Để tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến phân phối thuốc, góp phần nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh tại cơ quan, đơn vị và đồng thời có cái nhìn đúng hơn về những khó khăn, thuận lợi của
Trang 1BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
TRẦN VĂN CỬ
PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG PHÂN PHỐI THUỐC TẠI PHÒNG QUÂN Y - TỔNG CỤC HẬU CẦN
LUẬN VĂN DƯỢC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP I
HÀ NỘI - NĂM 2013
Trang 2BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
TRẦN VĂN CỬ
PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG PHÂN PHỐI THUỐC TẠI PHÒNG QUÂN Y - TỔNG CỤC HẬU CẦN
LUẬN VĂN DƯỢC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP I
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN: PGS.TS NGUYỄN THỊ SONG HÀ
HÀ NỘI - NĂM 2013
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành Luận văn này, tôi đã nhận được sự tận tình chỉ bảo của các Thầy, các Cô, sự nhiệt tình giúp đỡ của gia đình, bạn bè, đồng nghiệp
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:
PGS TS Nguyễn Thị Song Hà – Trưởng phòng Sau đại học, Trường đại
học Dược Hà Nội, người đã trực tiếp hướng dẫn tận tình, chu đáo để tôi hoàn thành Luận văn này
Tôi xin trân trọng cám ơn:
Ban giám hiệu Trường đại học Dược Hà Nội, Phòng Sau đại học, Bộ môn Quản lý & Kinh tế dược, Bộ môn Dược Lâm sàng, Các Thầy giáo, Cô giáo trường đại học Dược Hà Nội đã giảng dạy và cho tôi cơ hội được học tập nâng cao tại Trường
Tôi xin trân trọng cám ơn:
Thủ trưởng Cục Hậu cần, Thủ trưởng Phòng Quân y và các ban đồng nghiệp
đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp này
Sau cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến gia đình tôi, những người luôn luôn động viên chia sẻ và hỗ trợ tôi trong mọi hoàn cảnh
Trang 5MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ……… 1
Chương 1: TỔNG QUAN 3
1.1 Phân ph ối thuốc 3
1.1.1 Vai trò phân phối thuốc trong chu trình cung ứng thuốc 3
1.1.2 Mạng lưới phân phối, kênh phân phối thuốc 4
1.1.3 “Thực hành tốt phân phối thuốc” (GDP) 6
1.2 Tồn trữ thuốc 9
1.3 B ảo quản thuốc 12
1.4 M ột số nét về tồn trữ và phân phối thuốc ở Việt Nam 13
1.5 Mô hình m ạng lưới phân phối thuốc trong Quân đội 17
1.6 M ột số nét về Phòng Quân y - Tổng cục Hậu cần 19
1.6.1 Lịch sử 19
1.6.2 Vị trí, chức năng, nhiệm vụ, mối quan hệ công tác, chức trách quyền hạn 19
1.6.3 Vị trí, chức năng, nhiệm vụ của bộ phận dược - PQY trong quân đội …… 21
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
2.1 Đối tượng nghiên cứu : 24
2 2 Địa điểm, thời gian nghiên cứu 24
2.3 N ội dung nghiên cứu 24
2.4 Phương pháp nghiên cứu: 26
2.5 Phương pháp thu thập số liệu: 26
2.6 H ạn chế của đề tài: 26
Trang 62.7 Phương pháp phân tích và sử lý số liệu 26
Chương 3:KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 27
3.1 Kh ảo sát mô hình tổ chức, cơ cấu nhân lực của Phòng Quân y – TCHC 27 3.1.1 Mô hình tổ chức 27
3.1.2 Cơ cấu nhân lực 29
3.1.3 Trang thiết bị phục vụ tồn trữ, phân phối thuốc của PQY 31
3.2 Phân tích ho ạt động phân phối tại Phòng Quân y - TCHC 36
3.2.1 Mô hình mạng lưới phân phối thuốc 36
3.2.2 Cán bộ phụ trách phân phối và chức năng của các cơ quan trong mạng lưới phân phối: 38
3.2.3 Các hoạt động phân phối thuốc: 39
3.2.3.1 Dự trù thuốc ………46
3.2.3.2 Phân bổ thuốc cho các đơn vị 46
3.2.3.3 Tiếp nhận thuốc 46
3.3 Phân tích danh m ục thuốc phân phối của Phòng Quân y - Tổng cục Hậu c ần 50
3.4 Phân tích ho ạt động tồn trữ thuốc 55
3.5 Đảm bảo chất lượng thuốc 55
Chương 4: BÀN LUẬN 59
4.1 Cơ cấu tổ chức và nhân lực 59
4.2 Trang thi ết bị phục vụ tồn trữ, phân phối thuốc 60
4.3 Ho ạt động phân phối thuốc tại Phòng Quân y - Tổng cục Hậu cần 61
Trang 74.3.1 Qui trình phân phối và phương thức phân phối thuốc của Phòng Quân y -
Tổng cục Hậu cần 61
4.3.2 Về hoạt động dự trù thuốc 62
4.3.3 Hoạt động tiếp nhận và cấp phát thuốc 63
4.3.4 Công tác bảo quản thuốc 65
4.3.5 Công tác đảm bảo chất lượng thuốc 66
K ẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 68
I K ẾT LUẬN: 68
1 Về cơ cấu tổ chức, nhân lực và cơ sở vật chất trang thiết bị 68
2 Hoạt động phân phối thuốc 68
II ĐỀ XUẤT 70
PHỤ LỤC
Trang 8DANH M ỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
ADR Adverse Drug Reaction (Phản ứng có hại của thuốc)
Trang 9DANH M ỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Cơ cấu nhân lực của PQY qua các năm 29
Bảng 3.2: Cơ cấu nhân lực kho thuốc của Phòng Quân y qua các năm 30
Bảng 3.3 Kết quả khảo sát trang thiết bị trong kho dược 32
Bảng 3.4: Tổng kinh phí phân phối của phòng Quân y qua các năm 34
Bảng 3.5: Cơ cấu nguồn lực kinh phí của PQY từ năm 2010 đến năm 2012 34
Bảng 3.6 Mô hình bệnh tật qua các năm 41
Bảng 3.7: Các hoạt động về thông tin thuốc 44
Bảng 3.8: Danh mục thuốc PQY theo nhóm tác dụng từ năm 2010-2012 51
Bảng 3.9: Danh mục thuốc PQY mua qua các năm 2010-2012 52
Bảng 3.10: Kinh phí của các nhóm thuốc 53
Bảng 3.11: Số lượng thuốc PQY gửi trung tâm KNNC Dược quân đội kiểm tra chất lượng khi kiểm nhập năm 2010-2012 57
Bảng 3.12: Số mẫu thuốc PQY gửi trung tâm KNNC Dược quân đội kiểm tra trong quá trình bảo quản và cấp phát năm 2010-2012 58
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ
Sức khoẻ là vốn quý nhất của mỗi con người và của toàn xã hội Thuốc là
một trong những yếu tố quan trọng trong công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân Ngành Dược có trách nhiệm tổ chức những hoạt động liên quan đến
sản xuất, bảo quản, phân phối thuốc để đáp ứng nhu cầu về thuốc cho công tác phòng bệnh, chữa bệnh Nước ta trong công cuộc đổi mới và hội nhập, ngành Dược cũng như các ngành khác đang hoạt động theo cơ chế thị trường có sự định hướng xã hội chủ nghĩa Nhằm đa dạng hoá và xã hội hoá các loại hình
dịch vụ Y- Dược, năm 2005 Quốc hội đã ban hành Luật Dược số 34/2005/QH11, có hiệu lực từ 1/10/2005; từ đó đến nay Chính phủ và Bộ Y tế
đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật để hướng dẫn thi hành Luật dược
Thuốc sản xuất trong nước và thuốc nhập khẩu ngày càng nhiều, không
ngừng tăng về số lượng, phong phú đa dạng về chủng loại, dạng bào chế và mẫu
mã Mạng lưới phân phối thuốc cho nhân dân được phát triển đa dạng với nhiều
loại hình, rộng khắp từ miền núi, vùng sâu, vùng xa, từ nông thôn đến thành thị đem lại rất nhiều lợi ích cho nhân dân trong việc mua, lựa chọn thuốc, lựa chọn đối tượng phục vụ và được hưởng lợi ích từ sự cạnh tranh về chất lượng, giá cả
1
Trang 11thiếu bình đẳng , ảnh hưởng tiêu cực cho công tác quản lý của nhà nước và chất lượng phục vụ nhân dân
Phòng Quân y - TCHC là cơ sở y tế có nhiệm vụ khám, chữa bệnh và chỉ đạo chuyên môn, nghiệp vụ cho quân y cơ quan, đơn vị trong nội bộ Tổng cục
Hậu cần Là một đơn vị quân đội nên công tác phân phối thuốc có những nét đặc thù riêng, nhưng cũng không nằm ngoài thực trạng phân phối thuốc của nước ta
hiện nay Để tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến phân phối thuốc, góp phần nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh tại cơ quan, đơn vị và đồng thời có cái nhìn đúng hơn về những khó khăn, thuận lợi của một Phòng Quân y trong Quân đội tôi lựa chọn đề tài
“ Phân tích ho ạt động phân phối thuốc tại Phòng Quân y - Tổng cục
H ậu cần”, nhằm thực hiện các mục tiêu:
1 Mô tả một số yếu tố nguồn lực phục vụ hoạt động phân phối thuốc của Phòng Quân y - Tổng cục Hậu Cần trong 3 năm (2010 - 2012)
2 Phân tích ho ạt động phân phối thuốc tại Phòng Quân y - Tổng cục
H ậu cần trong 3 năm (2010-2012)
Từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động phân
phối thuốc tại Phòng Quân y - Tổng cục Hậu cần - Bộ Quốc phòng
2
Trang 121.1 Phân phối thuốc
Phân phối thuốc: Là việc phân chia và di chuyển, bảo quản thuốc từ kho
của cơ sở sản xuất thuốc hoặc từ trung tâm phân phối cho đến người sử dụng
hoặc đến các điểm phân phối, bảo quản trung gian hoặc giữa các điểm phân
phối, bảo quản trung gian bằng các phương tiện vận chuyển khác nhau
1.1.1 Vai trò phân phối thuốc trong chu trình cung ứng thuốc
Cung ứng thuốc là quá trình đưa thuốc từ nơi sản xuất đến tận người sử
dụng Chu trình cung ứng thuốc có thể được tóm tắt khái quát theo sơ đồ sau:
Hình 1.1 Chu trình cung ứng thuốc [24]
3
Trang 13Như vậy, cung ứng thuốc là một chu trình khép kín, mỗi bước trong chu trình đều có vai trò quan trọng và tạo tiền đề cho các bước tiếp theo Hoạt động phân phối thuốc là khâu thứ 3 của quá trình cung ứng thuốc
1.1.2 Mạng lưới phân phối, kênh phân phối thuốc
Để đáp ứng nhu cầu thuốc cho người sử dụng thì phải xây dựng một mạng lưới phân phối nhiều cấp độ khác nhau Mạng lưới phân phối là toàn bộ các kênh phân phối Kênh phân phối là những con đường đi của thuốc từ nơi sản
xuất đến người sử dụng
Kênh phân phối có nhiều dạng khác nhau kênh ngắn (Có hoặc không có khâu trung gian), kênh dài có một hay nhiều khâu trung gian Với kênh phân
phối càng dài thì chi phí phân phối thuốc sẽ càng cao, chất lượng thuốc cũng sẽ
bị ảnh hưởng Các kênh phân phối bao gồm các dạng sau:
- Kênh trực tiếp: Giữa người sản xuất và người sử dụng không có một khâu trung gian nào
- Kênh ngắn: Thuốc được chuyển từ nhà sản xuất đến người bán lẻ trước khi đến người sử dụng
- Kênh dài: Giữa người sản xuất và người sử dụng có nhiều khâu trung gian
Theo khuyến cáo của WHO mạng lưới phân phối thuốc trên thế giới được trình bày trong hình 1.2
4
Trang 14Hình 1.2: Mô hình m ạng lưới phân phối thuốc theo khuyến cáo của WHO [25]
Các cán b ộ làm việc
t ại cộng đồng…
Các nhà phân ph ối Các công ty, b ệnh viện,
C ấp huyện: trung tâm y
Qu ản lý tồng trữ, tài chính, kho thu ốc,… Các công ty bán buôn
Các nhà cung ứng đa
qu ốc gia Cơ quan mua sắm qu ốc tế
Cấp đa quốc gia
kế hoạch) Đường thu thập thông tin
5
Trang 151.1.3 “Thực hành tốt phân phối thuốc” (GDP)
Thuốc là một loại hàng hóa đặc biệt, có ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe con người Vì vậy để bảo đảm chất lượng của thuốc khi cung cấp đến tay người tiêu dùng, thì Ngành Dược Việt Nam trong giai đoạn vừa qua đã triển khai thực
hiện 2 mục tiêu cơ bản của Chính sách Quốc gia về thuốc: “Bảo đảm cung ứng thường xuyên và đủ thuốc có chất lượng cho công tác phòng và chữa bệnh cho nhân dân”; “Bảo đảm sử dụng thuốc hợp lý, an toàn, có hiệu quả” Để đạt được điều đó, một trong những giải pháp quan trọng hàng đầu mà Bộ y tế áp dụng đó
là triển khai thực hiện các nguyên tắc thực hành tốt (GPs), đảm bảo chất lượng thuốc Bộ Y tế đã ban hành các quyết định chính thức áp dụng về tiêu chuẩn
“Thực hành tốt sản xuất thuốc của hiệp hội các nước Đông Nam Á ASEAN) - 9/1996” [1], “ Thực hành tốt kiểm nghiệm thuốc (GLP) - 5/2000” và
(GMP-“Thực hành tốt bảo quản thuốc (GSP) - 6/2001”, “Thực hành tốt sản xuất thuốc theo khuyến cáo của Tổ chức y tế thế giới (GMP-WHO)-2004”, “Thực hành tốt phân phối thuốc” (GDP) – 12/2007 [3]
“Thực hành tốt phân phối thuốc” là một phần của công tác bảo đảm chất lượng toàn diện để bảo đảm chất lượng thuốc được duy trì qua việc kiểm soát đầy đủ tất cả các hoạt động liên quan đến quá trình phân phối thuốc Bản nguyên
tắc này đưa ra các nguyên tắc cơ bản, các hướng dẫn chung về “Thực hành tốt phân phối thuốc”, nêu lên các yêu cầu cần thiết cho việc vận chuyển, bảo quản, phân phối thuốc để bảo đảm việc cung cấp thuốc đến tay người tiêu dùng một cách kịp thời, đầy đủ và có chất lượng như dự kiến
Nội dung nguyên tắc “Thực hành tốt phân phối thuốc của BYT” ban hành năm 2001 qui định về các nội dung cơ bản sau [4]:
- Quy định về tổ chức: Cơ sở phân phối thuốc phải có tư cách pháp nhân,
sơ đồ tổ chức và phân công nhiệm vụ rõ ràng
6
Trang 16- Quy định về nhân sự: Cơ sở phải có đủ số lượng cán bộ, nhân viên phù hợp với qui mô phân phối thuốc Các cán bộ nhân viên phải đáp ứng các yêu cầu
+ Có trình độ chuyên môn phù hợp và được đào tạo về GDP
+ Phải có đủ kinh nghiệm công tác phù hợp với chức trách được giao
- Quy định về quản lý chất lượng:
+ Tất cả các thuốc phải được lưu hành hợp pháp, và phải được mua, cung cấp cũng như bán, giao hàng, gửi hàng bởi các cơ sở sản xuất, kinh doanh dược hợp pháp, đáp ứng các quy định của pháp luật
+ Phải có đầy đủ giấy tờ hợp pháp chứng minh chất lượng sản phẩm Các thông tin này phải luôn có sẵn để cung cấp cho các cơ quan quản lý
và người sử dụng dù ở đầu hay cuối kênh phân phối
- Quy định về cơ sở, kho tàng và bảo quản:
Tất cả các cơ sở phân phối thuốc phải có các điều kiện kho tàng, phương tiện bảo quản thuốc tuân thủ theo đúng các nguyên tắc “ Thực hành tốt bảo quản thuốc" (GSP) Kho phải có các khu vực bảo quản, khu vực nhận và xuất hàng,
khu vực lấy mẫu, điều kiện và yêu cầu trong bảo quản, nhận hàng, quay vòng hàng tồn kho và kiểm soát các dược phẩm quá hạn
- Quy định về vận chuyển, phương tiện vận chuyển và trang thiết bị:
Quá trình vận chuyển thuốc phải đảm bảo giữ nguyên tính toàn vẹn và chất lượng thuốc Tất cả các phương tiện vận chuyển, trang thiết bị được sử dụng trong bảo quản, phân phối và xử lý thuốc phải thích hợp với mục đích sử dụng và phải bảo vệ được thuốc tránh các điều kiện có thể ảnh hưởng xấu đến
độ ổn định, tính toàn vẹn của bao bì, thuốc và phòng tránh việc nhiễm bẩn Phải
có trang bị theo dõi điều kiện môi trường vận chuyển
- Quy định về bao bì và nhãn trên bao bì Thuốc phải được bảo quản và phân phối trong các bao bì không gây tác động xấu đến chất lượng sản phẩm và có đủ khả năng bảo vệ sản phẩm tránh các
7
Trang 17ảnh hưởng bên ngoài, kể cả việc nhiễm khuẩn Bao bì phải được thiết kế để phù hợp với điều kiện vận chuyển: bằng đường bộ, đường thủy, đường không, Nhãn ngoài bao bì phải rõ ràng, dán chắc chắn và đầy đủ nội dung theo quy định của pháp luật
- Quy định về giao hàng và gửi hàng
Thuốc chỉ được bán và/hoặc phân phối cho cơ sở dược hợp pháp được phép mua những sản phẩm đó theo quy định của pháp luật Phải có các văn bản chứng minh tính hợp pháp của cá nhân, cơ sở đó trước khi thuốc được gửi
- Quy định về hồ sơ tài liệu:
Phải có sẵn các quy chế, quy định liên quan đến hoạt động kinh doanh thuốc, các tài liệu chuyên môn thích hợp để tra cứu, các quy định, quy trình, hồ
sơ tài liệu để bảo đảm thực hiện đúng các yêu cầu về bảo quản, phân phối thuốc
và cung cấp cho cơ quan có thẩm quyền khi có yêu cầu
- Quy định về thu hồi sản phẩm và sản phẩm bị loại, bị trả về
Phải thiết lập một hệ thống, bao gồm cả quy trình bằng văn bản, để thu hồi nhanh chóng và có hiệu quả những thuốc được xác định hoặc nghi ngờ là có khiếm khuyết, và chỉ định rõ người chịu trách nhiệm thu hồi
Sản phẩm bị loại bỏ và những sản phẩm bị trả lại cho nhà phân phối phải được nhận dạng phù hợp và được xử lý theo một quy trình, trong đó ít nhất phải
có việc giữ các sản phẩm đó ở khu vực biệt trữ nhằm tránh lẫn lộn và ngăn ngừa việc tái phân phối cho tới khi có quyết định về biện pháp xử lý Điều kiện bảo quản áp dụng cho thuốc bị loại bỏ hoặc trả về phải được duy trì trong suốt quá trình bảo quản và vận chuyển cho tới khi có quyết định sau cùng
Việc đánh giá và đưa ra quyết định về xử lý thuốc loại bỏ, thuốc trả về phải được thực hiện bởi một người được phân công bằng văn bản của người có thẩm quyền Khi tiến hành đánh giá, phải tính đến tính chất của sản phẩm bị trả lại, các điều kiện bảo quản đặc biệt, điều kiện và lai lịch cũng như thời gian kể
từ khi xuất bán sản phẩm đó
8
Trang 181.2 Tồn trữ thuốc
Tồn trữ (storage) là sự bảo quản tất cả các nguyên liệu, vật tư, bao bì dùng trong sản xuất, mọi bán thành phẩm trong quá trình sản xuất và thành phẩm trong kho Tồn trữ không chỉ là việc cất giữ hàng hoá ở trong kho mà còn là cả một quá trình xuất, nhập kho hợp lý, quá trình kiểm tra, kiểm kê, dự trữ và các biện pháp kỹ thuật bảo quản hàng hoá từ khâu nguyên liệu đến các thành phẩm hoàn chỉnh trong kho Công tác tồn trữ là một trong các mắt xích quan trọng của việc cung cấp thuốc cho người tiêu dùng với số lượng đầy đủ nhất, chất lượng tốt nhất, giảm đến mức tối đa tỷ lệ hư hao trong quá trình sản xuất và phân phối thuốc Đối với các cơ sở y tế thực hiện khám và điều trị thì tồn trữ thuốc có thể
hiểu là hoạt động lưu trữ thuốc trong kho của các cơ sở y tế, nhằm đáp ứng nhu
cầu khám, điều trị hoặc phòng chống dịch bệnh của đơn vị mình Như vậy, tồn
trữ thuốc ở các cơ sở có khám và điều trị bao gồm các nội dung:
- Xác định nhu cầu thuốc: Chủng loại, số lượng thuốc sử dụng của đơn
vị mình
- Tiếp nhận, lưu trữ thuốc ở tại các khoa, phòng điều trị hay các cơ sở có khám và điều trị, hay tại các kho thuốc làm nhiệm vụ cung ứng, dự trữ thuốc Bảo quản thuốc lưu trữ đúng qui chế
Vai trò của tồn trữ thuốc: Đối với các cơ sở y tế ở tất cả các cấp từ các cơ
sở nhỏ lẻ hay với mức độ lớn trên phạm vi cả nước thì việc tồn trữ thuốc là tất
yếu Để đảm bảo dự trữ quốc gia về thuốc, nước ta đã ban hành nhiều văn bản xác định chủng loại, số lượng và từng bước kiện toàn dự trữ quốc gia về thuốc
Luật Dược xác định 3 mục tiêu của dự trữ thuốc quốc gia bao gồm: (1) Phòng,
chống dịch bệnh và khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa; (2) Bảo đảm quốc phòng, an ninh; (3) Tham gia bình ổn thị trường thuốc [17] Việc xây dựng, tổ
chức, quản lý, điều hành và sử dụng dự trữ quốc gia về thuốc được thực hiện theo quy định của pháp luật, cụ thể là tuân thủ theo Pháp lệnh Dự trữ quốc gia [22] và Nghị định 196/2004/NĐ-CP và mới đây là Nghị định 43/2012/NĐ-CP
9
Trang 19hướng dẫn thực hiện Pháp lệnh và các văn bản liên quan khác Theo Nghị định
43 mới ban hành, danh mục hàng hóa dự trữ quốc gia thuộc Bộ Y tế quản lý có
sự thay đổi so với Nghị định 196 Nếu trong Nghị định 196 danh mục dự trữ bao
gồm “Một số nguyên liệu quan trọng để sản xuất thuốc, thuốc và thiết bị y tế đặc thù quan trọng thiết yếu phòng, chữa bệnh cho người, thuốc phòng, chống dịch” thì theo Nghị định 43, danh mục thuốc dự trữ do BYT quản lý chỉ còn là
“Thuốc phòng chống dịch” [6], [8]
Đối với các cơ sở khám và điều trị hay làm công tác cung ứng thuốc việc
tồn trữ thuốc nhằm đảm bảo cho quá trình khám và điều trị luôn được chủ động tránh thiếu thuốc tại cơ sở khi thị trường thuốc có những biến động không thuận
lợi hoặc có những tình huống đột xuất xảy ra như: Thiên tai, địch họa, Theo qui định của BYT cũng như khuyến cáo của Tổ chức y tế thế giới tại các cơ sở
cần phải tồn trữ thuốc với lượng thuốc bằng khoảng 2-3 tháng sử dụng của cơ sở
Để quản lý thuốc tồn trữ một cách có hiệu quả hiện nay BYT đang dự
thảo hướng dẫn các cơ sở sử dụng kỹ thuật phân tích ABC và phân tích VEN vào dự trữ thuốc Ngoài ra theo hướng dẫn của WHO thì lượng thuốc tồn trữ được ước tính theo công thức [5], [28]:
Smin = (LT x CA) + SS
Smax= Smin + (PP x CA)
CA : Lượng thuốc tiêu thụ hàng tháng (Average Consumtion)
LT: Thời gian thuốc từ nhà cung cấp đến kho thuốc (Supplier Lead Time) PP: Khoảng thời gian giữa hai lần nhập hàng (Procurement Period)
SS: Lượng tồn kho an toàn
10
Trang 20* Xác định nhu cầu thuốc
Nhu cầu thuốc có thể hiểu là tập hợp tất cả những loại thuốc với dạng bào
chế thích hợp, hàm lượng thích hợp, đủ về số lượng, đảm bảo chất lượng và hiệu
lực để đáp ứng được các yêu cầu phòng chữa bệnh của cộng đồng trong một
phạm vi thời gian, không gian, một trình độ xã hội, khoa học kỹ thuật và khả năng chi trả nhất định
Để xác định nhu cầu thuốc của một cơ sở y tế hay của một vùng miền, người ta dựa trên sự phân tích của các yếu tố: Tình trạng bệnh tật, mô hình bệnh
tật; Kỹ thuật chuẩn đoán bệnh và điều trị; Hiệu lực điều trị của thuốc; Quyết định của người bệnh; Yếu tố môi trường xã hội; Với mỗi một đơn vị cụ thể thì vai trò của các yếu tố này sẽ khác nhau Nhưng nhìn chung thì yếu tố quyết định
nhất vẫn là tình trạng bệnh tật, mô hình bệnh tật [11], [12]
Trong tồn trữ thuốc việc xác định nhu cầu các thuốc cần tồn trữ có vai trò
hết sức quan trọng Hoạt động này không những nhằm đảm bảo cho cơ sở y tế
có đầy đủ thuốc sử dụng mà nó còn tránh lãng phí trong quá trình tồn trữ Nếu
tiến hành tồn trữ nhiều loại thuốc sẽ gây khó khăn trong việc tìm nguồn mua, chuẩn bị nguồn tài chính, mặt bằng kho, nhân lực để bảo quản, Đồng thời nếu các thuốc này sau lại không có nhu cầu sử dụng thì sẽ bị lãng phí nguồn lực Do
vậy, việc tồn trữ thuốc cần phải xác định được tương đối chính xác chủng loại,
số lượng thuốc cần dự trữ Thông thường các thuốc được tồn trữ là những thuốc
cần thiết, có nhu cầu cao trong hoạt động của cơ sở y tế và nó thường được xây
dựng bằng cách rút ra từ danh mục thuốc (Với cơ sở y tế có khám và điều trị) thường xuyên của cơ sở
11
Trang 211.3 Bảo quản thuốc
Để các thuốc tồn trữ đảm bảo có chất lượng đến khi sử dụng thì các thuốc
tồn trữ phải được bảo quản đúng qui chế và theo dõi hạn dùng cũng như chất lượng thuốc một cách chặt chẽ và thường xuyên
Từ những năm 80 thế kỷ XX các tập đoàn và công ty Dược phẩm lớn trên thế giới đã bắt đầu đầu tư cho công tác tồn trữ, bảo quản nhằm duy trì chất lượng thuốc trong suốt quá trình phân phối lưu thông và kéo dài tuổi thọ của thuốc Năm 1985, Liên đoàn Dược phẩm quốc tế (FIP) đã đưa ra các nguyên tắc thực hành tốt bảo quản thuốc [20], [23] Thông qua các biện pháp riêng thích hợp cho bảo quản, vận chuyển nguyên liệu ban đầu và sản phẩm trong tất cả các giai đoạn sản xuất để khi đến tay người tiêu dùng, thành phẩm thuốc vẫn giữ nguyên tính chất và chất lượng quy định Năm 1991, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã ban hành tiêu chuẩn, nguyên tắc GSP để định hướng và khuyến khích
Bộ Y tế các nước thực hiện [26], [27]
Nội dung chủ yếu của GSP - WHO gồm các lĩnh vực chủ yếu sau:
- Quy định về nhân sự
- Quy định về doanh nghiệp và cơ sở vật chất
- Quy định về các yêu cầu về bảo quản
- Quy định về hàng hóa bị trả lại
- Quy định về xuất hàng và vận chuyển
- Quy định về thu hồi sản phẩm
Các quy định của WHO đã bổ xung thêm một số chỉ dẫn về bảo quản thuốc theo GSP so với các hướng dẫn của FIP trước đó như:
- Biện pháp phòng ngừa phải được thực hiện để ngăn chặn người nhập hàng trái phép từ khu vực lưu trữ
- Vật liệu, sản phẩm dược phẩm không được lưu trữ trực tiếp trên sàn nhà
12
Trang 22- Nên có văn bản chương trình dành cho thói quen làm việc nhiều (Quy trình thao tác chuẩn) như vệ sinh môi trường, kiểm soát sâu bệnh, các biện pháp trong trường hợp tác động, làm sạch khu vực lấy mẫu, xử lý hàng hóa trả lại
- Hệ thống điện toán được sử dụng để quản lý lưu trữ (Bao gồm cả kiểm dịch và lưu trữ các tài liệu bị từ chối) đã được xác nhận
- Thuật ngữ truyền thống “Nhập trước- xuất trước” (FIFO) được thay thế một cách chính xác cho cụ thể hơn bởi thuật ngữ “hết hạn trước- xuất trước” (FEFO)
- Ngoài các yêu cầu thông thường về giám sát các điều kiện bảo quản (Nhiệt độ, độ ẩm), cần chứng minh tính đồng nhất của nhiệt độ bảo quản thuốc trong kho
- Hàng hóa trả về chỉ có thể được trả lại cho nguồn nhập sau khi chất lượng đã được tái đánh giá
- Đối với việc vận chuyển hàng, đặc biệt là việc sử dụng đá khô trong dây truyền lạnh phải được thảo luận và giám sát các điều kiện vận chuyển với sự trợ giúp của các thiết bị thích hợp
Căn cứ vào khuyến cáo của WHO và sự phát triển của ngành dược Việt Nam, ngày 20/6/2001 BYT ban hành Quyết định số 2701/2001/QĐ-BYT về việc
thực hiện nguyên tắc “Thực hành tốt bảo quản thuốc” (GSP) Các nội dung GSP
do BYT qui định ở nước ta mang đầy đủ các nội dung GSP của WHO và có bổ xung thêm phần qui định về hồ sơ tài liệu [2]
1.4 Một số nét về tồn trữ và phân phối thuốc ở Việt Nam
Trang 23những năm qua mặc dù thị trường thuốc có nhiều biến động về giá thuốc, tuy nhiên tại các cơ sở y tế vẫn không xảy ra tình trạng thiếu thuốc trong phòng và điều trị Bên cạnh những kết quả đã đạt được thực trạng cung ứng và tồn trữ thuốc ở nước ta vẫn còn tồn tại nhiều thiếu sót đáng quan tâm:
Theo các thông tin năm 2012 dự trữ quốc gia về thuốc còn tồn tại nhiều
bất cập và sai phạm Thực hiện Quyết định 110/2005/QĐ-TTg, ngày 16-5-2005
của Thủ tướng Chính phủ có về kế hoạch Dự trữ lưu thông thuốc quốc gia phục vụ công tác phòng bệnh, chữa bệnh cho nhân dân [7], BYT đã lựa chọn 03 công ty được dự trữ thuốc là Công ty Dược phẩm Trung ương I, II và III Theo đó lượng dự
trữ thuốc với số tiền trước mắt khoảng 330 tỷ đồng, với cơ chế: các doanh nghiệp được giao nhiệm vụ dự trữ lưu thông thuốc (DTLTT) được vay tiền ngân hàng để mua cơ số thuốc DTLT theo yêu cầu, ngân sách nhà nước hỗ trợ 100% lãi suất vốn vay ngân hàng Tuy vậy, trong quá trình thực hiện các doanh nghiệp này đã không
sử dụng hết hạn mức đã được phân bổ, ngoài ra số chủng loại thuốc, lượng dự trữ cũng không đảm bảo theo danh mục Cụ thể: Công ty dược phẩm trung ương II đã được phân bổ hạn mức vay vốn 160 tỷ đồng vào năm 2006 nhưng khi thực hiện, Công ty này chỉ sử dụng hơn 21,143 tỷ đồng được phân bổ (tỷ lệ 13,2%); hai năm
2007, 2010 cũng chỉ đạt tương ứng 29,8% và 31,1% hạn mức vốn vay Năm 2011, Công ty sử dụng được 98,9% hạn mức vốn vay nhưng về số mặt hàng thuốc dự trữ, công ty này chưa mua đủ theo kế hoạch được duyệt, hằng năm chỉ thực hiện đạt từ 24,5% đến 38% số mặt hàng được duyệt Thực trạng cũng xảy ra ở cả các Công ty dược phẩm trung ương I và III [18]
Theo các nghiên cứu gần đây, thì việc tồn trữ thuốc ở nhiều bệnh viện cũng chưa được quan tâm đúng mức, hầu hết lượng tồn trữ không đảm bảo theo qui định
của BYT
- Tại Bệnh viện Hữu nghị từ năm 2010 đến năm 2012 lượng thuốc tồn trữ
chỉ đạt từ 1,43 đến 2,03 (Năm 2011) tháng sử dụng [13]
14
Trang 24- Tại Bệnh viện đa khoa huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh giai từ năm
2005 đến năm 2011 lượng thuốc tồn trữ đều dưới 1 tháng sử dụng [16]
- Tại bệnh viện đa khoa Thành phố Hải Dương tỉnh Hải Dương theo nghiên cứu từ năm 2006 đến năm 2011 lượng thuốc tồn trữ chỉ đạt từ 1,05 đến 1,30 tháng sử dụng, [10]
* Về tình hình phân phối thuốc
Trong những năm gần đây BYT đã thực hiện thành công 2 mục tiêu cơ bản của Chính sách Quốc gia về thuốc của Việt Nam: (1) Bảo đảm cung ứng thường xuyên và đủ thuốc có chất lượng cho công tác phòng và chữa bệnh cho nhân dân Với tính xã hội hóa cao, với sự tham gia của các thành phần kinh tế, mạng lưới phân phối thuốc phát triển mạnh mẽ trên toàn quốc, đảm bảo đủ thuốc cho nhu cầu điều trị, người dân có thể dễ dàng tiếp cận cơ sở bán lẻ thuốc (2) Bảo đảm sử dụng thuốc hợp lý, an toàn, có hiệu quả: Bộ Y tế tích cực và cương quyết triển khai Chính sách quản lý chất lượng toàn diện, đảm bảo chất lượng thuốc từ sản xuất đến tận tay người tiêu dùng, đảm bảo sử dụng thuốc hợp
lý an toàn Tuân thủ nguyên tắc GDP, đến nay ở nước ta đã hình thành một mạng lưới phân phối thuốc tương đối hoàn chỉnh Và mô hình mạng lưới phân phối tại Việt Nam hiện nay phù hợp với mạng lưới phân phối theo khuyến cáo của WHO
15
Trang 25Hình 1.3: Mô hình mạng lưới phân phối thuốc ở Việt Nam [12], [14]
Tuy nhiên, bên cạnh các thành tựu đã đạt được thì tình hình phân phối thuốc
ở nước ta vẫn còn tồn tại nhiều bất cập Nhiều nhà cung ứng đã thực hiện phân phối thuốc lòng vòng nhằm đẩy giá thuốc lên cao Đặc biệt hiện nay cùng một loại thuốc, cùng hàm lượng nhưng giá trúng thầu ở mỗi một bệnh viện lại khác nhau
Các trạm y tế
xã phường
Các nhà thuốc,
hiệu thuốc quận, huyện
Các công ty, xí nghiệp dược trung ương
Các hãng phân phối quốc tế
Các nhà sản xuất đa
quốc gia
16
Trang 26Cụ thể, thuốc Bernodan (Indonesia) trúng thầu vào BV An Bình 15.000 đồng/ống, trong khi vào BV quận Thủ Đức 22.000 đồng/ống Thuốc Sinraci 500mg (Hàn Quốc) trúng thầu vào BV Trưng Vương giá 240.000 đồng/lọ nhưng vào BV quận Thủ Đức 275.000 đồng/lọ Thuốc Planitox 500mg (Hàn Quốc) trúng thầu vào BV Nguyễn Tri Phương giá 2.405.000 đồng/lọ nhưng vào BV quận Thủ Đức 2.500.000 đồng/lọ… Thuốc điều trị đái tháo đường Glucarbose 50mg, có tên hoạt chất Acarbose và hàm lượng 50mg, cùng quy cách là hộp 3 vỉ
x 10 viên được Công ty dược Mebiphar sản xuất, trúng thầu vào BV Bạch Mai với giá 2.200 đồng, nhưng trúng thầu vào BV Chợ Rẫy TPHCM có giá 2.100 đồng, trúngthầu BV Hữu Nghị chỉ 1.980 đồng Thuốc trị chóng mặt do tăng huyết áp Tanganil 500mg loại hộp 5 ống do Công ty Piere (Pháp) sản xuất trúng thầu vào BV Đa khoa Trung ương Thái Nguyên là 12.704 đồng, nhưng trúng thầu vào BV C Đà Nẵng là 12.409 đồng và trúng thầu vào BV Đa khoa Trung ương Quảng Nam 12.645 đồng, [21]…
1.5 Mô hình mạng lưới phân phối thuốc trong Quân đội
Trong Quân đội công tác phân phối thuốc cũng tuân theo các nguyên tắc phân phối thuốc cơ bản của BYT đã ban hành (GDP), nhưng đồng thời cũng áp
dụng một số nguyên tắc phân phối riêng mang tính chất đặc thù quân đội; Đặc
biệt với người sử dụng là quân nhân và thuốc bảo đảm sẵn sàng chiến đấu Mô hình mạng lưới phân phối thuốc trong quân đội có thể tóm tắt như trong hình 1.4
17
Trang 27Hình 1.4 : Mô hình mạng lưới phân phối thuốc cho tất cả các đối tượng sử
Sư đoàn và tương đương
Các công ty, xí nghi ệp
dược tỉnh thành
Các b ệnh viện trung ương QĐ
Các nhà s ản xuất đa
qu ốc gia Các nhà thu vi ện, bệnh xá, ốc bệnh
18
Trang 281.6.2 Vị trí, chức năng, nhiệm vụ, mối quan hệ công tác, chức trách quyền hạn [19]
* Vị trí, chức năng của Phòng Quân y
Căn cứ vào Quyết định số: 79/QĐ-HC ngày 10 tháng 9 năm 2012 của Cục Hậu cần – TCHC về việc ban hành quy chế làm việc của Phòng Quân y quy định chức năng, nhiệm vụ như sau:
Phòng Quân y là một tổ chức trong hệ thống tổ chức thuộc Cục Hậu TCHC-BQP, có chức năng làm tham mưu cho Đảng ủy, Chỉ huy Cục Hậu Cần
cần-về chỉ đạo, bảo đảm, quản lý công tác quân y đối với các đơn vị thuộc nội bộ TCHC Tổ chức thực hiện công tác quản lý, bảo vệ và chăn sóc sức khỏe cho cán bộ, chiến sỹ, công nhân viên chức quốc phòng của cơ quan Tổng cục Mọi hoạt động của Phòng Quân y đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng
ủy Cục Hậu cần, đồng thời dưới sự chỉ đạo về chuyên môn, nghiệp vụ của Cục Quân y
* Nhiệm vụ của Phòng Quân y
- Công tác tổ chức chỉ huy quân y, quản lý chỉ đạo ngành:
Chỉ đạo và bảo đảm cho nhiệm vụ SSCĐ của quân y các đơn vị trong nội
bộ Tổng cục Hậu cần, tổ chức mạng lưới quân y thực hiện nhiệm vụ thường trực cấp cứu, khám bệnh, điều trị kịp thời, an toàn trên các tuyến Quản lý về chuyên môn đối với cán bộ, nhân viên quân y các đơn vị nội bộ Tổng cục Hậu cần
- Công tác vệ sinh phòng dịch:
19
Trang 29Theo dõi và quản lý chặt chẽ tình hình dịch bệnh ở các khu vực đơn vị đơn vị đóng quân của Tổng cục Hậu cần Chỉ đạo, hướng dẫn các đơn vị chủ động phòng chống, ngăn chặn và dập tắt kịp thời khi có dịch bệnh xảy ra, không
để lan rộng và biến chứng xấu Tổ chức thực hiện các nội dung công tác vệ sinh phòng bệnh, phòng chống dịch trong cơ quan Tổng cục; Kiểm tra thực hiện công tác vệ sinh an toàn thực phẩm bếp ăn, vệ sinh môi trường và các công trình vệ sinh công cộng của cơ quan Tổng cục Hậu cần
Chỉ đạo và tổ chức thực hiện các nội dung công tác vệ sinh phòng dịch, phòng chống bệnh nghề nghiệp đối với các đơn vị trong nội bộ Tổng cục Hậu cần, góp phần bảo vệ sức khỏe, nâng cao sức chiến đấu và khả năng lao động, công tác của bộ đội trong mọi tình huống
- Công tác điều trị dự phòng:
Chỉ đạo và tổ chức thực hiện các nội dung công tác quản lý sức khỏe bộ đội, đề ra các biện pháp điều trị dự phòng thích hợp; Công tác cấp cứu điều trị kịp thời, an toàn ở các tuyến theo phân cấp Chỉ đạo công tác khám kiểm tra lại sức khỏe phục vụ nhiệm vụ tuyển quân, tuyển sinh của TCHC theo đúng tiêu chuẩn sức khỏe qui định
Chỉ đạo, hướng dẫn các tuyến quân y đơn vị thực hiện các chỉ tiêu quy định của Cục Quân y về điều trị bằng y học cổ truyền và kết hợp y học cổ truyền với y học hiện đại
Tổ chức thực hiện tốt các nội dung của công tác quản lý sức khỏe, cấp cứu điều trị cho cán bộ, chiến sỹ, CNVCQP của cơ quan, đơn vị trong TCHC
- Công tác d ân số, gia đình và trẻ em, phòng chống HIV/AIDS:
Phối hợp các ngành có liên quan nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác vận động giáo dục, tuyên truyền cho cán bộ, chiến sỹ, CNVCQP trong Tổng cục Hậu cần thực hiện tốt các mục tiêu của công tác DS- KHHGĐ, nắm vững các kiến thức về phòng chống nhiễm HIV/AIDS để tự bảo vệ cho bản thân, gia đình và cộng đồng
20
Trang 30Chỉ đạo và tổ chức thực hiện các nội dung chương trình Dân số, Gia đình
và Trẻ em, phòng chống nhiễm HIV/AIDS trong nội bộ TCHC
- Công tác dược trang bị:
Bảo đảm kịp thời vật chất quân y cho các đơn vị trong TCHC theo đúng tiêu chuẩn định mức qui định Phân phối kinh phí nghiệp vụ theo tiêu chuẩn phân cấp của Cục Quân y và hướng dẫn đơn vị quản lý sử dụng an toàn hợp lý
Chỉ đạo, hướng dẫn và kiểm tra thực hiện các chế độ công tác dược chính
ở các tuyến quân y đơn vị; Chế độ kiểm kê, thanh xử lý vật chất quân y theo phân cấp, đúng nguyên tắc qui định
- Công tác huấn luyện xây dựng ngành:
Chỉ đạo và tổ chức thực hiện nội dung huấn luyện và nghiên cứu khoa học ngành y cấp cơ sở cho các đối tượng theo qui định Phát hiện đề xuất với cấp trên và các cơ quan chức năng về nhu cầu đào tạo, sử dụng đội ngũ cán bộ, nhân viên quân y các đơn vị trong nội bộ TCHC
Chỉ đạo các đơn vị đẩy mạnh phong trào thi đua “ Xây dựng đơn vị quân
y 5 tốt” và “ Chiến sỹ quân y làm theo lời Bác Hồ ”
Chỉ đạo, quản lý và tổ chức thực hiện công tác thống kê, báo cáo ngành
theo quy định
1.6.3 Vị trí, chức năng, nhiệm vụ của bộ phận dược - Phòng Quân y trong quân đội [19]
Vị trí, chức năng của bộ phận dược - Phòng Quân y:
Vị trí, chức năng của bộ phận dược: Bộ phận dược là một bộ phận thuộc sự quản lý điều hành trực tiếp của Trưởng Phòng Quân y, là một tổ chức chuyên môn kỹ thuật về dược, tiếp nhận, tạo nguồn, cấp phát, quản lý, bảo quản thuốc, bông băng, hóa chất và vật tư quân y và triển khai các chế độ chuyên môn về dược trong TCHC, tham gia lựa chọn Danh mục thuốc, đảm bảo thông tin thuốc,
tư vấn về sử dụng thuốc, kiểm tra theo dõi việc sử dụng thuốc an toàn, hiệu quả,
21
Trang 31hợp lý trong toàn đơn vị, giúp trưởng Phòng Quân y chỉ đạo thực hiện và phát triển công tác dược theo hướng của ngành và yêu cầu trong điều trị
Nhiệm vụ của bộ phận dược- Phòng Quân y:
∗ Lập kế hoạch hàng năm về công tác đảm bảo trang bị kỹ thuật y tế cho các đơn vị thuộc Phòng Quân y đảm bảo kế hoạch ngắn hạn, dài hạn theo chỉ đạo của Trưởng Phòng Quân y, của ngành
∗ Lập dự trù thuốc, bông băng, hóa chất và vật tư quân y gửi về Cục Quân
∗ Thực hiện công tác kiểm kê, đăng ký, thống kê theo dõi trang thiết bị y tế thuộc phạm vi mình quản lý Báo cáo và thanh quyết toán theo qui định
∗ Tồn trữ, bảo quản thuốc, bông băng, hóa chất và vật tư quân y, hạn chế làm giảm chất lượng Dự trữ đủ cơ số SSCĐ, cơ số phòng chống lụt bão thiên tai thảm họa
∗ Tham gia quản lý kinh phí thuốc, bông băng, hóa chất và vật tư quân y, thực hiện tiết kiệm đạt hiệu quả cao trong phục vụ người bệnh
∗ Hằng năm sơ kết công tác đảm bảo thuốc , bông băng, hóa chất và vật tư quân y, tham gia công tác huấn luyện nghiên cứu khoa học và cải tiến kỹ thuật trang thiết bị y tế
22
Trang 32Tổ chức bộ phận dược - Phòng Quân y
Tổ chức bộ phận dược - Phòng Quân y cần gọn nhẹ, sử dụng và phát huy được khả năng kiến thức của cán bộ theo định hướng chức trách nhiệm vụ
Bộ phận dược - Phòng Quân y thường gồm 2 bộ phận:
- Hành chính, dược chính, phân phối
- Kho
Tóm lại, Phòng Quân y - TCHC là một đơn vị chuyên môn kỹ thuật có nhiệm vụ bảo đảm mọi hoạt động y tế trong toàn Tổng cục Hậu cần Có chức năng quản lý và điều hành các hoạt động chăm sóc sức khỏe cho cán bộ, chiến sỹ trong Tổng cục Nhiệm vụ phân phối thuốc là một trong những mặt công tác rất quan trọng của Phòng Quân y, nó đảm bảo nguồn lực vật chất và quản lý một cách hiệu quả nguồn lực này cho các hoạt động của Phòng và của các đơn vị quân y trong toàn Tổng cục
23
Trang 33Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu :
- Phòng Quân y - Tổng cục Hậu cần
- Kho thuốc - Phòng Quân y - Tổng cục Hậu cần
- Ban Quân y các đơn vị trực thuộc Tổng cục Hậu cần
2.2 Địa điểm, thời gian nghiên cứu
* Địa điểm nghiên cứu
- Phòng Quân y - Tổng cục Hậu cần
- Bộ môn Quản lý và kinh tế dược - Trường đại học Dược Hà Nội
* Th ời gian thực hiện đề tài: Từ tháng 01/2012 đến tháng 5/2013 2.3 Nội dung nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu và tóm tắt các chỉ tiêu nghiên cứu được trình bày trong hình 2.1
24
Trang 34Hình 2.1: Sơ đồ tóm tắt nội dung nghiên cứu
Khảo sát một số yếu tố nguồn lực của Phòng Quân y - TCHC
* Tổ chức bộ máy và cơ cấu nhân lực của PQY-TCHC
* Trang thiết bị
* Kinh phí
phân phối thuốc
* Hoạt động phân phối
* Danh mục hàng phân phối
* Hoạt động tồn trữ bảo quản
* Đảm bảo chất lượng thuốc.
Giải pháp khắc phục
25
Trang 352.4 Phương pháp nghiên cứu:
- Nghiên cứu mô tả hồi cứu trên các đối tượng nghiên cứu tập trung vào các nội dung liên quan đến phân phối và tồn trữ thuốc
2.5 Phương pháp thu thập số liệu:
- Các tài liệu có sẵn:
+ Dự trù thuốc của các năm 2010, 2011 và 2012 của Phòng Quân y và của các đơn vị trực thuộc
+ Biên bản kiểm kê hàng năm (ngày 01/7 và 01/01)
+ Báo cáo kết quả công tác quân y hàng năm của các đơn vị, Phòng Quân
2.7 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu :
- Các số liệu nghiên cứu được xử lý trên phần mềm Microsof Excel 2010
và trình bày trên Microsof word 2010
- Phương pháp mô hình hóa, vẽ biểu đồ, dùng hình ảnh để minh họa
26
Trang 36Chương 3:
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Khảo sát mô hình tổ chức, cơ cấu nhân lực của Phòng Quân y – TCHC
3.1.1 Mô hình tổ chức
Tùy theo từng Quân khu, Quân đoàn, Tổng cục, Binh chủng mà PQY có
tổ chức phù hợp với tính chất, đặc điểm hoạt động của đơn vị PQY - TCHC có
mô hình tổ chức như sau:
Hình 3.1: Sơ đồ tổ chức Phòng Quân y
Như vậy, PQY – TCHC, có cơ cấu tổ chức bao gồm toàn bộ các lĩnh vực
y tế theo mô hình y tế cộng đồng Các cán bộ được phân công thực hiện các mặt công tác theo chuyên ngành lĩnh vực cụ thể Qua khảo sát chúng tôi thấy, lĩnh vực công tác của các cán bộ được qui định cụ thể chức trách nhiệm vụ cho từng
CB trong PQY, cụ thể:
Ch ỉ huy Phòng
B ộ phận Dân s ố-gia đình và trẻ
B ộ phận điều trị
Dược
B ộ phận vệ sinh phòng
d ịch
B ộ phận Kho
B ộ phận Nghi ệp vụ dược
27
Trang 37* Trưởng phòng Quân y: Chỉ huy điều hành, tổ chức thực hiện nhiệm vụ
xây dựng quân y trong nội bộ Tổng cục Hậu cần luôn luôn sẵn sàng chiến đấu tốt Chỉ đạo, quản lý và tổ chức thực hiện các nội dung nhiệm vụ công tác quân y bao gồm: Công tác vệu sinh phòng dịch; Công tác điều trị dự phòng; Công tác
DS, GĐ&TE, Phòng chống lây nhiễm HIV/AIDS; Công tác dược trang bị và công tác huấn luyện xây dựng ngành Chỉ đạo quân y các đơn vị phối hợp với y
tế địa phương nơi đóng quân triển khai các nội dung có liên quan đến công tác chăm sóc, bảo vệ sức khỏe bộ đội và nhân dân
* Phó trưởng Phòng: Phó trưởng Phòng Quân y là bác sỹ CKI là người
giúp trưởng Phòng Quân y quản lý điều hành các hoạt động của Phòng Quân y Thay thế trưởng Phòng khi trưởng Phòng vắng mặt
* Bộ phận vệ sinh phòng dịch: Nắm vững tình hình VSPD trong Tổng cục
để giúp trưởng Phòng Quân y đặt kế hoạch và chỉ huy đôn đốc các mặt công tác VSPD thích hợp với nhiệm vụ và hoàn cảnh của từng đơn vị thời bình cũng như thời chiến
* Bộ phận Dân số, gia đình và trẻ em: Nắm vững tình hình công tác dân
số, gia đình và trẻ em của các đơn vị Tổng cục Hậu cần Tham mưu cho trưởng Phòng Quân y quản lý và điều phối hoạt động công tác DS, GĐ & TE
* Bộ phận điều trị: Nắm vững tình hình công tác điều trị của các đơn vị
thuộc Tổng cục Hậu cần Tham mưu cho trưởng Phòng Quân y các mặt công tác điều trị, cứu chữa thương bệnh binh để đảm bảo sức khỏe cho bộ đội Hàng năm xây dựng kế hoạch cụ thể về công tác chuyên môn; tổ chức thực hiện, định kỳ đánh giá kết quả và báo cáo lên cấp trên
28
Trang 38* Bộ phận dược:
- Bộ phận nghiệp vụ dược: Nắm vững tình hình công tác dược của các đơn
vị Tổng cục Hậu cần Tham mưu cho trưởng Phòng Quân y quản lý và điều phối hoạt động công tác dược trong TCHC
- Bộ phận kho: Thực hiện bảo quản tồn trữ thuốc trong kho, tổ chức tiếp nhận và cấp phát thuốc cho các đơn vị theo kế hoạch
3.1.2 Cơ cấu nhân lực
a/ T ại Phòng Quân y
Do Phòng Quân y có nhiệm vụ chỉ đạo các công tác điều trị, dự phòng và đảm bảo thuốc, vật tư y tế,… trong toàn TCHC Nên Phòng Quân y cũng phải có các cán bộ chuyên môn nghiệp vụ phù hợp thực hiện các nhiệm vụ này Kết quả khảo sát nhân lực tại Phòng Quân y được trình bày trong bảng 3.1
B ảng 3.1: Cơ cấu nhân lực của PQY qua các năm
Trang 39Nhận xét:
- Tỷ lệ cán bộ có trình độ đại học trở lên đã tăng lên theo từng năm: Năm
2010 chiếm 38,5%; năm 2011 chiếm 46,7%; năm 2012 chiếm 50%
- Cán bộ dược công tác tại PQY có tỷ lệ khá cao năm 2010 chiếm 23,1%; năm 2011 chiếm 26,6%; năm 2012 chiếm 28,6%
- Từ năm 2011, PQY được bổ xung thêm 01 cán bộ dược có trình độ đại học
b/ Nhân l ực tại kho thuốc của Phòng Quân y
Kho thuốc trực thuộc Phòng Quân y - Tổng cục Hậu Cần có nhiệm vụ tồn trữ và bảo quản thuốc, vật tư trang thiết bị y tế Kết quả khảo sát nhân lực tại kho thuốc của PQY - TCHC được trình bày trong bảng 3.2
B ảng 3.2: Cơ cấu nhân lực kho thuốc của Phòng Quân y qua các năm
Trang 40Nhận xét:
Tại kho thuốc của PQY chỉ có một cán bộ trung học dược làm thủ kho và thực hiện mọi công tác bảo quản cấp phát thuốc Như vậy, so với các quân khu, quân đoàn, quân binh chủng thì số lượng cán bộ tại kho thuốc của PQY – TCHC
là ít hơn rất nhiều [15], đồng thời với số lượng cán bộ, nhân viên như vậy thì rất khó khăn cho kho thuốc khi thực hiện cấp phát với số lượng lớn Tuy nhiên, qua nghiên cứu chúng tôi thấy khi thực hiện cấp phát thuốc với số lượng lớn thì có
sự phối hợp bổ xung tăng cường cán bộ từ PQY đến để thực hiện cùng cấp phát Đặc biệt việc cấp phát thuốc gây nghiện, hướng tâm thần và tiền chất luôn có sự giám sát và tham gia của Trợ lý dược của Phòng Quân y
3.1.3 Trang thiết bị phục vụ tồn trữ, phân phối thuốc của PQY
Cũng giống như các cơ sở y tế nói chung, hoạt động phân phối thuốc tại Phòng Quân y - Tổng cục Hậu cần bao gồm tổng thể các hoạt động: quản lý, cấp phát và bảo quản thuốc, vật tư trang thiết bị y tế Các hoạt động này được thực hiện tại Phòng Quân y và kho thuốc của PQY Qua khảo sát về cơ sở vật chất phục vụ công tác tồn trữ và phân phối thuốc tại PQY - TCHC chúng tôi thu được kết quả như sau:
* Tại Phòng Quân y:
Qua khảo sát chúng tôi thấy tại PQY-TCHC được trang bị 01 máy vi tính dùng để quản lý theo dõi xuất nhập thuốc của kho quân y và tình hình sử dụng, nhu cầu thuốc của các đơn vị Và ở PQY cũng được trang bị 01 tủ lạnh dùng để bảo quản thuốc và vacxin yêu cầu phải bảo quản lạnh (Nhiệt độ từ 0oC đến 8o
C)
* Tại Kho thuốc:
Kho thuốc của PQY-TCHC chỉ bao gồm một nhà kho không ngăn tách cứng thành các khu vực bảo quản thuốc Kho được xây dựng trong khu vực riêng biệt, thoáng mát, có diện tích khoảng 150 m2, thể tích kho khoảng 450 m3
,
31