suy dinh dưỡng trẻ em tỉnh Quảng Ngãi:
Triển khai thực hiện Quyết định số 21/2001/QĐ - TTg ngày 22/02/2001 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược Quốc gia về dinh dưỡng giai đoạn 2001 -
2010 trên địa bàn tỉnh từ năm 2001 đến năm 2005, tỉnh Quảng Ngãi đã đạt được một số kết quả cơ bản như sau: Tỉ lệ trẻ em < 5 tuổi bị suy dinh dưỡng CN/T từ 39,8% năm 2000 còn 29,1%, suy dinh dưỡng CC/T từ 44,9% năm 2000 còn 30,6% (Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ngãi, 2007)
Tình hình suy dinh dưỡng ở trẻ em dưới 5 tuổi tại huyện Buôn Đôn tỉnh Đăklăk năm
2004
Tỷ lệ SDD chung của 3 xã là 41,7% Mức độ SDD chủ yếu là độ I (79,8%), độ II: 16,8%
và độ III rất thấp (3,4%) Tỷ lệ SDD giữa 2 giới nam và nữ tương đương nhau (nam: 40,9% và nữ: 42,4%) Tỷ lệ SDD nhóm 13 - 36 tháng và 37 - 60 tháng là 43,4% và 50,7% cao hơn 0 - 12 tháng Tỷ lệ SDD ở trẻ em dân tộc thiểu số (44,8%) cao hơn trẻ em dân tộc kinh (37,3%) (Kim Thị Thu Ba và cộng sự, 2004)
TP.HCM: Trẻ suy dinh dưỡng giảm, béo phì tăng:
Theo Trung tâm Dinh Dưỡng Tp.HCM, qua so sánh tình trạng dinh dưỡng nơi các
em dưới năm tuổi trong hai năm 1999 và 2001 cho thấy tỷ lệ SDD có giảm nhưng béo phì lại tăng lên Tỷ lệ SDD chung ở Tp.HCM từ 18,5%, giảm còn 14,8% Tỷ lệ thấp lùn từ 14,9%, giảm còn 9% Tỷ lệ SDD cấp từ 4,2%, giảm còn 3,9% Tỷ lệ thừa cân/béo phì từ 2,2% tăng lên đến 3,4%
Tại Cần Giờ, theo cuộc điều tra năm 1999, tỉ lệ SDD chung 25,9% so với toàn thành phố (18,1%), SDD thể còi 22,5% và SDD cấp thể còm 4,4%, tỉ lệ thừa cân 1,2% Tỉ
Trang 3020
lệ SDD cao nhất gặp ở lứa tuổi 13 – 60 tháng (cân nặng theo tuổi cao nhất là 30,2% ở trẻ
từ 13 – 24 tháng và chiều cao theo tuổi cao nhất là 30,5% ở trẻ từ 49 – 60 tháng), cân
nặng theo chiều cao ở trẻ từ 13 – 24 tháng chiếm tỉ lệ cao nhất 9,4% Kết quả điều tra cho
thấy tỉ lệ suy dinh dưỡng tập trung chủ yếu ở những trẻ dưới 60 tháng tuổi (Nguyễn Thị Kim Hưng và cộng sự, 1999)
Tình hình suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi và một số yếu tố liên quan tại xã Mỹ
An, huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp năm 2009
Tỷ lệ SDD trẻ em dưới 5 tuổi là 26,3% Tỷ lệ SDD theo nhóm tuổi cho thất tỉ lệ SDD trẻ em dưới 1 tuổi 3,6% ; 1 – 2 tuổi 31,9%, 3 tuổi 23,7% và 4-5 tuổi là 38,2% Các yếu tố tăng nguy cơ SDD trẻ em là mẹ thiếu kiến thức nuôi con, đứa trẻ có bệnh tiêu chảy trong tháng qua, mẹ có học vấn thấp (Phạm Thị Tâm, 2009)
Tình hình suy dinh dưỡng trẻ em tỉnh An Giang
Tỷ lệ SDD trẻ em (CN/T) dưới 5 tuổi tỉnh An Giang năm 2008 là 18,2 % (giảm 3,8 % so với năm 2007, tỷ lệ SDD trẻ em (CC/T) dưới 5 tuổi tỉnh An Giang năm 2008 là 30,0% (giảm 1,8 % so với năm 2007), tỷ lệ trẻ sinh nhẹ cân dưới 2.500 gam là 6,18 % (Sở
Y Tế tỉnh An Giang, 2009)
Tình hình suy dinh dưỡng trẻ em tỉnh Long An:
Dù xếp vào vùng Đồng bằng sông Cửu Long nhưng tỉnh Long An là phần đất chuyển tiếp giữa Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ Vì vậy Long An có tiềm năng lớn về kinh tế, văn hóa xã hội Trong những năm qua, Long An đã có những bước nhảy vọt trong phát triển kinh tế Đặc biệt Long An là một tỉnh có nền công nghiệp phát triển nổi bật trong vài năm gần đây (luôn đứng trong top 10 về chỉ số cạnh tranh và vốn đầi tư nước ngoài FDI) với những sản phẩm như dệt may, thực phẩm chế biến, xây dựng
Mặc dù có được sự quan tâm của các cấp, ban ngành đoàn thể trong công tác chăm sóc sức khỏe cho người dân, tuy nhiên tỉ lệ SDD ở Long An vẫn còn khá cao Tỷ lệ SDD
Trang 3121
trẻ em (CN/T) dưới 5 tuổi tỉnh Long An năm 2009 là 16 %, SDD theo CC/T là 25,9%, SDD theo CN/CC là 6,6 % Bên cạnh đó, vẫn chưa có cuộc điều tra khảo sát nào có thể phản ánh một cách khách quan tình trạng dinh dưỡng trẻ em trên địa bàn tỉnh (Viện Dinh Dưỡng, 2010)
2.3.2.4 Nguyên nhân suy dinh dưỡng
Các nguyên nhân của tình trạng SDD là phức hợp từ nguyên nhân trực tiếp là ăn uống, bệnh tật đến các yếu tố về chăm sóc và nguyên nhân gốc rễ là sự nghèo đói
Nguyên nhân trực tiếp
Nguyên nhân trực tiếp cơ bản đầu tiên của tình trạng SDD là thiếu ăn về số lượng hoặc chất lượng Trẻ em trước tuổi học đường là đối tượng SDD cao nhất vì cơ thể đang
ở giai đoạn phát triển nhanh, nhu cầu dinh dưỡng cao và vì nhiều nguyên nhân khác nhau (trẻ biếng ăn, ăn không đủ nhu cầu, thức ăn chế biến không phù hợp, năng lượng thấp…) mà chúng không được cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng cần thiết
Nguyên nhân thứ hai dẫn đến tình trạng SDD là do nhiễm khuẩn Hiện nay, người
ta đã biết rõ mối liên quan giữa dinh dưỡng và nhiễm khuẩn Nhiều quan sát đã cho thấy trẻ bị SDD thì hay mắc các bệnh nhiễm trùng cấp tính như các bệnh nhiễm trùng đường
hô hấp, tiêu hóa, biến chứng sau sởi, lỵ… Đặc biệt các bệnh tiêu chảy kéo dài là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến SDD SDD làm tăng tính cảm thụ đối với nhiễm khuẩn và nhiễm khuẩn làm cho SDD nặng thêm tạo thành vòng xoáy bệnh lý (Black, 2003; Bryce, 2005)
Nguyên nhân gián tiếp
Mặc dù thiếu ăn và nhiễm khuẩn là nguyên nhân chính dẫn đến SDD, nhưng đó không phải là những nguyên nhân duy nhất SDD còn xuất phát từ các nguyên nhân gián tiếp như kinh tế, văn hóa, xã hội, vệ sinh môi trường, dịch vụ chăm sóc y tế, thiên tai, chiến tranh…(Ethiop J Health Dev, 1994)
Trang 3222
Bên cạnh các nguyên nhân trực tiếp và gián tiếp gây nên tình trạng SDD thì các yếu tố như trẻ sinh non, trẻ SDD bào thai, mồ côi, trẻ sinh đôi, trẻ không được nuôi bằng sữa mẹ từ 4 – 6 tháng đầu đời, trẻ bị dị tật bẩm sinh, điều kiện kinh tế khó khăn, gia đình đông con, trẻ sống ở vùng nông thôn,… được xem là các yếu tố thuận lợi của tình trạng SDD trẻ em
Trên thế giới đã có rất nhiều cuộc nghiên cứu về mối quan hệ giữa trình độ học vấn của cha mẹ đối với tình trạng dinh dưỡng của con cái Nghiên cứu của AS Oyekale (2009) khẳng định mối quan hệ có ý nghĩa thống kê về vai trò quan trọng của trình độ học vấn của cha mẹ đối với tình trạng dinh dưỡng của con cái với mức ý nghĩa p<0,05 Tương tự, trong báo cáo của Smith và Hadad (2000), yếu tố trình độ học vấn của bà mẹ
là 1 trong 6 yếu tố quan trọng quyết định tình trạng SDD trẻ em Trong nghiên cứu của Kesitegile Gobotswang (1996) được tiến hành ở Botswana thì 23% trẻ em SDD từ các
hộ gia đình mà cha mẹ không được đi học, so với 15% và 12% trẻ em từ các hộ gia đình
có một người được thụ hưởng nền giáo dục tiểu học hay trung học, tương ứng
(p<0,0019) Giáo dục thường gắn liền với tình trạng kinh tế xã hội cao hơn
Một cuộc khảo sát đã được tiến hành tại các hộ gia đình ở Sri Lanka tiến hành vào năm 2002 Kết quả cho thấy rằng số trẻ cùng sống chung trong gia đình cũng được xem
là một trong nhung yếu tố tác động lên tình trạng SDD của trẻ thể nhẹ cân và thấp còi Điều này có thể giải thích là do có sự cạnh tranh giữa các anh chị em trong gia đình về thức ăn, dịch vụ y tế, sự chăm sóc của cha mẹ,…
Trang 33Một thực tế gây sốc rằng tỷ lệ SDD dưới ở Nam Á là gần gấp đôi những người ở
Châu Phi hạ Sahara Ước tính ban đầu cho thấy rằng các chi phí giải quyết các chương
trình vi chất dinh dưỡng ở Châu Phi là khoảng 235,000,000 USD/năm Dự toán khác là lớn hơn nhiều (750,000,000 USD cho các chi phí toàn cầu cho công tác bổ sung Vitamin A; khoảng 1 tỷ USD đến 1,500,000,000 USD cho muối bổ sung iod toàn cầu, bao gồm 800,000,000 USD cho 1,200,000,000 USD thừa hưởng từ khu vực tư nhân; và một vài tỷ
đô la cho cộng đồng các chương trình dinh dưỡng) (Praful Patel, 2007)
Các nghiên cứu chung của Chương trình Lương thực Thế giới Liên Hiệp Quốc và
Ủy ban Kinh tế châu Mỹ La tinh cho thấy SDD trẻ em chi phí Trung Mỹ và Cộng hòa Dominican 6,700,000,000 USD trong năm 2004 hay 6,4 % GDP trong nước của họ (WHO, 2007)
Trải qua thời gian dài chiến tranh gian khổ, thiếu thốn, tình trạng SDD đã để lại hậu quả rất nặng nề ở nước ta, thậm chí 10 - 15 năm sau ngày thống nhất tổ quốc SDD còn gây giảm khả năng trí tuệ, học hành kém và khó có thể đạt được năng suất lao động cao, dẫn tới giảm chất lượng giáo dục - đào tạo Ngân hàng Thế giới ước tính cho Việt nam, SDD làm giảm 5% GDP hàng năm Rõ ràng là SDD gây thiệt hại về kinh tế, thiệt hại và kìm hãm phát triển, ảnh hưởng đến nguồn nhân lực và ảnh hưởng tới nòi giống Các cộng đồng có tỷ lệ SDD cao thường dễ bị nghèo đói và nghèo đói - SDD là một vòng luẩn quẩn khó tìm ra hướng giải quyết triệt để
2.4 Đánh giá tình trạng dinh dưỡng ở trẻ em
Đánh giá tình trạng dinh dưỡng ở trẻ em là quá trình thu thập và phân tích thông tin, số liệu về tình trạng dinh dưỡng và nhận định tình hình trên cơ sở các thông tin và số
Trang 3424
liệu đó Tình hình dinh dưỡng của một cộng đồng, địa phương hay trên phạm vi cả nước
là cơ sở quan trọng để xây dựng và đánh giá các dự án về sức khỏe và kinh tế xã hội Để
có nguồn thông tin đáng tin cậy, đánh giá đúng tình trạng dinh dưỡng thì công tác thu thập thông tin, xử lí số liệu cần phải tiến hành đúng phương pháp và theo một quy trình hợp lí Công tác đánh giá tình trạng dinh dưỡng thường sử dụng một số phương pháp như: điều tra khẩu phần và tập quá ăn uống, phương pháp lâm sàng, phương pháp nhân trắc học, phương pháp hóa sinh, thống kê điều tra tỉ lệ tử vong và bệnh tật…(Viện Dinh Dưỡng, 1998)
2.4.1 Đánh giá tình trạng dinh dưỡng bằng phương pháp nhân trắc học
Điều tra nhân trắc học dinh dưỡng có mục đích là đo các biến đổi về kích thước và cấu trúc cơ thể theo tuổi và tình trạng dinh dưỡng Phương pháp nhân trắc học có những
ưu điểm là đơn giản, an toàn và có thể điều tra trên diện mẫu lớn, có thể đánh giá được các dấu hiệu về tình trạng dinh dưỡng trong quá khứ và hiện với từng mức độ khác nhau Trang thiết bị không đắt, dễ vận hành, vận chuyển Vì vậy, phương pháp nhân trắc học thường là sự lựa chọn cho các nghiên cứu ở diện rộng, nghiên cứu cắt ngang… Tuy nhiên phương pháp này cũng có một vài nhược điểm như: không đánh giá được sự thay đổi về tình trạng dinh dưỡng trong giai đoạn ngắn, hoặc không nhạy cảm vói những thiếu hụt dinh dưỡng đặc hiệu các nhóm kích thước nhân trắc thường được chia ra thành ba nhóm gồm:
Khối lượng cơ thể (biểu hiện bằng cân nặng)
Các kích thước về độ dài (đặc biệt là chiều cao)
Cấu trúc cơ thể và các dự trữ về năng lượng và protein
Trang 35 Chiều cao theo tuổi
Cân nặng theo chiều cao
Cân nặng theo tuổi
Chiều cao theo tuổi là một chỉ tiêu thích hợp để đánh giá tác động dài hạn gây nên tình trạng SDD thấp còi của trẻ (SDD từ quá khứ, trong một thời gian dài) Chiều cao theo tuổi của mỗi trẻ được so sánh với chiều cao của trẻ cùng tuổi, cùng giới trong quần thể tham chiếu của NCHS Thang phân loại mức độ SDD dựa theo độ lệch chuẩn như sau:
Cân nặng theo tuổi là một chỉ tiêu không mang giá trị dặc hiệu như hai chỉ tiêu trên Nó không thể cho ta biết được SDD từ trong quá khứ hay chỉ xảy ra gần đây (Onis, 2000) Cân nặng theo tuổi của mỗi trẻ được so sánh với cân nặng của trẻ cùng tuổi, cùng giới trong quần thể tham chiếu của NCHS Thang phân loại mức độ SDD dựa theo độ lệch chuẩn cũng giống như thang phân loại mức độ SDD dựa vào chiều cao theo tuổi
Trang 3626
2.5 Kết luận
Tại Việt Nam, bên cạnh các con số tỉ lệ béo phì ngày càng tăng thì tỉ lệ SDD ở cộng đồng, đặc biệt trên đối tượng trẻ em, có xu hướng giảm nhưng không bền vững Sức khỏe cộng đồng được cải thiện sẽ tạo nền móng vững chắc cho sự phát triển lâu dài của xã hội Vì vậy, tình trạng dinh dưỡng là đề tài nổi cộm đang thôi thúc các nhà dinh dưỡng học tham gia vào các cuộc nghiên cứu nhằm giải quyết vấn đề nan giải này Tuy nhiên các dịch vụ chăm sóc y tế, văn hóa giáo dục, kinh tế, chính trị, không đồng đều ở thành thị
và nông thôn, đồng bằng và vùng núi cũng như các khu vực trọng điểm và yếu điểm kinh
tế Công tác phòng chống SDD ở vùng sâu vùng xa vẫn chưa được quan tâm đúng mức Như vậy muốn cải thiện tình trạng SDD một cách bền vững thì hiển nhiên, chúng ta phải biết nguồn gốc trực tiếp, gián tiếp gây nên tình trạng đó Trên cơ sở này, đề tài đề xuất bộ công cụ khảo sát thực trạng SDD và một số yếu tố ảnh hưởng lên tình trạng đó
Trang 3727
Chương 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Nội dung nghiên cứu
3.1.1 Nội dung nghiên cứu
Khóa luận “Khảo sát một số yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng suy dinh dưỡng thể nhẹ cân và thấp còi của học sinh trường mẫu giáo Tân Tập” đã được tiến hành với những nội dung như sau:
Khảo sát tình trạng dinh dưỡng của học sinh trường mẫu giáo Tân Tập tại
ba điểm trường: Tân Đông, Tân Hòa, Tân Đại
Khảo sát một số yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng SDD thể nhẹ cân và thấp còi của trẻ
Ước lượng năng lượng cung cấp từ các bữa ăn hằng ngày đối với từng các thể
3.1.2 Giả thuyết nghiên cứu
Từ cơ sở lí thuyết về dinh dưỡng học kết hợp với các điều kiện đặc trưng ở địa phương, khóa luận đưa ra các giả thuyết nghiên cứu bao gồm:
Các bữa ăn hằng ngày không cung cấp đủ năng lượng cần thiết
Trang 3828
Chưa có sự quan tâm đúng mức của gia đình, địa phương đến tình trạng dinh
dưỡng của trẻ dẫn đến tình trạng tồn tại nhiều yếu tố tác động lên tình trạng SDD quần thể nghiên cứu như:
o Các yếu tố thuộc về gia đình và xã hội như trình độ văn hóa của người chăm sóc chính, số con trong gia đình
o Các yếu tố về vệ sinh như nguồn nước sinh hoạt, nước uống, rửa tay sau khi
đi vệ sinh
o Các yếu tố về dịch vụ chăm sóc y tế như: vấn đề tiêm chủng, sổ giun
o Thói quen uống sữa
3.2 Phương pháp nghiên cứu
3.2.1 Mô hình điều tra và phạm vi nghiên cứu
Mô hình điều tra
Cuộc khảo sát được thiết kế theo phương pháp điều tra cắt ngang (thiết kế và tổ chức điều tra một lần trong một khoảng thời gian nhất định tại một hoặc nhiều cộng đồng) trên quần thể học sinh trường mẫu giáo Tân Tập, xã Tân Tập, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An
Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu đã được tiến hành từ 1/3/2010 đến 12/8/2010 tại trường mẫu giáo Tân
Tập, xã Tân Tập, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An
3.2.2 Đối tượng khảo sát
Đối tượng khảo sát của ghiên cứu là học sinh trường mẫu giáo Tân Tập và người chăm sóc chính
Trang 3929
3.2.2.1 Học sinh
Nghiên cứu tiến hành thu thập thông tin trên tất cả học sinh có ngày sinh từ 1/1/2005 – 31/12/2005 trường mẫu giáo Tân Tập, xã Tân Tập, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An
Các thông tin cần thu thập gồm có:
Họ tên, ngày tháng năm sinh, cân nặng, chiều cao, giới tính của từng học sinh trường mẫu giáo Tân Tập
Tổng số học sinh, tỉ lệ nam/nữ học sinh đang theo học
Ngày, tháng, năm thực hiện cân đo
Bảng 3.1: Phân bố đối tượng nghiên cứu theo từng điểm của trường
3.2.2.2 Người chăm sóc chính của trẻ
Người chăm sóc chính của trẻ được phỏng vấn điều tra lấy ngẫu nhiên ở 3 địa điểm: điểm Tân Tập (I), Tân Hòa (II), Tân Đại (III) Việc lấy ngẫu nhiên người chăm sóc chính được tiến hành bằng cách gởi thư mời cho tất cả phụ huynh Khi người chăm sóc chính đến địa điểm phỏng vấn, điều tra viên sẽ phỏng vấn điều tra cho đến khi đủ số lượng mẫu yêu cầu (>=35) ở mỗi điểm trường Công tác loại trừ các bảng hỏi không đạt yêu cầu sẽ được thực hiện trong quá trình kiểm phiếu sau khi phòng vấn xong Bảng câu hỏi phỏng vấn gồm có 3 phần:
Trang 4030
Phần 1: Các thông tin cá nhân (họ tên, ngày tháng năm sinh, giới tính, dân tộc, nơi
ở hiện tại của người chăm sóc chính)
Phần 2: Các yếu tố xã hội (trình độ văn hóa của người chăm sóc chính, số con trong gia dình, nguồn nước sinh hoạt, bé có được thường xuyên uống sữa không, bé có bỏ bữa sáng không, bé có thường xuyên rửa tay sau khi đi vệ sinh không, bé có được sổ giun trong 6 tháng qua không, bé có bị bệnh (được bác sĩ chẩn đoán và kê toa) trong một tháng qua không…)
Phần 3: Thói quen ăn uống (mỗi gày bé ăn mấy bữa, ăn gì, bao nhiêu)
3.2.3 Đánh giá tình trạng dinh dưỡng
Phương pháp đánh giá tình trạng dinh dưỡng: dựa vào cân nặng theo tuổi (CN/T), chiều cao theo tuổi (CC/T) và cân nặng theo chiều cao (CN/CC) của trẻ trong tháng đang khảo sát, đối chiếu với các bảng kích thước nhân trắc tham khảo (Quần thể tham chiếu của NCHS) để đánh giá tình trạng SDD của trẻ theo kiến nghị của Tổ chức Y tế Thế giới
Tiêu chuẩn phân loại SDD, quy ước tính tuổi của trẻ được thực hiện theo tài liệu
"Measuring change nutritional status” (WHO, 1985)
Đánh giá SDD thể nhẹ cân bằng cách lấy cân nặng của trẻ đang khảo sát đối chiếu với cân nặng của những trẻ cùng tuổi, cùng giới trong quần thể của NCHS trong bảng cân nặng (Kg) theo tuổi trên trẻ nam và trẻ nữ Các điểm ngưỡng được trình bày trong bảng 3.2