ĐÁNH GIÁ TIỀM NĂNG VÀ ĐỀ XUẤT PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI NHẰM PHỤC VỤ CÔNG TÁC BẢO TỒN TẠI KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN - VĂN HÓA ĐỒNG NAI Tác giả NGUYỄN THÀNH VÂN TRANG Khóa luận được đệ t
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐÁNH GIÁ TIỀM NĂNG VÀ ĐỀ XUẤT PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI NHẰM PHỤC VỤ CÔNG TÁC BẢO TỒN TẠI KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN - VĂN HÓA ĐỒNG NAI
Họ và tên sinh viên: NGUYỄN THÀNH VÂN TRANG Ngành: QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG VÀ DU LỊCH SINH THÁI Niên Khóa: 2010 -2014
Tháng 12 năm 2013
Trang 2ĐÁNH GIÁ TIỀM NĂNG VÀ ĐỀ XUẤT PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI NHẰM PHỤC VỤ CÔNG TÁC BẢO TỒN TẠI KHU BẢO TỒN
THIÊN NHIÊN - VĂN HÓA ĐỒNG NAI
Tác giả
NGUYỄN THÀNH VÂN TRANG
Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu
Cấp bằng kỹ sư ngành Quản lý môi trường
Giáo viên hướng dẫn ThS NGUYỄN ANH TUẤN
Tháng 12 năm 2013
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tôi xin gửi lời cảm ơn đến ThS Nguyễn Anh Tuấn, người Thầy đã tận tâm hướng dẫn, định hướng, theo sát, động viên, hỗ trợ và đóng góp cho tôi những ý kiến quý báu trong suốt quá trình tôi thực hiện đề tài này
Xin chân thành cảm ơn quý thầy, cô thuộc khoa Môi trường và Tài nguyên trường Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh đã truyền đạt những kiến thức quý báu và những kinh nghiệm thực tiễn cho tôi trong suốt những năm học vừa qua
Tôi xin chân thành cảm ơn anh Nguyễn Văn Hà, cùng các cô chú làm việc tại Khu Bảo tồn Thiên nhiên – Văn hóa Đồng Nai, ban lãnh đạo cùng tập thể các anh chị trong trung tâm Sinh thái – Văn hóa – Lịch sử chiến khu Đ, các anh chị làm việc ở phòng bảo tồn, đã cung cấp cho tôi những số liệu nền tảng cho đề tài, cũng như tạo điều kiện thuận lợi và đã tận tình giúp đỡ, chỉ dẫn tôi trong thời gian qua
Và hơn hết, con xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đến mẹ và các anh chị đã nuôi dưỡng con và luôn là nguồn động viên tinh thần quan trọng nhất mỗi khi con gặp khó khăn trong học tập cũng như trong cuộc sống
Sinh viên Nguyễn Thành Vân Trang
Trang 4TÓM TẮT KHOÁ LUẬN
Đề tài “Đánh giá tiềm năng và đề xuất phát triển du lịch sinh thái nhằm phục vụ công tác bảo tồn tại Khu Bảo tồn Thiên nhiên - Văn hóa Đồng Nai” được thực hiện từ tháng 9/2013 đến tháng 12/2013 với các nội dung sau:
- Khảo sát hiện trạng tài nguyên, cơ sở hạ tầng, hoạt động khai thác, kinh doanh
và quản lý DLST tại khu bảo tồn Thiên nhiên – Văn hóa Đồng Nai
- Thu thập thông tin về các nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên, tài nguyên du lịch nhân văn, các cảnh quan thiên nhiên và những tiềm năng DLST khác tại Khu bảo tồn Thiên nhiên – Văn hóa Đồng Nai
- Áp dụng phương pháp phân tích các bên liên quan SA, phân tích và đề xuất kế hoạch phối hợp hành động giữa các bên liên quan
- Áp dụng ma trận SWOT phân tích các điểm mạnh, yếu, cơ hội và thách thức để phát triển DLST tại Khu bảo tồn Thiên nhiên – Văn hóa Đồng Nai và đề xuất các chiến lược phát triển du lịch sinh thái nhằm phục vụ công tác bảo tồn
- Đề xuất một số giải pháp cụ thể để quản lý và phát triển các hoạt động du lịch sinh thái nhằm phục vụ cho công tác bảo tồn tài nguyên của Khu bảo tồn Thiên nhiên – Văn hóa Đồng Nai
- Thiết kế một số tour du lịch liên kết với các điểm du lịch trên địa bàn huyện, cũng như liên kết với các điểm du lịch khác trong khu vực có thể áp dụng trong thời gian tới
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN ii
TÓM TẮT KHOÁ LUẬN iii
DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT vii
DANH SÁCH CÁC BẢNG viii
DANH SÁCH CÁC HÌNH ix
Chương 1 1
MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu của đề tài 2
1.3 Đối tượng nghiên cứu 2
1.4 Phạm vi nghiên cứu 3
Chương 2 4
TỔNG QUAN 4
2.1 Các khái niệm về DLST và những yêu cầu của DLST 4
2.1.1 Khái niệm DLST 4
2.1.2 Những yêu cầu của DLST 4
2.2 Du lịch sinh thái và các KBTTN 5
2.2.1 Quan điểm phát triển DLST ở các KBTTN 5
2.2.2 Vai trò của DLST tại các KBTTN 5
2.2.3 Lợi ích của DLST 6
2.2.4 Tác động tiêu cực của DLST đối với môi trường 6
2.2.5 Các yếu tố cần thiết để thực hiện hiệu quả DLST ở các KBTTN 7
2.3 Tổng quan về Khu bảo tồn Thiên nhiên – Văn hóa Đồng Nai 7
2.3.1 Lịch sử hình thành KBTTN-VH Đồng Nai 7
2.3.2 Các cơ sở pháp lý phát triển du lịch ở Khu Bảo tồn 9
2.3.3 Điều kiện tự nhiên 9
2.3.4 Đặc điểm kinh tế xã hội 11
2.3.5 Các nguồn tài nguyên 12
Chương 3 15
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15
Trang 63.1 Nội dung nghiên cứu 15
3.2 Phương pháp nghiên cứu 15
3.1.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu 15
3.1.2 Phương pháp bản đồ 16
3.1.3 Phương pháp khảo sát thực địa 16
3.1.4 Phương pháp nghiên cứu các bên liên quan 16
3.1.5 Phương pháp ma trận SWOT 17
3.1.6 Phương pháp phỏng vấn chuyên gia 18
Chương 4 19
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 19
4.1 Tiềm năng phát triển DLST tại KBTTN-VH Đồng Nai 19
4.1.1 Tài nguyên du lịch tự nhiên 19
4.1.2 Tài nguyên du lịch nhân văn 24
4.1.3 Cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch 29
4.1.4 Cơ sở vật chất – kỹ thuật phục vụ du lịch 30
4.1.5 Đánh giá chung 32
4.2 Hiện trạng phát triển du lịch sinh thái tại KBTTN-VH Đồng Nai 32
4.2.1 Tổ chức quản lý du lịch tại KBTTN-VH Đồng Nai 32
4.2.2 Phân vùng du lịch tại Khu bảo tồn 34
4.2.3 Các khu chức năng du lịch tại Khu bảo tồn 35
4.2.4 Khách du lịch 37
4.2.5 Các điểm thu hút du lịch tại KBT 38
4.2.6 Các loại hình du lịch và bộ sản phẩm du lịch tại KBT 40
4.2.7 Một số tuyến du lịch 42
4.2.8 Tour du lịch 42
4.2.9 Đánh giá chung 43
4.3 Phân tích và đề xuất kế hoạch phối hợp hành động giữa các bên liên quan trong phát triển DLST 44
4.3.1 Các bên liên quan trong mục tiêu phát triển DLST tại KBTN-VH Đồng Nai 44 4.3.2 Vai trò và lợi ích của các bên liên quan 45
4.3.3 Đánh giá ảnh hưởng của các bên liên quan 48
4.3.4 Kế hoạch phối hợp hành động giữa các bên liên quan 51
4.4 Phân tích SWOT và Đề xuất các giải pháp khả thi nhằm phát triển du lịch theo hướng bền vững gắn với các hoạt động bảo tồn 53
Trang 74.4.1 Các điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức 53
4.4.2 Phân tích chiến lược 56
4.5 Một số giải pháp cụ thể 59
4.5.1 Giải pháp về cơ chế, chính sách 59
4.5.2 Giải pháp về quy hoạch 60
4.5.3 Giải pháp phát triển DLST 61
4.5.4 Giải pháp về bảo tồn 63
4.5.5 Giải pháp phát triển kinh tế cộng đồng 65
4.5.6 Giải pháp về nhân lực và phát huy nguồn nhân lực địa phương 66
4.5.7 Giải pháp về vốn đầu tư, hỗ trợ 67
4.5.8 Giải pháp về tuyên truyền, quảng bá 67
4.6 Thiết kế các tour – tuyến du lịch sinh thái liên kết với Khu BTTN-VH Đồng Nai 69
4.6.1 Các điểm du lịch có khả năng liên kết trong khu vực 69
4.6.2 Các điểm du lịch có khả năng liên kết ngoài tỉnh 71
4.6.3 Thiết kế một số tour du lịch liên kết với KBT 71
Chương 5 75
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 75
5.1 Kết luận 75
5.2 Kiến nghị 76
TÀI LIỆU THAM KHẢO 78
PHỤ LỤC 79
Trang 8DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT
KBTTN-VH Khu Bảo tồn Thiên nhiên – Văn hóa
IUCN Tổ chức bảo tồn thiên nhiên thế giới
(International Union for Conservation of Nature)
Trang 9DANH SÁCH CÁC BẢNG
Bảng 4.1 : Bảng phân khu chức năng du lịch tại KBTTN-VH Đồng Nai 35 Bảng 4.2 : Bảng tổng hợp số lượng khách tham quan trong 06 tháng đầu năm từ
2010 – 2013 37 Bảng 4.3 : Một số điểm thu hút du lịch tại KBTTN-VH Đồng Nai 39 Bảng 4.4 : Một số bộ sản phẩm du lịch hiện nay của KBTTN-VH Đồng Nai 41 Bảng 4.5 : Vai trò và lợi ích của các bên liên quan tham gia vào dự án DLST tại
KBTTN-VH Đồng Nai 45 Bảng 4.6 : Đánh giá ảnh hưởng của các bên liên quan 48 Bảng 4.7 : Kế hoạch phối hợp hành động giữa các bên liên quan 51
Trang 10DANH SÁCH CÁC HÌNH
Hình 2.1 : Bản đồ vị trí của KBTTN-VH Đồng Nai 11
Hình 4.1 : Công viên đá nằm trong khuôn viên KBTTN-VH Đồng Nai 22
Hình 4.2 : Thác ràng (Nguồn: Khu bảo tồn Thiên nhiên – Văn hóa Đồng Nai) 23
Hình 4.3 : Hồ Trị An và nhà máy thủy điện Trị An 23
Hình 4.4 : Hồ Bà Hào và Ao sen hồ Bà Hào (Nguồn: Khu bảo tồn Thiên nhiên – Văn hóa Đồng Nai) 24
Hình 4.5 : Đền tưởng niệm và bia tưởng niệm ở Trung ương Cục Miền Nam 25
Hình 4.6 : Căn cứ Khu Ủy miền Đông Nam Bộ (1962-1967) 26
Hình 4.7 : Nhà dài làng đồng bào Chơro 27
Hình 4.8 : Cổng vào nhà khách Mã Đà 31
Sơ đồ 4.1 : Sơ đồ cơ cấu tổ chức quản lý du lịch của KBT 34
Biểu đồ 4.1 : Biểu đồ thành phần khách du lịch KBTTN-VH Đồng Nai 39
Sơ đồ 4.2 : Thành phần các bên liên quan trong dự án phát triển DLST tại KBTTN-VH Đồng Nai 45
Sơ đồ 4.3 : Đánh giá ảnh hưởng và tầm quan trọng của từng bên có liên quan cũng như tác động tiềm tàng đến dự án 50
Trang 11DLST được coi là một trong những cách thức vừa hỗ trợ bảo tồn, đồng thời phát triển kinh tế xã hội một cách hiệu quả Trong những năm gần đây, DLST đã có những biến đổi mạnh mẽ, dần trở thành xu thế trên toàn cầu
Khu Bảo tồn Thiên nhiên – Văn hóa Đồng Nai (KBTTN-VH Đồng Nai) được thành lập đầu năm 2004, là đơn vị sự nghiệp khoa học trực thuộc UBND tỉnh Đồng Nai, nằm trong hệ thống rừng đặc dụng và di sản văn hóa của Việt Nam
Khu Bảo tồn được thành lập với mục tiêu khôi phục lại sự đa dạng sinh học của
hệ sinh thái rừng cây tự nhiên bản địa thuộc lưu vực sông Đồng Nai và vùng miền Đông Nam bộ; tạo ra phạm vi bảo tồn thiên nhiên rộng lớn nối liền với Vườn Quốc gia Cát Tiên, bảo tồn nơi cư trú và di trú cho các loài động vật hoang dã, phục vụ công tác bảo tồn thiên nhiên gắn với việc bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa lịch sử của các di tích, nhằm giáo dục truyền thống cách mạng và phát triển du lịch sinh thái, mở ra nhiều cơ hội hợp tác, đầu tư với các tổ chức quốc tế về bảo tồn thiên nhiên, bảo tồn đa dạng sinh học, tạo điều kiện thuận lợi để đăng ký KBT thành khu Dự trữ sinh quyển thế giới
Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Đồng Nai thời kỳ đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 đã xác định KBT có vị trí quan trọng đối với sự phát triển
du lịch không chỉ của địa phương tỉnh Đồng Nai mà còn với du lịch vùng Đông Nam
Bộ và Trung tâm du lịch TP Hồ Chí Minh và phụ cận Sự phát triển DLST ở đây, ngoài ý nghĩa về kinh tế còn góp phần rất quan trọng vào nỗ lực bảo tồn đa dạng sinh
Trang 12học, môi trường tự nhiên của KBT; khai thác các giá trị lịch sử - văn hóa ở khu vực này để phát triển loại hình du lịch lịch sử về với cội nguồn, tạo việc làm và nâng cao mức sống cộng đồng thông qua việc thu hút người dân bản địa vào hoạt động dịch vụ DLST, giảm tác động của người dân bản địa vào việc sống phụ thuộc rừng và khai thác rừng
Tuy nhiên trong thời gian qua, việc khai thác các tiềm năng DLST, lịch sử - văn hóa ở KBT để phục vụ nhu cầu tham quan, nghiên cứu, DLST… còn nhiều hạn chế Hoạt động phát triển du lịch tại KBT chưa có một định hướng tổng thể, các sản phảm
du lịch còn nghèo nàn, kém hấp dẫn chưa thu hút được khách du lịch Hiệu quả của hoạt động du lịch đối với nỗ lực bảo tồn và nâng cao đời sống cộng đồng còn chưa cao vì vậy việc đánh giá lại hiện trạng cũng như xác định tiềm năng và đề xuất giải pháp phát triển du lịch bền vững tại KBT là điều hết sức cần thiết Đó là lý do thực
hiện đề tài: “Đánh giá tiềm năng và đề xuất phát triển du lịch sinh thái nhằm phục
vụ công tác bảo tồn tại Khu Bảo tồn Thiên nhiên - Văn hóa Đồng Nai”
1.2 Mục tiêu của đề tài
Mục tiêu chính của luận văn là tìm giải pháp phát huy hết tiềm năng và tận dụng các cơ hội để phát triển DLST song song với việc bảo tồn tài nguyên tại KBTTN-VH Đồng Nai Trong đó, có các mục tiêu cụ thể như sau:
- Khảo sát hiện trạng khai thác và phát triển du lịch ở một số điểm du lịch trong KBT
- Khảo sát hiện trạng tài nguyên, những tiềm năng DLST và công tác quản lý DLST tại KBT
- Thu thập các số liệu về công tác quản lý DLST và công tác bảo tồn của KBThiện nay và các dự án tương lai
- Đề xuất những giải pháp nhằm quản lý du lịch sinh thái theo định hướng phát triển bền vững song song với việc bảo tồn tài nguyên
- Thiết kế những tour – tuyến du lịch liên kết với KBT
1.3 Đối tượng nghiên cứu
- Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, văn hóa lịch sử của KBT Thiên nhiên – Văn Hóa Đồng Nai
- ĐDSH và cảnh quan của KBTTN-VH Đồng Nai
Trang 13- Các điểm du lịch trong phạm vi KBT, các sản phẩm du lịch hiện có của KBT
- Cộng đồng dân cư sống trong khu vực KBT, người dân tộc Chơ Ro và nét văn hóa đặc trưng
- Các hoạt động quản lý và bảo tồn tại KBTTN-VH Đồng Nai
1.4 Phạm vi nghiên cứu
- Không gian: Khu bảo tồn thiên nhiên văn hóa Đồng Nai
- Thời gian: từ 09/2012 đến 12/2012
Trang 14Cho đến nay, khái niệm về DLST vẫn còn được hiểu theo nhiều cách khác nhau nhưng một số khái niệm sau đây được sử dụng rộng rãi nhất:
- Theo Honey (1999): “DLST là du lịch tới những khu vực nhạy cảm và nguyên sinh thường được bảo vê với mục đích nhằm gây ra ít tác hại và với quy mô nhỏ nhất
Nó giúp giáo dục du khách, tạo quỹ để bảo vệ môi trường, nó trực tiếp đem lại nguồn lợi kinh tế và sự tự quản lý cho người dân địa phương và nó khuyến khích tôn trọng các giá trị văn hóa và quyền con người”
- Theo Hiệp hội du lịch quốc tế (WTO): “DLST là việc đi lại có trách nhiệm tới các khu vực thiên nhiên mà bảo tồn được môi trường và cải thiện được sinh kế cho người dân địa phương”
- Tại Việt Nam, Tổng cục du lịch, ESCAP, WWF, IUCN đã đưa ra định nghĩa về DLST ở Việt Nam như sau: “DLST là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa, gắn với giáo dục môi trường, có đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững, với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương”
2.1.2 Những yêu cầu của DLST
Yêu cầu có tính nguyên tắc của DLST là tôn trọng sự tồn tại của các hệ sinh thái
tự nhiên và cộng đồng địa phương Để đáp ứng yêu cầu này thì DLST phải đáp ứng những điều kiện sau:
Trang 15Ít gây ảnh hưởng tới tài nguyên thiên nhiên của khu BTTN
Thu hút sự tham gia của các cộng đồng, cá nhân, khách DLST, các nhà điều hành du lịch và các cơ quan của chính phủ và tổ chức phi chính phủ
Tạo thu nhập lâu dài và bình đẳng cho cộng đồng địa phương và cho các bên tham gia khác, bao gồm cả những nhà điều hành du lịch tư nhân
Tạo nguồn tài chính cho công tác bảo tồn của khu BTTN
Tôn trọng văn hoá và truyền thống địa phương
Giáo dục để nâng cao hiểu biết, khả năng thưởng thức của khách du lịch về các khu BTTN và tăng cường sự tham gia của họ trong công tác bảo tồn
2.2 Du lịch sinh thái và các KBTTN
2.2.1 Quan điểm phát triển DLST ở các KBTTN
DLST thường được tổ chức ở những khu vực hoang sơ, đẹp và ít thay đổi Hiện nay, một điều dễ nhận thấy là những khu vực thỏa mãn điều kiện này là các KBTTN KBTTN là nơi chứa đựng nhiều yếu tố hấp dẫn cho du khách trên thế giới Những yếu
tố này có thể là một hoặc nhiều loài động thực vật quý hiếm và đặc hữu, cuộc sống hoang dã phong phú, đa dạng sinh học cao, địa hình đồng nhất hoặc hùng vĩ, các khu
di tích lịch sử hoặc văn hóa đương đại, mang tính đặc thù trong điều kiện tự nhiên Điều này tạo điều kiện để phát triển du lịch nếu như những yếu tố này được duy trì Do
đó mối quan hệ giữa du lịch và các KBTTN được bảo vệ là điều tất yếu
Một yêu cầu đặt ra là phải tổ chức du lịch thiên nhiên nhằm đảm bảo tính bền vững thực sự và bám sát định nghĩa về DLST vì thử thách lớn nhất mà chúng ta đang phải đối mặt là không để các bên liên quan khác nhau phá hoại tài nguyên du lịch tiềm năng hay nói cách khác là tránh làm suy thoái KBTTN do chưa có hướng tiếp cận du lịch đúng đắn Điều này đòi hỏi phải có một kế hoạch chiến lược nhằm phát triển, những hạn chế về quản lý và những đầu tư theo kế hoạch Một khía cạnh quan trọng cần xem xét trong quá trình hoạch định kế hoạch chiến lược là làm cho người dân địa phương thấy được mối quan hệ trực tiếp giữa bảo vệ các nguồn tài nguyên và lợi ích
họ nhận được từ hoạt động DLST
2.2.2 Vai trò của DLST tại các KBTTN
DLST có tác động tích cực tới bảo tồn thiên nhiên và đem lại nguồn thu nhập cho khu BTTN và cộng đồng địa phương
Trang 16Đề xuất tại Đại hội các Vườn quốc gia thế giới lần thứ V của IUCN: “Du lịch trong và ngoài khu BTTN phải được thiết kế thành một phương pháp bảo tồn: hỗ trợ, tăng cường nhận thức về các giá trị quan trọng của khu BTTN như giá trị sinh thái, văn hoá, tinh thần, thẩm mỹ, giải trí và kinh tế; đồng thời tạo thu nhập phục vụ bảo tồn
và bảo vệ đa dạng sinh học, hệ sinh thái và di sản văn hoá Du lịch cần đóng góp nâng cao chất lượng cuộc sống cho cộng đồng bản địa và họ là những người tạo động lực hỗ trợ bảo vệ phong tục và giá trị truyền thống, bảo vệ và tôn trọng những khu vực linh thiêng cũng như kiến thức truyền thống”
Quản lý du lịch thiên nhiên trong các KBTTN cần phải được lồng ghép vào quản
lý lãnh thổ, quản lý thực vật hoang dã, khôi phục những loài bị đe dọa hay hoạt động giáo dục môi trường Lý do thứ nhất rõ ràng là du lịch thiên nhiên là một yếu tố có tác động tích cực tới bảo tồn thiên nhiên nên cần hướng các hoạt động du lịch này nhằm mục đích bảo vệ tài nguyên Thứ hai, du lịch có thể là cơ chế đem lại nguồn thu nhập cho KBTTN và cộng đồng địa phương Như hội nghị Durban đề xuất, cả hai mục đích này nên cùng chịu sự quản lý của một cơ chế và theo cùng một hướng nhằm biến du lịch thành một công cụ bảo tồn và hỗ trợ các KBTTN hữu hiệu
2.2.3 Lợi ích của DLST
DLST là một công cụ bảo tồn và đem lại những lợi ích như sau cho các KBTTN: .DLST đòi hỏi các hoạt động bảo tồn phải có hiệu quả để thu hút du khách tới tham quan
DLST đem lại nguồn tài chính phục vụ bảo tồn và cộng đồng địa phương DLST thúc đẩy hoạt động giáo dục môi trường làm cho du khách nhận thức được giá trị của thiên nhiên và tôn trọng khu vực họ tới tham quan và những khu vực khác
2.2.4 Tác động tiêu cực của DLST đối với môi trường
Các hoạt động du lịch được tiến hành không bền vững sẽ có thể gây ra các tác động tiêu cực tới môi trường như sau:
Tác động lên cảnh quan trên đất liền, trên biển: phá vỡ cảnh quan thiên nhiên, rác thải; xói mòn; khắc tên lên cây và viết lên vách đá…
Tác động tới nguồn nước: ô nhiễm nước ngầm, nước biển và sông hồ
Trang 17Tác động tới thảm thực vật: ảnh hưởng xấu tới cây cối bên đường đi do bị dẫm đạp; nhổ cây; cây cối bị phá do các hoạt động cắm trại, đốt lửa, Tác động tới đời sống hoang dã: tác động lên các khu vực sinh sản và kiếm mồi của động vật hoang dã, du nhập những loài lạ…
Tác động lên môi trường văn hóa: Mất mát các di tích lịch sử, văn hoá độc đáo,
có giá trị trong các KBTTN, thay đổi truyền thống văn hoá, phong tục tập quán của địa phương, thay đổi lối sống, tăng cường tệ nạn xã hội
2.2.5 Các yếu tố cần thiết để thực hiện hiệu quả DLST ở các KBTTN
Các KBTTN muốn thu hút được du khách và hoạt động có hiệu quả phải đáp ứng được những yếu tố sau:
- Đánh giá đầy đủ và phát huy những thế mạnh về tài nguyên thiên nhiên, địa điểm tham quan hấp dẫn
- Tạo ra được các dịch vụ du lịch hấp dẫn, đặc sắc để thu hút du khách
- Phát triển cơ sở hạ tầng du lịch đồng bộ, đáp ứng các nhu cầu cho phát triển các dịch vụ du lịch
2.3 Tổng quan về Khu bảo tồn Thiên nhiên – Văn hóa Đồng Nai
2.3.1 Lịch sử hình thành KBTTN-VH Đồng Nai
KBTTN-VHĐN nằm ở phía Bắc sông Đồng Nai, thuộc huyện Vĩnh Cửu Khu vực này là nơi tập trung phần lớn rừng tự nhiên của tỉnh Đồng Nai, với độ che phủ của rừng trên 86 %
Đặc trưng nổi bật về rừng tự nhiên trong khu vực, đó là hệ sinh thái rừng cây họ Dầu (Dipterocarpaceae) trên vùng địa hình đồi, bán bình nguyên Ngoài ra, đây còn là nơi cư trú của nhiều loài động vật rừng, trong đó có nhiều loài được xếp là quý hiếm,
có nguy cơ tuyệt chủng và được ghi vào Sách Đỏ Việt Nam như gấu chó, báo gấm, bò tót Khu hệ động vật ở đây có quan hệ mật thiết với khu hệ động vật rừng của VQG Cát Tiên
Bên cạnh giá trị về đa dạng sinh học, vùng này trong chiến tranh còn là nơi chịu nhiều thảm họa của chiến tranh hoá học do quân đội Mỹ rải xuống nhằm hủy diệt con người và thiên nhiên Nơi đây là vùng căn cứ cách mạng nổi tiếng, với nhiều di tích lịch sử trong các thời kỳ kháng chiến chống ngoại xâm của miền Đông Nam Bộ, với địa danh nổi tiếng là Chiến khu Đ, căn cứ Khu Ủy miền Đông Nam Bộ, căn cứ Trung
Trang 18ương cục Miền Nam và khu địa đạo Suối Linh, đã được nhà nước cấp bằng chứng nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia
Ngoài ra rừng trong khu vực còn có chức năng rất quan trọng là phòng hộ trực tiếp cho hồ Trị An, góp phần tái tạo sự cân bằng sinh thái cho vùng trọng điểm phát triển kinh tế phía Nam, đồng thời là nơi có tiềm năng rất lớn để phát triển du lịch sinh thái
Từ những đặc trưng cơ bản trên, cuối năm 2003, UBND tỉnh Đồng Nai đã có Quyết định số 4679/2003/QĐ.UBT ngày 02/12/2003 thành lập Khu dự trữ thiên nhiên Vĩnh Cửu trên cơ sở sáp nhập lâm phần của các lâm trường Hiếu Liêm, Mã Đà và một phần của lâm trường Vĩnh An Sau đó, UBND tỉnh Đồng Nai đã quyết định sáp nhập Khu dự trữ thiên nhiên Vĩnh Cửu với Trung tâm quản lý di tích chiến khu Đ và đổi tên thành Khu bảo tồn thiên nhiên và di tích Vĩnh Cửu theo Quyết định số 09/2006/QĐ.UBND ngày 20/02/2006
Đến ngày 27/8/2010, chính thức đổi tên thành Khu Bảo tồn Thiên nhiên – Văn hoá Đồng Nai (Khu BTTN-VHĐN) theo Quyết định số 2208/QĐ-UBND của UBND tỉnh Đồng Nai Tổng diện tích tự nhiên của Khu Bảo tồn là 101.303 ha, gồm: 68.788,4
ha đất lâm nghiệp và hơn 32.000 ha mặt nước hồ Trị An
KBT được thành lập với mục tiêu khôi phục lại sự đa dạng sinh học của hệ sinh thái rừng cây tự nhiên bản địa thuộc lưu vực sông Đồng Nai; tạo ra phạm vi bảo tồn thiên nhiên rộng và liền mạch, bảo tồn nơi cư trú và di trú cho các loài động vật hoang
dã, mở rộng vùng địa lý sinh thái đặc thù của miền Đông Nam bộ, phục vụ công tác bảo tồn thiên nhiên gắn với việc bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa lịch sử của các di tích, nhằm giáo dục truyền thống cách mạng và phát triển du lịch sinh thái, mở ra nhiều cơ hội hợp tác, đầu tư với các tổ chức quốc tế về bảo tồn thiên nhiên, bảo tồn đa dạng sinh học, dự kiến đăng ký KBT thành khu Dự trữ sinh quyển thế giới
Đây là một trong những KBT thiên nhiên có diện tích tự nhiên lớn nhất Việt Nam Có hệ sinh thái rừng đặc trưng của vùng miền Đông Nam bộ, tồn tại nhiều loài động vật hoang dã, trong đó có nhiều loài quý hiếm, có nguy cơ tuyệt chủng nằm trong sách Đỏ Việt Nam và Danh lục Đỏ IUCN thế giới Bên cạnh giá trị về đa dạng sinh học, trước đây còn là vùng căn cứ cách mạng với địa danh nổi tiếng Chiến khu Đ
Trang 192.3.2 Các cơ sở pháp lý phát triển du lịch ở Khu Bảo tồn
1 Luật Di sản văn hóa: được Quốc hội Khóa 10 nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 29 tháng 6 năm 2001 thông qua;
2 Luật Du lịch: được Quốc hội Khóa 11 nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 14 tháng 6 năm 2005 thông qua;
3 Luật Bảo vệ và Phát triển rừng: được Quốc hội Khóa XI nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 03 tháng 12 năm 2004 thông qua;
4 Luật Đầu tư: được Quốc hội Khóa X nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2005 thông qua;
5 Nghị định 142/NĐ- CP ngày 14 tháng 11 năm 2005 của Chính phủ “Về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước”;
6 Nghị định 117/2010/NĐ-CP ngày 24 tháng 12 năm 2010 “Về tổ chức quản lý
hệ thống rừng đặc dụng”;
7 Quyết định số 104/QĐ-BNN ngày 27/12/2007 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn ban hành “Quy chế quản lý các hoạt động du lịch sinh thái tại các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên”
8 Quy hoạch phát triển Du lịch của tỉnh Đồng Nai đến năm 2020
2.3.3 Điều kiện tự nhiên
- Phía Bắc giáp sông Mã Đà, tỉnh Bình Phước
- Phía Nam giáp sông Đồng Nai
- Phía Tây giáp sông Bé, tỉnh Bình Dương
- Phía Đông giáp hồ Trị An
KBT nằm trên địa bàn các xã Phú Lý, Mã Đà, Hiếu Liêm, thị trấn Vĩnh An thuộc huyện Vĩnh Cửu và xã Thanh Sơn - huyện Tân Phú; Phú Cường, Phú Ngọc, La Ngà và Ngọc Định - huyện Định Quán; xã Thanh Bình thuộc huyện Trảng Bom, xã Gia Tân -
Trang 20huyện Thống Nhất - tỉnh Đồng Nai KBT nằm về phía Bắc tỉnh Đồng Nai; phía Tây
giáp tỉnh Bình Dương; phía Bắc giáp tỉnh Bình Phước Cách thành phố Hồ Chí Minh
70 km và cách thành phố Biên Hòa khoảng 40 km (nằm cạnh nhà máy Thủy điện Trị An) KBT nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, cận xích đạo, nên nhiệt độ và bức xạ mặt trời cao đều quanh năm, rất ít gió bão
Tổng diện tích tự nhiên là 68.788,4 ha, được phân thành 4 phân khu chức năng
và vùng đệm:
- Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt: 28.871,6 ha
- Phân khu phục hồi sinh thái: 29.902,0 ha
- Phân khu bảo tồn di tích: 1.750,1 ha
- Phân khu dịch vụ hành chánh: 409,3 ha
- Vùng đệm: 7.855,3 ha
2.3.3.2 Địa hình – Khí hậu – Thủy Văn
Địa hình:
- Nằm trong vùng chuyển tiếp từ cao nguyên Nam Trung phần xuống vùng địa
hình bán bình nguyên Đông Nam Bộ Có khuynh hướng thấp dần từ Bắc xuống Nam
- Độ cao lớn nhất: 368m, thấp nhất: 20m, bình quân 100m so với mặt nước biển
- Phía Tây có sông Bé, tạo ranh giới tự nhiên giữa KBT với tỉnh Bình Dương
- Phía Đông và Nam có hồ Trị An với diện tích 285 km2
- Trên địa bàn còn có hồ Bà Hào (hơn 400 ha) và hồ Vườn Ươm (hơn 20 ha), luôn ổn định mực nước, thuận lợi cho sự phát triển động, thực vật rừng và công tác
phòng cháy chữa cháy của đơn vị
Trang 21- Ngoài ra trong khu vực còn có hệ thống rất nhiều suối nhỏ đổ vào hồ Trị An và sông Bé như suối Linh, suối Cây Sung, suối Sai, suối Bà Hào,… đa phần suối nhỏ, đều
cạn nước vào mùa khô
Hình 2.1 Bản đồ vị trí của Khu BTTN-VH Đồng Nai
2.3.4 Đặc điểm kinh tế xã hội
a Dân số Theo số liệu điều tra dân sinh kinh tế năm 2008, trong khu vực có
5.415 hộ với khoảng 24.180 nhân khẩu đang sinh sống trên địa bàn 03 xã
- Xã Mã Đà : 1.727 hộ - 7.621 khẩu - 07 ấp dân cư
- : 1.036 hộ - 4.930 khẩu - 04 ấp dân cư
Trang 22dân khai phá vùng kinh tế mới, di dân tự
do, lao động dọn lòng hồ Trị An, cán bộ ờ
ỉ hưu và nghỉ theo các chế độ ở lại lập nghiệp, Việt kiều Campuchia hồi hương…
c Tôn giáo:
Dân cư sống trong và xung quanh Khu Bảo tồn có 27.944 người theo các tôn giáo như: Công giáo, Phật giáo, Tin Lành … chiếm 25,27% số nhân toàn khu vực, trong đó Công giáo có 16,12 %, Phật giáo có 06 %, Tin Lành có 01,1 %, còn lại là của các tôn giáo khác Riêng 03 xã Hiếu Liêm, Mã Đà và Phú Lý có 9.983 nhân khẩu theo các tôn giáo, chiếm 9,1 % dân số khu vực
d Lao động:
Tổng số lao động trong độ tuổi là 14.673 người, phần lớn là lao động trong lĩnh vực nông lâm nghiệp chiếm trên 90%, còn lại là lao động trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ và lao động khác Đa phần lao động có trình độ học vấn cấp tiểu học hoặc trung học cơ sở, một số lao động có trình độ học vấn trung học phổ thông, không qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật, lao động chân tay là chính
Nhìn chung, đời sống kinh tế của người dân nơi đây còn nhiều khó khăn, trình
độ dân trí thấp, điều kiệ ạn chế Nghề nghiệp chính là sản xuất nông nghiệp với trình độ thâm canh thấp, kỹ thuật canh tác chưa cao, sản lượng thu hoạch còn phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên Vì vậy, vẫn còn một số người dân lén lút vào rừng khai thác lâm sản và tình trạng lấn rừng làm rẫy vẫn còn diễn ra, gây khó khăn cho công tác quản lý bảo vệ rừng và bảo tồn đa dạng sinh học của Khu Bảo tồn
2.3.5 Các nguồn tài nguyên
2.3.5.1 Tài nguyên đa dạng sinh học
Sinh thái rừng
Trang 23KBT hiện là nơi có diện tích rừng tự nhiên, diện tích phân bố cây tự nhiên lớn nhất của miền Đông Nam Bộ và lưu vực sông Đồng Nai Đây là KBT lớn nhất của miền Đông Nam Bộ Là nơi phân bố của 3 hệ sinh thái rừng: HST rừng lá rộng thường xanh nhiệt đới, HST rừng nửa rụng lá, HST rừng tre nứa Các HST rừng trên đã hình thành nên nhiều sinh cảnh thực vật và là nơi cư trú của nhiều loài động vật hoang dã Ngoài ra, rừng của KBT còn có chức năng quan trọng là phòng hộ trực tiếp cho hồ Trị
An, góp phần tái tạo sự cân bằng sinh thái cho vùng trọng điểm phát triển kinh tế phía Nam, đồng thời là nơi có tiềm năng rất lớn để phát triển DLST
Theo kết quả điều tra của Phân viện Điều tra quy hoạch rừng Nam bộ, Viện Sinh thái - Tài nguyên Sinh vật và Viện Nghiên cứu - Nuôi trồng Thủy sản II (2008-2009), tài nguyên động thực vật tại KBT rất đa dạng về chủng loài và nhiều về số lượng cá thể, qua điều tra bước đầu ghi nhận:
¾ Thực vật: có 1.401 loài thực vật, thuộc 589 chi, 156 họ, 92 bộ, 10 lớp thuộc 06 ngành thực vật khác nhau ở KBT Xác định được 06 loài thực vật mang địa danh Đồng Nai, có 02 loài hiếm được phát hiện ở KBT là Vấp thuộc họ Bứa, Thông tre thuộc họ Kim giao, cây dược liệu có 103 loài
¾ Động vật: có 1.729 loài động vật, côn trùng hoang dã thuộc 238 họ, 52 bộ động vật, côn trùng sống tại KBT Trong đó, có nhiều loài được ghi vào sách Đỏ Việt Nam như: Báo gấm, Gấu chó, Bò tót, Chà vá chân đen…
Sinh thái hồ
- Đặc trưng nổi bật về thủy sản tự nhiên tại KBT là hệ sinh thái cá nước ngọt, nơi
cư trú của nhiều loài cá, trong đó có nhiều loài quý hiếm, có nguy cơ tuyệt chủng và được ghi vào sách Đỏ Việt Nam như cá mơn (cá rồng), đặc biệt là các loài thích nghi với vùng sông suối thượng nguồn, nước chảy mạnh khác xa với các loài cá nước ngọt phân bố ở đồng bằng thuộc hạ lưu sông Cửu Long, sông Đồng Nai hay sông Sài Gòn
- Hồ Trị An với diện tích khoảng 32.400 ha với 72 đảo lớn nhỏ, trong đó có 53 đảo nổi trên cao trình 62m Với tính đa dạng sinh học cao, là nơi có tiềm năng để mời gọi đầu tư phát triển du lịch, nhất là các môn thể thao như : Du thuyền cano, trượt nước; nghỉ dưỡng trên các hòn đảo giữa hồ; tham quan các làng nuôi cá bè, câu cá giải trí…
Trang 24- Hồ Bà Hào với diện tích trên 400ha diện tích mặt nước nằm trong vùng lõi của Khu Bảo tồn đây là một địa điểm có tiềm năng rất lớn, là Trung tâm để phát triển các khu du lịch bổ trợ tại Khu Bảo tồn
Với sự đa dạng về sinh học, những giá trị cùng những lợi ích vô cùng lớn như trên, Khu Bảo tồn đã được xếp loại là rừng đặc dụng cấp Quốc gia, là nơi bảo tồn các nguồn gen quý hiếm và có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với đời sống con người đặc biệt là tiềm năng phát triển du lịch sinh thái gắn với du lịch về nguồn
2.3.5.2 Tài nguyên du lịch nhân văn
Di tích lịch sử cách mạng
Tại địa bàn KBT có 03 di tích lịch sử được công nhận là di tích cấp quốc gia, đó là: căn cứ Khu ủy miền Đông Nam bộ (1962-1967); căn cứ Trung ương Cục miền Nam (1961-1962); địa đạo Suối Linh Đây là những căn cứ cách mạng trong 2 thời kỳ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ của quân và dân miền Đông Nam bộ, trong đó
di tích căn cứ Khu ủy miền Đông và Trung ương Cục miền Nam đã được Nhà nước đầu tư trùng tu, tôn tạo
Văn hóa bản địa của đồng bào các dân tộc
Tại KBT có cộng đồng dân tộc thiểu số Chơro sinh sống gắn bó lâu đời tại xã Phú Lý, là tộc người có nhiều đóng góp cho cách mạng trong hai cuộc kháng chiến và
có những sắc thái văn hóa đặc sắc riêng Trong năm 2009 Nhà nước đã xây dựng và đưa vào sử dụng nhà Dài truyền thống của dân tộc Chơro và nhà văn hóa cộng đồng
Trang 25Chương 3
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Nội dung nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu của đề tài bao gồm:
- Đặc điểm tài nguyên DLST tại KBTTN-VH Đồng Nai, những tiềm năng phát triển DLST của KBT như: Tài nguyên đa dạng sinh học, tài nguyên nhân văn, các cảnh quan thiên nhiên
- Hiện trạng phát triển du lịch trong khu vực, bao gồm: Cơ cấu tổ chức quản lý
du lịch của KBTTN-VH Đồng Nai, tình hình nhân sự, cơ sở hạ tầng, giao thông, cơ sở vật chất phuc vụ cho hoạt động DLST: nhà nghỉ, khách sạn, nhà hàng, các dịch vụ khác
- Phân tích các bên liên quan trong dự án phát triển DLST bền vững; vai trò, lợi ích của các bên và đề xuất kế hoạch phối hợp hành động giữa các bên liên quan
- Phân tích SWOT và xác định những chiến lược phát triển DLST ở KBTTN-VH Đồng Nai
- Xác định những giải pháp phát triển DLST bền vững tại KBT cụ thể như: các giải pháp kỹ thuật (quy hoạch, phát triển cơ sở vật chất phục vụ du lịch…), giải pháp
xã hội (giáo dục môi trường, phát triển kinh tế cộng đồng…), các giải pháp về cơ chế, chính sách…
- Thiết kế các tour – tuyến du lịch liên kết KBT với các điểm du lịch khác trong
và ngoài tỉnh Đồng Nai
3.2 Phương pháp nghiên cứu
3.1.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Việc thu thập, phân tích tài liệu từ nhiều nguồn bắt đầu ngay khi đề tài được triển khai Cụ thể:
- Thu thập, tổng hợp và kế thừa các thông tin lý thuyết về DLST, bảo tồn ĐDSH, phát triển bền vững, các văn bản pháp quy liên quan đến phát triển DLST trong KBTTN,… từ nhiều nguồn khác nhau (sách báo, internet, nguồn dữ liệu của KBT…)
Trang 26Đây là cơ sở lý luận vững chắc cho việc định hướng nghiên cứu và tư duy giải quyết các vấn đề khi thực hiện đề tài
- Các thông tin về tài nguyên, cảnh quan, hiện trạng hoạt động, các số liệu liên quan đến điều kiện tự nhiên của địa bàn nghiên cứu: thu thập tại trung tâm Sinh thái – Văn hóa – Lịch sử chiến khu Đ, phòng bảo tồn của KBTTN-VH Đồng Nai
- Những số liệu, tài liệu liên quan đến tình hình dân sinh, kinh tế, xã hội, cơ sở hạ tầng của khu vực nghiên cứu: thu thập tại UBND huyện Vĩnh Cửu
3.1.2 Phương pháp bản đồ
Dựa vào bản đồ du lịch, bản đồ địa chính, bản đồ dân cư, bản đồ tài nguyên, bản
đồ giao thông, bản đồ địa hình KBTTN-VH Đồng Nai và các khu vực lân cận nhằm xác định rõ vị trí địa lý của huyện, xác định tài nguyên hiện có, cũng như xác định các tuyến du lịch qua huyện nhằm hỗ trợ cho quá trình khảo sát cũng như đề xuất các giải pháp trong quá trình thực hiện đề tài Trên cơ sở đó đánh giá được những mặt thuận lợi
và khó khăn trong việc khai thác tiềm năng cho hoạt động du lịch trong tương lai của KBT
3.1.3 Phương pháp khảo sát thực địa
Khảo sát thực địa nhằm nắm rõ tình hình thực tế, có được những thông tin chính xác và cụ thể, định hình được công việc cần thực hiện để có thể đề xuất ra những giải pháp thích hợp và hữu hiệu nhất
Công tác khảo sát thực địa được chia làm 2 đợt:
- Đợt 1: từ 15/8/2013 – 15/9/2013: khảo sát các tài nguyên tự nhiên, tài nguyên nhân văn, cơ sở hạ tầng, cơ cấu tổ chức của KBT Chụp ảnh một số cảnh quan tại KBT
- Đợt 2: từ 1/10/2013 – 30/10/2013: phát phiếu khảo sát, đánh giá mức độ hài lòng của khách du lịch, tìm hiểu cuộc sống của người dân, ghi nhận ý kiến của các cán
bộ tại KBT và ý kiến đóng góp của người dân
Cuối cùng, đối chiếu các thông tin thu thập được để có những thay đổi hợp lý nhằm đưa ra những đánh giá sát với tình hình thực tế
3.1.4 Phương pháp nghiên cứu các bên liên quan
Phân tích các bên liên quan (Stake holder Analysis – SA) là một phương pháp luận có tính hệ thống sử dụng các dữ liệu định lượng nhằm xác định lợi ích và ảnh
Trang 27hưởng của các nhóm khác nhau trong sự liên hệ đến một sự thay đổi trong dự án, chương trình và chính sách
Đề tài áp dụng phương pháp nghiên cứu các bên liên quan để đưa ra các nhận định về mối quan hệ giữa các thành phần, đối tượng tham gia vào hoạt động DLST tại KBT, đồng thời vạch kế hoạch phối hợp hành động giữa các bên liên quan, phát huy toàn bộ vai trò của các bên trong quá trình thực hiện dự án DLST tại KBT, nhằm mục tiêu đảm bảo cho dự án phát triển bền vững và đảm bảo lợi ích công bằng cho các bên tham gia Phương pháp phân tích các bên liên quan được thực hiện như sau:
Ma trận được xây dựng dựa vào phân tích 4 nhóm yếu tố đặc trưng: các điểm mạnh (Strengths), các điểm yếu (Weaknesses), các cơ hội (Opportunities) và các thách thức (Threats) Trong đó:
- Phân tích điểm mạnh (S = strength), điểm yếu (W = weakness) là sự đánh giá từ bên trong, tự đánh giá về khả năng của hệ thống (đối tượng) trong việc thực hiện mục tiêu, lấy mục tiêu làm chuẩn để xếp một đặc trưng nào đó là điểm mạnh (hỗ trợ mục tiêu) hay điểm yếu (cản trở mục tiêu)
- Phân tích cơ hội (O = opportunities), thách thức (T = threats) là sự đánh giá các yếu tố bên ngoài chi phối đến mục tiêu phát triển của hệ thống (đối tượng), lấy mục tiêu làm chuẩn để xếp một đặc trưng nào đó của môi trường bên ngoài là cơ hội (hỗ trợ mục tiêu) hay thách thức (cản trở mục tiêu)
Trang 28Dựa trên 4 nhóm yếu tố trên, trong quá trình phân tích tôi kết hợp các nhóm yếu
tố với nhau nhằm tìm kiếm phương hướng, vạch ra các chiến lược phát triển phù hợp trong thời gian tới cho KBTTN-VH Đồng Nai:
- Chiến lược S/O: phát huy điểm mạnh để tận dụng thời cơ
- Chiến lược W/O: Không để điểm yếu làm mất cơ hội
- Chiến lược S/T: Phát huy điểm mạnh để khắc phục vượt qua thử thách
- Chiến lược W/T: Không để thử thách làm phát triển điểm yếu
3.1.6 Phương pháp phỏng vấn chuyên gia
Thực hiện phương pháp phỏng vấn chuyên gia để thu thập những thông tin chính xác và hữu hiệu, có được những lời nhận xét quý báu về phương pháp luận cũng như nội dung thực hiện đề tài, để xác định rõ đề tài đi đúng hướng và có những định hướng mới trong quá trình nghiên cứu Phương pháp được thực hiện với các đối tượng:
- Cán bộ trung tâm Sinh thái – Văn hóa – Lịch sử chiến khu Đ, phòng bảo tồn của KBTTN-VH Đồng Nai, UBND huyện Vĩnh Cửu, cán bộ kiểm lâm của KBT: Nhằm có được những thông tin chính xác và hữu ích nhất làm số liệu nền cho quá trình thực hiện nghiên cứu, cũng như giúp nhận diện rõ vấn đề và đối tượng nghiên cứu trước khi tiến hành khảo sát
- Các thầy cô trong khoa Môi trường và Tài nguyên của trường đại học Nông Lâm Tp.HCM: Giúp cho đề tài thực hiện có bố cục theo đúng yêu cầu của khoa, những lời góp ý về cách tiến hành phương pháp nghiên cứu, những vấn đề cần sửa chữa tong nội dung nghiên cứu cũng như lựa chọn đối tượng khảo sát đã giúp cho đề tài thực hiện theo đúng yêu cầu và tiến độ đặt ra
Trang 29Chương 4
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 Tiềm năng phát triển DLST tại KBTTN-VH Đồng Nai
4.1.1 Tài nguyên du lịch tự nhiên
Theo kết quả điều tra của Phân viện Điều tra quy hoạch rừng Nam bộ, Viện Sinh thái – Tài nguyên Sinh vật và Viện Nghiên cứu - Nuôi trồng Thủy sản II (2008-2009) Tài nguyên động thực vật tại KBTTN-VH Đồng Nai rất đa dạng về chủng loài và nhiều về số lượng cá thể
4.1.1.1 Tài nguyên thực vật
Thực vật: có 1.401 loài thực vật, thuộc 589 chi, 156 họ, 92 bộ, 10 lớp thuộc 06
ngành thực vật khác nhau ở KBT Trong đó, có 06 loài thực vật đặc hữu của Đồng Nai, như: Cù đèn Đồng Nai; Lát hoa Đồng Nai; Ngâu Biên Hòa; Bướm bạc Biên Hòa;
Hạ đệ; Xú hương Biên Hòa, có 02 loài hiếm được phát hiện ở KBT là cây Vấp thuộc
họ Bứa, Thông tre thuộc họ Kim giao Cây dược liệu có 103 loài thuộc các dạng cây
gỗ, cây bụi, cỏ dây leo, khuyết thực vật và thực vật phụ sinh, ký sinh… Ngoài ra, còn
có các loại lâm sản ngoài gỗ với số lượng lớn như: Ươi, Ô dước, Lồ ô, Song mây…
Do vị trí KBT nằm ở vùng địa hình chuyển tiếp từ phía Nam dãy Trường Sơn qua Đông Nam bộ xuống vùng đồng bằng sông Cửu Long Do vậy, hệ động thực vật
có quan hệ chặt chẽ với hệ động, thực vật của dãy Trường Sơn Nam
Thảm thực vật rừng trong KBT, gồm các kiểu rừng: kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới (Rkx); kiểu rừng kín nử ẩm nhiệt đới (Rkn); kiểu rừ
ẩm nhiệt đới (Rkr)
KBT có các loài thực vật thuộc nhóm quý hiếm như loài Gõ đỏ (Afzelia xylocarpa); Cẩm lai Bà Rịa (Dalbergia bariensis) và Dáng hương trái to (Pterocarpus macrocarpus) là 03 loài cây gỗ lớn có giá trị về mặt kinh tế rất lớn Tuy nhiên hiện nay
số lượng cá thể phân bố trong tự nhiên còn lại rất ít ở KBTTN-VH Đồng Nai
Trang 30Có 30 loài thực vật thuộc 27 chi, 18 họ, 16 bộ có tên trong danh mục các loài quý hiếm của Sách Đỏ Việt Nam – Phần thực vật Trong 30 loài quý hiếm theo Sách Đỏ
Việt Nam (2007) thì có loài Vên vên (Anisoptera costata) và Dầu song nàng (Dipterocarpus dyeri) là 02 loài cây gỗ lớn thuộc họ Dầu (Dipterocarpaceae) thường
chiếm lĩnh tầng ưu thế sinh thái của rừng, có ý nghĩa to lớn trong cấu trúc thành phần loài của hệ sinh thái rừng cây họ Dầu của kiểu rừng kín nửa rụng lá và rụng lá ẩm nhiệt đới thuộc lưu vực sông Đồng Nai, đặc trưng của vùng Đông Nam Bộ nói chung
và của KBTTN-VH Đồng Nai nói riêng
4.1.1.2 Tài nguyên động vật
Kết quả điều tra của Viện sinh thái và tài nguyên sinh vật đã ghi nhận có 1.682 loài động vật hoang dã ở Khu BTTN-VH Đồng Nai Trong đó có 1.729 loài động vật, côn trùng hoang dã thuộc 238 họ, 52 bộ động vật, côn trùng sống tại KBT Trong đó
có nhiều loài được ghi vào sách Đỏ Việt Nam như: Voi, Báo gấm, Gấu chó, Bò tót, Chà vá chân đen, Gà so cổ hung, Gà tiền mặt đỏ, Chích chạch má xám…
¾ Thú: có 85 loài thuộc 27 họ, 10 bộ Trong đó có 36 loài quý hiếm, đặc hữu của Việt Nam và khu vực Đông Nam Á như bò tót, bò bangten, voi, gấu chó, sói lửa ; 19 loài ghi trong Danh lục Đỏ IUCN; 26 loài ghi trong Sách Đỏ Việt Nam; 2 loài đặc hữu của Việt Nam và 9 loài đặc hữu trong khu vực
Phân tích thành phần loài khu hệ thú cho thấy các loài thú nhỏ chiếm ưu thế, cụ thể bộ Dơi có 25 loài và bộ Gặm nhấm có 18 loài Trong số 3 bộ thú lớn thì bộ Ăn thịt chiếm ưu thế với 20 loài và bộ Móng guốc chẵn chỉ có 7 loài, bộ Linh trưởng có 7 loài Một số loài thú móng guốc còn tồn tại với số lượng khá nhiều trong KBT như Lợn rừng, Nai, Hoẵng, Cheo Cheo…
¾ Chim: Sự đa dạng của các kiểu sinh cảnh đặc trưng của khu bảo đã tạo nên
tính đa dạng của khu hệ chim hoang dã ở đây Qua kết quả điều tra, phát hiện có 259 loài chim thuộc 53 họ và 18 bộ Trong đó có 21 loài chim quý hiếm, 12 loài ghi trong Sách Đỏ Việt Nam; 11 loài ghi trong Danh lục Đỏ IUCN Có một số loài chim quý hiếm như Hồng hoàng, Công, Cò lạo ấn độ, Hạc cổ trắng , Gà tiền mặt đỏ, Gà lôi hông tía, Gà so cổ hung, Chích chạch má xám…
Trang 31So sánh với khu hệ chim Việt Nam cho thấy: số loài chim ở khu vực nghiên cứu chiếm 31,3% tổng số loài chim của Việt Nam, số họ chiếm 65,4% tổng số họ chim của Việt Nam và số bộ chiếm 94,7% tổng số bộ chim của Việt Nam
¾ Bò sát: có 64 loài thuộc 13 họ và 02 bộ Các họ có số lượng loài nhiều bao gồm
họ Rắn nước (Colubridae) có 20 loài, họ nhông (Agamidae) - 9 loài và họ Tắc kè (Gekkonidae) có 8 loài Đã ghi nhận tại KBTTN-VH Đồng Nai có 21 loài quý hiếm (chiếm 32,8% tổng số loài) Ở mức độ đe doạ toàn cầu (Danh lục Đỏ IUCN, 2009) có
8 loài trong đó có 4 loài ở mức nguy cấp (EN), 4 loài mức sẽ nguy cấp (VU), 1 loài sắp bị đe doạ (NT) Có 18 loài được liệt kê trong Sách Đỏ Việt Nam 2007 gồm: 8 loài nguy cấp (EN), 7 loài sẽ nguy cấp (VU) và 3 loài rất nguy cấp (CR) Có 15 loài ghi trong Nghị Định 32/2006/NĐ-CP: 1 loài nhóm IB, 14 loài nhóm IIB
¾ Ếch, nhái: có 33 loài thuộc 05 họ và 01 bộ Trong số 97 loài bò sát và ếch nhái
có 25 loài quý hiếm, 12 loài ghi trong Danh lục Đỏ IUCN; 21 loài ghi trong Sách Đỏ Việt Nam Các họ có số lượng loài nhiều bao gồm Nhái bầu (Microhylidae) - 10 loài,
họ Ếch cây (Rhacophoridae) có 8 loài
¾ Cá: có 99 loài được định danh, thuộc 29 họ và 11 bộ Đặc trưng nổi bật về thủy
sản tự nhiên tại KBT là hệ sinh thái cá nước ngọt, nơi cư trú của nhiều loài cá, trong
đó có nhiều loài quý hiếm, có nguy cơ tuyệt chủng và được ghi vào sách Đỏ Việt Nam như cá mơn (cá rồng), đặc biệt là các loài thích nghi với vùng sông suối thượng nguồn, nước chảy mạnh khác xa với các loài cá nước ngọt phân bố ở đồng bằng thuộc hạ lưu sông Cửu Long, sông Đồng Nai hay sông Sài Gòn
¾ Côn trùng: có 1.189 loài thuộc 112 họ và 10 bộ Khu BTTN-VHĐN có số loài côn trùng quý hiếm khá nhiều: 8 loài có trong Sách Đỏ Việt Nam (2007), chiếm tỷ lệ 38,1% của tổng số 21 loài Có 2 loài bướm có tên trong danh sách các loài nguy cấp, quý hiếm thuộc Nghị định 32/2006/NĐ-CP là Bướm phượng cánh chim chấm liền và Bướm rừng đuôi trái đào thuộc mục IIB
Như vậy, có thể khẳng định KBTTN-VH Đồng Nai có số loài, số họ, số bộ đa dạng, thể hiện tầm quan trọng trong bảo tồn tính đa dạng động vật rừng ở vùng Đông Nam bộ nói riêng và của Việt Nam nói chung
4.1.1.3 Cảnh quan thiên nhiên
Công viên đá
Trang 32Đây là khu vực có cảnh quan thiên nhiên kỳ thú, các bãi đá liên kết cạnh nhau, tạo thành một quần thể đá tự nhiên có nhiều hình thù lạ mắt hấp dẫn, như Hang Hổ nằm, Hòn Phu thê… Khu vực này nằm cạnh rừng nguyên sinh rộng lớn và ven suối
Bà Hào, quanh năm có nước, có nhiều ghềnh thác tự nhiên thơ mộng, cạnh khu vực
này (3 km) là di tích địa đạo Suối Linh
Hình 4.1: Công viên đá nằm trong khuôn viên KBTTN-VH Đồng Nai
Thác Ràng (xã Phú Lý)
Xã Phú Lý nằm phía bắc của huyện Vĩnh Cửu Từ UBND huyện Vĩnh Cửu đi xã Phú Lý 45 km, từ xã vào thác Suối ràng 17 km, giao thông chưa thuận lợi Thác có diện tích khoảng 1000 m2, chiều ngang 25 m, độ cao gần 5m thác có nước quanh năm, bao quanh thác là rừng cây gỗ đan xen lồ ô, có cảnh quan rừng tiêu biểu đại diện cho kiểu rừng kín thường xanh Rất lý tưởng cho các chuyến tham quan, dã ngoại vào mùa
Hè với khu dã ngoại khoảng 2000 m2 tại chỗ và cảnh quan rừng tre, luồng, lồ ô khoảng 16.000 ha Khu vực này gần làng dân tộc Chơro xã Phú Lý và Vườn Quốc gia Cát Tiên
Trang 33Hình 4.2: Thác ràng (Nguồn: Khu bảo tồn Thiên nhiên – Văn hóa Đồng Nai)
Hồ Trị An
Với diện tích lúc ngập nước vào khoảng 32.400 ha có xen lẫn một số đảo nhỏ trên hồ Đây là nơi lý tưởng để mời gọi đầu tư phát triển du lịch, nhất là các môn thể thao như dù kéo, cano trượt nước; nghỉ dưỡng trên các hòn đảo giữa hồ; tham quan các làng nuôi cá bè, câu cá giải trí …
Hình 4.3: Hồ Trị An và nhà máy thủy điện Trị An
Nhà máy Thủy điện Trị An được xây dựng vào năm 1984 và đưa tổ máy đầu tiên vào hoạt động năm 1988, tới năm 1989 tất cả bốn tổ máy đều hoạt động cho đến năm
1991 tất cả các hạng mục của nhà máy đều hoàn thành, với 4 tổ máy đạt công suất 1,7
tỉ KWh/năm Ngoài ra hồ Trị An còn cung cấp nước sinh hoạt và phục vụ sản xuất
Trang 34nông nghiệp, cung cấp nguồn lợi thủy sản cho các tỉnh miền Đông Nam bộ Hiện nay khu Bảo tồn đã đưa Nhà máy Thủy điện Trị An là điểm tham quan trong tour du lịch,
du khách sẽ được nghe giới thiệu về quy mô, thiết kế kĩ thuật của nhà máy, các hạng mục công trình phục vụ phát điện hòa vào lưới điện quốc gia
Hồ Bà Hào
Hồ Bà Hào với diện tích trên 400ha diện tích mặt nước nằm trong vùng lõi của KBT với rừng xanh tự nhiên bao quanh, đây là một địa điểm có tiềm năng rất lớn, là Trung tâm để phát triển các khu du lịch bổ trợ tại KBT Có điều kiện lý tưởng để tổ chức hoạt động du lịch, dã ngoại Hiện Khu Bảo tồn đang xây dựng dự án quy họach trở thành Khu du lịch với nhiều loại hình du lịch và chò trơi giải trí như: Du thuyền, câu cá giải trí, thưởng thức đặc sản từ hồ như: Cá Lăng, Bống Tượng
Hình 4.4: Hồ Bà Hào và Ao sen hồ Bà Hào (Nguồn: Khu bảo tồn Thiên nhiên –
Văn hóa Đồng Nai) 4.1.2 Tài nguyên du lịch nhân văn
4.1.2.1 Các di tích lịch sử, văn hoá
Tại địa bàn KBT có 03 di tích lịch sử được công nhận là di tích cấp Quốc gia, đó là: Căn cứ Khu Ủy miền Đông Nam bộ (1962-1967); căn cứ Trung ương Cục miền Nam (1961-1962); Địa đạo Suối Linh Đây là những căn cứ cách mạng trong 2 thời kỳ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ của miền Đông Nam bộ, trong đó căn cứ Khu
Ủy miền Đông và Trung ương Cục miền Nam đã được Nhà nước đầu tư trùng tu, tôn
Trang 35tạo Ngoài tác dụng giáo dục truyền thống yêu nước, các di tích còn góp phần thúc đẩy
du lịch phát triển
Căn cứ Trung ương Cục miền Nam (1961-1962):
Tổng diện tích quy hoạch Trung tâm TW Cục miền Nam khoảng 20 ha Di tích
TW Cục Miền Nam (1961-1962) nằm trên địa bàn xã Phú Lý huyện Vĩnh Cửu tỉnh Đồng Nai, cách ngã 3 Bà Hào 16 km, đây là nơi TW Cục Miền Nam thành lập và tổ chức hội nghị đầu tiên vào tháng 10/1962 Sự ra đời của TW Cục Miền Nam thời kỳ
1961 – 1962 tại Mã Đà là sự kiện lịch sử rất quan trọng thể hiện sự nhạy bén, kịp thời của TW Đảng, của chủ tịch Hồ Chí Minh, đây là trung tâm đầu não lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng giải phóng Miền Nam, nhằm đáp ứng yêu cầu lúc bấy giờ trong sự nghiệp đấu tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược
Với tầm quan trọng và ý nghĩa lịch sử ấy, di tích căn cứ TW Cục Miền Nam (1961-1962), được Bộ VHTT công nhận và xếp hạng di tích cấp quốc gia vào ngày 19/01/2004
Hình 4.5: Đền tưởng niệm và bia tưởng niệm ở Trung ương Cục Miền Nam
Căn cứ Khu Ủy miền Đông Nam Bộ (1962-1967) (Chiến khu Đ):
Căn cứ Khu Ủy miền Đông Nam Bộ được Bộ VHTT công nhận di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia vào ngày 28/11/1997 Tổng diện tích khu trung tâm Khu Ủy Miền Đông Nam Bộ khoảng 25 ha
Di tích căn cứ Khu Ủy miền Đông Nam Bộ (1962-1967) hay còn gọi là Chiến Khu Đ, đặt ở địa bàn xã Hiếu Liêm các Bà Hào 15 km Đây là trung tâm lãnh đạo, chỉ
Trang 36đạo các cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược trên chiến trường các tỉnh Miền Đông Nam Bộ, là nơi tiếp nhận sự chỉ đạo của TW Đảng để từ đó lan tỏa đi các tỉnh Miền Đông Nam Bộ, là nơi tiếp nhận sự chi viện sức người, vũ khí, quân trang, quân dụng, hậu cần từ hậu phương Miền Bắc chuyển vào Là nơi dưỡng quân, thành lập các đội quân chủ lực, huấn luyện cán bộ cách mạng, là nơi xuất phát của những trận đánh tiêu diệt chi Khu Phước Thành (1961), tập kích pháo vào sân bay Biên Hòa (1964), tạo ra thế trận để mở chiến dịch Hồ Chí Minh giải phóng hoàn toàn miền Nam
Hình 4.6: Căn cứ Khu Ủy miền Đông Nam Bộ (1962-1967)
Khu di tích địa đạo Suối Linh (1962-1967)
Với tổng diện tích quy hoạch khu trung tâm khoảng 20 ha, khu di tích địa đạo Suối Linh (1962-1967) nằm ở địa phận phân trường 3, lâm trường Hiếu Liêm, nay thuộc KBTTN-VH Đồng Nai Di tích đã được Bộ VHTT xếp hạng là di tích lịch sử văn hóa theo Quyết định số 61/QĐ-BVHTT ngày 13/9/1999
4.1.2.2 Nét văn hoá đặc trưng của cộng đồng dân tộc Chơ Ro
Tại KBT có cộng đồng dân tộc thiểu số Chơro sinh sống lâu đời tại xã Phú Lý, là tộc người thiểu số có nhiều đóng góp cho cách mạng trong hai cuộc kháng chiến và có những sắc thái văn hóa đặc sắc riêng Ở đây có tiềm năng rất lớn để phát triển dịch vụ
du lịch homestay
Trang 37 Văn hóa xã hội
Làng là đơn vị cư trú của người Chơ Ro, giống như thôn xóm của người Việt Mỗi làng thường có từ 10 đến 15 nóc nhà dài Các gia đình trong làng thuộc nhiều dòng họ khác nhau, nhưng phần lớn có quan hệ họ hàng với nhau Xưa kia, người Chơ
Ro có hình thức đại gia đình gồm nhiều thế hệ, chung sống trong một nhà dài, mỗi cặp
vợ chồng sau khi lấy nhau, họ lại nối phía sau căn nhà dài thêm một, hai gian cho gia đình mới Sau này, hình thức tiểu gia đình xác lập và trở thành phổ biến
KBT đã làm chủ đầu tư phục dựng Nhà dài và đưa vào sử dụng từ năm 2009 và
là đơn vị trực tiếp quản lý và đưa vào điểm trong tour du lịch của mình Hiệ
ần rừng (Sa Yang ri), Cúng thần lúa (Sa Yang va) và lễ hội đâm Trâu
Hình 4.7: Nhà dài làng đồng bào dân tộc Chơro
Văn hóa tâm linh
Người Chơ Ro tin mọi vật đều có linh hồn và tin vào sự chi phối con người của các thần linh Đó chính là nguyên nhân của các kiêng kỵ và các lễ cúng tế Hoạt động kinh tế chủ yếu của người Chơ Ro chủ yếu là làm nông nghiệp: trồng trọt và chăn nuôi Phương thức sản xuất thấp, lạc hậu, phụ thuộc vào môi trường tự nhiên nên người dân tin vào sự giúp đỡ của thần linh Người Chơ Ro có tín ngưỡng đa thần: thần lúa (yang va), thần rừng (yang bri), thần suối (yang dal), thần rẫy (yang re), thần ruộng (yang mơ) Trong đó quan trọng nhất là thần lúa và thần rừng Lễ hội Sayangva được
Trang 38tổ chức trong khoảng thời gian từ tháng giêng đến tháng hai âm lịch hằng năm (sau thời điểm bà con dân tộc Chơ Ro thu hoạch xong mùa màng) là dịp lễ lớn nhất của người Chơ Ro Đây là dịp để đồng bào tạ ơn thần linh đã cho một vụ mùa bội thu và cầu xin mưa thuận gió hòa để mùa vụ năm sau nhà nhà được no đủ Trong lễ hội, ngoài lễ vật dâng cúng Thần lúa, đồng bào dân tộc Chơ Ro còn tổ chức sinh hoạt cồng chiêng, múa hát cùng các trò chơi dân gian, như đẩy gậy, kéo co, bắn nỏ và chế biến món ăn dâng lên thần linh Vào ngày hội, người Chơ Ro có dịp được thể hiện tài năng đồng thời giới thiệu với bà con các dân tộc khác nét văn hóa riêng của mình
Văn hóa nghệ thuật
- Văn nghệ dân gian: Vốn văn nghệ dân gian của người Chơ Ro khá phong phú, với nhiều thể loại: truyện kể, thơ ca trữ tình, múa, lối hát đối đáp, các câu tục ngữ… Múa cũng là một trong những vốn văn nghệ dân gian còn lưu giữ được và là sáng tạo của cộng đồng người Chơ Ro Các động tác múa phản ánh cuộc sống lao động sản xuất, mang sắc thái của môi trường sinh sống, thể hiện các mối quan hệ, những tâm tư tình cảm cộng đồng Nhạc cụ của người Chơ Ro gồm nhiều loại, trong đó nổi bật và cũng là phổ biến là bộ chiêng 7 chiếc được làm bằng đồng, với kỹ thuật chế tác khá phức tạp Đường kính của chiêng nhỏ, từ 35 cm đến 45 cm, thường dùng trong các dịp
lễ Ngoài ra, người Chơ Ro còn sử dụng nhiều loại nhạc cụ cổ truyền khác như: trống, kèn, sáo…
- Thủ công gia đình: Hai nghề thủ công chính của người Chơ Ro là đan lát và dệt vải Tuy nhiên, chỉ có nghề đan lát bằng tre mây nứa là phổ biến Nghề dệt vải bị mai một dần dần và hiện nay mất hẳn Nguyên liệu đan lát dễ kiếm, là các loại song mây, mây, tre, nứa, lá dứa, lá buông và một vài loại dây rừng khác Kỹ thuật đan lát đơn giản nhưng sản phẩm của họ phong phú về chủng loại và đa dạng về chức năng như: Gùi, các đồ gia dụng (rổ, rá, mẹt, nơm, lờ, lồng gà…), các đồ dùng sinh hoạt (chiếu, nôi,…) Võng mây là một trong những sản phẩm độc đáo trong nghề thủ công đan lát của người Chơ Ro
- Ẩm thực: Người Chơ Ro sống với thiên nhiên, hòa mình với núi rừng, chính vì thế, bằng những nguyên liệu có sẵn, họ sáng tạo ra những món ăn độc đáo và hấp dẫn
mà không ở đâu có được như: canh ống thụt rau Bép, các món ăn chế biến từ Đọt Mây, cơm lam, thức uống có rượu cần…
Trang 39Tham quan nơi đây du khách sẽ bắt gặp hình ả
ế
R
4.1.3 Cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch
Giao thông vận tải:
Giao thông vận tải KBT khá thuận lợi KBT ở gần các đô thị lớn như: Biên Hòa,
TP Hồ Chí Minh, Vũng Tàu, có hệ thống giao thông nhựa nóng gồm các tỉnh lộ 767 (dẫn từ quốc lộ 1, ngã ba Trị An vào Nhà máy thủy điện Trị An (dài 20km)), 768 (Từ Biên Hòa đến trung tâm huyện dài 45km chạy dọc sông Đồng Nai) liên thông với hệ thống đường quốc lộ 1 và quốc lộ 20; đường sông đi từ Biên Hòa đến bến đò xã Trị
An (60km); có đường cấp phối xuyên rừng, nối thông Khu Bảo tồn với Vườn quốc gia Cát Tiên
Những năm gần đây, cơ sở hạ tầng giao thông trong vùng nhìn chung đã được cải thiện nhờ sự hỗ trợ của các dự án như Chương trình 135, Chương trình giao thông nông thôn Trên địa bàn hệ thống các tuyến đường giao thông khá phát triển, các trục đường chính trong khu vực bao gồm:
- Đường 761 xuất phát từ đường 767 tại chợ Mã Đà vào xã Phú Lý đi qua lâm phần của Khu Bảo tồn với chiều dài 30 km, hiện đã được trải thảm bê tông nhựa;
- Đường Bà Hào – Rang Rang: với chiều dài khoảng 13 km, mặt đường cấp phối sỏi đỏ, hiện trạng có nhiều chổ bị nước xẻ trên mặt đường và có những ổ gà nhỏ Tuyến đường này, đi vào Khu Chứng tích chiến tranh hóa học Mã Đà – Đồng Nai nằm
ở khu vực sân bay Rang Rang
- Đường Chiến khu Đ: điểm đầu giao với tuyến đường Bà Hào – Rang Rang, điểm cuối nối tiếp đường Hiếu Liêm, đây là tuyến đường vào Khu di tích Căn cứ Khu
ủy miền Đông, chiều dài tuyến 17,5 km, hiện trạng là đường cấp phối sỏi đỏ
- Đường Hiếu Liêm: điểm đầu tuyến tại ngã ba Lâm trường và kết thúc nối tiếp vào đường Chiến khu Đ (tại Khu ủy miền Đông Nam bộ), chiều dài tuyến 27,2 km, hiện trạng đường cấp phối sỏi đỏ Đây cũng là tuyến đường vào khu di tích Địa đạo Suối Linh nối thông đi đến Khu di tích Căn cứ Khu ủy miền Đông
Trang 40- Đường vào Trung ương Cục miền Nam: dài 7,1 km, đường cấp phối sỏi đỏ, điểm đầu giao với đường Bà Hào – Rang Rang và kết thúc tại Khu di tích Trung ương Cục miền Nam, hiện trạng đường bị xói lở, có nhiều ổ gà, các cống qua đường quá hẹp nên các phương tiện chở khách vào tham quan di tích hay bị va quẹt vào thành cống làm trầy xước xe Hiện tại tuyến đường này đang được duy tu, cải tạo, sửa chữa chống xói lở và mở rộng các cống qua đường Trong giai đoạn 2016-2020, sẽ nhựa hóa toàn tuyến theo tiêu chuẩn kết cấu mặt đường bê tông nhựa rộng 07 mét, nền đường rộng
09 mét và làm đường điện lưới quốc gia vào di tích;
Hệ thống cung cấp điện, nước và thông tin liên lạc:
Mặc dù KBT thuộc khu vực vùng sâu, vùng xa nhưng việc cung cấp điện, nước sinh hoạt vẫn đáp ứng đầy đủ Cụ thể, tình hình hệ thống cung cấp điện và bưu chính viễn thông trên địa bàn huyện Vĩnh Cữu như sau:
- Hệ thống cung cấp điện: Tỷ lệ số hộ có điện trên địa bàn chiến 97,17% tổng số
hộ toàn huyện Tổng chiều dài đường dây trung thế là 317,42 mét và tổng chiều dài đường dây hạ thế là 250,193 mét Tổng số trạm là 509 trạm với tổng dung lượng
103860 KVA Hiện tại đang tiến hành thực hiện dự án phát triển mạng lưới điện đến các thôn ấp vùng sâu, vùng xa nhằm đáp ứng yêu cầu điện khí hóa nông thôn
- Hệ thống thông tin liên lạc: hệ thống thông tin liên lạc thuận lợi, phủ sóng đều khắp Khu Bảo tồn Hiện có 1 cột sóng mạng Viettel trong KBT Trên địa bàn huyện Vĩnh Cửu có 1 bưu điện huyện, 2 bưu cục, 11 điểm bưu điện văn hóa xã và 6 trạm viễn thông cung cấp dịch vụ bưu chính viễn thông ổn định Mạng lưới chuyển phát thư tín
và bưu cục được thiết lập tới tất cả các xã trên toàn huyện Các dịch vụ báo chí, điện thoại, internet đang được mở rộng, đáp ứng được nhu cầu liên lạc cho du khách
4.1.4 Cơ sở vật chất – kỹ thuật phục vụ du lịch
Hiện tại Khu Bảo tồn có các cơ sở vật chất phục vụ du lịch về nguồn gắn tính ngưỡng tâm linh, ăn uống, lưu trú và câu cá giải trí
Cơ sở lưu trú: Nhìn chung cơ sở lưu trú tại KBTTN-VH Đồng Nai tương đối
thuận lợi Nhà khách Mã Đà với 24 phòng – trong đó 20 phòng đôi và 04 phòng tập thể với trang thiết bị đầy đủ, cùng 04 chòi dịch vụ ăn uống cùng lúc phục vụ 40 khách
Về cơ bản tất cả các phòng đều đạt yêu cầu chất lượng: vệ sinh khép kín, có bình tắm nóng lạnh, chăn ga gối đệm, sàn nhà được vệ sinh sạch sẽ và có quạt điện hoặc điều