1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THAØNH PHAÀN LOAØI CAÙ VAØ ÑAËC ÑIEÅM SINH HOÏC CUÛA MOÄT SOÁ LOAØI CAÙ COÙ THEÅ THUAÀN DÖÔÕNG LAØM CAÙ CAÛNH ÔÛ HOÀ TRÒ AN-TÆNH ÑOÀNG NAI

127 44 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 127
Dung lượng 0,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Họ II : ENGRAULIDAE Loài : 02 Tên khoa học : Corica laciniata Fowler, 1935 Tên Việt Nam : cá cơm sông Nơi thu mẫu : Phú Cường, La Ngà Màu sắc: toàn thân cá màu trắng bạc, trên mặt lưng

Trang 1

KHOA THỦY SẢN

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

ĐỀ TÀI:

THÀNH PHẦN LOÀI CÁ VÀ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA MỘT SỐ LOÀI CÁ CÓ THỂ THUẦN DƯỠNG LÀM CÁ CẢNH

Ở HỒ TRỊ AN-TỈNH ĐỒNG NAI

NGÀNH: THỦY SẢN

KHÓA: 2001 – 2005

SINH VIÊN THỰC HIỆN: NGUYỄN THỊ DIỆU HIỀN

TP HỒ CHÍ MINH 9/2005

Trang 2

ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA MỘT SỐ LOÀI CÁ CÓ THỂ THUẦN DƯỠNG LÀM CÁ CẢNH

Ở HỒ TRỊ AN-TỈNH ĐỒNG NAI

Thực hiện bởi

Nguyễn Thị Diệu Hiền

Luận văn được đệ trình để hoàn tất yêu cầu cấp bằng Kỹ Sư Thủy Sản

Giáo viên hướng dẫn: Nguyễn Văn Tư

Thành Phố Hồ Chí Minh

9/2005

Trang 3

Đề tài được thực hiện từ tháng 4 đến tháng 8 năm 2005 Kết quả chúng tôi đã định danh và phân loại được 67 loài cá thuộc 22 họ và 9 bộ

- Có hai nhóm cá sinh thái:

+ Nhóm cá nước ngọt: chiếm đa số cá thu được, chủ yếu thuộc các Bộ cá chép Cypriniformes, Bộ cá da trơn Siluriformes và Bộ cá vược Perciformes

+ Nhóm cá nước lợ: nhóm cá này ở nước lợ và có thể đi sâu vào nước ngọt, đại

diện là loài cá nóc (Monotetra leiurus)

- Xác định được 42 loài cá có giá trị kinh tế, chiếm 62,7%

Bên cạnh đó chúng tôi cũng đã khảo sát đặc điểm sinh học của 3 loài cá được xem là có màu sắc đẹp, có thể thuần dưỡng làm cá cảnh:

* Cá đỏ mang (Systomus orphoides) là loài cá ăn tạp Tỉ lệ Li/Lo trung bình là

1,41, sức sinh sản tuyệt đối là 18.931 trứng và sức sinh sản tương đối là 307 trứng/g

* Cá bống cát (Glossogobius giuris) là loài cá ăn động vật Tỉ lệ Li/Lo trung

bình là 0,62, sức sinh sản tuyệt đối là 7.057 trứng và sức sinh sản tương đối là 3.313 trứng/g

* Cá hạt mít đỏ/dầm đất (Puntius sp.) là loài cá ăn động vật Tỉ lệ Li/Lo trung

bình là 0,96 Do mẫu thu đều là cá thể đực nên chúng tôi không tính được sức sinh sản của cá

Trang 4

- Brackish water-based group comprised species moving into freshwater

areas with representative species of Monotetra leiurus

+ Among them, forty two species were identified as economically valued ones (accounting for 62.7%)

+ Three colorful species considered as potential ornamental fish were also studied on biological characteristics

- Do mang fish (Systomus orphoides) is an omnivore Average Li/Lo ratio is

about 1.41, absolute fecundity of 18,931 eggs and relative fecundity of 307 eggs/g female fish

- Bong cat fish (Glossogobius giuris) is a carnivore Average Li/Lo ratio is

about 0.62, absolute fecundity of 7,057 eggs and relative fecundity of 3,313 eggs/g female fish

- Hat mit do/dam dat fish (Puntius sp.) is an omnivore Average Li/Lo ratio is

about 0.96 All collected fish was male one so fecundity of the fish could not be estimated

Trang 5

iv

-Xin chân thành cảm ơn:

o Ban Giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm - TP Hồ Chí Minh

o Ban Chủ nhiệm Khoa Thủy Sản

o Cùng toàn thể quý thầy cô trong khoa và ngoài khoa đã giảng dạy và truyền đạt những kiến thức quý báu cho em trong suốt quá trình học tập tại trường Xin gởi lòng biết ơn sâu sắc đến:

o Thầy Nguyễn Văn Tư

o Cô Lê Hoàng Yến

Đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn và giúp đỡ em trong suốt thời gian thực hiện và hoàn thành luận văn này

Đồng thời gởi lời cám ơn chân thành đến:

o Tập thể cán bộ công nhân viên Trung tâm Thủy sản Đồng Nai

o Tập thể cán bộ công nhân viên Chi cục Bảo vệ Nguồn lợi thủy sản Đồng Nai

o Các Anh, các Chú, Bác ở Trạm bảo vệ nguồn lợi thủy sản hồ Trị An

o Các chủ vựa tại các bến cá và các hộ ngư dân đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thu thập mẫu vật thực hiện đề tài

Xin cảm ơn các bạn sinh viên trong và ngoài lớp đã cùng trao đổi, động viên và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập cũng như trong thời gian thực hiện đề tài

Do hạn chế về mặt thời gian cũng như về kiến thức, do bước đầu làm quen với công việc nghiên cứu khoa học nên luận văn này không thể tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của quý thầy cô cùng các bạn

Trang 6

v

-TRANG TỰA i

TÓM TẮT ii

ABSTRACT iii

CẢM TẠ iv

MỤC LỤC v

DANH SÁCH CÁC BẢNG vii

DANH SÁCH CÁC HÌNH ẢNH viii

I GIỚI THIỆU 1

1.1 Đặt Vấn Đề 1

1.2 Mục Tiêu Đề Tài 1

II TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2

2.1 Giới Thiệu Khái Quát Về Hồ Chứa 2

2.2 Hồ Trị An 2

2.2.1 Lịch sử của hồ 2

2.2.2 Vị trí địa lý 3

2.2.3 Đặc điểm khí hậu thủy văn 3

2.2.4 Địa chất thổ nhưỡng 4

2.2.5 Chế độ thủy lý, hóa, sinh của hồ 4

2.2.6 Những hoạt động thủy sản của hồ 4

2.2.7 Các cơ quan quản lý hoạt động thủy sản trên hồ Trị An 6

III VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 8

3.1 Thời Gian và Địa Điểm 8

3.2 Phương Pháp Nghiên Cứu 8

3.2.1 Phương pháp thu và cố định mẫu 8

3.2.2 Phương pháp phân loại 9

3.2.3 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm sinh học 10

IV KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 13

4.1 Thành Phần Loài Cá Hồ Trị An Thu Được Năm 2005 13

4.2 Thành Phần Loài Cá Hồ Trị An Năm 1983 và Năm 2005 83

4.3 Thành Phần Loài Cá Kinh Tế 87

Trang 7

vi

-V KẾT LUẬN – ĐỀ NGHỊ 97

5.1 Kết Luận 97

5.2 Đề Nghị 99

TÀI LIỆU THAM KHẢO 100 PHỤ LỤC

Trang 8

vii

-Bảng 2.1 Số lượng con giống bổ sung và sản lượng khai thác ở hồ Trị An qua các

năm 6

Bảng 4.2 Thành phần loài cá hồ Trị An năm 1983 và năm 2005 83

Bảng 4.4 Tần suất bắt gặp thức ăn của cá đỏ mang (n = 20) 89

Bảng 4.6 Hệ số thành thục của cá đỏ mang cái 90

Bảng 4.9 Tần suất bắt gặp thức ăn của cá bống cát (n = 35) 92

Bảng 4.11 Hệ số thành thục của cá bống cát cái 93

Bảng 4.14 Tần suất bắt gặp thức ăn của cá hạt mít đỏ (n = 30) 94

Trang 9

1.1 Đặt Vấn Đề

Các hồ chứa thường được xây dựng với mục đích chính là tích nước cho hoạt động thủy lợi, thủy điện hoặc nước sinh hoạt cho nhân dân Việt Nam được biết có hơn 4.000 hồ chứa lớn nhỏ với tổng diện tích khoảng 340.000 ha Với một diện tích rộng lớn như thế nên nghề cá hồ chứa đóng vai trò quan trọng trong ngành thủy sản nước ta, hàng năm cho ra một lượng thủy sản đáng kể phục vụ cho tiêu dùng, đồng thời giải quyết việc làm cho rất nhiều lao động

Hồ Trị An với diện tích khoảng 32.400 ha, là hồ chứa nhân tạo lớn nhất Đông Nam Bộ, đồng thời cũng là thủy vực quan trọng trong việc phát triển thủy sản cho tỉnh Đồng Nai Về mặt tự nhiên, hồ Trị An được xây dựng chủ yếu để làm thủy điện, và cung cấp nước tưới tiêu, sinh hoạt cho dân cư khu vực hạ lưu sông Đồng Nai Về mặt xã hội, do nguồn lợi thủy sản trong hồ phát triển tốt nên ngư dân từ các tỉnh thành trong cả nước cùng với Việt kiều từ Campuchia đã về đây sinh sống và tham gia hoạt động khai thác thủy sản ngày càng đông Trước sự gia tăng lực lượng khai thác như vậy đã làm cho nguồn lợi thủy sản trong tự nhiên ngày càng trở nên giảm sút, cạn kiệt và tình hình an ninh trật tự xã hội ven hồ cũng ngày càng nảy sinh phức tạp

Bên cạnh việc sử dụng cá như một nguồn thực phẩm giàu đạm thì hiện nay người dân đang có xu hướng thuần dưỡng một số loài cá tự nhiên có hình dáng đẹp và màu sắc lạ về làm cá cảnh Đây cũng là một trong những nguồn lợi mới mà hồ chứa Trị An mang lại

Xuất phát từ những thực tiễn đó, được sự đồng ý và phân công của Khoa Thủy Sản Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Thành Phần Loài Cá và Đặc Điểm Sinh Học của Một Số Loài Cá Có Thể Thuần Dưỡng Làm Cá Cảnh ở Hồ Trị An - Tỉnh Đồng Nai”

1.2 Mục Tiêu Đề Tài

Nhằm tạo cơ sở dữ liệu giúp cho việc quản lý, bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản được tốt hơn Đề tài được thực hiện với mục tiêu:

- Điều tra về thành phần loài cá của hồ Trị An ở thời điểm hiện tại

- Đánh giá sự thay đổi thành phần loài thủy sản trong thời gian vừa qua

- Tìm hiểu đặc điểm sinh học của một số loài cá có thể thuần dưỡng làm cá cảnh

Trang 10

2.1 Giới Thiệu Khái Quát Về Hồ Chứa

Hồ chứa là những thủy vực trong nội địa do con người tạo ra bằng cách đắp đập ngăn dòng chảy của sông, suối Hồ chứa là một vùng nước đặc biệt vừa mang tính chất nước đứng vừa mang tính chất nước chảy, hình thái phức tạp và mang nhiều đặc điểm khác với sông ngòi và hồ tự nhiên Nó là loại hình công trình có khả năng sử dụng tổng hợp tài nguyên nước phục vụ cho phát triển các ngành kinh tế khác nhau như: thủy lợi, thủy điện, du lịch, cấp nước phục vụ dân sinh, … Ngoài các lợi ích trên, hồ chứa còn là nơi sinh sống của các loài thủy sản, đem lại lợi ích về cung cấp thực phẩm cho con người Do đó có thể nói hồ chứa là loại hình công trình có rất nhiều ưu điểm đã và đang được phát triển mạnh ở nước ta

2.2 Hồ Trị An

2.2.1 Lịch sử của hồ

Hồ được hình thành do xây đập chắn ngang qua sông Đồng Nai tại Thị trấn Vĩnh An, huyện Vĩnh Cửu Thượng lưu của hồ là nơi hợp lưu giữa sông Đồng Nai và sông La Ngà, ngoài ra còn có một số suối nhỏ chảy vào hồ như: suối Cai Nha, suối Bún, suối Sa Mách, suối Trau, … Hồ được thành lập với nhiệm vụ tích nước phục vụ cho thủy điện và cung cấp nước sinh hoạt cho dân cư ở vùng hạ lưu sông Đồng Nai và sông Sài Gòn Bên cạnh đó hồ còn kết hợp nuôi trồng thủy sản nhằm phục vụ cho nhu cầu đời sống của người dân và việc phát triển kinh tế của tỉnh Đồng Nai

Công trình thủy điện được khởi công và xây dựng năm 1982 và hoàn tất vào năm 1987 Công trình bắt đầu đưa vào vận hành các tổ máy từ năm 1988, với bốn tổ máy có công suất 400 MW, sản lượng điện hàng năm là 1,7 tỷ KW cung cấp cho Thành phố Hồ Chí Minh và một số tỉnh lân cận

* Các thông số chính của hồ:

Chiều dài trung bình : 43,5 km

Chiều rộng trung bình : 7,5 km

Diện tích ngập nước vào mùa mưa : 32.400 ha (cao trình Coste 62) Diện tích ngập nước vào mùa khô : 7.500 ha (cao trình Coste 48) Diện tích mặt nước sử dụng có hiệu quả : 25.000 ha (cao trình Coste 56) Mực nước cao nhất (so với mặt nước biển) : 63,9 m

Mực nước thấp nhất (so với mặt nước biển): 49 m

Trang 11

Lưu tốc bề mặt trung bình vào mùa mưa : 0,8-1,2 m/s

Lưu lượng nước trung bình : 477 m3/s

Lưu lượng ở đỉnh lũ thiết kế : 21.000 m3/s

Dung tích toàn hồ : 2.760 tỷ m3

Dung tích hữu ích : 2.754 tỷ m3

(Nguồn: Chi cục Bảo vệ Nguồn lợi thủy sản Tỉnh Đồng Nai, 2001)

2.2.2 Vị trí địa lý

Hồ nằm ở vị trí 100 đến 12020’ độ vĩ bắc và 1070 đến 108030’ độ kinh đông Hồ cách thành phố Biên Hòa - Tỉnh Đồng Nai 40 km và cách Thành phố Hồ Chí Minh 70 km Hồ thuộc địa phận của ba huyện: Vĩnh Cửu, Thống Nhất và Định Quán

- Tỉnh Đồng Nai và theo ranh giới sau:

- Phía Đông giáp xã Phú Túc, xã Phú Cường, xã Phú Ngọc thuộc huyện Định Quán

- Phía Tây giáp Nhà máy thủy điện Trị An và Thị trấn Vĩnh An thuộc huyện Vĩnh Cửu

- Phía Nam giáp xã Gia Tân, xã Cây Gáo thuộc huyện Thống Nhất

- Phía Bắc giáp Lâm trường Mã Đà, Lâm trường Vĩnh An thuộc huyện Vĩnh Cửu

2.2.3 Đặc điểm khí hậu thủy văn

Khí hậu vùng hồ thuộc loại khí hậu nhiệt đới gió mùa với sự phân chia hai mùa rõ rệt:

- Mùa mưa: từ tháng 6 đến tháng 11 do ảnh hưởng của gió mùa Tây Nam, khí hậu ẩm ướt và lượng mưa lớn (chiếm 90-95% lượng mưa cả năm)

- Mùa khô: từ tháng 12 đến tháng 5 do ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc nên gần như không có mưa hoặc lượng mưa rất nhỏ (chiếm 5-10% lượng mưa cả năm)

Nhiệt độ không khí trung bình hàng năm là 25,40C, dao động từ 23,80C đến 28,20C

Nhiệt độ nước biến động từ 21-310C

Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 2000 mm

Số ngày mưa: 130-150 ngày/năm; số ngày nắng: 110-112 ngày/năm

Độ ẩm tương đối vào mùa mưa: 86-87%

Độ ẩm tương đối vào mùa khô: 74-77%

Chế độ thủy văn của lưu vực sông Đồng Nai hoàn toàn phù hợp với đặc điểm:

Trang 12

chủ yếu là do lượng mưa nhiều, lưu tốc dòng chảy trung bình từ 0,6-1 m/s

- Mùa kiệt: kéo dài từ tháng 12 đến tháng 6, kiệt nhất là vào tháng 5 đến tháng 6 Lưu lượng nước vào mùa này giảm đi rất nhiều, lưu tốc dòng chảy trung bình từ 0,3-0,5 m/s

2.2.4 Địa chất thổ nhưỡng

Nền đáy hồ trước đây là đất rừng núi, gò đồi, chất đất ở hạ lưu hồ là đất sét pha sỏi, ở trung và thượng lưu là đất thịt Hiện nay nền đáy được bồi bằng một lớp đất phù sa và đất đảo đa phần bị xói mòn lớp đất tầng mặt

2.2.5 Chế độ thủy lý, hóa, sinh của hồ

- Theo kết quả khảo sát qua 3 tháng (tháng 10, 11, 12 năm 2000) của Chi cục Bảo vệ Nguồn lợi thủy sản Tỉnh Đồng Nai thì hồ Trị An có:

Ammonia tổng cộng : 0,77 (mg/l)

Photphate hòa tan : 0,17 (mg/l)

- Hàm lượng chất dinh dưỡng hòa tan: hàm lượng chất dinh dưỡng mùa mưa cao hơn mùa khô, do lượng phù sa và mùn bã hữu cơ từ các sông suối đổ về cùng với sự phân hủy các thảm cỏ của hồ khi bị ngập nước Qua quá trình hình thành, hồ Trị

An ngày càng trở nên giàu chất khoáng Đây là yếu tố thuận lợi cho các nguồn lợi thủy sản tự nhiên phát triển

2.2.6 Những hoạt động thủy sản của hồ

Trang 13

Năm 1999 số bè đã tăng lên 867 bè, nhưng đến năm 2004 thì số lượng bè là 605 bè

Xu hướng nuôi bè vào những năm gần đây đang có chiều hướng giảm do nguồn nước hồ bị ô nhiễm và nguồn cá mồi giảm Lúc mới hình thành nghề nuôi cá bè thì đối tượng được nuôi chủ yếu là cá lóc bông và cá bống tượng Tuy nhiên do nguồn nước bị ô nhiễm và sự khan hiếm về con giống nên các đối tượng này không được nuôi nữa mà thay vào đó là các loài lóc đen, chép, rô phi đỏ (điêu hồng), đây là các đối tượng được nuôi chính ở hồ hiện nay

b/ Nuôi eo ngách

Nghề nuôi cá eo ngách chỉ mới hình thành trong những năm gần đây, do các nhà tư nhân trúng thầu thực hiện Họ nhận thầu tại một eo ngách nào đó rồi dựng đăng chắn và thả con giống bổ sung Đến mùa khô khi nước rút thì họ tiến hành thu hoạch Đây cũng là một hình thức nuôi mang lại hiệu quả kinh tế cao Tính đến cuối năm 2003 thì hồ có 21 eo ngách với tổng diện tích 367 ha được đề xuất cho tư nhân hợp đồng Nhưng hiện nay hoạt động nuôi này đang bị tạm dừng do nhiều nguyên nhân phức tạp

2.2.6.2 Khai thác

Hiện nay lực lượng khai thác chủ yếu là ngư dân, họ là những người di dân tự

do từ nhiều nơi đến và rất đông bà con Việt kiều trở về từ Campuchia cũng đến đây định cư sinh sống và hoạt động nghề cá Vào năm 1993 chỉ có khoảng 300 hộ khai thác, nhưng đến năm 2.000 số hộ khai thác đã lên đến 1.078 hộ với khoảng 6.000 nhân khẩu Hiện nay số hộ khai thác là 1.100 hộ, nhưng chỉ có khoảng 884 hộ có đăng ký hợp đồng khai thác với Trung tâm thủy sản Đồng Nai Điều này đã dẫn đến tình hình xã hội và hoạt động khai thác ở đây diễn ra khá phức tạp Một số ngư dân sử dụng chất nổ, xung điện và các loại ngư cụ không đúng qui định để đánh bắt cá

Hiện nay trên hồ có khoảng 16 loại nghề tập trung trong năm họ nghề đang hoạt động khai thác Trong đó có một số nghề bị cấm hoạt động song vẫn lén lút tồn tại

Một số loại ngư cụ tiêu biểu ở hồ Trị An như: lợp tép, lưới rê ba lớp, câu giăng, chài quăng, chài rê, xúc dồn (ủi dồn), lưới kéo cải tiến, lưới đèn măng sông

Trang 14

2.2.7.1 Trung tâm thủy sản Đồng Nai

Sau khi hồ được hình thành, năm 1989 Ủy Ban Nhân Dân Tỉnh Đồng Nai ra quyết định thành lập Công ty quản lý kinh doanh tổng hợp hồ Trị An Đến tháng 12 năm 1993 Uûy Ban Nhân Dân Tỉnh Đồng Nai lại ra quyết định đổi tên thành Công ty thủy sản Đồng Nai và đến cuối tháng 12 năm 2003 lại chuyển đổi thành đơn vị sự nghiệp có thu là Trung tâm thủy sản Đồng Nai Nhiệm vụ của trung tâm là sản xuất giống, nuôi trồng và kinh doanh thủy sản Bên cạnh đó trung tâm còn được giao nhiệm vụ quản lý khai thác thủy sản và thả cá giống bổ sung vào hồ hàng năm để tận dụng nguồn thức ăn tự nhiên nhằm nâng cao sản lượng thủy sản của hồ Các loài cá được thả gồm có: mè trắng, mè hoa, trắm cỏ, chép, trôi, mè vinh, rô phi, …

Bảng 2.1 Số lượng con giống bổ sung và sản lượng khai thác ở hồ Trị An qua các năm

Năm Số lượng giống thả (con) Sản lương khai thác (tấn)

0 1.300.000 1.200.000 1.500.000 1.170.000

0

800

833 1.126 1.475 1.825 1.640 1.959 2.650 2.859 3.315 3.158

(Nguồn: Qua Báo cáo tổng kết các năm của Trung tâm thủy sản Đồng Nai)

Các hoạt động sản xuất khác do trung tâm quản lý:

* Khai thác thủy sản

Các hoạt động khai thác trên hồ được thực hiện do ngư dân hợp đồng khai thác với trung tâm bằng phương thức thu thuế theo đợt, mỗi đợt 10 ngày, vào các ngày: 01, 02, 03, 11, 12, 13, 21, 22, 23 trong tháng, giá cả ghi thu tùy thuộc vào loại ngư cụ sử dụng khai thác

Trang 15

Nuôi cá lồng bè ở hồ Trị An chủ yếu tập trung ở các xã Phú Ngọc, La Ngà thuộc huyện Định Quán và một số xã thuộc huyện Vĩnh Cửu, Thống Nhất với hình thức và qui mô tùy theo từng khu vực Hiện nay trung tâm chưa quản lý được hết tình hình nuôi cá bè trên hồ

* Công tác bảo vệ

Trung tâm được trang bị hai canô và hai ghe lớn để làm công tác bảo vệ, ngoài ra còn có các ghe nhỏ làm nhiệm vụ ghi thu và tham gia vào công tác bảo vệ, trực tiếp bắt giữ và xử phạt những ngư dân vi phạm trong khai thác Nhờ có các hoạt động quản lý của trung tâm mà việc khai thác bằng chất nổ, xung điện và việc sử dụng các ngư cụ đánh bắt sai qui định đã giảm nhiều so với trước đây

2.2.7.2 Chi cục bảo vệ nguồn lợi thủy sản

Chi cục bảo vệ nguồn lợi thủy sản Tỉnh Đồng Nai được thành lập năm 1994 với nhiệm vụ quản lý, bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản Trực thuộc chi cục có hai trạm đặt ở địa phương, một trong hai trạm được đặt ở hồ Trị An được gọi là Trạm bảo vệ nguồn lợi thủy sản hồ Trị An Trạm được trang bị một tàu và một canô để tiện việc quản lý và kiểm tra các phương tiện khai thác thủy sản trên hồ Trạm có mạng lưới cộng tác viên ở các xã ven hồ để trực tiếp quản lý hoạt động khai thác thủy sản qua việc cấp giấy phép đăng ký phương tiện khai thác, kiểm tra tàu thuyền, tuyên truyền việc bảo vệ nguồn lợi thủy sản, đồng thời cũng trực tiếp bắt giữ và xử phạt những ngư dân vi phạm trong khai thác thủy sản

Nhìn chung nhờ các hoạt động quản lý của các cơ quan nêu trên mà tình hình sử dụng các ngư cụ trái qui định đã giảm dần góp phần bảo vệ và nâng cao nguồn lợi thủy sản ở hồ Trị An Tuy vậy việc phối hợp quản lý vẫn còn nhiều khó khăn, do nhiều nguyên nhân khác nhau

Trang 16

3.1 Thời Gian và Địa Điểm

- Thời gian: đề tài được thực hiện từ tháng 4 đến tháng 8 năm 2005

- Địa điểm: thu mẫu tại hồ Trị An tỉnh Đồng Nai và tiến hành phân tích mẫu tại phòng Ngư loại, Khoa Thủy Sản Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh

3.2 Phương Pháp Nghiên Cứu

3.2.1 Phương pháp thu và cố định mẫu

Thu mẫu định kỳ mỗi tháng tại các địa điểm đã xác định trước, mỗi điểm thu lặp lại khoảng 2-3 lần Tuy nhiên việc thu mẫu tại bến cá Phú Cường và La Ngà được lặp lại rất nhiều lần

Mẫu thu trực tiếp từ những người tham gia khai thác trên hồ hay tại các bến cá, chợ cá

Mẫu thu được lựa chọn một cách ngẫu nhiên, mẫu còn sống hoặc vừa chết nhưng hình thái và màu sắc còn nguyên vẹn Quan sát, mô tả màu sắc tự nhiên và chụp hình cá tươi hoặc cá vừa mới cố định bằng formol

Mỗi loài thu khoảng 3-4 mẫu trở lên nhưng cá biệt một số loài cá hiếm hay khó tìm thì thu được ít hơn

3.2.1.1 Phương pháp cố định mẫu

Cố định mẫu bằng formaline nguyên chất (38-40%)

Tiêm formaline vào các vị trí: lỗ hậu môn, xoang bụng, cơ lưng, rưới formaline vào miệng hay mang cá

Sau khi tiêm formaline đặt cá vào khay bằng phẳng, dùng tay vuốt nhẹ các vây thân cá cho thẳng và xếp cá vào keo thủy tinh hay lọ nhựa có chứa dung dịch formaline pha loãng khoảng 4-5%

Lập phiếu thu mẫu bằng giấy bóng mờ, dùng bút chì đậm ghi lên phiếu: địa điểm thu, ngày thu và tên địa phương của cá Phiếu thu mẫu được đặt vào miệng hoặc dưới nắp mang cá, đối với những loài cá có kích thước quá nhỏ thì dùng chỉ buộc phiếu vào đuôi cá

Trang 17

- Hóa chất: formaline nguyên chất (38-40%) và formaline pha loãng (4-5%)

- Dụng cụ: kim tiêm và ống tiêm, thước đo, bao tay, kính lúp cầm tay, dao mổ, kéo, kẹp, chai lọ thủy tinh, cân: sử dụng cân điện tử, kính hiển vi, khay

3.2.2 Phương pháp phân loại

3.2.2.1 Mô tả hình dạng ngoài: hình dạng thân, mắt, mũi, miệng

- Hình dạng thân: thoi, dẹp, dạng rắn, mũi tên, tròn dài và các các dạng đặc biệt khác

- Vị trí các vây

- Hình dạng vây đuôi: đồng vĩ, dị vĩ

- Đường bên: có hay không có; liên tục hay không liên tục

- Tia vây: tia cứng hay tia mềm

- Vẩy: cá có vẩy hay không có vẩy

- Các điểm đặc trưng qua các đốm, các vệt nằm trên thân hay trên các vây

- Mô tả màu sắc tự nhiên đặc trưng của loài

3.2.2.2 Các chỉ tiêu đo đếm

a/ Các chỉ tiêu đo

L : chiều dài tổng cộng (chiều dài thân)

L0 : chiều dài chuẩn

Li : chiều dài ruột

T : chiều dài đầu

H : chiều cao lớn nhất của thân

O : đường kính mắt

OO : khoảng cách giữa hai ổ mắt

Lập một số tỷ lệ chủ yếu:

H/Lo (%) : cao thân/ dài chuẩn

T/Lo (%) : dài đầu/ dài chuẩn

O/T (%) : đường kính mắt/ dài đầu

OO/T (%) : khoảng cách hai ổ mắt/ dài đầu

Trang 18

- Đếm số tia vây: vây lưng (D), vây ngực (P), vây bụng (V), vây hậu môn (A) và vây đuôi (C)

- Đếm số vẩy đường bên (L1), vẩy ngang thân (Tr)

* Cách biểu thị các vây khi mô tả:

+ Số La Mã: biểu thi các tia vây cứng

+ Số Ả Rập: biểu thị các tia vây mềm, tia không phân nhánh

+ Giữa tia vây cứng và tia vây mềm được ngăn cách nhau bằng dấu gạch chéo (/)

+ Đối với loài cá có hai tia vây lưng hoàn toàn rời nhau, ký hiệu giữa hai vây lưng ngăn cách nhau bằng dấu chấm phẩy (;)

3.2.3 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm sinh học

Đối tượng nghiên cứu là loài cá tự nhiên có hình dáng và màu sắc đẹp có thể thuần dưỡng làm cá cảnh như cá đỏ mang, cá dầm đất (hạt mít đỏ) và cá bống cát

3.2.3.1 Dinh dưỡng

a/ Cơ quan bắt mồi và cơ quan tiêu hóa

Quan sát và mô tả hình dạng của miệng, đồng thời giải phẩu để mô tả răng hầu, thực quản, dạ dày, ruột cá và cách sắp xếp của ruột trong xoang bụng

b/ Tính ăn của cá

Tiến hành giải phẩu và đo chiều dài ruột Từ đó xác định tỷ lệ dài ruột/dài chuẩn (Li/Lo) và so sánh tỷ lệ này theo Nicolski (1963) qua đó xác định tính ăn của cá:

Li/Lo<1: cá ăn động vật

Li/Lo<3: cá ăn thực vật

1<Li/Lo<3: cá ăn tạp

c/ Thức ăn

Thức ăn tự nhiên: xác định thức ăn tự nhiên qua giải phẩu cá, từ đó xác định thành phần thức ăn trong ống tiêu hóa bằng phương pháp định tính Phương pháp này thường được sử dụng trong giai đoạn đầu phân tích dựa vào thành phần thức ăn còn

Trang 19

* Phương pháp tính tần số bắt gặp

Phân loại thức ăn trong ống tiêu hóa của cá và đếm số lần bắt gặp loại thức ăn đó trong tổng số mẫu phân tích

Tần suất bắt gặp = X * 100/Y

Trong đó: X: tổng số lần xuất hiện của loại thức ăn đó

Y: tổng số mẫu phân tích

d/ Cường độ dinh dưỡng

Để xác định cường độ dinh dưỡng ta dùng chỉ tiêu 6 cấp của Lebedev (Nicolski, 1963):

Cấp 0: ruột không có thức ăn (cá rất đói)

Cấp 1: thức ăn có lác đác trong ruột (cá đói ít)

Cấp 2: thức ăn có một ít (cá no ít)

Cấp 3: thức ăn tương đối nhiều (cá no vừa)

Cấp 4: thức ăn chứa đầy trong dạ dày nhưng ruột chưa căng (cá no nhiều) Cấp 5: thức ăn chứa căng trong dạ dày và ruột (cá no căng)

3.2.3.2 Sinh sản

a/ Tuổi thành thục và mùa vụ sinh sản

Chúng tôi tiến hành thu thập, điều tra từ ngư dân và qua giải phẩu, phân tích xác định mùa vụ sinh sản, các giai đoạn thành thục và kích thước thành thục của cá

Để xác định các giai đoạn phát triển chúng tôi dựa theo tài liệu của Nicolski (1963) Thang về phát triển tuyến sinh dục chia làm 6 giai đoạn:

Giai đoạn I: cá còn non, chưa phân định được cơ quan sinh dục đã hình thành hay chưa

Giai đoạn II: tuyến sinh dục còn nhỏ, bằng mắt thường chứa nhìn thấy hạt trứng được

Giai đoạn III: bằng mắt thường có thể nhìn thấy hạt trứng được, khối lượng tuyến sinh dục phát triển rất nhanh, sẹ từ màu trắng chuyển sang hồng nhạt Đây là giai đoạn chín của tuyến sinh dục

Trang 20

Giai doạn V: khi ấn nhẹ vào bụng cá thì sản phẩm sinh dục chảy ra và khối lượng tuyến sinh dục giảm rất nhanh Đây là giai đọan cá đẻ

Giai đoạn VI: cá đẻ xong, các sản phẩm sinh dục không còn, lỗ sinh dục phồng lên, túi sinh dục ở trạng thái mềm nhão Tuyến sinh dục chỉ còn sót lại một ít trứng và sẹ

b/ Phân biệt đực cái

Dựa vào tuyến sinh dục, kinh nghiệm của ngư dân để xác định dấu hiệu sinh dục thứ cấp

c/ Hệ số thành thục

Là tỷ lệ phần trăm giữa khối lượng tuyến sinh dục với khối lượng thân cá bỏ nội quan

K = Ps * 100/Po Trong đó K: hệ số thành thục (%)

Po: khối lượng cá bỏ nội quan (g) Ps: khối lượng tuyến sinh dục (g)

d/ Sức sinh sản tuyệt đối

Là số trứng có trong noãn sào cá

Mỗi buồng trứng chúng tôi tiến hành lấy một mẫu tuyến sinh dục đem cân, tách nhẹ trứng rồi cho vào cồn và tiến hành đếm Sau đó lấy số trứng đếm được nhân cho trọng lượng buồng trứng và chia cho trọng lượng mẫu buồng trứng được đếm trứng

e/ Sức sinh sản tương đối

Là số trứng trong noãn sào chia cho trọng lượng cá Đơn vị tính: trứng/gram

Trang 21

4.1 Thành Phần Loài Cá Hồ Trị An Thu Được Năm 2005

Đề tài đã định danh được 67 loài, 22 họ thuộc 9 bộ Số loài được ghi nhận ở bảng sau:

Bảng 4.1 Thành phần loài cá hồ Trị An

Barbodes gonionotus (Bleeker)

Morulius chrysophekadion (Bleeker)

Aristichthys nobilis (Richardson)

Osteochilus hasseltii (Valenciennes – Cuvier)

Osteiochilus melanopleura (Bleeker)

Cirrhinus jullieni (Sauvage)

Labiobarbus spilopleura (Smith)

Probarbus jullienni (Sauvage)

Puntius leiacanthus (Bleeker)

Puntius sp1

Barbodes schwanenfeldii (Bleeker)

Systomus orphoides (Valenciennes)

Labeo rohita

Cirrhinus mrigala (Hamilton)

Puntius sp2

Esomus daurica (H.M Smith)

Rasbora retrodorsalis (H.M Smith)

Rasbora tornieri (Ahl)

Hampala macrolepidota (Valenciennes)

Cyprinus carpio (Linnaeus)

Hypophthalmichthys molitrix (C – V)

Ctenopharyngodon idellus (C – V)

Cyclocheilichthys apogon (Valenciennes)

Cyclocheilichthys repasson (Bleeker)

Cá thát lát Cá cơm sông

Cá mè vinh Cá ét mọi Cá mè hoa Cá mè lúi Cá mè hôi Cá linh ống/tròn Cá linh rìa Cá chài sóc Cá rằm/óc mít Cá hạt mít đỏ/dầm đất Cá he đỏ

Cá đỏ mang Cá trôi đen Cá trôi trắng Cá mè đất/kỳ vàng Cá lòng tong bay Cá lòng tong đá Cá lòng tong vạch Cá ngựa nam Cá chép Cá mè trắng Cá trắm cỏ Cá ba kỳ đỏ Cá ba kỳ trắng

Trang 22

Cosmochilus harmandi (Sauvage)

Paralaubuca riveroi (Fowler)

Họ 4: Cobitidae

Acanthopsis choirorhynchos (Bleeker)

Acanthopsis sp

Botia modesta (Bleeker)

Botia helodes (Sauvage)

Pangio anguillaris (Vaillant)

Họ 5: Gyrinocheilidae

Gyrinocheilus aymonieri (Tirant)

BỘ 4: SILURIFORMES

Họ 6: Siluridae

Ompok bimaculatus (Bloch)

Kryptopterus moorei (Smith)

Kryptopterus cryptopterus (Bleeker)

Micronema bleekeri (Gunther)

Wallago attu (Bloch)

Họ 7: Clariidae

Clarias macrocephalus (Gunther)

Clarias batrachus (Linnaeus)

Họ 8: Pangasiidae

Pangasius siamensis (Steindachner)

Pangasius conchophylus (Roberts –Vidthayaron)

Họ 9: Bagridae

Mystus albolineatus (Roberts)

Mystus mysticetus (Roberts)

Leiocassis siamensis (Regan)

Mystus wyckioides (Fowler)

Mystus nemurus (Valenciennes)

Pristolepis fasciatus (Bleeker)

Cá duồng bay Cá thiểu nam

Cá khoai sông Cá khoai sông Cá heo xanh Cá heo rừng Cá heo ống Cá ong/may

Cá trèn bầu Cá trèn mỡ Cá trèn lá/mỏng Cá kết

Cá nhái Cá kìm sông Cá sơn xiêm/sơn gián Cá rô biển

Trang 23

Trichogaster trichopterus (Pallas)

Trichogaster pectoralis (Regan)

Họ 17: Eleotridae

Oxyeleotris marmoratus (Bleeker)

Họ 18: Gobiidae

Glossogobius giuris (Hamilton)

Brachygobius doriae (Gunther)

Mastacembelus armatus favus (Hora)

Macrognathus siamensis (Gunther)

BỘ 9: TETRAODONTIFORMES

Họ 22: Tetraodontidae

Monotetra leiurus (Bleeker)

Cá sặc bướm Cá sặc rằn Cá bống tượng

Cá bống cát/bống chấm Cá mắt tre

Cá rôphi Cá diêu hồng Cá lóc

Cá chạch bông/lấu Cá chạch lá tre/cơm Cá nóc bầu

Trang 24

Họ I : NOTOPTERIDAE

Loài : 01

Tên khoa học : Notopterus notopterus (Pallas, 1780)

Tên đồng danh : Gymnotus notopterus Pallas, 1769

Tên Việt Nam : cá thát lát (phụ lục hình 4.1)

Nơi thu mẫu : Phú Cường

Màu sắc: lưng cá có màu xám, hông và bụng có màu trắng bạc

Môi trường sống và phân bố: cá sống trong hầu hết các loại hình thủy vực nước ngọt ở Nam bộ; loài này phân bố ở Java, Sumatra, Ấn Độ, Mã Lai, Miến Điện, Thái Lan, Lào, Campuchia, Miền Nam Việt Nam

Giá trị kinh tế: cao, chất lượng thịt rất ngon, sản lượng cao

Ngư cụ khai thác: câu giăng mồi trùng, lưới 4 - 6 cm

Trang 25

Họ II : ENGRAULIDAE

Loài : 02

Tên khoa học : Corica laciniata (Fowler, 1935)

Tên Việt Nam : cá cơm sông

Nơi thu mẫu : Phú Cường, La Ngà

Màu sắc: toàn thân cá màu trắng bạc, trên mặt lưng và đầu có nhiều chấm đen nhỏ, có một đốm màu vàng trên đỉnh đầu; các vây có màu trắng trong

Môi trường sống và phân bố: cá sống thành đàn ở ven biển, cửa sông, có thể

đi sâu vào trong sông nước ngọt; cá phân bố: Lào, Việt Nam

Giá trị kinh tế: cá có kích thước nhỏ nhưng sản lượng nhiều, có giá trị kinh tế cao

Ngư cụ khai thác: xúc dồn (ủi dồn), lưới kéo khơi

Trang 26

Họ III : CYPRINIDAE

Loài : 03

Tên khoa học : Barbodes gonionotus (Bleeker, 1850)

Tên đồng danh : Barbus gonionotus Bleeker, 1850

Puntius gonionotus Bleeker, 1850 Puntius javanicus Sauvage, 1881

Tên Việt Nam : cá mè vinh (phụ lục hình 4.2)

Nơi thu mẫu : Phú Cường, Đồi 01 (La Ngà)

Màu sắc: mặt lưng xám đen, lợt dần xuống hai bên hông; bụng màu trắng bạc; vây lưng màu xám, vây bụng và vây hậu môn màu vàng, vây ngực vàng lợt

Môi trường sống và phân bố: cá sống ở nước ngọt; phân bố ở Indonesia, Lào, Thái Lan, Campuchia, đồng bằng Sông Cửu Long - Việt Nam

Giá trị kinh tế: kích thước tương đối lớn, thịt ngon có giá trị kinh tế cao

Ngư cụ khai thác: lưới 4-6 cm, lưới kéo bãi, chài

Trang 27

Tên khoa học : Morulius chrysophekadion (Bleeker, 1850)

Tên đồng danh : Rohita chrysophekadion Bleeker, 1865

Tên Việt Nam : cá ét mọi (phụ lục hình 4.3)

Nơi thu mẫu : La Ngà, Phú Cường

Màu sắc: cá có màu xám đen, mặt lưng đậm hơn mặt bụng và 2 bên hông; bụng cá màu trắng xám; trên thân có nhiều chấm đen và đỏ nhạt; các vây màu xám đen, rìa nắp mang trắng

Môi trường sống và phân bố: cá sống ở nước ngọt, cỡ tối đa khoảng 60 cm; cá phân bố ở: Thái lan, Lào, Campuchia, Malaysia, Java, Borneo, miền Nam Việt Nam

Giá trị kinh tế: khá cao, cá có kích thước khá lớn, sản lượng trung bình; do màu sắc đặc biệt nên có thể thuần dưỡng nuôi cảnh

Ngư cụ khai thác: lưới 3 màng, lưới 4-6 cm

Trang 28

Tên khoa học : Aristichthys nobilis (Richardson)

Tên Việt Nam : cá mè hoa

Nơi thu mẫu : Đồi 01 (La Ngà), Phú Cường

Màu sắc: mặt lưng của thân và đầu có màu xanh đen và lợt dần xuống mặt bụng; bụng cá màu trắng bạc; vây lưng, vây ngực, vây bụng, vây hậu môn có màu trắng hồng, vây đuôi có màu nâu thẫm

Môi trường sống và phân bố: cá sống ở nước ngọt; phân bố ở Borneo, Indonesia, Thái Lan, Lào, Campuchia, miền Nam Việt Nam

Giá trị kinh tế: đây là cá nuôi thất thoát vào tự nhiên, có sản lượng nhiều, cá có kích thước tương đối lớn, có thể đạt 6-7 kg/con

Ngư cụ khai thác: lưới ba màng, câu kiều

Trang 29

Tên khoa học : Osteochilus hasseltii (Cuvier - Valenciennes, 1842)

Tên đồng danh : Osteochilus hasseltii Sauvage, 1883

Rohita hasseltii Cuvier and Valenciennes, 1842

Tên Việt Nam : cá mè lúi, cá lúi (phụ lục hình 4.4)

Nơi thu mẫu : La Ngà, Phú Cường, Vĩnh An

Màu sắc: mặt lưng của thân và đầu có màu xanh đen và lợt dần xuống bụng; bụng cá màu trắng; gốc vẩy có sắc tố đen tạo thành 6-8 sọc chạy dọc thân; thân cá có một số chấm đỏ li ti; cuống đuôi có một đốm đen tròn, to; vây lưng màu xám đen, các vây khác màu hồng đỏ

Môi trường sống và phân bố: cá sống ở nước ngọt; phân bố ở Indonesia, Thái Lan, Lào, Campuchia, phổ biến ở miền Nam Việt Nam

Giá trị kinh tế: cá có thịt ngon, sản lượng trung bình, có giá trị kinh tế, có thể nuôi làm cảnh

Ngư cụ khai thác: lưới 4-6 cm

Trang 30

Tên khoa học : Cirrhinus jullieni (Sauvage, 1878)

Tên Việt Nam : cá linh ống, linh tròn (phụ lục hình 4.5)

Nơi thu mẫu : Đồi 01 (La Ngà), Phú Cường

Màu sắc: phần lưng có màu xám nhạt; bụng trắng bạc; vây lưng, vây đuôi màu xám nhạt, các vây khác màu trắng có khi màu cam nhạt

Môi trường sống và phân bố: cá sống ở nước ngọt, vùng kênh rạch, sông suối; phân bố ở Thái Lan, Lào, Campuchia, miền Nam Việt Nam Xuất hiện nhiều vào tháng 6 đến tháng 7

Giá trị kinh tế: cá có kích thước tương đối nhỏ, lớn nhất khoảng 20 cm; có sản lượng khá cao, thịt cá ngon, có giá trị kinh tế

Ngư cụ khai thác: lưới 2,5-3 cm, đăng

Trang 31

Tên khoa học : Labiobarbus spilopleura (Smith, 1934)

Tên đồng danh : Dangila spinopleura H.M Smith, 1934

Tên Việt Nam : cá linh rìa (phụ lục hình 4.6)

Nơi thu mẫu : Phú Cường, La Ngà

Màu sắc: mặt lưng thân và đầu có màu xanh xám và lợt dần về phía bụng; bụng cá màu trắng bạc; thân cá ánh lên màu vàng, có một đốm đen tròn ở cuống đuôi, thân cá có các sọc đen chạy theo chiều dọc của thân, các sọc này do các chấm đen ở gốc vẩy tạo thành; các vây có màu vàng nhạt

Môi trường sống và phân bố: cá sống ở nước ngọt; phân bố ở Thái Lan, Lào, Campuchia, miền Nam Việt Nam

Giá trị kinh tế: là cá có giá trị kinh tế cao, thịt ngon

Ngư cụ khai thác: dớn, chà, lưới 3,5 cm, câu

Trang 32

Tên khoa học : Probarbus jullieni (Sauvage, 1880)

Tên Việt Nam : cá chài sóc

Nơi thu mẫu : La Ngà

Màu sắc: thân cá màu xám nhạt; bụng cá màu vàng; các vây có màu xám hơi đen

Môi trường sống và phân bố: cá sống ở nước ngọt, các con sông; phân bố ở Thái Lan, Lào, Campuchia, miền Nam Việt Nam

Giá trị kinh tế: cá có giá trị kinh tế thấp, sản lượng thấp, là loài cá hiếm Ngư cụ khai thác: dớn, đăng

Trang 33

Tên khoa học : Puntius leiacanthus (Bleeker, 1860)

Tên đồng danh : Systomus leiacanthus Bleeker, 1860

Tên Việt Nam : cá rằm, cá óc mít (phụ lục hình 4.7)

Nơi thu mẫu : Phú Cường, Đồi 01 (La Ngà)

Màu sắc: mặt lưng của thân và đầu ánh lên màu xanh rêu và lợt dần xuống hai bên hông; bụng cá màu trắng bạc; nắp mang ửng màu vàng nhạt; gốc vây đuôi có một chấm đen tròn tương đương với đường kính mắt; vây ngực, vây bụng, vây hậu môn màu vàng cam nhạt, vây lưng, vây đuôi có màu cam nhạt pha xám đen

Môi trường sống và phân bố: cá sống ở nước ngọt; phân bố ở Java, Thái Lan, miền Nam Việt Nam

Giá trị kinh tế: cá có kích thước nhỏ, sản lượng nhiều, giá trị kinh tế thấp Ngư cụ khai thác: dớn, chà

Trang 34

Tên khoa học : Puntius sp

Tên Việt Nam : cá dầm đất, cá hạt mít đỏ (phụ lục hình 4.8)

Nơi thu mẫu : Phú Cường, La Ngà

Màu sắc: phần lưng cá có màu sáng xanh, lợt dần xuống bụng; bụng cá có màu trắng bạc; nắp mang có một đốm màu đỏ; phần đường bên có một vùng màu cam nhạt từ sau nắp mang và đậm dần đến cuống đuôi; cuống đuôi có một đốm màu đen; vây lưng, vây đuôi màu xám, vây ngực, vây bụng có màu cam nhạt

Môi trường sống và phân bố: cá sống ở nước ngọt; phân bố ở Thái Lan, Lào, Campuchia, miền Nam Việt Nam

Giá trị kinh tế: thấp, sản lượng thấp, cá có kích thước nhỏ, có thể thuần dưỡng làm cá cảnh

Ngư cụ khai thác: dớn, chà

Trang 35

Tên khoa học : Barbodes schwanefeldii (Bleeker, 1853)

Tên đồng danh : Barbus chwanefeldii Bleeker, 1853

Puntius chwanefeldii H.M Smith, 1945

Tên Việt Nam : cá he đỏ (phụ lục hình 4.9)

Nơi thu mẫu : Suối Tượng, La Ngà, Phú Cường

Màu sắc: toàn thân màu trắng bạc, mặt lưng hơi xanh xám; nắp mang có một vạch màu vàng sau mắt; đỉnh vây lưng có một đốm đen, vây ngực màu vàng nhạt, vây bụng, vây hậu môn, vây đuôi có màu đỏ, viền hai thùy vây đuôi màu đen

Môi trường sống và phân bố: cá sống ở nước ngọt; phân bố ở Thái Lan, Lào, Campuchia, Malaysia, Borneo, Sumatra, miền Nam Việt Nam

Giá trị kinh tế: cá có sản lượng trung bình, có giá trị kinh tế; có màu sắc đẹp nên có thể thuần dưỡng làm cá cảnh

Ngư cụ khai thác: chài, lưới 4 – 6 cm, dớn

Trang 36

Tên khoa học : Systomus orphoides (Valenciennes, 1842)

Tên đồng danh : Puntius orphoides Cuvier and Valenciennes, 1842

Barbus orphoides Cuvier and Valenciennes, 1842

Tên Việt Nam : cá đỏ mang (phụ lục hình 4.10)

Nơi thu mẫu : Vĩnh An, Phú Cường

Màu sắc: mặt lưng của thân và đầu có màu xanh đen, nhạt dần về phía bụng; bụng màu trắng bạc; ở nắp mang có một đốm màu đỏ máu, viền sau nắp mang màu đen; gốc vây đuôi có một đốm đen nhạt; vây ngực màu vàng, vây lưng, vây bụng, vây hậu môn và vây đuôi có màu vàng cam, rìa hai thùy vây đuôi có màu đen

Môi trường sống và phân bố: cá sống ở nước ngọt; có ở Borneo, Java, Thái Lan, Lào, Campuchia, miền Nam Việt Nam

Giá trị kinh tế: trung bình, sản lượng thấp, có thể thuần dưỡng làm cá cảnh Ngư cụ khai thác: lưới 4 – 6 cm, câu, chài

Trang 37

Tên khoa học : Labeo rohita

Tên Việt Nam : cá trôi đen (phụ lục hình 4.11)

Nơi thu mẫu : La Ngà

Màu sắc: phần lưng cá có màu nâu đen, lợt dần xuống bụng; bụng cá màu trắng ngà; vây lưng, vây đuôi có màu xám đen nhạt, các vây khác màu trắng ngà

Môi trường sống và phân bố: cá sống ở các sông, suối, ao, hồ nước ngọt; đây là cá nhập nội được nuôi phổ biến ở nước ta; cá phân bố ở miền Nam: trung và thượng lưu các con sông Đồng Nai, MêKông, ở miền Bắc chúng phân bố nhiều trên hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình

Giá trị kinh tế: khá cao, thịt ngon, sản lượng trung bình; cá có kích thước khá lớn khoảng 50 cm, là cá nuôi thất thoát vào tự nhiên

Ngư cụ khai thác: lưới ba màng, lưới 4 – 6 cm

Trang 38

Tên khoa học : Cirrhinus mrigala (Hamilton)

Tên Việt Nam : cá trôi trắng (phụ lục hình 4.12)

Nơi thu mẫu : La Ngà

Màu sắc: phần lưng và đầu có màu xanh rêu nhạt; bụng màu trắng bạc; các vây màu trắng

Môi trường sống và phân bố: cá sống ở nước ngọt; phân bố ở ao, hồ, sông, suối, đây là cá nhập nội, được nuôi phổ biến ở nước ta

Giá trị kinh tế: khá cao, sản lượng trung bình, kích thước nhỏ hơn cá trôi đen; là cá nuôi thất thoát vào tự nhiên

Ngư cụ khai thác: dớn, chài, lưới

Trang 39

Tên khoa học : Puntius sp

Tên Việt Nam : cá mè đất (phụ lục hình 4.13)

Nơi thu mẫu : Đồi 01 (La Ngà)

Màu sắc: toàn thân cá màu trắng bạc; các vây có màu vàng, vây bụng có màu cam

Môi trường sống và phân bố: cá sống ở nước ngọt; phân bố ở các sông, hồ tự nhiên

Giá trị kinh tế: thấp, cá có kích thước nhỏ, sản lượng thấp; có màu sắc đẹp nên có thể thuần dưỡng nuôi cảnh

Ngư cụ khai thác: dớn, xúc dồn (ủi dồn)

Trang 40

Tên khoa học : Esomus daurica (H.M Smith, 1945)

Tên đồng danh : Cyprinus daurica Hamilton, 1822

Tên Việt Nam : cá lòng tong bay

Nơi thu mẫu : Đồi 01 (La Ngà)

Màu sắc: mặt lưng của thân và đầu có màu xám xanh ánh bạc và lợt dần xuống hai bên hông; bụng cá màu trắng bạc; có một đường đen mảnh chạy dọc sống lưng từ đầu đến cuống đuôi; các vây có màu vàng nhạt

Môi trường sống và phân bố: cá sống ở nước ngọt: ruộng, kênh, mương; cá phân bố ở Thái Lan, Lào, Campuchia, phổ biến ở đồng bằng Sông Cửu Long-Việt Nam

Giá trị kinh tế: thấp, sản lượng thấp, cá có kích thước nhỏ, tối đa khoảng 7,5 cm Ngư cụ khai thác: dớn, lưới, vó

Ngày đăng: 27/02/2019, 10:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w