1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

KHẢO SÁT HIỆN TRẠNG CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN VÀ GIÁO DỤC VỀ BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC RỪNG DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG TẠI VƯỜN QUỐC GIA NÚI CHÚA, HUYỆN NINH HẢI, TỈNH NINH THUẬN

94 109 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 1,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

KHẢO SÁT HIỆN TRẠNG CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN VÀ GIÁO DỤC VỀ BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC RỪNG DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG TẠI VƯỜN QUỐC GIA NÚI CHÚA, HUYỆN NINH HẢI, TỈNH NINH THUẬN Tác giả LÊ THỊ KIM CH

Trang 1

KHẢO SÁT HIỆN TRẠNG CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN VÀ GIÁO DỤC

VỀ BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC RỪNG DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG TẠI VƯỜN QUỐC GIA NÚI CHÚA,

HUYỆN NINH HẢI, TỈNH NINH THUẬN

Tác giả

LÊ THỊ KIM CHI

Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu

cấp bằng Kỹ sư ngành Quản lý môi trường và du lịch sinh thái

Giáo viên hướng dẫn:

TS HỒ VĂN CỬ

Trang 2

Tháng 12 năm 2013

BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐH NÔNG LÂM TP.HCM

KHOA MÔI TRƯỜNG & TÀI NGUYÊN

*****

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

************

PHIẾU GIAO NHIỆM VỤ KLTN

Khoa: MÔI TRƯỜNG & TÀI NGUYÊN

Ngành: QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG & DU LỊCH SINH THÁI

Họ và tên SV: LÊ THỊ KIM CHI Mã số SV: 10157018

Khóa học: 2010 – 2014 Lớp: DH10DL

1 Tên đề tài: Khảo sát hiện trạng bảo tồn đa dạng sinh học rừng dựa vào cộng

đồng tại vườn quốc gia Núi Chúa huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận

2 Nội dung KLTN SV phải thực hiện các yêu cầu sau đây:

- Khảo sát hiện trạng bảo tồn đa dạng sinh học rừng và công tác quản lý hoạt động của VQG đối với cộng đồng

- Đánh giá hiện trạng nhận thức và ảnh hưởng của cộng đồng đối với đa dạng sinh học rừng

- Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao vai trò của cộng đồng và hiệu quả công tác bảo tồn đa dạng sinh học rừng của VQG

3 Thời gian thực hiện: Bắt đầu: 08/2013 và kết thúc: 12/2013

4 Họ và tên GVHD: TS HỒ VĂN CỬ

Nội dung và yêu cầu của KLTN đã được thông qua Khoa và Bộ môn

Ngày tháng năm 2013 Ngày tháng năm 2013 Ban chủ nhiệm khoa Giáo viên hướng dẫn

TS Hồ Văn Cử

Trang 3

LỜI CẢM TẠ

Để hoàn thành đề tài khóa luận tốt nghiệp này, đó không chỉ là công sức của riêng cá nhân tôi mà còn những tập thể và các cá nhân khác, nhân dịp này tôi muốn gửi lời cảm tạ chân thành và sâu sắc tới:

TS.Hồ Văn Cử - người thầy đã luôn tận tình giúp đỡ, động viên, định hướng cho tôi để tôi hoàn thành tốt bài khóa luận này

Toàn thể quý thầy cô trường đại học Nông Lâm TP.HCM và quý thầy cô khoa Môi trường và tài nguyên đã tận tình chỉ dạy và truyền đạt kiến thức cho tôi trong suốt thời gian trên giảng đường đại học

PGD.Phạm Vũ Điệp, chị Nguyễn Thị Nhụ và toàn thể các cán bộ đang công tác tại trung tâm Du lịch sinh thái và giáo dục môi trường Vườn quốc gia Núi Chúa tỉnh Ninh Thuận Mọi người đã luôn tạo điều kiện cho tôi nghiên cứu, thu thập thông tin, luôn nhiệt tình giúp đỡ tôi để tôi hoàn thành tốt bài khóa luận

Cuối cùng, tôi xin gửi lời tri ân sâu sắc nhất tới gia đình, bạn bè và người thân

đã luôn bên cạnh động viên, cổ vũ tôi trong những lúc khó khăn nhất

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Sinh viên thực hiện

LÊ THỊ KIM CHI

Trang 4

TÓM TẮT

Đề tài “Khảo sát hiện trạng công tác tuyên truyền và giáo dục về bảo tồn đa dạng sinh học rừng dựa vào cộng đồng tại Vườn quốc gia Núi Chúa, huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận” được tiến hành tại thôn Đá Hang, thôn Cầu Gãy và học sinh trường THCS thuộc xã Vĩnh Hải, huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận từ 09/2013 đến 12/2013 Với mục tiêu góp phần làm tiền đề cho công tác bảo tồn đa dạng sinh học và giáo dục nâng cao nhận thức cộng đồng tại VQG Núi Chúa huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận,

đề tài triển khai tìm hiểu các nội dung sau:

- Khảo sát hiện trạng bảo tồn đa dạng sinh học rừng của VQG Núi Chúa

- Khảo sát công tác quản lý các hoạt động của VQG đối với cộng đồng

- Đánh giá hiện trạng nhận thức và ảnh hưởng của cộng đồng đối với đa dạng sinh học rừng

- Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao vai trò của cộng đồng và hiệu quả công tác bảo tồn đa dạng sinh học rừng của VQG

Bằng phương pháp tổng quan tài liệu, đánh giá nhanh có sự tham gia của cộng đồng (PRA) và thống kê đã được sử dụng trong đề tài Các kết quả đạt được bao gồm:

- Đối với VQG: Giá trị đa dạng sinh học rừng và giá trị bảo tồn được thể hiện trong các văn bản thống kê Nội dung, hình thức các hoạt động bảo tồn dựa vào cộng đồng

- Đối với cộng đồng: Mức độ quan tâm, tham gia và lợi ích từ các hoạt động tuyên truyền, giáo dục mà VQG đem lại

 Đối tượng nghiên cứu: là cộng đồng dân tộc Raglai sinh sống tại 2 thôn, chiếm 75% là nữ giới, đa phần thuộc độ tuổi trung niên, học vấn không cao và sinh sống tại vùng đệm trước khi VQG thành lập (trên 10 năm) là 80% Học sinh nằm trong vùng đệm tiếp giáp với 2 thôn và được tổ chức các hoạt động GDMT

 Nhận thức ban đầu của cộng đồng về môi trường và đa dạng sinh học được nâng cao rõ rệt từ trước và sau khi thành lập VQG Cộng đồng có thái độ tích cực trong việc tiếp nhận các hoạt động từ VQG, song vẫn còn thụ động

Trang 5

 Mặc dù đã hạn chế các hoạt động săn bắn trái phép nhưng cộng đồng vẫn đang có những tác động tiêu cực đến tài nguyên rừng của VQG do chưa

ổn định về kinh tế và đời sống còn gặp nhiều khó khăn

- Đề xuất các giải pháp giúp nâng cao vai trò của cộng đồng; thu hút, khuyến khích cộng đồng cùng tham gia bảo vệ tài nguyên rừng và đa dạng sinh học

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI CẢM TẠ ii

TÓM TẮT iv

MỤC LỤC vi

DANH MỤC VIẾT TẮT x

MỤC LỤC BẢNG xi

MỤC LỤC HÌNH ẢNH xii

Chương 1MỞ ĐẦU - 1 -

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 2

-Chương 2TỔNG QUAN TÀI LIỆU - 3 -

2.1 Đa dạng sinh học và bảo tồn đa dạng sinh học 3

-2.1.1 Khái niệm ĐDSH 3

-2.1.2 Giá trị của ĐDSH 3

-2.1.2.1 Những giá trị kinh tế trực tiếp 3

-2.1.2.2 Những giá trị kinh tế gián tiếp 4

-2.1.3 Bảo tồn đa dạng sinh học 6

-2.1.4 Tình hình công tác bảo tồn tại Việt Nam 7

2.2 Cộng đồng trong công tác bảo tồn ĐDSH 8

-2.2.1 Khái niệm cộng đồng 8

-2.2.2 Cộng đồng trong công tác bảo tồn ĐDSH 9

2.3 Giáo dục môi trường 10

Trang 7

-2.3.1 Định nghĩa về GDMT 10

-2.3.2 Mục đích của GDMT 10

-2.3.3 Mục tiêu của GDMT 11

-2.3.4 Nguyên tắc của GDMT 11

-2.3.5 GDMT và thay đổi hành vi 12

-2.3.6 Các loại hình GDMT 13

2.4 Tổng quan về VQG Núi Chúa 14

-2.4.1 Lịch sử hình thành VQG Núi Chúa 14

-2.4.2 Chức năng và nhiệm vụ VQG Núi Chúa 14

-2.4.3 Tài nguyên đa dạng sinh học Vườn Quốc Gia Núi Chúa 15

-2.4.3.1 Tài nguyên sinh vật rừng 15

-2.4.3.2 Tài nguyên sinh vật biển 16

-2.4.4 Tổng quan về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội 16

-2.4.4.1 Điều kiện tự nhiên 16

-2.4.4.2 Về kinh tế xã hội 19

2.5 Sơ lược về đối tượng nghiên cứu 22

2.5.1 Cộng đồng người Raglai 22

-2.5.1.1 Đời sống 22

-2.5.1.2 Phong tục tập quán và Văn hóa 23

-2.5.2 Học sinh 24

-Chương 3NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU - 25 -

3.1 Nội dung nghiên cứu 25

3.2 Phương pháp nghiên cứu 25

-3.2.1 Thu thập số liệu thứ cấp 25

-3.2.2 Phương pháp PRA 25

Trang 8

-3.2.2.1 Phỏng vấn bán cấu trúc 25

-3.2.2.2 Quan sát trực tiếp 27

-3.2.2.3 Phỏng vấn nhóm và tham vấn ý kiến chuyên gia 27

-3.2.3 Phương pháp xử lý số liệu 28

-Chương 4KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU - 29 -

4.1 Các hoạt động của VQG Núi Chúa đối với cộng đồng 29

-4.1.1 Giá trị đa dạng sinh học rừng VQG Núi Chúa 29

-4.1.1.1 Hệ thực vật 29

-4.1.1.2 Hệ động vật 30

-4.1.2 Giá trị bảo tồn 31

-4.1.3 Các chương trình hoạt động của VQG đối với cộng đồng dân cư 33

-4.2.Những ảnh hưởng của điều kiện kinh tế - xã hội cộng đồng đến đa dạng sinh học -

34 -4.2.1 Nhận thức cộng đồng thông qua các hoạt động của VQG 34

-4.2.1.1 Các hình thức tuyên truyền 34

-4.2.1.2 Mức độ tham gia 35

-4.2.1.3 Tính thường xuyên có mặt trong mỗi hoạt động 36

-4.2.1.4 Đánh giá của cộng đồng về các hoạt động 37

-4.2.1.5 Nhận thức của cộng đồng 37

-4.2.2 Chương trình giáo dục môi trường cho học sinh 38

-4.2.2.1 Các chương trình đã tham gia 39

-4.2.2.2 Mức độ nhận thức và hành vi của học sinh 40

-4.2.3 Hiện trạng sử dụng tài nguyên 42

4.3 Cơ sở đề xuất giải pháp 44

-4.4 Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác bảo tồn dựa vào cộng đồng -

45

Trang 9

-Chương 5KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ - 47 -

5.1 Kết luận 47

5.2 Kiến nghị 48

-TÀI LIỆU THAM KHẢO - 49 -

PHỤ LỤC - 51 -

Trang 10

HST Hệ sinh thái

IUCN International Union for Conservation of Nature (Tổ chức bảo tồn

Thế Giới) KBTTN Khu bảo tồn thiên nhiên

LSNG Lâm sản ngoài gỗ

PRA Phương pháp đánh giá nhanh có sự tham gia của cộng đồng

THCS Trung học cơ sở

THPT Trung học phổ thông

THPHDTNT Trung học phổ thông dân tộc nội trú

UBND Ủy ban nhân dân

VQG Vườn quốc gia

Trang 11

MỤC LỤC BẢNG

Bảng 2.1: Diện tích và dân số 7 xã vùng đệm VQG Núi Chúa - 19 -

Bảng 2.2: Các nhóm dân tộc sống trong các xã xung quanh VQG - 20 -

Bảng 4.1: Đối tượng phỏng vấn - 35 -

Bảng 4.2: Bảng thể hiện nhận thức của cộng đồng đối với VQG - 37 -

Bảng 4.3: Đối tượng tham gia phỏng vấn - 42 -

Trang 12

MỤC LỤC HÌNH ẢNH

Hình 4.1: Biểu đồ biểu hiện mức độ quan tâm 35

Hình 4.2: Tính tham gia thường xuyên các hoạt động của cộng đồng 36

Hình 4.3: Lý do tham gia thường xuyên và đầy đủ 36

Hình 4.4: Đánh giá của cộng đồng về các hoạt động 37

Hình 4.5: Biểu đồ thể hiện tầm quan trọng của VQG đối với cộng đồng 38

Hình 4.6: Các hoạt động điển hình mà học sinh tham gia 39

Hình 4.7: Mức độ thích thú của học sinh khi tham gia các hoạt động 39

Hình 4.8: Học sinh học được sau các chương trình 40

Hình 4.9: Mức độ hiểu biết của học sinh 41

Hình 4.10: Hành vi trong nhận thức cua học sinh 41

Hình 4.11: Tác động của người dân đến đa dạng sinh học rừng 42

Hình 4.12: Biểu đồ thể hiện trình độ học vấn theo thôn 43

Hình 4.13: Nguồn thu nhập của các hộ gia đình 43

Hình 4.14: Người dân phụ thuộc vào rừng 44

Trang 13

-Chương 1

MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam được đánh giá là một trong những nước có đa dạng sinh học cao của thế giới với nhiều kiểu hệ sinh thái, các loài sinh vật, nguồn gen phong phú và đặc hữu.Các hệ sinh thái có vai trò quan trọng trong điều tiết khí hậu và bảo vệ môi trường, đặc biệt trong bối cảnh biến đổi khí hậu hiện nay Theo quy hoạch đến năm 2010, Việt Nam có 30 vườn quốc gia, 52 khu bảo tồn thiên nhiên, 16 khu bảo tồn loài/sinh cảnh

và 19 khu bảo tồn cảnh quan

Vườn quốc gia Núi Chúa là khu rừng khô hạn tự nhiên nằm trong vùng khô hạn nhất của Việt Nam, có hệ sinh thái rừng khô hạn đặc trưng hiếm thấy ở nước ta với nhiều tập đoàn sinh vật quần tụ rất phong phú và đa dạng về số lượng cũng như chủng loài Năm 1993 trở về trước, tài nguyên khu rừng thường xuyên bị tàn phá làm cho diện tích rừng ngày càng suy giảm, môi trường sinh thái của nhiều loài động thực vật

bị thu hẹp, nhiều nguồn gen động thực vật quý hiếm đang có nguy cơ bị tiêu diệt Hậu quả đó làm cho môi trường tự nhiên vốn đã khắc nghiệt càng có nguy cơ “hoang mạc hoá”

Tuy không phải là dân tộc chiếm đa số, song người Raglai lại là dân tộc tác động nhiều nhất đến tài nguyên rừng VQG Núi Chúa Cộng đồng người Raglai sinh sống và gắn bó lâu đời với vùng đất này, hoạt động kinh tế từ xưa vẫn phụ thuộc vào canh tác nương, rẫy trên các sườn núi và khai thác tài nguyên rừng Khi VQG Núi Chúa được thành lập, nạn đốt nương, rẫy trong Vườn đã được ngăn chặn, nhưng việc khai thác tài nguyên rừng của người Raglai vẫn tiếp diễn, khiến tài nguyên rừng VQG Núi Chúa bị suy giảm nhanh chóng Để nâng cao nhận thức về môi trường cho cộng đồng dân cư địa phương, ban cán bộ quản lý VQG Núi Chúa đã tổ chức nhiều hoạt động giáo dục, tuyên truyền với nhiều hình thức và đối tượng khác nhau

Trang 14

Với mong muốn góp phần vào bối cảnh chung trong việc bảo tồn và nâng cao tính đa dạng sinh học; nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo vệ sinh học, bảo vệ môi trường; góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội tại VQG Núi Chúa, tôi tiến hành thực hiện đề tài:“Khảo sát hiện trạng công tác tuyên truyền và giáo dục về bảo tồn đa dạng sinh học rừng dựa vào cộng đồng tại Vườn quốc gia Núi Chúa, huyện Ninh Hải,

tỉnh Ninh Thuận”

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Đề tài góp phần làm tiền đề cho việc bảo tồn đa dạng sinh học và giáo dục nâng cao nhận thức cộng đồng tại VQG Núi Chúa huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận

1.3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là Ban quản lý VQG Núi Chúa và cộng đồng bao gồm: học sinh và cư dân sống trong vùng đệm nhưng do hạn chế về thời gian cũng như nhân lực và vật lực nên đề tài được thực hiện trong phạm vi bao gồm: 2 thôn(thôn

Đá Hang và thôn Cầu Gãy) và 2 trường (trường THCS Ngô Quyền và trường THCS Nguyễn Văn Linh) thuộc xã Vĩnh Hải, huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận

Trang 15

di truyền hay còn gọi là đa dạng nguồn gen), giữa các loài (đa dạng loài) và các hệ sinh thái (đa dạng hệ sinh thái)”

Ở Việt Nam, đa dạng sinh học được định nghĩa theo Luật Đa dạng sinh học (2008) là sự phong phú về gen, loài, sinh vật và hệ sinh thái trong tự nhiên

ĐDSH có vai trò rất quan trọng đối với việc duy trì các chu trình tự nhiên và cân bằng sinh thái Đó là cơ sở của sự sống còn và thịnh vượng của loài người, sự bền vững của thiên nhiên trên trái đất

2.1.2 Giá trị củaĐDSH

2.1.2.1 Những giá trị kinh tế trực tiếp

- Giá trị cho tiêu thụ

Bao gồm các sản phẩm tiêu dùng cho cuộc sống hàng ngày như củi đốt và các loại sản phẩm khác cho các mục tiêu sử dụng như tiêu dùng cho gia đình và không xuất hiện ở thị trường trong nước và quốc tế

Những nghiên cứu về những xã hội truyền thống tại các nước đang phát triển cho thấy cộng đồng cư dân bản địa khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên xung quanh như củi đun, rau cỏ, hoa quả, thịt cá, dược phẩm và nguyên vật liệu xây dựng

- Giá trị sử dụng cho sản xuất

Trang 16

Là giá bán cho các sản phẩm thu lượm được từ thiên nhiên trên thị trường trong nước và ngoài nước Sản phẩm này được định giá theo các phương pháp kinh tế tiêu chuẩn và giá được định là giá mua tại gốc, thường dưới dạng sơ chế hay nguyên liệu Tại thời điểm hiện nay, gỗ là một trong những sản phẩm bị khai thác nhiều nhất từ rừng tự nhiên với giá trị lớn hơn 100 tỷ đôla mỗi năm.Những sản phẩm lâm nghiệp ngoài gỗ còn có động vật hoang dã, hoa quả, nhựa, dầu, mây và các loại cây thuốc.Thế giới tự nhiên là nguồn vô tận cung cấp những nguồn loại dược phẩm mới 25% các đơn thuốc ở Mỹ có sử dụng các chế phẩm được điều chế từ cây, cỏ

2.1.2.2 Những giá trị kinh tế gián tiếp

Những giá trị kinh tế gián tiếp là những khía cạnh khác của đa dạng sinh học như các quá trình xảy ra trong môi trường và các chức năng của hệ sinh thái là những mối lợi không thể so đếm được và nhiều khi là vô giá

- Giá trị sử dụng không cho tiêu thụ

Khả năng sản xuất của hệ sinh thái: khoảng 40% sức sản xuất của hệ sinh thái trên cạn phục vụ cho cuộc sống của con người Tương tự như vậy, ở những vùng cửa sông, dãi ven biển là nơi những thực vật thuỷ và tảo sinh phát triển mạnh, chúng là mắc xích đầu tiên của hàng loạt chuỗi thức ăn tạo thành các hải sản như trai, sò, tôm cua,

Bảo vệ tài nguyên đất và nước: các quần xã sinh học có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ rừng đầu nguồn, những hệ sinh thái vùng đệm, phòng chống lũ lụt và hạn hán cũng như việc duy trì chất lượng nước

Điều hoà khí hậu: quần xã thực vật có vai trò vô cùng quan trọng trong việc điều hoà khí hậu địa phương, khí hậu vùng và ngay cả khí hậu toàn cầu

Phân huỷ các chất thải: các quần xã sinh học có khả năng phân huỷ các chất ô nhiễm như kim loại nặng, thuốc trừ sâu và các chất thải sinh hoạt khác đang ngày càng gia tăng do các hoạt động của con người

Những mối quan hệ giữa các loài: nhiều loài có giá trị được con người khai thác, nhưng để tồn tại, các loài này lại phụ thuộc rất nhiều vào các loài hoang dã khác Nếu

Trang 17

những loài hoang dã đó mất đi, sẽ dẫn đến việc mất mát cả những loài có giá trị kinh tế cao

Nghỉ ngơi và du lịch sinh thái: mục đích chính của các hoạt động nghỉ ngơi là việc hưởng thụ mà không làm ảnh hưởng đến thiên nhiên thông qua những hoạt động như đi thám hiểm, chụp ảnh, quan sát chim, thú, câu cá Du lịch sinh thái là một ngành

du lịch không khói đang dần dần lớn mạnh tại nhiều nước đang phát triển, nó mang lại khoảng 12 tỷ đôla năm trên toàn thế giới

Giá trị giáo dục và khoa học: nhiều sách giáo khoa đã biên soạn, nhiều chương trình vô tuyến và phim ảnh đã được xây dựng về chủ đề bảo tồn thiên nhiên với mục đích giáo dục và giải trí Một số lượng lớn các nhà khoa học chuyên ngành và những người yêu thích sinh thái học đã tham gia các hoạt động quan sát, tìm hiểu thiên nhiên.Các hoạt động này mang lại lợi nhuận kinh tế cho khu vực nơi họ tiến hành nghiên cứu khảo sát; nhưng giá trị thực sự không chỉ có vậy mà còn là khả năng nâng cao kiến thức, tăng cường tính giáo dục và tăng cường vốn sống cho con người

Quan trắc môi trường: những loài đặc biệt nhạy cảm với những chất độc có thể trở thành hệ thống chỉ thị báo động rất sớm cho những quan trắc hiện trạng môi trường Một số loài có thể được dùng như những công cụ thay thế máy móc quan trắc đắt tiền.Một trong những loài có tính chất chỉ thị cao là địa y sống trên đá hấp thụ những hoá chất trong nước mưa và những chất gây ô nhiễm trong không khí.Thành phần của quần xã địa y có thể dùng như chỉ thị sinh học về mức độ ô nhiễm không khí.Các loài động vật thân mềm như trai sò sống ở các hệ sinh thái thuỷ sinh có thể là những sinh vật chỉ thị hữu hiệu cho quan trắc môi trường

- Giá trị lựa chọn

Giá trị lựa chọn của một loài là tiềm năng của chúng để cung cấp lợi ích kinh tế cho xã hội loài người trong tương lai Những chuyên gia về côn trùng tìm kiếm những loài côn trùng có thể sử dụng như các tác nhân phòng trừ sinh học; các nhà vi sinh vật học tìm kiếm những loài vi khuẩn có thể trợ giúp cho các quá trình nâng cao năng suất sản xuất; các nhà động vật học lựa chọn các loài có thể sản xuất nhiều protein; các cơ quan y tế, chăm sóc sức khỏe và các công ty dược phẩm đang có những nổ lực rất lớn

Trang 18

để tìm kiếm các loài có thể cung cấp những hợp chất phòng chống và chữa bệnh cho con người

- Giá trị tồn tại

Con người có nhu cầu được tham quan nơi sinh sống của một loài đặc biệt và được nhìn thấy nó trong thiên nhiên hoang dã bằng chính mắt mình Các loài như gấu trúc, sư tử, voi và rất nhiều loài chim khác lại càng đòi hỏi sự quan tâm đặc biệt của con người.Giá trị tồn tại như thế luôn luôn gắn liền với các quần xã sinh học của những khu rừng mưa nhiệt đới, các rạn san hô và những khu vực có phong cảnh đẹp

2.1.3 Bảo tồn đa dạng sinh học

Hiện nay có nhiều phương pháp bảo tồn khác nhau Có thể phân chia các phương pháp và công cụ thành các nhóm như sau:

- Bảo tồn nguyên vị (in-situ)

Bảo tồn nguyên vị bao gồm các phương pháp và công cụ nhằm mục đích bảo vệ các loài, các chủng và các sinh cảnh, các hệ sinh thái trong điều kiện tự nhiên mà loài đang tồn tại Tuỳ theo đối tượng bảo tồn mà các hành động quản lý thay đổi

Theo Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN) thì có 6 loại khu bảo tồn: Loại I: Khu bảo tồn nghiêm ngặt (hay khu bảo tồn hoang dã); Loại II: Vườn quốc gia, chủ yếu để bảo tồn các hệ sinh thái và sử dụng vào việc du lịch, giải trí, giáo dục; Loại III: Công trình thiên nhiên, chủ yếu bảo tồn các cảnh quan thiên nhiên đặc biệt; Loại IV: Khu bảo tồn sinh cảnh hay các loài, chủ yếu là nơi bảo tồn một số sinh cảnh hay các loài đặc biệt cần bảo vệ; Loại V: Khu bảo tồn cảnh quan đất liền hay cảnh quan biển, chủ yếu bảo tồn các cảnh quan thiên nhiên đẹp, sử dụng cho giải trí và du lịch; Loại VI: Khu bảo tồn quản lý tài nguyên thiên nhiên, chủ yếu quản lý với mục đích sử dụng một cách bền vững các hệ sinh thái và tài nguyên thiên nhiên

- Bảo tồn chuyển vị (ex-situ)

Bảo tồn chuyển vị bao gồm các biện pháp di dời các loài cây, con và các vi sinh vật ra khỏi môi trường sống thiên nhiên của chúng Bảo tồn chuyển vị bao gồm các vườn thực vật, vườn động vật, các bể nuôi thuỷ hải sản, các bộ sưu tập vi sinh vật, các bảo tàng, các ngân hàng hạt giống, bộ sưu tập các chất mầm, mô cấy Do các sinh vật

Trang 19

hay các phần của cơ thể sinh vật được lưu giữ trong môi trường nhân tạo, nên chúng bị tách khỏi quá trình tiến hoá tự nhiên Vì thế mà mối liên hệ gắn bó giữa bảo tồn chuyển vị với bảo tồn nguyên vị rất bổ ích cho công tác bảo tồn ĐDSH

2.1.4 Tình hình công tác bảo tồn tại Việt Nam

Ở Việt Nam có khoảng 197 khu bảo tồn thiên nhiên (KBTTN), trong đó hệ thống rừng đặc dụng theo quy hoạch đến năm 2010 gồm có 30 vườn quốc gia, 52 khu bảo tồn thiên nhiên, 16 khu bảo tồn loài/sinh cảnh và 19 khu bảo tồn cảnh quan

Một đặc điểm nổi bật cần phải được chú ý về bảo tồn thiên nhiên ở Việt Nam là công tác bảo tồn thiên nhiên phát triển rất chậm so với khai thác rừng

Do ra đời trong những hoàn cảnh như vậy, nên các KBTTN có những đặc điểm

Cuộc sống của người dân sống trên vùng đệm của khu bảo tồn còn phụ thuộc nhiều vào các KBTTN

Vấn đề quan trọng hàng đầu là phân hạng lại hệ thống khu bảo tồn Việc phân hạng hệ thống KBT cần phải dựa trên các nguyên tắc sau:

- Nguyên tắc khoa học: Các tiêu chí phân hạng hệ thống KBT của Việt Nam cũng có bốn thành phần chính cần bảo vệ:

 Các hệ sinh thái đặc trưng và đại diện cho Việt Nam Các loài động thực vật bị đe dọa trong nước và toàn cầu

 Sinh cảnh cụ thể của các loài động thực vật bị đe dọa hay đặc hữu

 Cảnh quan thiên nhiên có các giá trị thẩm mĩ, sinh thái hay văn hoá cao

và thường có tính ĐDSH cao

Trang 20

- Nguyên tắc pháp lý: Một hệ thống phân hạng KBT phi dựa trên luật và các chính sách về môi trường và BTTN của Chính phủ Việt Nam

- Nguyên tắc thực tiễn: Việc phân hạng phi xem xét năng lực quản lý và thông tin hiện có về thiên nhiên và ĐDSH của Việt Nam

- Nguyên tắc hợp tác: Hệ thống phân hạng KBT của Việt Nam chỉ dựa chủ yếuvào hệ thống phân hạng KBT của IUCN năm 1994 nhưng sẽ được điều chỉnh để phùhợp với yêu cầu của Việt Nam

- Nguyên tắc vì lợi ích cộng đồng: Hệ thống phân hạng KBT phi có sự thamgia

và ủng hộ của cộng đồng, của người dân sống trong và xung quanh KBT Thiếu sựtham gia và ủng hộ này, việc bảo vệ các KBT không thể thành công

Dựa trên các chỉ tiêu nêu trên đã phân hạng khu bảo tồn mới ở Việt Nam:

 Hạng I Vườn Quốc gia: bảo vệ hệ sinh thái, bảo vệ đa dạng loài, phục vụnghiên cứu, giáo dục môi trường và giải trí;

 Hạng II Khu Bảo Tồn Thiên nhiên: bảo vệ các hệ sinh thái, phục vụ nghiêncứu, giám sát, giải trí và giáo dục môi trường

 Hạng III Khu Bảo Tồn Loài/ sinh cảnh: bảo tồn những loài đặc biệt và bảovệ nơi cư trú của loài

 Hạng IV Khu bảo tồn Cảnh quan: bảo vệ các cảnh quan phục vụ cho vuichơi giải trí

Nhận xét: Hiện nay cho thấy hình thức quản lý bảo vệ bảo tồn đa dạng sinh học,

tài nguyên thiên nhiên có sự tham gia của cộng động còn gặp nhiều khó khăn về chính sách giao đất, giao rừng, về chế độ khoán bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh và trồng rừng mới Đa số người dân sống gần rừng bám vào rừng để kiếm sống bằng các hành vi vi phạm và bằng nhiều hình thức khác nhau, dẫn đến làm mất đa dạng sinh học, tàn phá tài nguyên thiên nhiên

2.2 Cộng đồng trong công tác bảo tồn ĐDSH

2.2.1 Khái niệm cộng đồng

Trang 21

Cộng đồng được nới tới ở đây là một đơn vị cấp địa phương của một tổ chức xã hội bao gồm các cá nhân, gia đình, thể chế và các cấu trúc khác đóng góp cho cuộc sống hàng ngày của một xã hội, một nhóm người trong một khu vực địa lí xác định, có thể được biến đổi bởi quá trình vận động lịch sử

Hay nói cách khác, cộng đồng là tập hợp những người sống gắn bó với nhau thành một xã hội nhỏ có những điểm tương đồng về mặt văn hóa, kinh tế, xã hội truyền thống, phong tục, tập quán, có quan hệ trong sản xuất và đời sống gắn bó với nhau và có ranh giới không gian trong một thôn bản Theo quan niệm này, “cộng đồng” chính là cộng đồng dân cư thôn bản” (sau đây “thôn bản” được gọi chung là “thôn” cho phù hợp với Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004)

2.2.2 Cộng đồng trong công tác bảo tồn ĐDSH

Thuật ngữ “Dựa vào cộng đồng” là một nguyên tắc mà những người sử dụng tài nguyên cũng phải là người quản lý hợp pháp đối với nguồn tài nguyên đó.Điều này giúp phân biệt nó với các chiến lược quản lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác hoặc là có tính tập trung hoá cao hoặc là không có sự tham gia của các cộng đồng phụ thuộc trực tiếp vào nguồn tài nguyên đó

Quản lý bảo tồn tài nguyên dựa vào cộng đồng cũng là một quá trình mà qua đó những cộng đồng được tăng quyền lực về chính trị và kinh tế để họ có thể đòi và giành được quyền kiểm soát quản lý và tiếp cận một cách hợp pháp đối với nguồn tài nguyên của họ Sự vận động nhằm khởi xướng một vấn đề như thế tốt hơn hết phải được bắt đầu từ bản thân cộng đồng Tuy nhiên do yếu về quyền lực nên hầu hết các cộng đồng đều thiếu khả năng tự khởi xướng quá trình thay đổi Chính điều này là một trong những nhân tố đã dẫn đến các tổ chức và cơ quan bên ngoài tham gia, làm cho những quá trình liên quan đến Quản lý bảo tồn dựa vào cộng đồng trở nên dễ dàng hơn, kể cả việc tổ chức cộng đồng

Trong lịch sử hình thành và phát triển của loài người, nhất là do nguy cơ tăng dân số và quá trình công nghiệp hóa, thế giới tự nhiên vốn đa dạng nay đang bị phá hoại, làm nghèo nàn, thậm chí nhiều giống loài bị tiêu diệt dẫn đến thuyệt chủng Bởi vậy, một trong các vấn đề lớn của nhân loại trong thế kỷ 21 là phải bảo tồn và làm giàu trở lại thế giới tự nhiên vốn có

Trang 22

2.3 Giáo dục môi trường

2.3.1 Định nghĩa về GDMT

Hội nghị quốc tế về GDMT trong chương trình đào tạo của trường học do IUCN/UNESCO tổ chức tại Nevada (Mỹ) năm 1970 đã thông qua định nghĩa về GDMT như sau:

“GDMT là quá trình nhận ra các giá trị và làm rõ khái niệm về xây dựng những

kỹ năng và thái độ cần thiết, giúp hiểu biết và đánh giá đúng mối tương quan giữa con người với nền văn hóa và môi trường vật lý xung quanh GDMT cũng tạo cơ hội cho việc thực hành để ra quyết định và tự hình thành quy tắc ứng xử trước những vấn đề liên quan đến chất lượng môi trường” (IUCN,1970)

Khi cách nhìn nhận về môi trường thay đổi, kỳ vọng về thành tựu của giáo dục cũng thay đổi Điều quan trọng là tất cả những định nghĩa đều có một số điểm cơ bản chung như sau:

- GDMT là một quá trình diễn ra trong một khoảng thời gian ở nhiều địa điểm khác nhau, thông qua những kinh nghiệm khác nhau và bằng những phương thức khác nhau

- GDMT nhằm thay đổi hành vi

- Môi trường học tập là chính môi trường và các vấn đề có trong thực tế

- GDMT liên quan đến việc giải thích vấn đề và ra quyết định về cách sống

- Trong GDMT, việc học phải tập trung vào người học và lấy hành động làm cơ

sở

2.3.2 Mục đích của GDMT

Mục đích chính của GDMT được xác định trong Hội nghị Tbilisi (1977) là:

- Tăng cường nhận thức và sự quan tâm đến các mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa các yếu tố kinh tế, xã hội, chính trị và sinh thái ở thành thị cũng như nông thôn

- Tạo cơ hội cho mọi người tiếp thu những kiến thức, quan điểm về giá trị, thái

độ, ý thức và kỹ năng cần thiết để bảo vệ và cải thiện môi trường

Trang 23

- Tạo ra các mô hình về hành vi thân thiện với môi trường cho từng cá nhân, cộng đồng và toàn xã hội

- Khuyến khích, củng cố và phát huy những thái độ và hành vi tích cực đối với môi trường hiện có

2.3.3 Mục tiêu của GDMT

- Kiến thức: GDMT cung cấp cho các cá nhân và cộng đồng những kiến thức, sự hiểu biết cơ bản về môi trường và mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa con người và môi trường

- Nhận thức: GDMT thúc đẩy các cá nhân, cộng đồng tạo dựng nhận thức và sự nhạy cảm đối với môi trường cũng như các vấn đề môi trường

- Thái độ: GDMT khuyến khích các cá nhân, cộng đồng tôn trọng và quan tâm tới tầm quan trọng của môi trường, khuyến khích họ tham gia tích cực vào việc cải thiện và bảo vệ môi trường

- Kỹ năng: GDMT cung cấp các kỹ năng cho việc xác định, dự đoán, ngăn ngừa

và giải quyết các vấn đề môi trường

- Sự tham gia: GDMT cung cấp cho các cá nhân và cộng đồng cơ hội tham gia tích cực vào giải quyết các vấn đề môi trường cũng như đưa ra các quyết định môi trường đúng đắn

2.3.4 Nguyên tắc của GDMT

Hội nghị Tbilisi đã thống nhất 6 nguyên tắc của GDMT:

- Nguyên tắc 1: coi môi trường là 1 tổng thể Xem xét môi trường trên mọi khía cạnh tự nhiên, nhân tạo, công nghệ và xã hội (kinh tế, kỹ tuật, lịch sử - văn hóa, đạo đức, thẩm mỹ) như sau:

 Tự nhiên: các yếu tố hữu sinh như động, thực vật và các yếu tố vô sinh như đất, nước, không khí tác động qua lại lẫn nhau trong các hệ thống và thực hiện các chức năng sinh thái hỗ trợ cho cuộc sống

 Xã hội: những người sống cùng nhau, tác động lẫn nhau và hình thành nên cách sống với nhiều quy tắc và cách ứng xử văn hóa khác nhau

Trang 24

 Kinh tế: hệ thống có tính bền vững giúp con người có việc làm và có thu nhập để chi trả cho những nguồn lợi và những dịch vụ con người cần

 Chính trị: môi trường cho phép đóng góp và tác động đến những quyết định

về tiếp cận tài nguyên thiên nhiên, kinh tế vàcách thức con người sống cùng nhau

- Nguyên tắc 2: GDMT là một quá trình liên tục và lâu dài, bắt đầu từ trước tuổi đến trường và tiếp tục trong suốt thời ký trưởng thành ở tất cả các hệ đào tạo chính quy

- Nguyên tắc 3: phương pháp tiếp cận của GDMT là liên ngành dựa trên cơ sở nội dung riêng của từng ngành, từng môn học để hình thành những quan điểm hoàn chỉnh, cân bằng và có tính hệ thống

- Nguyên tắc 4: xem xét những vấn đề môi trường cơ bản trên quan điểm của cấp địa phương, quốc gia, vùng và toàn cầu để người học có thể đánh giá đúng về điều kiện môi trường ở những khu vực địa lý khác nhau

- Nguyên tắc 5: GDMT tập trung vào tình hình môi trường hiện nay và tương lai

Nhìn chung, hầu hết các hành vi của con người khi can thiệp vào hệ sinh thái tự nhiên thường xuất phát từ những tính toán lợi ích kinh tế nhằm đáp ứng những nhu cầu ngày càng cao, càng đa dạng và thường thiếu cân nhắc đến khả năng chịu đựng của hệ sinh thái

Trang 25

“ GDMT có nhiệm vụ làm thay đổi thái độ và hành vi của toàn xã hội, sao cho quan điểm đạo đức bảo tồn mới liên quan đến động, thực vật và con người trở thành hiện thực” (ICCEm 1984, đoạn 67)

Giáo dục ngày nay còn được coi là phương tiện để:

- Giúp thay đổi quan điểm về giá trị, hành vi và lối sống Đây là những yếu tố cần thiết để đạt được sự phát triển bền vững và đảm bảo được an ninh, hòa bình cho nhân loại

- Giúp con người có được các thông tin đầy đủ để có thể hỗ trợ cho những thay đổi theo định hướng bền vững ở các lĩnh vực khác nhau

- Giúp phổ biến kiến thức, phát triển kỹ năng cần thiết cho phương thức sản xuất

và tiêu thụ bền vững, cải tiến công tác quản lý tài nguyên thiên nhiên, công ngiệp, nông nghiệp, năng lượng

2.3.6 Các loại hình GDMT

Có 3 loại hình chính:

- GDMT chính quy: môn GDMT được đưa vào kế hoạch học tập chính khóa của các trường học và cơ sở giáo dục Nó bao gồm những hoạt động diễn ra trên giảng đường và trên hiện trường

- GDMT không chính quy: GDMT được lập kế hoạch và nhằm vào những đối tượng, mục tiêu nhất định nhưng diễn ra ngoài hệ thống giáo dục chính quy Các hoạt động GDMT được thông qua các tổ chức phi chính phủ (NGOs), các lớp tập huấn cho cán bộ khuyến nông, khuyến lâm, trong các câu lạc bộ thanh niên, nhà bảo tàng và các hoạt động mang tính ngành nghề khác nhau

- GDMT thông thường: là loại hình không có kế hoạch xác định Hình thức giáo dục có thể được thực hiện khác nhau, thường thông qua hệ thống phương tiện thông tin đại chúng, các cuộc đối thoại, ca hát, loa truyền thanh, báo chí, phim ảnh,…

Trang 26

2.4 Tổng quan về VQG Núi Chúa

2.4.1 Lịch sử hình thành VQG Núi Chúa

Ninh Thuận là một tỉnh ven biển cực Nam Trung bộ.Chế độ khí hậu thuộc loại hình khô nóng, khắc nghiệt, lượng mưa trung bình hàng năm ở một số vùng thuộc loại thấp nhất của cả nước

VQG Núi Chúa là khu rừng khô hạn tự nhiên nằm trong vùng khô hạn nhất của tỉnh, có HST rừng khô hạn đặc trưng hiếm thấy ở nước ta với nhiều tập đoàn sinh vật quần tụ rất phong phú và đa dạng về số lượng cũng như chủng loài Theo kết quả điều tra năm 2001-2002, các nhà khoa học đã phát hiện có 1.265 loài thực vật, 306 loài động vật, đặc biệt có nhiều loài động thực vật quý hiếm Năm 1993 trở về trước, tài nguyên VQG Núi Chúa thường xuyên bị tàn phá làm cho diện tích rừng ngày càng suy giảm, môi trường sinh thái của nhiều loài động thực vật bị thu hẹp, nhiều nguồn gen động thực vật quý hiếm đang có nguy cơ bị tiêu diệt Hậu quả đó làm cho môi trường

tự nhiên vốn đã khắc nghiệt càng có nguy cơ “hoang mạc hoá” VQG Núi Chúa được thành lập tháng 7/2003 trên cơ sở chuyển hạng từ Khu Bảo tồn thiên nhiên Núi Chúa, tiền thân là Ban quản lý rừng phòng hộ ven biển Thuận Bắc được thành lập tháng 8/1993 Lâm phần của Vườn thuộc địa giới của 05 xã thuộc huyện Ninh Hải Theo quyết định số 134/2003/QĐ-CP ngày 09/07/2003 của Thủ tướng Chính phủ, tổng diện tích tự nhiên VQG Núi Chúa là 29.865 ha, trong đó: - Phần diện tích trên đất liền: 22.513 ha - Phần diện tích trên biển: 7.352 ha Vùng đệm của VQG Núi Chúa có diện tích là 7.350 ha

2.4.2 Chức năng và nhiệm vụ VQG Núi Chúa

Bảo tồn tính ĐDSH của HST rừng, biển Nam Trung Bộ, đặc biệt là HST rừng khô tiêu biểu và độc đáo của Việt nam với các loài động, thực vật rừng biển đặc hữu quý hiếm, phát huy những giá trị và chức năng của rừng trong việc bảo vệ môi trường

Phục vụ nghiên cứu khoa học, giáo dục về môi trường và hợp tác quốc tế về bảo tồn thiên nhiên

Khai thác tiềm năng thiên nhiên, phát triển du lịch sinh thái, góp phần phát triển kinh tế xã hội địa phương, đặc biệt là các xã vùng đệm của VQG

Trang 27

2.4.3 Tài nguyên đa dạng sinh học Vườn Quốc Gia Núi Chúa

2.4.3.1 Tài nguyên sinh vật rừng

Thành phần thực vật: Theo kết quả điều tra của các nhà khoa học cho thấy hệ

thực vật rừng ở VQG Núi Chúa khá phong phú và đa dạng mang tính khô hạn rõ rệt gồm hai HST là khô hạn nhiệt đới và thường xanh ẩm nhiệt đới Gồm có 6 kiều rừng chính sau:

 Kiểu thực vật trên cát biển

 Kiểu rừng thưa cây lá rộng hơi khô nhiệt đới

 Kiểu truông gai hạn nhiệt đới

 Kiểu trảng cây to cây bụi cỏ cao khô nhiệt đới

 Kiều rú kín lá cứng hơi khô nhiệt đới

 Kiểu rừng kín thường xanh hơi ẩm nhiệt đới núi thấp

Với 6 kiểu rừng trên các nhà khoa học đã nghiên cứu điều tra ghi nhận được

1265 loài thực vật bậc cao có mặt trên cạn nằm trong 85 bộ, 147 họ và 596 chi thuộc 7 ngành thực vật khác nhau (ở Việt Nam có 8 ngành thực vật bậc cao có mạch hiện đang sống thì ở VQG Núi Chúa đã có đại diện của 7 ngành chiếm 87%, chỉ thiếu ngành Cỏ Tháp Bút) Thực vật ở VQG Núi chúa ngoài khả năng sinh khối về gỗ, có khoảng 390

có thể chế biến làm dược liệu (chiếm 30,1% số loài thực vật của VQG) như: Huyết giác, Quyển bá trường sanh, Lọ nồi ô rô… Trên 100 loài thuộc nhóm cây làm cảnh và nhiều loài có thể làm thức ăn như: Mai, Thiên tuế, Đỗ quyên, Phong lan…

Thành phần động vật: Kết quả điều tra động vật rừng ban đầu đã ghi nhận được

306 loài động vật có xương sống thuộc 89 họ, 29 bộ của 4 lớp động vật, trong đó: Lớp Thú (Manmalia) có 72 loài thuộc 23 họ và 8 bộ, lớp Chim (Aves) có 181 loài thuộc 49

họ và 17 bộ, Bò sát (reptilia) có 36 loài thuộc 13 họ và 3 bộ, Lưỡng thể (Amphibia) có

17 loài thuộc 4 họ và 1 bộ

Trang 28

2.4.3.2 Tài nguyên sinh vật biển

Nằm trong giới hạn từ Mũi Đá Vách phía bắc cửa đầm Vĩnh Hy kéo dài đến Hòn Chông, chiều dài đường bờ khoảng 24,5 km, nơi có chiều rộng nhất từ bờ ra là 4,5 km là nơi phân bố của nhiều loài sinh vật biển như sau:

Về san hô: Tổng cộng có khoảng 307 loài san hô cứng tạo rạn thuộc 59 giống,

15 họ Trong đó có 46 loài được ghi nhận phân loại mới Hầu hết các dãy rạn san hô đều trong tình trạng khá tốt với độ che phủ san hô cứng trung bình là 30%, phân bố từ dưới 10% đến ở 50%, độ che phủ cao nhất ở những điểm nước cạn như Hòn Đeo, Bãi Lớn Điểm đặc biệt là sự phát triển rộng các dãy rạn chịu ảnh hưởng của thủy triều kéo dài ngoài khơi từ các khu vực lân cận Mỹ Hòa - Thái An - Hang Rái, sâu từ 8 đến 15m,

xa dần về phía bắc, mức độ các dãy rạn phát triển theo độ dốc hình thành dãy rạn riềm hẹp ven bờ (Khu vực Hòn Tai và Bình Tiên) và các dãy rạn nhỏ nối với nhau (Bãi Nhỏ) Các khu vực phong phú nhất như Bãi Nhỏ, Bãi Hỏm, Hang Rái có hơn 1/3 trên tổng số san hô cứng (>110 trong số 307 loài).Chiều dài rạn san hô ở Hang Rái, Mỹ Hòa có thể rộng trên 1 km từ bờ ra Phần lớn các rạn san hô trong khu vực này thuộc vào dạng rạn riềm với hai loại: rạn riềm điển hình (chiếm tỷ lệ lớn) và không điển hình, điều đó chứng tỏ rạn san hô trong khu vực này có điều kiện phát triển thuận lợi

Về rùa biển: Vùng biển xã Vĩnh Hải, tỉnh Ninh Thuận được xem là vùng có

quần thể Rùa biển lớn thứ hai ở Việt Nam (sau VQG Côn Đảo), với 3 loài: Rùa xanh

(Vích) (Chelonia mydas), Đú(Quản Đồng) (Lepidochelys olivacea), Đồi mồi (Eretmochelys imbricata)

2.4.4 Tổng quan về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội

2.4.4.1 Điều kiện tự nhiên

Vị trí địa lý

VQG Núi Chúa có diện tích 29.865ha nằm trên địa bàn 4 xã: Công Hải, Lợi Hải, Vĩnh Hải, Bắc Sơn và 3 xã vùng đệm là Nhơn Hải, Thanh Hải và Tri Hải (huyện Ninh Hải)

Có toạ độ địa lý:

- Từ 11035’25”đến 11048’38” độ vĩ bắc

Trang 29

có nhiều núi khác như Núi Ông Thỏ, Núi Bà Dương, Núi Sưa, Núi Nước Nhỉ, Núi Đá Vách Địa hình thấp đều về hai phía Đông và Tây (FIPI II, 1997)

Xen giữa các núi lớn có nhiều đồi thấp và các suối nhỏ, một số khu vực là thung lũng được dân địa phương sử dụng trồng lúa nước, đặc biệt trên khu vực núi thấp Đá Vách thuộc xã Vĩnh Hy có vùng trũng ngập nước gọi là Ao Hồ nơi hoạt động của nhiều loài động vật rừng Vùng cát ven biển là nơi di trú và sinh sản của nhiều loài động vật biển quý hiếm

Địa chất, thổ nhưỡng

Theo tư liệu của FIPI (1997), địa chất của khu vực cấu tạo chủ yếu trên nền địa tầng của khối đá mácma do hai quá trình xâm nhập và phún trào Có 3 loài đá mẹ chính là: đá Granit, đá Andedit và đá Liparit Gồm các loại đất sau:

 Đất đỏ vàng trên macma acid (diện tích 22.922ha, chiếm 77,3%)

 Đất xám bạc màu trên macma acid (diện tích 350 ha, chiêm 1,2%),

 Đất xám vàng bán khô hạn (diện tích 3.587ha, chiếm 12,1%),

 Đất xám bạc màu trên phù sa cổ (diện tích 247ha, chiếm 0,8%),

 Đất phù sa không được bồi (diện tích 226ha, chiếm 0,7%),

 Đất cát biển (diện tích 1.009ha, chiếm 3,4%)

 Núi đá trọc không cây (diện tích 1.322ha, chiếm 4,5%)

Trang 30

Khí hậu, thuỷ văn

Khí hậu khu vực này mang tính chất khí hậu nhiệt đới gió mùa Do độ ẩm và lượng mưa thấp đã tạo nên sinh cảnh rừng khô hạn đặc trưng của VQG Núi Chúa Theo số liệu của FIPI II (1997) thu thập từ trạm khí tượng thuỷ văn tại Phan Rang và Nha Hố, dưới đây là một số chỉ tiêu chính về khí hậu:

 Nhiệt độ trung bình năm khoảng 270C

 Nhiệt độ thấp nhất tuyệt đối: 14,40C

 Nhiệt độ cao nhất tuyệt đối: 41,70C

 Biên độ nhiệt ngày từ 7,6-9,60C, cả năm là 80C

Độ ẩm: Độ ẩm tương đối trung bình năm là 71%, mức thấp nhất trong Tỉnh và

cả nước Mùa khô hanh (tháng 1, 2) độ ẩm trung bình < 65%, mùa mưa (tháng 9, 10, 11) độ ẩm trung bình khoảng 80%

Lượng mưa: Do địa hình đồi núi dày đặc che chắn các thung lũng kín làm hạn chế ảnh hưởng của gió mùa Tây Nam, nguyên nhân dẫn tới lượng mưa thấp trong khu vực Lượng mưa trung bình năm rất thấp (ở Phan Rang là 691,9mm), lượng mưa phân

bố không đồng đều.Lượng mưa thấp nhất là 272,2mm, cao nhất là 1.231,2mm Gió: Mùa đông gió chủ yếu từ hướng Đông và Đông Bắc và gió Tây, mùa hè gió từ hướng Tây và Tây Nam

Thuỷ văn: Tồn tại hệ thống nước ngầm và sông suối trong VQG Các suối chính là: suối Nước Ngọt, suối Kiền Kiền, suối Đông Nha, suối Lồ Ồ Ao Hồ trên núi Đá Vách có nước quanh năm (mực nước cao nhất khoảng 2,2m vào mùa mưa, mùa khô mực nước cạn đi rất nhiều) đây là nơi tập trung của nhiều loài động vật rừng

Hải văn: Thuỷ triều mang tính bán nhật không đều Độ lớn thuỷ triều trong kỳ nước cường từ 2,0-3,5m Sóng biển từ tháng 1-4: hướng Đông Bắc-Đông, độ cao trung bình 0,9-1m, cực đại 2,5m; từ tháng 5-9: hướng Tây-Tây Nam, độ cao trung bình 1-1,1

m, cực đại 2-2,5m; từ tháng 10-12: hướng Đông Bắc, độ cao trung bình 1,2m, cực đại 2,5m Nhiệt độ trung bình nước biển trong các tháng khỏang 250C, độ mặn trung bình năm khoảng 31-33‰

Trang 31

2.4.4.2 Về kinh tế - xã hội

Phân bố dân cư

Trong 7 xã có diện tích đất nằm trong vùng đệm (Công Hải, Lợi hải, Bắc sơn, Tri hải, Nhơn hải và Vĩnh Hải, Thanh Hải), dân cư sinh sống trong khu vực 7 xã gồm

60.501 khẩu với 12.077 hộ, phân theo đơn vị hành chính quản lý như sau :

Bảng 2.1:Diện tích và dân số 7 xã vùng đệm VQG Núi Chúa

Nguồn:Báo cáo tham vấn xã hội – VQG Núi Chúa, tháng 4 năm 2010

Số liệu các xã vùng đệm năm 2010 cao so với số liệu dân số trong báo cáo Tham vấn xã hội 2008 do số liệu trong báo cáo năm 2008 được lấy từ nguồn số liệu

năm 2003 lúc chuyển hạn từ Khu bảo tồn lên Vườn quốc gia.Không có hộ dân sống trong vùng lõi VQG (2010)

Trang 32

Bảng 2.2: Các nhóm dân tộc sống trong các xã xung quanh VQG

Nguồn: Báo cáo tham vấn xã hội – VQG Núi Chúa, tháng 4 năm 2010

Trong 7 xã có diện tích đất nằm trong vùng lõi và xung quanh VQG, hiện có 2 dân tộc thiểu số với 2.575 hộ chiếm 20,34 % tổng số hộ Tỷ lệ phần trăm các dân tộc này, sắp xếp từ cao đến thấp như sau: 1) dân tộc Raglai (17,73 %), 2) Chăm (3,61%)

Nhóm dân tộc Kinh không được xem như dân tộc thiểu số, nhưng vẫn bao gồm trong bảng trên để so sánh mối tương quan với các dân tộc khác Dân tộc Kinh chiếm 78,66 % tổng số hộ sống trong khu vực

Tỷ lệ tăng dân số của 7 xã khảo sát (tự nhiên và cơ học năm 2005) bình

quân:1,82%, trong khi đó, tỷ lệ tăng dân số huyện Ninh Hải: năm 2005 là 1,55 %

Trang 33

Chăn nuôi: Chủ yếu là Bò, Dê, Cừu theo tập quán thả rong Do đó cũng có

những tác động xấu không chỉ đối với hoa màu, cây lương thực mà còn đối với cả rừng trồng

Ngành nghề khác: Đánh bắt hải sản và làm muối Các hộ dân sống bằng nghề

này có mức sống cao hơn so với nghề nông thuần tuý Tuy nhiên số lao động đầu tư cho lĩnh vực này chiếm tỷ trọng thấp (7 %) Một bộ phận hộ dân tiểu thương buôn bán nhỏ và làm dịch vụ vẫn là hộ luôn có thu nhập cao và khá ổn định

Chương trình “5 triệu ha rừng” (chương trình 661/TTg) cũng đã mang lại một phần thu nhập cho các cộng đồng nông thôn trong vùng dự án, góp phần thiết thực vào

chủ trương xóa đói giảm nghèo cho nông thôn Tóm lại: Kinh tế nông thôn vùng dự án

vẫn còn thiếu những mô hình sinh thái nông nghiệp bền vững và đó là nguyên nhân chính của sự đói nghèo và là thảm họa đối với việc huỷ hoại tài nguyên rừng và đất rừng, đây cũng chính là nguyên nhân sâu xa dẫn đến suy giảm tài nguyên ĐDSH của vườn

Văn hoá giáo dục

Hầu hết các xã trong vùng dự án đều có trường mẫu giáo và tiểu học, riêng trường phổ thông cơ sở và trung học tập trung ở 2 xã Nhơn Hải và Khánh Hải (nằm ngoài vùng quy hoạch) Theo số liệu thống kê các xã trong vùng quy hoạch có 235 lớp, trong đó 32 lớp mẫu giáo, 129 lớp tiểu học, 12 lớp phổ thông cơ sở Tổng số học sinh tiểu học 7.435 em, trong đó học sinh tiểu học chiếm 85,2%, phổ thông cơ sở chiếm 12,9%, phổ thông trung học chiếm 1,9%

Số người mù chữ hiện nay vẫn còn chiếm tỷ lệ khá cao; tỷ lệ mù chữ ở người lớn là 9%, ở trẻ em là 14%.Đây là một thực trạng rất cần được quan tâm để đầu tư dân trí Do điều kiện kinh tế, sinh hoạt hết sức khó khăn ở vùng sâu và xa tại nhiều thôn người dân tộc Raglai, nên việc giáo dục phổ thông gặp nhiều khó khăn như thiếu giáo viên – đặc biệt là giáo viên tiểu học Bên cạnh đó cơ sở vật chất của nhà trường như nhà cửa, bàn ghế, dụng cụ học đường bị xuống cấp và thiếu thốn nghiêm trọng nên công tác xoá mù chữ và giáo dục tiểu học ở đây gặp nhiều khó khăn, mặc dù đã có nhiều cố gắng của chính quyền địa phương và ngành giáo dục

Trang 34

Nhìn chung những khó khăn đối với ngành y tế nông thôn ở đây là tình trạng thiếu thuốc men, điều kiện giao thông không thuận lợi nên việc khám chữa bệnh cho người dân – nhất là người dân ở vùng sâu vùng xa gặp nhiều khó khăn

2.5 Sơ lược về đối tượng nghiên cứu

2.5.1 Cộng đồng người Raglai

Trong thành phần 54 dân tộc Việt Nam, Raglai là tộc người chiếm số lượng ít, nhưng có thể nói Raglai là dân tộc có nền văn hóa đặc sắc gắn với điều kiện môi sinh của cư dân nông nghiệp nương rẫy Nam Trung Bộ

2.5.1.1 Đời sống

Người Raglai sinh sống lâu đời trên vùng đất Nam Trung Bộ và cư trú tại một thung lũng sâu có núi cao bao bọc xung quanh Công cụ lao động chủ yếu là: rìu, rựa, chà gạc, gậy chọc lỗ, nạo cỏ, khi thu hoạch lúa thì tuốt bằng tay Người Raglai chăn nuôi trâu, lợn, gà, vịt.Trước đây chủ yếu sử dụng vào việc cúng lễ Hiện nay trâu, bò dùng làm sức kéo.Lợn, gà, vịt trở thành hàng hóa để trao đổi hoặc cải thiện bữa ăn.Người Raglai có nghề đan lát mây tre làm những đồ đựng, đồ sàng gạo, gùi Nghề thủ công chủ yếu do đàn ông đảm nhiệm

Nhà ở của người Raglai thường xây dựng trên sườn đồi về một bên của dòng suối

và có tập quán xây dựng cách xa nhau Người Raglai ở nhà sàn (còn gọi là nhà dài), là nơi sinh sống quây quần của ít nhất ba, bốn thế hệ dưới sự cai quản của chủ nhà, thường là người già, cao tuổi nhất trong gia đình, trong dòng họ

Ngôi nhà dài truyền thống Raglai kết cấu vững chắc, quanh khu nhà ở có hàng rào chắc chắn, có một hoặc hai cửa ra vào và luôn có máng nước bằng tre nứa dẫn từ suối

về bảo đảm sinh hoạt hàng ngày và có chỗ tắm giặt cho đàn bà, con gái, trẻ em Ngoài

Trang 35

ra, trên đám rẫy đang canh tác, người Raglai còn có nhà rẫy để ăn uống nghỉ ngơi trong những ngày lao động mùa vụ, có kho tạm chứa hoa lợi trước khi mang về nhà 2.5.1.2 Phong tục tập quán và Văn hóa

Về trang phục truyền thống, đàn ông Raglai mặc áo bà ba hoặc quần âu áo sơ mi Phụ nữ thì mặc váy hoặc quần áo sơ mi, áo bà ba, trong các dịp lễ hội, cúng tế cũng như ngày thường Tương truyền ngày xưa đàn ông Raglai cởi trần đóng khố; đàn bà quấn váy tấm, mặc áo cộc luồn đầu Đồ trang sức của nữ có vòng đeo cổ tay, vòng đeo

cổ, các loại vòng cườm, bông tai bằng đồng thau hay bằng bạc

Về quan hệ gia đình, người Raglai theo chế độ mẫu hệ, cho đến nay họ vẫn duy trì tuy đã có sự thay đổi theo môi trường xã hội mới Con gái cưới chồng về nhà mình với quan niệm “Chặt cây rừng về làm nhà, bắt người ta về làm người nhà mình” Chàng rể, người chồng trở thành trụ cột trong gia đình nhà vợ nhưng quyền quyết định những công việc lớn lao vẫn thuộc về người vợ và ông cậu bên vợ Con gái sinh ra mang họ

mẹ và luôn giữ mối quan hệ huyết thống theo dòng họ mẹ suốt 7 đời Quyền thừa kế tài sản chỉ thuộc về con gái, đặc biệt là người con gái út

Người Raglai theo tín ngưỡng đa thần “vạn vật hữu linh” Ngoài ra, họ còn thờ cúng các thần như: thần núi (Yang chớ), thần rừng (Yang gla glai), thần lúa (Yang Paday) v.v Đồng bào Raglai có đời sống văn hóa, văn nghệ dân gian phong phú, có những truyện thần thoại kể về các vị thần sáng tạo trời đất, muôn loài.Về dân ca có những làn điệu như alâu (nói lì, hát đối đáp), điệu xúri (hát than thân), điệu se ngai (hát

tỏ tình)

Về nhạc cụ người Raglai có bộ chiêng đầy đủ 12 chiếc được sử dụng theo từng nhóm 4, 6, 7 hay 9 cùng với chiếc trống da nai điểm nhịp Nhạc cụ còn có khèn bầu (sara ken), khèn môi có 2 loại radih a hoát và đàn ống tre (chapi) Người Raglai cũng biết ghép những thanh đá thành bộ đàn đá khá độc đáo và lí thú, được đánh giá là “đàn

đá tiền sử”, là “nhạc cụ cổ xưa nhất” của loài người Đàn đá trở thành di sản văn hóa độc đáo mang tính bản địa của vùng Trường Sơn - Tây Nguyên, dần dần đàn đá trở thành nhạc cụ linh thiêng trong đời sống của cộng đồng khi nó tham gia vào các nghi thức của lễ hội, tín ngưỡng

Trang 36

2.5.2 Học sinh

- Học sinh tại các trường nằm trong vùng đệm VQG Núi Chúa thuộc nhóm đối tượng nghiên cứu đóng vai trò quan trọng trong việc góp phần nâng cao nhận thức cộng đồng, nhất là phụ huynh cộng đồng Raglai

- Góp phần nâng cao vai trò công tác giáo dục môi trường

- Vườn quốc gia Núi Chúa đã có những nổ lực trong vấn đề nâng cao nhận thức, hành vi bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học cho học sinh

Thực hiện theo Quyết định số 70/QĐ-BQLVCF ngày 09/02/2012 về việc giao Trung tâm Du lịch sinh thái & Giáo dục Môi trường thực hiện hoạt động 2.2.2 (Thành lập và hoạt động 8 câu lạc bộ xanh ở 8 trường học) của Dự án “ Nâng cao năng lực Ban quản lý VQG Núi Chúa để bảo vệ và giám sát Đa dạng sinh học của VQG Núi Chúa, thực hiện thí điểm cơ chế chia sẻ lợi ích và lập các mô hình hỗ trợ sinh kế cho người dân phụ thuộc vào tài nguyên rừng sống trong vùng đệm” năm 2012 VQG đã triển khai và thành lập CLB Xanh tại 8 trường sau: Trường THCS Lương Thế Vinh - Nhơn Hải - Ninh Hải; Trường THCS Lý Thường Kiệt – Tri Hải – Ninh Hải; Trường THCS Hùng Vương – Công Hải – Thuận Bắc; Trường THPTDTNT – Lợi Hải – Thuận Bắc; Trường THCS Bùi Thị Xuân – Lợi Hải – Thuận Bắc; Trường THCS Hà Huy Tập – Bắc Sơn – Thuận Bắc; Trường THCS Nguyễn Văn Linh – Vĩnh Hải – Ninh Hải; Trường THCS Ngô Quyền – Vĩnh Hải – Ninh Hải [Xem phụ lục 3.2]

Trang 37

Chương 3

NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Nội dung nghiên cứu

- Khảo sát hiện trạng bảo tồn đa dạng sinh học rừng của VQG Núi Chúa

- Khảo sát công tác quản lý các hoạt động của VQG đối với cộng đồng

- Đánh giá hiện trạng nhận thức và ảnh hưởng của cộng đồng đối với đa dạng sinh học rừng

- Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao vai trò của cộng đồng và hiệu quả công tác bảo tồn đa dạng sinh học rừng của VQG

3.2 Phương pháp nghiên cứu

3.2.1 Thu thập số liệu thứ cấp

- Tổng hợp những thông tin cần thiết để hoàn thiện phần tổng quan của đề tài

- Thông tin từ các nguồn sách, báo, internet, tài liệu do VQG cung cấp (các báo cáo thống kê về thực trạng quản lý, một số hình ảnh, bản đồ khu vực, ), tài liệu thống kê tình hình dân sinh của xã Vĩnh Hải

3.2.2 Phương pháp PRA

3.2.2.1 Phỏng vấn bán cấu trúc

- Mục đích: Thu thập những thông tin mang tính đại diện, thông tin chuyên sâu

về cá nhận hay nhóm người của cộng đồng

Trang 38

- Đối tượng phỏng vấn: Ban quản lý VQG Núi Chúa; cộng đồng cư dân tại thôn

Đá Hang và thôn Cầu Gãy– Vĩnh Hải – Ninh Hải; học sinh Trường THCS Ngô Quyền và Trường THCS Nguyễn Văn Linh – Vĩnh Hải – Ninh Hải

- Nội dung phỏng vấn và cách thức thực hiện:

Đối tượng Nội dung Cách thức thực hiện

Khái quát được hiện trạng sinh sống và tác động của người dân đối với các loại tài nguyên

Mối quan tâm của cộng đồng đối với công tác bảo tồn ĐDSH

Nhận thức, mong muốn của cộng đồng đối với hiện trạng công tác bảo tồn

Phát phiếu ngẫu nhiên tại 2 thôn: Tổng số phiếu phỏng vấn là 60 phiếu (thôn Đá Hang là 30/72 hộ và thôn Cầu Gãy là 30/66 hộ)

Đến từng hộ giới thiệu truyền thống, nêu mục đích phỏng vấn và phát phiếu phỏng vấn Ghi nhận những hình ảnh làm

tư liệu

Học sinh Mức độ quan tâm của học sinh đối

với các hoạt động giáo dục môi trường mà VQG tổ chức

Kiến thức chung về đa dạng sinh học

Nhận thức và các hành vi đối với môi trường và đa dạng snh học

Đánh giá của học sinh đối với cộng đồng

Chọn 2 trường nằm trong xã Vĩnh Hải và đã được tổ chức các hoạt động truyền thông về môi trường: Trường THCS Ngô Quyền và Trường THCS Nguyễn Văn Linh – Vĩnh Hải – Ninh Hải

Phát phiếu ngẫu nhiên tại 2 trường, số lượng phiếu phát ra

là 60 phiếu: mỗi trường 30 phiếu

Trang 39

Giới thiệu bản thân và mục đích phỏng vấn

Đánh giá hiện trạng tổ chức các loại hình giáo dục môi trường trong cộng đồng

Những khó khăn và thuận lợi trong công tác tuyên truyền

Đánh giá vai trò của cộng đồng đối với công tác bảo tồn nơi đây

Những biện pháp và kế hoạch sắp tới cho việc nâng cao bảo tồn đa dạng sinh học dựa vào cộng đồng

Thực hiện các câu hỏi mở đối với cán bộ nhân viên VQG Núi Chúa

3.2.2.2 Quan sát trực tiếp

- Mục đích: Ghi nhận được những gì tại thời điểm quan sát (các sự vật xung quanh, tìm hiểu hoàn cảnh sinh sống của cộng đồng) Hoạt động nhằm thẩm định, xác minh lại những thông tin là đúng hay sai

- Thực hiện: xây dựng bảng câu hỏi chủ chốt kèm ghi chép và lựa chọn những thời điểm thích hợp, vị trí (nơi) thích hợp để quan sát

3.2.2.3 Phỏng vấn nhóm và tham vấn ý kiến chuyên gia

- Đối tượng phỏng vấn: hai người dân đồng bào Raglai thuộc hai thôn Đá Hang

và thôn Cầu Gẫy; hai chuyên gia tại VQG Núi Chúa

- Tiêu chí chọn đối tượng phỏng vấn:

 Là cá nhân có hiểu biết rõ về cộng đồng nơi họ sinh sống;

Trang 40

 Đã từng tham gia hoặc vận động người dân tham gia hoạt động bảo vệ ĐDSH rừng;

 Cán bộ tổ chức hoặc quản lý các hoạt động tuyên truyền nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo tồn ĐDSH

- Mục đích:

 Xác thực và điều chỉnh thông tin thu thập được

 Tìm hiểu nguyên nhân

3.2.3 Phương pháp xử lý số liệu

- Tổng hợp các số liệu thu thập được

- Thống kê mô tả: xác định và mô tả các giá trị trung bình, giá trị nhỏ nhất, giá trị lớn nhất,…

Ngày đăng: 27/02/2019, 10:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w