BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP KHẢO SÁT SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA VĂN HÓA CỘNG ĐỒNG ĐẾN CÔNG TÁC QUẢN LÝ BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC TẠI
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
KHẢO SÁT SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA VĂN HÓA CỘNG ĐỒNG ĐẾN CÔNG TÁC QUẢN LÝ BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC
TẠI VƯỜN QUỐC GIA BIDOUP - NÚI BÀ, HUYỆN LẠC DƯƠNG, TỈNH LÂM ĐỒNG
Sinh viên thực hiện: VÕ CHÂU VIỆT KHUÊ
Ngành: QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG & DU LỊCH SINH THÁI
Niên khóa: 2010 – 2014
Tháng 12– 2013
Trang 2i
KHẢO SÁT SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA VĂN HÓA CỘNG ĐỒNG ĐẾN CÔNG TÁC QUẢN LÝ BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC TẠI VƯỜN QUỐC GIA BIDOUP - NÚI BÀ, HUYỆN LẠC DƯƠNG,
TỈNH LÂM ĐỒNG
Tác giả
VÕ CHÂU VIỆT KHUÊ
Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu
cấp bằng Kỹ sư ngành Quản lý môi trường và du lịch sinh thái
Giáo viên hướng dẫn:
TS HỒ VĂN CỬ
Tháng 12/2013
Trang 3ii
BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐH NÔNG LÂM TP.HCM
KHOA MÔI TRƯỜNG & TÀI NGUYÊN
Ngành: QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG & DU LỊCH SINH THÁI
Họ và tên SV: VÕ CHÂU VIỆT KHUÊ Mã số SV: 10157080
Khóa học: 2010 – 2014 Lớp: DH10DL
1 Tên đề tài: Khảo sát sự ảnh hưởng của văn hóa cộng đồng đến công tác quản lý
bảo tồn đa dạng sinh học tại VQG Bidoup – Núi Bà, huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm
Đồng
2 Nội dung KLTN SV phải thực hiện các yêu cầu sau đây:
Tìm hiểu văn hóa cộng đồng của dân tộc K’ho tại VQG Bidoup – Núi Bà
Tìm hiểu VQG Bidoup – Núi Bà đã vận dụng các giá trị văn hoá cộng đồng
vào công tác bảo tồn đa dạng sinh học và du lịch sinh thái
Đề xuất các giải pháp góp phần bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa cộng
đồng trong công tác bảo tồn đa dạng sinh học tại VQG Bidoup – Núi Bà,
huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng
3 Thời gian thực hiện: Bắt đầu: 08/2013 và kết thúc: 12/2013
4 Họ và tên GVHD: TS.HỒ VĂN CỬ
Nội dung và yêu cầu của KLTN đã được thông qua Khoa và Bộ môn
Ngày tháng năm 2013 Ngày 30 tháng 08 năm 2013
Ban chủ nhiệm khoa Giáo viên hướng dẫn
Trang 4iii
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến quý thầy cô trường Đại Học Nông Lâm TP HCM, quý thầy cô Khoa Môi Trường và Tài Nguyên đã tận tình giảng dạy, truyền đạt cho tôi những kiến thức trong suốt quá trình học tập tại trường làm hành trang để tôi vững bước vào đời
Xin gửi lời tri ân đến TS Hồ Văn Cử, người thầy đã gợi ý, hướng dẫn, động viên tôi trong suốt quá trình làm đề tài Tôi cảm ơn thầy đã dành thời gian quý báu của mình để giúp tôi hoàn thành Khóa luận tốt nghiệp
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến anh K’Vâng, chuyên viên Trung tâm DLST
& GDMT đã nhiệt tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực tập và giúp đỡ tôi hoàn thành tốt đề tài thực tập; gửi lời cảm ơn đến chú Nguyễn Lương Minh, giám đốc Trung tâm DLST & GDMT và các anh chị chuyên viên đã tận tình giúp đỡ tôi trong thời gian tôi thực tập tại Trung tâm
Cuối cùng, tôi xin gửi đến gia đình, bạn bè, tập thể lớp DH10DL những tình cảm chân thành nhất vì đã luôn bên cạnh tôi, động viên tôi trong những lúc khó khăn nhất Tôi xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên thực hiện
Võ Châu Việt Khuê
Trang 5iv
TÓM TẮT
Đề tài “Khảo sát sự ảnh hưởng của văn hóa cộng đồng đến công tác quản lý bảo tồn đa dạng sinh học tại VQG Bidoup – Núi Bà, huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng” được thực hiện từ tháng 08 đến tháng 12 năm 2013 tại VQG Bidoup – Núi Bà, huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng với mục tiêu góp phần bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa cộng đồng của dân tộc K’Ho tại VQG Bidoup - Núi Bà và nâng cao hiệu quả của công tác quản lý và bảo tồn đa dạng sinh học tại VQG Bidoup – Núi Bà Đề tài tiến hành tìm hiểu các nội dung sau:
- Giá trị văn hóa cộng đồng của dân tộc K’ho tại VQG Bidoup – Núi Bà
- VQG Bidoup – Núi Bà đã vận dụng các giá trị văn hoá cộng đồng vào công tác bảo tồn đa dạng sinh học và du lịch sinh thái
- Đề xuất các giải pháp góp phần bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa cộng đồng trong công tác bảo tồn đa dạng sinh học tại VQG Bidoup – Núi Bà, huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng
Đề tài có sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: nghiên cứu tài liệu, khảo sát thực địa, phỏng vấn bằng bảng câu hỏi, phỏng vấn trực tiếp, tham khảo ý kiến chuyên gia, xử lý số liệu, phương pháp trình bày số liệu
Kết quả nghiên cứu đã xác định được các giá trị VHCĐ của dân tộc K’ho tại VQG Bidoup – Núi Bà rất đa dạng và phong phú Tuy nhiên, hiện nay các giá trị VHCĐ đang dần mất đi do sự phát triển kinh tế của đất nước và sự du nhập các tôn giáo, văn hóa mới VQG Bidoup – Núi Bà đã vận dụng các giá trị VHCĐ vào công tác bảo tồn ĐDSH với từng nhóm hoạt động khác nhau nhằm vừa nâng cao công tác bảo tồn ĐDSH vừa bảo tồn và phát huy các giá trị VHCĐ, tạo công ăn việc làm cho cộng đồng K’ho Tuy nhiên, số lượng cộng đồng tham gia vào các hoạt động còn ít, VQG gặp nhiều khó khăn trong việc thu hút sự tham gia của cộng đồng vào công tác bảo tồn ĐDSH Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao công tác bảo tồn ĐDSH và đưa ra các đề xuất cho bảo tồn và phát huy các giá trị
VHCĐ của dân tộc K’ho tại VQG Bidoup – Núi Bà
Trang 6v
MỤC LỤC
PHIẾU GIAO NHIỆM VỤ KLTN ii
LỜI CẢM ƠN iii
TÓM TẮT iv
MỤC LỤC v
DANH MỤC HÌNH ẢNH viii
DANH MỤC BẢNG BIỂU ix
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT x
Chương I MỞ ĐẦU 1
1.1. Đặt vấn đề 1
1.2. Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 2
1.3.1. Đối tượng nghiên cứu 2
1.3.2. Phạm vi nghiên cứu 2
Chương II TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1. Một số khái niệm 3
2.1.1. Du lịch sinh thái 3
2.1.2. Bảo tồn đa dạng sinh học 4
2.1.3. Cộng đồng 5
2.1.4. Văn hóa cộng đồng 5
2.1.5. Văn hóa đa dạng sinh học 5
2.2. Tổng quan về VQG Bidoup – Núi Bà 6
2.2.1. Lịch sử hình thành 6
2.2.2. Cơ cấu tổ chức 6
2.2.3. Điều kiện tự nhiên 7
2.2.4. Điều kiện kinh tế - xã hội 9
2.2.5. Tài nguyên thiên nhiên 12
2.2.6. Tài nguyên nhân văn 14
2.2.7. Các chương trình hoạt động của VQG Bidoup – Núi Bà 15
2.2.8. Các nghiên cứu liên quan đến công tác bảo tồn ở VQG Bidoup – Núi Bà 15 2.3. Tổng quan về dân tộc K’ho ở Việt Nam 16
Trang 7vi
2.3.1. Lịch sử và nguồn gốc tộc người 16
2.3.2. Môi trường cư trú 16
2.3.3. Đặc điểm con người 18
2.3.4. Tổ chức xã hội 19
Chương III NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
3.1. Nội dung nghiên cứu 21
3.2. Phương pháp nghiên cứu 21
3.2.1. Phương pháp thu thập và xử lý tư liệu 21
3.2.2. Phương pháp khảo sát thực địa 21
3.2.3. Phương pháp điều tra xã hội học 22
3.2.4. Phương pháp phỏng vấn chuyên gia 22
3.2.5. Thống kê, phân tích và xử lý số liệu 23
Chương IV KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 24
4.1. Tổng quan về cộng đồng dân tộc K’ho tại VQG Bidoup – Núi Bà 24
4.1.1. Nhóm Làc 24
4.1.2. Nhóm C’il 24
4.1.3. Nhóm T’ring 25
4.2. Các giá trị văn hóa cộng đồng của dân tộc K’ho 25
4.2.1. Phong tục tập quán 25
4.2.2. Ngành nghề truyền thống 32
4.2.3. Văn hóa dân gian 35
4.3. Vận dụng các giá trị VHCĐ vào hoạt động bảo tồn ĐDSH và DLST tại VQG Bidoup – Núi Bà 38
4.3.1. Vận dụng giá trị VHCĐ trong bảo vệ tài nguyên thiên nhiên 38
4.3.2. Vận dụng giá trị VHCĐ trong phát triển DLST tại VQG Bidoup – Núi Bà ……….41
4.3.3. Sự tham gia của cộng đồng địa phương vào hoạt động DLST của VQG Bidoup – Núi Bà 44
4.4. Đề xuất các giải pháp góp phần nâng cao giá trị VHCĐ trong công tác quản lý bảo tồn ĐDSH tại VQG Bidoup – Núi Bà 49
Chương V KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 51
Trang 8vii
5.1. Kết luận 51
5.2. Kiến nghị 52
TÀI LIỆU THAM KHẢO 53
PHỤ LỤC 54
Trang 9viii
DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 2.1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức VQG Bidoup – Núi Bà 7 Hình 2.2: Bản đồ quy hoạch VQG Bidoup – Núi Bà, tỉnh Lâm Đồng 8 Hình 4.1: Biểu đồ thể hiện sự hiểu biết của cộng đồng về hoạt động bảo tồn ĐDSH tại VQG Bidoup – Núi Bà 44 Hình 4.2: Biểu đồ thể hiện sự hiểu biết về hoạt động bảo tồn ĐDSH tại VQG Bidoup – Núi Bà theo từng độ tuổi 45 Hình 4.3: Biểu đồ thể hiện sự tham gia của cộng đồng vào hoạt động bảo tồn ĐDSH tại VQG Bidoup – Núi Bà theo độ tuổi 45 Hình 4.4: Biểu đồ thể hiện sự tham gia của cộng đồng vào các nhóm hoạt động của VQGBidoup – Núi Bà 46 Hình 4.5: Biểu đồ thể hiện sự thường xuyên tham gia các nhóm hoạt động của cộng đồng 47 Hình 4.6: Biểu đồ thể hiện nguyên nhân cộng đồng không tham gia các hoạt động bảo tồn ĐDSH của VQGBidoup – Núi Bà 48
Trang 10ix
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Số hộ nghèo và tỷ lệ % 11 Bảng 2.2: Các loại lâm sản chính, mục đích, thời gian thu hái 11 Bảng 4.1: Hệ thống hoa văn truyền thống trên thổ cẩm 34
Trang 11IUCN : Tổ chức bảo tồn thiên nhiên thế giới
(International Union for Conservation of Nature)
Trang 12Trang 1
Chương I
MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Sự suy giảm đa dạng sinh học có rất nhiều nguyên nhân, không chỉ đơn thuần là
do nhu cầu phát triển kinh tế, hay do áp lực dân số ngày càng tăng lên mà còn là vấn
đề rất phức tạp liên quan đến lối sống của con người, phong tục tập quán, thái độ hành vi của từng cá nhân, của cộng đồng, dân tộc Mỗi tộc người có một nền văn hoá
và quan niệm riêng về tài nguyên thiên nhiên Vì vậy, đa dạng sinh học và đa dạng văn hóa thường liên quan với nhau Việc bảo vệ những nền văn hóa truyền thống đó trong môi trường tự nhiên của nó sẽ tạo cơ hội để đạt được cả hai mục đích: bảo vệ
đa dạng sinh học và duy trì đa dạng văn hóa
VQG Bidoup – Núi Bà là một trong 28 vườn quốc gia nằm trong hệ thống các khu rừng đặc dụng Việt Nam VQG Bidoup – Núi Bà thuộc địa giới hành chính huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng Nơi đây được các nhà khoa học đánh giá là một trong 221 trung tâm chim đặc hữu của thế giới và là một trong 4 trung tâm đa dạng sinh học của Việt Nam 91% diện tích của VQG Bidoup - Núi Bà là rừng và đất rừng, trong đó, chủ yếu là rừng nguyên sinh với rất nhiều loài động - thực vật khác nhau
Có 1933 loài thực vật ở VQG Bidoup - Núi Bà, trong đó: 62 loài quý hiếm phân bố trong 29 họ thực vật khác nhau, nằm trong cấp đánh giá về mức độ quý hiếm Động vật có 56 loài được ghi trong danh mục các loài động vật quý hiếm Có 47 loài được ghi trong sách Đỏ Việt Nam 2007 Có 30 loài được ghi trong danh mục sách Đỏ IUCN (2010) Vườn quốc gia Bidoup - Núi Bà còn được đánh giá là vương quốc của các loài lan rừng Việt Nam với trên 250 loài
Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau mà ĐDSH tại VQG Bidoup - Núi
Bà đang suy giảm với tốc độ ngày càng cao Rừng thường xuyên bị tàn phá làm cho diện tích rừng ngày càng suy giảm, môi trường sinh thái của nhiều loài động thực vật
bị thu hẹp, nhiều nguồn gen động thực vật quý hiếm đang có nguy cơ bị tiêu diệt Nguyên nhân là sự gia tăng dân số và sự tăng trưởng nhanh của nền kinh tế đã tạo ra
Trang 13Trang 2
áp lực lớn lên đa dạng sinh học Ngoài ra còn do nạn khai thác rừng trái phép, săn bắt động vật quý hiếm… Việc suy giảm và mất tiểu sinh cảnh của VQG từ việc xâm lấn đất rừng làm nông nghiệp là 61-80% diện tích; khai thác gỗ trái phép 41-60%; khai thác lâm sản ngoài gỗ 41-60%; săn bắt động vật hoang dã 21-40%…
Dân tộc K’ho là dân tộc bản địa lớn nhất tại VQG Bidoup – Núi bà, chiếm 87,23%, sống gắn bó và sử dụng trực tiếp nguồn lợi từ tài nguyên thiên nhiên, điều này đã gây ảnh hưởng tới ĐDSH tại VQG Tuy nhiên, dân tộc K’ho có những quan niệm riêng và cách ứng xử về tài nguyên thiên nhiên thông qua các giá trị văn hóa bản địa Qua đó, họ có ý thức trong việc bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo tồn ĐDSH và phát huy các giá trị VHCĐ
Để có thể hiểu rõ về những ảnh hưởng của VHCĐ đến công tác quản lý bảo tồn ĐDSH tại VQG Bidoup – Núi Bà cũng như góp phần bảo tồn các giá trị văn hóa
truyền thống bản địa tại VQG, tác giả đã thực hiện đề tài: “Khảo sát sự ảnh hưởng của văn hóa cộng đồng đến công tác quản lý bảo tồn đa dạng sinh học tại VQG Bidoup – Núi Bà, huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Góp phần nâng cao hiệu quả của công tác quản lý, bảo tồn đa dạng sinh học và
du lịch sinh thái tại VQG Bidoup – Núi Bà, huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng
1.3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Dân tộc K’ho tại VQGBidoup – Núi Bà
- Ban quản lý VQG Bidoup – Núi Bà
- Các hoạt động bảo tồn VHCĐ tại VQGBidoup – Núi Bà
Trang 14dã và những giá trị văn hóa được khám phá” (Hector Ceballos-lascurain, 1987)
“ Du lịch sinh thái là du lịch có trách nhiệm với các khu thiên nhiên, là công cụ
để bảo tồn môi trường và cải thiện phúc lợi cho nhân dân địa phương” (Lindberg và Hawkins, 1993)
Tổ chức bảo tồn thiên nhiên thế giới (IUCN) đã đưa ra định nghĩa: “ Du lịch sinh thái là tham quan và du lịch có trách nhiệm với môi trường tại các điểm tự nhiên không bị tàn phá để thưởng thức thiên nhiên và các đặc điểm văn hóa đã tồn tại trong quá khứ hoặc đang hiện hành, qua đó khuyến khích hoạt động bảo vệ, hạn chế những tác động tiêu cực do khách tham quan gây ra và tạo ra lợi ích cho những người dân địa phương tham gia tích cực” (Celballos-Lascurain, 1996)
“Du lịch sinh thái là du lịch tới những khu vực nhạy cảm và nguyên sinh thường được bảo vệ với mục đích nhằm gây ra tác hại và với quy mô nhỏ nhất Nó giúp giáo dục du khách, tạo quỹ bảo vệ môi trường, nó trực tiếp đem lại nguồn lợi kinh tế và sự
tự quản lý cho người dân địa phương và nó khuyến khích tôn trọng các giá trị văn hóa và quyền con người” (Honey, 1999)
Năm 1999, Tổng cục Du lịch Việt Nam, ESCAP, WWF, IUCN đã đưa ra định nghĩa về du lịch sinh thái: “ Du lịch sinh thái là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên
và văn hóa bản địa, gắn với giáo dục môi trường, có đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững, với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương”
Trang 15Trang 4
Tóm lại, du lịch sinh thái là loại hình du lịch gắn liền với tài nguyên thiên nhiên
và văn hóa bản địa, là du lịch có trách nhiệm với môi trường, gắn liền với giáo dục môi trường và bảo tồn các giá trị văn hóa, có sự tham gia của cộng đồng nhằm đóng góp cho công tác bảo tồn và phát triển bền vững
2.1.2 Bảo tồn đa dạng sinh học
2.1.2.1 Đa dạng sinh học
“ Đa dạng sinh học là sự phong phú của mọi cơ thể sống có từ tất cả các nguồn trong các hệ sinh thái trên cạn, dưới nước, ở biển và mọi phức hệ sinh thái mà chúng
là bộ phận cấu thành Đa dạng sinh học bao gồm sự đa dạng trong các loài (đa dạng
di truyền hay còn gọi là đa dạng nguồn gen), giữa các loài (đa dạng loài) và các hệ sinh thái (đa dạng hệ sinh thái)” (Công ước về đa dạng sinh học, 1992)
Đa dạng sinh học là sự phong phú về gen, loài sinh vật và hệ sinh thái trong tự nhiên (Luật Đa dạng sinh học, 2008)
2.1.2.2 Bảo tồn đa dạng sinh học
Bảo tồn đa dạng sinh học là việc bảo vệ sự phong phú của các hệ sinh thái tự nhiên quan trọng, đặc thù hoặc đại diện; bảo vệ môi trường sống tự nhiên thường xuyên hoặc theo mùa của loài hoang dã, cảnh quan môi trường, nét đẹp độc đáo của
tự nhiên; nuôi, trồng, chăm sóc loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được
ưu tiên bảo vệ; lưu giữ và bảo quản lâu dài các mẫu vật di truyền (Luật Đa dạng sinh học, 2008)
Bảo tồn đa dạng sinh học là quá trình quản lý mối tác động qua lại giữa con người với các gen, các loài và các hệ sinh thái nhằm mang lại lợi ích lớn nhất cho thế
hệ hiện tại và vẫn duy trì tiềm năng của chúng để đáp ứng nhu cầu và nguyện vọng của các thế hệ tương lai Để có thể tiến hành các hoạt động quản lý nhằm bảo tồn đa dạng sinh học, điều cần thiết là phải tìm hiểu những tác động tiêu cực, các nguy cơ
mà loài hiện đang đối mặt và từ đó xây dựng các phương pháp quản lý phù hợp nhằm giảm đi các tác động tiêu cực của các nguy cơ đó và đảm bảo sự phát triển của loài và
hệ sinh thái đó trong tương lai
Hiện nay có các phương thức bảo tồn chủ yếu là bảo tồn tại chỗ(In-situ)và bảo tồn chuyển vị(Ex-situ) Trong khi phương thức bảo tồn tại chỗ là nhằm bảo tồn các
Trang 16Trang 5
hệ sinh thái và các sinh cảnh tự nhiên để duy trì và khôi phục quần thể các loài trong môi trường tự nhiên của chúng, phương thức bảo tồn chuyển vị bao gồm các hoạt động nhằm bảo tồn các loài mục tiêu bên ngoài nơi phân bố hay môi trường tự nhiên của chúng
2.1.3 Cộng đồng
Cộng đồng là một thể thống nhất các đối tượng sống trong cùng một môi trường
Mà trong đó, mỗi thành phần có thể là thực vật hoặc động vật sống; bất kể đó
là loài nào, kích thước ra sao Đặc tính chung của cộng đồng được thể hiện và tương tác lẫn nhau bằng rất nhiều cách
Cộng đồng là toàn thể những người cùng sống trong cùng một môi trường, có những điểm giống nhau, gắn bó thành một khối trong sinh hoạt xã hội
Khái niệm cộng đồng mà tác giả sử dụng trong đề tài là cộng đồng dân tộc K’ho sinh sống tại VQG Bidoup – Núi Bà, xã Lát, huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng
2.1.5 Văn hóa đa dạng sinh học
Văn hóa đa dạng sinh học là liên kết giữa đa dạng văn hóa (hoặc con người) và
đa dạng sinh học Mà tính đa dạng văn hóa là sự đa dạng của xã hội loài người/văn hóa và đa dạng sinh học là sự đa dạng của đời sống thực vật và động vật, trong bất kỳ một khu vực cụ thể hoặc trong thế giới nói chung
Trang 17- Ngày 20-10-1993, UBND tỉnh Lâm Đồng có quyết định 1496/QĐ-UBTC V/v thành lập Ban QLR đặc dụng Bidoup - Núi Bà
- Ngày 26-12-2002, UBND tỉnh Lâm Đồng có quyết định 183/2002/QĐ-UB V/v chuyển Ban QLR đặc dụng Bidoup - Núi Bà thành Khu bảo tồn thiên nhiên Bidoup - Núi Bà
- Ngày 19-11-2004, Thủ Tướng Chính phủ có quyết định 1240/QĐ-TTg V/v chuyển Khu bảo tồn thiên nhiên Bidoup - Núi Bà thành VQG BiDoup - Núi Bà
- Ngày 19-11-2004, Thủ Tướng Chính phủ có quyết định 1240/QĐ-TTg V/v Phê duyệt kết quả rà soát điều chỉnh phân khu chức năng VQG Bidoup - Núi Bà
- Ngày 12-8-2005, UBND tỉnh Lâm Đồng có quyết định 144/2005/QĐ-UB V/v Quy định chức năng nhiệm vụ tổ chức bộ máy của VQG Bidoup - Núi Bà
- Ngày 8-9-2005, UBND tỉnh Lâm Đồng có quyết định 157/2005/QĐ-UB V/v Thành lập Hạt Kiểm lâm VQG Bidoup - Núi Bà trực thuộc VQG Bidoup - Núi Bà
- Trung tâm Du lịch sinh thái và Giáo dục môi trường
- Trung tâm Nghiên cứu quốc tế rừng nhiệt đới
Trang 18VQG nằm trong phạm vi 5 xã: Lát, Đachais (Đạ Chais), Đa Nhim (Đạ Nhim), Đasar (Đạ Sar), Đưng Knớ (Đưng K'Nớh) và thị trấn Lạc Dương.
Tọa độ địa lý
- Từ120 00’04’’ đến 12 0 52’00’’ vĩ độ Bắc
- Từ1080 17’00’’ đến 108 0 42’00’’ kinh độ Đông
Trang 19Trang 8
Ranh giới:
- Phía Đông giáp hai tỉnh Khánh Hòa và Ninh Thuận
- Phía Nam giáp rừng phòng hộ đầu nguồn Đa Nhim
- Phía Tây giáp Ban quản lý rừng phòng hộ Sê Rê Pok
- Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt: 33.582 ha;
- Phân khu phục hồi sinh thái: 22.854 ha;
- Phân khu dịch vụ, hành chính: 7.502 ha;
Trang 20Trang 9
hướng Bắc Nam Điều kiện địa hình này đã tạo ra những đỉnh núi cao quanh năm có mây mù che phủ và các thung lũng sâu, là thượng nguồn của các con sông lớn trong khu vực Độ chênh cao từ 600m (Sông Krongno) và 2.287m (đỉnh Bidoup) hay 2167m (đỉnh Núi Bà) đã tạo ra những cảnh quan hùng vĩ và thơ mộng thích hợp cho nhiều hoạt động du lịch khác nhau
2.2.3.4 Khí hậu – thủy văn
Khí hậu
VQG Bidoup – Núi Bà nằm trên địa hình núi trung bình và núi cao - độ cao trung bình 1.500m – 1.800m, được bao quanh bởi các dãy núi cao nên dù nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa nhưng khí hậu tại VQG có khí hậu ôn hoà, mát mẻ quanh năm Trong năm có hai mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau; Nhiệt độ trung bình năm 180C; Lượng mưa trung bình: 1800mm; Độ ẩm vào mùa khô là 80% và mùa mưa là 85% Tuy nhiên tại các đai có độ cao trên 1.900m như Bidoup, Hòn Giao, Gia Rích, Chư Yên Du thì lượng mưa có thể đạt 2.800 – 3.000mm/năm và có sương mù bao phủ quanh năm
Thuỷ văn
VQG Bidoup – Núi Bà là thượng nguồn của các hệ thống sông Krông Nô là một nhánh của sông Mê Kông, Sông Đồng Nai, là nguồn cung cấp nước cho các nhà máy thuỷ điện ở các tỉnh miền Nam và còn là nguồn cung cấp, duy trì nguồn nước cho các
Trang 2127 hộ gia đình tuy không định cư cố định nhưng vẫn còn có các hoạt động canh tác nông nghiệp với diện tích khoảng 20ha
số sinh viên đang theo học tại các trường đại học, cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp là 158 học sinh chiếm 1,11% tổng dân số
Trang 22Trang 11
Ngoài nguồn thu từ sản xuất nông nghiệp, nguồn thu từ nhận khoán BVR cũng là nguồn thu quan trọng của các hộ Đối với các hộ được chi trả dich vụ môi trường với mức 290.000 đồng/ha/năm, hàng quý có thể được nhận tới 3 triệu đồng, thậm chí còn cao hơn Đối với các vùng không được chi trả dịch vụ môi trường thì ngoài tiền giao khoán BVR theo chính sách còn được hỗ trợ thêm 100.000 đồng/ha theo chương trình 30A của chính phủ
Bảng 2.1: Số hộ nghèo và tỷ lệ %
Xã Tổng số hộ Hộ nghèo Tỷ lệ (%)
Thu nhập BQ của hộ nghèo (đồng/tháng)
Các loại sản phẩm mà người dân có từ rừng là: gỗ, củi, nấm, hạt dẻ, dớn, lan, măng, rau rừng và đốt than Một số loài động vật làm thực phẩm và bán lấy tiền
Bảng 2.2: Các loại lâm sản chính, mục đích, thời gian thu hái
Sản phẩm Mục đích Thời gian
Gỗ Làm nhà, bán lấy tiền Lúc làm nhà, lúc rảnh rỗi
Củi Để đun nấu Quanh năm
Lan, dớn Trồng và bán Quanh năm
Măng, rau rừng,
nấm
Để ăn Quanh năm
Đốt than Để dùng và bán Chủ yếu mùa khô
Trang 23Trang 12
Săn bắt thú Để ăn và bán Quanh năm đối với người
chuyên săn bắt Cây thuốc Để chữa bệnh Lúc đau ốm
- Hiện nay đang có các tuyến đường mới được xây dựng vào VQG Bidoup – Núi
Bà như tuyến đường 723 nối liền hai trung tâm du lịch là Nha Trang và Đà Lạt; tuyến đường 722 (Đường Đông Trường Sơn) nối liền các tỉnh Tây Nguyên với các tỉnh duyên hải miền Trung
- Các xã xung quanh VQG Bidoup – Núi Bà đã có điện lưới quốc gia
- Trong tương lai gần hệ thống nước sạch cũng sẽ được đưa về các vùng sát VQG Bidoup – Núi Bà theo chương trình nước sạch nông thôn của chính phủ
Ngoài ra, chỉ nằm cách trung tâm thành phố Đà Lạt khoảng 20km về phía Bắc, VQG Bidoup – Núi Bà cũng có một thuận lợi lớn trong việc sử dụng hệ thống cơ sở
hạ tầng và lưu trú trên địa bàn thành phố Đà Lạt cho các hoạt động du lịch sinh thái
2.2.5 Tài nguyên thiên nhiên
2.2.5.1 Tài nguyên đa dạng sinh học
VQG Bidoup – Núi Bà với diện tích quản lý trên 65.000 ha, trong đó diện tích có rừng chiếm 91%, được đánh giá là một trong bốn trung tâm đa dạng sinh học của Quốc gia, với nhiều hệ sinh thái rừng đặc trưng như: rừng kín thường xanh mưa ẩm núi trung bình, rừng hỗn giao cây lá rộng – lá kim ẩm á nhiệt đới, rừng thưa cây lá kim á nhiệt đới núi thấp và rừng hỗn giao cây lá rộng và tre nứa
Tài nguyên về ĐDSH của VQG có thề được tóm tắt như sau:
Trang 2474 loài nằm trong Sách đỏ Việt Nam 2007 và Sách đỏ IUCN 2009, thuộc 29 họ thực
vật; 96 loài đặc hữu như: Thông đỏ (Taxus wallichiana), Bách xanh (Calocedrus macrolepis), Pơ mu (Fokienia hodginsii), Thông 5 lá Đà Lạt (Pinus dalatensis), Thông hai lá dẹt (Pinus krempfii),…
VQG cũng sở hữu nguồn gen về các loài lan lớn nhất Việt Nam (258 loài)
VQG Bidoup - Núi Bà nằm trong vùng chim đặc hữu của cao nguyên Đà Lạt, gồm 15 bộ, 43 họ và 220 loài trong đó 14 loài nằm trong Sách đỏ Việt Nam, 17 loài nằm trong Nghị định 32 của Chính phủ và 213 loài nằm trong Sách đỏ thế giới (IUCN 2009) Có 03 vùng chim quan trọng (IBA) là: Bidoup, Lang biang, và Cổng trời, có nhiều loài chim đặc hữu hẹp của cao nguyên Đà lạt như: Khướu đầu đen
(Garrlax milleti), Khướu đầu đen má xám (Garrulax yersini), Khướu đầu xám (Garrulax vassali), Bồ câu nâu (Columbapunicea), Trèo cây mỏ vàng (Sitta solangiae), Sẻ thông họng vàng (Carduelis monguilloti), Khướu mỏ dài (Jabouilleia danjoui), Trĩ sao (Rheinardia ocellata), Niệc nâu (Anorrhinus tickelli)
Ngoài ra, theo Nghị định 32, các loài chim cần quan tâm bảo tồn ở VQG Bidoup
- Núi Bà còn có thêm: Gà lôi hông tía (Lophura diardi), Chích choè lửa (Copsychus
Trang 25Trang 14
malabaricus), Vẹt ngực đỏ (Psittacula alexandri) và hai loài bị đe dọa thuộc sách đỏ của IUCN (2004) là Hồng hoàng (Buceros bicornis), Bồng chanh rừng (Alcedo hercules)
Từ những số liệu trên cho thấy khu hệ động, thực vật của VQG Bidoup – Núi Bà
có thể được xem như một vườn động, thực vật tự nhiên rộng lớn của Việt Nam và khu vực Đông Nam Châu Á
2.2.5.2 Cảnh quan
Các yếu tố cảnh quan có thể xây dựng thành các sản phẩm du lịch sinh thái bao gồm: cảnh quan của các hệ sinh thái rừng; các đỉnh núi cao của cao nguyên Đà Lạt; các thác nước tự nhiên; sông Krongno; sông Đa Nhim và các hồ nước tự nhiên trong rừng Khí hậu quanh năm mát mẻ phù hợp cho các hoạt động ngoài trời sẽ là lợi thế cạnh tranh đối với tất cả các VQG trong khu vực Đông Nam Á
2.2.6 Tài nguyên nhân văn
VQG Bidoup – Núi Bà nằm trên địa bàn hành chính của huyện Lạc Dương và một phần của huyện Đam Rông Cộng đồng các dân tộc chủ yếu là cư dân bản địa (K’ho; Churu; Stieng và Châu Mạ) với nhiều nét văn hóa truyền thống đặc trưng còn lưu giữ:
- Nghề thủ công truyền thống: Dệt thổ cẩm, Đan lát
- Các nghi lễ nông nghiệp đặc trưng: Cúng phát rẫy, Cúng đốt rẫy, Cúng lúa trổ đòng, Cúng sắp gieo lúa, Cúng lúa về nhà
- Hoạt động lễ hội đặc thù: Lễ đâm trâu
- Diễn xướng truyền khẩu và âm nhạc dân gian: Hát Yal yau (kể chuyện xưa), Hát tâm pơt (hình thức hát đối đáp), Hát Lảh lông (hình thức hát giao duyên)
- Một số nhạc cụ dân gian tiêu biểu: đàn đá, cồng chiêng, trống và bộ hơi như: khèn bầu sáu ống, sáo bầu ba lỗ và đàn môi…Đặc biệt Không gian văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên đã được UNESCO công nhận là kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại vào năm 2005
Khu vực VQG còn giữ được nhiều nét hoang sơ nguyên thủy về sinh thái và nhân văn Các tộc người C’il và Lạch ở khu vực này vẫn lưu giữ được nhiều giá trị văn hóa
Trang 262.2.7 Các chương trình hoạt động của VQG Bidoup – Núi Bà
Thủ tướng chính phủ phê duyệt 9 chương trình hoạt động của VQG Bidoup – Núi Bà, bao gồm:
- Chương trình bảo vệ tài nguyên rừng và bảo tồn đa dạng sinh học;
- Chương trình phục hồi sinh thái rừng;
- Chương trình phòng cháy chữa cháy rừng;
- Chương trình nghiên cứu khoa học;
- Chương trình phát triển du lịch sinh thái;
- Chương trình tuyên truyền giáo dục về bảo vệ môi trường và bảo tồn thiên nhiên;
- Chương trình hỗ trợ phát triển kinh tế-xã hội trên địa bàn vùng đệm;
- Chương trình xây dựng cơ sở hạ tầng, đào tạo phát triển nguồn nhân lực và trang thiết bị kỹ thuật;
- Chương trình hợp tác quốc tế
2.2.8 Các nghiên cứu liên quan đến công tác bảo tồn ở VQG Bidoup – Núi Bà
Hiện nay có một số dự án đang và sẽ triển khai các hoạt động trên địa bàn của VQG Bidoup - Núi Bà như sau:
- Dự án “Nâng cao năng lực VQG Bidoup - Núi Bà (VCF)” từ nguồn vốn của Ngân hàng thế giới (WB)
- Dự án “Thí điểm Phương pháp quản lý rừng đa mục đích” do tỉnh Lâm Đồng tài trợ từ Quỹ Hỗ trợ ngành lâm nghiệp (TFF)
Trang 27là bao nhiêu so với ngày nay Điều đó cũng có nghĩa người K’ho là một trong những
cư dân bản địa lâu đời của mảnh đất Nam Tây Nguyên Trong suốt thiên niên kỷ đầu thuộc Công nguyên, lịch sử của người K’ho hầu như ít biến động Cuộc sống diễn ra khép kín và thanh bình với các hoạt động kinh tế , xã hội, văn hóa truyền thống như làm nương rẫy, chăn nuôi, đan lát, dệt vải, săn bắt, hái lượm, duy trì luật tục cộng đồng, tổ chức lễ hội cầu mùa,…
2.3.2 Môi trường cư trú
2.3.2.1 Vị trí địa lý
Địa bàn cư trú chủ yếu của người K’ho là phần lớn tỉnh Lâm Đồng và miền núi các tỉnh Bình Thuận, Khánh Hòa, Ninh Thuận Trên bản đồ Việt Nam, địa bàn này thuộc Nam Tây Nguyên, ứng với tọa độ 11o12’ – 12o15’vĩ Bắc, 107o15’ – 108o45’ kinh Đông, tiếp giáp với tỉnh Đắc Lắc ở phía Bắc, tỉnh Đồng Nai và đồng bằng tỉnh
Trang 28Trang 17
Bình Thuận về phía Nam, đồng bằng Ninh Thuận và Khánh Hòa về phía Đông và tỉnh Bình Phước về phía Tây Do quá trình xáo trộn dân cư trong lịch sử nên hiện tại khu vực cư trú truyền thống của tộc người K’ho đã ít nhiều thay đổi Trừ cao nguyên
Di Linh là nơi chỉ có chủ yếu người K’ho cư trú thì ở các vùng còn lại, người K’ho
cư trú xen kẽ với một số dân tộc khác như Chu Ru, Mạ, M nông, Raglai
Địa hình núi phân bố chủ yếu ở phía Đông Bắc và Đông, kéo dài thành dải vòng
xuống phía Nam bao gồm cả một phần miền núi các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận, Khánh Hòa, chiếm 60% diện tích vùng người K’ho cư trú với các dãy núi trên 2000m như Bidoup 2287m, Lang Biang 2167m, thấp dần ở phía Đông và Tây, với các dãy núi 500m đến 1000m
Địa hình Cao Nguyên phân bố tập trung ở phần giữa và phía Đông Nam, chiếm
trên 20% tổng diện tích, với ba Cao nguyên nổi tiếng trải dài nối tiếp nhau theo hướng Đông Bắc – Tây Nam là Lang Biang, Di Linh và Bảo Lộc
Địa hình đồi chiếm khoảng trên dưới 10% diện tích khu vực, phân bố tập trung ở
phía Tây, Tây Bắc và một phần phía Nam, độ cao 800m đến 1000m
Địa hình thung lũng phân bố rải rác xen kẽ ven bờ của 3 con sông lớn: Đạ Đâng
(Đa Dâng), Đạ Nhim (Đa Nhim) và Đạ Rnga (La Ngà), chiếm khoảng 7% diện tích toàn vùng
2.3.2.3 Khí hậu
Địa bàn người K’ho cư trú thuộc tiểu vùng 4 của khí hậu Tây Nguyên Tuy cũng
là nhiệt đới ẩm gió mùa, nhưng đặc điểm riêng của khí hậu nơi đây là ôn hòa, dịu mát quanh năm và lượng mưa cao Nhiệt độ trung bình/năm toàn vùng dao động từ 16oC-
23oC Càng lên cao nhiệt độ không khí càng giảm Nhiệt độ trung bình năm tương ứng với độ cao dưới 500m là trên 22oC, 500m-1000m là 20oC-22oC, 1000m-1500m
là 18oC-29oC, 1500m trở lên là dưới 18oC Tùy theo địa hình, độ cao và lượng mưa
Trang 29Trang 18
mà độ ẩm không khí mỗi nơi trong vùng khác nhau Nhìn chung, mùa khô có độ ẩm thấp (70%-80%), trong khi mùa mưa có độ ẩm cao hơn (85%-95%) Một năm chia làm hai mùa rõ rệt là mùa khô và mùa mưa Mùa khô kéo dài 5 tháng, từ tháng 11 đến tháng 3, lượng mưa ít, chỉ chiếm 12%-15% lượng mưa/năm Mùa mưa trùng với mùa gió Tây Nam và dài hơn mùa khô, thường bắt đầu vào tháng 4, kết thúc vào tháng 10 Lượng mưa/năm toàn vùng biến thiên từ 1693mm đến 1882mm, thuộc loại cao so với Tây Nguyên và so với cả nước 85%-90% lượng mưa tập trung vào mùa mưa Nhìn chung, trong điều kiện môi trường tự nhiên chưa bị tác động nhiều trước đây, vùng người K’ho cư trú ít xảy ra các hiện tượng thời tiết tiêu cực như sương muối, bão lụt, mưa đá…
2.3.3 Đặc điểm con người
2.3.3.1 Các nhóm địa phương
Người K’ho không phải là một tộc người thuần khiết mà bao gồm nhiều nhóm
địa phương khác nhau Theo Danh mục các thành phần dân tộc ở Việt Nam do Tổng
cục thống kê công bố vào năm 1979, người K’ho có các nhóm địa phương như sau: Srê, Nộp, Cơ Don, C’il, Lạt (Lạch), T’ring Trong đó 3 nhóm đầu chiếm số lượng đông hơn cả
2.3.3.2 Dân số và phân bố
Dân số người K’ho đã tăng dần qua các thời kỳ Trong các thập niên của thế kỷ
XX, theo các tài liệu đã công bố, riêng tại tỉnh Lâm Đồng, dân số người K’ho từ 30.000 người vào năm 1959 tăng dần lên 56.520 người vào 1977, 60.000 người vào
1979, trên 70.000 người vào 1983, 82.917 người vào năm 1989, 112.926 người vào năm 1999 và trên 120.000 người vào 2001 Tính trên phạm vi toàn quốc, đến cuộc tổng điều tra dân số gần đây nhất (4-1999), dân tộc K’ho có 128.723 người, về dân
số, đứng thứ 15 trong 54 dân tộc ở Việt Nam, đứng thứ 3 trong 21 dân tộc nói tiếng Môn-Khơ me, đứng thứ 4 trong 12 dân tộc tại Tây Nguyên, có mặt ở 37 tỉnh thành
trong cả nước
2.3.3.3 Ngôn ngữ
Ngôn ngữ K’ho là bộ phận của phân ngữ Bahnaric Nam, cùng với phân ngữ Bahnaric Bắc tạo thành ngôn ngữ Bahnaric, nằm trong nhóm ngôn ngữ Môn-Khơ
Trang 302.3.3.4 Đặc điểm hình thái nhân học
Nhìn trên tổng thể, về hình thái nhân học, các nhóm K’ho cùng các dân tộc thiểu
số khác ở vùng Trường Sơn – Tây Nguyên được các học giả nước ngoài xếp vào loại hình nhân chủng Inđônêdiên, loại hình mà theo nhà nhân học Pháp J.Deniker mang một số đặc trưng như sau: “Tóc thẳng hay uốn, màu tóc đen, mắt đen, da vàng, không
có lông trên thân, tầm vóc nhỏ, mũi dẹt, sống mũi thường lõm, gò má dô, khuôn mặt hình trám, đầu dài,…”
2.3.4 Tổ chức xã hội
2.3.4.1 Thiết chế tự quản buôn làng
Mỗi buôn làng là một đơn vị xã hội độc lập và khép kín, không phụ thuộc vào bất
kỳ đơn vị xã hội nào khác Thiết chế tự quản là nét đặc trưng về xã hội của mỗi buôn làng Đứng đầu mỗi làng là chủ làng Chủ làng do dân cử chứ không phải do thiết lập
mà có Điều này có ý nghĩa, nếu chủ làng chết đi thì dân làng sẽ tổ chức họp toàn thể
để chọn ra một người giỏi trong số những người giỏi làm chủ làng mới Giúp việc cho chủ làng điều hành các công việc cộng đồng là một số chức dịch cũng do dân cử như: hội đồng già làng, người trông nom, quản lý đất đai, thầy bói, thầy cúng, bà mụ
đỡ đẻ
Tham gia vào việc duy trì xã hội là các luật tục Đó là loại luật tục chưa thành văn, nội dung bao gồm rất nhiều điều cụ thể nhằm điều chỉnh các mối quan hệ giữa con người với con người và giữa con người với tự nhiên
2.3.4.2 Họ, hôn nhân và gia đình
Người K’ho là dân tộc theo chế độ mẫu hệ, trong đó, đặc trưng nổi bật là con cái sinh ra mang họ mẹ Dòng họ, là những người cùng một huyết thống tính theo dòng
Trang 31Trước đây tồn tại phổ biến loại hình gia đình lớn mẫu hệ - là gia đình có quy mô
từ ba cặp vợ chồng trở lên cùng với con cái họ Các thành viên của gia đình lớn mẫu
hệ cùng cư trú trong một ngôi nhà sàn dài, cùng có chung sở hữu ruộng đất và các tài sản khác
Trang 32Trang 21
Chương III
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Nội dung nghiên cứu
- Tìm hiểu các giá trị văn hóa cộng đồng của dân tộc K’ho tại VQG Bidoup – Núi Bà, huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng
- Tìm hiểu VQG Bidoup – Núi Bà đã vận dụng các giá trị văn hoá cộng đồng vào công tác bảo tồn đa dạng sinh học và du lịch sinh thái
- Đề xuất các giải pháp góp phần bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa cộng đồng trong công tác bảo tồn ĐDSH tại VQG Bidoup – Núi Bà, huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng
3.2 Phương pháp nghiên cứu
3.2.1 Phương pháp thu thập và xử lý tư liệu
Phương pháp thu thập và xử lý tư liệu được áp dụng để thu thập thông tin trong các tư liệu có sẵn để hoàn thiện phần tổng quan và cơ sở lý luận cho đề tài:
- Thu thập các thông tin, tài liệu từ sách báo, internet, cũng như các tư liệu do VQG cung cấp về lịch sử hình thành, điều kiện tự nhiên và xã hội, vị trí địa lí, khí hậu, thủy văn, địa hình, tài nguyên DLST tại VQG Bidoup – Núi Bà
- Thu thập thông tin, tìm hiểu về giá trị VHCĐ của dân tộc K’ho sinh sống tại VQG Bidoup – Núi Bà
- Xác định tình hình công tác bảo tồn ĐDSH và vai trò của VHCĐ vào công tác bảo tồn đa dạng sinh học tại VQG Bidoup – Núi Bà
3.2.2 Phương pháp khảo sát thực địa
Phương pháp khảo sát thực địa nhằm mục đích kiểm tra, chỉnh lý, bổ sung những
tư liệu thu được Các số liệu sau khi được thu thập và phân tích sơ bộ được đối chiếu thực địa tại địa bàn để chỉnh lý và bổ sung, sau đó đưa vào sử dụng trong đề tài Thời gian thực hiện: từ 03/09/2013 đến tháng 10/10/2013
Trang 33Trang 22
Tiến hành đi thực tế, khảo sát tại TT.DLST&GDMT VQG Bidoup – Núi Bà và thôn Bnor C thuộc xã Lát, huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng:
- Khảo sát hiện trạng tài nguyên ĐDSH tại VQG Bidoup – Núi Bà
- Tìm hiểu văn hóa truyền thống bản địa của cộng đồng dân tộc K’ho sinh sống tại VQG Bidoup – Núi Bà
- Khảo sát sự tham gia của cộng đồng dân tộc K’ho vào công tác bảo tồn đa dạng sinh học của VQG Bidoup – Núi Bà
- Thu thập một số hình ảnh bằng cách quan sát trực tiếp và dùng máy ảnh
3.2.3 Phương pháp điều tra xã hội học
Phương pháp điều tra xã hội học được thực hiện thông qua 3 bước: xác định đối tượng điều tra và xây dựng phiếu điều tra, tiến hành điều tra thông qua việc phát phiếu câu hỏi kết hợp phỏng vấn và phân tích kết quả điều tra
- Bước 1: Xác định đối tượng điều tra: cộng đồng dân tộc K’ho
- Bước 2: Xây dựng phiếu điều tra:
Cách xây dựng phiếu điều tra: câu hỏi trong phiếu điều tra được xây dựng dựa vào nội dung nghiên cứu và các yêu cầu thông tin cần thiết cho nghiên cứu Các câu hỏi có hướng dẫn trả lời trên đầu bảng câu hỏi, riêng các câu hỏi có tính đặc thù riêng
sẽ có chú thích trong từng câu Bảng câu hỏi được trình bày cụ thể trong phụ lục 1
- Bước 3: Tiến hành điều tra thông qua việc phát phiếu câu hỏi kết hợp phỏng vấn:
Thời gian dự kiến mà tác giả chọn để thực hiện việc phát phiếu điều tra là từ 10/9 – 5/10/2013 Do hạn chế về thời gian và kinh phí nên số lượng mẫu tác giả chọn để thực hiện khảo sát là 90 phiếu Số lượng phiếu thu về là 80 phiếu
- Bước 4: Tổng hợp và phân tích kết quả điều tra
3.2.4 Phương pháp phỏng vấn chuyên gia
Tham khảo ý kiến các chuyên gia về những định hướng phát triển và các quyết định mang tính khả thi
Các đối tượng phỏng vấn :
Trang 34Trang 23
- Ban quản lý, nhân viên làm việc tại VQG Bidoup – Núi Bà là những người nắm
rõ các kiến thức thực tiễn, là cơ sở thông tin cho đề tài
- Cộng đồng địa phương tại xã Lát, huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng
3.2.5 Thống kê, phân tích và xử lý số liệu
Từ những số liệu đã thu thập được từ công tác khảo sát thực địa, nghiên cứu, phỏng vấn và kết quả phát phiếu điều tra sẽ tiến hành thống kê, phân tích và xử lý bằng phần mềm excel để đưa ra được những kết quả để làm căn cứ cho bài báo cáo
Trang 35Trang 24
Chương IV
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 Tổng quan về cộng đồng dân tộc K’ho tại VQG Bidoup – Núi Bà
Ba nhóm C’il, Làc và T’ring có địa bàn cư trú truyền thống tập trung chủ yếu trên cao nguyên Lang Biang, thuộc khu vực VQG Bidoup – Núi Bà ngày nay
4.1.1 Nhóm Làc
Trước kia, địa bàn cư trú của người Làc trải rộng trên vùng đất ngày nay là thành phố Đà Lạt và vùng lân cận Tại đây, người Làc cư trú theo từng cộng đồng
huyết thống (bòn hoặc bon) trong kiến trúc cư trú truyền thống là nhà dài Tên của
Bon Đa Góut, Bon Nơr, Bon Lâm Biêng… hoặc một đặc điểm sinh thái riêng biệt, hoặc một huyền tích của địa danh
Về tên nhóm tộc, người Làc giải thích rằng Làc theo tiếng địa phương có nghĩa là
rừng thưa - dùng để chỉ vùng đồi trọc từ dãy núi Lang Biang trải dài xuống phía Tây Nam, bao gồm cả thành phố Đà Lạt ngày nay
4.1.2 Nhóm C’il
Người C’il là nhóm địa phương có số dân đông nhất trong 3 nhóm địa phương của tộc người K’ho tại VQG Bidoup – Núi Bà Cho đến nay, vẫn chưa có cách giải thích thống nhất về ý nghĩa của tộc danh C’il Theo cộng đồng người C’il và các cư
dân lân cận, thuật ngữ C’il trong tiếng K’ho dùng để chỉ cho những cư dân sống ở
vùng rừng núi cao, cuộc sống của họ chủ yếu dựa vào làm rẫy
Địa bàn cư trú lâu đời của những cư dân này tập trung ở khu vực rừng núi của cao nguyên Lang Biang, phía Đông Bắc tỉnh Lâm Đồng, thuộc địa bàn huyện Lạc Dương ngày nay Từ năm 1959-1960, thực hiện chính sách dồn dân, lập ấp, chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã di dân cưỡng bức, đưa người C’il ra khỏi khu vực cư
Trang 36Trang 25
trú truyền thống của họ vào sống trong các ấp chiến lược, khu tập trung ở vùng thấp hơn, gần trung tâm hoặc các trục lộ giao thông quan trọng, nhằm dễ dàng quản lý cũng như ngăn chặn việc tham gia và tiếp tế cho lực lượng cách mạng Đây được xem là biến cố lớn nhất, gây nên những biến động và xáo trộn mạnh mẽ về địa bàn sinh sống của người C’il Đây cũng là một trong những nguyên nhân thúc đẩy nhanh những biến đổi trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, tổ chức xã hội Sau ngày đất nước thống nhất (1975), thực hiện chính sách định canh, định cư, chính quyền địa phương
đã sắp xếp lại địa bàn cư trú của một số cộng đồng người C’il: cho phép trở về lại làng cũ sinh sống làm ăn hoặc chuyển đến khu vực cư trú mới có điều kiện thuận lợi
về đất đai để ổn định đời sống
Mặc dù hầu hết người C’il không còn cư trú ở vùng đất truyền thống, nhưng họ
vẫn dùng tên bon cũ để đặt cho bon mới của mình Họ ý thức rất rõ về nguồn gốc
cũng như khu vực trước kia tổ tiên mình đã cư trú và canh tác nương rẫy
4.1.3 Nhóm T’ring
Do đã chuyển khỏi nơi cư trú truyền thống, sống xen cư với người Churu, người Raglai chiếm ưu thế về số lượng nên văn hóa truyền thống của người T’ring đã phai nhạt nhiều Đối với các nhóm T’ring hiện cư trú trên VQG Bidoup – Núi Bà, các giá trị văn hóa vật thể như nhà cửa, trang phục, ẩm thực… và các giá trị văn hóa phi vật thể như âm nhạc, ngữ văn, nghề thủ công đã tiếp biến (phát triển và biến đổi) hòa nhập với các nhóm cư dân bản địa khác theo hướng hiện đại hóa
4.2 Các giá trị văn hóa cộng đồng của dân tộc K’ho
Người K’ho ở vùng VQG Bidoup - Núi Bà thường phát rẫy ở những vùng rừng thưa, rừng tre nứa Sau khi phát, đốt vào đầu mùa mưa, hạt giống được gieo bằng hình thức chọc lỗ, tra hạt Sau 2 - 3 lần làm cỏ, họ thu hoạch mùa màng vào những
Trang 37Một chu kỳ canh tác của người C’il thường kéo dài từ tháng 3 đến tháng 10, 11 dương lịch qua các công đoạn (tên một số công đoạn cũng đồng thời là tên các lễ cúng suốt một mùa canh tác): chọn đất, đốt rẫy, tra hạt giống, chăm sóc và thu hoạch
- Chọn đất (Kơ nràk ci) là công đoạn mở đầu cho chu trình làm rẫy Sau khi kết
thúc tháng nghỉ ngơi và tổ chức lễ hội, các gia đình người C’il bước vào chu kỳ sản xuất mới Trước mỗi chu kỳ sản xuất, chủ đất chỉ định khu vực rẫy mà cả làng cùng canh tác trong năm đó, đồng thời ông cũng ấn định ngày dân làng đi cắm đất, phát rẫy
+ Việc cắm đất thường do người đàn ông thực hiện bằng cách họ chọn một
số cây quanh rẫy, chẻ, tước ra một mảng vỏ gốc cây, rồi gài ngang vào đó một mẩu que nhỏ Nhìn thấy dấu hiệu đó, người khác biết ngay là đất đã có chủ và không được vi phạm
+ Phát rẫy: người C’il thường phát rẫy từ chân lên đỉnh nhằm tránh đất đá lăn, người không bị vấp ngã, dễ chặt đốn cây
- Đốt rẫy (chu brê hoặc rwuăl ồs – đường ranh cản lửa cháy lan): được tiến hành
khi cây đã phát trên rẫy được phơi khô (khoảng 1 tháng) Chủ đất và chủ làng ấn định ngày đốt rẫy của cả làng dựa vào kinh nghiệm của mình Công việc đốt rẫy được tiến hành chung cho cả làng Lửa dùng để đốt rẫy được lấy bằng cách kéo cọ sát dây mây vào một thanh gỗ
- Tra hạt giống: Sau khi rẫy đã được dọn sạch và những cơn mưa đầu mùa xuất hiện (khoảng tháng 4, tháng 5 dương lịch), người C’il tiến hành tra hạt giống Đây là công việc chung của đàn ông và đàn bà theo phương thức đàn ông chọc lỗ, đàn bà tra hạt
Ngoài lúa là cây chủ lực thì trên rẫy, người Làc, C’il và T’ring còn trồng nhiều thứ cây khác, phổ biến là các loại bầu, bí, cà, ớt Trong canh tác nương rẫy của
Trang 38Trang 27
người C’il, kỹ thuật xen canh phổ biến hai hình thức: thứ nhất là trộn chung các giống ngô, bầu bí vào thóc giống, bắp giống để gieo tỉa cùng lúc Bên cạnh đó, có kiểu xen canh mỗi hốc một loại Sau khi lúa được tỉa xong, các loại ớt, bầu, bí,… được trồng xen vào, mỗi loại một hốc Nhiều gia đình trồng tập trung tạo thành một mảnh vườn nhỏ quanh chòi rẫy với nhiều loại hoa màu khác nhau
Việc trồng xen canh những loại cây trên nhằm mục đích đáp ứng nhu cầu của cuộc sống còn mang nặng tính tự cung tự cấp, đồng thời để tận dụng khai thác đất đai
và tiện việc chăm sóc, bảo vệ các loại cây trồng
- Chăm sóc: Sau khi trồng tỉa xong, đối với những rẫy nhỏ, đồng bào tiến hành rào xung quanh bằng những cọc gỗ hoặc tre và chỉ chừa lại cửa ra vào rẫy Đối với những rẫy lớn, đồng bào dùng thân và cành cây xếp vòng quanh rẫy Vào khoảng tháng 9, tháng 10 dương lịch, người C’il thường bận rộn hơn với việc bảo vệ rẫy khỏi
sự phá hoại của chim thú Họ cử người trông nom hằng ngày, làm các loại đàn ống tre, chong chóng gió để tạo ra những tiếng kêu, đuổi chim thú phá hoại Thông thường, những người già trong gia đình thường ở lại chòi rẫy trong suốt thời kỳ này
- Thu hoạch: Khoảng tháng 10, tháng 11 dương lịch là thời gian thu hoạch lúa, bắp được thu hoạch trước đó 1 - 2 tháng Họ dùng tay tuốt lúa vào một chiếc gùi nhỏ gọi là khiêu (đeo trước bụng), khi khiêu đầy, họ đổ lúa vào gùi lớn Hằng ngày, lúa
đã thu hoạch được gùi về đặt ở kho lúa được làm ngay trên bếp chính của gia đình Nếu canh tác nương rẫy là hoạt động kinh tế chính của nhóm C’il, T’ring thì với nhóm Làc, những cư dân vốn có truyền thống cư trú ở những vùng thấp, bằng phẳng như khu vực lòng hồ Xuân Hương thuộc thành phố Đà Lạt ngày nay, khu vực ven suối Cam Ly, canh tác lúa nước là sinh hoạt kinh tế chủ yếu Nhưng trên thực tế, rẫy vẫn là một hoạt động kinh tế không thể thiếu đối với cộng đồng Làc Các tư liệu đầu thế kỷ XX cho thấy người Làc đã canh tác ruộng nước bằng kỹ thuật và công cụ khá tương đồng với người Churu (tộc người ngữ hệ Nam Đảo cư trú liền kề với người Làc về phía Đông – Đông Nam)
Tuy nhiên do giống lúa truyền thống có thời gian sinh trưởng dài, năng xuất không cao nên dù canh tác rẫy hay ruộng, cư dân bản địa vùng Bidoup – Núi Bà vẫn thường rơi vào tình trạng thiếu đói giáp hạt (khoảng thời gian đầu vụ canh tác mới)