BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP KHẢO SÁT VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ BẢO TỒN CÁC LOÀI CHIM TẠI RỪNG TRÀM TRÀ SƯ, AN
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
KHẢO SÁT VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ BẢO TỒN CÁC LOÀI CHIM TẠI
RỪNG TRÀM TRÀ SƯ, AN GIANG
Họ và tên sinh viên: NGUYỄN THỊ ĐAN TÂM
Tháng 12/2013
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TRƯỜNG ĐH NÔNG LÂM TP HCM Độc lập-Tự do-Hạnh phúc
KHOA MÔI TRƯỜNG-TÀI NGUYÊN *******
PHIẾU GIAO NHIỆM VỤ KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
KHOA: MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGUYÊN
NGÀNH: QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG VÀ DU LỊCH SINH THÁI
HỌ TÊN SV: NGUYỄN THỊ ĐAN TÂM MSSV: 10157161 NIÊN KHÓA: 2010-2014 Lớp: DH10DL
1 Tên đề tài:
“KHẢO SÁT VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ BẢO TỒN CÁC
LOÀI CHIM TẠI RỪNG TRÀM TRÀ SƯ, AN GIANG”
2 Nội dung khóa luận tốt nghiệp:
- Khảo sát các loài chim trên các tuyến ở rừng Tràm Trà Sư
- Tìm hiểu hiện trạng quản lý, bảo tồn ở rừng Tràm Trà Sư
- Điều tra xã hội học và phân tích
- Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả bảo tồn
3 Thời gian thực hiện: tháng 09/2013 đến tháng 12/2013
4 Họ và tên GVHD: ThS Nguyễn Anh Tuấn
Nội dung và yêu cầu của Khóa luận tốt nghiệp đã được thông qua Khoa và Bộ môn Ngày……tháng……năm 2013 Ngày……tháng……năm 2013
Ban chủ nhiệm khoa Giáo viên hướng dẫn
ThS Nguyễn Anh Tuấn
Trang 3KHẢO SÁT VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ BẢO TỒN CÁC LOÀI CHIM TẠI RỪNG TRÀM TRÀ SƯ, AN GIANG
Tác giả
NGUYỄN THỊ ĐAN TÂM
Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu cấp bằng Kỹ sư ngành Quản lý môi trường và du lịch sinh thái
Giáo viên hướng dẫn ThS NGUYỄN ANH TUẤN
Tháng 12 năm 2013
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian học tập tại trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh và thực tập tại Khu bảo vệ cảnh quan Trà Sư đã giúp tôi trưởng thành hơn Sau đề tài này tôi sẽ rời khỏi ghế nhà trường, bước vào cuộc đời với hành trang kiến thức và kinh nghiệm mà thầy cô đã truyền đạt
Trước hết, tôi xin dâng thành quả này lên ba mẹ, người có công sinh thành, dưỡng dục tôi Xin được gởi lời cảm ơn sâu sắc đến ba mẹ và em trai đã luôn ở bên động viên, giúp đỡ tôi trong thời gian qua Những lời động viên, giúp đỡ đó giúp tôi có thêm nghị lực để học tập
Kế đến, tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám Hiệu trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện để tôi có thể hoàn thành tốt khóa học của mình Cảm ơn thầy, cô thuộc khoa Môi trường và Tài nguyên trường của trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh đã truyền đạt những kiến thức quý báu và những kinh nghiệm thực tiễn cho tôi trong suốt những năm học vừa qua
Đặc biệt, xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến ThS Nguyễn Anh Tuấn Người Thầy đã tận tâm hướng dẫn, định hướng, theo sát, động viên, hỗ trợ và đóng góp cho tôi những
ý kiến quý báu trong suốt quá trình tôi thực hiện đề tài này
Tôi xin cảm ơn Ban quản lý Khu bảo vệ cảnh quan Trà Sư đã hết lòng chia sẻ kinh nghiệm và hướng dẫn tôi thực hiện đề tài thực tập tốt nghiệp này Đặc biệt, tôi xin chân thành cảm ơn anh Phạm Tuân, người đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ dạy và giúp đỡ tôi hoàn thành tốt đợt thực tập này
Cuối cùng, cảm ơn tập thể lớp DH10DL những người bạn luôn bên cạnh tôi trong khoảng thời gian sống, học tập và sinh hoạt tại trường Đại học Nông Lâm Thành phố
Trang 5TÓM TẮT
Đề tài “Khảo sát tính đa dạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả bảo tồn các loài chim tại rừng Tràm Trà Sư, An Giang” được tiến hành từ tháng 09 năm 2013 đến tháng 12 năm 2013 tại rừng Tràm Trà Sư tỉnh An Giang
Trong quá trình thực hiện đã sử dụng các phương pháp:
- Thu thập thông tin
- Khảo sát thực địa, bản đồ và khảo sát thực địa kết hợp với bản đồ
- Điều tra xã hội học
- Phỏng vấn chuyên gia
- Tổng hợp và xử lý thông tin
- Phương pháp SWOT
Kết quả thu được khái quát như sau:
- Đã khảo sát trên các tuyến ở rừng Tràm Trà Sư Xác định được các loài chim xuất hiện trên các tuyến khảo sát và đặc tính của chúng
- Đã quan sát được hiện trạng cơ sở vật chất phục vụ cho quản lý, bảo tồn
- Đã tổng hợp và phân tích kết quả điều tra xã hội học từ người dân
- Phỏng vấn và thu thập tài liệu liên quan đến hiện trạng quản lý, bảo tồn ở rừng Tràm Trà Sư
- Tổng hợp, phân tích các kết quả đã thu thập và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả bảo tồn
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN ii
TÓM TẮT iii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC BẢNG viii
DANH MỤC HÌNH ix
Chương 1 1
MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu đề tài 2
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 2
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 2
Chương 2 3
TỔNG QUAN 3
2.1 Tổng quan về các loài chim 3
2.1.1 Phân bố chim trên thế giới 3
2.1.2 Thành phần loài chim ở Việt Nam 3
2.1.3 Đặc điểm hình thái phân loại và đặc điểm sinh thái, tập tính 4
2.2 Bảo tồn đa dạng sinh học 7
2.2.1 Khái niệm đa dạng sinh học 7
2.2.2 Khái niệm bảo tồn đa dạng sinh học 7
2.2.3 Các hình thức bảo tồn 8
2.3 Tổng quan về rừng Tràm Trà Sư 10
2.3.1 Khái quát về rừng Tràm Trà Sư 10
2.3.2 Điều kiện tự nhiên 15
2.3.3 Đa dạng sinh học 16
2.3.4 Điều kiện kinh tế ảnh hưởng tới rừng Tràm Trà Sư 22
Trang 7Chương 3 24
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
3.1 Nội dung nghiên cứu 24
3.2 Phương pháp nghiên cứu 24
3.2.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu và kế thừa 24
3.2.2 Phương pháp bản đồ 24
3.2.3 Phương pháp khảo sát thực địa 25
3.2.4 Phương pháp điều tra xã hội học 25
3.2.5 Phương pháp phỏng vấn chuyên gia 26
3.2.6 Phương pháp tổng hợp và xử lý thông tin 27
3.2.7 Phương pháp SWOT 27
Chương 4 29
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 29
4.1 Kết quả khảo sát các loài chim ở rừng Tràm Trà Sư 29
4.1.1 Thành phần và mức độ xuất hiện các loài chim trên các tuyến khảo sát 29
4.1.2 Đặc điểm và đặc tính của một số loài chim trên các tuyến khảo sát 30
4.2 Hiện trạng quản lý, bảo tồn 37
4.2.1 Hiện trạng cơ sở vật chất phục vụ quản lý, bảo tồn 37
4.2.2 Cơ cấu tổ chức, nhân lực 37
4.2.3 Tuần tra bảo vệ rừng 38
4.2.4 Tình hình phòng cháy chữa cháy 39
4.2.5 Tình hình vi phạm-xử lý 39
4.3 Kết quả điều tra xã hội học từ người dân địa phương 40
4.3.1 Mức độ và mục đích của người dân vào rừng Tràm Trà Sư 40
4.3.2 Hiểu biết, nhận thức của người dân về rừng Tràm Trà Sư và về bảo tồn các loài chim 41
4.3.3 Mức độ và hình thức người dân tham gia nâng cao hiểu biết về bảo tồn và rừng Tràm Trà Sư 43
4.4 Nhận xét chung 44
4.5 Kết quả phân tích SWOT 45
4.5.1 Phân tích SWOT 45
Trang 84.5.2 Vạch ra các giải pháp 46
4.5.3 Tích hợp các giải pháp 47
4.5.4 Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả bảo tồn 54
4.5.4.1 Giải pháp nâng cao nhận thức cộng đồng 54
4.5.4.2 Giải pháp quản lý 54
4.5.4.3 Giải pháp kêu gọi sự hỗ trợ, hợp tác 55
4.5.4.4 Giải pháp chuyển đổi sinh kế 55
Chương 5 56
KẾT LUẬN KIẾN NGHỊ 56
5.1 Kết luận 56
5.2 Kiến nghị 56
TÀI LIỆU THAM KHẢO 57
PHỤ LỤC 58
Trang 9DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
IUCN Tổ chức bảo tồn thiên nhiên thế giới
(International Union for Conservation
of Nature)
UBND Uỷ ban nhân dân
VQG Vườn Quốc Gia
Trang 10DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Thành phần các loài chim ở Việt Nam 3
Bảng 2.2: Hệ thống các KBTTN tại Việt Nam 9
Bảng 3.1: Đối tượng và thông tin cần thu thập từ phiếu điều tra xã hội học 26
Bảng 3.2: Đối tượng và nội dung phỏng vấn 26
Bảng 3.3: Minh họa bảng phân tích SWOT 27
Bảng 4.1: Thành phần và mức độ xuất hiện các loài chim tại khu vực khảo sát 29
Bảng 4.2: Loài chim trong sách đỏ Việt Nam năm 2007 30
Bảng 4.3: Loài chim trong IUCN năm 2009 30
Bảng 4.4: Hiện trạng cơ sở vật chất phục vụ quản lý, bảo tồn 37
Bảng 4.5: Trình độ kiểm lâm 38
Bảng 4.6: Phối hợp tuần tra, kiểm tra bảo vệ rừng-phòng cháy chữa cháy-vườn chim 10 tháng đầu năm 2013 38
Bảng 4.7: Tình hình vi phạm qua các năm 39
Bảng 4.8: Phân tích SWOT 45
Bảng 4.9: Các giải pháp 46
Trang 11
DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1: Rừng Tràm Trà Sư 11
Hình 2.2: Cây Tràm (Melaleuca cajuputi) 17
Hình 2.3: Một số loài thực vật thường gặp tại rừng Tràm Trà Sư 20 Hình 2.4: Các loài chim trong sách đỏ Việt Nam (Cò cổ rắn và Cò Lạo Ấn Độ) 21 Hình 4.1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức 37 Hình 4.2: Biểu đồ thể hiện mức độ người dân vào rừng Tràm Trà Sư 40 Hình 4.3: Biểu đồ thể hiện mục đích người dân vào rừng 40 Hình 4.4: Biểu đồ thể hiện hiểu biết của người dân về rừng Tràm Trà Sư nằm trong
hệ thống rừng đặc dụng Việt Nam và được công nhận là Khu bảo vệ cảnh quan năm
2005 41 Hình 4.5: Biểu đồ thể hiện mức độ bảo tồn của các đối tượng 42 Hình 4.6: Biểu đồ so sánh giữa phần trăm người dân đã từng tham gia và phần trăm người dân mong muốn tham gia các buổi liên quan đến bảo tồn 43
Trang 12
Chương 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Những khu rừng chính là kho báu vô cùng quí giá của con người là nơi lưu trữ các nguồn gen, tính đa dạng sinh học, nguồn dự trữ thực phẩm, một kho dược liệu và đảm bảo cho sự phát triển bền vững nếu như biết cách sử dụng hợp lý trên nhiều lĩnh vực Tuy nhiên, do các hoạt động của con người như mở rộng diện tích canh tác, khai thác không kế hoạch đã và đang tác động, gây nhiều ảnh hưởng xấu tới một số loài Do đó, ngày nay những cánh rừng nằm trong danh mục bảo tồn để được quan tâm bảo vệ tốt hơn
Khi xuôi dòng về các tỉnh ở đồng bằng sông Cửu Long con người như về với vùng quê thanh bình Một năm có tới 6 tháng bị chìm ngập trong nước, nhưng điều thú vị nơi đây cũng chính là 6 tháng này Mùa nước lên được người dân gọi là mùa nước nổi, nước đến thật dịu dàng, hiền hòa và như trở thành một người bạn của người dân xứ này Mùa nước nổi mang theo phù sa sau khi rút, khi đến thì cung cấp cho người dân một khối lượng tôm cá dồi dào cũng như nhiều loài cây khác như lúa ma hay bông điêng điểng
An Giang nằm trong vùng Đồng bằng sông Cửu Long An Giang cũng có sông cũng có những cánh đồng lúa bao la bát ngát
Rừng Tràm Trà Sư thuộc xã Văn Giáo, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang Rừng Tràm Trà Sư là một trong những vùng đất ngập nước nổi tiếng ở đồng bằng sông Cửu Long Trước đây, rừng Tràm Trà Sư là cánh rừng tự nhiên bị bom đạn trong chiến tranh chống Mỹ cày xới, sau khi hòa bình lại bị con người khai thác bừa bãi Ngày nay, rừng Tràm Trà Sư được quy hoạch nằm trong hệ thống rừng đặc dụng Việt Nam
và được công nhận là Khu bảo vệ cảnh quan năm 2005 Rừng Tràm Trà Sư với diện tích khá khiêm tốn nằm giữa mảng xanh của những cánh đồng lúa, hệ sinh thái rừng ngập nước với tài nguyên thiên nhiên phong phú và đa dạng Đặc biệt, rừng Tràm Trà
Sư thu hút trên 70 loài chim trong đó có các loài chim quý hiếm Tuy nhiên, những
Trang 13năm gần đây hiệu quả bảo tồn chưa cao, chim có xu hướng giảm Do đó, tôi xin thực
hiện: “Khảo sát và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả bảo tồn các loài chim tại
rừng Tràm Trà Sư, An Giang” để hiểu rõ hơn các loài chim, hiện trạng quản lý, bảo
tồn và các tác động, nhận thức của người dân về bảo tồn từ đó góp phần bảo tồn tốt hơn các loài chim tại rừng Tràm Trà Sư
1.2 Mục tiêu đề tài
- Khảo sát, tìm hiểu một số loài chim sống tại rừng Tràm Trà Sư
- Khảo sát, tìm hiểu hiện trạng quản lý, bảo tồn
- Tìm hiểu mức độ, mục đích người dân vào rừng, nhận thức người dân về bảo tồn và hình thức người dân mong muốn tham gia nâng cao hiểu biết về bảo tồn
- Đưa ra các giải pháp nhằm hạn chế tác động xấu tới các loài chim và góp phần nâng cao hiệu quả bảo tồn các loài chim
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Các loài chim tại rừng Tràm Trà Sư
- Người dân sống xung quanh rừng Tràm Trà Sư
- Ban quản lý rừng Tràm Trà Sư
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: 01/09/2013 đến 01/12/2013
- Không gian nghiên cứu: Rừng Tràm Trà Sư thuộc xã Văn Giáo, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang và các ấp xung quanh rừng
- Giới hạn đề tài: do thời gian thực hiện khóa luận còn hạn chế về thời gian nên:
Khảo sát các loài chim ở xung quanh rừng và các khoảnh 1a, 3a, 6a ở rừng Tràm Trà Sư
Điều tra người dân thuộc ấp Long Sơn, ấp Văn Trà và ấp Vĩnh Đông
Hiện trạng quản lý, bảo tồn của kiểm lâm tại rừng Tràm Trà Sư
Trang 14Chương 2
TỔNG QUAN 2.1 Tổng quan về các loài chim
2.1.1 Phân bố chim trên thế giới
Trên thế giới có khoảng 9.723 loài chim thuộc 31 bộ, 194 họ, 2.161 chi đã được
mô tả Các loài chim hiện nay phân hóa để thích nghi với điều kiện sống, theo 3 hướng: chim chạy, chim bơi và chim bay
Chim phân bố không đều trên mặt đất Phần lớn chim tập trung ở vùng nhiệt đới, nhất là vùng rừng nhiệt đới nơi có điều kiện sống thuận lợi nhất cho các loài chim Càng xa về hướng các cực (phương Bắc và phương Nam) số loài chim càng giảm dần
và ở hai cực của Trái Đất là nơi có số loài chim ít nhất
Vùng nhiệt đới và á nhiệt đới có sinh cảnh đa dạng, nhất là các khu rừng rậm Đông Nam Á, châu Đại Dương, châu Phi, Nam Mỹ, châu Đại Dương là các vùng có nhiều loài chim
2.1.2 Thành phần loài chim ở Việt Nam
Việt Nam có khoảng 866 loài chim, thuộc 19 bộ và 81 họ
Việt Nam là một trong những quốc gia đa dạng về chim, chiếm khoảng 10% tổng
số chim trên thế giới Trong đó, có nhiều loài phổ biến nhưng cũng có nhiều loài quý hiếm, đặc hữu đối với Việt Nam, khu vực và trên thế giới
Bảng 2.1: Thành phần các loài chim ở Việt Nam
Trang 152.1.3 Đặc điểm hình thái phân loại và đặc điểm sinh thái, tập tính
2.1.4.1 Đặc điểm hình thái phân loại
Những loài chim sống gần với môi trường nước, thức ăn của chúng thường là
những loài động vật thủy sinh Những đặc điểm về hình thái các cơ quan cơ thể chim
giúp chúng thích nghi trong môi trường sống như: chân, các ngón chân với các màng
nối là một đặc điểm quan trọng phân biệt giữa các bộ của nhóm chim Độ dài của mỏ,
các ngón chân trước và sau cũng sử dụng để phân loại các bộ Những đặc điểm hình
thái khác cũng được sử dụng để phân biệt họ, chi, loài như: hình dạng đuôi (đuôi chẻ,
đuôi tù), các vệt màu lông mặt trên và dưới của cánh, …
2.1.4.2 Đặc điểm sinh thái, tập tính
2.1.4.2.1 Thức ăn của chim
Chim có cường độ trao đổi chất rất mạnh nên nhu cầu thức ăn hằng ngày của chim
là rất lớn Do vậy, thức ăn là một trong những yếu tố có ảnh hưởng đến đời sống của
các loài chim
Thức ăn của chim còn thay đổi theo tuổi, theo mùa và phụ thuộc vào mức độ giàu
nghèo thức ăn trong vùng
Trang 162.1.4.2.2 Hoạt động ngày đêm của chim
Nhịp điệu hoạt động ngày đêm của chim ít nhiều chịu ảnh hưởng của độ chiếu
sáng của Mặt Trời Thời gian thức dậy của chim thay đổi theo loài và theo mùa
Đa số các loài chim chuẩn bị đi kiếm ăn vào sáng sớm và chiều mát, chim bắt đầu
về trước khi hoàng hôn đến Chỉ có một số ít loài đi ăn đêm như Vạc, Cú mèo, …
Trong khoảng thời gian từ 18 giờ đến 19 giờ và trở về vào lúc hừng sáng Thông
thường, những loài chim kiếm ăn vào ban ngày sẽ kiếm ăn thường từ 4 giờ đến 5 giờ
và về từ 17 giờ đến 19 giờ Những ngày mưa hay thời tiết thay đổi thất thường, chim
bay đi và về thường xuyên hơn, chúng tha rác về tổ hoặc kiếm mồi cho chim non Vào
tháng khô những sân chim sẽ trở nên vắng vẻ hơn
2.1.4.2.3 Tổ chim
Mỗi cặp thường làm tổ trong một khu vực nhất định từ năm này sang năm khác
Chim non sau khi trưởng thành thường đến làm tổ ở gần nơi đẻ Như vậy, nơi làm tổ
của quần thể thường được chiếm cứ trong một thời gian dài Nơi làm tổ của chim
thường do chim trống quyết định Tuy nhiên, một số loài như Vịt, chim Cắt lại do
chim mái chọn nơi làm tổ
Phương thức làm tổ đặc trưng vì có tính di truyền đối với từng loài chim Mỗi loài
chim có cách làm tổ riêng, bằng những vật liệu ưa thích Cách thức làm tổ không chỉ
đặc trưng cho từng loài mà còn cho cả nhóm loài (họ, chi, …) Nếu xét tổ của các loài
chim sẽ thấy cấu tạo tổ của các loài chim rất đa dạng, từ đơn giản đến phức tạp Có thể
có các dạng làm tổ:
- Dạng làm tổ tập đoàn có khi không tạo thành tổ rõ ràng: một số chim ở bờ nước
không làm tổ, đẻ trứng trên bãi cát, đám sỏi, khe đá Ví dụ như: Choi choi,
Mòng biển Bắc cực, …
- Dạng làm tổ bằng sắp xếp lá cây thô sơ: chỉ cần tìm vị trí rồi lót ít lá khô, sợi cỏ
vào làm thành cái tổ Chim Xít tìm một đám lúa hay bụi cói cao hơn mặt nước
một chút tạo thành hình cái tổ rồi nằm lên trên Cò, Vạc, …thường tha những
cây khô mang về gác lên cây làm tổ Chúng có thể xếp các cành cây lên một
đống, có khi cao đến hàng mét, rồi dàn ra cho mặt trên lõm xuống một chút để
đẻ trứng và chim non khỏi lăn ra khỏi tổ Sự sắp xếp thành một cái tổ không
Trang 17kỹ lưỡng hơn Nguyên liệu làm tổ cũng đa dạng hơn so với các loài chim lớn Chúng lựa chọn cành cây nhỏ, lá khô, rơm, rạ, cỏ, bông tha về tổ Tổ chim Sẻ, Chích chòe làm tổ có thành cao tạo thành tổ hình cái bát
- Dạng làm tổ bằng cách xâu các lá cây hay đan các cành cỏ với nhau: nhiều loài chim nhỏ còn biết cách dùng mạng nhện, sợi cỏ mảnh khâu lá cây lại với nhau thành hình cái bát, rồi lót bên trong những cỏ mịn như bông hay sợi thực vật mềm Nhiều loài còn biết làm tổ có mái che để che nắng, che mưa Tổ chim Rồng rộc được đan bằng các sợi cỏ hoặc sợi thực vật mềm và được treo và gắn chặt vào đầu cành Để tổ không bị đung đưa trước gió nhẹ, Rồng rộc đặt dưới đáy tổ một cục bùn khá to làm cho tổ cỏ khô trở nên nặng hơn
- Dạng làm tổ trong hốc cây: tha cỏ, lá khô về lót vào cây làm tổ như chim Gõ kiến
- Dạng làm tổ trong đất: các loài chim Bói cá, Bồng chanh thường đào hang ở thành bờ ao làm tổ nuôi con Đáy hang có khi sâu đến hàng mét
- Các dạng tổ đặc biệt: như tổ chim Yến lấy nước bọt trộn với vật liệu xây tổ
2.1.4.2.4 Hiện trạng di cư của chim
Sự di cư của chim là một hiện tượng thích nghi sinh học để chống lại những điều kiện bất lợi của môi trường như sự thay đổi khí hậu, nguồn thức ăn cạn kiệt
Khác với các loài định cư là các nhóm loài di cư Nhóm này sinh trưởng ở các vùng ôn đới hay hàn đới như Mông Cổ, Bắc Trung Quốc, … đến cuối mùa thu chúng rời khỏi quê hương giá lạnh đến các vùng ấm áp hơn như Việt Nam, Malaisia, … để trú ngụ, vào đầu xuân chúng lại bay về phương Bắc làm tổ Ở Việt Nam, các loài chim
di cư từ tháng 11 và tháng 3 năm sau lại bay đi
Để nghiên cứu sự di cư của chim, ngày nay người ta có nhiều phương pháp như đeo vòng và sử dụng máy định vị là phương pháp không cần đánh bắt mà vẫn biết được sự xuất hiện của chim Hiện nay, trên thế giới có hàng triệu loài chim được đeo vòng Các loài di cư với quãng đường dài ngắn khác nhau, độ cao và tốc độ bay khác nhau, ban ngày hay ban đêm và bay theo đội hình cũng khác nhau Ngỗng, Vịt bay với tốc độ 80-90 km/h và độ cao 200-1300 m, Sếu bay cao 800-2400 m
(Nguồn: Nguyễn Thị Ngọc Bích)
Trang 182.2 Bảo tồn đa dạng sinh học
2.2.1 Khái niệm đa dạng sinh học
ĐDSH là phong phú về các nguồn gen, các loài và các hệ sinh thái trong một khu vực hoặc trên phạm vi toàn cầu ĐDSH được chia làm 3 cấp độ với đặc điểm khác nhau và giữ vai trò khác nhau đối với sinh quyển trên Trài Đất Đó là đa dạng gen, đa dạng loài và đa dạng hệ sinh thái
Đa dạng loài là số lượng loài và sự đa dạng của các loài được tìm thấy tại một khu vực nhất định tại một vùng nào đó
Loài là yếu tố cơ bản của cơ chế tiến hóa và sự hình thành cũng như tuyệt chủng Loài là tác nhân chính chi phối ĐDSH Mặt khác, các nhà phân loại học không thể nhận biết và phân loại loài với độ chính xác tuyệt đối, khái niệm loài rất khác nhau giữa các nhóm sinh vật Hơn nữa, số lượng loài đơn thuần cho biết một phần về đa dạng sinh học Ẩn chứa trong thuật ngữ này là khái niệm mức độ hoặc quy mô của đa dạng, tức là những sinh vật có sự khác biệt rõ rệt về đặc điểm đặc thù sẽ có vai trò quan trọng đối với ĐDSH so với những sinh vật giống nhau Tầm quan trọng về mặt sinh thái học của một loài có thể ảnh hưởng trực tiếp đến cấu trúc quần xã và do đó ảnh hưởng đến ĐDSH
2.2.2 Khái niệm bảo tồn đa dạng sinh học
Bảo tồn đa dạng sinh học là quá trình quản lý các tác động qua lại giữa con người với các gen, các loài và hệ sinh thái nhằm mang lại lợi ích lớn nhất cho thế hệ hiện tại
và vẫn duy trì tiềm năng của chúng để đáp ứng nhu cầu và nguyện vọng của các thế hệ tương lai
Bảo tồn và quản lý ĐDSH là sự cố gắng của loài người trong việc hoạch định và thực thi một số mục tiêu sau:
- Giữ gìn và sử dụng hợp lý ĐDSH, tài nguyên sinh học và đảm bảo sự phân chia một cách công bằng lợi ích thu được từ các nguồn tài nguyên sinh vật
- Phát triển khả năng con người, nguồn tài chính, cơ sở hạ tầng và thể chế để thực hiện phát triển bền vững ĐDSH
- Tạo lập được các thể chế phù hợp để thúc đẩy sự cộng tác cần thiết giữa chính phủ, kinh doanh và các cá nhân có hướng lợi từ nguồn tài nguyên sinh vật Như
Trang 19ĐDSH về các mặt: cung cấp nguyên vật liệu cần thiết cho con người, các giá trị
về văn hóa, xã hội và các dịch vụ về sinh thái Bảo vệ đa dạng sinh học cũng bao gồm tất cả các hoạt động liên quan đến các loài, nguồn gen trong mỗi loài
và các sinh cảnh, cảnh quan, thông qua bảo tồn hệ sinh thái và việc khai thác hợp lý các cây, con và cả các nguồn tài nguyên vi sinh vật để phục vụ cho cuộc sống con người, cho đến việc sản xuất và phân phối các lợi nhuận có được từ các tài nguyên sinh vật
(Nguồn: Nguyễn Linh Em)
2.2.3 Các hình thức bảo tồn
Để ngăn ngừa sự suy thoái ĐDSH, Việt Nam đã tiến hành công tác bảo tồn đa dạng sinh học khá sớm Hai hình thức bảo tồn ĐDSH phổ biến được áp dụng ở Việt Nam là: Bảo tồn nội vi hay nguyên vị, tại chỗ (Insitu conservation) và bảo tồn ngoại vi hay chuyển vị (Exsitu conservation)
2.2.3.1 Bảo tồn nội vi (Insitu conservation)
Phương pháp bảo tồn nội vi là nhằm bảo tồn các hệ sinh thái và các sinh cảnh tự nhiên để duy trì và khôi phục quần thể các loài trong môi trường tự nhiên của chúng Bảo tồn nội vi bao gồm các phương pháp và công cụ nhằm mục đích bảo vệ các loài, các chủng và các sinh cảnh, các hệ sinh thái trong điều kiện tự nhiên Bảo tồn nội
vi được thực hiện bằng cách thành lập các khu bảo tồn và đề xuất các biện pháp quản
lý phù hợp
Bảo tồn nội vi là hình thức bảo tồn chủ yếu ở Việt Nam trong thời gian vừa qua Kết quả của phương pháp bảo tồn này thể hiện rõ nhất là đã xây dựng và đưa vào hoạt động một hệ thống rừng đặc dụng
Hệ thống các KBTTN tại Việt Nam
Trang 20Bảng 2.2: Hệ thống các KBTTN tại Việt Nam
T.T Loại Số lượng Diện tích (ha)
IIa Khu dự trữ thiên nhiên 48 1.100.892
IIb Khu bảo tồn loài sinh cảnh 12 83.480
Tổng cộng (Khu bảo tồn) 128 2.400.092
(Nguồn: Nguyễn Linh Em, số liệu thống kê đến 10/2006 Cục Kiểm lâm và
Viện Điều tra quy hoạch rừng )
2.2.3.2 Bảo tồn ngoại vi (Exsitu conservation)
Phương pháp bảo tồn ngoại vi bao gồm các hoạt động nhằm bảo tồn các loài mục tiêu bên ngoài nơi phân bố hay môi trường tự nhiên của chúng
Bảo tồn ngoại vi bao gồm các vườn thực vật, vườn động vật, các bể nuôi thủy hải sản, bộ sưu tập vi sinh vật, các bảo tàng, các nhân hàng hạt giống, bộ sưu tập các chất mầm, mô cấy, … các biện pháp gồm di dời các loài cây, con và các vi sinh vật ra khỏi môi trường tự nhiên của chúng Mục đích của việc di dời là để nhân giống, lưu giữ, nhân nuôi vô tính hay cứu hộ trong trường hợp:
- Nơi sinh sống bị suy thoái hay hủy hoại không thể lưu giữ lâu hơn các loài
- Dùng làm vật liệu cho nghiên cứu, thực nghiệm và phát triển sản phẩm mới, để nâng cao kiến thức cho cộng đồng
Hệ thống bảo tồn ngoại vi đã hỗ trợ tương đối hiệu quả cho công tác nghiên cứu, học tập về bảo tồn đa dạng sinh học Nhiều đề tài nghiên cứu thành công ở nhiều khía cạnh trong công tác bảo tồn ngoại vi tại các vườn thực vật và vườn động vật
Các vườn thực vật, lâm phần bảo tồn nguồn gen cây rừng, vườn cây thuốc và vườn động vật đã sưu tập được số lượng loài và cá thể tương đối lớn Trong số đó, nhiều loài cây rừng bản địa đã được nghiên cứu và đưa vào gây trồng thành công; nhiều loài động vật hoang dã đã gây nuôi sinh sản trong điều kiện nhân tạo Đặc biệt là các vườn cây thuốc chuyên đề hoặc các vườn cây thuốc trong các vườn thực vật đã đóng góp
Trang 21đáng kể trong công tác nghiên cứu dược liệu và gây trồng phát triển cây thuốc nam cung cấp nguyên liệu cho ngành dược
Bảo tồn ngoại vi đã đóng góp đáng kể cho bảo tồn nội vi đối với các loài động thực vật hoang dã đã và đang bị diệt chủng ngoài tự nhiên Một số loài động thực vật hoang dã đã bị tiêu diệt trong tự nhiên đã được gây nuôi động vật thành công như: Hươu sao, Hươu xạ, Cá sấu hoa cà; thực vật như: Sưa, Lim xanh, …
Các hình thức bảo tồn ngoại vi chủ yếu hiện nay:
về phía Đông Bắc và cách Campuchia 10km về phía Tây Bắc
Trang 22Hình 2.1: Rừng Tràm Trà Sư
Rừng Tràm Trà Sư theo qui hoạch ban đầu trồng để khai thác gỗ vì mục đích kinh
tế Từ năm 1985 - 1990 đến nay, rừng Tràm Trà Sư trở thành nơi trú ngụ của rất nhiều loài chim cò
Trà Sư chưa có tên trong bất kỳ quyết định nào của Chính phủ liên quan đến hệ thống rừng đặc dụng quốc gia (Bộ NN&PTNT, 1997, Cục Kiểm lâm, 2003) Theo kết quả khảo sát của Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật và BirdLiffe International, Trà
Sư được đánh giá là nơi có tầm quan trọng Quốc tế trong công tác bảo tồn đất ngập nước tại đồng bằng sông Cửu Long Sau đó cả hai tổ chức đã đề xuất chính quyền địa phương xây dựng khu bảo vệ tại khu vực (Buckton et al 1999)
Ngày 23/06/2003, UBND tỉnh An Giang đã đệ trình Công văn số 22/TT-UB lên
Bộ NN&PTNT yêu cầu cho phép xây dựng kế hoạch đầu tư thành lập khu bảo tồn thiên nhiên tại Trà Sư Bộ NN&PTNT sau đó đã phê duyệt theo yêu cầu của tỉnh bằng Công văn số 1609/CV-BNN-KL ngày 25/06/2003, đồng thời chỉ định Phân viện điều tra quy hoạch rừng II (Thành phố Hồ Chí Minh) chuẩn bị xây dựng kế hoạch đầu tư Đến nay, kế hoạch đầu tư và ban quản lý vẫn chưa được xây dựng tại Trà Sư Năm
2003, rừng Tràm Trà Sư thuộc sự quản lý của Ban Quản lý Rừng Đặc dụng và Phòng
hộ tỉnh An Giang thuộc Chi cục Kiểm lâm An Giang
Rừng Tràm Trà Sư được phê duyệt là khu bảo vệ cảnh quan theo quyết định số 1530/QĐ-CTUB ngày 27/3/2005 của UBND tỉnh An Giang Quản lý trực tiếp khu rừng Tràm Trà Sư là Trạm Kiểm lâm Trà Sư, trực thuộc Chi cục Kiểm lâm An Giang
Trang 232.3.1.3 Các cơ sở pháp lý
- Công văn số 1609/CV-BNN-KL ngày 25 tháng 6 năm 2003 của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn thống nhất ý kiến với đề nghị xây dựng Khu bảo tồn thiên nhiên Trà Sư, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang
- Công văn số 28/CV KL ngày 5 thảng năm 2004 của Chi Cục Kiểm Lâm An Giang đề nghị Phân Viện Điều Tra Quy Hoạch Rừng II giúp xây dựng dự án bảo tồn thiên nhiên Trà Sư, huyện Tịnh Biên Tình An Giang
- Quy chế quản lý 3 loại rừng kèm theo quyết định số 08/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ ngày 11 tháng 01 năm 2001
- Quyết định số 245/1998/QĐ-TTg ngày 21/12/1998 của Thủ tướng chính phủ về thực hiện trách nhiệm quản lý nhà nước về rừng và đất nông nghiệp
- Quyết định số 661/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ về chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng đến năm 2010
- Văn bản 95/CP-NN ngày 23/1/2003 về cơ chế trồng rừng thuộc chương trình
661
- Nghị định 109/2003/NĐ-CP ngày 23/9 năm 2003 về việc Bảo vệ và phát triển các vùng đất ngập mặn
- Luật bảo vệ và phát triển rừng sửa đổi, ban hành tháng 1 năm 2005
2.3.1.4 Các mục tiêu khi thiết lập Khu bảo vệ cảnh quan Trà Sư
Việc xây dựng Khu bảo vệ cảnh quan Trà Sư nhằm thực hiện các mục tiêu sau đây:
- Bảo vệ những sinh cảnh tự nhiên tiêu biểu và độc đáo của hệ sinh thái đất ngập nước ở vùng đồng bằng ngập nước ven sông Cửu Long
- Bảo tồn và tái tạo sự đa dạng sinh học của hệ sinh thái đất ngập nước, bảo vệ nơi cư trú của các loài sinh vật bản địa, đặc biệt là các loài động vật quý hiếm Cung cấp nguồn giống sinh vật tự nhiên (thực vật, thủy sản và động vật hoang dã) cho vùng Tây sông Hậu
- Bảo vệ và phát huy những giá trị về cảnh quan thiên nhiên và đa dạng sinh học của hệ sinh thái đất ngập nước, tổ chức các hoạt động du lịch sinh thái để cung cấp nơi nghỉ ngơi, giải trí, nghiên cứu, học tập, tuyên truyền giáo dục về bảo vệ môi trường, quản lý tài nguyên thiên nhiên
Trang 24- Sử dụng một cách khôn ngoan môi trường và tài nguyên của hệ sinh thái đất ngập nước để đáp ứng một cách lâu dài và bền vững một số nhu cầu về gỗ, củi, thủy sinh, rau xanh cho nhân dân địa phương
- Duy trì và phát huy các giá trị của hệ sinh thái đất ngập nước đối với việc bảo
vệ, duy trì căn bằng sinh thái của khu vực
2.3.1.5 Các phân khu và chức năng của các phân khu trong Khu bảo vệ cảnh quan rừng Tràm Trà Sư
Tổng diện tích của Khu bảo vệ cảnh quan rừng Tràm Trà Sư là 845 ha, được quy hoạch thành 3 phân khu:
2.3.1.5.1 Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt
Gồm các khoảnh 2a, 2b, 5a, 5b, 6a và 6b
Tổng diện tích của các khoảnh này là 441 ha
Hiện trạng đất đai trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt:
- Đất có rừng là 373 ha (32 ha rừng Tràm thành thục, 295 ha rừng Tràm trung niên và 46 ha rừng Tràm non)
- Đất trống có cỏ và bãi ăn của chim cò: 36 ha
- Cung cấp địa bàn du lịch sinh thái giáo dục bảo vệ môi trường
2.3.1.5.2 Phân khu phục hồi hệ sinh thái tự nhiên
Phân khu này gồm các khoảnh 1a,1b, 4a, 4b
Tổng diện tích là 245 ha
Hiện trạng đất đai trong phân khu phục hồi hệ sinh thái tự nhiên gồm:
Trang 25- Đất có rừng là 186 ha (51 ha rừng Tràm thành thục, 103 ha rừng Tràm trung niên và 32 ha rừng Tràm non)
- Đất trống có cỏ và bãi ăn của chim cò: 29 ha
Vùng đệm là vùng chuyển tiếp giữa Khu bảo vệ cảnh quan Trà Sư với vùng kinh
tế nhằm giảm nhẹ những áp lực kinh tế-xã hội từ vùng kinh tế vào Khu bảo vệ cảnh quan Trà Sư Vùng đệm bao quanh Khu bảo vệ cảnh quan Trà Sư có ranh giới là:
- Phía Bắc là kênh đào số 2
- Phía Đông là kênh ranh giới số 12
Trang 26- Phía Nam là kênh bốn mét
- Phía Tây là kênh Trà Sư
Diện tích vùng đệm là 643 ha, hiện trạng sử dụng đất đai hiện nay là đất nông nghiệp, trồng lúa nước, rừng Tràm và kênh rạch
Về quản lý: vùng đệm không trực thuộc sự quản lý của Khu bảo vệ cảnh quan Trà Sư Diện tích của vùng đệm không tính vào diện tích của Khu bảo vệ cảnh quan Trà Sư
Các hoạt động ở vùng đệm phải thống nhất với mục tiêu chung của Khu bảo vệ cảnh quan Trà Sư, không gây tác động xấu đối với Khu bảo vệ cảnh quan Trà Sư
2.3.2 Điều kiện tự nhiên
2.3.2.1 Địa hình-điạ chất
2.3.2.1.1 Địa hình
Rừng Tràm Trà Sư nằm trong ĐBSCL nên có địa hình bằng phẳng
2.3.2.1.2 Đặc điểm địa chất
Đất ở rừng Tràm Trà Sư thuộc loại đất than bùn chứa phèn
Nhóm đất này được hình thành do quá trình biển tiến cách đây 6.000 năm để lại, đặc biệt trong môi trường vũng vịnh biển nông Trên đó có các loài thực vật phát triển mạnh mẽ như: Đước, Sú, Mắm Các loại thực vật này thường tích lũy chất lưu huỳnh trong thân và rễ dưới dạng các hợp chất hữu cơ Khi những khu rừng này bị vùi lấp, xác của chúng được các vi sinh vật yếm khí phân hủy và thải lưu huỳnh ra môi trường dưới dạng sunfit Chúng kết hợp với các ion kim loại sắt, nhôm vừa được dòng nước mang đến từ lục địa tạo thành những lớp đất chứa nhiều pyrite Pyrite chứa trong tầng trầm tích đầm lầy còn gọi là tầng phèn tiềm tàng, nhưng chúng lại dễ bị oxy hóa trong điều kiện tiếp xúc với không khí
Loại đất này được đặc trưng bởi lớp than bùn dày, xốp bên dưới thường phân bố dọc theo các thung lũng sông cổ và lung đìa Trong đất than bùn độ khoáng tương đối thấp và nghèo nàn nhưng bù lại hàm lượng đạm rất cao; được phân bố dọc theo thung lũng sông cổ ở Tri Tôn, ven theo các cánh rừng Tràm Trà Sư, một số ở các xã Lương
An Trà, Tà Đảnh
2.3.2.2 Khí hậu-thủy văn
Trang 27Khu vực này chịu ảnh hưởng của 2 mùa gió là: gió mùa Tây Nam và gió mùa Đông Bắc
- Gió Tây Nam mát và ẩm nên gây ra mùa mưa
- Gió mùa Đông Bắc thổi vào An Giang xuất phát từ biển nhiệt đới phía Trung Quốc, nhiệt độ cao và có độ ẩm lớn, hanh khô có phần nắng nóng
Nhiệt độ trung bình cao và ổn định Nhiệt độ chênh lệch giữa các tháng trong mùa khô khoảng 1,50-30, các tháng mùa mưa trên dưới 10 Nhiệt độ cao nhất trong năm thường xuất hiện vào tháng 4, dao động trong khoảng 360-380 Nhiệt độ thấp nhất trong năm thường xuất hiện vào tháng 10 dưới 180
Mùa mưa thường bắt đầu vào tháng 5 và kết thúc vào tháng 11 Tổng lượng mưa mùa mưa chiếm 90% tổng lượng mưa năm
Trong mùa khô nắng nhiều, độ ẩm không khí thấp nên lượng bốc hơi lớn, bình quân 110 mm/tháng, cao nhất khoảng 160 mm/tháng xuất hiện vào tháng 3 Trong mùa mưa, lượng bốc hơi thấp, bình quân 85 mm/tháng, nhỏ nhất khoảng 52 mm/tháng xuất hiện vào tháng 9 hoặc tháng 10, là thời kỳ có mưa nhiều, độ ẩm cao
2.3.2.2.2 Chế độ thủy văn
Nằm trong khu vực ĐBSCL nên rừng Tràm Trà Sư không thoát khỏi qui luật: 6 tháng ngập nước, 6 tháng khô Vào những tháng ngập nước, rừng Tràm Trà Sư như một ốc đảo xanh giữa biển nước mênh mông trắng xoá
Chênh lệch giữa triều lên và triều xuống (biên độ triều) thường xấp xỉ nhau Trong một năm, biên độ triều của các trạm ven sông có những biến động mạnh Vào mùa kiệt, biên độ triều tăng dần và đạt trị số lớn nhất vào tháng 4 hoặc tháng 5 Tiếp đó mùa lũ về, biên độ triều giảm và đạt trị số nhỏ nhất vào tháng 9 hoặc tháng 10
Ban quản lý rừng đã cho đào một con kênh bao chung quanh để bảo vệ trong những tháng khô, ngăn không cho kẻ lạ xâm nhập với mục đích xấu và nhằm giữ nước cho hệ sinh thái của rừng
Trang 28- Kiểu quần xã thực vật thân gỗ ngập nước chua phèn
Quần xã này chỉ có một loài cây là cây Tràm (Melaleuca cajuputi) được trồng từ
năm 1983 trở lại đây (tập trung nhiều vào những năm 1990-1996) chiếm diện tích lớn tới 85% diện tích tự nhiên và phân bố đều khắp khu vực rừng Tràm Trà Sư
Hình 2.2: Cây Tràm (Melaleuca cajuputi)
Sinh cảnh rừng Tràm gần thành thục: diện tích không lớn, tập trung nhiều trong các khoảnh 1a, 1b, 2a, 2b và phần nhỏ diện tích của khoảnh 3a
Độ tàn che 0,5-0,6
Mật độ bình quân 7.900 cây/ha (cao nhất là 11.100 cây/ha)
Đường kính 15 cm (biến động từ 14-16 cm)
Chiều cao bình quân là 14 m (biến động từ 13-15 m)
Độ ngập sâu của nước trong mùa mưa 1,2-2 m
Cây Tràm được trồng từ năm 1983-1984 Sinh cảnh Tràm gần thành thục hiện không có tác động và được bảo vệ nghiêm ngặt vì có bãi Dơi quạ cư trú đông ở khoảnh 1a Do thời gian ngập nước quá dài nên có nhiều cây Tràm bị đổ gốc ngã nghiêng trong rừng tạo ra nhiều chỗ trống để cho cỏ và Năng phát triển
Sinh cảnh rừng Tràm trung niên: có diện tích lớn nhất và tập trung ở các khoảnh 1a, 2a, 2b, 3a, 3b, 4a, 4b, 5a, 5b, 6a và 6b
Trang 29 Độ ngập sâu của nước trong mùa mưa 1,1-1,4 m
Cây Tràm (Melaleuca cajuputi) ở đây được trồng từ năm 1990 đến năm 1996 và
được chăm sóc bảo vệ tốt nên sinh trưởng phát triển tốt với mật độ khá dày so với sinh cảnh Tràm gần thành thục
Sinh cảnh Tràm non: có diện tích nhỏ, phân tán ở các khoảnh 1a, 1b, 4a, 5b, 6b
Độ tàn che 0,3-0,5
Mật độ cây khá dày 7.600 cây/ha (biến động từ 4.800-10.300 cây/ha)
Đường kính 4 cm (biến động từ 3-7 cm)
Chiều cao bình quân khoảng 5,5 m (biến động từ 3-8 m)
Độ ngập sâu của nước trong mùa mưa 1,2-1,5 m
Cây Tràm được trồng từ năm 1997-2003 trên những nơi đất trống cho nên về sinh trưởng, phát triển và mật độ không đồng nhất
- Kiểu quần xã thực vật thân gỗ trên bờ kênh, rạch:
Sinh cảnh thực vật gỗ Bạch đàn (Eucalytus) và Tràm Úc (Melaleuca leucadendra): trồng xen kẽ với nhau sinh trưởng và phát triển khá tốt, chỉ
được trồng 2 bên bờ kênh có độ cao không bị ngập nước vào mùa mưa
Sinh cảnh thực vật thân gỗ cây Tràm Úc (Melaleuca leucadendra) và Tràm (Melaleuca cajuputi): được trồng trên các đường kênh phân khoảnh Cả hai
loài Tràm này được trồng cùng một thời điểm 1-2 năm đều có sự sinh trưởng và phát triển tốt
- Kiểu quần xã cây thân thảo ngâp nước trên đất chua:
Sinh cảnh cỏ Chỉ (Cynodon dactylon) và cỏ rau Mương (Lugvidgia octovalvis): phân bố ở các khoảnh 5a, 6a và 6b nằm rải rác Độ che phủ trên 50%, chiều cao từ 20-40 cm Ngoài ra, cỏ Sậy (Phragmites vallatoria), rau Dừa nước (Ludvidga prosstrata) phân bố rải rác không đều
Sinh cảnh thực vật cỏ Bấc (Leersia hexandra): phân bố giữa rừng (5a) Độ che phủ 60%, chiều cao 40-50 cm Ngoài ra, cỏ Mồm mốc (Ischenmum rugosum), cỏ Ống (Panicum repens) rải rác trong rừng
Trang 30 Sinh cảnh thực vật cỏ Năng (Eleochric) và Tràm non (Melaleuca cajuputi)
rải rác: phân bố ở các khoảnh 1a, 2a, 3a và trên các rạch chia khoảnh bị cạn nước Độ che phủ trên mặt đất 80%, chiều cao 50-100 cm, phân bố đều
Sinh cảnh thực vật cỏ Sậy (Phragmites vallatoria) phân tán ở các khoảnh
5a, 6a thành từng đám nhỏ ven khu vực sân chim Độ che phủ 60%, chiều cao từ 1,5-2 m phân bố thành từng đám nhỏ không đều Thực vật ưu thế
gồm Sậy (Phragmites vallatoria) chiếm tổ thành tới trên 70% Ngoài ra, có Mồm mỡ (Hymenache acutigluma), …
Sinh cảnh thực vật cỏ Mồm mỡ (Hymenache acutigluma) nằm ớ phía Bắc
(các khoảnh 4a, 4b, 5a) nằm trên các lung trũng sâu ngập nước không trồng Tràm được Độ che phủ trên 80%, phân bố dày và đều Thực vật ưu thế gồm
cỏ Mồm mỡ (Hymenache acutigluma) là chủ yếu Ngoài ra, Lác hến (Scipus grossus) ,… phân bố rải rác
- Kiểu quần xã thực vật thủy sinh trên kênh rạch
Sinh cảnh thực vật Sen (Nelumbo nucifera): cây Sen được người dân địa
phương thả gây trồng từ nhiều năm với diện tích nhỏ nằm phía Nam rừng Tràm Trà Sư ( khoảnh 3a và 6a) Cây Sen ở rừng Tràm Trà Sư sinh trưởng
và phát triển tốt với độ che phủ mặt nước trên 60%
Sinh cảnh thực vật Súng (Nymphaea) và cỏ Nhỉ cán (Utricularia): cây Súng (Nymphaea) ở rừng Tràm Trà Sư mọc hoang tự nhiên ở hầu hết các kênh,
rạch bờ bao Độ che phủ 60-70% mặt nước Thành phần thực vật chủ yếu là
loài Súng trắng (Nymphaea pubescens), Súng chỉ (Nymphaea tetragona), Súng lam (Nyphaea nouchali), Rong nhỉ cán (Utricularia), Rong đuôi chồn (Ceratophyllum demersum), Rong đuôi chó (Myriophyllum)
Hệ thực vật nơi đây rất phong phú và đa dạng với 140 loài, thuộc 52 họ và 102 chi Trong đó có 22 loài cây gỗ, 25 loài cây bụi, 10 loài dây leo, 70 loài cỏ và 13 loài thủy sinh Thảm thực vật chính của rừng là Tràm và một phần nhỏ là Tràm Úc Có nhiều loại rau rừng và nổi bậc nhất là cỏ Bấc là đặc sản của Trà Sư dùng nấu nước uống rất thơm
Trang 31Nếu xét theo tỉ lệ tổng số loài thực vật so với tổng diện tích khu vực điều tra thì khu vực này có tỷ tệ khá cao, đứng thứ hai khu bảo tồn thiên nhiên khu vực ĐBSCL, sau Xẻo Quít tỉnh Đồng Tháp
Thực vật chiếm ưu thế ở rừng Tràm Trà Sư là Tràm thuộc họ Sim, mọc ở trũng thấp Ngoài Tràm, còn có nhiều loài thực vật thuộc các họ khác nhau, trong đó có nhiều loài có giá trị phát triển và khai thác Thảm thực vật của hệ sinh thái này có vai trò ngăn cản quá trình pyrits (oxid hóa khoáng sinh phèn) và quá trình jarosite (khoáng phèn) ở tầng đất dưới, đồng thời góp phần điều hòa khí hậu, độ ẩm, cản dòng chảy, làm tồn đọng phù sa
Hình 2.3: Một số loài thực vật thường gặp tại rừng Tràm Trà Sư
2.3.3.2 Hệ động vật
Hệ sinh thái rừng ngập nước được các ngành, các cấp quan tâm và giữ gìn cẩn thận Trong nhiều năm qua, khu vực này không bị cháy, không bị chặt phá và ít bị tác động bởi những hoạt động của con người Chính vì vậy, nơi đây tạo được niềm tin của các loài chim, cá, thuỷ sinh vật đặc trưng của khu vực ĐBSCL chọn làm nơi cư trú và sinh sản
Rừng Tràm Trà Sư có 11 loài thú thuộc 6 họ, 4 bộ Bộ có số loài nhiều nhất là Dơi
với 5 loài Trong đó, loài Dơi chó tai ngắn (Cynopterus brachyotis) được ghi trong
Sách Đỏ Việt Nam (2000), thuộc loại Hiếm (R)
Trang 32Rừng Tràm Trà Sư có 20 loài bò sát thuộc 1 bộ, 8 họ và 5 loài ếch nhái thuộc 1 bộ,
2 họ Trong đó, có một số loài trong Sách Đỏ Việt Nam (2000) như: Trăn đất (Phython molurus), Rắn hổ mang (Naja naja), Rùa hộp lưng đen (Cuora amboinensis), …
Rừng Tràm Trà Sư có 23 loài cá thuộc 2 nhóm: 10 loài cá đen (cá Lóc, cá Trê, cá
Rô, …) xuất hiện quanh năm và 13 loài cá trắng (cá Linh, cá Lăng, …) xuất hiện vào mùa nước nổi Đặc biệt, có 2 loài cá có giá trị khoa học và đang có nguy cơ đe dọa
tuyệt chủng là cá Còm (Notopterus chilata) và cá Trê trắng (Claria bartachus)
Khu hệ chim có thể nói là rất đa dạng và phong phú Hiện nay, đây là nơi cư trú của 70 loài chim thuộc 13 bộ và 31 họ, trong đó nhiều nhất là bộ Sẻ với 26 loài
Nhiều loài quý hiếm đang bị đe doạ trong vùng hay toàn cầu tập trung về rừng
Tràm Trà Sư sinh sống Diệc lửa (A purpurea) đặc trưng của vùng ĐBSCL, Rồng rộc vàng (Ploceus hypoxanthus) cũng là loài gần bị đe dọa toàn cầu, phân bố ở rất ít điểm
ở ĐBSCL (như Tràm Chim, Trà Sư): Vạc (Nycticorax nycticorax) và Cốc đế nhỏ (Phalacrocorax niger)
Đặc biệt, có 2 loài chim quý hiếm được ghi trong sách đỏ Việt Nam là Giang sen
hay Cò lạo Ấn Độ (Mycteria leucocephala) và Cò cổ rắn hay Điêng điểng (Anhinga melanogaster)
Hình 2.4: Các loài chim trong sách đỏ Việt Nam (Cò cổ rắn và Cò Lạo Ấn Độ)
Ngoài ra, nơi đây còn là nơi di trú theo mùa của Sếu đầu đỏ (Sarus crane), được phát hiện từ những năm 1992 (Lê Diên Dực), hay loài Bồ nông chân xám (Pelecanus
Trang 33philippensis) và loài sắp bị đe dọa toàn cầu là Giang sen (Mycteria leucocephala)
(Seng Kim Hout et al.2003) vẫn tìm về hàng năm với số lượng gần trăm con
Do việc bảo tồn rừng Tràm Trà Sư thành khu vực bảo vệ cảnh quan, số lượng và mật độ của nhiều loài chim, cá, bò sát ngày càng đông Điều này chứng tỏ sự ổn định
và khả năng hồi phục rất nhanh của hệ sinh thái nếu được duy trì bảo vệ
2.3.4 Điều kiện kinh tế ảnh hưởng tới rừng Tràm Trà Sư
Xã Văn Giáo, xã Vĩnh Trung, Thới Sơn (huyện Tịnh Biên) và xã Ô Long Vĩ (huyện Châu Phú) là các xã nghèo thuộc vùng biên giới của tỉnh An Giang Xã Văn giáo, bên cạnh người Kinh, ở đây tập trung nhiều người Khmer Người Khmer là dân bản địa kì cựu, hầu hết đều sinh ở Việt Nam nên gọi là người Việt gốc Khmer
Hoạt động kinh tế chủ yếu là canh tác nông nghiệp với kỹ thuật lạc hậu, ngoài ra
có đánh bắt thủy sản và các hoạt động lâm nghiệp, làm thuê và buôn bán nhỏ Đời sống của người dân ở đây còn nhiều khó khăn và phụ thuộc nhiều vào rừng Tràm Trà
Sư Người dân đã phá rừng để lấy đất trồng trọt, cùng đó là nạn săn bắt chim trái phép dẫn đến sự diệt vong của các loài chim quý sống trong rừng Rừng Trà Sư bị đe doạ hàng ngày bởi chính những nhu cầu trong cuộc sống của người dân sống xung quanh rừng
2.3.5 Hoạt động du lịch ở khu DLST rừng Tràm Trà Sư
An Giang thuộc ĐBSCL, là tỉnh có nhiều điểm du lịch, trong đó có rừng Tràm Trà
Sư Rừng tràm Trà Sư thuộc vùng núi Thất Sơn, tỉnh An Giang là một trong những điểm đến quen thuộc của nhiều du khách
Rừng Tràm Trà Sư nổi tiếng bởi vẻ đẹp hoang sơ, là nơi tập trung sinh sống của nhiều loài thực vật, chim, thú và các loài cá Đặc biệt, rừng Tràm Trà Sư tập trung hơn
70 loài chim, đây là điều thu hút khách du lịch đến rừng Thời gian thích hợp nhất để
du khách tham quan Trà Sư là từ tháng 9 đến tháng 11, khi nước đã bao phủ toàn bộ diện tích của khu rừng và là mùa sinh sản của nhiều loài chim tạo nên nhiều cảnh đẹp khó quên Nếu đi vào những thời điểm khác trong năm (đặc biệt là mùa khô) du khách chỉ tham quan được vài điểm của rừng, do đảm bảo những quy tắc nghiêm ngặt trong
Nhận thức được tầm quan trọng trong công tác bảo tồn rừng song song việc gắn kết phát triển các loại hình du lịch, năm 2008 tỉnh An Giang đã khởi công nâng cấp và
Trang 34mở rộng công trình lộ Mương Tiền với chiều dài 3,4 km (tổng vốn đầu tư 10 tỷ đồng), tạo điều kiện cho du khách có thể đến tham quan rừng bằng cả đường kênh lẫn đường
bộ
Khách du lịch đến rừng Tràm Trà Sư chủ yếu là theo tour liên hoàn như: Long Khu sinh thái rừng tràm Trà Sư-Trung tâm dược liệu Đồng Tháp Mười, Châu Đốc-Khu sinh thái rừng tràm Trà Sư-Làng cá bè Ông Trần Nguyên Kháng, Trưởng trạm Kiểm lâm Trà Sư cho biết: “Saigontourist mỗi tuần dẫn đoàn khách tới rừng Tràm Trà Sư tham quan vào 2 ngày là thứ 3 và thứ 7”
An-Chị Đinh Thị Mỹ Lan, cán bộ phụ trách du lịch kiêm hướng dẫn viên du lịch của KBVCQ Trà Sư thông báo: “Mười tháng đầu năm 2009, khu du lịch đã tiếp đón được trên 8.500 khách du lịch trong nước và 200 khách nước ngoài, cao hơn số khách của cả năm 2008 (8.030 khách trong nước và 162 khách nước ngoài)”
Tuy nhiên, hoạt động du lịch chưa thật sự đem lại mong muốn cho khách du lịch quản lý hoạt động du lịch là Trưởng trạm Kiểm lâm, phương tiện phục vụ du lịch vừa
ít vừa không đạt chuẩn và phương tiện phục vụ du lịch phục vụ cho việc tuần tra của kiểm lâm, chưa tạo hình ảnh riêng cho rừng Tràm Trà Sư, người dân địa phương tự phát tham gia: khách du lịch và các dịch vụ khác chưa tạo ấn tượng đối với khách du lịch
Trang 35Chương 3
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Nội dung nghiên cứu
- Khảo sát các loài chim trên các tuyến ở rừng Tràm Trà Sư
- Tìm hiểu hiện trạng quản lý, bảo tồn ở rừng Tràm Trà Sư
- Điều tra xã hội học và phân tích
- Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả bảo tồn
3.2 Phương pháp nghiên cứu
3.2.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu và kế thừa
Phương pháp nghiên cứu tài liệu và kế thừa các thông tin trong các tài liệu sẵn có tiến hành lựa chọn và xử lí (phân tích, tổng hợp, so sánh) nhằm chắt lọc ra những thông tin cần thiết cho nội dung đề tài
Phương pháp nghiên cứu tài liệu được sử dụng xuyên suốt quá trình thực hiện đề tài, giúp định hình và thực hiện ý tưởng nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu tài liệu là cơ sở phát hiện các hoạt động ảnh hưởng đến các loài chim tại rừng Tràm Trà Sư để đánh giá các nguyên nhân và đề xuất các giải pháp bảo tồn góp phần bảo tồn tốt hơn trong tương lai
Thu thập tài liệu, thông tin từ các nguồn:
- Tham khảo tài liệu thông tin liên quan từ internet, sách, báo, tài liệu giảng dạy của thầy cô và các luận văn trên thư viện của trường Đại học Nông Lâm TP HCM
- Xin các tài liệu từ Ban quản lý rừng Tràm Trà Sư: bản đồ rừng Tràm Trà Sư, tài nguyên đa dạng sinh học, các văn bản thành lập, …
- Tham khảo công tác bảo tồn của các VQG và KBTTN khác tại Việt Nam
3.2.2 Phương pháp bản đồ
Bản đồ sử dụng chủ yếu là bản đồ KBVCQ rừng Tràm Trà Sư, thông qua bản đồ vạch ra các tuyến khảo sát
Trang 36Phương pháp bản đồ giúp xác định vị trí rừng Tràm Trà Sư và các khoảnh, giúp xác định những khó khăn trong việc bảo tồn
Sử dụng bản đồ giúp cho việc khảo sát thực địa dễ dàng hơn
3.2.3 Phương pháp khảo sát thực địa
Phương pháp này giúp cho người nghiên cứu có cái nhìn thực tế về địa điểm và đối tượng nghiên cứu Từ đó, so sánh với tài liệu thu thập được nhằm đưa ra các giải pháp cho phù hợp
Phương pháp khảo sát thực địa chia làm 3 đợt:
- Đợt 1: Quan sát hoạt động của người dân bên ngoài và trong rừng Tràm
- Đợt 2: Quan sát công việc của kiểm lâm và bảo vệ làm việc tại rừng Tràm
- Đợt 3: Khảo sát các loài chim trong khu vực nghiên cứu: dùng mắt thường quan sát tất cả các loài xuất hiện trong khu vực nghiên cứu bằng cách quan sát hình thái bên ngoài: kích thước, hình dạng, màu sắc lông Tuy nhiên, một số loài rất khó phát hiện được như Bìm bịp, Chích chòe Vì vậy, khi khảo sát kết hợp phương pháp nghe tiếng kêu để nhận biết chúng
Phương pháp khảo sát các khu vực nghiên cứu: các khu vực khảo sát không thuộc vùng đệm của rừng, khảo sát xung quanh rừng Tràm Trà Sư và khảo sát các khoảnh 1a, 3a và 6a Khi khảo sát đi nhẹ nhàng và quan sát kết hợp nghe tiếng kêu của các loài chim
Khảo sát xung quanh rừng Tràm Trà Sư: bắt đầu từ vị trí nhà khách của rừng Tràm Trà Sư đi theo đường đê bao của rừng
Khảo sát chim trên tuyến đường 1a, 3a, 6a: bắt đầu từ vị trí đê bao của rừng đi ngang qua các lung và xuyên qua giữa các cây Tràm để tới vùng trung tâm của khoảnh
3.2.4 Phương pháp điều tra xã hội học
Điều tra xã hội học được thực hiện thông qua 3 bước: xác định đối tượng điều tra, xây dựng phiếu điều tra và tiến hành điều tra thông qua phát phiếu câu hỏi
Phương pháp điều tra dựa trên đối tượng là người dân xung quanh ở ấp Long Sơn (xã Ô Long Vĩ), ấp Văn Trà (xã Văn Giáo) và ấp Vĩnh Đông (xã Vĩnh Trung) thông
Trang 37Số lượng: 100 phiếu 100 phiếu được chia cho ấp Long Sơn với 33 phiếu, ấp Văn Trà với 34 phiếu (đây là ấp có nhiều đối tượng có hành vi vi phạm đến rừng), ấp Vĩnh Đông với 33 phiếu Phát phiếu ưu tiên cho những gia đình gần rừng và phát phiếu ngẫu nhiên cho 1 trong các thành viên trong 1 gia đình
Bảng 3.1: Đối tượng và thông tin cần thu thập từ phiếu điều tra xã hội học
Đối tượng Nội dung thu thập
Cộng đồng
dân cư
- Thông tin cơ bản về đối tượng
- Nghề nghiệp hiện tại của đối tượng
- Mức độ và mục đích vào rừng Tràm Trà Sư
- Hiểu biết của đối tượng về rừng Tràm Trà Sư và việc bảo tồn
- Tình hình giáo dục, tuyên truyền về bảo tồn ở địa phương và rừng Tràm Trà Sư
- Hình thức của đối tượng khi tham gia giáo dục bảo tồn
Xử lý số liệu thu thập được bằng phần mềm Excel
3.2.5 Phương pháp phỏng vấn chuyên gia
Phỏng vấn chuyên gia nhằm đưa ra kết quả có tính chính xác cao Đề xuất các giải pháp cho đề tài có giá trị thực tiễn hơn
Tiến hành phỏng vấn ban quản lý làm việc tại rừng Tràm Trà Sư để kiểm tra độ chính xác và bổ sung
Bảng 3.2: Đối tượng và nội dung phỏng vấn
Đối tượng Nội dung thu thập
Ban quản lý - Quá trình hình thành rừng Tràm Trà Sư
- Hiện trạng phân bố của các loài chim, nhất là các khoảnh 1a, 3a
và 6a
- Một số đặc điểm phân biệt các loài chim
- Các hoạt động cho phép và trái phép của cộng đồng dân cư đối với rừng Tràm Trà Sư
- Tình hình quản lý: các hoạt động phòng cháy chữa cháy, tình hình vi phạm của cộng đồng dân cư và kế hoạch trong tương lai
Trang 38Phỏng vấn các giảng viên trường Đại học Nông Lâm TP HCM có kinh nghiệm
trong công tác nghiên cứu khoa học, đóng góp ý kiến mang tính nền tảng và các giải
pháp mang tính khả thi cho đề tài
3.2.6 Phương pháp tổng hợp và xử lý thông tin
Áp dụng hai phương pháp tổng hợp và xử lý để nắm được hiện trạng tài nguyên,
các tác động và mức độ hiểu biết, thái độ hay mức độ mong muốn tham gia vào việc
bảo tồn Để từ đó phân tích hiệu quả hơn
Phương pháp xử lý số liệu, thông tin thu thập được từ phát phiếu điều tra xã hội
học được xử lý dưới dạng đồ thị bằng phần mềm Microsoft Office Word và Microsoft
Office Excel
3.2.7 Phương pháp SWOT
Phương pháp ma trận SWOT được áp dụng phân tích để đưa ra các giải pháp bảo
tồn các loài chim ở rừng Tràm Trà Sư
SWOT được xây dựng với 4 nhóm yếu tố đặc trưng: các điểm mạnh (Strengths),
các điểm yếu (Weaknesses), các cơ hội (Opportunities), các thách thức (Threats)
Để thực hiện SWOT có 3 giai đoạn:
- Giai đoạn 1: Phân tích SWOT: phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách
thức
- Giai đoạn 2: Vạch ra các chiến lược phát huy điểm mạnh để tận dụng cơ hội
(S/O), chiến lược để không để điểm yếu làm mất cơ hội (W/O), chiến lược phát
huy điểm mạnh để vượt qua thử thách (S/T), chiến lược không để thử thách làm
bộc lộ điểm yếu (W/T)
Bảng 3.3: Minh họa bảng phân tích SWOT
Phân tích SWOT Yếu tố bên trong (Internal factors)
- Giai đoạn 3: Tích hợp các chiến lược sau khi đã vạch ra các chiến lược ở thì ta
cần sắp xếp theo thứ tự ưu tiên các chiến lược theo nguyên tắc sau: