Đề tài thực hiện khảo sát tình hình sản xuất lúa đông xuân của xã nhằm đúc kết và đánh giá các biện pháp thâm canh lúa ở địa phương, đồng thời thực hiện xây dựng tài liệu tập huấn biện p
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BỘ MÔN SƯ PHẠM KỸ THUẬT NÔNG NGHIỆP
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
KHẢO SÁT TÌNH HÌNH SẢN XUẤT LÚA ĐÔNG XUÂN TẠI
XÃ TÂN AN, HUYỆN TÂN HIỆP, TỈNH KIÊN GIANG
VÀ XÂY DỰNG TÀI LIỆU TẬP HUẤN QUẢN LÝ
DỊCH HẠI TỔNG HỢP ĐỐI VỚI
LÚA ĐÔNG XUÂN
GVHD : PGS.TS LÊ MINH TRIẾT SVTH : BÙI VIỆT THẮNG
MSSV : 03132035
Thành phố Hồ Chí Minh Tháng 05/2007
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BỘ MÔN SƯ PHẠM KỸ THUẬT NÔNG NGHIỆP
KHẢO SÁT TÌNH HÌNH SẢN XUẤT LÚA ĐÔNG XUÂN TẠI
XÃ TÂN AN, HUYỆN TÂN HIỆP, TỈNH KIÊN GIANG
VÀ XÂY DỰNG TÀI LIỆU TẬP HUẤN QUẢN LÝ
DỊCH HẠI TỔNG HỢP ĐỐI VỚI
LÚA ĐÔNG XUÂN
BÙI VIỆT THẮNG
Luận văn được đệ trình để hoàn thành yêu cầu cấp bằng cử nhân
Sư Phạm Kỹ Thuật Nông Nghiệp
Giáo viên hướng dẫn:
PGS.TS LÊ MINH TRIẾT
Thành phố Hồ Chí Minh Tháng 05/2007
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Xin trân trọng cảm ơn :
- Ban Giám Hiệu Trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh
- Ban Chủ Nhiệm cùng quý thầy cô Bộ Môn Sư Phạm Kỹ Thuật Nông Nghiệp và các giảng viên, cán bộ, công nhân viên nhà trường đã tận tình giảng dạy và hướng dẫn tôi trong suốt quá trình học tập tại trường
- PGS.TS Lê Minh Triết đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện khóa luận
- Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Kiên Giang, Chi cục thống kê tỉnh Kiên Giang, Trung tâm khí tượng thủy văn tỉnh Kiên Giang, Phòng nông nghiệp và Phòng thống kê huyện Tân Hiệp, Ủy ban nhân dân xã Tân An, bác Nguyễn Văn Liêng – Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Tân An và toàn thể nông dân trong xã đã giúp đỡ, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành được các nội dung của khóa luận
- Gia đình và bạn bè đã động viên, hỗ trợ tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu
Thủ Đức, ngày 01 tháng 05 năm 2007 Sinh viên
Bùi Việt Thắng
]
Trang 4TÓM TẮT
BÙI VIỆT THẮNG Đại Học Nông Lâm TP.Hồ Chí Minh Tháng 05/2007
“KHẢO SÁT TÌNH HÌNH SẢN XUẤT LÚA ĐÔNG XUÂN TẠI XÃ TÂN AN, HUYỆN TÂN HIỆP, TỈNH KIÊN GIANG VÀ XÂY DỰNG TÀI LIỆU TẬP HUẤN QUẢN LÝ DỊCH HẠI TỔNG HỢP ĐỐI VỚI LÚA ĐÔNG XUÂN”
Giảng viên hướng dẫn chính : PGS.TS Lê Minh Triết
Đề tài được thực hiện từ ngày 01/03/2007 đến 02/04/2007 tại xã Tân An, huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang
Đề tài thực hiện khảo sát tình hình sản xuất lúa đông xuân của xã nhằm đúc kết và đánh giá các biện pháp thâm canh lúa ở địa phương, đồng thời thực hiện xây dựng tài liệu tập huấn biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp đối với lúa đông xuân để cung cấp kiến thức cơ bản về biện pháp quản lý dịch hại này cho nông dân, làm cơ sở cho việc
áp dụng một cách phù hợp và có hiệu quả chiến lược quản lý dịch hại tổng hợp trên lúa nhằm tiết kiệm chi phí sản xuất và bảo vệ môi trường
Nội dung khảo sát:
Tìm hiểu những thuận lợi khó khăn trong sản xuất lúa đông xuân tại địa phương, các giống được sử dụng phổ biến trong sản xuất, nắm được quy trình kỹ thuật sản xuất đang được nông dân áp dụng, đặc biệt là các hộ nông dân sản xuất giỏi
Phương pháp khảo sát:
- Phương pháp khảo sát nhanh : liên hệ với Ủy ban nhân dân xã Tân An, Phòng nông nghiệp và phát triển nông thôn, Phòng thống kê và các cán bộ khoa học nông nghiệp của xã để thu thập các thông tin đến tình hình sản xuất lúa đông xuân
- Phương pháp khảo sát nông dân : dựa theo phiếu phỏng vấn đã được soạn trước, tiến hành khảo sát trên 60 nông hộ tại xã Tân An
Kết quả khảo sát:
- Kỹ thuật trồng lúa đông xuân
+ Xã Tân An có diện tích gieo trồng lúa năm 2005 là 3.114 ha chiếm 89,9% diện tích
tự nhiên, bình quân lương thực đầu người 4600kg/người/năm, năng suất trung bình cả
Trang 5năm của xã năm 2006 là 12 tấn/ha, trong đó vụ lúa đông xuân 7,5 tấn/ha, vụ lúa hè thu 4,5 tấn/ha
+ Vụ đông xuân thường được gieo vào khoảng tháng 11 – 12 (dương lịch) và thu hoạch vào khoảng cuối tháng 2 đến giữa tháng 3 (dương lịch)
+ Bình quân diện tích của các hộ sản xuất là 2,3 ha
+ Các giống lúa được trồng phổ biến: OM 2517, OM 2513, IR 50404, Jasmine 85, AG
24, KG 24,…
+ Lượng phân bón : 100 – 140 kgN/ha, 40 – 80 kgP205, 40 – 100 kgK20/ha
+ Mức độ áp dụng tiến bộ kỹ thuật mới: áp dụng IPM và bón phân theo bảng so màu lá lúa chưa phổ biến, phương pháp sạ hàng chưa được các hộ nông dân áp dụng
+ Hiệu quả kinh tế : lợi nhuận trung bình trên 1 ha: 13.735.000 đồng
+ Có thể áp dụng quy trình sản xuất của các hộ nông dân sản xuất giỏi để phổ biến cho sản xuất lúa tại địa phương Tuy nhiên cần từng bước áp dụng thêm những tiến bộ kỹ thuật mới trong sản xuất : IPM, sạ hàng và bón phân theo bảng so màu lá lúa
- Những thuận lợi, khó khăn trong sản xuất lúa đông xuân ở địa phương
+ Thuận lợi: Điều kiện đất đai, thủy lợi nói chung phù hợp cho sản xuất lúa, đa số
người nông dân có nhiều kinh nghiệm trong sản xuất, nhiều hộ đã sản xuất lúa trên 20 năm
+ Khó khăn: Thị trường tiêu thụ sản phẩm bấp bênh, giá lúa một số năm xuống khá
thấp, tình hình thời tiết và sâu bệnh còn diễn biến thất thường, giá cả vật tư nông nghiệp, xăng dầu, phân bón và thuốc bảo vệ thực vật cao nên làm gia tăng chi phí sản
xuất do đó một số nông dân nghèo thường thiếu vốn cho sản xuất
- Đã xây dựng tài liệu tập huấn biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp đối với lúa đông xuân cho nông dân địa phương
Trang 6ABSTRACT
Bui Viet Thang Nong Lam University - HCM City May 2007
“A survey of Spring – Winter Seasonal rice crop at Tan An ward – Tan Hiep district – Kien Giang province and to build up a training documents and manuals for the Integrated Pest Management on rice in the Spring – Winter Seasonal Crop”
This theme is carried out from March 1 st 2007 to 2nd April 2007 at Tan An ward – Tan Hiep district – Kien Giang province
We carry out a survey of a seasonal Spring – Winter harvests in order to valuate and summarize the intensive cultivation at the local areas and with the data collected, we are going to build up a training document for the Integrated Pest Management on rice in the Spring – Winter Crop to help farmers how to get appropriaate farming applications and effective in controlling the pests to aconomize the cost of production and protect the environment as well
• Scopes of the survey: to look fop what are advantages and disadvantages in the seasonal crop, all the most popular rice seeds of varirties used, to get better understading what ways that the farmers do on their farms, particularly with the best productive
• Methods of the survey:
We approach the local authorities as the local committee ward Tan An, The agricultural and rural developing deparrment, the agricultural statistics ang scientist board to collect all the data related to the seasonal Spring – Winter harvest
We create a questionnaire to have interviews to the local farmers and do the interviews with
60 farmer households at Tan An
• Results:
- We have got the ways of existing rice planting
- There are 3,114 hectare in 2005 appropriating 89,9% of its natural land square, on average 4,600 kg paddy/person/year The annual productivity approximately in 2006 12 tone/hectare including Spring – Winter harvest is about 7,5 tone/hectare and the Fall – Summer 4,5 tone/ha
- Spring – Winter seasonal seeding at the beginning of November or December
( Solar Calendar) and the harvest at the end of February or to the middle of March
- The average of rice field square 2,3 hectare/household
Trang 7- The varieties of rice used are OM 2517, OM 2513, IR 50404, Jasmine 85, AG 24 and KG
24
- Total of fertilizer used on a hectare: 100 – 140 kgN, 40 – 80 kgP 2 0 5 , 40 – 100 kg K 2 O
- New technical appliation made: IPM application and fertilizing based on the sample color comparison with the rice leaves are not applied widely Line – sowing is not applied
- Effectiveness: average benefit per hectare 13.735.000 VND
- To be able to popularize the most effective ways to all farmers in the area Nevertheless,
we should expand step by step some new methods in production such as IPM or line – sowing and color compatison to have efficient fertilizing
• Advantages and Disadvantages:
- Advantages: Soil and irrigation con ditions are applicable in rice production, most of farmers have useful experiences, some of them have more 20 years pf experience in rice production
- Disadvantages: unsecured in sales, low price, recent weather and pests are worse and unpredictable, the material prices increasing as petroleum, fertilizers, biologiacal protection make the higher cost especially to the poor farmers who do not have enough money and bank loans are so difficult
- We have built up the training documents and manuals for training courses how to take control by managing of pests on Spring – Winter season for the local men
Trang 8
MỤC LỤC
Trang tựa i Lời cảm ơn ii Tóm tắt iii Abstract v Mục lục vii Danh sách các chữ viết tắt x
Chương 2 : TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Tình hình sản xuất lúa trên thế giới 4
2.3 Đặc điểm chung và tình hình sản xuất lúa của tỉnh Kiên Giang 8
2.3.2 Tình hình sản xuất lúa của tỉnh Kiên Giang 8
2.4 Đặc điểm chung và tình hình sản xuất lúa của huyện Tân Hiệp 10
2.4.1 Đặc điểm chung của huyện Tân Hiệp 10
2.4.2 Tình hình sản xuất lúa của huyện Tân Hiệp 11
2.5 Quản lý dịch hại tổng hợp IPM (Integrated Pest Management) 12
2.5.1 Khái niệm ngưỡng gây hại kinh tế EIL 12
(Economic Injury Level)
Trang 92.5.2 Khái niệm quản lý dịch hại tổng hợp IPM 12
Chương 3 : PHƯƠNG PHÁP VÀ PHƯƠNG TIỆN NGHIÊN CỨU 20
3.2 Phương pháp nghiên cứu 20
3.2.2 Khảo sát nông hộ 20
3.2.3 Phương pháp xử lý số liệu 21
Chương 4 : KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 22
4.1 Khảo sát tình hình chung của xã Tân An,huyện Tân Hiệp,tỉnh 22
Kiên Giang
4.1.1 Đặc điểm kinh tế xã hội của xã Tân An 22
4.1.2.2 Đặc điểm khí hậu, thủy văn 24
4.1.2.3 Đất đai 24 4.1.3 Nguồn lực lao động và trình độ văn hóa 25
4.1.4 Tình hình sản xuất nông nghiệp tại xã Tân An 26
4.2 Kỹ thuật trồng lúa đông xuân tại xã Tân An 27
4.2.1 Thời vụ trồng 27
4.2.2 Phân bố diện tích ruộng 27
4.2.3 Giống 28 4.2.4 Kỹ thuật làm đất 29
4.2.5 Gieo sạ 30 4.2.5.1 Kỹ thuật ngâm ủ hạt giống 30
4.2.5.2 Phương pháp sạ 30
4.2.5.3 Mật độ sạ 30
Trang 104.2.6 Chăm sóc sau khi trồng 30
4.2.6.1 Dặm tỉa 30 4.2.6.2 Làm cỏ 31
4.2.6.4 Thủy lợi 34 4.2.6.5 Tình hình sâu bệnh gây hại và biện pháp phòng trừ 34
4.2.7 Thu hoạch, bảo quản và tiêu thụ sản phẩm 36
4.2.8.3 Biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp 37
4.2.9 Những khó khăn và thuận lợi của nông dân 37
4.2.10 Hiệu quả kinh tế 38
4.2.11 Tổng hợp quy trình sản xuất lúa ở những hộ nông dân 39
sản xuât giỏi đạt năng suất cao
4.3 Xây dựng tài liệu tập huấn quản lý dịch hại tổng hợp 40
đối với lúa đông xuân
4.3.1 Mục đích 40 4.3.2 Đối tượng 40
Chương 5 : KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 65
5.1 Kết luận 65 5.2 Đề nghị 66
TÀI LIỆU THAM KHẢO 67
PHỤ LỤC 68
Trang 11
DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT
FAO (Food and Agriculture Organization) : Tổ chức lương nông thế giới ĐBSCL : Đồng bằng sông Cửu Long
IPM (Intergrated Pest Management) : Quản lý dịch hại tổng hợp
GDP (Gross Domestic Product): tổng sản phẩm quốc nội
Trang 12DANH SÁCH CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Diện tích lúa ở các châu lục trên thế giới từ năm 2000 – 2005
Bảng 2.2 Sản lượng lúa ở các châu lục trên thế giới từ năm 2000 – 2005
Bảng 2.3 Tình hình sản xuất lúa ở Việt Nam từ năm 2000 – 2004
Bảng 2.4 Diện tích, năng suất, sản lượng lúa cả năm từ năm 2001 – 2005 của tỉnh Kiên Giang
Bảng 2.5 Diện tích, năng suất và sản lượng lúa đông xuân từ 2001 – 2005 của tỉnh Kiên Giang
Bảng 2.6 Diện tích, năng suất và sản lượng lúa cả năm từ năm 2001 – 2005 của Huyện Tân Hiệp
Bảng 2.7 Diện tích, năng suất và sản lượng lúa đông xuân từ năm 2001 – 2005 của Huyện Tân Hiệp
Bảng 4.1 Cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp tại xã Tân An
Bảng 4.2 Năng suất lúa xã Tân An 2004 - 2006
Bảng 4.3 Phân bố diện tích ruộng lúa của các hộ khảo sát ở xã Tân An
Bảng 4.4 Tình hình sử dụng giống lúa đông xuân tại xã Tân An
Bảng 4.5 Đánh giá chung của nông dân về các giống lúa đang sử dụng
Bảng 4.6 Lượng giống gieo sạ (kg/ha) vụ lúa đông xuân tại xã Tân An
Bảng 4.7 Số lần bón và thời gian bón phân
Bảng 4.8 Loại phân và số lượng phân bón(kg/ha) cho vụ đông xuân với 4 lần bón Bảng 4.9 : Mức đầu tư phân đạm cho vụ lúa Đông xuân ở xã Tân An
Bảng 4.10 Mức đầu tư phân Lân cho vụ đông xuân ở xã Tân An
Bảng 4.11 Mức đầu tư phân Kali cho vụ đông xuân ở xã Tân An
Bảng 4.12 Thành phần và mức độ sâu bệnh hại chính trên lúa đông xuân
Bảng 4.13 Mức đầu tư thuốc bảo vệ thực vật
Bảng 4.14 Những khó khăn thường gặp của nông dân
Trang 13DANH SÁCH CÁC HÌNH
Hình 4.1 Bản đồ vị trí xã Tân An
Hình 4.2 Cơ cấu sử dụng đất của xã Tân An
Hình 4.3 Thời vụ gieo trồng lúa đông xuân ở xuân Tân An
Hình 4.4 Bọ trĩ trưởng thành
Hình 4.5 Bọ cánh ngắn
Hình 4.6 Ngài sâu phao
Hình 4.7 Nhện linh miêu
Hình 4.8 Ngài sâu keo
Hình 4.9 Ấu trùng sâu keo
Hình 4.10 Bướm sâu đục thân lúa 2 chấm
Hình 4.11 Ấu trùng sâu đục thân lúa 2 chấm
Hình 4.12 Ong mắt đỏ
Hình 4.13 Ấu trùng sâu cuốn lá nhỏ
Hình 4.14 Ngài sâu cuốn lá nhỏ
Hình 4.15 Rầy nâu trưởng thành
Hình 4.16 Triệu chứng bệnh đạo ôn trên lá lúa
Hình 4.17 Triệu chứng bệnh đạo ôn trên bông lúa
Hình 4.18 Triệu chứng bệnh đốm vằn trên lá lúa
Trang 14Chương 1 GIỚI THIỆU
1.1 Đặt vấn đề
Lúa là loại cây lương thực rất quan trọng trên thế giới, đặc biệt đối với các quốc gia ở khu vực Đông Nam Á và trong đó có Việt Nam
Cây lúa giữ vị trí hàng đầu về giá trị dinh dưỡng trong nhóm các cây lương thực
và có thể được chế biến thành nhiều sản phẩm quan trọng như các loại bánh, gạo, bột gạo…nhằm cung cấp năng lượng cho các hoạt động của con người, mặt khác sản phẩm lúa gạo còn là mặt hàng xuất khẩu quan trọng và đem lại hiệu quả kinh tế cao cho nền kinh tế của nhiều quốc gia
Ở Việt Nam, nghề trồng lúa là nghề truyền thống có lịch sử lâu đời, trong quá trình sản xuất với những kinh nghiệm được tích lũy theo thời gian nông dân Việt Nam
đã chọn lọc được nhiều giống lúa quý có giá trị kinh tế cao, phù hợp với điều kiện của từng vùng, từng khu vực
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế và sự gia tăng dân số thì nhu cầu về lương thực, thực phẩm ngày càng gia tăng và đòi hỏi phải được đáp ứng tốt cả
về chất và lượng
Trước tình hình đó vấn đề đầu tư thâm canh để tăng năng suất và chất lượng lúa gạo , đồng thời hạn chế đến mức tối đa những thiệt hại cho môi trường và hệ sinh thái đang là mối quan tâm hàng đầu đối với nền nông nghiệp nhất là trong điều kiện diện tích đất canh tác ngày càng bị thu hẹp do quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa Xuất phát từ thực tế trên và nhằm xây dựng các biện pháp kỹ thuật thâm canh
để tăng năng suất lúa, đồng thời cung cấp những kiến thức cơ bản về quản lý dịch hại tổng hợp trên lúa cho nông dân, được sự cho phép của Bộ môn Sư Phạm Kỹ Thuật Nông Nghiệp của Trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Khảo sát tình hình sản xuất lúa đông xuân tại xã Tân An, huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang và xây dựng tài liệu tập huấn quản lý dịch hại tổng hợp đối với lúa đông xuân”
Trang 151.2 Mục tiêu
- Nắm được hiện trạng sản xuất lúa đông xuân tại địa phương
- Nắm được kỹ thuật sản xuất, phân tích và đánh giá những ưu, nhược điểm để từ đó đúc kết quy trình kỹ thuật sản xuất lúa đông xuân của địa phương
- Đề xuất một số biện pháp tăng năng suất và chất lượng lúa gạo
- Xây dựng tài liệu tập huấn quản lý dịch hại tổng hợp đối với lúa đông xuân
- Những giống lúa được trồng trong vụ đông xuân
- Năng suất các giống lúa đang đạt trong vụ đông xuân qua các năm gần đây
- Mức độ đầu tư thâm canh : phân bón, thuốc bảo vệ thực vật
- Tình hình sâu bệnh hại và các biện pháp phòng trừ
- Mức độ áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới
- Thu hoạch, bảo quản và tiêu thụ sản phẩm
• Hiệu quả kinh tế
• Những thuận lợi và khó khăn trong sản xuất lúa đông xuân
Trang 16• Đề xuất của nông dân
Xây dựng tài liệu tập huấn về biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp đối với lúa đông xuân cho nông dân
1.4 Giới hạn đề tài
Do điều kiện kinh tế và thời gian có hạn nên đề tài chỉ thực hiện khảo sát đối với
vụ lúa đông xuân, tiến hành khảo sát 60 hộ sản xuất lúa đông xuân tại xã Tân An, huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang trong thời gian từ 01/03/2007 đến 02/04/2007
Trang 17
Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Tình hình sản xuất lúa trên thế giới
Lúa là cây lượng thực lâu đời, thích nghi rộng với điều kiện tự nhiên, đã được trồng phổ biến ở 122 quốc gia trên thế giới thuộc các châu lục: Châu Á, Châu Âu, Châu Phi, Châu Mỹ (Bắc Mỹ và Nam Mỹ) và Châu Đại Dương.Trong đó 95% sản lượng lúa gạo của thế giới (hơn 500 triệu tấn) được sản xuất từ các quốc gia Châu Á (
Lê Minh Triết) [8, tr.2]
Bảng 2.1 Diện tích lúa ở các châu lục trên thế giới từ năm 2000 – 2005(ha)
Năm Các
Châu Phi 7.600.663 7.568.168 8.416.329 8.785.867 9.125.196 9.130.990 Bắc Mỹ 1.230.364 1.341.700 1.297.840 1.212.860 1.345.590 1.352.880 Nam Mỹ 5.653.613 5.122.341 5.025.901 5.177.901 5.813.401 6.038.592 Châu Á 138.140.845 136.451.939 131.504.098 132.666.766 133.426.723 135.675.614
Châu Đại
Thế giới 154.106.369 151.966.261 147.700.874 149.208.550 151.027.926 153.511.755(Nguồn : FAO, 2006 Agricultural and food trade http://faostat.fao.org/faostat
Diện tích trồng lúa trên thế giới năm 2002 là 147.700.874 ha, năm 2005 là 153.511.755 ha, tăng 5.810.881 ha so với năm 2002
Riêng ở Châu Á, diện tích gieo trồng lúa năm 2005 đạt 135.657.614 ha chiếm 88,4% diện tích trồng lúa toàn thế giới.Trong đó, Ấn Độ và Trung Quốc là 2 quốc gia
có diện tích trồng lúa dẫn đầu Châu Á
Ở khu vực Đông Nam Á, Thái Lan là quốc gia có diện tích trồng lúa lớn nhất với diện tích khoảng 9.891.200 ha
Trang 18Bảng 2.2 Sản lượng lúa ở các châu lục trên thế giới từ năm 2000 – 2005(tấn)
Năm Các
Châu Phi 17.639.927 16.605.157 17.628.874 18.723.632 18.777.472 18.565.960 Bắc Mỹ 8.657.819 9.764.495 9.568.996 9.033.610 10.469.730 10.012.190 Nam Mỹ 20.482.448 19.783.773 19.061.419 20.317.330 23.725.666 23.951.664 Châu Á 545.378.633 544.569.885 524.155.027 529.208.805 547.425.244 556.018.828 Châu Âu 3.180.976 3.149.867 3.220.421 3.252.863 3.440.980 3.235.900 Châu Đại
Dương 1.119.370 1.663.612 1.210.652 459.304 573.658 451.300 Thế giới 598.965.258 598.032.485 578.011.137 583.017.104 606.648.911 614.654.895(Nguồn : FAO, 2006 Agricultural and food trade http://faostat.fao.org/faostat
Sản lượng lúa trên thế giới liên tục tăng trong thời qua Năm 2000, sản lượng lúa toàn thế giới là 598.965.258 tấn, đến năm 2005 sản lượng lúa thế giới đạt 614.654.895 tấn, tăng 15.689.637 tấn so với năm 2000
Năm 2005, sản lượng lúa toàn Châu Á đạt 556.018.828 tấn và giữ vị trí đứng đầu thế giới
Riêng đối với khu vực Đông Nam Á, trong giai đoạn từ 2000 – 2005 sản lượng lúa của Thái Lan liên tục giữ vị trí dẫn đầu, với sản lượng bình quân 26.053.660 tấn/năm Sản lượng lúa trên thế giới có thể tăng liên tục như vậy là nhờ vào việc áp dụng rộng rãi các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới, gia tăng mức độ đầu tư thâm canh, từng bước hoàn chỉnh thủy lợi, bố trí thời vụ hợp lý, ứng dụng nhiều công nghệ hiện đại trong công tác giống đặc biệt là công nghệ di truyền đã tạo ra được nhiều giống lúa có năng suất cao, phẩm chất tốt, thời gian sinh trưởng ngắn phù hợp với điều kiện sản xuất thực tế của mỗi quốc gia
Theo đánh giá của Tổ Chức Nông Lương Thế Giới(FAO), vụ lúa năm 2006 tiến triển tương đối tốt tại nhiều nước ở bán cầu nam và gần xích đạo
(Theo http://www.viettrade.gov.vn)
Trang 19Theo số liệu của FAO cho thấy sản lượng lúa thế giới 2006 đạt 635 triệu tấn, tăng 0,8% so với năm 2005
Theo FAO, tại các nước bán cầu nam, sản lượng lúa của các nước Argentina, Australia, Indonesia và Madagascar có thể tăng do vụ mùa diễn ra khá thuận lợi, trong khi đó sản lượng lúa của Brazil, Ecuador, Sri Lanka lại có xu hướng giảm
Đối với các nước thuộc bán cầu bắc, Bangladesh và Trung Quốc đóng góp hầu hết vào sự gia tăng sản lượng lúa thế giới
2.2 Tình hình sản xuất lúa ở Việt Nam
Bảng 2.3 Tình hình sản xuất lúa ở Việt Nam từ năm 2000 – 2004
Năm Các chỉ tiêu
2000 2001 2002 2003 2004 Diện tích
(1000 ha) 7.666,3 7.492,7 7.504,3 7.452,3 7.443,8 Năng suất
Sản lượng
(1000 tấn) 32.529,5 32.104,8 34.447,2 34.568,8 35.867,8 (Nguồn : Niên giám thống kê 2004)
Ngành sản xuất lúa gạo ở nước ta trong những năm qua đã có những bước chuyển tích cực, thực sự giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế đất nước
Hàng năm ngành lúa gạo đã đóng góp từ 12 – 13% trong tổng GDP
(Theo http://www.itpc.hochiminhcity.gov.vn)
Năm 2005, diện tích trồng lúa ở nước ta là 7.339.500 ha.Tuy nhiên, diện tích này đang có xu hướng giảm do quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp đang diễn ra với tốc độ nhanh, do giá vật tư, nhiên liệu, phân bón tăng cao, thêm vào
đó là vấn đề nước tưới nên một bộ phận đáng kể diện tích đất trồng lúa đã được chuyển sang nuôi trồng thủy sản và trồng các loại cây màu có hiệu quả kinh tế cao hơn Bên cạnh đó quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa đã dẫn đến hệ quả là một phần diện tích đất nông nghiệp đã và đang được chuyển đổi sang mục đích sử dụng phi nông nghiệp
Trang 20Như vậy, để đảm bảo nguồn cung lúa gạo cho nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, các địa phương cần chỉ đạo chuyển đổi cơ cấu các giống lúa, chú trọng các giống có năng suất và chất lượng cao cho nhu cầu xuất khẩu, tăng cường chuyển giao tiến bộ kỹ thuật trong thâm canh cho nông dân, thực hiện thâm canh tăng năng suất có hiệu quả ở các vùng trọng điểm lúa, đặc biệt là vùng ĐBSCL
ĐBSCL với tiềm năng đa dạng và phong phú cho sản xuất nông nghiệp nên đã trở thành vùng trọng điểm sản xuất lúa của cả nước, sản lượng lúa chiếm khoảng 52% tổng sản lượng lúa cả nước, hàng năm đóng góp trên 90% sản lượng lúa gạo xuất khẩu Sản xuất lúa ở ĐBSCL có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đảm bảo an ninh lương thực quốc gia và góp phần tích cực trong xuất khẩu
Trong những năm của thập niên 60 (thế kỷ 20) ở ĐBSCL hầu như chỉ có những cánh đồng lúa 1 vụ với những giống lúa địa phương dài ngày, năng suất thấp
Trong thời gian 20 năm trở lại đây, nhiều cơ quan nghiên cứu trong đó có Viện Nghiên Cứu lúa ĐBSCL, Viện Khoa Học Kỹ Thuật Nông Nghiệp Miền Nam, Viện Nghiên Cứu và Phát Triển ĐBSCL (thuộc Đại Học Cần Thơ) đã tạo ra nhiều giống lúa cao sản ngắn ngày, có tốc độ sinh trưởng nhanh, phẩm chất tốt, năng suất cao, đảm bảo được các tiêu chuẩn xuất khẩu như IR 50404, OM 2517, IR 59609 … cho phép tạo ra những cánh đồng 2 -3 vụ với năng suất trung bình 6 – 7 tấn/ha/vụ, đã thay thế hầu hết những cánh đồng lúa 1 vụ năng suất thấp.Với việc đưa các giống lúa cao sản vào thực tiễn sản xuất ở ĐBSCL đã góp phần đưa Việt Nam trở thành nước xuất khẩu gạo đứng thứ hai thế giới (sau Thái Lan).Nhằm gia tăng năng suất và sản lượng, bên cạnh công tác giống thì công tác thủy lợi ở ĐBSCL cũng được nhà nước quan tâm đầu tư Hệ thống thủy lợi không ngừng được hoàn thiện góp phần cải tạo các vùng đất bị nhiễm phèn, nhiễm mặn mà trước đây đã gây ra nhiều khó khăn cho sản xuất lúa
Theo dự kiến quy hoạch chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản
cả nước đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020 của Chính Phủ, Việt Nam dự kiến đất chuyên lúa chỉ còn 3,96 triệu ha đến năm 2010, nhưng vẫn đảm bảo ổn định sản lượng lúa 40 triệu tấn/năm nhằm thực hiện chiến lược an ninh quốc gia, rên cơ sở cân đối đủ nhu cầu tiêu dùng trong nước và mỗi năm xuất khẩu 3,8 – 4 triệu tấn gạo (Theo
http://www.itpc.hochiminhcity.gov.vn)
Trang 212.3 Đặc điểm chung và tình hình sản xuất lúa của tỉnh Kiên Giang
2.3.1 Đặc điểm chung của tỉnh Kiên Giang
Kiên Giang là tỉnh cực Tây Nam của Việt Nam, thuộc vùng đồng bằng Sông Cửu
Long, có diện tích tự nhiên 629.905 ha, nằm ở tọa độ từ 104040’ đến 105032’40” kinh
độ Đông và 9023’50” đến 10032’30” vĩ độ Bắc (phần đất liền)
- Phía Đông và Đông Nam : giáp thành phố Cần Thơ và tỉnh An Giang
- Phía Nam giáp tỉnh Cà Mau, Bạc Liêu
- Phía Tây : giáp vịnh Thái Lan với bờ biển dài khoảng 200 km
- Phía Bắc : giáp Campuchia với đường biên giới đất liền dài 56,8 km
Địa hình phần đất liền tương đối bằng phẳng có hướng thấp dần từ hướng phía
Đông Bắc (với độ cao trung bình 0,8 – 1,2 m) xuống Tây Nam ( với độ cao trung bình
0,2 – 0,4 m) so với mặt biển
Kiên Giang có tổng số dân là 1.623.384 người (năm 2003), mật độ dân số là 259
người/km2,với hơn 1,2 triệu người sống bằng nghề nông chiếm 75% dân số toàn tỉnh
Tỉnh có 13 đơn vị hành chính bao gồm 11 huyện ( Kiên Lương, Hòn Đất, Châu
Thành, Tân Hiệp, Giồng Riềng, Gò Quao, An Biên, An Minh, Vĩnh Thuận, Phú Quốc,
Kiên Hải), thị xã Hà Tiên và thành phố Rạch Giá
2.3.2 Tình hình sản xuất lúa của tỉnh Kiên Giang
Bảng 2.4 Diện tích, năng suất, sản lượng lúa cả năm từ năm 2001 – 2005 của tỉnh
Kiên Giang
(ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lượng (tấn)
Là tỉnh trọng điểm về sản xuất nông – lâm nghiệp với diện tích đất nông nghiệp là
411.974 ha chiếm 65,72% diện tích tự nhiên, riêng đất canh tác lúa là 317.019 ha
Trang 22chiếm 76,95% diện tích đất nông nghiệp, trong đó Giồng Riềng là huyện có diện tích canh tác lúa nhiều nhất với hơn 91.970 ha (năm 2001)
Do đặc diểm, điều kiện tự nhiên chi phối, sản xuất nông nghiệp của tỉnh hình thành bốn vùng sinh thái lớn, đặc trưng cho các kiểu vùng sinh thái của ĐBSCL, bao gồm: vùng phù sa nước ngọt thuộc tây sông Hậu, vùng phèn ngập lũ thuộc tứ giác Long Xuyên, vùng nhiễm mặn thuộc bán đảo Cà Mau và vùng đồi núi, hải đảo gồm huyện Phú Quốc và huyện Kiên Hải
Tiềm năng nông nghiệp của tỉnh phong phú và đa dạng, bao gồm: lúa, cây công nghiệp ngắn, cây công nghiệp dài ngày, cây ăn quả, gia súc, gia cầm…
Trong tám năm (1991 – 1998), kinh tế nông nghiệp – nông thôn có mức tăng trưởng khá, bình quân hàng năm tăng hơn 7% và chiếm tỷ trọng 67% GDP của tỉnh Sản xuất lúa tăng nhanh và chiếm tỷ trọng lớn ( 80 – 87%) tổng giá trị sản xuất nông nghiệp hàng năm
Năm 1998, diện tích canh tác lúa của tỉnh có hơn 257.000 ha, tăng 72.000 ha so với năm 1990, sản lượng lương thực 1.925.500 tấn, tăng 225.500 tấn so với năm 1997, trong đó sản lượng lúa 1.920.500 tấn tăng gấp 2 lần so với năm 1990, đưa mức lương thực bình quân đầu người từ 890 kg đến 1290 kg Năm 2004, sản lượng lúa đạt 2.739.837 tấn với năng suất bình quân 48,04 tạ /ha
Riêng đối với vụ lúa đông xuân của tỉnh, trong giai đoạn từ năm 2001 đến 2005 đều có sự gia tăng cả về năng suất và sản lượng, bình quân hàng năm năng suất lúa đông xuân tăng 3,8%.Năm 2004, sản lượng lúa đông xuân đạt 1.424.193 tấn, chiếm tỷ trọng 51,98% trong tổng sản lượng lúa
Trang 23Bảng 2.5 Diện tích, năng suất và sản lượng lúa đông xuân từ 2001 – 2005 của tỉnh
Kiên Giang
(ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lượng (tấn)
Ngành nông nghiệp Kiên Giang đã xây dựng định hướng phát triển nông nghiệp –
nông thôn đến năm 2010 với nhiều nội dung trong đó có việc ưu tiên và tập trung sản
xuất lúa hàng hóa trên cơ sở đẩy mạnh thâm canh tăng vụ ở cả 3 vùng trong đất liền
của tỉnh với cơ cấu chủ yếu : lúa đông xuân – lúa hè thu và hai vụ lúa – một vụ màu ở
những nơi có điều kiện
Đến năm 2010, phấn đấu nâng công suất xay xát lúa gạo tại chỗ chiếm 90% sản
lượng, trong đó xay xát gạo xuất khẩu tăng từ 377.000 tấn/năm lên 600.000 tấn/năm
Đồng thời, hoàn chỉnh hệ thống đê biển, cống ngăn mặn và các công trình thủy lợi tạo
nguồn, bảo đảm ngọt hóa hoàn toàn vùng tứ giác Long Xuyên, vùng Tây Sông Hậu và
vùng bán đảo Cà Mau
2.4 Đặc điểm chung và tình hình sản xuất lúa của huyện Tân Hiệp
2.4.1 Đặc điểm chung của huyện Tân Hiệp
Huyện Tân Hiệp là một trong 13 đơn vị hành chính của tỉnh Kiên Giang, thuộc
vùng phù sa nước ngọt tây Sông Hậu, tiếp giáp với tỉnh Hậu Giang và An Giang, có cơ
cấu kinh tế là nông nghiệp – công nghiệp – thương mại và dịch vụ Sản xuất chủ yếu là
nông nghiệp GDP năm 2001 chiếm 8,4% GDP toàn tỉnh
Huyện có diện tích tự nhiên là 419.330 ha chiếm 6,7% diện tích tự nhiên toàn tỉnh, dân số của huyện vào năm 2003 là 148.288 người chiếm 9,13% dân số toàn tỉnh,
mật độ dân số 350 người/km2.Trong tổng dân số có tới 36,06% theo đạo Thiên Chúa
Trang 24Huyện có 10 đơn vị hành chính bao gồm thị trấn Tân Hiệp và các xã Tân Hội, Tân An, Tân Thành, Thạnh Trị, Thạnh Đông,Thạnh Đông A, Thạnh Đông B, Tân Hiệp
A, Tân Hiệp B
2.4.2 Tình hình sản xuất lúa của huyện Tân Hiệp
Bảng 2.6 Diện tích, năng suất và sản lượng lúa cả năm từ năm 2001 – 2005 của Huyện
Tân Hiệp
(ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lượng (tấn)
Diện tích sản xuất lúa toàn huyện năm 2005 là 79.708 ha, chiếm 13,37% diện tích sản xuất lúa toàn tỉnh, với sản lượng 477.464 tấn, chiếm 16,2% tổng sản lượng lúa toàn tỉnh
Sản lượng lúa đông xuân năm 2005 của huyện đạt 260.320 tấn , chiếm 17,31% tổng sản lượng lúa đông xuân của toàn tỉnh
Vụ đông xuân năm 2006 – 2007 Tân Hiệp dẫn đầu toàn tỉnh về năng suất và sản lượng với mức đạt bình quân 7,5 tấn/ha, với tổng sản lượng 270.000 tấn
( Theo www.kiengiang.gov.vn )
Để đạt được kết quả này là do bà con nông dân đã áp dụng đã áp dụng tốt các biện pháp khoa học kỹ thuật vào đồng ruộng , mạng lưới khuyến nông các xã, các hợp tác xã nông nghiệp và các cán bộ khoa học kỹ thuật nhiệt tình hướng dẫn nông dân
Trang 25vượt qua nguy cơ thất mùa do rầy nâu (Nilapavarta lugens) gây hại và bệnh vàng lùn –
lùn xoắn lá
Bảng 2.7 Diện tích, năng suất và sản lượng lúa đông xuân từ năm 2001 – 2005 của
Huyện Tân Hiệp
(ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lượng (tấn)
2.5 Quản lý dịch hại tổng hợp IPM (Integrated Pest Management)
2.5.1 Khái niệm ngưỡng gây hại kinh tế EIL(Economic Injury Level):
Ngưỡng gây hại kinh tế là mức mật độ dịch hại thấp nhất gây hại về kinh tế đối với sản xuất của một loại cây trồng nào đó (Trần Thị Thiên An) [1, tr.11]
Ví dụ:
- Ngưỡng gây hại kinh tế của sâu đục thân lúa 2 chấm: ở giai đoạn cây lúa 4 – 5 lá và
đẻ nhánh hữu hiệu là 2 ổ trứng/m2 hoặc 8 – 10 sâu non/m2, giai đoạn cây làm đòng và trổ bông là 1 ổ trứng/m2 hoặc 5 sâu non/m2
- Ngưỡng gây hại kinh tế của rầy nâu: giai đoạn đẻ nhánh 200 con/100 tép, giai đoạn lúa làm đòng và trổ 500 con/ 100 tép
2.5.2 Khái niệm quản lý dịch hại tổng hợp
Quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) là một hệ thống quản lý dịch hại dựa trên cơ sở
sinh thái học là cơ bản, dựa trên sự kết hợp đúng đắn , sự ứng dụng hợp lý các biện pháp phòng trừ khác nhau trong suốt quá trình trồng trọt nhằm đạt được sản lượng cây trồng cao nhất và tác hại đến môi trường ít nhất, nghĩa là sử dụng hài hòa tất cả những biện pháp có sẵn một cách thích hợp , trên cơ sở phân tích hệ sinh thái đồng ruộng hợp
lý để giữ cho chủng quần dịch hại luôn dưới ngưỡng gây hại kinh tế
(Từ Thị Mỹ Thuận) [7, tr.48]
Trang 262.5.3 Sự phát triển của khái niệm IPM
2.5.3.1 Sự ra đời của thuật ngữ IPM
IPM là các chữ viết tắt của thuật ngữ tiếng Anh “Integrated Pest Management” Thuật ngữ này được phát triển từ thuật ngữ “Integrated Pest Control (Viết tắt IPC) Thuật ngữ IPC xuất hiện vào những năm đầu thập niên 50 của thế kỷ 20.Hội thảo của FAO vào tháng 10/1965 đã tán thành việc sử dụng thuật ngữ IPC (Bottrell, 1982) Thuật ngữ điều khiển dịch hại (Pest Management) được Geier và Clark đưa ra từ năm 1961 với ý đồ điều khiển các quần thể côn trùng gây hại (Agarwal et al., 1983; Bottrell, 1982) Nhưng trong các năm của thập niên 60 của thế kỷ 20 , các tài liệu và định nghĩa về khái niệm này vẫn được sử dụng thuật ngữ IPC Đến năm 1972, Hội đồng về Môi trường của Hoa Kỳ đã đưa ra thuật ngữ IPM(Bottrell, 1982) Từ đó thuật ngữ này được ưa dùng hơn thuật ngữ IPC
(Phạm Văn Lầm) [2, tr.180]
2.5.3.2 Sự hình thành của khái niệm IPM
Trước khi khái niệm IPM ra đời đã có một số nghiên cứu và ứng dụng có tính chất IPM.Cuối thế kỷ 18, Fobes đã nhấn mạnh việc áp dụng rộng rãi các nguyên lý sinh thái trong phòng chống côn trùng hại nông nghiệp (Matcalf, 1930)
Năm 1923, Hunter và Coad đã nghiên cứu biện pháp phòng chống bọ vòi voi đục quả bông ở Hoa Kỳ Các tác giả này coi việc tiêu diệt tàn dư cây trồng và dùng giống bông kháng sâu hại là những chiến thuật chủ yếu để phòng chống bọ vòi voi đục quả bông Thuốc hóa học trừ sâu được coi là biện pháp phụ và chỉ được dùng khi tác hại của bọ vòi voi đạt tới mức gây hại kinh tế Huffaker (1985) coi đây là những viên gạch đầu tiên xây nên những nguyên lý cơ bản về IPM ngày nay Cũng tại Hoa Kỳ vào giữa thập niên 20 của thế kỷ 20, Isely đã nghiên cứu thành công chiến lược điều khiển bọ vòi voi đục quả bông, sâu hồng đục quả bông, nhện đỏ dựa trên nguyên lý sinh thái ứng dụng – một cơ sở khoa học quan trọng của IPM (Watson et al., 1975)
Pickett và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu theo hướng điều khiển quần thể sâu hại trong các vườn táo tây ở Nova Scotia (Canada) từ năm 1946 Khuynh hướng IPC
Trang 27đã được Ullyett nghiên cứu chi tiết từ năm 1947 đối với sâu tơ hại rau họ hoa thập tự (Coppel et al., 1977)
Sự phát triển khuynh hướng IPM là một đòi hỏi khách quan Biện pháp hóa học
có hiệu quả cao, nhanh, đơn giản dễ sử dụng trong phòng chống dịch hại Do đó, trong những năm 50 – 60 (thế kỷ 20), biện pháp hóa học đã chiếm vị trí chủ đạo trong bảo
vệ thực vật lúc bấy giờ Do quá tin tưởng vào thuốc hóa học, thuốc hóa học bảo vệ thực vật được sử dụng một cách thiếu kiểm soát, đã dẫn đến nhiều hậu quả không tốt : tạo ra tính quen thuốc của nhiều loại dịch hại, gây hiện tượng tái phát quần thể của một
số loài dịch hại, dịch hại thứ yếu trở thành dịch hại chính, gây ô nhiễm môi trường,…(Bei-Bienko,1954; Bottrell,1982; Fadeev, 1979; Sugonyaev, 1968;…)
Từ giữa thập niên thập niên 50 đã xuất hiện những bài báo khoa học nêu sự cần thiết phải xem xét lại cơ sở của việc dùng thuốc hóa học bảo vệ thực vật Knipping(1953) đã công bố bài viết với đầu đề “Côn trùng và thuốc trừ sâu hại cái gì nguy hiểm hơn ?” Bei-Bienko(1954) đã nhấn mạnh “viêc sử dụng thuốc hóa học quá mức độ và máy móc, đặc biệt là dùng các thuốc có độ độc cao, có thể kéo theo hậu quả nặng nề - làm tăng số lượng và ý nghĩa của nhiều loài sâu hại riêng rẽ do sự phá hủy
hệ thiên địch của chúng trong tự nhiên” English (1956) trong một công trình với đầu
đề “Cần có suy nghĩ đúng đắn trong phòng chống côn trùng hại” đã phê phán khuynh hướng bảo vệ thực vật lúc đương thời, đề nghị cần phải thay đổi quan điểm trong nghiên cứu các biện pháp phòng chống dịch hại, đặc biệt cần bỏ bớt việc dùng dùng thuốc hóa học trừ sâu Bei-Bienko(1954) cũng đã nêu ra một nhiệm vụ cấp bách và bắt buộc là : “Triển khai một cách rộng rãi việc nghiên cứu tìm tòi phương pháp kết hợp biện pháp hóa học với biện pháp sinh học, đặc biệt là tìm phương pháp bảo vệ thiên địch ở tự nhiên trong khi phun thuốc hóa học”
(Phạm Văn Lầm) [2, tr.181]
2.5.3.3 Sự phát triển của khái niệm IPM
Khái niệm IPC đã xuất hiện vào những năm đầu của thập niên 50 của thế kỷ 20 Khái niệm IPC được đưa ra với nội dung là sự kết hợp của biện pháp hóa học với biện
Trang 28pháp sinh học thành một hệ thống các biện pháp điều khiển côn trùng hại( Michelbacher et al., 1952; Smith et al., 1954; Bartlell, 1956)
Ngay từ buổi ban đầu khi mới ra đời, khái niệm IPC cũng đã đề cập tới việc bảo vệ các thiên địch tự nhiên của sâu hại Chỉ có điều là sự quan tâm này mới chỉ dừng lại ở mức độ tìm kiếm các biện pháp để hạn chế những ảnh hưởng xấu của thuốc hóa học gây ra cho các động vật có ích trong sinh quần nông nghiệp Các biện pháp đó là dùng thuốc có tác dụng chọn lọc, hạ thấp nồng độ sử dụng, giảm số lần phun thuốc, chọn thời gian thích hợp để sử dụng thuốc trừ sâu (Michelbacher et al., 1952; Smith et al., 1954;…) Dần dần khái niệm IPC trở nên có nghĩa sâu rộng, mang tính chất sinh thái học Đến năm 1959, khuynh hướng sinh thái học này được các nhà côn trùng học ở California ủng hộ mạnh mẽ thông qua các định nghĩa, các nguyên lý và mô tả các biện pháp cần cho nghiên cứu và ứng dụng IPC (Stern et al., 1959).Khái niệm IPC không phải chỉ còn là sự kết hợp đơn giản giữa biện pháp hóa học và biện pháp sinh học, mà
là sự kết hợp tất cả các biện pháp thành một hệ thống biện pháp điều khiển không chỉ côn trùng hại, mà cả các thiên địch của chúng và cả hệ sinh thái nói chung( Steiner, 1968; Fadeev et al., 1981) Nhiều định nghĩa đã nhấn mạnh trước hết đến việc bảo vệ
và lợi dụng các thiên địch của sâu hại trong khái niệm IPC(Bondarenko, 1978; IOBC/WPRS, 1973,…) Như vậy, chiến lược điều khiển dịch hại đã thay thế cho chiến lược tiêu diệt chúng Trong chiến lược diệt trừ, người ta chỉ quan tâm đến việc sử dụng các biện pháp và công cụ (phương tiện) để tiêu diệt các cá thể của loài địch hại.Còn chiến lược điều khiển dịch hại phải kết hợp linh hoạt việc quan sát, đánh giá, dự báo hoàn cảnh sinh thái cụ thể với việc áp dụng các biện pháp phòng ngừa trong hệ sinh thái để điều khiển quần thể loài có hại và loài có ích
Năm 1979, Ban chuyên gia về IPC của FAO đồng thời cũng là cố vấn cho chương trình môi trường của Liên hợp quốc(FAO/UNEP Panel of Experts on IPM) đã công nhận thuật ngữ IPM( mà FAO công nhận, định nghĩa năm 1967) là đồng nghĩa với thuật ngữ IPC do Hội đồng Môi trường của Hoa Kỳ đề ra năm 1972)
(Phạm Văn Lầm) [2, tr.183]
Trang 292.5.4 Các nguyên lý cơ bản của IPM
• Nguyên lý 1 : Để cho các loài dịch hại tồn tại ở mật độ thấp có thể chấp nhận được
Một cá thể của một loài dịch hại bất kỳ (dù có nguy hiểm đến đâu) cũng không thể gây hại được cây trồng Sự gây hại của dịch hại chỉ có ý nghĩa khi quần thể của chúng đạt tới một mật độ nhất định, tức là đạt tới ngưỡng gây hại kinh tế
Trong quản lý dịch hại tổng hợp, người ta chấp nhận mỗi loài dịch hại có thể tồn tại với mật độ thấp nào đó mà không gây giảm năng suất cây trồng Điều khiển dịch hại tổng hợp không ủng hộ và không mong mỏi có thể trừ hoàn toàn các loài địch hại Mọi biện pháp tác động đòi hỏi duy trì dịch hại ở dưới mức gây hại kinh tế
Sự xâm nhiễm ở mức độ thấp của một số loài dịch hại (nhất là sâu hại) trong hệ thống cây trồng có thể coi là một điều đáng cần có Khi sâu hại ở mật độ thấp không những không gây giảm năng suất cho cây trồng mà chúng còn là nguồn thức ăn quan trọng cho thiên địch Sự tiêu diệt hoàn toàn sâu hại có thể làm cho thiên địch bị chết do không có con mồi hoặc bắt buộc chúng phải di chuyển đi nơi khác Lúc đó trong hệ sinh thái lại thiếu hụt thành phần thiên địch, tạo điều kiện thuận lợi cho dịch hại phục hồi nhanh chóng, gây ảnh hưởng không có lợi cho cây trồng
Một điều kiện cần thiết đối với bất kỳ một chương trình IPM nào cũng phải phân biệt rõ loài dịch hại thực trong hệ sinh thái cây trồng với những dịch hại mà sự hiện diện của chúng chưa gây hại gì cho năng suất cây trồng Mật độ quần thể để phân biệt một loài dịch hại bất kỳ đã phải là dịch hại thực sự hay không chính là mức gây hại kinh tế.Còn ngưỡng kinh tế là mật độ quần thể dịch hại mà khi đó tiến hành các biện pháp phòng trừ thì lợi ích lớn hơn chi phí phòng trừ (IAC, 2002)
Bottrell và Adkisson (1977) đã cho rằng việc xác định mức gây hại kinh tế và ngưỡng kinh tế là một nguyên tắc cơ bản của việc nghiên cứu và áp dụng quản lý dịch hại tổng hợp.Mức gây hại kinh tế và ngưỡng kinh tế là cơ sở để chúng ta bác bỏ việc
sử dụng thuốc hóa học bảo vệ thực vật một cách ồ ạt, không hợp lý
Trang 30• Nguyên lý 2 : Hệ sinh thái nông nghiệp là đối tượng để điều khiển và tác động
Những quan hệ giữa qua lại giữa các loài sinh vật trong hệ sinh thái được hình thành trên quan hệ dinh dưỡng giữa chúng với nhau Các thành viên của hệ sinh thái nông nghiệp liên hệ với nhau theo thứ bậc trong chuỗi thức ăn và tạo thành mắt xích của hệ sinh thái nông nghiệp Trong hệ sinh thái nông nghiệp cây trồng đóng vai trò là loài sản xuất chất hữu cơ đồng thời cũng là thức ăn cho các loài dịch hại Các loài dịch hại đóng vai tiêu thụ thức ăn bậc 1 trong chuỗi thức ăn và đến lượt chúng thì chúng lại
là thức ăn cho các loài thiên địch.Những thiên địch của dịch hại là loài tiêu thụ thức ăn bậc 2 trong chuỗi thức ăn.Cứ như vậy, các loài sinh vật trong hệ sinh thái nông nghiệp sống dựa vào nhau, ức chế lẫn nhau Do đó, một loài nào bị thay đổi là một mắt xích trong chuỗi thức ăn bị thay đổi, dẫn đến hệ sinh thái bị thay đổi
Cần nhận rõ rằng bất kỳ một biện pháp tác động nào lên hệ sinh thái nông nghiệp cũng đều có thể hoặc là ức chế được dịch hại hoặc là làm tăng tính trầm trọng của dịch hại Ngay khi sử dụng một biện pháp rất khéo léo cũng đều có thể gây tác động đến dịch hại Sự thay đổi giống mới, luân canh xen canh các cây trồng, mật độ gieo trồng, chế độ tưới tiêu,…đều gây ra những thay đổi lớn về tình hình dịch hại trong hệ sinh
thái nông nghiệp Ví dụ, rầy nâu (Nilaparvata lugens Stal) trước đây là một loài côn
trùng gây hại thứ yếu ở nước ta và vùng Đông Nam Á, sau trở thành gây hại chính, gây hại nghiêm trọng cho vùng Đông Nam Á do những thay đổi trong hệ sinh thái lúa nước Thực tiễn của việc thay đổi mùa vụ trồng lúa ở nước ta (đưa lúa xuân vào miền Bắc, tăng vụ lúa ở ĐBSCL) đã làm thay đổi tình trạng và tác hại của sâu đục thân lúa,…
Nếu các biện pháp tác động lên hệ sinh thái nông nghiệp không được nghiên cứu cẩn thận mà đã đưa vào áp dụng trên diện rộng có thể dẫn tới sự bùng phát dịch hại một cách khốc liệt và dẫn tới sự xuất hiện triền miên, có tính chất hủy diệt của các dịch hại thứ yếu Dịch bệnh hoàng long trên cam quýt (greening) ở Cần Thơ xảy ra trong năm 1994 với quy mô lớn (3.000 ha trong tổng số 10.000 ha cam quýt ) với mức
độ nặng là một ví dụ điển hình của việc mở rộng ồ ạt diện tích trồng cam quýt ở vùng này một cách tự phát theo lợi nhuận mà không chú ý đến vấn đề sâu bệnh
Trang 31IPM cố gắng tác động lên hệ sinh thái nông nghiệp nhằm điều khiển các dịch hại ở mức độ có thể chấp nhận được, mà tránh bất kỳ sự phá vỡ nào dẫn đến làm trầm trọng thêm những loài dịch hại khác
• Nguyên lý 3 : Sử dụng các tác nhân gây chết tự nhiên một cách tối đa
IPM nhấn mạnh sự tồn tại trong hệ sinh thái nông nghiệp những yếu tố gây ảnh hưởng đến số lượng của dịch hại: điều kiện sống hạn chế( thức ăn, không gian, nơi ẩn nấp) chu kỳ khắc nghiệt của thời tiết( nóng lạnh, hạn hán, mưa lũ), sự cạnh tranh trong
và ngoài loài cũng như thiên địch.Các tác nhân gây chết dịch hại nói chung có ý nghĩa rất lớn trong việc hạn chế sự phát triển của dịch hại cây trồng Nắm chắc và xem xét đầy đủ các tác nhân gây chết tự nhiên, duy trì và làm tăng tỷ lệ chết tự nhiên cho dịch hại là một điều rất cần thiết trong IPM
Nguồn thức ăn, nơi ở ít khi bị thiếu, thời tiết có thể luôn luôn thuận lợi, sự cạnh tranh thì không có hoặc ít khi xảy ra, còn thiên địch của các côn trùng và nhện hại thì hầu như có mặt, phổ biến trong hệ sinh thái nông nghiệp và có ý nghĩa trong hạn chế
số lượng sâu hại De Geet (1760) nói: “Chúng ta không thể phòng chống được côn trùng hại nếu thiếu sự giúp đỡ của các thiên địch”
Một mục tiêu quan trọng của IPM là làm thay đổi môi trường sao cho làm tăng hoạt động của tất cả các tác nhân gây chết tự nhiên, tức là làm thay đổi những quan hệ
đã hình thành giữa các loài ăn thực vật và các loài ăn côn trùng nghiêng về phía có lợi cho con người và sử dụng tối đa các cơ chế điều hòa số lượng dịch hại do thiên nhiên tạo ra trong sinh quần nông nghiệp Muốn vậy, cần phải tiến hành các biện pháp bảo
vệ, duy trì và phát triển quần thể các loài thiên địch có sẵn trên đồng ruộng, khi cần có thể nhân nuôi thả thêm thiên địch vào quần thể dịch hại
• Nguyên lý 4 : Bất kỳ biện pháp bảo vệ thực vật nào cũng có thể gây ra những hậu quả không mong muốn
Nền văn minh cổ xưa đã phát triển nhiều biện pháp như biện pháp canh tác, sinh học, vật lý để phòng chống dịch hại.Ngày nay, nhiều biện pháp đó được chứng minh
là có giá trị khoa học, mặc dù lúc đầu bắt nguồn từ những kinh nghiệm cổ truiyền
Trang 32Có nhiều biện pháp phòng chống dịch hại mang tính lựa chọn đối với biện pháp hóa học.Tất cả các biện pháp đều có giá trị cho IPM, kể cả biện pháp hóa học Việc sử dụng bất cứ biện pháp nào cũng có thể gây ra những hậu quả không mong muốn Ví
dụ, việc nhập các côn trùng thiên địch sẽ làm giảm hiệu quả của những thiên địch bản
xứ, sự phổ biến rộng rãi giống lúa kháng sâu bệnh có chứa một gen kháng đã thúc đẩy nhanh việc hình thành nòi mới ở sâu hại và vật gây bệnh,cày vỡ đất là biện pháp có hiệu quả để hạn chế một số dịch hại nhưng lại gây ra sự rửa trôi đất,…Không có biện pháp nào có thể coi là hoàn hảo vạn năng để trừ dịch hại.Bởi vậy, phải nhận thức đúng đắn rằng: IPM không coi một biện pháp đơn độc nào có thể cho kết quả thành công vĩnh cửu vì khả năng thích ứng rõ rệt của dịch hại Mô hình bảo vệ thực vật bền vững sẽ đạt được khi chiến lược phòng chống dịch hại được xây dựng trên cơ sở kết hợp các biện pháp kỹ thuật một cách hợp lý và hài hòa
• Nguyên lý 5 : Bảo vệ thực vật cộng đồng
Thuật ngữ bảo vệ thực vật cộng đồng được sử dụng tương đương với thuật ngữ tiếng Anh là area – wide control Trong lịch sử phòng chống dịch hại cây trồng đã hình thành tính cộng đồng rộng rãi, phòng chống dịch hại rất cần được thực hiện trên diện tích rất rộng thì mới có hiệu quả IPM chỉ thành công khi các biện pháp cấu thành được một cộng đồng thực hiện
• Nguyên lý 6 : IPM là khuynh hướng liên ngành khoa học
Bản chất của IPM là một hệ thống biện pháp kỹ thuật sẵn có để điều hòa các mối quan hệ trong và ngoài loài ở một nông sinh quần cụ thể nhằm hạn chế được tác hại của dịch hại và đảm bảo đáp ứng được yêu cầu về sinh thái, kinh tế, môi trường IPM đòi hỏi phải xây dựng được mô hình bảo vệ thực vật bền vững trong nền nông nghiệp bền vững Để xây dựng được những mô hình này đòi hỏi phải có sự hợp tác thực sự giữa các ngành khoa học sinh vật học, vật lý, toán học, hóa học, xã hội học, kinh tế học ,…Sự kết hợp này phải có phải có ở tất cả các giai đoạn từ nghiên cứu đến áp dụng vào sản xuất (Phạm Văn Lầm) [3, tr.237]
Trang 33Chương 3
PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Thời gian và địa điểm khảo sát
- Thời gian khảo sát : 01/03/2007 – 02/04/2007
- Địa điểm khảo sát : Xã Tân An – Huyện Tân Hiệp – Tỉnh Kiên Giang
3.2 Phương pháp nghiên cứu
3.2.1 Khảo sát nhanh
Liên hệ với Ủy ban nhân dân xã Tân An, Phòng nông nghiệp và phát triển nông thôn, Phòng thống kê và các cán bộ khoa học nông nghiệp xã để thu thập các thông tin liên quan đến tình hình sản xuất lúa đông xuân : điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý, dân số lao động, đất đai canh tác, diện tích và sản lượng lúa đông xuân, thu thập bản đồ và các dữ kiện khác
3.2.2 Khảo sát nông hộ
- Số hộ khảo sát : 60 hộ
- Cách chọn hộ khảo sát : các hộ sản xuất được chọn ngẫu nhiên và một số hộ sản xuất giỏi được chọn thông qua sự giới thiệu của cán bộ nông nghiệp xã
Dựa vào phiếu khảo sát nông hộ đã được soạn thảo, tiến hành phỏng vấn nông dân
về các yêu cầu sau :
• Giống :
- Diện tích và năng suất các giống lúa
- Chất lượng các giống và tính thích nghi với điều kiện địa phương theo đánh giá của nông dân
• Kỹ thuật trồng :
- Kỹ thuật làm đất
- Thời vụ trồng và chăm sóc
- Mức độ đầu tư thâm canh : phân bón, thuốc bảo vệ thực vật
- Tình hình sâu bệnh hại và các biện pháp phòng trừ
Trang 34- Mức độ áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới
- Phương pháp thu hoạch, bảo quản và tiêu thụ sản phẩm
• Hiệu quả kinh tế
• Những thuận lợi và khó khăn trong sản xuất lúa đông xuân
• Đề xuất của các hộ nông dân
3.2.3 Phương pháp xử lý số liệu
Số liệu thu thập được xử lý bằng phần mềm Microsoft Excel 2003, các biểu đồ và
đồ thị cũng được vẽ bằng phần mềm này
Trang 35Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 Khảo sát tình hình chung của xã Tân An, huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang 4.1.1 Đặc điểm kinh tế xã hội của xã Tân An
Xã Tân An là 1 trong 10 xã, thị trấn của huyện Tân Hiệp, với diện tích tự nhiên 3.461,96 ha, trong đó diện tích sản xuất lúa là 3.114 ha chiếm 89,9% diện tích tự nhiên, dân số gồm 1.635 hộ với 8.317 nhân khẩu, trong đó có 4.042 người trong độ tuổi lao động 95% dân số của xã sống bằng nông nghiệp.Bình quân đất sản xuất là 0,37ha/người, bình quân lương thực là 4.600 kg/người/năm Năm 2005 tổng số hộ nghèo là 127 hộ chiếm tỉ lệ 7%
Là xã nông nghiệp, đa số người dân sống bằng nghề sản xuất lúa, một số ít người làm thuê, buôn bán nhỏ, lao động thủ công và các dịch vụ ngành nghề khác.Cơ cấu kinh tế được xác định là nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ
Năm 2005 toàn xã có 1554/1635 hộ đạt tiêu chuẩn gia đình văn hóa, 5/5 ấp đạt tiêu chuẩn ấp văn hóa
Hiện nay xã có 4 điểm trường (1 điểm trường trung học cơ sở, 3 điểm trường tiểu học) và một trạm y tế
4.1.2 Điều kiện tự nhiên của xã Tân An
4.1.2.1 Vị trí địa lý
Xã Tân An có diện tích tự nhiên 3.461,96 ha, bao gồm 5 ấp: 2B, 4B, 5B, Tân An
và Tân Long
- Phía Bắc : giáp xã Tân Thành và xã Tân Hiệp B
- Phía Nam : giáp xã Tân Hiệp A và huyện Châu Thành
- Phía Đông : giáp xã Tân Hiệp A
- Phía Tây : giáp xã Tân Hội
Trang 36Hình 4.1 Bản đồ vị trí xã Tân An
Trang 374.1.2.2 Đặc điểm khí hậu, thủy văn
Xã Tân An nằm trong vùng ĐBSCL, khí hậu có 2 mùa mưa nắng ( mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa nắng từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau )
Nhiệt độ trung bình là 270C tương đối thích hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của cây lúa Nhiệt độ cao nhất vào tháng 5 là 360C, nhiệt độ thấp nhất vào tháng 12 là
230C
Ẩm độ không khí vào mùa khô từ 71 – 78%, ẩm độ không khí vào mùa mưa từ 81 –
86 %
Xã có 2 hệ thống kênh trục đi qua (kênh Cái Sắn và kênh Rạch Giá – Long Xuyên)
và 5 kênh thủy lợi với bề rộng khoảng 5m, độ sâu trung bình từ 1,5 – 1,8m
Hệ thống kênh vừa là hệ thống thủy lợi, vừa là hệ thống giao thông đường thủy
Xã bị ảnh hưởng lũ hàng năm từ tháng 9 đến tháng 12 dương lịch, đỉnh lũ cao từ 0,8 – 1,2m so với mặt ruộng
4.1.2.3 Đất đai
Phần lớn diện tích đất của xã là đất thịt pha sét, độ dày tầng đất mặt 30 – 40 cm Đất có độ phì tương đối cao và cân đối, ít có những hạn chế về mặt hóa học đối với sự sinh trưởng của cây trồng, đất sa cấu mịn thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, có thể canh tác nhiều loại cây trồng như lúa, hoa màu, cây ăn trái…
Diện tích đất được phân bố cho các mục đích sử dụng tại xã được thể hiện qua hình 4.2
Trang 385% 2%
Đất nông nghiệp Đất thổ cư Đất chuyên dùng và đất khác
Hình 4.2 Cơ cấu sử dụng đất của xã Tân An
Qua Hình 4.2 cho thấy quỹ đất nông nghiệp chiếm diện tích lớn 93% nên sản xuất nông nghiệp là thế mạnh của xã
4.1.3 Nguồn lực lao động và trình độ văn hóa
Để tìm hiểu về nguồn lực lao động và trình độ dân trí của xã, người thực hiện khóa luận đã tiến hành khảo sát trên 60 nông hộ, trong đó có 54 Nam (chiếm 90%) và 6 Nữ ( chiếm 10%) với tổng số nhân khẩu là 355 người bao gồm 177 Nam ( chiếm 49,85%) và 178 Nữ ( chiếm 50,15%)
Trong 60 hộ được khảo sát, nguồn lực lao động và trình độ văn hóa được phân bố như sau :
• Về nguồn lực lao động
- Số người trong độ tuổi lao động : 220 người (chiếm 61,98%)
- Số người trên độ tuổi lao động : 37 người (chiếm 10,42%)
- Số người dưới độ tuổi lao động : 98 người (chiếm 27,6%)
• Về trình độ văn hóa
- Trình độ tiểu học : 47 người (chiếm 13,23%)
- Trình độ trung học cơ sở : 181 người(chiếm 50,98%)
- Trình độ trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học : 7 người (chiếm 1,97%)
- Không biết chữ, không đi học và chưa đi học : 61 người (chiếm 17,2%)
Trang 39Qua kết quả trên cho thấy nguồn lực lao động trong các nông hộ khá dồi dào,
nhưng trình độ văn hóa nhìn chung còn thấp Do nhiều nguyên nhân nhưng nguyên
nhân chính là do hoàn cảnh gia đình và điều kiện xã hội của địa phương nên người dân
không có nhiều thuận lợi để học tập, một số phải nghỉ học sớm để phụ giúp gia đình,
bên cạnh đó cũng có một số ít người chưa nhận thức đầy đủ sự cần thiết của việc học
tập Đây là một trở ngại tương đối lớn trong việc chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ
thuật mới cũng như việc đưa chủ trương, chính sách của nhà nước đến với bà con nông
dân Vì vậy vấn đề nâng cao trình độ văn hóa là một vấn đề quan trọng cần được chính
quyền địa phương cũng như các hộ nông dân quan tâm hơn nữa trong thời gian tới để
góp phần thực hiện thắng lợi công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp
nông thôn trong tương lai
4.1.4 Tình hình sản xuất nông nghiệp tại xã Tân An
Bảng 4.1 Cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp tại xã Tân An
1 Tổng diện tích đất nông nghiệp 3.229,09 100
( Nguồn thống kê xã Tân An năm 2005 )
Xã Tân An có 3.229,09 ha đất nông nghiệp chiếm 93% diện tích tự nhiên , trong đó
diện tích sản xuất lúa là 3.114 ha 96,4% diện tích đất nông nghiệp toàn xã
Sản xuất lúa là hoạt động nông nghiệp chính của xã, với các giống lúa chủ lực là IR
Trang 40Vụ đông xuân 2005 – 2006, diện tích gieo sạ lúa của xã là 3.114 ha, năng suất lúa đạt 7,5 tấn/ha, với sản lượng 22.514 tấn
Ngoài sản xuất lúa, hoạt động nông nghiệp của xã còn có thêm các nghề trồng cây
ăn trái, trồng hoa màu và nuôi trồng thủy sản nhưng quy mô không lớn
4.2 Kỹ thuật trồng lúa đông xuân tại xã Tân An
4.2.1 Thời vụ trồng
Xã Tân An là xã nông nghiệp của huyện Tân Hiệp Người dân ở đây sống chủ yếu
bằng nghề nông bao gồm các ngành nghề như trồng các loại cây ăn trái ( xoài, mận,
ổi, chuối…), trồng các loại hoa màu ngắn ngày (cải, dưa chuột…), trồng lúa…, trong
đó nghề trồng lúa chiếm tỉ lệ cao nhất, diện tích trồng lúa chiếm phần lớn diện tích đất nông nghiệp của xã
Cơ cấu sản xuất lúa của xã bao gồm 2 vụ : vụ đông xuân và vụ hè thu, trong đó vụ đông xuân thường được gieo vào khoảng tháng 11 – 12 (dương lịch) và thu hoạch vào khoảng cuối tháng 2 đến giữa tháng 3 (dương lịch), vụ hè thu thường được gieo vào khoảng cuối tháng 4 đến giữa tháng 5 ( dương lịch) và thu hoạch vào khoảng cuối tháng 8 đến đầu tháng 9 (dương lịch)
Hình 4.3 Thời vụ gieo trồng lúa ở xã Tân An 4.2.2 Phân bố diện tích ruộng
Tổng diện tích sản xuất lúa đông xuân được khảo sát là 140,5 ha trong đó hộ có diện tích sản xuất nhỏ nhất là 1 ha, hộ có diện tích sản xuất lớn nhất là 6 ha, bình quân diện tích giữa các hộ sản xuất là 2,3 ha Qua đó cho thấy diện tích canh tác của các hộ nông dân tương đối cao Đa số các hộ có diện tích lớn thì số lao động gia đình cũng