Với mục tiêu tìm hiểu hoạt động giáo dục môi trường và đề xuất các giải pháp để nâng cao hiệu quả giáo dục môi trường, đề tài triển khai tìm hiểu các nội dung sau: - Nghiên cứu hoạt động
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGUYÊN - -
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP KHẢO SÁT HIỆN TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG TẠI HUYỆN
MỘ ĐỨC, TỈNH QUẢNG NGÃI
Họ và tên sinh viên: NGUYỄN THỊ XUÂN DIỆU Ngành: QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG VÀ DU LỊCH SINH THÁI Niên khóa: 2009 - 2013
Tháng 06/2013
Trang 2Tác giả
NGUYỄN THỊ XUÂN DIỆU
Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu
cấp bằng Kỹ sư ngành Quản lý môi trường và du lịch sinh thái
Giáo viên hướng dẫn:
KS VÕ THỊ BÍCH THÙY
Tháng 02/2013
Trang 3KHOA MÔI TRƯỜNG & TÀI NGUYÊN
*****
************
PHIẾU GIAO NHIỆM VỤ KLTN
Khoa: MÔI TRƯỜNG & TÀI NGUYÊN
Ngành: QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG VÀ DU LỊCH SINH THÁI
Họ và tên SV: NGUYỄN THỊ XUÂN DIỆU Mã số SV: 09157023
Khoá học: 2009-2013 Lớp: DH09DL
1 Tên đề tài: Khảo sát hiện trạng và đề xuất giải pháp phát triển chương trình
giáo dục môi trường tại huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi
2 Nội dung KLTN: SV phải thực hiện các yêu cầu sau đây:
Nghiên cứu hoạt động GDMT tại huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi
Nghiên cứu hiện trạng nhận thức về môi trường của cộng đồng dân cư tại huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi
Đề xuất giải pháp phát triển chương trình GDMT cho cộng đồng
3 Thời gian thực hiện: Bắt đầu: tháng 02/2013 và kết thúc: tháng 06/2013
4 Họ và tên GVHD: KS Võ Thị Bích Thùy
Nội dung và yêu cầu của KLTN đã được thông qua Khoa và Bộ môn
Ngày … tháng ……năm 2013 Ngày tháng năm 2013
Ban Chủ nhiệm Khoa Giáo viên hướng dẫn
KS Võ Thị Bích Thùy
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin cảm ơn quý thầy cô Khoa Môi trường và Tài nguyên - Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh đã truyền dạy cho tôi những kiến thức quý báu suốt bốn năm trên giảng đường đại học
Tôi chân thành cảm ơn Cô Ks Võ Thị Bích Thùy, người đã trực tiếp hướng dẫn
và chỉ bảo tận tình cho tôi trong suốt quá trình thực hiện khóa luận
Xin cảm ơn các anh chị làm việc tại Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện
Mộ Đức đã tạo điều kiện thuận lợi và nhiệt tình giúp đỡ tôi để hoàn thành bài khóa luận này
Xin cảm ơn anh Trần Văn Phương đã chỉ dẫn và cung cấp các thông tin cho tôi trong đợt khảo sát
Cảm ơn bạn bè đã giúp đỡ, động viên tôi trong quá trình học tập và thực hiện đề tài
Sau cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến cha mẹ, người đã sinh thành và nuôi dạy tôi trưởng thành như ngày hôm nay
Tôi xin chân thành cảm ơn!!!
Mộ Đức, ngày 16 tháng 02 năm 2013
Người thực hiện
NGUYỄN THỊ XUÂN DIỆU
Trang 5TÓM TẮT
Đề tài “Khảo sát hiện trạng và đề xuất giải pháp phát triển chương trình giáo dục môi trường tại huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi” được tiến hành từ 02/2013 đến 06/2013 Với mục tiêu tìm hiểu hoạt động giáo dục môi trường và đề xuất các giải pháp để nâng cao hiệu quả giáo dục môi trường, đề tài triển khai tìm hiểu các nội dung sau:
- Nghiên cứu hoạt động GDMT tại huyện Mộ Đức
- Nghiên cứu nhận thức môi trường của người dân cư trú tại huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi
- Đề xuất các giải pháp tăng cường công tác GDMT cho người dân
Các phương pháp Thu thập số liệu, Đánh giá nhanh có sự tham gia (PRA) và Thống kê đã được sử dụng trong đề tài Các kết quả đạt được bao gồm:
- Hiện trạng quản lý môi trường: rác thải, nước thải, vấn đề môi trường ở các cụm công nghiệp, làng nghề huyện Mộ Đức
- Công tác giáo dục môi trường:
- Nhận thức của người dân về môi trường, ô nhiễm môi trường và hậu quả của việc ô nhiễm môi trường, sự tác động của môi trường đến con người và ngược lại Thái độ của người dân khi được giáo dục môi trường và thái độ đối với môi trường sau khi đã được giáo dục môi trường
Trang 6LỜI CẢM ƠN i
TÓM TẮT ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vii
DANH SÁCH CÁC BẢNG viii
DANH SÁCH CÁC HÌNH ix
Chương 1 MỞ ĐẦU: 1
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ: 1
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU: 2
1.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU: 2
1.4 PHẠM VI VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU: 2
1.4.1 Phạm vi nghiên cứu: 2
1.4.2 Thời gian thực hiện: 2
1.4.3 Đối tượng nghiên cứu: 2
1.5 Ý NGHĨA KHOA HỌC - THỰC TIỄN: 2
Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU: 3
2.1 GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG: 3
2.1.1 Định nghĩa giáo dục môi trường: 3
2.1.2 Yêu cầu của giáo dục môi trường: 4
2.1.3 Vai trò của giáo dục môi trường: 4
2.1.4 Mục đích của giáo dục môi trường: 5
2.1.4.1 Mục đích chính của GDMT được xác định tại Hội nghị Tbilisi: 5
2.1.4.2 Mục đích của GDMT tại cộng đồng dân cư huyện Mộ Đức: 5
2.1.5 Mục tiêu của giáo dục môi trường: 6
2.1.5.1 Hội nghị Tbilisi đã thống nhất 5 nhóm mục tiêu của GDMT : 6
2.1.5.2 Mục tiêu GDMT tại huyện Mộ Đức : 6
2.1.6 Nguyên tắc của giáo dục môi trường: 8
2.1.6.1 Hội nghị Tbilisi đã thống nhất 6 nguyên tắc của GDMT như sau: 8
2.1.6.2 Nguyên tắc thực hiện GDMT cho cộng đồng dân cư trên địa bàn huyện:……….8
2.1.7 Phương thức và cách tiếp cận trong giáo dục môi trường: 9
2.1.7.1 Phương thức trong giáo dục môi trường: 9
2.1.7.2 Cách tiếp cận trong giáo dục môi trường: 9
2.1.8 Lợi ích từ giáo dục môi trường mang đến cho cộng đồng: 10
Trang 72.1.8.3 Về thái độ và hành vi: 11
2.1.9 Sơ lược lịch sử về giáo dục môi trường trên thế giới và Việt Nam: 12
2.1.9.1 Sự phát triển về giáo dục môi trường trên thế giới: 12
2.1.9.2 Việt Nam: 14
2.2 ĐÁNH GIÁ TRONG GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG: 16
2.2.1 Khái niệm: 16
2.2.2 Mục đích: 17
2.2.3 Các cách thức đánh giá: 17
2.2.4 Các yêu cầu đánh giá: 17
2.2.5 Các lĩnh vực đánh giá: 17
2.3 TỔNG QUAN VỀ HUYỆN MỘ ĐỨC, TỈNH QUẢNG NGÃI 19
2.3.1 Điều kiện tự nhiên: 19
2.3.1.1 Vị trí địa lý: 19
2.3.1.2 Địa hình, địa mạo: 19
2.3.1.3 Thời tiết, khí hậu: 20
2.3.1.4 Thủy văn: 20
2.3.2 Các nguồn tài nguyên: 21
2.3.2.1 Tài nguyên đất đai: 21
2.3.2.2 Tài nguyên nước: 22
2.3.2.3 Tài nguyên rừng: 23
2.3.2.4 Tài nguyên biển: 24
2.3.2.5 Tài nguyên khoáng sản: 24
2.3.2.6 Tài nguyên nhân văn: 25
2.3.3 Tình hình phát triển kinh tế: 26
2.3.3.1 Tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế: 26
2.3.3.2 Thực trạng phát triển các ngành kinh tế: 27
2.3.4 Tình hình phát triển xã hội: 34
2.3.4.1 Tốc độ gia tăng dân số: 34
2.3.4.2 Lao động, việc làm: 34
2.3.4.3 Diễn biến đô thị hóa: 35
2.3.4.4 Cơ sở vật chất – hạ tầng: 35
2.3.5 Tình hình dân số tham gia hoạt động vì môi trường trong năm 2012 –
2013:……….39
Chương 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU: 41
3.1 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU: 41
3.1.1 Nghiên cứu hiện trạng quản lý môi trường tại huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi:……….41
Trang 83.1.3 Nghiên cứu nhận thức và thái độ của cộng đồng dân cư đối với công tác
giáo dục môi trường: 41
3.1.4 Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao công tác GDMT: 41
3.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU: 42
3.2.1 Phương pháp thu thập số liệu: 42
3.2.1.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu: 42
3.2.1.2 Phương pháp điều tra thiết kế bảng câu hỏi: 42
3.2.1.3 Phương pháp quan sát: 43
3.2.1.4 Tham khảo ý kiến chuyên gia: 44
3.2.2 Phương pháp xử lý số liệu: 44
Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN: 46
4.1 HIỆN TRẠNG QLMT TẠI HUYỆN MỘ ĐỨC, TỈNH QUẢNG NGÃI: 46
4.1.1 Vấn đề rác thải. 46
4.1.2 Vấn đề nước thải 47
4.1.3 Vấn đề môi trường ở các cụm công nghiệp, làng nghề: 48
4.2 THỰC TRẠNG VỀ CÔNG TÁC GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG HIỆN NAY TẠI HUYỆN MỘ ĐỨC: 50
4.2.1 Nguồn nhân lực phục vụ công tác GDMT tại huyện Mộ Đức: 50
4.2.2 Nội dung và phương pháp giáo dục môi trường ở huyện Mộ Đức: 51
4.2.2.1 Nội dung giáo dục môi trường: 51
4.2.2.2 Phương pháp giáo dục môi trường: 52
4.3 HIỆN TRẠNG BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CỦA CỘNG ĐỒNG ĐỊA PHƯƠNG: 53
4.3.1 Nhận thức của cộng đồng về mức độ ô nhiễm, nguồn và nguy cơ gây ô nhiễm tại địa phương: 53
4.3.2 Nhận thức của cộng đồng về tác động của ô nhiễm môi trường tại địa phương: 56
4.3.3 Nhận thức của cộng đồng về bảo vệ môi trường tại địa phương: 57
4.4 NHẬN THỨC VÀ THÁI ĐỘ CỦA CỘNG ĐỒNG ĐỐI VỚI CÔNG TÁC GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG: 61
4.4.1 Nhận thức của cộng đồng về môi trường thông qua các hoạt động GDMT:……….61
4.4.2 Thái độ của cộng đồng đối với công tác GDMT: 63
4.5 ĐÁNH GIÁ CHUNG: 67
4.6 ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA CÔNG TÁC GDMT TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN: 68
4.6.1 Giải pháp nâng cao nhận thức cho cộng đồng về môi trường: 68
4.6.1.1 Đào tạo nguồn nhân lực GDMT : 68
Trang 94.6.3 Phát triển mô hình hợp tác xã dịch vụ môi trường: 71
4.6.3.1 Những lợi ích của việc phát triển mô hình HTX dịch vụ môi trường:……… 71
4.6.3.2 Nội dung thực hiện: 72
4.6.3.3 Hình thức tổ chức kinh doanh: 75
4.6.3.4 Tài sản, tài chính của HTX: 75
4.6.3.5 Phương pháp thực hiện: 76
4.6.3.6 Đối tượng tham gia: 77
4.6.3.7 Kinh nghiệm thực tiễn của các mô hình bảo vệ môi trường thành công:……….77
4.6.4 Bồi dưỡng nâng cao ý thức bảo vệ môi trường trong chăn nuôi và sản xuất nông nghiệp: 79
4.6.4.1 Mục tiêu: 79
4.6.4.2 Nội dung bồi dưỡng: 79
4.6.4.3 Biện pháp thực hiện: 84
4.6.4.4 Đối tượng tham gia: 85
Chương 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ: 86
5.1 KẾT LUẬN: 86
5.1.1 Về nội dung giáo dục môi trường cho cộng đồng huyện Mộ Đức: 86
5.1.2 Về phương pháp giáo dục môi trường: 86
5.1.3 Nhận thức và thái độ của cộng đồng huyện Mộ Đức đối với công tác GDMT:……….87
5.2 KIẾN NGHỊ: 87
5.2.1 Đối với cơ quan quản lý về môi trường tại huyện Mộ Đức: 87
5.2.2 Đối với cộng đồng huyện Mộ Đức: 88
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 10DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
GDMT Giáo dục môi trường
UNEP United Nations Environment Programme (Chương trình Môi
IUCN Tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc tế (International Union for Conservation of Nature)
UNESCO Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc
(United Nations Educational, Scientific and Cultural Organization)
BVMT Bảo vệ môi trường
PRA Phương pháp đánh giá nhanh có sự tham gia của cộng đồng
Trang 11DANH SÁCH CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Một số chỉ tiêu phát triển kinh tế huyện Mộ Đức: 27
Bảng 2.2: Diện tích, năng suất, sản lượng một số cây trồng huyện Mộ Đức: 28
Bảng 2.3: Tình hình sản xuất của ngành chăn nuôi huyện Mộ Đức: 30
Bảng 2.4: Tình hình sản xuất lâm nghiệp: 31
Bảng 2.5: Một số chỉ tiêu thực trạng sản xuất thủy sản huyện Mộ Đức 32
Trang 12DANH SÁCH CÁC HÌNH
Hình 2.1: Ba mục tiêu của giáo dục môi trường 7
Hình 4.1 Biểu đồ thể hiện số lượng người dân huyện Mộ Đức được GDMT 50
Hình 4.2 Biểu đồ thể hiện ý kiến của người dân và học sinh THCS, THPT về nội dung giáo dục môi trường mà họ đã được học 51
Hình 4.3 Các phương pháp giáo dục môi trường phù hợp và hiệu quả 52
Hình 4.4 Ý kiến của cộng đồng về mức độ ô nhiễm môi trường tại địa phương 53
Hình 4.5 Ý kiến của học sinh tại các trường THCS, THPT về mức độô nhiễm môi trường tại địa phương 54
Hình 4.6 Bản đồ thể hiện ý kiến của cộng đồng và học sinh về nguồn gây ô nhiễm môi trường tại đia phương 55
Hình 4.7 Ý kiến của cộng đồng về tác động của ô nhiễm môi trường tại địa phương 56 Hình 4.8 Ý kiến của học sinh về tác động ô nhiễm môi trường tại địa phương 56
Hình 4.9 Ý kiến của cộng đồng về hoạt động thu gom và xử lý rác thải tại địa phương 57
Hình 4.10 Ý kiến của học sinh về hoạt động thu gom và xử lý rác thải tại địa phương 57
Hình 4.11 Ý kiến của người dân về phân loại rác tại nguồn 58
Hình 4.12 Ý kiến của học sinh về phân loại rác tài nguồn 59
Hình 4.13 Ý kiến của cộng đồng và học sinh về việc sử dụng nước 60
Hình 4.14 Biểu đồ thể hiện ý kiến của cộng đồng về định nghĩa của môi trường 61
Hình 4.15 Biểu đồ thể hiện ý kiến của học sinh về định nghĩa của môi trường 61
Hình 4.16 Biểu đồ thể hiện mức độ hiểu biết của cộng đồng về sự tác động của môi trường đến con người và ngược lại 62
Hình 4.17 Biểu đồ thể hiện thái độ của cộng đồng khi được GDMT 63
Hình 4.18 Biểu đồ thể hiện thái độ của học sinh THCS, THPT khi được GDMT 64
Trang 13thực tế 64 Hình 4.20 Biểu đồ thể hiện thái độ của cộng đồng và học sinh đối với vui trường sau khi được GDMT 65
Trang 14Chương 1
MỞ ĐẦU 1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Chất lượng cuộc sống ngày càng cao, nhu cầu xã hội ngày càng tăng, cũng là lúc vấn đề môi trường và bảo vệ môi trường được thế giới nói chung và Việt Nam chúng ta nói riêng đặc biệt quan tâm Bảo vệ môi trường hơn bao giờ hết đã trở thành nhiệm vụ cấp bách không chỉ riêng của một cá nhân nào, tổ chức nào, mà là của toàn
xã hội Do đó, chúng ta cần phải có những hành động cụ thể để chung tay với thế giới góp phần bảo vệ Trái đất, môi trường sống của chúng ta
Giáo dục môi trường và nâng cao nhận thức về môi trường cho cộng đồng có ý nghĩa cực kỳ quan trọng bởi lẽ cộng đồng là những người chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi môi trường sống của chính họ, họ vừa là nguyên nhân vừa là những người gánh chịu hậu quả những vấn đề môi trường của địa phương Khi được nâng cao nhận thức, kiến thức về bảo vệ môi trường sẽ góp phần thúc đẩy cộng đồng tham gia bảo vệ môi trường Công tác này thường được thực hiện thông qua các hoạt động xã hội, các tổ chức quần chúng, các đoàn thể chính trị - xã hội để từng bước tiến tới xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường, điều này có nghĩa là huy động các nhân tố thị trường và cộng đồng dân cư vào các mặt hoạt động trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
Đây là một quá trình đòi hỏi sự bền bỉ, thời gian dài và đặc biệt là sự kết hợp hài hòa và tổng hợp các giải pháp Kinh nghiệm của nhiều nước cho thấy, không có một giải pháp đơn lẻ nào có thể phát huy hiệu quả trong vấn đề này
Cộng đồng địa phương còn có thể đóng góp ý kiến cho các chủ trương, chính sách của Nhà nước và các dự án đầu tư, nhất là những gì có tác động trực tiếp tới môi trường, tới sản xuất và đời sống của nhân dân tại đó
Vì vậy, thực hiện nguyên tắc "Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" là một trong các biện pháp quan trọng để xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường
Trang 151.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Khảo sát và đánh giá hiện trạng của hoạt động giáo dục môi trường cho cộng đồng tại huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi, từ đó đề xuất giải pháp phát triển chương trình, nâng cao hiệu quả GDMT
1.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
- Nghiên cứu hoạt động GDMT tại huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi
- Nghiên cứu hiện trạng nhận thức môi trường của cộng đồng dân cư tại
huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi
- Đề xuất những giải pháp tăng cường công tác GDMT cho người dân
1.4 PHẠM VI VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
1.4.2 Thời gian thực hiện
Với thời gian thực hiện đề tài hạn chế từ 02/2013 đến 06/2913
1.4.3 Đối tượng nghiên cứu
- Cộng đồng dân cư tại huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi
- Ban quản lý, công nhân viên chức công tác tại phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi
- Hoạt động GDMT tại huyện Mộ Đức
1.5 Ý NGHĨA KHOA HỌC - THỰC TIỄN
- Góp phần vào công tác giáo dục môi trường nhằm nâng cao ý thức bảo vệ môi trường của cộng đồng dân cư tại huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi
- Đây là xu hướng chiến lược phù hợp với nhu cầu phát triển bền vững của xã hội loài người
- Bảo vệ môi trường rất cần sự quan tâm của toàn thể xã hội
Trang 16Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG
2.1.1 Định nghĩa giáo dục môi trường
Một số định nghĩa về Giáo dục môi trường:
Hội bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN; 1971): “… quá trình nhận thức các giá trị và làm sáng tỏ các khái niệm để phát triển kỹ năng và thái độ cần thiết, giúp hiểu biết sâu sắc mối liên quan lẫn nhau giữa con người với nền văn hoá nhân loại và môi trường sinh học xung quanh Giáo dục môi trường cũng đòi hỏi thực hành trong việc đưa ra các quyết định và tự tạo lập một chuẩn mực cho hành vi về các vấn đề liên quan đến chất lượng môi trường”
Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hoá thế giới (UNESCO) (Belgrade, Nam tư, 1975): “Mục tiêu của giáo dục môi trường là phát triển một thế giới mà mọi người nhận thức và quan tâm về môi trường cũng như các vấn đề liên quan và có kiến thức,
kỹ năng, thái độ, tình cảm và cam kết hành động cá nhân hay tập thể hướng đến các giải pháp cho các vấn đề hiện tại và ngăn chặn các vấn đề mới phát sinh”
Báo cáo kết luận, hội nghị liên Chính phủ về giáo dục môi trường (Tbilisi, USSR, 1977):“… nhằm tiếp tục làm cho mỗi cá nhân và cả cộng đồng hiểu tính phức tạp của môi trường tự nhiên và xã hội trong sự tác động lẫn nhau giữa các phương diện vật lý, sinh học, xã hội, kinh tế và văn hoá; thu được kiến thức, giá trị, thái độ và các
kỹ năng thực hành để tham gia với tinh thần trách nhiệm và hiệu quả, nhằm giải quyết các vấn đề về môi trường trong việc quản lý nâng cao chất lượng môi trường”
Trang 172.1.2 Yêu cầu của giáo dục môi trường
- Kết hợp trang bị tri thức với giáo dục đạo đức môi trường
- Đặt GDMT trong mối quan hệ đa ngành, giải quyết vấn đề dưới sự kết hợp
- Xem xét các vấn đề môi trường theo nhiều phạm vi: địa phương, quốc gia
2.1.3 Vai trò của giáo dục môi trường
Năm 1987, tại Hội nghị về môi trường ở Moscow do UNEP và UNESCO đồng
tổ chức, đã đưa ra kết luận về tầm quan trọng của giáo dục môi trường: “Nếu không nâng cao được sự hiểu biết của công chúng về những mối quan hệ mật thiết giữa chất lượng môi trường với quá trình cung ứng liên tục các nhu cầu ngày càng tăng của họ, thì sau này sẽ khó làm giảm bớt được những mối nguy cơ về môi trường ở các địa phương cũng như trên toàn thế giới Bởi vì, hành động của con người tùy thuộc vào động cơ của họ và động cơ này lại tùy thuộc vào chính nhận thức và trình độ hiểu biết của họ Do đó, giáo dục môi trường là một phương tiện không thể thiếu để giúp mọi người hiểu biết về môi trường”
Hội nghị quốc tế về Giáo dục môi trường của Liên hợp quốc tổ chức tại Tbilisi vào năm 1977 đã đưa ra khái niệm: “Giáo dục môi trường có mục đích làm cho cá
Trang 18nhân và các cộng đồng hiểu được bản chất phức tạp của môi trường tự nhiên và môi trường nhân tạo là kết quả tương tác của nhiều nhân tố sinh học, lý học, xã hội, kinh tế
và văn hóa; đem lại cho họ kiến thức, nhận thức về giá trị, thái độ và kỹ năng thực hành để họ tham gia một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong phòng ngừa và giải quyết các vấn đề môi trường và quản lý chất lượng môi trường”
2.1.4 Mục đích của giáo dục môi trường
2.1.4.1 Mục đích chính của GDMT được xác định tại Hội nghị Tbilisi
- Tăng cường nhận thức và sự quan tâm đến các mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa các yếu tố kinh tế, xã hội, chính trị và sinh thái ở thành thị cũng như nông thôn
- Tạo cơ hội cho mọi người tiếp thu những kiến thức, quan điểm về giá trị, thái độ ý thức và kỹ năng cần thiết để bảo vệ và cải thiện môi trường
- Tạo ra các mô hình về hành vi thân thiện với môi trường cho từng cá nhân, cộng đồng và toàn xã hội
- Khuyến khích, củng cố và phát huy những thái độ và hành vi tích cực đối với môi trường hiện có
2.1.4.2 Mục đích của GDMT tại cộng đồng dân cư huyện Mộ Đức
- Một ý thức trách nhiệm sâu sắc dối với sự phát triển bền vững của Trái Đất,
- Một khả năng cảm thụ, đánh giá vẻ đẹp của nền tảng đạo lý môi trường,
- Một nhân cách được khắc sâu bởi nền tảng đạo lý môi trường,
- Tiến tới xã hội hóa các vấn đề môi trường, nghĩa là tạo ra các công dân có nhận thức, có trách nhiệm với môi trường, biết sống vì môi trường
Một khi các vấn đề môi trường đã được xã hội hóa thì những lợi ích kinh tế cho cộng đồng ngày một gia tăng và đặc biệt hiệu lực quản lý nhà nước tăng nhưng gánh nặng chi phí sẽ giảm Do đó, những kết quả nghiên cứu về môi trường và các phương pháp khắc phục ở nhiều quốc gia trên thế giới đã đi đến kết luận chung là: không có giải pháp nào kinh tế và hiệu quả bằng việc đầu tư vào con người thông qua công tác giáo dục môi trường
GDMT mang lại cơ hội cho người học khám phá môi trường và hiểu biết về các quyết định của con người liên quan đến môi trường GDMT cũng tạo cơ hội để hình
Trang 19thành, sử dụng các kỹ năng liên quan đến cuộc sống hôm nay và ngày mai cho người học Tất cả những điều này cho chúng ta niềm hi vọng người học có nhiều ý tưởng sáng tạo và tham gia tích cực vào quá trình phấn đấu cho một thế giới phát triển lành mạnh
2.1.5 Mục tiêu của giáo dục môi trường
2.1.5.1 Hội nghị Tbilisi đã thống nhất 5 nhóm mục tiêu của GDMT
- Kiến thức: GDMT cung cấp cho các cá nhân và cộng đồng những kiến thức,
sự hiểu biết cơ bản về môi trường và mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa con người
và môi trường
- Nhận thức: GDMT thúc đẩy các cá nhân, cộng đồng tạo dựng nhận thức và
sự nhạy cảm đối với môi trường cũng như các vấn đề môi trường
- Thái độ: GDMT khuyến khích các cá nhân, cộng đồng tôn trọng và quan tâm tới tầm quan trọng của môi trường, khuyến khích cho họ tham gia tích cực vào việc cải thiện và bảo vệ môi trường
- Kỹ năng: GDMT cung cấp các kỹ năng cho việc xác định, dự đoán, ngăn ngừa và giải quyết các vấn đề môi trường
- Sự tham gia: GDMT cung cấp cho các cá nhân và cộng đồng cơ hội tham gia tích cực trong việc giải quyết các vấn đề môi trường cũng như đưa ra các quyết định về môi trường đúng đắn
2.1.5.2 Mục tiêu GDMT tại huyện Mộ Đức
Giáo dục môi trường không phân biệt giáo dục cho đông đảo nhân dân, giáo dục trong các trường phổ thông, giáo dục đại học hay trung học chuyên nghiệp đều nhằm mục tiêu đem lại cho các đối tượng được giáo dục có cơ hội:
- Hiểu biết bản chất của các vấn đề môi trường: tính phức tạp, quan hệ nhiều mặt, nhiều chiều, tính hạn chế của tài nguyên thiên nhiên và khả năng chịu tải của môi trường, mối quan hệ chặt chẽ giữa môi trường và phát triển, giữa môi trường địa phương, vùng, quốc gia với môi trường khu vực và toàn cầu Mục tiêu này thực chất là trang bị cho các đối tượng được giáo dục các kiến thức về môi trường
- Nhận thức được ý nghĩa, tầm quan trọng của các vấn đề môi trường như một nguồn lực để sinh sống, lao động và phát triển, đối với bản thân họ cũng như
Trang 20đối với cộng đồng, quốc gia của họ và quốc tế, từ đó có thái độ, cách ứng xử đúng đắn trước các vấn đề môi trường, xây dựng cho mình quan niệm đúng đắn về ý thức trách nhiệm, về giá trị nhân cách để dần hình thành các kỹ năng thu thập số liệu và phát triển sự đánh giá thẩm mỹ Mục tiêu này có định hướng xây dựng thái độ, cách đối xử thân thiện với môi trường
- Có tri thức, kỹ năng, phương pháp hành động để nâng cao năng lực trong việc lựa chọn phong cách sống thích hợp với việc sử dụng một cách hợp lý và khôn ngoan các nguồn tài nguyên thiên nhiên, để họ có thể tham gia hiệu quả vào việc phòng ngừa và giải quyết các vấn đề môi trường cụ thể nơi họ ở và làm việc Đây là mục tiêu
về khả năng “Hành động cụ thể”
Hình 2.1: Ba mục tiêu của giáo dục môi trường
Giáo dục môi trường hoàn toàn không tách rời những giá trị về kiến thức, kinh nghiệm thực tế và cách thức thực hiện của từng địa phương hay khu vực về một quá trình tạo lập và phát triển bền vững Giáo dục môi trường luôn trân trọng những tri thức bản địa và ủng hộ việc giáo dục tương ứng với việc học tập dựa trên môi trường địa phương, coi trọng việc giáo dục toàn cầu cũng như giáo dục môi trường địa phương, thậm chí về mặt cam kết và hành động lại hướng về cụ thể và địa phương:
“Nghĩ – toàn cầu, Hành động – Địa phương”
Những thông tin, kiến thức về môi trường được tích luỹ trong mỗi cá nhân sẽ nuôi dưỡng và nâng cao ý thức và tinh thần trách nhiệm về bảo vệ môi trường của chính họ, tạo nên những động cơ mạnh mẽ, những cam kết vững chắc hướng về một môi trường trong lành và phát triển trong tương lai Bởi vì, mỗi cá nhân nếu đều có ý thức đóng góp những hành động dù nhỏ nhưng tích cực cũng sẽ góp phần tạo nên những thay đổi lớn tốt đẹp hơn cho môi trường
- Nhận thức
- Thái độ
- Ứng xử
Khả năng hành động hiệu quả vào BVMT
- Kiến thức
- Kỹ năng
- Dự báo các tác động
- Tổ chức hành động
Trang 212.1.6 Nguyên tắc của giáo dục môi trường
2.1.6.1 Hội nghị Tbilisi đã thống nhất 6 nguyên tắc của GDMT như sau
Coi môi trường là một tổng thể Xem xét môi trường trên mọi khía cạnh tự nhiên, nhân tạo, công nghệ và xã hội (kinh tế, kỹ thuật, lịch sử - văn hóa, đạo đức, thẩm mỹ như sau:
- Tự nhiên: Các yếu tố hữu sinh như động thực vật và các yếu tố vô sinh như đất, nước, không khí tác động qua lại lẫn nhau trong các hệ thống và thực hiện các chức năng sinh thái hỗ trợ cho cuộc sống
- Xã hội: Những người sống cùng nhau, tác động lẫn nhau và hình thành nên cách sống với nhiều quy tắc và cách ứng xử văn hóa khác nhau
- Kinh tế: Hệ thống có tính bền vững giúp con người có việc làm và thu nhập
để chi trả cho những nguồn lợi và những dịch vụ con người cần
- Chính trị: Môi trường cho phép đống góp và tác động đến những quyết định
về tiếp cận tài nguyên thiên nhiên, kinh tế và cách thức con người sống cùng nhau
Như vậy, cách nhìn nhận vấn đề, tham gia hành động và quản lý môi trường của con người là trọng tâm của mọi hoạt động GDMT
- GDMT là một quá trình liên tục và lâu dài
- Phương pháp tiếp cận của GDMT
- Xem xét những vấn đề môi trường cơ bản trên quan điểm cấp địa phương, quốc gia, vùng và toàn cầu để người học có thể đánh giá đúng về điều kiện môi trường
ở những khu vực địa lý khác nhau
- GDMT tập trung vào tình hình môi trường hiện nay và tương lai có xét đến bối cảnh lịch sử
- Đề cao giá trị và sự cần thiết của việc hợp tác ở cấp địa phương, quốc gia,
và quốc tế trong việc phòng chống và giải quyết các vấn đề môi trường
2.1.8.2 Nguyên tắc thực hiện GDMT cho cộng đồng dân cư trên địa bàn huyện
- Dựa trên các cứ liệu chắc chắn và có tính thực tế
- Huy động nhiều người tham gia và dựa trên tinh thần hợp tác
- Dựa trên sự phân tích, nhận xét
Trang 22- Dựa trên nền tảng đời sống cộng đồng ở địa phương
2.1.7 Phương thức và cách tiếp cận trong giáo dục môi trường
2.1.7.1 Phương thức trong giáo dục môi trường
Giáo dục môi trường có nhiều phương thức, được phân chia thành các bộ phận phù hợp với trình độ nhận thức và tính chất đặc thù của cương vị công tác như:
- Giáo dục môi trường cho cộng đồng còn gọi là nâng cao nhận thức về môi trường cho cộng đồng được thực hiện chủ yếu thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, các đợt tập huấn ngắn hạn, các hoạt động văn hóa, truyền thông và các cuộc vận động quần chúng rộng rãi
- Giáo dục môi trường cho các nhà quản lý các cấp, các cán bộ ra quyết định được thực hiện bằng nhiều biện pháp phù hợp
- Giáo dục môi trường trong hệ thống giáo dục và đào tạo ở các trường từ các trường mẫu giáo đến các trường cao đẳng và đại học
- Đào tạo nhân lực chuyên môn về môi trường, bao gồm công nhân lành nghề,
kỹ thuật viên, kỹ sư, cán bộ nghiên cứu, giảng dạy
Như vậy, rõ ràng công tác đào tạo và nâng cao nhận thức môi trường cho cộng đồng đều là những bộ phận vô cùng quan trọng không thể thiếu trong giáo dục môi trường, thực hiện những mục tiêu chiến lược của giáo dục môi trường
2.1.7.2 Cách tiếp cận trong giáo dục môi trường
Kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới cho thấy rằng, giáo dục môi trường thường được thực hiện theo 3 cách tiếp cận sau đây:
- Giáo dục về môi trường: xem môi trường là một đối tượng khoa học, người dạy truyền đạt cho người học các kiến thức của bộ môn khoa học về môi trường, cũng như phương pháp nghiên cứu về đối tượng đó Cụ thể là:
+ Cung cấp những hiểu biết về hệ thống tự nhiên và hoạt động của nó; + Cung cấp những hiểu biết tác động của con người tới môi trường
- Giáo dục trong môi trường: xem môi trường thiên nhiên hoặc nhân tạo như một địa bàn, một phương tiện để giảng dạy, học tập, nghiên cứu Với cách tiếp cận này, môi trường sẽ trở thành “phòng thí nghiệm thực tế” đa dạng, sinh động cho người
Trang 23dạy và người học Xét về hiệu quả học tập kiến thức, kỹ năng, nghiên cứu có thể hiệu quả rất cao
- Giáo dục vì môi trường: truyền đạt kiến thức về bản chất, đặc trưng của môi trường hình thành thái độ, ứng xử, ý thức trách nhiệm, quan niệm giá trị nhân cách, đạo đức đúng đắn về môi trường, cung cấp tri thức kỹ năng, phương pháp cần thiết cho những quyết định, hành động bảo vệ môi trường và phát triển bền vững Giáo dục môi trường có hiệu quả nhất khi kết hợp cả 3 cách tiếp cận trên, tức là giáo dục kiến thức
về môi trường trong môi trường cụ thể nhằm hướng tới đối tượng giáo dục có hành động vì môi trường
2.1.8 Lợi ích từ giáo dục môi trường mang đến cho cộng đồng
2.1.8.1 Về kiến thức và hiểu biết
Các hoạt động GDMT sẽ được thiết kế và thực hiện nhằm giúp người dân làm quen với các khái niệm sau đây:
- Bảo vệ và bảo tồn;
- Giảm tiêu thụ, tái sử dụng và tái chế;
- Các chu trình khép kín;
- Sự phụ thuộc lẫn nhau;
- Chi phí và lợi ích thu được;
- Tăng trưởng và suy thoái;
- Hình thành và duy trì quan hệ đối tác;
- Các kiểu liên kết: nguyên nhân - hậu quả,
Sự lựa chọn các khái niệm trên còn phải tính đến các mối quan hệ:
PHÁT TRIỂN TÁC ĐỘNG NGUYÊN NHÂN KẾT QUẢ CHẤT LƯỢNG SỐ LƯỢNG VẤN ĐỀ GIẢI PHÁP
SUY NGHĨ HÀNH ĐỘNG CHI PHÍ LỢI ÍCH
QUỐC TẾ KHU VỰC QUỐC GIA ĐỊA PHƯƠNG Trong thực tiễn, mỗi địa phương thuộc về một vùng địa lý cụ thể, nằm trong một bối cảnh văn hóa cụ thể, sẽ có một nhu cầu giáo dục môi trường cụ thể Điều này quyết định việc lựa chọn cho những nội dung và phương thức thực hiện phù hợp Việc xác định và chọn lựa đúng những vấn đề môi trường có liên quan trực tiếp đến cộng
Trang 24đồng sẽ thu hút sự tham gia một cách tự nhiên của vào quá trình giải quyết các vấn đề bằng một thái độ tự nguyện và bằng những hành động có trách nhiệm
2.1.8.2 Về kỹ năng
Các hoạt động GDMT sẽ được thiết kế và thực hiện nhằm giúp học sinh sử dụng các kỹ năng đã có, hình thành và vận dụng các kỹ năng mới Các kỹ năng có thể sắp xếp theo các nhóm chủ yếu sau:
- Kỹ năng tính toán;
- Kỹ năng nghiên cứu;
- Kỹ năng phát hiện và giải quyết vấn đề;
- Kỹ năng cá nhân và xã hội;
- Kỹ năng công nghệ thông tin
2.1.8.3 Về thái độ và hành vi
Các hoạt động GDMT sẽ được thiết kế và thực hiện nhằm giúp cho cộng đồng biết được giá trị của môi trường và vai trò cá nhân của mình trong việc giữ gìn môi trường cho hôm nay và ngày mai Điều này khích lệ một thái độ và hành vi tích cực đối với môi trường, có thể nhìn thấy qua các biểu hiện dưới đây:
- Biết đánh giá, quan tâm và lo lắng đến môi trường và đời sống các sinh vật
- Sự độc lập trong suy nghĩ trước các vấn đề môi trường
- Tôn trọng quan điểm của người khác
- Khoan dung và cởi mở
- Có ý kiến phê phán và thay đổi những thái độ không đúng đắn về môi trường
- Có mong muốn tham gia vào việc giải quyết các vấn đề môi trường, các hoạt động cải thiện môi trường và truyền bá các ý tưởng tốt đẹp cho người khác
Việc thay đổi thái độ của cộng đồng trước các vấn đề môi trường là một dấu hiệu mấu chốt cho phép đánh giá mức độ thành công của các chương trình GDMT Các chương trình này không những chỉ đạt mục đích cung cấp các kiến thức, kỹ năng
và hiểu biết về môi trường, mà còn phải dấn bước vào “lãnh địa” đạo đức, nơi mà các giá trị đạo lý môi trường có trong mỗi con người phải được bộc lộ ra bên ngoài bằng
thái độ, tình cảm, hành vi cụ thể (Nguyễn Kim Hồng, 2001)
Trang 252.1.9 Sơ lược lịch sử về giáo dục môi trường trên thế giới và Việt Nam
2.1.9.1 Sự phát triển về giáo dục môi trường trên thế giới
- Năm 1948, tại cuộc họp Liên Hiệp Quốc về bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên ở Paris, thuật ngữ “giáo dục môi trường” được sử dụng Tiếp sau
đó, có rất nhiều cố gắng để định nghĩa thuật ngữ này:
- IUCN, 1970 đã định nghĩa GDMT là quá trình nhận biết các giá trị và làm sáng tỏ các khái niệm nhằm phát triển các kỹ năng và quan điểm cần thiết để hiểu biết
và đánh giá được sự quan hệ tương tác giữa con người, nền văn hóa và thế giới vật chất bao quanh giáo dục môi trường đồng thời cũng thực hiện quyết định đưa ra bộ quy tắc ứng xử với những vấn đề liên quan đến đặc tính môi trường
- Trong những năm 1970, những nguyên tắc quốc tế cơ bản tiếp tục vạch đường hướng cho GDMT, tạo ra sự hiểu biết rộng rãi về mục đích chính, mục tiêu và phương pháp của môn học Tại Hội nghị Liên hiệp quốc tế về đề tài môi trường con người tổ chức tại Stoc holm năm 1972, nguyên tắc 19 đã chỉ rõ: “Giáo dục các vấn đề môi trường cho thế hệ trẻ cũng như người lớn tuổi, quan tâm một cách thích đáng đến những người tàn tật là một việc làm hết sức cần thiết”
- Chương trình Giáo dục môi trường quốc tế (IEEP) ra đời tại một hội thảo tại Belyrade năm 1975 Hội thảo đưa ra bản tuyên bố liên chính phủ đầu tiên về GDMT Các mục đích, mục tiêu, những khái niệm cốt yếu và các nguyên tắc hướng dẫn của chương trình được đưa vào một văn kiện của hội thảo có tên là “Hiến chương Belyrade
- một hệ thống nguyên tắc toàn cầu cho giáo dục môi trường” Một tập hợp các mục tiêu ngắn gọn, bao quát GDMT được đưa ra tại Belyrade có thể tóm tắt như sau:
+ Nâng cao nhận thức và quan tâm tới mối quan hệ tương tác về kinh tế, xã hội, chính trị, sinh thái giữa nông thôn và thành thị
+ Cung cấp cho mỗi cá nhân những cơ hội tiếp thu kiến thức những giá trị, quan niệm, trách nhiệm và các kỹ năng cần thiết nhằm bảo vệ và cải tạo môi trường
+ Tạo ra những mô hình ứng xử với môi trường cho cá nhân, các tổ chức cũng như toàn xã hội
- Tiếp theo Belyrade, hội nghị liên chính phủ đầu tiên về GDMT do UNESCO tổ chức tại Tbilisi, Liên Xô năm 1977 có 66 thành viên các nước tham dự
Trang 26Hội nghị đưa ra các ý kiến đóng góp cho việc áp dụng rộng rãi hơn nữa GDMT trong chương trình giáo dục chính thức và không chính thức Sự kiện quan trọng này và những công bố liên tiếp theo dự kiến hội nghị đó tiếp tục đóng góp cho hệ thống nguyên tắc của sự phát triển GDMT trên toàn thế giới ngày nay
- Từ năm 1986 trở đi, các hoạt động quốc tế tiếp tục bổ sung, đóng góp cho chiến lược bảo tồn thế giới; giải quyết các vấn đề về GDMT, đạo đức, văn hóa
- Năm 1987 đánh dấu 10 năm kỷ niệm hội nghị Tbilisi đầu tiên, và tại hội nghị này một loạt các vấn đề cơ bản được đưa ra thảo luận, trong đó có tầm quan trọng đặc biệt của GDMT, và nội dung kết luận: Rút cục là sẽ không có gì giảm được mối đe dọa mang tính khu vực và quốc tế đối với môi trường trừ khi ý thức của đại đa số quần chúng về mối liên quan thiết yếu giữa đặc trưng môi trường và sự tiếp tục thỏa mãn các nhu cầu của con người được thức tỉnh Hoạt động của con người phụ thuộc vào động cơ, mà động cơ lại phụ thuộc vào sự hiểu biết chúng Vì thế chúng ta hiểu được tầm quan trọng tại sao mỗi người phải có nhận thức môi trường đúng đắn thông qua giáo dục môi trường
- Cũng trong năm 1987, Ủy ban thế giới về môi trường và sự phát triển (WCED) đã có báo cáo “Tương lai chung của chúng ta” Bản báo cáo đã đưa ra một công bố chính “Chương trình Nghị sự toàn cầu” để nhất trí vấn đề môi trường với sự phát triển, và vì thế đã tăng cường và mở rộng cuộc bảo tồn thế giới năm 1980 Giáo dục được coi là phần trọng tâm của chương trình này: “Sự thay đổi trong thái độ mà chúng ta cố gắng làm phụ thuộc vào các chiến dịch giáo dục lớn, các cuộc thảo luận và
sự tham gia của quần chúng” (WCED, 1987)
- Hội nghị thượng đỉnh diễn ra tại Rio de Janero vào năm 1992 Có 120 vị đứng đầu nhà nước, chính phủ, cùng các đoàn đại biểu của hơn 170 nước tham dự Song song với hội nghị còn có diễn đàn toàn cầu lôi cuốn đại diện của hàng trăm các nhóm có quan tâm đặc biệt, các tổ chức phi chính phủ vào các diễn thuyết, trình bày, thảo luận và hội thảo trên một phạm vi rộng về các đề tài và vấn đề môi trường Hội nghị đã ký kết nhiều văn kiện quan trọng tuyên bố sự bắt đầu của một quá trình lâu dài tìm hiểu, giải thích phản ứng và thực hiệc các điều lệ thảo thuận đã được ký kết nhằm thay đổi tương lai của hành tinh Chương trình nghị sự 21 vấn đề mấu chốt của các
Trang 27thảo thuận tại Rio là một chương trình hành động quan trọng chỉ ra cho các quốc gia biết cần phải làm những gì để đạt được sự phát triển mang tính chất duy trì trong thế
kỷ 21
Chương trình 21 có 40 chương mục bao gồm các chủ đề từ nghèo đói, chất thải dioxit, sa mạc hóa cho tới vấn đề thanh niên, giáo dục và thương mại tự do Có nhiều công bố dành cho GDMT thông qua suốt văn kiện, trong đó chương 25 (Thanh thiếu niên và sự phát triển mang tính duy trì) và chương 36 (Xúc tiến giáo dục, ý thức quần chúng và vấn đề đào tạo) có một ý nghĩa quan trọng đặc biệt Một văn kiện quan trọng thứ hai được soạn thảo và ký kết tại hội nghị thượng đỉnh là Tuyên ngôn Rio, bao gồm 27 nguyên tắc duy trì cung cấp cơ sở cho các chương trình hoạt động quốc tế của Chương trình nghị sự 21 Nói một cách khác, Tuyên ngôn Rio đưa ra đề cương cho việc duy trì tương lai, còn Chương trình nghị sự 21 cung cấp một chương trình hướng dẫn việc thực hiện đề cương đó Hội nghị cũng đã ký một công ước về đề tài Sự thay đổi khí hậu - công ước Quốc tế đầu tiên thừa nhận mối đe dọa toàn cầu đang nóng dần; một công ước về đề tài Sự biến đổi sinh thái - công ước đầu tiên giải quyết quyền sở hữu các tư liệu di truyền học (có 153 nước đã ký), và Các nguyên tắc về rừng - một hiệp định không chính thức về quản lý và duy trì rừng Một trong những kết quả chính của hội nghị là sự nhất trí rằng phát triển và GDMT phải là một bộ phận thống nhất của quá trình học tập ở cả hai dạng chính thức và không chính thức Và một dự kiến được đưa ra là mọi chính phủ phải nỗ lực phấn đấu để cập nhật hóa và chuẩn bị các chiến lược nhằm mục đích kết hợp môi trường và phát triển thành vấn đề trung tâm để đưa vào tất cả các cấp giáo dục trong vòng 3 năm tới (Chương trình nghị sự 21, chương 36)
2.1.9.2 Việt Nam
Ở nước ta, việc GDMT mới được bắt đầu từ những năm cuối thập niên 70 Hành động có ý nghĩa biểu trưng lớn nhất ở nước ta về GDMT là ngay từ 1962, Bác Hồ đã khai sinh ra “Tết trồng cây” và cho đến nay, phong trào này phát triển ngày càng mạnh mẽ
Trang 28Sự quan tâm của Đảng và Nhà nước Việt Nam tới công tác giáo dục, đào tạo, nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường thể hiện qua việc Ban hành các Văn bản Pháp luật
Công tác bảo vệ môi trường nói chung và công tác giáo dục, đào tạo và nâng cao nhận thức về môi trường nói riêng đã được Đảng, Nhà nước ta quan tâm từ nhiều năm nay và đã có những chủ trương, biện pháp giải quyết các vấn đề môi trường trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Điều này đã được thể hiện rất rõ trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam:
- Chỉ thị 36-CT/TW của Bộ Chính trị ngày 25/6/1998 về “Tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” đã chỉ rõ:
“Bảo vệ môi trường là một vấn đề sống còn của đất nước, của nhân loại; là nhiệm vụ
có tính xã hội sâu sắc, gắn liền với cuộc đấu tranh xoá đói giảm nghèo ở mỗi nước, với cuộc đấu tranh vì hoà bình và tiến bộ xã hội trên phạm vi toàn thế giới” Chỉ thị đã đưa
ra 8 giải pháp lớn về bảo vệ môi trường, trong đó giải pháp đầu tiên là: “Thường xuyên giáo dục, tuyên truyền, xây dựng thói quen, nếp sống và các phong trào quần chúng bảo vệ môi trường”
- Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 15/11/2004 của Bộ Chính trị về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Giải pháp đầu tiên được nêu ra là: “Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức và trách nhiệm bảo vệ môi trường”
- Quyết định số 1363/QĐ-TTg ngày 17/10/2001 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt đề án “Đưa các nội dung bảo vệ môi trường vào hệ thống giáo dục quốc dân”
- Quyết định số 256/2003/QĐ-TTg ngày 02/12/2003 của Thủ tướng Chính phủ về “Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020”
- Quyết định số 153/2004/QĐ-TTg ngày 17/8/2004 của Thủ tướng Chính phủ ban hành “Định hướng chiến lược phát triển bền vững của Việt Nam” (Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam)
Trang 29- Luật Bảo vệ môi trường số 52/2005/QH11 ngày 29/11/2005 của Quốc hội Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Trong đó, Điều 5 và Điều 6 đề cập đến chính sách của Nhà nước về bảo vệ môi trường và những hoạt động được khuyến khích, trong đó có công tác tuyên truyền, giáo dục Riêng Chương XI, Điều 107 Giáo dục về môi trường và đào tạo nguồn nhân lực bảo vệ môi trường, quy định rõ:
+ Công dân Việt Nam được giáo dục toàn diện về môi trường nhằm nâng cao hiểu biết và ý thức bảo vệ môi trường
+ Giáo dục về môi trường là một nội dung của chương trình chính khoá của các cấp học phổ thông
+ Nhà nước ưu tiên đào tạo nguồn nhân lực bảo vệ môi trường, khuyến khích mọi tổ chức, cá nhân tham gia đào tạo nguồn nhân lực bảo vệ môi trường
+ Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường chỉ đạo, hướng dẫn xây dựng và thực hiện chương trình giáo dục về môi trường và đào tạo nguồn nhân lực bảo vệ môi trường
- Chỉ thị số 02/2005/CT-BGD&ĐT ngày 31/01/2005 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc tăng cường công tác giáo dục bảo vệ môi trường
- Chỉ thị số 40/2008/CT-BGD&ĐT ngày 22/07/2008 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc phát động phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” trong các trường phổ thông giai đoạn 2008-2013
2.2 ĐÁNH GIÁ TRONG GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG
2.2.1 Khái niệm
Đánh giá là quá trình thu thập và phân tích thông tin hiện trạng so sánh với mục tiêu đặt ra ban đầu để nhận định kết quả công việc, từ đó đề xuất những quyết định thích hợp để cải thiện, điều chỉnh thực trạng Đánh giá còn được xem là quá trình xem xét, bình phẩm về các đặc trưng, thuộc tính hay giá trị của một sự vật hiện tượng nào
đó theo các tiêu chuẩn so sánh nhất định (định lượng hoặc định tính) Quá trình đánh giá chủ yếu là quá trình xác định mức độ thực hiện các mục tiêu trong chương trình giáo dục
Trang 302.2.2 Mục đích
Đánh giá là một bộ phận của quá trình giáo dục, nhằm các mục đích:
- Làm rõ mức độ hoàn thành mục tiêu giáo dục, phát hiện nguyên nhân, điều chỉnh hoạt động giáo dục và đánh giá chung
- Công khai hóa việc nhận định hoạt động học tập của người học, từ đó tạo cơ hội cho phát triển kỹ năng tự đánh giá và phấn đấu vươn lên trong học tập
- Nhà giáo dục có cơ sở thực tế để không ngừng cải tiến, đổi mới trong phương pháp giáo dục, nâng cao hiệu quả giáo dục
2.2.3 Các cách thức đánh giá
- Đánh giá trực tiếp dựa vào những quan sát, nghiên cứu trực tiếp đối tượng
Ví dụ, qua khảo sát trực tiếp môi trường trên địa bàn huyện để đánh giá hiệu quả của các hoạt động Bảo vệ môi trường xanh, sạch, đẹp tại địa phương đó
- Đánh giá gián tiếp được dựa trên các thông tin, tư liệu, số liệu thu thập được hoặc dựa vào các biểu hiện trung gian của đối tượng Ví dụ, căn cứ vào kết quả báo cáo định kỳ để đánh giá các hoạt động về môi trường của huyện đó
2.2.4 Các yêu cầu đánh giá
Việc đánh giá không chỉ nhằm mục đích ghi nhận thực trạng mà còn là cơ sở cho những hoạt động giáo dục tiếp theo, đề xuất những quyết định làm thay đổi thực trạng Do vậy việc đánh giá phải đảm bảo khách quan, chính xác (tính khoa học), trên
cơ sở đó làm sáng tỏ thực trạng để điều chỉnh quá trình dạy học (tính sư phạm), và cuối cùng là thông tin kết quả này đến những địa chỉ có nhu cầu (công khai hóa)
2.2.5 Các lĩnh vực đánh giá
Kết quả học tập là sản phẩm mà người học cần phải đạt được sau một quá trình
nỗ lực học tập Nó được thể hiện ở nhiều lĩnh vực khác nhau, như tri thức, kỹ năng, hoạt động, đạo lý… Một cách chung nhất, kết quả được thể hiện ở 3 lĩnh vực quan trọng: nhận thức, tình cảm, hành vi hoạt động
- Nhận thức:
Theo B Bloom (1956), trong lĩnh vực nhận thức, có 6 mức độ:
+ Biết: nhận biết, ghi nhớ, tái hiện, định nghĩa, khái niệm
+ Hiểu: thông báo, thuyết minh, tóm tắt, thông tin, giải thích, suy rộng
Trang 31+ Áp dụng: vận dụng kiến thức vào tình huống mới
+ Phân tích: nhận biết các bộ phận của một tổng thể, so sánh, phân tích, đối chiếu, phân loại
+ Tổng hợp: tập trung các bộ phận thành một tổng thể thống nhất, lập kế hoạch, dự đoán
+ Đánh giá: khả năng đưa ra ý kiến về một vấn đề
- Tiếp nhận: tiếp thu, tham gia thụ động
- Đáp ứng: biểu thị lòng mong muốn tham gia
- Định giá : thấy rõ giá trị công việc, tự nguyện cam kết tham gia
- Tổ chức: sắp xếp, phối hợp hoạt động, tích hợp giá trị mới vào hệ thống giá trị bản thân
- Thể hiện đặc trưng của giá trị: tính tình hình thành, đặc trưng được biểu hiện
Có thể xem đó là các lĩnh vực và mức độ để đánh giá kết quả người học trong giáo dục môi trường Ứng với mỗi lĩnh vực, có một hay một số công cụ đánh giá hiệu quả (Nguyễn Kim Hồng, 2001)
Trang 322.3 TỔNG QUAN VỀ HUYỆN MỘ ĐỨC, TỈNH QUẢNG NGÃI
2.3.1 Điều kiện tự nhiên
2.3.1.1 Vị trí địa lý
Huyện Mộ Đức là một huyện đồng bằng nằm ven biển ở phía Đông Nam tỉnh Quảng Ngãi Phía bắc giáp huyện Tư Nghĩa; phía nam giáp huyện Đức Phổ; phía tây giáp huyện Nghĩa Hành; phía đông giáp biển Đông Hình thể huyện tựa như một hình tam giác, nhọn hẹp ở phía bắc, phình rộng ở phía nam
Toàn huyện có 13 đơn vị hành chính (gồm 12 xã và 1 thị trấn) với tổng diện
tích tự nhiên là 21.388,82ha Dân số trung bình là 126.250 người
Hệ thống giao thông tương đối thuận lợi, đường sắt Bắc Nam và quốc lộ 1A chạy song song dọc theo chiều từ phía Bắc đến phía Nam của huyện dài khoảng 20km, quốc lộ 24 từ KonTum đi Quãng Ngãi giáp quốc lộ 1A tại Thạch Trụ và đường bờ biển dài 22km là những tuyến giao thông quan trọng trong giao lưu kinh tế với khu vực duyên hải miền Trung, Tây Nguyên và cả nước
Nhìn chung với vị trí địa lý khá thuận lợi, Mộ Đức đã hội tụ nhiều điều kiện để
có thể hình thành, phát triển một cơ cấu kinh tế đa dạng, nhiều ngành nghề, thành phần kinh tế khác nhau và có điều kiện mở rộng giao thương, buôn bán với bên ngoài Đây
là điều kiện thuận lợi lớn cho huyện trong việc thu hút đầu tư, phát huy tiềm năng, thế mạnh phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống nhân dân trong giai đoạn đến
2.3.1.2 Địa hình, địa mạo
Mộ Đức nằm trong giải đồng bằng nhỏ hẹp thuộc vùng duyên hải miền Trung, tiếp cận biển Đông và vùng đồi núi thấp nối tiếp với Đông Trường Sơn Địa hình huyện có hai dạng chính: trung du, miền núi và đồng bằng, ven biển
Vùng trung du, miền núi: nằm ở phía Tây Nam của huyện có diện tích gần 8.000ha Độ cao trung bình từ 15 - 20m (chưa kể đỉnh núi), có độ dốc khá lớn do đó ảnh hưởng xói mòn nghiêm trọng khi mưa lũ Ngoài sản xuất nông nghiệp, thế mạnh của vùng là phát triển lâm nghiệp, cây công nghiệp, cây ăn quả
Vùng đồng bằng ven quốc lộ 1A và ven biển: nằm ở trung tâm và phía Đông của huyện chiếm diện tích khá lớn vào khoảng 13.000ha Độ cao bình quân từ 2 - 4m, vùng ven biển cao 7 - 9m, tạo thành lòng máng về phía Đông từ xã Đức Thắng đến
Trang 33Đức Phong, Đức Lân, do đó thường xuyên bị ngập úng Xen kẽ giữa vùng đồng bằng
là các đồi núi úp bát và thấp dần đến vùng dọc sông Thoa, đây là vùng trũng nhất trong huyện Dọc bờ biển là các sườn dốc hướng về phía đất liền, do đó các vùng đất giáp biển hàng năm thường bị cát xâm thực Đây là vùng kinh tế chủ yếu của huyện, phát triển tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ, trồng lúa, hoa màu và nuôi trồng thủy sản
2.3.1.3 Thời tiết, khí hậu
Mang đặc thù của khí hậu nhiệt đới gió mùa điển hình của vùng duyên hải Nam Trung Bộ và bị chi phối bởi điều kiện địa hình phía Đông dãy Trường Sơn với những đặc trưng chủ yếu: nóng ẩm, nhiệt độ cao, ánh sáng nhiều, lượng mưa khá lớn đây là những nhân tố ảnh hưởng đến các yếu tố khí hậu của huyện, thể hiện hai mùa rõ rệt: mùa khô từ tháng 3 đến tháng 8 và mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 2 năm sau
Nhiệt độ trung bình khoảng 26,70C, lượng mưa trung bình năm là 1.915mm và phân bố không đều trong năm
Nhìn chung khí hậu Mộ Đức tương đối thuận lợi, cho phép sản xuất nhiều vụ trong năm và cây trồng, vật nuôi sinh trưởng phát triển tốt Tuy nhiên, do lượng mưa lớn, tập trung vào một vài tháng trong năm, địa hình phức tạp, độ dốc lớn, đồng bằng hẹp, hằng năm thường có bão, lũ lụt làm cho đất đai thường bị sa bồi, thủy phá, ngập úng ở vùng đồng bằng ven biển và xói mòn ở vũng miền núi, ảnh hưởng đến sản xuất nông - lâm -ngư nghiệp
2.3.1.4 Thủy văn
Chế độ thủy văn của huyện chịu ảnh hưởng chính của sông Vệ Với lưu lượng dòng chảy lớn Qn = 58,7m3/s, tháng ít nước nhất trong năm đạt từ 14,3 - 23,7m3/s Sự hình thành lũ và số lượng các cơn lũ trên sông quyết định bởi thời gian và cường độ ở tâm mưa sông Vệ Ở đây mưa lũ chỉ kéo dài 3 tháng vào khoảng giữa mùa mưa (tháng
10 - 12), nghĩa là xảy ra chậm hơn 1 tháng và kết thúc trước gần 2 tháng so với mùa mưa
Chế độ thủy văn chịu ảnh hưởng của thủy triều Chế độ thủy triều tại đây có khoảng 2/3 số ngày trong tháng là nhật triều, còn lại là bán nhật triều; thời gian triều lên kéo dài hơn thời gian rút Biên độ thủy triều 1 - 1,5m Chế độ dòng chảy do dòng triều lưu và dòng hải lưu đóng vai trò quyết định
Trang 34Hiện tượng nước dâng có thể do dao động gió mùa hoặc do bão gây ra, có thể đạt độ cao 1,5 - 3,0m tùy theo hướng và vận tốc gió
Vùng hạ lưu chịu ảnh hưởng của thủy triều và bị nước mặn xâm nhập (sự xâm nhập và mức độ mặn của biển ở khu vực này phụ thuộc vào lưu lượng dòng chảy trong sông và biên độ của thủy triều)
2.3.2 Các nguồn tài nguyên
2.3.2.1 Tài nguyên đất đai
Với tổng diện tích tự nhiên 21.388,82ha, đã khai thác đưa vào sử dụng 20.288,81ha (chiếm khoảng 94,86%) Đất chưa sử dụng còn thương đối lớn 1.100,01ha (chiếm khoảng 5,14%) Theo phương pháp phân loại FAO - UNESSCO, trên địa bàn huyện có 4 nhóm đất chính và được chia thành 10 đơn vị đất, cụ thể như sau:
- Nhóm đất cát biển:
Diện tích nhóm đất cát biển khoảng 1.975ha chiếm 9,23% tổng diện tích tự nhiên toàn huyện, phân bố chủ yếu ở các xã ven biển như Đức Lợi, Đức Thắng, Đức Chánh, Đức Minh, Đức Phong Đất cát biển được hình thành từ các trầm tích sông, trầm tích biển, các sản phẩm dốc tụ, lũ tích, từ sự tàn phá các đá giàu thạch anh như granit, quacrit, cát được phân thành 2 đơn vị đất: đất cát mới biến đổi và đất cát điển hình
- Nhóm đất phù sa:
Diện tích 10.540ha, chiếm 49,28% diện tích tự nhiên, phân bố phổ biến ở vùng đồng bằng, được tạo thành chủ yếu do quá trình lắng đọng phù sa của các sông Vệ, sông Thoa Do địa hình phức tạp, các dãy núi xen kẽ với đồng bằng, các vật liệu phù
sa còn được bổ sung do các sản phẩm dốc tụ hay lũ tích từ các dãy núi xung quanh đồng bằng Tuy nhiên do đặc tính nước lũ về và rút đi nhanh nên đất phù sa có thành phần cơ giới nhẹ và trung bình (cát pha thịt trung bình, thịt nhẹ) Căn cứ vào mức độ biến đổi như xuất hiện tầng B Cambic, mức độ glây nông hay sâu, độ no bazơ, thành phần cơ giới của lớp đất mặt, nhóm đất phù sa của huyện được chia thành 3 đơn vị đất: đất phù sa trung tính ít chua, đất phù sa chua và đất phù sa đốm rỉ
Trang 35- Nhóm đất Glây:
Diện tích 467,5ha, chiếm 2,18% tổng diện tích tự nhiên, phân bố ở các xã Đức Phong, Đức Thắng, Đức Nhuận, Đức Thạnh, Đức Lân Thường gặp ở địa hình trũng vùng đồng bằng, thung lũng miền núi, đất thường xuyên dư ẩm Đặc tính glây thể hiện mạnh trong phạm vi từ 0 - 100cm Nguồn gốc ban đầu là đất phù sa, ngoài ra còn có nguồn gốc từ đất cát hoặc các sản phẩm dốc tụ trong thung lũng đồi núi Ở huyện Mộ Đức có 2 đơn vị đất: đất glây ít chua và đất glây chua
- Nhóm đất xám:
Diện tích 6.550ha, chiếm 30,62% tổng diện tích tự nhiên, phân bố ở các xã Đức Thắng, Đức Chánh, Đức Lân, Đức Phong, Đức Phú, Đức Hòa, Đức Tân, thị trấn Mộ Đức, Đức Hiệp, Đức Thạnh, Đức Minh với 3 đơn vị đất: đất xám bạc màu, đất xám kết von và đất xám feralit
2.3.2.2 Tài nguyên nước
Nước là tài nguyên đặc biệt quan trọng, là thành phần thiết yếu của sự sống và môi trường, quyết định sự tồn tại, phát triển bền vững của đất nước, mặt khá cũng có thể gây ra tai họa cho con người và môi trường
Tài nguyên nước bao gồm nguồn nước mặt, nước mưa, nguồn nước ngầm, nước biển Hiện nay, nước phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt của nhân dân trong huyện được lấy từ 2 nguồn:
- Nguồn nước mặt:
Do cấu tạo bề mặt địa hình nên hệ thống sông ngòi ở huyện Mộ Đức khá hạn chế, toàn huyện chỉ có 2 con sông lớn là sông Vệ và sông Thoa
Sông Vệ: Là con sông lớn nhất huyện, bắt nguồn từ vùng phía Bắc huyện Ba
Tơ, thượng nguồn sông Liên với độ cao 1.200m, chảy theo hướng Tây Nam - Đông Bắc dài 91km, chảy xuyên qua các huyện Ba Tơ, Nghĩa Hành, Mộ Đức, Tư Nghĩa đổ
ra Cửa Lỡ (An Chuẩn – Đức Lợi) và cửa Cổ Lũy Tại Mộ Đức, chiều dài qua huyện khoảng 13km, qua các xã Đức Hiệp, Đức Nhuận, Đức Thắng và Đức Lợi Vào mùa mưa, nước lên cao gây lũ lụt nhỏ, đem lại lớp phù sa màu mỡ cho các xã ven sông Vào mùa khô, nước sông được khai thác tưới cho khu vực ven bờ, lưu lượng bình quân đạt từ 14,4 - 23,7m3/s
Trang 36Sông Thoa: Là một nhánh của sông Vệ có chiều dài khoảng 11,5km chảy qua các xã Đức Hiệp, Đức Tân, thị trấn Mộ Đức, Đức Phong nối với sông Hội An ở xã Đức Lân rồi chảy qua xã Phổ An huyện Đức Phổ
Do địa hình chi phối, hầu hết các con sông đều dốc ở thượng nguồn, còn ở hạ lưu thì uốn khúc quanh co, độ dốc ở đáy sông nhỏ, càng về hạ lưu sông càng mở rộng gây ảnh hưởng đến việc tiêu, thoát lũ, là nguyên nhân gây ra úng ngập Còn về mùa khô thì hầu hết các con sông đều cạn Với những đặc điểm nêu trên, việc xây dựng các
hồ đập tưới nước ở thượng lưu không nhiều, công suất không lớn Tuy nhiên, nhờ nguồn nước mưa được lưu giữ khá nhiều trong các sông cộng với kênh mương Thạch Nham, các hồ chứa nước Giếng Tiên, hồ Ông Tới (xã Đức Lân), hồ Đá Bàn (xã Đức Tân), hồ Hóc Sầm, hồ Hóc Mít (xã Đức Phú) nên phần nào đáp ứng được khả năng tưới tiêu, phục vụ sản xuất và sinh hoạt cho nhân dân
- Nguồn nước ngầm:
Qua khảo sát sơ bộ, nguồn nước ngầm ở huyện Mộ Đức khá dồi dào, phân bố hầu hết các xã, thị trấn trong huyện Hiện nay, phần lớn nhân dân trong huyện đang sử dụng nguồn nước ngầm mạch ngang, độ sâu 2-6m phục vụ cho sinh hoạt Tuy nhiên, nguồn nước ngầm mạch nông ở một số xã ven biển bị nhiễm phèn, nhiễm mặn, rất ít giếng khơi có nguồn nước ngọt sử dụng tốt cho ăn uống
Nguồn nước ngầm ở đây thích hợp với khai thác quy mô nhỏ, không thích hợp cho việc xây dựng nhà máy, giếng khoan tập trung công suất lớn
Nhìn chung, môi trường nước của huyện khá dồi dào Nếu được đầu tư và khai thác hợp lý sẽ thuận lợi cho việc phát triển sản xuất và đảm bảo nước sinh hoạt cho nhân dân trong huyện
2.3.2.3 Tài nguyên rừng
Theo kết quả khảo sát, đánh giá tính đa dạng sinh học sơ bộ khái quát như sau:
- Thảm thực vật:
Mang đặc trưng của khí hậu nhiệt đới gió mùa, có độ ẩm cao, bức xạ nhiệt đầy
đủ là điều kiện thuận lợi để các cây nhiệt đới phát triển thành nhiều kiểu rừng có ưu thế rõ rệt Tuy nhiên, thảm thực vật bị tàn phá mạnh đã làm mất đi tính tự nhiên của thảm thực vật nhiệt đới nhiều tầng, nhiều loại cây quý bị giảm đáng kể về số lượng lẫn
Trang 37chất lượng Theo kết quả thống kê năm 2010 ngày 01/01/2011, diện tích đất lâm nghiệp của huyện là 5.339,79ha, chiếm 24,57% tổng diện tích tự nhiên, trong đó diện tích đát có rừng phòng hộ là 2.137,64ha, đất có rừng sản xuất là 3.202,15ha
Hiện nay diện tích đất trống đồi trọc của huyện còn khoảng 1.100,01ha, đây là điều kiện thuận lợi cho việc khai thác trồng rừng nguyên liệu
Nhìn chung, thảm thực vật của huyện chỉ là thảm thực vật thứ sinh Một bộ phận thảm thực vật tự nhiên được thay thế bởi rừng trồng, cây công nghiệp, nông nghiệp và cây ăn quả Thảm thực vật tự nhiên cũng như rừng trồng góp phần cung cấp
gỗ, chất đốt, các lâm sản và cải thiện môi trường, nguồn nước mặt của huyện
- Hệ động vật rừng:
Do yếu tố địa hình phức tạp và thảm thực vật tự nhiên ở đây còn khá nên trong vùng có nhiều động vật hoang dã sinh sống như nhím, chồn, tê tê, kỳ đà và một số loài chim quý…
2.3.2.4 Tài nguyên biển
Với bờ biển dài 22km từ xã Đức Lợi đến Đức Phong, đây là một trong những lợi thế cho việc khai thác, đánh bắt và nuôi trồng thủy sản Hàng năm, trữ lượng khai thác thủy sản ước tính khoảng 1.500 - 1.800 tấn, trong đó sản lượng khai thác cá chiếm
đa phần (1.500 tấn) với nhiều loại cá có giá trị kinh tế cao như cá ngừ, cá thu, cá chuồn, còn lại là các loại thủy sản khác Ngoài ra với điều kiện khí hậu ẩm, nước biển
có độ mặn cao, ổn định thuận lợi cho việc nuôi tôm thẻ chân trắng, cá nước lợ theo hình thức nuôi công nghiệp, bán thâm canh
Bên cạnh đó, Mộ Đức còn có nhiều khu vực bờ biển với những bãi cát đẹp (Đức Chánh, Đức Thắng, Đức Minh, Đức Phong) là tiềm năng để phát triển du lịch, nghỉ ngơi, giải trí
2.3.2.5 Tài nguyên khoáng sản
Trên địa bàn huyện Mộ Đức trữ lượng tài nguyên khoáng sản nhỏ nhưng khá phong phú về chủng loại bao gồm:
Kim loại sắt tập trung ở vùng núi Văn Bân (Đức Chánh, Đức Minh) trữ lượng
27 triệu tấn, hàm lượng Fe2O3 42%; núi Vom (Đức Hiệp), núi Khoáng (Đức Tân), núi Đồi (Đức Hòa) với trữ lượng 12 triệu tấn, hàm lượng Fe2O3 32 - 34% Đặc điểm
Trang 38chung của các mỏ sắt này là các thân quặng đều tồn tại ở dạng lớp phủ trên bề mặt địa hình hoặc dưới lớp phủ bở rời mỏng Mỗi mỏ có diện tích phân bố khoảng từ 2 - 3km2,
bề mặt dày thân quặng lớn nhất đến 6m, mỏng nhất là 0,5m
Bên cạnh đó còn có một số khoáng sản vật liệu xây dựng như: đá ong, cát xây, đất sét hiện đang được khai thác cung cấp cho nhu cầu xây dựng trên địa bàn huyện và các xã lân cận
Ngoài ra, Mộ Đức còn có nguồn nước khoáng nóng ở Thạch Trụ với lưu lượng
6 l/s, nhiệt độ khoảng 750C; tại Tú Sơn lưu lượng 0,5 l/s, nhiệt độ khoảng 650C rất có triển vọng khai thác sử dụng cho phát triển du lịch và khả năng xây dựng nhà máy điện địa nhiệt
2.3.2.6 Tài nguyên nhân văn
Mộ Đức là một huyện thuộc đồng bằng ven biển miền Trung Đại bộ phận dân
số là dân tộc Kinh và một số các dân tộc ít người khác Là vùng đất có bề dày lịch sử, giàu truyền thống cách mạng, nơi đây còn lưu giữ các di tích lịch sử văn hóa cách mạng tiêu biểu cho quá trình đấu tranh bền bỉ, hy sinh oanh liệt dựng nước và chống giặc ngoại xâm của nhân dân ta như:
- Về văn hóa phi vật thể:
+ Có ca dao, hát hố, hát bả trạo, đặc biệt là hát múa sắc bùa ở vùng biển, vùng giáp giới với huyện Đức Phổ (thôn Văn Hà, Thạch Than thuộc xã Đức Phong)
+ Kinh nghiệm làng nghề đúc đồng ở Chú Tượng (xã Đức Hiệp)
+ Ươm tơ dệt lụa ở Phú An (xã Đức Hiệp)
+ Trong văn hóa bác học, thời phong kiến có Phó bảng Nguyễn Bá Nghi với tác phẩm Sư Phần văn thi Tập; cử nhân Nguyễn Trọng Biện có Hà Đê Tấu Tư Tập (chữ Hán)
- Về văn hóa vật thể: Mộ Đức có 28 di tích đã xếp hạng, trong đó có 2 di tích
quốc gia Đáng chú ý như thắng cảnh núi Long Phụng - Chùa Hang Di tích lịch sử thì
có Đền Văn Thánh (Văn Bân), các nhà thờ Tiền Hiền, Trần Cẩm, Nguyễn Mậu Phó, Trần Văn Đạt, tộc Trần ở Văn Bân, nhà thờ Lê Quang Đại (ở xã Đức Nhuận), di tích lịch sử cách mạng và di tích chiến thắng ở địa đạo Đức Chánh, Rừng Nà, Hầm bà Noa,
Trang 39Mỏ Cày, Đồng Mả Có các di tích lưu niệm danh nhân Phạm Văn Đồng, Trần Hàm (xã Đức Tân)
Các di tích ở Mộ Đức đã và đang được bảo tồn, tôn tạo, xây dựng bia bảng Phát huy truyền thống cách mạng và niềm tự hào dân tộc, nhân dân trong huyện đang chuyển mình hòa nhập vào sự đổi mới chung Cùng với sự phát triển kinh tế, làm giàu trên mảnh đất quê hương là việc khôi phục và phát triển các làng nghề truyền thống, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, xây dựng nếp sống văn hóa mới, các làng văn hóa, thôn văn hóa Đây là điều kiện tốt để huyện vững bước đi lên trong sự nghiệp xây dựng nông thôn mới công nghiệp hóa, hiện đại hóa
2.3.3 Tình hình phát triển kinh tế
2.3.3.1 Tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Trong những năm qua, kinh tế Mộ Đức có sự chuyển dịch tích cực và đúng hướng Kinh tế ở khu vực nông thôn đang từng bước phát triển, cơ cấu lao động chuyển dịch theo hướng giảm lao động nông nghiệp, tăng tỷ lệ lao động trong các ngành (dịch vụ, xây dựng, công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp) Mặc dù chịu ảnh hưởng của sự khủng hoảng kinh tế, nhưng nền kinh tế Mộ Đức có những bước phát triển mới
Trong giai đoạn 2001 - 2005, tốc độ tăng trưởng bình quân 5 năm đạt 16,2% Trong đó nông lâm, thủy sản đạt tốc độ bình quân 14,6%/năm, công nghiệp - xây dựng
là 19%/năm, dịch vụ đạt 16,3%/năm Giá trị sản xuất bình quân/người năm 2000 đạt 3,4 triệu đồng (theo giá hiện hành) đứng thứ 8 toàn tỉnh Nhưng đến giai đoạn 2006 -
2010 tăng lên 16,6% Với tốc độ tăng trưởng như trên đã đánh dấu bước chuyển mình của nền kinh tế huyện
Trang 40Bảng 2.1: Một số chỉ tiêu phát triển kinh tế huyện Mộ Đức:
Cơ cấu kinh tế % 100 100 100 100
Nông - lâm - thủy
Trong những năm qua, trồng trọt có những bước phát triển khá tốt Cơ cấu mùa
vụ có nhiều chuyển biến tiến bộ Lúa được coi là cây trồng chủ lực của huyện, bên
cạnh đó là sự mở rộng diện tích cây rau màu góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng đất
nông nghiệp Nhiều giống cây trồng mới, khoa học kỹ thuật được áp dụng vào trong
sản xuất cũng như những chính sách khuyến nông hợp lý