1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NGHIÊN CỨU QUY TRÌNH KỸ THUẬT SẢN XUẤT THUỐC TRỊ BỆNH TIÊU CHẢY CHO HEO SỮA TỪ MỘT SỐ HOẠT CHẤT THỨ CẤP TRONG LÁ CÂY XUÂN HOA PSEUDERANTHEMUM PALATIFERUM

80 169 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 0,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

iii TÓM TẮT Đề tài “Nghiên cứu quy trình kỹ thuật sản xuất thuốc trị bệnh tiêu chảy cho heo sữa từ một số hoạt chất thứ cấp trong lá cây Xuân Hoa Pseuderanthemum palatiferum” được tiến

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

NGHIÊN CỨU QUY TRÌNH KỸ THUẬT SẢN XUẤT THUỐC TRỊ BỆNH TIÊU CHẢY CHO HEO SỮA TỪ MỘT SỐ HOẠT

CHẤT THỨ CẤP TRONG LÁ CÂY XUÂN HOA

Trang 2

Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu cấp bằng Kỹ sư ngành

Công Nghệ Hóa Học

Giáo viên hướng dẫn:

TS Phan Phước Hiền

KS Trịnh Thị Phi Ly

Tháng 9 năm 2010

Trang 3

ii

LỜI CẢM TẠ

Để thực hiện và hoàn thành tốt khóa luận này, trước hết em xin gửi lời cám ơn đến Ts Phan Phước Hiền và Kỹ sư Trịnh Thị Phi Ly, giáo viên hướng dẫn khóa luận, người đã giúp em định hướng, giành nhiều thời gian và công sức để truyền đạt những kiến thức, kinh nghiệm quý giá, tạo mọi điều kiện tốt cho em hoàn thành khóa luận này

Viện Nghiên Cứu Công Nghệ Sinh Học Và Môi Trường, Trường Đại Học Nông Lâm, trung tâm Sâm Và Dược Liệu – Đại Học Y Dược Thành Phố Hồ Chí Minh đã giành thời gian quý báo để chỉ dẫn và truyền đạt những kinh nghiệm, kiến thức cho em tron suốt thời gian thực hiện đề tài

Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh, thầy cô Bộ Môn Công Nghệ Hóa Học đã dìu dắt, giúp đỡ em trong bốn năm học vừa qua

ủng hộ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Cuối cùng, con xin ghi nhớ công ơn cha mẹ và những người thân đã nuôi dưỡng

và giáo dục con nên người

Xin chân thành cám ơn!

Nguyễn Trường Giang

Trang 4

iii

TÓM TẮT

Đề tài “Nghiên cứu quy trình kỹ thuật sản xuất thuốc trị bệnh tiêu chảy cho heo

sữa từ một số hoạt chất thứ cấp trong lá cây Xuân Hoa Pseuderanthemum palatiferum”

được tiến hành tại:

- Phòng thí nghiệm Hóa lý - Viện nghiên cứu Công nghệ sinh học và môi trường, Trường Đại Học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh

- Phòng thí nghiệm vi sinh - Viện nghiên cứu Công nghệ sinh học và môi trường, Trường Đại Học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh

- Trung tâm sâm và dược liệu, Trường Đại Học Y Dược TP Hồ Chí Minh

Thời gian thực hiện từ 25/2/2010 đến 15/9/2010 với các nội dung chính:

1 Thiết lập quy trình sản xuất chế phẩm từ cao chiết lá cây Xuân Hoa

2 Thử nghiệm hiệu lực kháng một số vi khuẩn đường ruột gây bệnh tiêu chảy

cho heo sữa như: E.coli, Salmonella typhi, Staphylococus aureus, Baccilus cereus

3 Thử nghiệm khả năng chống oxy hóa của cao cồn, cao ether và chế phẩm từ

lá cây Xuân Hoa

Kết quả thu được:

- Lá Xuân Hoa được chiết với phương pháp chiết ngâm dầm, sau đó chiết với các dung môi cồn, ether dầu hỏa và cho 2 loại cao: cao cồn và cao eter dầu hỏa Thử

nghiệm kháng các chủng vi khuẩn E coli, Salmonella typhi, Staphylococcus aureus,

Baccilus cereus…

- Tiếp tục xác định nồng độ ức chế tối thiểu của 2 loại cao bằng phương pháp pha loãng liên tiếp, cho thấy cao ether dầu hỏa có nồng độ ức chế tối thiểu cao hơn cao chiết cồn, với nồng độ ức chế tối thiểu ứng với các chủng vi khuẩn như sau:

Trang 5

cồn

Thuốc từ cao

Cao khô (hoặc bột

Thuốc bột từ cao cồn:

MICS.typhi = 312,5 μg/ml

MICE.coli = 187,5 μg/ml MICS.aureus= 375 μg/ml tetracyline:

MICS.typhi = 93,75 μg/ml

MICE.coli = 125 μg/ml MICS.aureus= 187,5 μg/ml Tiến hành xác định khả năng chống oxy hóa của 2 loại cao trước và sau khi chế biến thành chế phẩm cùng với bột lá Xuân Hoa trước và sau khi chế biến Kết quả cho

Trang 6

v

thấy cao cồn có khả năng chống oxy hóa cao nhất, thuốc bột từ lá Xuân Hoa có khả năng chống oxy hóa thấp nhất, với nồng độ mẫu thử có khả năng làm giảm 50% DPPH của từng loại như sau:

o Thuốc bột từ cao ether dầu: IC50 = 6,294 μg

Trang 7

vi

ABSTRACT

Topic "Research and technical production processes diarrhea medication for suckling pigs from a number of secondary substances in leaves of Xuan Hoa Pseuderanthemum palatiferum" was conducted at:

Environment, Agriculture and Forestry University Ho Chi Minh

Forestry University Ho Chi Minh

Minh

Implementation period from 02/25/2010 to 09/15/2010 with the main content:

1 Establishing a process extracts the modulation

2 Establishing a process of production of extracts from leaves of Xuan Hoa

3 Ettective resistancs testing some intestinal bacteria that causes diarrhea for

suckling pigs such as E.coli, Salmonella typhi, Staphylococcus aureus, Baccilus

cereus…

4 Tested the ability of ethanol extracts antioxidant, petrolium ether extracts and produces from the leaves of Xuan Hoa

The results are:

- Leaves of Xuan Hoa were extracted with extraction method and pickled, then extracted with ethanol, petroleum ether and achieve two kinds of ethanol extracts,

petrolium ether extracts Test strains of bacteria resistant E.coli, Salmonella typhi,

Staphylococcus aureus, Baccilus cereus

- Continue to determine the minimum inhibitory concentration of two types of ethanol extracts, petrolium ether extracts with method dilute consecution , petroleum ether extracts showed higher concentrations inhibit minimum than alcoholic extracts, with minimum inhibitory concentration response with bacterial strains as follows:

Trang 8

Ingredients

Medicinal powder from ethanol extracts

Medicinal powder from petroleum ether extracts

Medicinal powder from dried leaves Extracts (or powder

Excipients (wheat

drugs, but just try on medicinal powder from ethanol extracts because of medicinal powder from petroleum ether extracts have too much excipient Minimum inhibitory concentration of medicinal powder from ethanol extracts and the control experiment tetracyline with bacterial strains as follows:

Trang 9

viii

Medicinal powder from ethanol extracts:

MICS.typhi = 312,5 μg/ml

MICE.coli = 187,5 μg/ml MICS.aureus= 375 μg/ml

tetracyline:

MICS.typhi = 93,75 μg/ml

MICE.coli = 125 μg/ml MICS.aureus=187,5μg/

Determine the antioxidant capacity of two types of extracts before and after processing into powder preparations with leaves of Xuan Hoa before and after processing Results showed that ethanol extract is capable highest antioxidant, medicinal powder from leaves Xuan Hoa capable lowest antioxidant, a inhibitory concentration 50% of each type of DPPH as follows:

o Medicinal powder from petrolium ether extract: IC50 = 6,294 μg

Trang 10

ix

MỤC LỤC

Trang tựa i

LỜI CẢM TẠ ii

TÓM TẮT iii

ABSTRACT vi

MỤC LỤC ix

DANH SÁCH CÁC HÌNH xiii

DANH SÁCH CÁC BẢNG VÀ SƠ ĐỒ xiv

Chương 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục đích 2

1.3 Yêu cầu 2

Chương 2 TỔNG QUAN 4

2.1 Tổng quan về bệnh tiêu chảy 4

2.1.1 Bệnh tiêu chảy [50] 4

2.1.2 Nguyên nhân của bệnh tiêu chảy ở heo con [50] 4

2.2 Tổng quan về cây Xuân Hoa 6

2.2.1 Giới thiệu cây Xuân Hoa 6

2.2.2 Công dụng của cây Xuân Hoa 8

2.2.3 Một số nghiên cứu về tác dụng sinh học của cây Xuân Hoa 8

2.2.4 Thành phần hóa học của cây Xuân Hoa 11

2.3 Tổng quan về một số vi khuẩn đường ruột 15

2.3.1 Escherichia coli (E coli) [19] 15

2.3.2 Salmonella [19] 16

2.3.3 Staphylococcus aureus [14, 19] 17

2.3.4 Bacillus cereus [12] 18

2.3.5 Pseudomonas aeruginosa [15] 18

Chương 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20

Trang 11

x

3.1 Vật liệu 20

3.2 Đề tại được thực hiện tại 20

3.3 Thiết bị, dụng cụ, hóa chất 20

3.3.1 Thiết bị, dụng cụ, hóa chất cho việc chiết tách, cô lập 20

3.3.2 Thiết bị, dụng cụ và hóa chất dùng cho thử nghiệm vi sinh 21

3.4 Phương pháp nghiên cứu 21

3.4.1 Qui trình chiết cao 21

3.4.2 Điều chế các loại cao 22

3.4.2.1 Điều chế cao cồn 22

3.4.2.2 Điều chế cao ether dầu hỏa 22

3.4.3 Xác định độ ẩm nguyên liệu 24

3.4.3.1 Xác định ẩm độ lá Xuân Hoa tươi 24

3.4.3.2 Xác định độ ẩm bột lá Xuân Hoa khô 24

3.4.3.3 Xác định độ ẩm cao chiết thô 24

3.4.4 Tính hiệu suất chiết cao 25

3.4.5 Quy trình sản xuất chế phẩm dạng bột [20] 25

3.4.5.1 Sản xuất chế phẩm từ cao chiết 26

3.4.5.2 Sản xuất chế phẩm từ bột lá [20] 27

3.4.6 Xác định nồng độ vi khuẩn bằng phương pháp đếm [9] 28

3.4.7 Khảo sát tính kháng khuẩn của các loại cao bằng phương pháp đục lỗ [5] 29 3.4.8 Xác định nồng độ tối thiểu ức chế vi khuẩn (MIC) bằng phương pháp pha loãng liên tiếp [25] 31

3.4.8.1 Xác định nồng độ tối thiểu ức chế vi khuẩn (MIC) của cao cồn và cao ether dầu hỏa 31

3.4.8.2 Xác định nồng độ tối thiểu ức chế vi khuẩn (MIC) của chế phẩm từ lá Xuân Hoa 32

3.4.9 Khảo sát khả năng chống oxy hóa (antioxidant) [20] 34

Trang 12

xi

3.4.9.1 Phương pháp đánh bắt gốc tự do bằng thử nghiệm DPPH (test DPPH)

34

3.4.9.2 Xác định hoạt tính chống bằng thử nghiệm DPPH (Test DPPH) 35

3.4.9.3 Tính kết quả 37

Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 38

4.1 Độ ẩm nguyên liệu 38

4.2 Hiệu suất chiết cao 38

4.3 Công thức điều chế thuốc 39

4.4 Nồng độ vi khuẩn 40

4.5 Khảo sát tính kháng khuẩn của hai loại cao 41

4.6 Nồng độ tối thiểu ức chế vi khuẩn (MIC) 43

4.6.1 Nồng độ tối thiểu ức chế vi khuẩn (MIC) các hai loại cao 43

4.6.2 Nồng độ tối thiểu ức chế vi khuẩn (MIC) hai loại chế phẩm 45

4.7 Hoạt tính chống oxy hóa in vitro 48

4.7.1 Thẩm định hấp thu cực đại và mật độ quang của dung dịch chứng trong methanol 48

4.7.2 Hoạt tính chống oxy hóa (antioxydant) của các mẫu thử 49

4.7.2.1 Bột lá xuân hoa 49

4.7.2.2 Thuốc bột lá xuân hoa 50

4.7.2.3 Cao ether dầu hỏa lá Xuân Hoa 51

4.7.2.4 Thuốc bột từ cao ether dầu hỏa lá Xuân Hoa 52

4.7.2.5 Cao cồn từ lá Xuân Hoa 53

Chương 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 57

5.1 Kết luận 58

5.2 Đề nghị 60

TÀI LIỆU THAM KHẢO 61

Trang 14

xiii

DANH SÁCH CÁC HÌNH

Hình 2.1: Cây Xuân Hoa được thu hái ở Tây Ninh 7

Hình 3.1: Dịch chiết cồn lá Xuân Hoa 23

Hình 3.2: Chiết với ether dầu hỏa 23

Hình 3.3: Công thức hóa học của DPPH 34

Hình 3.4: Phương trình chuyển hóa DPPH 35

Hình 4.1: Chế phẩm dạng bột từ cao ether dầu hỏa 39

Hình 4.2: Chế phẩm dạng bột từ cao cồn 40

Hình 4.3 : Khả năng kháng khuẩn của cao cồn trên vi khuẩn Salmonella 41

Hình 4.4 : Khả năng kháng khuẩn của cao ether dầu trên vi khuẩn Salmonella 42

Hình 4.5 : Khả năng kháng khuẩn của cao ether dầu trên vi khuẩn E.coli 42

Hình 4.6: Khả năng kháng khuẩn của cao ether dầu trên vi khuẩn Staphylococcus aureus 43

Hình 4.7: Khả năng kháng khuẩn của cao cồn trên vi khuẩn Salmonella typhi 44

Hình 4.8: Khả năng kháng khuẩn của cao ether dầu trên vi khuẩn Salmonella typhi 44

Hình 4.9: Khả năng kháng khuẩn của tetracyline trên vi khuẩn E.coli 46

Hình 4.10: Khả năng kháng khuẩn của thuốc cao cồn trên vi khuẩn Salmonella 46

Hình 4.11: Độ hấp thu cực đại của DPPH trong dung môi methanol 48

Hình 4.12: Đồ thị biểu diễn hoạt tính chống oxy hóa của bột lá Xuân Hoa 49

Hình 4.13: Đồ thị biểu diễn hoạt tính chống oxy hóa của thuốc bột lá Xuân Hoa 50

Hình 4.14: Đồ thị biểu diễn hoạt tính chống oxy hóa của cao ether dầu hỏa lá Xuân Hoa 52

Hình 4.15: Đồ thị biểu diễn hoạt tính chống oxy hóa của bột cao ether dầu hỏa lá Xuân Hoa 53

Hình 4.16: Đồ thị biểu diễn hoạt tính chống oxy hóa của cao cồn lá Xuân Hoa 54

Hình 4.17: Đồ thị biểu diễn hoạt tính chống oxy hóa của bột cao cồn lá xuân hoa 55

Trang 15

xiv

DANH SÁCH CÁC BẢNG VÀ SƠ ĐỒ Bảng 2.1: Các thành phần hóa học của cây Xuân Hoa (Nguồn: Theo Huỳnh Kim

Diệu, 2005) 11

Sơ đồ 3.1: Quy trình chiết xuất các hợp chất từ lá Xuân Hoa 21

Sơ đồ 3.2: Quy trình sản xuất chế phẩm dạng bột từ cao chiết lá Xuân Hoa 26

Sơ đồ 3.3: Quy trình sản xuất chế dạng bột từ bột lá Xuân Hoa 27

Bảng 3.1 : Pha loãng các nồng độ thử kháng khuẩn 32

Bảng 3.2 : Pha loãng các nồng độ của chế phẩm thử kháng khuẩn 33

Bảng 3.3 : Pha loãng các nồng độ của tetracyline thử kháng khuẩn 33

Bảng 3.4: Pha mẫu thử nghiệm DPPH 37

Bảng 4.1: Độ ẩm nguyên liệu 38

Bảng 4.2: Thành phần các loại thuốc 39

Bảng 4.3: Nồng độ vi khuẩn 40

Bảng 4.4: Nồng độ ức chế tối thiểu của hai loại cao ứng với các chủng vi khuẩn 41

Bảng 4.5: Nồng độ ức chế tối thiểu của hai loại cao ứng với các chủng vi khuẩn 43

Bảng 4.6: Nồng độ ức chế tối thiểu của thuốc từ cao cồn và đối chứng dương tetracyline ứng với các chủng vi khuẩn 45

Bảng 4.7: Hiệu quả kháng khuẩn của cao chiết và chế phẩm so với đối chứng tetracyline (%) 46

Bảng 4.8: Hoạt tính chống oxy hóa trong bột lá Xuân Hoa 49

Bảng 4.9: Hoạt tính chống oxy hóa của thuốc bột lá xuân hoa 50

Bảng 4.10: Hoạt tính chống oxy hóa của cao ether dầu lá Xuân Hoa 51

Bảng 4.11: Hoạt tính chống oxy hóa của thuốc bột cao ether dầu hỏa lá Xuân Hoa 52

Bảng 4.12: Hoạt tính chống oxy hóa của cao cồn từ lá Xuân Hoa 53

Bảng 4.13: Hoạt tính chống oxy hóa của thuốc bột cao cồn lá xuân hoa 55

Bảng 4.14: Khả năng chống oxy hóa của cao chiết và chế phẩm từ lá Xuân Hoa với đối chứng vitamin C 56

Trang 16

1

Chương 1

MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề

Trong chăn nuôi heo, bệnh tiêu chảy là mối lo hàng đầu của các nhà chăn nuôi Bệnh tiêu chảy có thể làm heo bị chết, gây thiệt hại kinh tế và giảm năng suất chăn nuôi Có nhiều biện pháp được đưa ra nhằm làm giảm bớt thiệt hại này, việc chủng ngừa cho heo mẹ và sử dụng kháng sinh là cách phổ biến nhất nhưng vẫn chưa khống chế được tác hại của bệnh tiêu chảy

Cây Hoàn Ngọc hay cây Tú Linh, Nhật Nguyệt, Con Khỉ,….được dân gian cho là

có khả năng trị được bá bệnh Cây này được Trần Công Khánh định tên khoa học là

cây Xuân Hoa (Pseuderanthemum palatiferum) năm 1997 và xác định trong lá cây có chứa hoạt chất có khả năng diệt khuẩn, đặc biệt là Escherichia coli

Cây Xuân Hoa đã được đưa vào tiến hành thử nghiệm trong phòng bệnh tiêu chảy cho heo con theo mẹ và đạt những kết quả khả quan Điều đó đã mở ra một triển vọng mới về việc sử dụng cây Xuân Hoa trong chăn nuôi heo thay cho các thuốc kháng sinh tân dược hiện nay Việc lạm dụng kháng sinh ngày càng cao dẫn đến hiện tượng kháng thuốc, quen thuốc và loạn khuẩn Bên cạnh đó, kháng sinh thực vật không chỉ chữa khỏi bệnh nhiễm khuẩn mà còn đem lại những lợi ít thiết thực khác như làm tăng trọng heo con và một điều đáng chú ý là không gây nên hiện tượng kháng thuốc như việc sử dụng các loại kháng sinh tân dược

Ngoài ra, theo Lê Thị Hồng Hảo [48] ăn thịt có tồn dư kháng sinh với liều lượng thấp thường xuyên sẽ xuất hiện vi khuẩn kháng lại kháng sinh, không những gây lờn thuốc, loại bỏ những vi khuẩn có hại mà còn tiêu diệt cả các vi khuẩn có ích, tạo vitamin nhóm B trong đường tiêu hóa, gây khó khăn trong công tác điều trị phòng chống bệnh tật Một số loại vừa là kháng sinh vừa là hormone như dexametazon,

Trang 17

và vật nuôi bắt buộc phải đưa vào giai đoạn hạn chế sử dụng (phase out) càng sớm càng tốt, để cuối cùng là rút bỏ hoàn toàn trong thức ăn chăn nuôi Ngày nay, trong các bảng hướng dẫn quy trình phòng dịch cho gia súc, gia cầm, người ta không còn thấy nội dung trộn thuốc kháng sinh vào thức ăn hay nước uống cho vật nuôi nữa

Từ những việc cấm lạm dụng các loại thuốc kháng sinh tân dược trong thức ăn của gia súc, gia cầm cũng như trong việc điều trị bệnh, vấn đề đặt ra là tìm một loại thuốc trị bệnh tiêu chảy cho heo sữa có nguồn gốc tự nhiên, thân thiện với môi trường, vật nuôi mà không cần dùng đến các thuốc tân dược nhưng vẫn đạt hiệu quả cao, không gây hiệu tượng lờn thuốc

Được sự phân công của Bộ môn Công Nghệ Hóa Học, dưới sự hướng dẫn của

TS Phan Phước Hiền và Kỹ sư Trịnh Thị Phi Ly, chúng tôi đã thực hiện đề tài

“Nghiên cứu quy trình kỹ thuật sản xuất thuốc trị bệnh tiêu chảy cho heo sữa từ một số

hoạt chất thứ cấp trong lá cây Xuân Hoa Pseuderanthemum palatiferum”

1.2 Mục đích

Xây dựng qui trình sản xuất thuốc trị bệnh tiêu chảy cho heo sữa từ lá cây Xuân

Hoa Pseuderanthemum palatiferum

1.3 Yêu cầu

1 Thiết lập qui trình sản xuất chế phẩm từ cao chiết lá cây Xuân Hoa

2 Thử nghiệm hiệu lực kháng một số vi khuẩn đường ruột gây bệnh tiêu chảy

cho heo sữa như: E.coli, Salmonella typhi, Staphylococus aureus, Baccilus cereus

Trang 18

3

3 Thử nghiệm khả năng chống oxy hóa của cao cồn, cao ether và chế phẩm từ

lá cây Xuân Hoa

Trang 19

4

Chương 2 TỔNG QUAN 2.1 Tổng quan về bệnh tiêu chảy

2.1.1 Bệnh tiêu chảy [50]

Bệnh tiêu chảy ở heo con là hiện tượng heo con đi phân lỏng, sệt hay nước Nếu hiện tượng tiêu chảy ở heo con không thuyên giảm thì sẽ dẫn tới việc heo con bị mất nước trầm trọng, kiệt sức và chết

Như chúng ta đã biết, tình trạng tiêu chảy cũng là một phản ứng có lợi cho cơ thể nhằm đưa hết những chất lạ có hại cho cơ thể như độc tố hoặc các men do vi khuẩn gây hại tiết ra đi ra khỏi cơ thể (theo cơ chế lấy nước trong cơ thể đưa vào ruột để việc thải chất độc ra khỏi cơ thể được dễ dàng hơn) Cho nên ưu tiên hàng đầu trong điều trị bệnh là làm cân bằng vi sinh vật đường ruột (vi khuẩn có lợi lớn hơn hoặc bằng vi

khuẩn có hại) và bù nước vào cơ thể

2.1.2 Nguyên nhân của bệnh tiêu chảy ở heo con [50]

a Do đặc điểm của bộ máy tiêu hóa heo con

Ở heo con mới sinh bộ máy tiêu hóa chưa hoàn chỉnh, thể hiện qua sự phân tiết không đủ lượng acid chlohydric và các men tiêu hóa các chất dinh dưỡng Trên heo con sơ sinh, khả năng tiết acid chlohydric rất ít, chỉ đủ để hoạt hóa men pepsinogen thành pepsin (men tiêu hóa chất đạm), lượng acid chlohydric tự do quá ít, vi khuẩn bất lợi theo đường miệng có điều kiện sống sót ở dạ dày, vào ruột non vi khuẩn phát triển mạnh gây nên tiêu chảy Sự phân tiết các men tiêu hóa ở dạ dày và ruột non cũng rất kém, chỉ đủ sức tiêu hóa các loại thức ăn đơn giản như sữa; thí dụ men tiêu hóa chất đạm (protease) gồm pepsin, trypsin, chymotrypsin chỉ đủ để tiêu hóa protein của sữa

Trang 20

5

hoặc protein đậu nành và không đủ để tiêu hóa được protein của gạo, bắp, bột cá, bánh dầu trong vòng tuần lễ đầu sau khi sanh Men saccharase chỉ hoạt động mạnh sau 2 tuần, men mantase chỉ được phân tiết đầy đủ sau 4 tuần

Yếu tố này cho thấy trong vòng 2 tuần lễ sau khi sanh, heo con chỉ có thể tiêu hóa được sữa hoặc loại thức ăn tập ăn với thành phần chủ yếu là sữa Trên những bầy heo quá đông, hoặc phải nuôi hộ vì heo nái mẹ mắc bệnh, nếu sử dụng thức ăn không đúng, thí dụ dùng sữa đặc có đường cho heo con bú sẽ dẫn đến tiêu chảy vì đường saccharose không hề được tiêu hóa trong giai đoạn này Sự tập ăn cũng phải được cân nhắc, phải sử dụng các loại thức ăn tập ăn có chất lượng cao, nếu tập ăn bằng thức ăn

có chất lượng kém, do heo con không thể tiêu hóa được sẽ dẫn đến tiêu chảy

b Do các yếu tố quản lý, chăm sóc chưa hợp lý với 6 vấn đề chủ yếu sau

1 Không cho heo con bú sữa đầu đầy đủ: sữa đầu ngoài thành phần dinh dưỡng cao, còn chứa các kháng thể từ mẹ truyền sang, giúp heo con phòng chống bệnh trong

3 - 4 tuần lễ đầu Cần lưu ý sữa đầu chỉ có giá trị phòng bệnh cho heo con khi hội đủ 2 vấn đề sau đây Heo con phải được bú càng sớm càng tốt và càng nhiều càng tốt, sau

24 giờ kháng thể trong sữa đầu sẽ giảm thấp, đồng thời lúc này men tiêu hóa chất đạm bắt đầu hoạt động sẽ phá hủy hết kháng thể trong sữa đầu

2 Phải tiêm phòng cho heo mẹ các bệnh mà heo con dễ mắc phải, thí dụ dịch tả,

giả dại, thương hàn, tiêu chảy do E.coli nhằm tạo miễn dịch chủ động cho heo mẹ,

và từ đó chất miễn dịch mới được truyền sang cho heo con Nếu không tiêm phòng cho nái, việc heo bú sữa đầu cũng không tạo ra được cho heo con khả năng phòng bệnh Không úm cho heo con, hoặc úm không đúng quy cách làm heo con bị lạnh, hệ tiêu hóa sẽ hoạt động yếu, thể hiện qua sự giảm nhu động ruột, giảm phân tiết dịch tiêu hóa, dẫn đến tình trạng không tiêu, rồi viêm ruột, tiêu chảy

3 Vệ sinh rốn không tốt: heo con bị viêm rốn sẽ tiêu chảy, do đó sau khi sanh phải dùng dây và dụng cụ sạch cột và cắt rốn, sát trùng bằng iodine sau khi cắt và sau

đó tiếp tục sát trùng rốn ngày 2 lần cho đến khi rụng

Trang 21

6

4 Không cung cấp sắt cho heo con: sắt rất cần cho heo con để thành lập hồng cầu, do trong sữa mẹ chứa rất ít chất sắt, do đó phải cấp thêm cho heo con bằng cách chích chất sắt Thiếu sắt sẽ dẫn đến thiếu máu, là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến tiêu chảy

5 Do heo mẹ mắc hội chứng M.M.A (còn gọi là hội chứng: viêm vú, viêm tử cung, kém sữa): sự nhiễm trùng vú hoặc tử cung sau khi sanh sẽ gây vấy nhiễm vi trùng vào đường tiêu hóa heo con

6 Điều kiện vệ sinh kém: bao gồm không sát trùng chuồng nái trước khi sanh, cho nái ăn thức ăn kém phẩm chất, có chứa độc tố vi trùng hoặc nấm mốc Nguồn nước uống không sạch cũng được xem là nguyên nhân chính dẫn đến sự nhiễm trùng đường ruột

c Do nhiễm trùng đường ruột

Sự nhiễm trùng đường ruột thường xảy ra với các loại mầm bệnh có sẵn trong chuồng trại (do sát trùng không hợp lý), do mầm bệnh từ heo mẹ truyền sang, hoặc mầm bệnh có trong thức ăn, nước uống

Nếu chúng ta tuân thủ nghiêm ngặt quy trình chăn nuôi và vệ sinh thú y, sức kháng bệnh heo con tốt, dù nhiễm khuẩn xảy ra, thì cơ thể heo con có thể tự chống chọi được, hoặc mắc bệnh với thể nhẹ Ngược lại nếu sự nhiễm trùng đường ruột đi kèm theo các yếu tố đã đề cập trên chắc chắn bệnh sẽ rất nặng, việc chữa trị sẽ rất tốn

kém và ít hiệu quả

2.2 Tổng quan về cây Xuân Hoa

2.2.1 Giới thiệu cây Xuân Hoa

Cây Xuân Hoa có tên khoa học là Pseuderanthemum palatiferum (Nees) Radlk., thuộc họ Ô rô (Acanthaceae) Tên khoa học cũ là Eranthemum palatiferum

[19] Ngoài tên Xuân Hoa còn có một số tên khác như cây Hoàn Ngọc, cây Tú Linh, cây Nhật Nguyệt, cây Con Khỉ, cây Thần dưỡng sinh, cây Trắc Mã, cây Điền Tích, cây Lan Điều [34]

Trang 22

7

Xuân Hoa là cây tiểu mộc, cao 1 - 2 m, sống lâu năm Lá cây Xuân Hoa mọc đối, hình mũi mác, lá có phiến thon, to 20 x 4,5 cm, mặt dưới có 8 - 9 cặp gân phụ, cuống dài 5,5 cm [4] Lá Xuân Hoa già thì đắng, có bột, lá non nhớt, không mùi, không có độc tố Vỏ và rễ có mùi như lá già, lá cây tươi có tác dụng kích thích thần kinh Dùng nhiều có cảm giác say nhẹ trong thời gian ngắn [33] Hoa mọc ở kẽ lá hoặc đầu cành, lưỡng tính, phát hoa không chia nhánh, cao 30 cm, lá đài như kim, dài 5 - 6

mm, vành có ống dài 2 - 4 cm, tai tím xanh hay trắng, môi trên lõm, môi dưới 3 thùy

to, nang có lông mịn, cao 3.5 cm Quả nang 2 ổ, mỗi ổ chứa 2 hạt Mùa ra hoa từ tháng

4 đến tháng 5 âm lịch [4] Rễ có khả năng làm thông máu, trị được các bệnh xơ vữa động mạch, động mạch vành, lợi tim [6]

Cây Xuân Hoa được phát hiện vào cuối những năm 1990 ở rừng Cúc Phương, miền Bắc Việt Nam, là một cây thuốc mới được dùng trong dân gian để chữa một số bệnh như: nhiễm khuẩn đường tiêu hóa, viêm đại tràng, đại tràng kém hấp thu, đau dạ dày, loét hành tá tràng, chảy máu đường ruột, chấn thương chảy máu, khôi phục sức khỏe cho người ốm yếu, chữa suy nhược thần kinh [22] Thời gian gần đây, một số Việt kiều ở Mỹ cũng đãdùng cây Xuân Hoa để chữa bệnh đái tháo đường Bệnh nhân dùng liên tục cây Xuân Hoa giữ được ổn định tỷ lệ đường trong máu [35]

Hình 2.1: Cây Xuân Hoa được thu hái ở Tây Ninh

Trang 23

8

2.2.2 Công dụng của cây Xuân Hoa

Theo dân gian cây Xuân Hoa có một số công dụng [33]:

- Ðau dạ dày do bị loét, viêm: ăn 2 lần/ngày Mỗi lần không quá 7 lá Khoảng 50 lá là khỏi

- Chảy máu đường ruột: Uống lá tươi hoặc lá đã nát, dùng 7–10 lá Khoảng 1-2 lần là khỏi

- Viêm đại tràng co thắt: Ăn như trên, 100 lá, kết hợp ăn lá Mơ lông trong bữa ăn Ăn

từ 1 đến 2 tháng

- Viêm gan, xơ gan cổ trướng: Ngày ăn 2-3 lần, mỗi lần 7 lá, dùng khoảng 150 lá

- Ðau thận, viêm thận, đau thường xuyên: Dùng không quá 50 lá, chỉ khoảng 30 lá là dứt cơn đau, ngày 3 lần, mỗi lần 3-7 lá

- Tả lỏng, đi lỵ, rối loạn tiêu hóa: 7-15 lá, dùng 2 lần là khỏi

- Mệt mỏi toàn thân: 3-7 lá, ăn 2 lần

- Ðái rắt, đái buốt, đái đục, đái ra máu: Ăn từ 14-21 lá hoặc giã nát uống nước đặc

- Chữa bệnh cho gà dùng 1-3 lá, gà chọi sau khi chọi 1-3 lá Chó cảnh đẻ ăn 1 lá sau 1 ngày đẻ là mạnh ngay Ðau mắt đỏ, mắt trắng, ứ máu trong mắt lấy 3 lá đắp vào mắt sau một đêm là khỏi

2.2.3 Một số nghiên cứu về tác dụng sinh học của cây Xuân Hoa

Năm 1997, Trần Công Khánh và cộng sự đã thử sơ bộ tác dụng kháng khuẩn, kháng nấm của lá cây Xuân Hoa cho thấy có tác dụng ức chế vi khuẩn gram âm ở

đường tiêu hóa, đặc biệt E.coli, ức chế vi khuẩn gram dương, nấm mốc, nấm men với

liều 0,75 – 1,5 g lá tươi hoặc 0,15 – 0,3 g bột lá / kg thể trọng [9]

Năm 1998, Lê Thị Lan Oanh và cộng sự đã thử độ độc của dịch chiết lá Xuân Hoa (chiết bằng nước hoặc bằng dung dịch đệm phosphate) cho thấy lá Xuân Hoa không độc với cá chọi Ngoài ra protein của lá cây Xuân Hoa bền với nhiệt: khi sấy khô ở 50– 60oC, hoạt tính của proteinase còn giữ lại được khoảng 30% so với lá tươi [13, 16]

Trang 24

9

Năm 1999, để góp phần xác minh tác dụng được lưu truyền trong dân gian và chứng minh tác dụng sinh học của cây thuốc này, Trần Công Khánh và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu độc tính cấp diễn và tác dụng bảo vệ tế bào gan của lá cây Xuân Hoa

trên invivo Kết quả là cao toàn phần của lá Xuân Hoa trên thực nghiệm không gây

chết chuột ở tất cả các liều, tức không thể hiện độc tính Ngoài ra, cao đặc toàn phần của lá cây Xuân Hoa có tác dụng ức chế quá trình peroxy hóa lipid màng tế bào, nghĩa

là có xu hướng tác dụng bảo vệ tế bào gan trên thực nghiệm [10]

Năm 2002, Huỳnh Kim Diệu đã điều chế ra chế phẩm bột Xuân Hoa và tiến hành một chuỗi các thí nghiệm, từ đó đưa ra một số kết quả quan trọng trong việc thử nghiệm tác dụng của bột lá Xuân Hoa trên tăng trọng và trên bệnh tiêu chảy ở heo con sau cai sữa, trong phòng bệnh tiêu chảy heo con theo mẹ, phòng bệnh tiêu chảy heo con thông qua tác động trên heo mẹ và so sánh hiệu quả của bột Xuân Hoa với vime anticoc trong phòng bệnh tiêu chảy heo con theo mẹ [21]

Năm 2005, để tìm hiểu hiệu lực tác động của cây Xuân Hoa trên tăng trọng và trên bệnh tiêu chảy của heo con, 644 heo con (396 heo con sau cai sữa và 248 heo con theo mẹ), lá tươi hoặc lá khô được cho heo ăn hàng ngày trên các lượng khác nhau Kết quả đạt được: tốc độ tăng trưởng nhanh hơn, số heo còi, bệnh tiêu chảy, số heo chết giảm, số heo mắc bệnh và số ngày tiêu chảy trung bình giảm Với liều dùng 0,2 g/kg thể trọng/ngày có kết quả cao hơn so với liều dùng 0,1 g/kg thể trọng/ngày Hiệu lực của bột khô tương đương với hiệu lực lá tươi [18] Từ các kết quả trên, nhận thấy tác động của bột Xuân Hoa trên tăng trọng và trên bệnh tiêu chảy heo con theo mẹ đã đạt được những kết quả khả quan, mở ra một hướng triển vọng mới về việc vận dụng bột lá cây Xuân Hoa trong chăn nuôi heo, nhằm thay thế hoặc làm giảm lượng thuốc kháng sinh tân dược đang dùng hiện nay, vốn đã xảy ra hiện tượng kháng thuốc, quen thuốc và loạn khuẩn do tình hình lạm dụng kháng sinh ngày càng phát triển ở Việt Nam và nhiều nước trên thế giới Đó là chưa kể những tai biến nguy hiểm do kháng sinh tân dược gây ra So sánh với kháng sinh tân dược, người ta thấy các cây thuốc có hiệu lực kháng sinh tuy không mạnh bằng nhưng cũng đủ để chữa khỏi nhiều bệnh

Trang 25

10

nhiễm khuẩn Không những thế, chúng còn có nhiều ưu điểm mà thuốc kháng sinh tân dược không có Trước hết là vấn đề kháng thuốc, đây là chuyện nan giải đối với kháng sinh tân dược hiện nay, nhưng đối với kháng sinh thực vật người ta chưa thấy hiện tượng này Ưu điểm của kháng sinh thực vật là rất ít độc nên không gây ra những tai biến nguy hiểm

Năm 2003, để xác định hiệu quả của bột Xuân Hoa, chế phẩm từ lá Xuân Hoa, trên trị bệnh tiêu chảy heo con theo mẹ, so sánh với hai loại kháng sinh đang dùng trị bệnh tiêu chảy heo con rất hiệu quả: coli-norgen và cotrimxazol Tỉ lệ khỏi bệnh của heo sau 3 ngày điều trị của nghiệm thức điều trị bằng bột Xuân Hoa là 92,86%, của nghiệm thức điều trị bằng coli-norgen là 90,48% và nghiệm thức điều trị bằng cotrimxazol là 83,33% Tỉ lệ tái phát theo thứ tự là: 7,14%; 9,52% và 14,29% Số ngày tiêu chảy trung bình theo thứ tự là: 2,16 ngày; 2,24 ngày và 2,03 ngày Kết quả phân

lập vi khuẩn từ phân heo bệnh cho thấy tác nhân gây bệnh là E.coli, không tìm thấy các tác nhân gây bệnh khác Số lượng E.coli trong phân heo tiêu chảy sau 3 ngày điều

trị đều giảm: trị bằng bột Xuân Hoa giảm 88,06%, trị bằng coli-norgen giảm 66,41%

và trị bằng cotrimxazol giảm 97,28% [21]

Mở rộng cho nghiên cứu trên, năm 2007, Huỳnh Kim Diệu đã thí nghiệm so

sánh hiệu quả điều trị của các chế phẩm từ lá cây Xuân Hoa (Pseuderanthemum

palatiferum) với một số thuốc kháng sinh Lá Xuân Hoa sử dụng dưới dạng chất chiết

và dạng bột, thuốc kháng sinh gồm các loại đã và đang được sử dụng điều trị có hiệu quả tiêu chảy cho heo con là cotrimoxazole (gồm sulfamethoxzol và trimethoprim), coli-norgent (gồm colistin, norfloxacin, gentamicin và trimethoprim) và aralis (apromicin, colistin, atropin và vitamin B) Kết quả cho thấy sử dụng bột Xuân Hoa với liều 1 g/kg thể trọng cho hiệu quả tương đương cotrimoxazol liều 0,1g/kg thể trọng hoặc coli-norgent liều 0,1 g/kg thể trọng; ở dạng chất chiết với liều 0,05/kg thể trọng cho hiệu quả tốt hơn aralis liều 0,6 ml/kg thể trọng [6] Lá cây Xuân Hoa được dùng

để điều trị và ngăn ngừa 25 bệnh ở người và một số bệnh ở động vật (xem phụ lục 9 và 10) Với mục đích phòng bệnh thường dùng từ 3 - 6 lá/ngày, với mục đích trị bệnh

Trang 26

11

thường dùng từ 7 - 9 lá/ngày, thời gian dùng tùy thuộc vào từng loại bệnh khác nhau [22]

2.2.4 Thành phần hóa học của cây Xuân Hoa

Cây Xuân Hoa không chỉ được dùng để trị bệnh cho người mà còn được dùng

để phòng và trị bệnh cho vật nuôi như : làm lành vết thương, chấn thương, đau bụng, viêm ruột, cao huyết áp, viêm thận và tiêu chảy Vì vậy mà còn được gọi là cây thuốc

kì diệu Sau một loạt các nghiên cứu đã xác định được tên khoa học và phân tích được một số các thành phần hóa học có trong cây như: β-sitosterol, stigmasterol, β-amyrin, acid oleanolic mà Phan Phước Hiền và cộng sự đã công bố trong Hội Nghị Hóa Hữu

cơ toàn quốc lần 3 năm 2005 và các dotriacontan, phytol, squalene, metylencycloartanol, loliolide, β- sitosterol glucoside, stigmasterol glucoside, acid palmitic, apigenin 7- O- β glucoside, indole- 3- carboxaldehyde, uracil, adenine, …có trong lá cây Xuân Hoa [21, 11] và một số chất như: lupeol, lupenone, betulin, asperglaucide, acid pomolic, …có trong rễ cây Xuân Hoa [33]

24-Bảng 2.1: Các thành phần hóa học của cây Xuân Hoa (Nguồn: Theo Huỳnh Kim

Trang 27

12

Hàm lượng Fe trong cây Xuân Hoa cao hơn gấp 4 lần hàm lượng Fe trong đậu nành , và cao hơn 3 lần trong gan heo Fe trong thực vật góp phần cải thiện tình trạng sinh lí máu Quá trình tái tạo hồng cầu của heo con rất cần Fe, đặc biệt là hemoglobin,

có chức năng vận chuyển O2 và CO2 Lá Xuân Hoa có chứa protein chịu nhiệt, gọi là pseuderantin (0,4% protein thô), có hoạt tính mạnh trong việc tiêu hóa casein do đó giúp cho quá trình tiêu hóa sữa sẽ tốt hơn Theo tài liệu Từ Điển Bách khoa Dược học (1997), trang 714, tác giả Trần Công Khánh và cộng sự đã xác định trong cây Xuân Hoa có sterol, coumarin, đường khử , carotenoit, flavonoit, axit hữu cơ, vết saponin, vết chất béo và chất tinh khiết β-Sitosterol 0,1% có trong lá khô [35]

β-sitosterol: là sterol có dạng sáp, tan trong hầu hết các dung môi hữu cơ

nhưng không tan trong nước β-sitosterol có khả năng làm giảm cholesterol trong cơ thể β-sitosterol còn có tác dụng làm giảm đau đối với những bệnh nhân ung thư và làm hạn chế sự phát triển của những tế bào ung thư (chỉ mới được thực hiện trên ống nghiệm) [38], ngăn chặn phát triển khối u ở tiền liệt tuyến Ngoài ra β-sitosterol còn làm tăng hệ miễn dịch, điều hòa lượng đường trong máu, chống virut, vi khuẩn, nấm mốc, làm giảm viêm, làm liền vết thương Ở Nhật, β-sitosterol còn được dùng để trị chứng hói đầu [39]

Phytol: là một chất lỏng có dạng giống dầu, không tan trong nước, tan trong

dung môi hữu cơ, không màu, là sản phẩm thủy phân của chlorophyl Trong công

dược trong điều chế vaccin [40], cải thiện thành phần cấu tạo của da [44]

Squalene: là hydrocarbon béo, không no, không màu, được tìm thấy có nhiều

trong dầu gan cá mập và tuyến bã nhờn Trong ngành dược, squalene là một tá dược lỏng, làm tăng tính thấm, khả năng hấp thu của thuốc mỡ Nó cung cấp nhiều vitamin

A và D Những dưỡng chất do squalene cung cấp thúc đẩy sự phát triển bình thường

Trang 28

13

của răng và da Chúng cũng là những dưỡng chất thiết yếu để duy trì thị lực tốt [45] Squalene được dùng để sản xuất mỹ phẩm bảo vệ da, làm ẩm và làm đẹp da, squalene tác động vào lớp tế bào sừng, tăng cường hiệu qủa bảo vệ da Ngoài ra squalene còn có một số tác dụng khác [46] như :

- Kết hợp với pravastatin: làm giảm lượng cholesterol toàn phần và LDL cholesterol và làm tăng HDL cholesterol

- Đối với động vật, squalene có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ võng mạc

- Giải độc cho các hợp chất gây độc: squalene hút các chất độc tan trong mỡ và sau đó bài tiết chúng ra khỏi cơ thể Squalene được chọn để thay thế cho paraffin góp phần làm tăng sự bài tiết của chất hexanchlorobenzene độc hại khỏi cơ thể Đối với động vật, squalene giúp đào thải nhanh theophylline (thuốc tác dụng trên đường hô hấp, dùng nhiều gây ngộ độc) và strychnine (chất độc, dùng với liều nhỏ để kích thích thần kinh) ở chuột

- Đối với bệnh ung thư: squalene hiện nay được dùng như một liệu pháp phụ trong việc chữa trị một số loại ung thư

- Ngoài ra squalene còn có hiệu lực chống chất sinh ung thư ruột

Uracil: Uracil là một trong bốn loại nucleobase trong RNA, thay vì thymine

như trong DNA, là thành phần có thể kết hợp với tegafur (tegafur là tiền thuốc đầu tiên của 5-FU được sử dụng thay thế 5-FU trong điều trị ung thư) một cách hiệu quả nhất được tiến hành với tegafur đơn độc hoặc kết hợp với uracil, uridine, thymine, hoặc thymidine, với tỷ lệ phân tử 1:2 [47] Trong số các các nucleosis và các bases được thử nghiệm trên, uracil có hiệu quả kháng ung thư cao nhất với ít tác dụng phụ nhất Kết quả nghiên cứu thực nghiệm và lâm sàng cho thấy tegafur kết hợp với uracil tạo ra hiệu quả kháng ung thư chọn lọc [48] Sự kết hợp uracil với enzyme uracil N glycosilase (Ung) trong phản ứng PCR được dùng như một phương pháp chống tạp nhiễm chéo [49]

Trang 29

14

1-triacontanol: là một ancol béo, còn được biết với tên gọi melissyl alcohol

hay myricyl alcohol, được phát hiện có trong lớp cutin ở biểu bì cây 1-triacontanol là một chất làm tăng trưởng của nhiều cây [57]

Stigmasterol: là một sterol thực vật, stigmasterol có thể ngăn ngừa một số bệnh

ung thư như: ung thư buồng trứng, ung thư tuyến tiền liệt, ung thư vú và ung thư ruột [36] Đối với thực vật, stigmasterol giúp kích thích sự tăng trưởng, sự ra hoa, cấu trúc sinh hóa, số lượng hạt và hàm lượng tinh dầu trong hạt [20] Ngoài ra stigmasterol còn

ức chế sự phát triển khối u của chất sinh ung thư giai đoạn 2 trên da ở chuột [29] Bổ sung stigmasterol trong bữa ăn hàng ngày giúp ngăn ngừa béo phì và sự tăng mỡ máu thông qua việc làm giảm tổng lượng cholesterol và các LDL cholesterol, đồng thời làm tăng lượng HDL cholesterol trong máu [30] Trong sản xuất thuốc, stigmasterol là nguyên liệu để tổng hợp một vài thuốc khác như: progesterone, cortisone, hoocmon thực vật và là chất dinh dưỡng chăm sóc da trong mỹ phẩm [37] Ngoài ra stigmasterol còn có tác dụng giảm đau [47]

Lupeol: Một nghiên cứu mới đây tại Hồng Kông đã phát hiện ra lupeol, một

hợp chất có trong các loại quả như xoài, nho và dâu tây có hiệu quả trong việc tiêu diệt

và kiềm chế sự di căn của tế bào ung thư ở vùng đầu và cổ Lupeol có thể ngăn chặn

sự di chuyển và sự phát triển của các tế bào ung thư Lupeol cũng được tìm thấy trong rau xanh, dầu oliu, quả sung và cọ So với các thuốc khác, lupeol làm giảm kích thước khối u nhanh hơn Lupeol có khả năng ngăn chặn protein làm hoạt hóa nhiều căn bệnh như ung thư tuyến tiền liệt, ung thư vú, và ung thư gan [52] Phòng chống bệnh sốt rét

và các bệnh thông thường khác [1] Ngoài ra lupeol còn có tác dụng bảo vệ tế bào gan, ngăn ngừa quá trình oxi hóa và làm giảm các chất độc ở gan [53] Lupeol có tác dụng chống viêm rất mạnh [54]

Trang 30

15

Adenine: Adenine là một trong hai loại nucleobase thuộc nhóm purine, là thành

phần tạo nên các nucleotide trong các nucleic acid (DNA and RNA) Adenosine triphosphate được sử dụng trong các hoạt động chuyển hóa tế bào như là một trong những phương pháp cơ bản để chuyển hóa năng lượng giữa các phản ứng Trong các tài liệu trước đây, adenine đôi khi được gọi là Vitamin B4 Tuy nhiên hiện nay nó không còn được xem như là một vitamin nữa [48] Adenosine là một thành phần tạo nên nhân của tế bào Người ta gọi nó là "vitamin của bạch cầu" do tác dụng kích thích quá trình tạo bạch cầu Việc thiếu adenosine sẽ gây hội chứng viêm đa dây thần kinh [51]

2.3 Tổng quan về một số vi khuẩn đường ruột

2.3.1 Escherichia coli (E coli) [19]

Là giống vi khuẩn đường ruột sống bình thường trong ruột, E coli còn có tên là

Bacterium coli commune, Bacillus, colicommunis được Escherich phân lập năm 1885

từ phân trẻ em E coli xuất hiện rất sớm trong ruột người và động vật sơ sinh (sau khi

đẻ 2 giờ) thường ở phần sau của ruột ít gặp ở dạ dày ruột non và trong nhiều trường

hợp cũng có thể tìm thấy ở niêm mạc của nhiều bộ phận khác trong cơ thể E coli

được phân chia type dựa vào cấu trúc kháng nguyên, có 3 loại kháng nguyên: O, H, K

E coli là trực khuẩn hình gậy ngắn, kích thước 1 – 2μ x 0,6μ, hai đầu tròn, trong cơ

thể có hình cầu trực khuẩn, đứng riêng lẻ xếp thành chuỗi ngắn, có lông quanh thân, di

động, không hình thành nha bào, gram âm, có khi bắt màu hai đầu Trực khuẩn E coli

hiếu khí và kỵ khí tùy tiện, có thể phát triển ở nhiệt độ từ 5 – 40oC, phát triển thích hợp ở nhiệt độ 37oC với pH = 7,2 - 7,4, phát triển được ở pH = 5,5 – 8,0 E coli có sẵn

trong ruột người và động vật nhưng chỉ gây bệnh khi sức đề kháng giảm Gây bệnh kế phát từ những bệnh thiếu dinh dưỡng, bệnh do virus và ký sinh trùng Gây bệnh cho súc vật non mới sinh 2 – 3 ngày hoặc 4 – 8 ngày Thường gọi Colibacillois là một bệnh

đường ruột: ngựa, bê, cừu, heo và gia cầm non do E coli gây ra Ở người cũng có thể gây viêm phổi, viêm não, đặc biệt bệnh tiêu chảy ở trẻ em E coli sinh nội độc tố E

coli không sinh nha bào, chịu được nhiệt độ đun 55oC trong 1 giờ, 60oC trong 30 phút

Trang 31

16

và 100oC chết ngay Các chất sát trùng thông thường: acid phenic, biclorua thủy ngân, formon, hydroperoxit 1‰ diệt được vi khuẩn trong 5 phút

Nguyễn Thị Hạnh Lê, bệnh viện nhi trung ương 2, (2005 - 2006) cho biết E

coli kháng với: ampicillin (95%), bactrim – trimethoprim + sulphamethoxasol (85%),

hloramphenicol (65%), và alidixic acid (46%) (trích dẫn từ Nguyễn Bữu Châu, 2007)

E.coli gây bệnh ở heo con từ năm 1974 – 1975 kháng với Streptomycin (40%), năm

1984 – 1985 lên (51%), năm 1994 – 1995 (77%) Hiện nay, 12% E coli đa kháng với

7 loại kháng sinh, 32% đa kháng với 6 loại kháng sinh, 40% đa kháng với 5 loại kháng sinh, 10% đa kháng với 4 loại kháng sinh, 6% đa kháng với 3 loại kháng sinh [11] (Bùi Thị Tho, 2003; Lê Văn Tạo, 2006)

2.3.2 Salmonella [19]

Salmonella thuộc họ Enterobacteriaceae với chỉ một giống duy nhất là Salmonella, được D.E Salmon và Smit tìm ra năm 1885, lấy tên Salmon đặt tên cho vi

khuẩn và nguyên nhân gây bệnh ở heo với: Salmonella cholerae suis, Salmonella

enterica var Choleraesius, Salmonella typhi suis,… Salmonella trực khuẩn Gram (-),

hiếu khí tuỳ nghi, có tiêm mao (flagellated) di động, không tạo bào tử có kích thước khoảng 2 – 3 × 0.4 – 0,6μm

Salmonella có ba loại kháng nguyên bề mặt (kháng nguyên thân O, kháng

nguyên lông H và kháng nguyên độc) Salmonella enteritidis được Gaeter phân lập từ

bò mắc bệnh năm 1888 Salmonella gây bệnh đường ruột người, gia súc và gia cầm gọi là bệnh thương và phó thương hàn Salmonela bình thường được phát hiện trong

trong ruột: người, bò, heo, gà, vịt,…và một số động vật khỏe khác, khi sức đề kháng

cơ thể giảm vi khuẩn xâm nhập và gây bệnh Salmonella typhi gây bệnh thương hàn

cho người và động vật, ở gà mái mắc bệnh thì vi khuẩn truyền qua trứng và phôi gà, gây ngộ độc thực phẩm cho người

Hiện nay có khoảng 37,4 – 68,1% số chủng Salmonella kháng với

Chloramfenicol, 33,4 - 59,6% kháng với tetracyclin, 74,6 – 89,2% kháng với Stretomycin (Bùi Thị Tho, 2003) Theo Ogasawara và ctv (2001) từ năm 2000 – 2001,

Trang 32

17

tại Đồng Bằng Sông Cửu Long đã phát hiện 49 chủng trong tổng 230 chủng

Salmonella có sự kháng thuốc, trong đó có 19 chủng đơn kháng, 10 chủng đa kháng

với 2 loại kháng sinh, 15 chủng đa kháng với 3 loại kháng sinh, 3 chủng đa kháng với

4 loại kháng sinh, 2 chủng đa kháng với 5 loại kháng sinh và trong số các chủng

Salmonella đa kháng đáng chú ý nhất Salmonella typhimurium kháng đến 9 loại kháng

sinh [11] (trích dẫn từ Nguyễn Bữu Châu, 2007) Theo Hsueh (2004) ở Đài Loan

Salmonella kháng với ciprofloxacine: 2,7% với các chủng nontyphoid – Salmonella,

1.4% Salmonella typhimurium và 7,5% với Salmonella cholerae suis Theo Trần Thị

Phận và ctv (2004) từ tháng 12 năm 2000 đến tháng 4 năm 2001 ở Tân Phú Thạnh,

thành phố Cần thơ trong 30 chủng sallmonella có 11 chủng đề kháng với kháng sinh

chiếm 36,6%, trong đó 7 chủng kháng với 1 loại kháng sinh và 4 chủng kháng với 2 loại kháng sinh Tỉ lệ kháng ampicillin (54,5%), chloramphenicol (36%), tetracycline (36%), cephalexin (9%)

Livestock%2015%20(Ms.%20Phan).pdf.)

(http://www.ctu.edu.vn/institutes/mdi/jircas/JIRCAS/research/workshop/pro03/C1-2.3.3 Staphylococcus aureus [14, 19]

Một số vi khuẩn Staphylococcus có thể tạo ra enterotoxin Nếu các chủng này

có mặt với một số lượng lớn trong thực phẩm, enterotoxin khi tiêu hoá vào cơ thể có khả năng gây bệnh cho người Triệu chứng thông thường nhất khi nhiễm enterotoxin là buồn nôn, nôn mửa và tiêu chảy sau 2-6 giờ kể từ lúc ăn phải thực phẩm bị nhiễm

Cầu khuẩn Gram dương

Đây là những cầu khuẩn Gram dương có đường kính 0,8 - 1,0 μm, trong tiêu bản có thể thấy phân bố riêng lẻ nhưng thường tạo khối gồm nhiều tế bào thành hình

chùm nho, không có tiêm mao Các vi khuẩn họ Micrococcaceae là những vi khuẩn

yếm khí tùy tiện

Khuẩn lạc tụ cầu vàng S aureus có màu vàng hoặc màu trắng, còn những vi

khuẩn khác có màu trắng hoặc màu vàng chanh, nhưng cũng có ngoại lệ Tuy nhiên, vi khuẩn nàyphân lập được khá thường xuyên từ đường ruột, da và niêm mạc, và phân

Trang 33

18

lập được với tần số cao từ bệnh phẩm như là một nguyên nhân cảm nhiễm cơ hội Gần đây, sự xuất hiện các chủng tụ cầu khuẩn đề kháng các chất kháng sinh hệ β-lactam (tụ cầu vàng đề kháng methicillin, đề kháng vancomycin) như là một bệnh nguyên chủ yếu làm vấn đề cảm nhiễm bệnh viện cũng như sự vô hiệu trong điều trị bệnh bằng thuốc ở người càng thêm trầm trọng Các tụ cầu vàng sản sinh các loại enzyme ngoại bào và ngoại độc tố được coi là những nhân tố hình thành bệnh từ phía vi khuẩn

Tụ cầu khuẩn và trúng độc thực phẩm

Trúng độc thực phẩm do tụ cầu khuẩn thường gây ra bởi độc tố ruột của S

aureus đã được sản sinh đủ lượng trong thực phẩm Đây là độc tố chịu nhiệt, vì vậy

sau khi nhiễm độc, đun nóng thức ăn cũng không làm thức ăn trở nên an toàn Ô nhiễm thực phẩm có thể bắt nguồn từ chỗ mưng mủ ở tay đầu bếp hoặc sữa bò vắt từ những

bò sữa bị bệnh viêm vú Thông thường, trong vòng mấy giờ sau khi ăn phải thực phẩm

bị ô nhiễm thì xảy ra chứng viêm dạ dày - ruột với triệu chứng chủ yếu là nôn mửa, bệnh nhân tự hồi phục sau mấy ngày

2.3.4 Bacillus cereus [12]

Bacillus cereus tồn tại rất phổ biến trong tự nhiên và có thể được phân lập từ

nhiều loại thực phẩm khác nhau Tuy nhiên, khi có thể phát triển thì loại vi khuẩn này

thường gây ngộ độc thực phẩm do B cereus là: cơm nấu chín và cơm sấy, mì ống và

mì sợi đã chín, các loại thịt chín, rau quả…

Có hai loại bệnh thường do B cereus gây ra Bệnh tiêu chảy, đau bụng do B

cereus nhiễm và phát triển trong khoảng 6 - 18 giờ và gây đau từ 12 - 24 giờ

2.3.5 Pseudomonas aeruginosa [15]

Thuộc họ Pseudomonadaceae gồm có 5 chi Pseudomonas, Burkholderia,

Xanthomonas, Frateuria và Zoogloea, là những vi khuẩn phân bố rộng rãi trong tự

nhiên : trong đất, trong nước, trong đường ruột của động vật, Trong số đó, chỉ có chi

Trang 34

19

Pseudomonas là có tính gây bệnh cho người và động vật Là những trực khuẩn Gram

âm, kích thước trung bình (0,5 - 1,0 × 1,5 - 3,0 μm) Các vi khuẩn này đều không sinh nha bào và giáp mô Phát triển tốt trên môi trường thạch thường, không lên men đường glucose, oxy hóa các đường, các acid hữu cơ và amino acid để thu năng lượng Hầu

hết các loài có phản ứng oxidase dương tính P aeruginosa (trực khuẩn mủ xanh) gồm

có các chủng sinh sắc tố xanh lục pyocyanin và sắc tố đỏ pyorubin và các chủng không

sản sinh sắc tố Còn P fluorescens sản sinh sắc tố vàng pyoverdin (fluorescin)

Trực khuẩn mủ xanh sản sinh các protein độc tố này liên quan đến việc hình thành các ổ hoại tử tổ chức ở phổi cũng như ổ bệnh da Ở các ổ bệnh, mủ hoặc các chất tiết xuất có màu xanh lục Trực khuẩn mủ xanh có độc lực thấp, phân bố rộng rãi trong tự nhiên và là vi khuẩn cảm nhiễm cơ hội Vi khuẩn này có sức đề kháng cao với các chất tiêu độc và các chất kháng sinh nên thường phát huy tính gây bệnh ở những

cơ thể mẫn cảm Còn các trực khuẩn ty thư thì có độc lực cao, có tính gây bệnh rõ rệt đối với ngựa, lừa, la và người nhưng đề kháng yếu với các yếu tố lý hóa như chất tiêu

độc, sự làm khô và nhiệt độ cao Bệnh trực khuẩn mủ xanh ở heo (pseudomonas infection in swine) Pseudomonas aeruginosa gây ở heo các ổ mưng mủ ở da và các

khí quan, ở heo con thường dẫn đến bại huyết

Trang 35

20

Chương 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Vật liệu

Lá Xuân Hoa được thu hái tại Tây Ninh vào tháng 4 năm 2010 của những cây khoảng 4 năm tuổi Sau khi thu hái, lá được xử lý sơ bộ bằng cách rửa sạch, loại bỏ thân, cành, lá già và bị sâu bệnh Tiếp theo đem lá đi phơi ở nhiệt độ phòng cho đến khô, tránh ánh nắng mặt trời trực tiếp Quá trình phơi lá khoảng 5 ngày, khi bóp thấy

lá giòn và khô nát là được

3.2 Đề tại được thực hiện tại

- Phòng thí nghiệm Hóa lý - Viện nghiên cứu Công nghệ sinh học và môi

trường, Trường Đại Học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh

- Phòng thí nghiệm vi sinh - Viện nghiên cứu Công nghệ sinh học và môi

trường, Trường Đại Học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh

- Trung tâm sâm và dược liệu, Trường Đại Học Y Dược TP Hồ Chí Minh

3.3 Thiết bị, dụng cụ, hóa chất

3.3.1 Thiết bị, dụng cụ, hóa chất cho việc chiết tách, cô lập

- Tủ sấy, máy xay mẫu, máy cô quay, bình lắc, phễu, giấy lọc, bình tam giác 50ml, bồn đánh siêu âm, cân phân tích, ống nghiệm, pipette, kẹp, đĩa petry

- Cồn 98%, ether dầu hỏa, tetracyline, tinh bột

Trang 36

21

3.3.2 Thiết bị, dụng cụ và hóa chất dùng cho thử nghiệm vi sinh

- Ống nghiệm, đĩa petri, đèn cồn, tủ ấm, tủ sấy, tủ hấp autoclave, bông không thấm, micropipette loại 100-1000 μl, micropipette loại 10- 500 μl, đầu tipe loại 1000

μl, đầu tipe loại 500 μl, que cấy vòng, que cấy trang, tăm bông vô trùng

- Cồn 98%, nước cất, muối NaCl, môi trường TSB, môi trường TSA, DMSO

3.4 Phương pháp nghiên cứu

3.4.1 Qui trình chiết cao

Lá sử dụng là lá tươi, loại bỏ những phần sâu bệnh, phơi khô, xay thành bột mịn được 600 g, đem ngâm trong cồn 98%

Lá Xuân Hoa rửa sạch loại bỏ lá già, sâu bệnh phơi khô trong điều kiện nhiệt độ phòng

xay nhỏ thành bột mịn

ngâm trong cồn 98%

bằng phương pháp ngâm dầm

cô đặc dịch chiết

Sơ đồ 3.1: Quy trình chiết xuất các hợp chất từ lá Xuân Hoa

chiết suất bằng ether dầu hỏa + nước thu được cao cồn

cô đặc dịch chiết ether dầuthu được cao ether dầu

Trang 37

Sau đó đổ cồn 98% vào ngâm để trích ly các hợp chất có trong lá cây Ngâm mẫu cho đến khi chiết kiệt (lấy một giọt dịch chiết nhỏ lên một miếng kính thủy tinh, chờ dung môi bay hơi hết mà không thấy vết bám lại trên kính thì dịch chiết đã được chiết kiệt) Mỗi lần ngâm trong vòng 24 giờ, vì với một lượng dung môi cố định trong bình mẫu chất chỉ hòa tan vào trong dung môi đến mức bão hòa Bột lá được chiết 3 lần, trong quá trình ngâm mẫu ta có thể khuấy bột lá lên cho quá trình chiết được tốt hơn Sau đó đem dịch chiết đi lọc ta thu được dịch chiết cồn

3.4.2 Điều chế các loại cao

3.4.2.2 Điều chế cao ether dầu hỏa

- Lấy 1/2 lượng cao cồn thu được đem đi chiết với ether dầu hỏa, cho thêm nước vào bình lắc rồi đổ từ từ ether dầu vào

- Lắc bình trong năm phút để các hợp chất hòa tan vào trong ether dầu Sau đó

để yên, hệ dung môi tách thành hai pha, pha nằm trên là ether dầu (phần cần lấy), pha nằm dưới là nước

- Chiết đến kiệt hoạt chất (lấy một giọt dịch chiết nhỏ lên một miếng kính thủy tinh, chờ dung môi bay hơi hết mà không thấy vết bám lại trên kính thì dịch chiết đã

Trang 38

23

được chiết kiệt) ta thu được dịch chiết ether dầu, đem đi cô quay giảm áp cho bay hơi bớt dung môi

- Đem đi sấy ở 50oC cho đến khô, thu được cao ether dầu hỏa

Hình 3.1: Dịch chiết cồn lá Xuân Hoa

Hình 3.2: Chiết với ether dầu hỏa

Phần tan trong ether dầu hỏa Phần tan trong

nước

Trang 39

24

Từ hai loại cao cồn và cao ether dầu, ta đem đi thử nghiệm hoạt tính khả năng

kháng khuẩn của chúng trên các loại vi khuẩn đường ruột như: E.coli, Salmonella

typhi, Staphylococus areus, Bacillus cereus đồng thời so sánh tác động kháng khuẩn

của hai loại cao này

3.4.3 Xác định độ ẩm nguyên liệu

3.4.3.1 Xác định ẩm độ lá Xuân Hoa tươi

Lá Xuân Hoa sau khi hái được làm sạch và để ráo Cân 100 g lá tươi sau đó đem đi sấy ở 105oC

Sau 24 giờ đem cân mẫu lá sấy, tiếp tục sấy và cứ cách 30 phút ta lại đem ra để nguội trong bình hút ẩm sau đó cân kiểm tra khối lượng mẫu lá Xuân Hoa cho tới khi khối lượng không đổi thì ta ghi nhận lại khối lượng không đổi đó

3.4.3.2 Xác định độ ẩm bột lá Xuân Hoa khô

Lá Xuân Hoa sau khi được làm sạch, phơi khô và xay nhuyễn, ta tiến hành xác định độ ẩm của bột lá đem đi ngâm chiết Việc xác định ẩm độ của bột lá Xuân Hoa giúp ta biết được độ ẩm của nguyên liệu đem đi ngâm chiết, cũng như hiệu suất của quá trình ngâm chiết

Ta xác định khối lượng bột lá Xuân Hoa trước khi sấy Sau đó đem đi sấy ở

105oC đến khối lượng không đổi, từ đó xác định được độ ẩm của bột lá Xuân Hoa

Tiến hành :

- Cân 1,5 g bột lá Xuân Hoa khô, đem đi sấy ở 105oC

- Sau 24 giờ đem cân mẫu bột lá sấy, tiếp tục sấy và cứ cách 30 phút ta lại đem

ra để nguội trong bình hút ẩm rồi cân kiểm tra khối lượng bột lá Xuân Hoa cho tới khi khối lượng không đổi thì ta ghi nhận lại khối lượng không đổi đó

3.4.3.3 Xác định độ ẩm cao chiết thô

Cao chiết thô sau khi thu được ta tiến hành xác định độ ẩm

Tiến hành :

- Cân 1,55 g cao cồn, 1,25 g cao ether dầu hỏa đem đi sấy ở 105oC

Trang 40

25

- Sau 24 giờ đem cân mẫu bột lá sấy, tiếp tục sấy và cứ cách 30 phút ta lại đem

ra để nguội trong bình hút ẩm rồi cân kiểm tra khối lượng cao sấy cho tới khi khối

lượng không đổi thì ta ghi nhận lại khối lượng không đổi đó

3.4.4 Tính hiệu suất chiết cao

Theo Huỳnh Kim Diệu (2008) hiệu suất chiết xuất cao thô được tính theo công thức:

N = ( P 2 / P 1 )x 100 ( % )

Trong đó :

P2 : tổng trọng lượng cao chiết được, (g)

P1 : tổng trọng lượng lá Xuân Hoa tươi, (g)

Ngày đăng: 27/02/2019, 13:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w