38 4.3 Khảo nghiệm hiệu quả phòng trừ nhện lông nhung của một số sản phẩm vi sinh vật trong điều điều kiện phòng thí nghiệm .... 39 Bảng 4.6 Hiệu lực của một số vi sinh vật ký sinh nhện
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA NÔNG HỌC
KHÓA LUẬN TỐT NGHỆP
ĐÁNH GIÁ HIỆU LỰC CỦA MỘT SỐ LOÀI THẢO MỘC VÀ
NẤM KÝ SINH PHÕNG TRỪ NHỆN LÔNG NHUNG (Eriophyes
sp.) HẠI NHÃN TIÊU DA BÕ TẠI TỈNH TIỀN GIANG
NGÀNH : BẢO VỆ THỰC VẬT KHÓA : 2009-2013
SINH VIÊN THỰC HIỆN : TẠ THỊ ÁNH HỌC
Tp Hồ Chí Minh, tháng 08/ 2013
Trang 2NẤM KÝ SINH PHÕNG TRỪ NHỆN LÔNG NHUNG (Eriophyes
sp.) HẠI NHÃN TIÊU DA BÕ TẠI TỈNH TIỀN GIANG
Trang 3Trong quá trình thực hiện luận văn nghiên cứu “Đánh giá hiệu lực của một số loài
thảo mộc và nấm ký sinh phòng trừ nhện lông nhung (Eriophyes sp.) hại nhãn tiêu da bò
tại tỉnh Tiền Giang” bên cạnh sự cố gắng, phấn đấu hết mình của bản thân, em còn nhận được sự khích lệ, giúp đỡ
Từ tận sâu trong đáy lòng con khắc ghi công ơn sinh thành, nuôi dưỡng, dạy dỗ và tất cả những gì ba mẹ đã hy sinh để con được trưởng thành như ngày hôm nay
Em xin chân thành cảm ơn Ban chủ nhiệm khoa Nông học, trường đại học Nông Lâm Tp Hồ Chí Minh đã luôn tạo điều kiện rất tốt cho em thực hiện khóa luận tốt nghiệp
Em xin chân thành cảm ơn thầy cô trường đại học Nông Lâm Tp Hồ Chí Minh đã tận tình giảng dạy, truyền đạt những kiến thức, kinh nghiệm quý báu, luôn quan tâm, dìu dắt và luôn giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập, cũng như trong quá trình thực hiện
đề tài Đặc biệt, em xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy Lê Cao Lượng và chị Trần Thị Mỹ Hạnh,những người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện khóa luận
Xin cảm ơn bạn bè đã động viên, giúp đỡ tôi trong thời gian học tập và thực hiện khóa luận
Dù đã cố gắng hoàn thành khóa luận văn trong phạm vi và khả năng cho phép nhưng chắc chắn rằng còn những thiếu sót, em kính mong nhận được sự tận tình chỉ bảo của thầy cô và bạn bè
Trang 4Đề tài “Đánh giá hiệu lực của một số loài thảo mộc và nấm ký sinh phòng trừ nhện
lông nhung (Eriophyes sp.) hại nhãn tiêu da bò tại tỉnh Tiền Giang” do Tạ Thị Ánh Học
thực hiện với sự hướng dẫn của Th.S Lê Cao Lượng và người đồng hướng dẫn Th.S Trần Thị Mỹ Hạnh Đề tài được thực hiện từ tháng 03/2013 đến tháng 07/2013, tại phòng côn trùng, bộ môn bảo vệ thực vật,thuộc Viện cây ăn quả Miền Nam nhằm xác định chế
phẩm sinh học hiệu quả trong phòng trừ nhện lông nhung (Eriophyes sp.), là tác nhân
truyền bệnh chổi rồng trên nhãn tiêu da bò Để đáp ứng mục đích trên đề tài thực hiện 3 thí nghiệm như sau:
Thí nghiệm 1: Hiệu lực của dịch chiết thảo mộc có hiệu quả phòng trừ nhện lông nhung trong điều kiện phòng thí nghiệm, bố trí theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên gồm 9 nghiệm thức, 3 lần lặp lại, mỗi lần lặp 1 hộp nhựa, 50 con ấu trùng nhện lông nhung
(Eriophyes sp.) tuổi 2 mỗi hộp nhựa, thu được kết quả dịch chiết từ củ hành ở nồng độ
0,5% điều chế bằng máy chiết SOXHLET có hiệu quả phòng trừ nhện lông nhung đạt hiệu lực cao 83,44% , kế đến là dịch chiết củ tỏi ở nồng độ 0,10% điều chế bằng phương pháp thủ công đạt hiệu lực 74,85% và dịch chiết từ củ hành ở nồng độ 0,50% đạt hiệu lực 74,23% và rất khác biệt so với nghiệm thức thuốc về mặt thống kê
Thí nghiệm 2: Khảo nghiệm hiệu quả diệt nhện lông nhung (Eriophyes sp.) của
các dịch chiết thảo mộc sau 3 tháng tồn trữ ở điều kiện phòng thí nghiệm, bố trí tương tự như thí nghiệm 1, kết quả cho thấy dịch chiết từ củ hành ở nồng độ 0,50% vẫn có hiệu lực diệt nhện hại nhãn đạt 70,33%
Thí nghiệm 3: Khảo nghiệm hiệu quả ký sinh nhện lông nhung (Eriophyes sp.)
của một số loài vi sinh vật trong điều kiện phòng thí nghiệm Thí nghiệm được bố trí theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên gồm 5 nghiệm thức, 4 lần lặp lại, mỗi lần lặp lại là 1 cây nhãn con 45 ngày tuổi trồng trong ly nhựa, mỗi cây chọn ra 100 con ấu trùng nhện tuổi 2 và loại bỏ sạch nhện còn lại, theo dõi tỷ lệ nhện sống trên tổng nhện thí nghiệm ở các thời
điểm 3, 7, 10, 14 NSP Kết quả cho thấy nấm Metarhizium anisopliae có hiệu quả ký sinh nhện lông nhung (Eriophyes sp.) cao đạt 95,80%, kế đến là nấm Paecilomyces sp đạt 79,41 % và thấp nhất là nấm Beauveria bassiana đạt 17,66 % ở thời điểm 14 NSP
Theo phân tích thống kê, các nghiệm thức trên có sự khác biệt rất có ý nghĩa so với đối
Trang 5các thời điểm 3, 7, 10, 14 NSP
Thí nghiệm 4: Khảo sát hiệu quả phòng trừ nhện lông nhung của dịch chiết thảo mộc có triển vọng và vi sinh vật ký sinh hiệu quả ở điều kiện ngoài đồng, được bố trí theo kiểu khối đầy đủ ngẫu nhiên, với 4 nghiệm thức, 5 lần lặp lại, mỗi lần lặp lại là 1 cây, mỗi cây theo dõi 4 hướng, một cành/ hướng, 10 lá chét/ cành, ghi nhận mật số nhện
sống ở các thời điểm 1, 3, 7, 10, 14 NSP, cho thấy nấm xanh Metarhizium anisopliae
Sorok đạt hiệu quả ký sinh trên 80% ở nồng độ 2,5x109
bào tử/g Dịch chiết từ củ hành đạt hiệu lực cao trên 70%
Trang 6MỤC LỤC
Trang
Trang tựa i
Lời cảm ơn ii
Tóm tắt iii
Mục lục v
Danh sách các chữ viết tắt viii
Danh sách các bảng ix
Danh sách các hình x
Chương 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích, yêu cầu, giới hạn đề tài 2
1.2.1 Mục đích 2
1.2.2 Yêu cầu 2
1.2.3 Giới hạn đề tài 2
Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Giới thiệu về cây nhãn 3
2.1.1 Nguồn gốc và phân bố nhãn trong và ngoài nước 3
2.1.2 Một số giống nhãn trồng 3
2.3 Một số loài nhện Eriophyes sp 7
2.3.1 Giới thiệu bộ nhện Acari 7
2.3.2 Nhện Eriophyes litchii Keifer (Acari: Eriophyidae) 7
2.3.3 Nhện lông nhung Eriophyes dimocarpi Kuang (Acari: Eriophyidae) 8
2.3.4 Nhện Phyllocoptruta oleivora Ashmead (Acari: Eriophyidae) 10
2.4 Giới thiệu một số nấm gây bệnh côn trùng 11
2.4.1 Điều kiện để nấm tấn công côn trùng 12
2.4.2 Phương thức xâm nhiễm và phát triển của nấm ký sinh côn trùng 12
2.4.3 Đặc tính loài nấm Paecilomyces sp ký sinh côn trùng 12
2.4.3.1 Nguồn gốc, phân loại và phân bố 13
Trang 72.4.3.3 Yếu tố môi trường ảnh hưởng đến sự ký sinh của nấm Paecilomyces sp 14
2.4.3.4 Đặc tính diệt côn trùng của nấm Paecilomyces sp 15
2.4.3.5 Những thành tựu và ứng dụng của nấm Paecilomyces sp 15
2.4.4 Đặc tính của loài nấm Beauveria bassiana ký sinh côn trùng 16
2.4.4.1 Nguồn gốc và phân bố 16
2.4.4.2 Đặc điểm hình thái của nấm Beauveria bassiana (Bb) 17
2.4.4.3 Các yếu tố môi trường ảnh hưởng đến ký sinh của nấm Bb 17
2.4.4.4 Độc tố và cơ chế tác động của nấm Bb 18
2.4.4.5 Những thành tựu và ứng dụng của nấm Bb 18
2.4.5 Đặc tính của nấm Metarhizium anisopliae ký sinh côn trùng 20
2.4.5.1 Nguồn gốc và phân bố 20
2.4.5.2 Đặc điểm hình thái của nấm Metarhizium anisopliae (Ma) 20
2.4.5.3 Độc tố và cơ chế tác động của nấm Ma 20
2.4.5.4 Các yếu tố môi trường ảnh hưởng đến ký sinh của nấm Ma 21
2.4.5.5 Những thành tựu và ứng dụng của nấm Metarhizium anisopliae 22
2.5 Một số thuốc thảo mộc và hóa học sử dụng trong thí nghiệm 23
2.5.1 Sơ lược về một số thuốc thảo mộc 23
2.5.1.1 Tỏi (Allium sativum L.) 23
2.5.1.2 Hành (Allium cepa L.) 25
2.5.1.3 Bột tỏi Well 25
2.5.2 Chế phẩm Ometar 26
2.5.3 Thuốc hóa học Proclaim 1.9 EC 26
Chương 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP 27
3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 27
3.1.1 Thời gian nghiên cứu 27
3.1.2 Địa điểm nghiên cứu 27
3.2 Vật liệu thí nghiệm 27
3.3 Nội dung nghiên cứu 28
3.4 Phương pháp nghiên cứu 28
3.4.1 Hiệu lực của dịch chiết thảo mộc có hiệu quả phòng trừ nhện lông nhung (Eriophyes sp.) trong điều kiện phòng thí nghiệm 31
Trang 8sau 3 tháng tồn trữ ở điều kiện phòng thí nghiệm 32
3.4.3 Khảo nghiệm hiệu quả phòng trừ nhện lông nhung (Eriophyes sp.) của một số loài vi sinh vật trong điều kiện phòng thí nghiệm 32
3.4.4 Khảo sát hiệu quả phòng trừ nhện lông nhung (Eriophyes sp.) của dịch chiết thảo mộc và vi sinh vật ký sinh có hiệu quả ở điều kiện ngoài đồng 34
3.4.5 Phương pháp xử lý số liệu 35
Chương 4 KẾT QUẢ THẢO LUẬN 36
4.1 Hiệu lực dịch chiết thảo mộc có hiệu quả phòng trừ nhện lông nhung Eriophyes sp trong điều kiện phòng thí nghiệm 36
4.2 Khảo nghiệm hiệu quả diệt nhện lông nhung (Eriophyes sp.) của các dịch chiết thảo mộc sau 3 tháng tồn trữ ở điều kiện phòng thí nghiệm 38
4.3 Khảo nghiệm hiệu quả phòng trừ nhện lông nhung của một số sản phẩm vi sinh vật trong điều điều kiện phòng thí nghiệm 39
4.4 Khảo sát hiệu quả phòng trừ nhện lông nhung (Eriophyes sp.) của dịch chiết thảo mộc và vi sinh vật ký sinh 41
Chương 5 44
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 44
5.1 Kết luận 44
5.2 Đề nghị 44
TÀI LIỆU THAM KHẢO 45
PHỤ LỤC 53
Trang 9Viết tắt (ký hiệu) Viết đầy đủ
Bb Beauveria bassiana Vuill
Cm Centimet ĐBSCL Đồng bằng sông Cửu Long GSP Giờ sau phun
NSP Ngày sau phun
G gam
Trang 10Trang
Bảng 2.1 Thời gian các pha phát triển (ngày) của nhện ở nhiệt độ 25°C và 30°C 10
Bảng 2.2 Thành phần hóa học của tỏi 24
Bảng 3.1 Các nghiệm thức thí nghiệm 31
Bảng 3.2 Các nghiệm thức thí nghiệm 33
Bảng 3.3 Các nghiệm thức của thí nghiệm khảo sát hiệu quả phòng trừ nhện lông nhung (Eriophyes sp.) của dịch chiết thảo mộc và vi sinh vật ký sinh có hiệu quả ở điều kiện ngoài đồng 34
Bảng 4.1: Mật số trung bình nhện lông nhung Eriophyes sp ở các nồng độ khác nhau của dịch chiết từ củ hành và củ tỏi trong điều kiện phòng thí nghiệm 36
Bảng 4.2: Hiệu lực phòng trừ nhện lông nhung của dịch chiết từ củ hành và củ tỏi ở các nồng độ khác nhau 36
Bảng 4.3 Mật số trung bình nhện lông nhung Eriophyes sp ở các nồng độ khác nhau của dịch chiết từ củ hành và củ tỏi sau 3 tháng tồn trữ 38
Bảng 4.4 Hiệu lực phòng trừ nhện lông nhung của dịch chiết từ củ hành và củ tỏi ở các nồng độ khác nhau sau 3 tháng tồn trữ 38
Bảng 4.5 Mật số trung bình nhện lông nhung (Eriophyes sp.) ở các nghiệm thức 39
Bảng 4.6 Hiệu lực của một số vi sinh vật ký sinh nhện lông nhung trong điều kiện phòng thí nghiệm 40
Bảng 4.7 Mật số trung bình nhện lông nhung (Eriophyes sp.) của các nghiệm thức thí nghiệm ở điều kiện ngoài đồng 41
Bảng 4.8 Hiệu lực của dịch chiết từ thảo mộc và nấm ký sinh ở điều kiện ngoài đồng 42
Trang 11Trang
Hình 2.1: Chồi hoa bị chổi rồng 6
Hình 3.1: Bộ chiết SOXHLET 28
Hình 3.2: Bộ chƣng cất dung môi 29
Hình 3.3 Quần thể nhện lông nhung Eriophyes sp 29
Hình 3.4 Nhện lông nhung Eriophyes sp tuổi 2 29
Hình 4.1 Nhện lông nhung Eriophyes sp bị nấm Metarhizium anisopliae ký sinh 43
Hình 4.2 Nấm Metarhizium anisopliae mọc ra ngoài cơ thể nhện lông nhung Eriophyes sp 43
Trang 12Theo kết quả nghiên cứu của Vũ Mạnh Hà và ctv (2007) nhện lông nhung là môi giới truyền bệnh chổi rồng trên nhãn Nhện lông nhung là loài có kích thước rất nhỏ không thể quan sát được bằng mắt thường nên việc kiểm soát và phòng trừ gặp rất nhiều khó khăn Hiện nay nông dân phòng trị nhện chủ yếu bằng cách sử dụng các loại thuốc hóa học, phun rất nhiều lần với liều lượng cao nhưng hiệu quả quản lý nhện không cao, làm nhện tăng tính kháng và dễ bộc phát thành dịch
Trong những năm gần đây có nhiều nghiên cứu sử dụng các loài cây thực vật có chứa một số độc tố để chế biến thuốc trừ sâu thảo mộc đã được tiến hành trên thế giới, nhiều sản phẩm chiết xuất từ thảo mộc đã được báo cáo có tính độc, gây xua đuổi và gây ngán ăn cho nhiều loại côn trùng (Huang và ctv., 2000, Azima và ctv.,2012)
Trong đó, dịch chiết từ củ hành (Allium cepa) có khả năng diệt nhện đỏ rất hiệu quả (Bissdorf, 2000) Theo Gengaihi và ctv (2000) dịch chiết từ củ nghệ (Curcuma domestica) có chứa nhiều thành phần trong đó có chức acid béo có hiệu quả diệt nhện
đỏ khá tốt
Ngoài ra, nhiều nghiên cứu sử dụng nấm Beauveria bassiana và các loài nấm ký
sinh đã được thực hiện trong quản lý nhện thuộc họ Tetranychid trong điều kiện phòng thí nghiệm và nhà lưới (Alves ctv., 2002; Irigaray ctv., 2003, Shi và Feng, 2004,
Chandler và ctv., 2005) Barreto và ctv., 2004 báo cáo nấm Beauveria bassiana có khả năng quản lý nhện cái Mononychellus tanajoa ở mật số bào tử 108
/ ml
Trang 13Do đó việc tìm ra và phát triển các loại thảo mộc và vi sinh vật có khả năng quản lý nhện lông nhung là rất cần thiết
Xuất phát từ thực tế trên, đề tài: “Đánh giá hiệu lực của một số loài thảo mộc và nấm ký sinh phòng trừ nhện lông nhung (Eriophyes sp.) hại nhãn tiêu da bò tại tỉnh Tiền Giang” được thực hiện
1.2 Mục đích, yêu cầu, giới hạn đề tài
1.2.1 Mục đích
Xác định được loài thảo mộc và nấm ký sinh hiệu quả trong phòng trừ nhện lông
nhung (Eriophyes sp.), là tác nhân truyền bệnh chổi rồng trên nhãn tiêu da bò, góp
phần phòng trừ nhện trên nhãn bằng biện pháp sinh học
1.2.2 Yêu cầu
- Thu thập nhện lông nhung (Eriophyes sp.) tại vườn nhãn nhiễm chổi rồng
- Điều chế một số dịch trích thảo mộc
- Khảo nghiệm hiệu quả phòng trừ nhện lông nhung của một số dịch trích thảo mộc
- Theo dõi khả năng ký sinh nhện lông nhung của một số loài nấm gây bệnh côn trùng
1.2.3 Giới hạn đề tài
Đề tài được tiến hành từ tháng 3 đến tháng 7 năm 2013 Các thí nghiệm được thực hiện tại phòng thí nghiệm côn trùng bộ môn Bảo vệ thực vật-Viện Cây ăn quả miền Nam và vườn nhãn tại xã Dưỡng Điềm, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang với đối
tượng nghiên cứu là nhện lông nhung Eriophyes sp trên cây nhãn tiêu da bò
Trang 14Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Giới thiệu về cây nhãn
2.1.1 Nguồn gốc và phân bố nhãn trong và ngoài nước
Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng cây nhãn có nguồn gốc ở miền Nam Trung Quốc và cũng là nước có diện tích nhãn lớn và sản lượng vào loại hàng đầu trong các nước trồng nhãn Ngoài Trung Quốc, nhãn được trồng nhiều ở Thái Lan, Ấn Độ, Malaysia, Việt Nam, Philippines…Đến thế kỷ 19 nhãn mới được trồng ở châu Mỹ, châu Phi, châu Đại Dương ở các vùng nhiệt đới và á nhiệt đới (Trần Thế Tục, 2000) Diện tích trồng nhãn của Trung Quốc năm 1995 là hơn 80.000 ha, tập trung nhiều ở Quảng Đông, Quảng Tây, Phúc Kiến, Tứ Xuyên,Vân Nam…Ở Thái Lan, diện tích trồng nhãn là 31.855 ha với sản lượng hằng năm là 87.000 tấn, trồng chủ yếu ở các tỉnh phía Bắc: Chiang Mai, Lam Phun, Phrae (Trần Thế Tục, 2000)
Ở Việt Nam, cây nhãn đã được trồng rất lâu cách đây 300 năm ở miền Bắc (Vũ Công Hậu, 1982) Hiện nay, nhãn được trồng nhiều ở cả 2 miền Nam, Bắc Ở miền Bắc trồng nhiều ở Đồng bằng Bắc bộ Ở miền Nam tập trung ở Đồng bằng sông Cửu Long và ở các tỉnh Đồng Tháp, Sóc Trăng, Long An…Đặc biệt hai tỉnh Vĩnh Long và Bến Tre diện tích tăng nhanh và quy mô lớn (Trần Thế Tục, 2000)
2.1.2 Một số giống nhãn trồng
a Giống nhãn trong nước
Nhãn long: Bản lá to dày, lá kép có khoảng 4 cặp lá chét, trái to, hạt lớn, để lộ vết trắng, cơm mỏng, nước nhiều, ăn ngon thơm, giống này tỷ lệ phần thịt kém Có thể dùng làm gốc ghép vì sức sống mạnh Giống này đang bị loại dần trong sản xuất (Nguyễn Văn Kế, 2008)
Tiêu da bò: Màu vỏ vàng, cơm dày, ráo (ít nước), chùm lớn, có 5 cặp lá chét, bản lá nhỏ, thuôn nhọn, kích thước quả từ nhỏ đến trung bình, năng suất cao Thời gian nuôi
Trang 15quả dài nên thường làm 2 năm 3 vụ Những năm đầu thế kỷ 21 ghi nhận nhãn tiêu da
bò bị bệnh đọt chổi khá nhiều (Nguyễn Văn Kế, 2008)
Tiêu lá bầu: Lá tròn hơn tiêu da bò, 5 cặp lá chét Năng suất cao Thịt quả không ráo bằng tiêu da bò nên giá rẽ hơn (Nguyễn Văn Kế, 2008)
Tiêu trắng: Năng suất kém, chùm trái nhỏ và thưa, quả nhỏ, vỏ vàng nhạt Hạt nhỏ, cơm dòn, ngọt vừa (Nguyễn Văn Kế)
Tiêu hồng: Quả hơi dẹp theo bề nghiêng, gần cuống quả trước khi chín ửng hồng, cơm dòn ít nước, hạt trung bình (Nguyễn Văn Kế, 2008)
Tiêu me: Hạt nhỏ, cơm ngọt, dòn, ít nước, trái tròn dẹp (theo bề đứng) Điểm đặc biệt là vỏ, thân, cành có vết nứt trông giống vỏ cây me Giống này có năng suất thấp (Nguyễn Văn Kế, 2008)
Thái long tiêu: Đầu lá bầu, vỏ quả vàng nhạt, trái trung bình, hạt nhỏ, cơm dòn, thơm (Nguyễn Văn Kế, 2008)
Nhãn xuồng: Quả to, đường kính có thể vượt 3 cm, được trồng tại Bà Rịa Vũng Tàu, gần cuống lõm sâu, cơm ráo, dòn, thơm Có 2 loại: xuồng cơm trắng và xuồng cơm vàng (Nguyễn Văn Kế, 2008)
Nhãn bánh xe: Trồng tại Vũng Tàu, quả to, 15 – 19 g, cơm dày, hạt nhỏ, thịt quả dòn, có mùi thơm đặc trưng (Nguyễn Văn Kế, 2008)
Nhãn super: Lá dày, cứng, đọt non đỏ, quả nhỡ, màu vỏ vàng, hạt rất nhỏ, cơm ráo, dày, cây sinh trưởng khoẽ, dễ ra hoa và ra hoa nhiều đợt trong năm (Nguyễn Văn Kế, 2008)
Nhãn lồng Hưng Yên: Ở miền Bắc nước ta có 3 nhóm nhãn: nhãn nước, nhãn lồng, nhãn cùi Theo báo cáo của đại học Nông Nghiệp 1 thì trọng lượng quả biến động 6 –
14 g, trong đó nhãn lồng Hưng Yên là giống đã có từ lâu (Nguyễn Văn Kế, 2008)
Trang 16b Giống nhãn ở nước ngoài
Trung Quốc
Giống Chuliang: Quả lớn, nặng trung bình 12 – 16,5 g Thịt dày và ráo, phần ăn được 69 – 74%, độ brix 20 – 23%, thơm, tỉ lệ sấy khô quả là 35 – 38%, tỉ lệ thịt sấy khô 13 – 16%, khi sấy khô có màu vàng, cây cho quả sớm, năng suất cao và ổn định (Nguyễn Văn Kế, 2008)
Giống Fuyan: Quả lớn, vỏ mỏng, hột nhỏ, cơm ráo và dòn, năng suất cao, nhưng ăn nhạt, độ brix chỉ độ 15 – 16% nên rất tốt để đóng hộp (Nguyễn Văn Kế, 2008)
Giống Fengko: Năng suất cao, quả to, màu vỏ nâu vàng, thịt dày, ngọt, độ brix 20%, cuống quả dai (Nguyễn Văn Kế, 2008)
Thái Lan
Giống I Do (Daw): Giống cho quả sớm từ cuối thâng đến đầu tháng 7, năng suất cao và ổn định, không bị hiện tượng cách niên, không nhiễm bệnh “đọt chổi”, quả
to nhưng hột quá lớn, dùng để xuất tươi và chế biến, không neo quả lâu trên cây được
vì hột có thể nảy mầm ngay trong quả (Nguyễn Văn Kế, 2008)
Giống Si Chompoo: Giống cho quả lỡ chín từ giữa tháng 7 tới đầu tháng 8, quả trung bình, hình oval, vỏ nâu nhạt hơi xanh, hột nhỏ, thịt dày, màu hơi hồng, ngọt, độ brix 21 – 22%, ráo Khuyết điểm là năng suất thất thường, cây đòi hỏi chăm sóc nhiều (Nguyễn Văn Kế, 2008)
Giống Biao Khiao (Biew Khiew): Giống cho quả trễ, chín cuối tháng 8 đến tháng 9, quả tròn, màu xanh nâu, thịt dày dòn, thơm, ngọt, độ brix 22% Bất lợi là ra quả thất thường, nhiễm bệnh chổi cùn (Nguyễn Văn Kế, 2008)
2.2 Giới thiệu bệnh chổi rồng
Chổi rồng có tên tiếng Anh là “Witches‟broom” Ở nước ta, chổi rồng còn được gọi với tên khác nhau như tổ rồng, hoa tre, chổi xề, chổi ma (Trần Thế Tục, 2000) Tác nhân gây bệnh chổi rồng chưa được xác định,có nhiều ý kiến cho là do virus (Chen,
2001) hay do mycoplasma (Menzel và ctv., 1989) hoặc là do nhện Eriophyes dimocarpi (He và ctv., 2001)
Trang 17
Dù tác nhân chổi rồng chưa được xác định nhưng có một nhận định chung nhện
Eriophyes dimocarpi được xem là một nhân tố quan trọng, có thể là môi giới, việc
phòng trừ chúng có vai trò quyết định đến hiệu quả phòng trừ chổi rồng trên nhãn Bệnh chổi rồng chủ yếu gây trên các bộ phận non của cây nhãn (Chen và ctv., 2001), những lá non của chồi nhiễm bị nhỏ và có màu xanh với rìa lá cong, chúng có vẻ còi cọc và biến dạng có khuynh hướng cuộn lại Chồi trên những nhánh nhiễm co cụm lại
và phát hoa không thể mở rộng Hoa co cụm và phát triển bất thường và không thể hình thành quả hoặc phát triển thành những quả nhỏ hay quả rỗng Một triệu chứng đặc trưng của chổi rồng là hình dạng „chổi‟ trên chồi hoa lẫn chồi lá (Menzel và ctv., 1989) Hiện nay, bệnh chổi rồng được ghi nhận ở Trung Quốc, Hongkong và Đài Loan, Thái Lan và Brazil (Menzel và ctv., 1989) Ở miền Bắc Việt Nam, chổi rồng được ghi nhận hơn một thập niên trước đây (Đặng Vũ Thanh và Hà Minh Trung, 2007) trong khi đó ở miền Nam được ghi nhận muộn hơn vào năm 2003 - 2004 ở Đồng Nai (Mai Văn Trị, 2004) Ở nước ta, chổi rồng được ghi nhận trên hầu hết vùng trồng nhãn quan trọng ở cả 3 miền
Hình 2.1: Chồi hoa bị chổi rồng
Trang 182.3 Một số loài nhện Eriophyes sp
2.3.1 Giới thiệu bộ nhện Acari
Acari là bộ nhện nhỏ (để phân biệt với bộ nhện lớn Araneae) của lớp nhện Arachnida, có gần 540 họ, 124 liên họ, 5.500 chi và 1.200 loài (Lindquist và ctv., 2009) Nhện nhỏ không có râu, giai đoạn thành trùng và ấu trùng có 4 cặp chân, ngoài trừ họ Eriophyidae chỉ có 2 cặp chân (Nguyễn Văn Đĩnh, 2002)
Nhện nhỏ gây hại cây trồng chủ yếu thuộc vào 2 tổng họ Tetranychoidea và Eriophyoidea Có rất nhiều công trình nghiên cứu về tập tính gây hại của những loài nhện hại có ý nghĩa kinh tế cũng như khả năng phòng chống chúng trong sản xuất nông nghiệp thường thấy ở các nước Pháp, Mỹ, Hà Lan, Nhật Bản, (Nguyễn Văn Đĩnh, 2002) Tại Việt Nam, nhện nhỏ gây hại trên một số cây trồng quan trọng trong thời gian qua chủ yếu là các loài thuộc họ Eriophyidae
Nhện Eriophyidae xuất hiện ở châu Mỹ, châu Phi và châu Á (Meyer, 1981); Hawai, Pakistan, Việt Nam, (Nguyễn Văn Đĩnh, 2002)
2.3.2 Nhện Eriophyes litchii Keifer (Acari: Eriophyidae)
Đặc điểm hình thái
Nhện nhỏ hình củ cải cà rốt màu trắng ngà, chiều dài 120-170 µm, chiều rộng
35-40 µm, phía cuối cơ thể thon dần Phía trước cơ thể có 2 đôi chân, vuốt bàn chân 5 tia Trên mặt lưng có 70-72 ngấn cắt ngang (Nguyễn Văn Đĩnh, 2002; Vũ Khắc Nhượng, 2005) Trứng rất nhỏ, màu trắng (Phạm Văn Biên và ctv., 2004)
Đặc điểm sinh học
Thời gian phát dục của trứng nhện 2,5 ngày, nhện non tuổi 1 là 2-3 ngày, nhện non tuổi 2 là 6 ngày, thời gian trưởng thành trước đẻ trứng là 1,5 ngày Vòng đời 13-19 ngày Đỉnh cao mật độ nhện thường xuất hiện trùng với đợt ra lộc rộ của cây vải Tuy nhiên nhiệt độ cao kèm theo ẩm độ cao và mưa lớn là không thuận lợi đối với sự phát triển quần thể nhện (Nguyễn Văn Đĩnh, 2002) Nhện lông nhung có vòng đời 8-10 ngày, trong một năm có thể hoàn thành 13-15 thế hệ (Vũ Khắc Nhượng, 2005)
Nhện thường phát triển mạnh vào giai đoạn khi cây ra các đọt non và mật số tăng cao vào tháng 4-5 dương lịch (Vũ Khắc Nhượng, 2005) Vụ vải xuân nhện lông nhung phát triển gây hại nặng hơn vụ hè thu và vụ đông (Phạm Văn Biên và ctv., 2004)
Trang 19Nhện trưởng thành đẻ trứng dưới gốc các sợi lông nhung, nhện non nở ra lại tiếp tục sống dưới lớp lông nhung cho tới khi trưởng thành, cứ như vậy đến lứa nhện thứ
ba, chúng mới di chuyển tìm nơi ở mới Nhện lông nhung có thể tự di chuyển từ nơi ở
cũ sang nơi ở mới nhưng phạm vi hẹp và di chuyển nhờ gió (Đào Đăng Tựu và Trần Huy Thọ, 2008)
2.3.3 Nhện lông nhung Eriophyes dimocarpi Kuang (Acari: Eriophyidae)
Đặc điểm hình thái
Cơ thể nhện E dimocarpi được chia làm 3 phần cơ bản gồm: Đầu giả với phần
miệng Phần thân trước với hai cặp chân Phía lưng có khiên lưng, với cặp lông khiên hai bên Hai cặp chân nhện hướng về phía trước, mà có thể thấy được từ pha ấu trùng Cuối chân là phần vuốt Phần vuốt có dạng đơn giản với 5 tia Phần thân sau có cơ quan sinh dục và kết cấu đuôi Trưởng thành cái có lổ đẻ trứng nằm ở phần đầu của phần thân sau gần với cuối phần thân trước Bề mặt của phần thân sau hiện diện nhiều nếp nhăn Vòng phía bụng và vòng phía lưng không giống nhau Vòng phía lưng nếp
nhăn có các nốt dạng elip Phần đuôi không có lông (h1) Chiều dài ấu trùng tuổi 1
trung bình 56,10±0,54 µm, ấu trùng tuổi 2 trung bình 78,90±0,50 µm, trưởng thành
trung bình 132,25±0,66 µm (Mai Văn Trị và ctv., 2012)
Trang 20Đặc điểm sinh học
Thời gian phát dục của trứng nhện (Eriophyes sp.) 3-7 ngày, ấu trùng tuổi 1: 1-2
ngày, ấu trùng tuổi 2: 4-6 ngày, vòng đời: 8-15 ngày (Trần Thị Mỹ Hạnh và ctv., 2012) Chu kỳ sống của nhện là 5,97±0,89 ngày Số trứng do một con cái đẻ và mức
đẻ trứng trung bình là 2,37±0,61 trứng và 0,99±27 trứng/ con cái/ ngày (Mai Văn Trị
và ctv., 2012)
Mật số nhện trên tán hướng Đông, Tây, Nam và Bắc khác biệt không có ý nghĩa trong tháng 4 nhưng khác biệt trong tháng 10 dương lịch Mật số nhện trên lá trưởng thành cao hơn so với các lá non hơn Mật số nhện tăng cao trong mùa khô (tháng 11-4), đạt đỉnh vào tháng 4 và giảm thấp trong mùa mưa (tháng 5-10), thấp nhất vào tháng
10 (Mai Văn Trị và ctv., 2012) Tại ĐBSCL mật số nhện lông nhung cao vào các tháng 2-5 và 11-12 dương lịch Mật số nhện thấp vào các tháng 6-10 dương lịch Nhện
đẻ rải rác từng trứng một ở mặt dưới của lá non gần gân chính của lá Nhện thường tập trung gần gân chính của lá, thường xuất hiện mặt dưới của lá, ở lá non, lá gần già, lá già và xuất hiện nhiều trên các chồi xoắn lại (Trần Thị Mỹ Hạnh và ctv., 2012)
Nghiên cứu về phổ ký chủ của nhện ghi nhận đối với các loài cỏ hiện diện trên vườn nhãn nhiễm chổi rồng có 3 loài có sự hiện diện của nhện: bồ ngót, bóng nẻ và một loài thân bụi Nhện xuất hiện chủ yếu trên lá non và lá lụa, triệu chứng biểu hiện trên các loại cây ký chủ có khác so với trên cây nhãn (Nguyễn Thị Kim Thoa và ctv.,
2007) Ngoài nhãn, nhện lông nhung (Eriophyes sp.) còn hiện diện trên cây chôm
chôm (Trần Thị Mỹ Hạnh và ctv., 2012)
Cách gây hại
Nhện lông nhung Eriophyes dimocarpi là tác nhân gây bệnh chổi rồng trên nhãn
(He và ctv., 2001; Feng và ctv., 2005), nhện được xác định là môi giới hay tác nhân của chổi rồng (Vũ Mạnh Hà và ctv., 2007)
Đánh giá mối tương quan giữa bệnh chổi rồng và mật số nhện lông nhung giữa các vùng khác nhau tại ĐBSCL kết quả nhận thấy tỷ lệ bệnh cao nhất tương ứng với trung bình mật số nhện lông nhung trên lá cao nhất Điều này khẳng định nhện lông nhung
có liên quan rất mật thiết với bệnh chổi rồng trên nhãn (Trần Thị Mỹ Hạnh, 2012), theo kết quả của He ctv (2001) báo cáo sau 14-20 ngày lây nhiễm nhện lên cây con sạch bệnh tìm thấy 50% cây con nhiễm bệnh
Trang 212.3.4 Nhện Phyllocoptruta oleivora Ashmead (Acari: Eriophyidae)
Đặc điểm hình thái
Thành trùng màu vàng tươi, cơ thể dẹp, thon dài có hình dạng củ cà rốt, có kích thước nhỏ, con cái dài khoảng 100 μm Nhện có 2 cặp chân, phần đuôi nhọn có 2 lông dài Trứng rất nhỏ, tròn màu trắng Ấu trùng rất nhỏ, màu vàng, có dạng củ cà rốt với 2 cặp chân ngắn đưa ra phía trước đầu (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2000), vuốt bàn chân có 5 tia Nguyễn Văn Đĩnh (2002)
Đặc điểm sinh học
Thành trùng đẻ trứng vào những phần lõm trên trái và trên bề mặt lá (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2000) Nguyễn Văn Đĩnh (2002) ghi nhận trứng nhện đẻ rải rác trên trái hoặc gần gân chính lá Nhện non có 2 tuổi Nhện có thời gian các pha phát dục ngắn Tại nhiệt độ 30°C thời gian phát triển của các pha ngắn hơn ở 25°C (Bảng 2.1)
Bảng 2.1 Thời gian các pha phát triển (ngày) của nhện ở nhiệt độ 25°C và 30°C
Pha phát
triển
Nhiệt độ 25°C Nhiệt độ 30°C
N % nở và sống sót
Thời gian (ngày)
n % nở và
sống sót
Thời gian (ngày) Trứng 60 93,33 4,88±0,21 60 98,30 3,68±0,04 Tuổi 1 56 94,64 3,96±0,15 59 96,61 2,14±0,03 Tuổi 2 53 98,11 3,84±0,15 57 89,47 1,57±0,03 Vòng đời 36 - 13,88±0,22 33 - 8,24±0,21 Tuổi thọ
- Đực 15 - 20,40±1,10 16 - 13,41±0,95
- Cái 16 - 25,07±1,32 33 - 17,50±0,89 (Nguồn: Nguyễn Thị Phương, 1997)
Tỷ lệ sống của con cái rất cao, ở cả 2 ngưỡng nhiệt độ đều đạt 97% khi bắt đầu đẻ trứng Số lượng trứng đẻ trong ngày cao nhất đều thuộc vào ngày thứ 4 và thứ 5 sau khi đẻ quả trứng đầu tiên Sau đó số lượng trứng đẻ giảm dần và dừng hẳn ở thời điểm
32 ngày và 22 ngày tương ứng với nhiệt độ 25°C và 30°C (Nguyễn Văn Đĩnh, 2002) Điều kiện nóng và ấm rất thích hợp cho nhện phát triển (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2000)
Cách gây hại
Trang 22Nhện Phyllocoptruta oleivora Ashmead tấn công nặng làm trái nhỏ, mất nước
(McCoy và ctv., 1976), trái rụng (Allen, 1978), thay đổi chất lượng nước trái (McCoy, 1976) Cả thành trùng và ấu trùng nhện tập trung chích hút dịch vỏ trái, làm cho vỏ trái biến màu, chuyển sang màu xỉn, màu “xi măng” hoặc màu nâu đen, thường gọi là
“rám/ nám trái” Triệu chứng hại điển hình là khi trái đủ lớn vỏ trái có màu xám bạc, mất màu xanh hoặc vàng đặc trưng (Nguyễn Văn Đĩnh, 1994) Trái bị gây hại thường
có vỏ dày hơn và nhỏ hơn bình thường Khi mật số cao, nhện cũng gây hại trên lá và cành non Do chu kỳ sinh trưởng rất ngắn nên nhện có khả năng bọc phát rất nhanh (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2000)
Các tuổi cây khác nhau tỷ lệ hại và chỉ số hại khác nhau rõ rệt, tuổi càng cao tỷ lệ hại và chỉ số hại càng cao Tỷ lệ hại và chỉ số trái rám bên trong tán cây cao hơn hẳn bên ngoài rìa tán cây (Nguyễn Văn Đĩnh, 2002), nhện tập trung nhiều trên phần vỏ trái hướng ra phía ngoài tán lá (trảng) (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2000)
Thiên địch
Thiên địch của nhện Phyllocoptruta oleivora là nấm Beauveria bassiana (Alves và ctv., 2005); côn trùng Acaromyces ingoldii, Meira geulakonigii, (Paz và ctv., 2009), Feltiella sp., Lestodiplosis sp (Villanueva và ctv., 2006), Amblyseius herbicolus
(Argov và ctv., 2002)
2.4 Giới thiệu một số nấm gây bệnh côn trùng
Bệnh nấm ở côn trùng được Reaumur ghi nhận từ năm 1726 Đến gần cuối thế kỷ
20, trên thế giới đã mô tả được hơn 750 loài nấm gây bệnh cho côn trùng trong tổng số khoảng 100.000 loài nấm (trích dẫn từ Võ Thị Thu Oanh, 2010)
Audouin là người đầu tiên đề xuất dùng nấm bạch cương Beauveria bassiana để trừ côn trùng hại vào năm 1837 Nấm lục cương Metarhizium anisopliae được nghiên
cứu để trừ bọ hung hại lúa mì từ năm 1879 (Phạm Văn Lầm, 2006)
Nấm gây bệnh côn trùng thuộc nhiều nhóm khác nhau của tất cả các lớp nấm, trong
đó tập trung chủ yếu ở ngành nấm thật Mycobionta, ngành phụ lớp nấm bất toàn Deuteromycetes Dựa theo đặc điểm hình thái, lớp nấm bất toàn chia làm 4 bộ, trong
đó bộ nấm bông Moniliales có số loài nhiều nhất, khoảng trên 7.000 loài, chia làm 4
họ (nấm bông, nấm bông sẫm, nấm bó, nấm đệm), trong đó có nấm bông Moniliaceae
có rất nhiều loài ký sinh và gây bệnh cho côn trùng, tập trung chủ yếu ở một số chi
Trang 23Beauveria, chi Metarhizium và chi Paecilomyces ký sinh chủ yếu trên côn trùng bộ
Cánh cứng, bộ Cánh vẩy, bộ Cánh nửa,…(Phạm Thị Thùy, 2004)
Các loài nấm ký sinh gây hại trên nhện hoặc các loài chân khớp khác cũng được xếp vào nhóm nấm côn trùng vì cách thức xâm nhập, gây độc cho ký chủ, sinh sản, sinh bào tử là tương tự nhau (Lê Tấn Hưng, 2010)
2.4.1 Điều kiện để nấm tấn công côn trùng
Độ ẩm là nhân tố mấu chốt cho nấm xâm nhiễm, phải nắm vững mùa có độ ẩm cao
và môi trường có độ ẩm cao để thả nấm (Trần Văn Mão, 2004)
Theo Nguyễn Ngọc Tú và Nguyễn Cửu Thị Hương Giang (1997), bệnh dịch nấm phát triển được thì ngoài điều kiện thời tiết thuận lợi còn cần yếu tố mật độ côn trùng cao và tình trạng sinh lí yếu của chúng
2.4.2 Phương thức xâm nhiễm và phát triển của nấm ký sinh côn trùng
Sự xâm nhiễm và phát triển của nấm bên trong cơ thể côn trùng là một quá trình phức tạp, gồm ba giai đoạn chính như sau:
- Giai đoạn xâm nhập: từ khi bào tử nấm mọc mầm đến lúc hoàn thành việc xâm nhập vào trong cơ thể côn trùng
- Giai đoạn phát triển của nấm trong cơ thể côn trùng đến khi côn trùng chết: trong giai đoạn này nấm thường tạo ra rất nhiều những sợi nấm ngắn Những sợi nấm ngắn này được phân tán khắp cơ thể theo dịch máu Về phía vật chủ chỉ có phản ứng tự vệ, phản ứng tự vệ này chỉ trong một thời gian ngắn kìm hãm sự xâm nhập của nấm vào các nội quan Khi các sợi nấm xâm nhập vào tất cả các bộ phận thì chúng đồng thời gây chết vật chủ
- Giai đoạn sinh trưởng phát triển của nấm sau khi vật chủ chết: đây là giai đoạn hoại sinh của nấm ký sinh côn trùng Trong giai đoạn này nấm hình thành bào tử hoặc conidi, hoặc nấm mọc thành sợi ra bên ngoài cơ thể vật chủ Sau đó các bào tử được tạo thành trên lớp sợi nấm ở bề mặt cơ thể vật chủ
2.4.3 Đặc tính loài nấm Paecilomyces sp ký sinh côn trùng
Trang 242.4.3.1 Nguồn gốc, phân loại và phân bố
Nấm Paecilomyces được phân lập trên côn trùng ngủ nghỉ trong đất Trên thế giới
có rất nhiều loài, phân bố rất rộng Nấm Paecilomyces tương tự như nấm mốc xanh Penicillium và nấm chồi Gliocladium (Trần Văn Mão, 2002)
Theo hệ thống phân loại nấm của Anisworth (1966, 1970, 1971) thì nấm
Paecilomyces thuộc ngành phụ lớp nấm bất toàn Deuteromycetes, giống Paecilomyces Theo Bainier (1907) báo cáo Paecilomyces sp là một loại nấm sợi phổ biến sinh
sống trong đất, trên thực vật mục nát và các sản phẩm thực phẩm, chúng được coi như một chất gây ô nhiễm mà còn có thể gây nhiễm trùng ở người và động vật qua hình thức sống ký sinh
Trên thế giới, nấm Paecilomyces có khoảng 31 loài, trong đó có thể kể đến là Paecilomyces javanicus, Paecilomyces tenuipes, Paecilomyces amoeneroseus, Paecilomyces lilacinus, (Samson, 1974) Paecilomyces có phổ ký sinh côn trùng
rộng, cả vùng nhiệt đới Loài nấm này được thu thập từ đất ở Nam Phi, Nepal, Nhật
Bản, Brazil và Mỹ Liang (1981) báo cáo nấm Paecilomyces sp đã được phân lập,
nấm này có thể ký sinh trên nhiều loài thuộc bộ Cánh cứng, bộ Cánh nửa cứng, bộ Cánh màng, bộ Cánh vẩy và bộ Hai cánh
2.4.3.2 Đặc điểm hình thái, sinh học của nấm Paecilomyces sp
Khuẩn lạc của nấm Paecilomyces sp có dạng thảm nhung hoặc bó sợi, màu sắc của
khuẩn lạc cũng thay đổi khác nhau, có thể màu trắng, hồng nhạt, tím đinh hương, nâu vàng, nâu xám, thỉng thoảng có màu lục nhạt Cuống bào tử của nấm phân sinh, phân
nhánh, mức độ phân nhánh của nấm Paecilomyces sp thường lớn hơn nấm mốc xanh Penicillium, gốc cuống dạng bình, phình to, phía trên nhỏ và uốn cong Cuống bình
thường sắp xếp dạng vòng hoặc không đồng đều Bào tử phân sinh đơn bào, hình bầu dục, không màu, mọc thành chuỗi, bề mặt nhẵn hoặc có gai (Trần Văn Mão, 2004)
Nấm Paecilomyces sp rất cần dưỡng chất trong quá trình phát triển, nếu thiếu
dưỡng chất sẽ làm giảm khả năng gây bệnh đối với côn trùng Nhiệt độ và ẩm độ cũng
ảnh hưởng tới sự hình thành và phát triển của bào tử nấm Paecilomyces Nhiệt độ thấp
sẽ làm tăng khả năng sinh bào tử và có lợi cho việc duy trì sự sống của nấm, tuy nhiên
ẩm độ cao sẽ có lợi cho bào tử nảy mầm và sự sinh trưởng của sợi nấm Nấm ký sinh
côn trùng nói chung rất cần có ánh sáng cho sự phát triển và nấm Paecilomyces sp
Trang 25cũng không ngoại lệ Ánh sáng là nhân tố không thể thiếu trong sự hình thành bào tử
của nấm Paecilomyces sp (Trần Văn Mão, 2004)
2.4.3.3 Yếu tố môi trường ảnh hưởng đến sự ký sinh của nấm Paecilomyces sp
Nấm bất toàn nói chung và nấm Paecilomyces nói riêng thuộc loại kiêm ký sinh
Khi không có côn trùng chúng sống theo phương thức hoại sinh, hút chất dinh dưỡng hữu cơ từ đất Nhiều nhân tố môi trường ảnh hưởng đến sinh trưởng và hoạt động ký sinh của chúng, chủ yếu là chất dinh dưỡng, nhiệt độ, độ ẩm, pH và ánh sáng
Chất dinh dưỡng: Ảnh hưởng của chất dinh dưỡng đến nấm biểu hiện ở khả năng nẩy mầm của bào tử, sinh trưởng của sợi nấm và sự hình thành bào tử Các loài nấm
bất toàn như nấm bạch cương (Beauveria Vuill.), nấm lục cương (Metarhizium Sorokin.), nấm tựa mốc xanh (Paecilomyces Bainier.) khi nảy mầm rất cần chất dinh
dưỡng, nếu để trong nước cất thì chúng nảy mầm rất ít hoặc rất chậm Chất dinh dưỡng liên quan mật thiết với khả năng gây bệnh Liang (1981) ghi nhận nấm
Paecilomyces tenuipes khi thêm vào 15% bột ngô tỷ lệ ký sinh bào tử P papillata tăng
lên đến 92%, trong khi đó thêm maltoza 7% tỷ lệ sâu chết chỉ đạt 41% và chế phẩm có bột ngô để trong 7 tháng có thể làm tăng khả năng gây bệnh (Trần Văn Mão, 2004) Nhiệt độ và độ ẩm: Nhiệt độ và ẩm độ là những nhân tố quan trọng cho nấm sinh trưởng Nói chung phạm vi nhiệt độ của nấm khoảng 5-350C, thích hợp nhất là 20-
300C, nếu nhiệt độ thấp hơn chúng sinh trưởng chậm, nếu nhiệt độ cao hơn chúng sinh
trưởng nhanh, nấm chóng già yếu Khi nuôi Paecilomyces farinosus ở điều kiện nhiệt
độ khác nhau cho thấy nhiệt độ 150C có lợi cho sự hình thành bào tử hơn là nhiệt độ
240C Nấm P papillata nhiệt độ thích hợp nhất là 24-260C, nhưng ở nhiệt độ 180
C tỷ
lệ ký sinh cao hơn 18% so với nhiệt độ 250C Nguyên nhân này có thể do nhiệt độ thấp làm giảm quá trình dị hóa làm tăng quá trình đồng hóa từ đó làm tăng hoạt chất của cá thể Độ ẩm cao có lợi cho bào tử nảy mầm và sinh trưởng của sợi nấm, nhưng nhiệt độ thấp lại có lợi cho sự duy trì sự sống của nấm Bào tử phân sinh của nấm tựa mốc xanh khi độ ẩm 0% và 34% có khả năng sống lâu hơn khi độ ẩm 75% (Trần Văn Mão, 2004)
Trị số pH: Nấm thích hợp với điều kiện hơi chua đến trung tính Chúng nẩy mầm tốt nhất là pH 4,5- 6,5, phạm vi thích hợp là 3- 8 Nếu lợi dụng hợp chất cacbon thì cần
Trang 26pH thấp, còn lợi dụng protein thì cần pH cao Vì vậy khi thử nghiệm không chỉ xác định pH ban đầu mà còn xác định lần cuối (Trần Văn Mão, 2004)
Ánh sáng: Có tác dụng xúc tiến bào tử nảy mầm và hình thành bào tử, mặt khác ánh sáng cũng có tác dụng ức chế và diệt nấm.Tia tử ngoại có thể giết chết bào tử, nếu coi nhẹ vấn đề này khi phòng trừ có thể gặp thất bại Ánh sáng là nhân tố không thể
thiếu được để hình thành bào tử Paecilomyces (Trần Văn Mão, 2004)
2.4.3.4 Đặc tính diệt côn trùng của nấm Paecilomyces sp
Khả năng tiết độc tố
Theo Osborne và ctv (1990) cho rằng Paecilomyces fumosoroseus có khả năng gây chết loài Bemisia tabaci và Bemisia argentifolii trong vòng 24 - 48 giờ nhờ tiết ra
các độc tố gây hại
Dipicolinic acid (DPA) là chất dẫn xuất của pyridine được tiết ra bởi hầu hết các
loại nấm ký sinh côn trùng như Beauveria bassiana, Paecilomyces farinosus, P fumosoroseus và Verticillium lecanii (Shima, 1955) DPA có vai trò quan trọng như là
một nhân tố độc cho côn trùng, nhất là đối với nhộng của rầy phấn trắng
Triệu chứng biểu hiện nhiễm nấm của côn trùng
Theo Padmaja (2006) ghi nhận khi côn trùng bị nhiễm nấm thì chúng sẽ ngưng vận động từ 2 - 3 ngày, thậm chí một tuần, trước khi nấm phát triển dày đặc trong toàn bộ
cơ thể côn trùng, khi vật chủ chết, bào tử nấm sẽ mọc bao quanh bên ngoài làm cho cơ thể côn trùng có màu tím, thân hơi cứng lại, sau đó cơ thể khô và chỉ còn lại lớp vỏ Côn trùng bị bệnh nấm khi chết thường có màu hồng, vàng nhạt và trắng, thân hơi cong lại, màu sắc này phụ thuộc vào màu sắc của bào tử nấm gây bệnh Đối với nấm
bất toàn Deuteromycetes ký sinh trên côn trùng trong đó nấm Paecilomyces tấn công
côn trùng, sau khi vật chủ chết, bào tử nấm sẽ mọc bao quanh bên ngoài làm cho cơ thể côn trùng có màu tím, thân hơi cứng lại
2.4.3.5 Những thành tựu và ứng dụng của nấm Paecilomyces sp
Theo Wei - Bing và Ming - Guang (2004) đã sử dụng 10 nấm Paecilomyces fumosoroseus, Beauveria bassiana, Metarhizium anisoplidae để thử hiệu lực gây chết trên trứng nhện đỏ Tetranychus cinnabarinus được lấy từ tự nhiên tách trên lá đậu cho
trên agar trong đĩa petri đặt trong nhiệt độ 250C, pha sáng 12:12 (sáng:tối) Dịch lơ lửng của bào tử sản xuất bởi gạo được phun lên lá, tập trung sinh ra bào tử đính (bào
Trang 27tử/mm2) từ thấp đến cao cho mỗi dòng nấm với 3 hoặc 4 lần lặp lại (30-65 trứng/lá hoặc lần lặp lại) Quan sát giai đoạn sau khi phun suốt 12 ngày, những trứng nhiễm co lại không còn nhìn thấy rõ hình dạng, sau đó trở lại màu đỏ nâu với những nấm
Paecilomyces fumosoroseus và Beauveria bassiana hoặc màu xám tối đối với nấm Metarhizium anisopliae và cuối cùng sau phun nấm thì bào tử mọc nhanh khi được duy trì dưới tình trạng ẩm độ nhất định Theo phân tích thống kê cho thấy Beauveria bassiana Bb2860 với LC50 của 548 bào tử/mm2 được lây nhiễm cao đến trứng của
nhện đỏ Tetranychus cinnabarinus, tiếp theo Paecilomyces fumosoroseus Pfr116 (848
bào tử/mm2
) và Pfr153 (913 bào tử/mm2
) Hai dòng Metarhizium anisopliae với LC50
của 1717 và 1985 bào tử/mm2 được trên dưới 3 dòng Những dòng khác nghèo hoặc rất nghèo trong hoạt động diệt trứng
Các nhà khoa học Ấn Độ đã nghiên cứu khả năng ký sinh nhện của nấm
Paecilomyces fumosoroseus (Wise) và hiện nay đã sản xuất được chế phẩm dạng bột
thấm nước có tên thương mại là “Mycomite” để phòng trừ nhện đỏ (Lê Tấn Hưng, 2010)
Nấm Paecilomyces ký sinh trên nhiều loài côn trùng thuộc bộ cánh Cứng, Nửa
Cứng, cánh Màng, cánh Vẩy và bộ Hai Cánh Người ta đã sản xuất chế phẩm Pelomin
để phòng trừ ngài đục quả táo, sâu róm thông (Trần Văn Mão, 2004)
Các nhà khoa học Liên Xô (cũ) cũng đã xác nhận khả năng sử dụng chế phẩm nấm
Paecilomyces farinosus để chống lại sinh vật hại thân cây, rễ cây cũng như các sinh
vật hại lá, mầm cây ở vùng rừng Ircus và vùng tự trị Buriachia đạt tỷ lệ chết 96-100%
Và đã thấy rằng, khả năng thay thế chất độc hóa học nguy hiểm đối với thiên nhiên bằng các nhân tố sinh học trong mục đích bảo vệ rừng là rất đáng được lưu ý (Nguyễn Ngọc Tú và Nguyễn Cửu Thị Hương Giang, 1997)
2.4.4 Đặc tính của loài nấm Beauveria bassiana ký sinh côn trùng
2.4.4.1 Nguồn gốc và phân bố
Nấm Beauveria bassiana thuộc lớp Hyphomycetes, bộ Moniliales Chi nấm Beauveria thường gọi tên là nấm bạch cương vì nấm có màu trắng hoặc nấm trắng
Nấm bạch cương có phạm vi kí chủ rộng, có thể gây bệnh cho hơn 700 loài thuộc 149
họ, 15 bộ côn trùng, hơn 10 loài nhện (Zhang, 1999)
Trang 28Trên thế giới, nhiều nước đã sản xuất thành chế phẩm với tên thương mại là Boverin như Liên Xô, Mỹ,…Ở Việt Nam, Viện Bảo vệ thực vật đã đăng ký trong danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng với tên Boverit từ năm 2001 Trong chi này có 3
loài chính có khả năng diệt côn trùng đó là Beauveria bassiana, Beauveria tenella, Beauveria brongniartii Trong 3 loài nấm thì loài Beauveria bassiana chiếm 80-90%
tỷ lệ ký sinh trên côn trùng hại cây trồng nông, lâm nghiệp (Phạm Thị Thùy, 2004)
2.4.4.2 Đặc điểm hình thái của nấm Beauveria bassiana (Bb)
Nấm Bb sinh ra những bào tử trần đơn bào, không màu, hình cầu hoặc hình trứng, đường kính từ 1-4 micron, sợi nấm có đường nằm ngang từ 3-5 micron phát triển mạnh trên môi trường nhân tạo hoặc trên cơ thể côn trùng Chúng mang nhiều giá sinh bào tử, phồng to ở phía dưới với kích thước 3-5 x 3-6 micron Các giá bào tử trần thường tạo thành các nhánh ở phần ngọn hoặc trực tiếp tạo thành nhánh của giá, phần ngọn của bào tử có dạng cuống hẹp hình zích zắc không đều (Phạm Thị Thùy, 2004)
2.4.4.3 Các yếu tố môi trường ảnh hưởng đến ký sinh của nấm Bb
Tương tự như nấm Paecilomyces sp., nấm Bb cũng bị tác động bởi nhiều yếu tố
môi trường, chủ yếu là chất dinh dưỡng, nhiệt độ, độ ẩm, pH và ánh sáng
Chất dinh dưỡng: Nấm bạch cương nảy mầm rất tốt trong môi trường có đường mía và peptone.Trong các loại đường nói chung, đường glucoza luôn luôn là nguồn cacbon khá tốt cho các loài nấm, nấm bạch cương sử dụng glucoza trong đường đơn rất tốt, nhưng sử dụng xyloza lại rất kém; trong đường đôi chúng sử dụng đường mía
và đường matoza khá tốt như đường lactoza lại rất kém; đối với xenluloza hầu như chúng không sử dụng Với acid sử dụng acid hữu cơ (lactic) rất kém, nhưng sử dụng glycerin (3 cacbon) và 6 cacbon rất tốt Nấm bạch cương yêu cầu nito hữu cơ và vô cơ, trong nito vô cơ sử dụng NO3
tốt hơn là NH4 Trong nito hữu cơ thì lân là nhân tố quan trọng làm tăng sản lượng nấm bạch cương, trong giai đoạn sinh trưởng hàng loạt sợi nấm, sử dụng C, N rất rõ rệt, nhưng đến khi sợi nấm đứt ra hình thành bào tử đốt, nhu cầu C, N giảm dần còn P lại tăng lên (TrầnVăn Mão, 2004)
Nhiệt độ và ẩm độ: Nhiệt độ và ẩm độ là hai yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự phát triển của nấm Nhiệt độ thích hợp cho nấm phát triển trong phạm vi 20- 300C, bào
tử phân sinh nấm bạch cương khi độ ẩm 0% và ở độ ẩm 34% nấm có khả năng sống lâu hơn ở 75% (TrầnVăn Mão, 2004)
Trang 29Trị số pH: Nấm bạch cương có tính thích nghi rộng, phạm vi nảy mầm là pH 3- 9,4, nảy mầm nhiều nhất là pH 4,4, tốc độ nảy mầm cũng nhanh nhất Sợi nấm sinh trưởng ở pH 4,5- 5,0, hình thành bào tử tốt nhất ở pH 6 (TrầnVăn Mão, 2004)
Ánh sáng: Nấm gây bệnh côn trùng phát triển tốt trong điều kiện ánh sáng yếu, tuy nhiên bào tử nấm bạch cương có tính thích nghi khá mạnh dưới ánh sáng mặt trời, sau
91 giờ dưới nắng mới có khả năng mất sức sống Ở nhiệt độ 320C dưới nắng trong 5 giờ có thể mới mất sức sống, ánh sáng tán xạ có tác dụng kích thích bào tử nảy mầm, sinh trưởng sợi nấm và hình thành bào tử (TrầnVăn Mão, 2004)
2.4.4.4 Độc tố và cơ chế tác động của nấm Bb
Độc tố của nấm Bb là Boverixin, vòng Depxipeptit có điểm sôi 93-94o
C Công thức nguyên tử là C45H57O9N3 Nếu nuôi cấy trong 1 lít môi trường, các nhà khoa học tách được 1,5-3,8 gam độc tố Boverixin (Phạm Thị Thùy, 2004)
Cơ chế tác động của nấm Bb lên cơ thể côn trùng Trong tự nhiên, khi bào tử nấm
Bb rơi vào cơ thể côn trùng, gặp điều kiện thời tiết thích hợp, chỉ sau 12-24 giờ thì bào
tử nấm nảy mầm, chúng hình thành sợi đâm xuyên qua lớp vỏ kitin sau đó phát triển bên trong cơ thể của côn trùng, côn trùng phải huy động các tế bào bạch huyết để
chống đỡ, nhưng nấm Beauveria đã tiết ra độc tố Boverixin có chứa proteaza và một
số chất khác phá hủy ngay tế bào bạch huyết làm cho sâu chết, sợi nấm mọc rất nhiều trong cơ thể sâu và sau đó chui ra ngoài, tạo một lớp bào tử trên cơ thể sâu (Phạm Thị Thùy, 2004)
Thời gian ủ bệnh của nấm Bb ký sinh nhện Polyphagotarsonemus latus kéo dài
trên 3 ngày ở mật số 125 con/ lá Hiệu quả ký sinh của nấm Bb cao khi mật số nhện cao trên 50 con/ lá (Penã và ctv.,1996)
2.4.4.5 Những thành tựu và ứng dụng của nấm Bb
Trên thế giới, trong các loại nấm ký sinh gây bệnh cho côn trùng, Beauveria
bassiana là loại nấm được quan tâm phát triển và ứng dụng nhiều do có phổ ký chủ
rộng, ký sinh gây chết cho nhiều loại sâu hại cây trồng nông lâm nghiệp đã và đang được nghiên cứu ứng dụng rộng rãi trên thế giới như tác nhân phòng trừ sinh học Loại nấm này đang được sử dụng trong việc phòng trừ nhiều loại sâu hại trên đồng ruộng
như rầy hại lúa, sâu tơ, bọ cánh cứng hại khoai tây, bọ xít Blissus, bọ phấn,bọ trĩ, nhện
đỏ, sâu khoang, rầy xanh, rệp phấn, mối, bọ cánh cứng hại dừa, cào cào và mọt hại kho
Trang 30ở nhiều quốc gia trên thế giới như Hà Lan, Phần Lan,Thủy Điển, Philippines, Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc, Úc, New Zealand, Braxin, Trung Quốc và Ấn Độ (Võ Thị Thu Oanh, 2010) Hiện nay, nhiều nước trên thế giới đã sản xuất thành công và thương
mại hóa các chế phẩm sinh học từ nấm Beauveria bassiana như Ostrinil, Boverin,
BotaniGard, Nateralis-L, Mycotrol GHA Ở nước ta, Viện Bảo vệ Thực vật đã nghiên
cứu và xây dựng cơ bản hoàn thiện quy trình sản xuất các loại thuốc nấm Boverit
(Beauveria bassiana) (Phạm Thị Thùy, 2004)
Nhiều nghiên cứu sử dụng nấm Beauveria bassiana và các loài nấm ký sinh đã
được thực hiện trong quản lý nhện thuộc họ Tetranychid trong điều kiện phòng thí nghiệm và nhà lưới (Alves ctv., 2002; Irigaray ctv., 2003, Shi và Feng, 2004, Chandler
và ctv., 2005)
Barreto và ctv (2004) báo cáo nấm Beauveria bassiana có khả năng quản lý nhện cái Mononychellus tanajoa ở mật số bào tử 108/ ml
Penã và ctv (1996) đã khảo nghiệm hiệu quả ký sinh nhện
Polyphagotarsonemus latus của các nấm Beauveria bassiana (1,16x106 bào tử/ ml),
Hirsutella thompsonii (2,39x103 bào tử/ ml) và Paecilomyces fumosoroseus (1,29x105
bào tử/ ml) trong điều kiện phòng thí nghiệm Tỷ lệ nhện chết nhanh nhất ở nghiệm
thức nấm Beauveria bassiana với mật số nhện đạt khoảng 65 và 125 nhện trên mỗi lá
đậu Khi ứng dụng sử dụng các nấm Bb trong điều kiện nhà kính, cho thấy Bb ảnh hưởng tốt và lâu dài nhất đến mật số nhện có trên mỗi lá là 88%
Trang 312.4.5 Đặc tính của nấm Metarhizium anisopliae ký sinh côn trùng
Ainsworth được nhiều tác giả chấp nhận hơn cả (Phạm Thị Thùy, 2004)
Theo Goettel và ctv (1990) phổ ký chủ Metarhizium anisopliae bao gồm
Symphyla, bộ Cánh thẳng, bộ Cánh da, bộ Cánh bằng, bộ Hai cánh, bộ Cánh màng, bộ Cánh cứng, bộ Cánh đều, bộ Cánh nửa, bộ Bọ chét, bộ Cánh vẩy và các loại côn trùng khác thuộc các bộ Malacostrata, bộ Ve bét và bộ Phù du (trích dẫn từ Võ Thị Thu Oanh, 2010)
2.4.5.2 Đặc điểm hình thái của nấm Metarhizium anisopliae (Ma)
Theo mô tả của Trần Văn Mão (2004), nấm Metarhizium anisopliae có cuống bào
tử thẳng, đơn nhánh, phân nhánh hoặc dạng cây, cuống nhỏ, mọc bào tử dạng sợi hoặc dạng bình, mọc đơn hoặc vòng Bào tử phân sinh đơn bào, mọc trên đỉnh cuống nhỏ thành chuỗi, dính liền nhau bằng dịch nhầy, hình trứng hoặc hình bầu dục dài Một số loài có cuống bào tử hoặc chất đệm
Bào tử xếp thành chuỗi khá chặt chẽ và nhìn bằng mắt thường có thể thấy bào tử được tạo ra trên bề mặt cơ thể côn trùng một lớp phấn khá rõ màu xanh lục Sơi nấm khi phát triển bên trong côn trùng có chiều rộng khoảng 3-4 µm, dài khoảng 20µm, chia thành nhiều tế bào ngắn, trong tế bào có thể thấy rõ nhiều giọt mỡ (Cerenius và Sussman, 1998)
2.4.5.3 Độc tố và cơ chế tác động của nấm Ma
Độc tố và của nấm Ma: Gồm một số ngoại độc tố có tên là Destruxin A, B, C hay
D Các ngoại độc tố đó là sản phẩm thứ cấp, vòng peptit Độc tố Destruxin A có công
Trang 32thức nguyên là C29H47O7N5, có điểm sôi là 1880C Độc tố Destruxin B có công thức nguyên là C30H51O7N5, có điểm sôi là 2340C Kodaira (1962) đã tách được ngoại độc
tố Destruxin A và Destruxin B từ dịch nuôi cấy nấm Ma Trong 1 lít dịch, thu nhận được 13-15 mg độc tố Destruxin A và B
Cơ chế gây bệnh của nấm Ma lên côn trùng: Khi bào tử nấm lục cương bám trên bề mặt côn trùng trong 24 giờ thì bào tử sẽ nảy mầm tạo thành ống mầm xuyên qua vỏ côn trùng, sau đó tiếp tục phân nhánh tạo nên một mạng sợi nấm chằng chịt bên trong
cơ thể côn trùng, cũng giống như nấm Beauveria bassiana Nấm Metarhizium anisopliae đã tiết ra các độc tố Destruxin A và B và chính các độc tố trên gây chết côn
trùng (Phạm Thị Thùy, 2004)
Theo Nguyễn Xuân Thành và ctv (2003) bào tử của nấm lục cương sau 24 giờ tiếp xúc với bề mặt cơ thể côn trùng thì bắt đầu mọc mầm và xâm nhập vào bên trong Trong cơ thể côn trùng sợi nấm phát triển xâm nhập vào các bộ phận nội quan Sau khi vật chủ chết, sợi nấm mọc ra ngoài cơ thể côn trùng tạo thành một lớp nấm màu trắng hơi hồng nhạt Trên đó tạo thành các conidi màu xanh xám
2.4.5.4 Các yếu tố môi trường ảnh hưởng đến ký sinh của nấm Ma
Nấm Ma không thể sinh trưởng tốt trên nền cơ chất không có kitin, chúng sống
được ở nhiệt độ thấp 80C, có biên độ về độ ẩm rộng ở nơi tích lũy nhiều CO2 và thiếu
O2 chúng có thể sống tới 445 ngày Ở nhiệt độ thích hợp cho sự nẩy mầm của bào tử là 25-300C và sẽ bị chết 490
C và nhiệt độ thích hợp cho nấm phát triển tốt nhất là 250
300C sinh trưởng giảm dần, trên 350
C nấm ngừng sinh trưởng Nấm lục cương khi độ
ẩm rất cao và rất thấp sẽ có khả năng kéo dài sự sống, ở 45% sự sống ngắn nhất (Trần Văn Mão, 2004) Phạm vi nấm côn trùng ở độ pH từ 3,5-8,0, nhưng nấm côn trùng ưa môi trường axit và nấm phát triển thích hợp nhất ở độ pH từ 5-6 (Phạm Thị Thùy, 2004) Nấm lục cương sinh trưởng trong phạm vi là pH từ 6,9-7,2 (Trần Văn Mão, 2004) Ánh sáng là nhân tố không thể thiếu để hình thành bào tử, tia tử ngoại có thể
Trang 33giết chết bào tử nấm, dưới ánh sáng trực xạ thì nấm lục cương rất khó nảy mầm (Trần Văn Mão, 2004)
2.4.5.5 Những thành tựu và ứng dụng của nấm Metarhizium anisopliae
Theo Brooks và Wall (2001) báo cáo một loạt các thí nghiệm đã được tiến hành để
đánh giá hiệu lực của nấm Metarhizium anisopliae (Metschnikoff) (Deuteromycotina:Hyphomycetes) đối với Psoroptes ovis (Hering) (Acari: Psoroptidae), P ovis xử lý với dung dịch bào tử nấm Ma ở các mức nồng độ khác nhau Kết quả cho thấy, nồng độ bào tử nấm càng cao thì số lượng P ovis bị đầu độc
càng nhiều Tại nồng độ cao nhất 1x108
bào tử/ ml thì tỷ lệ P.ovis bị bệnh là 77%
Kanga và ctv (2003) đã thử nghiệm ngoài đồng sử dụng nguồn nấm gây bệnh,
Metarhizium anisopliae Metschnikoff (Deuteromycotina:Hyphomycetes) quản lí nhện
ký sinh Varroa destructor (Acari:Varroidae) trên đám ong mật Apis mellifera
(Hymenoptera:Apidae) được lây nhiễm trong suốt 42 ngày thí nghiệm và thu kết quả
khả quan là V destructor chết tối đa xảy ra 3-4 ngày sau khi bào tử tiếp xúc Metarhizium anisopliae (Metschnikoff) đã biểu lộ tiềm năng quản lý sinh học chống lại nhện V destructor, một loài gây hại quan trọng nhất trên đám ong mật hoang dã, Apis mellifera L
Một nghiên cứu trên 12 loại nấm entomopathogenic kiểm soát nhện trắng
Polyphagotarsonemus latus Bank trong dâu thấy rằng Metarhizium anisopliae
CKM-048 là gây độc nghiêm trọng nhất trong việc kiểm soát cả ấu trùng và ve trưởng thành
bào tử/ ml Một thử nghiệm ở điều kiện nhà kính trên cây dâu tằm cho
thấy M anisopliae có thể làm giảm mật số nhện trắng trong vòng 4 ngày sau khi xử
lý Tuy nhiên, sau 7 ngày, hiệu quả của nó đã được giảm đáng kể (Monchan và ctv., 2009)
Ở nước ta, Viện Bảo vệ thực vật đã nghiên cứu và xây dựng cơ bản hoàn thiện quy
trình sản xuất các loại thuốc nấm từ Metarhizium anisopliae như BioGreen, Metaquino, Bio-Blat, Cobican, Green Muscle, Bio-Path., Mat (Metarhizium anisopliae) và Metarhizium flavoviride, ngoài ra Viện đã triển khai các mô hình phòng
Trang 34trừ một số đối tượng sâu hại cây trồng nông lâm nghiệp đạt kết quả tốt Chế phẩm
Metavina sản xuất từ nấm Metarhizium anisopliae cho hiệu quả cao trong việc trừ các
loại mối hại cây công nghiệp, cây ăn quả và cây cảnh Viện lúa Đồng bằng sông Cửu Long đã tuyển chọn được một số mẫu nấm có tiềm năng trừ sâu hại trên cây lúa, rau, màu và cây ăn trái với hai chế phẩm đã được thương mại hóa là Biovip,Ometar và đang được ứng dụng rộng rãi tại các tỉnh Vĩnh Long, Cần Thơ, Sóc Trăng, Trà Vinh ở quy mô hộ nông dân Kết quả của các mô hình thực hiện trên diện rộng đã khẳng định hai nấm này không ảnh hưởng đến thiên địch của sâu hại, hệ sinh thái, con người và môi trường (Võ Thị Thu Oanh, 2010)
Vì vậy, Metarhizium anisopliae không chỉ giữ vai trò là tác nhân kiểm soát sinh
học côn trùng gây hại mà còn có tiềm năng kinh tế và là giải pháp an toàn cho môi trường thay thế thuốc trừ sâu hóa học
2.5 Một số thuốc thảo mộc và hóa học sử dụng trong thí nghiệm
2.5.1 Sơ lược về một số thuốc thảo mộc
2.5.1.1 Tỏi (Allium sativum L.)
Tỏi là một loại cây trồng có nguồn gốc từ Địa Trung Hải Cây có hoa trắng hay hơi xanh, lá mọc thành tán Cây được trồng rộng rãi nhiều nơi trên thế giới Tỏi phân bố ở khí hậu ẩm Ở Việt Nam tỏi được trồng nhiều ở phía Bắc và miền Trung đất nước khoảng tháng 9 hằng năm Vào cuối mùa đông hoặc đầu mùa xuân, củ tỏi được thu hái và sau đó treo chúng lên để phơi khô chậm
Trong tỏi có một ít iốt và tinh dầu (100 kg tỏi có chứa 60-200g tinh dầu) Thành phần chủ yếu của tỏi là alixin C6H10OS2 một hợp chất sulfur có tác dụng diệt vi khuẩn rất mạnh Trong tỏi không có chất alixin ngay mà có chất aliin, một loại acid amin; chất aliin chịu tác dụng của men alinaza cũng có trong tỏi mới cho chất alixin Chất alixin tinh khiết, là một chất dầu không màu, hòa tan trong cồn, benzene (Đỗ Tất Lợi, 2006)
Trang 35Bảng 2.2 Thành phần hóa học của tỏi
Thành phần Tỷ lệ các chất trong tỏi tươi (%)
nhện Rhipicephalus microplus 10 ngày tuổi ở tất cả các nồng độ thí nghiệm (từ 20 đến
1,2 %)
Một nghiên cứu khác chỉ ra rằng chất chiết Dichloromethane từ củ tỏi Allium sativum đã gây độc hại cho nhện Hyalomma marginatum rufipes Koch và Rhipicephalus pulchellus Gerstacker (Nchu và ctv., 2005)
Hơn nữa, Maurer và ctv (2009) đã sử dụng dịch chiết tỏi sạch nồng độ 10 và 100% giữ lại tái sản xuất và có ý nghĩa quan trọng làm giảm sức sống của nhện cái
Dermanyssus gallinae De Greer
Birrenkott và ctv (2000) đã báo cáo rằng khi sử dụng dịch trích tỏi ở nồng độ 10%
kiểm soát nhện Ornithonyssus sylvarium Canestrini và Fanzago, tỏi là một chất có tác
dụng xua đuổi và không trực tiếp diệt nhện
Trang 362.5.1.2 Hành (Allium cepa L.)
Cây hành thuộc họ Hành tỏi Liliaceae, có tên khoa học là Allium cepa L., tên tiếng
anh là onion, có nguồn gốc ở miền Tây Á, hiện nay được trồng nhiều nơi trên khắp thế giới Là cây thảo, nhẵn, sống dai do một hành phình to mà ta thường gọi là củ hành, có kích thước thay đổi, gồm nhiều vẩy thịt tức là các bẹ có chứa nhiều chất dinh dưỡng
Củ hành có hình dạng tròn đều (hình cầu) hoặc tròn hơi dẹp hình bầu dục hoặc hình bầu dục dài, thường có màu vàng hay màu tím hoặc màu trắng Thân chính thức nằm ở dưới giò mang nhiều rễ nhỏ Lá dài hình trụ, nhọn, rỗng ở giữa Hoa họp thành tán giả nằm ở đầu một cán hoa hình ống tròn, phình ở giữa Hoa màu trắng có cuống dài Quả hạch, có màng; 3 góc với 3 ngăn, bên trên có núm nhuỵ còn tồn tại Hạt có cánh dày, đen nhạt, ráp
Thành phần hóa học của củ hành Allium cepa L.: trong tinh dầu thành phần chủ
yếu là allyl-disulfur, allyl-propyl-disulfur, phytine, các acid hữu cơ (formic, malic, citric và phosphoric) inulin, manit, manoza, các enzyme maltaza, amylaza, dextrinaza
và emuncine, vitamin B, C Đặc biệt có hàm lượng oxalat tương đối cao nên tỷ lệ hấp thu calci thấp Hành tây cũng chứa nhiều tinh dầu và hợp chất sulfur Trong hành tây
có chất kháng sinh rất mạnh là phytoncid
Azima (2012) đã đánh giá tính xua đuổi của 6 chất chiết từ thực vật, củ hành
(Allium cepa var.aggregatum), củ tỏi (Allium sativum), cây đinh hương (Syzygium aromaticum), cây quế (Cinnamomum zeylanicum), củ gừng (Zingiber officinale) và dứa hoang (Pandanus amaryllifolious) trên ấu trùng Leptotrombidium deliense (Acari:
Trombiculidae) trong điều kiện phòng thí nghiệm Các dịch chiết được khảo nghiệm ở các nồng độ khác nhau (10; 5; 2,5; 1; 0,1 và 0,01% ) cho thấy tại nồng độ 10%, tất cả chất chiết đều có tính xua đuổi cao nằm trong khoảng 80-96%, ngoại trừ củ gừng, tại nồng độ thấp nhất (0,01%) thì dịch chiết củ hành có tính xua đuổi cao nhất chiếm 30% Tác giả đã kết luận tính xua đuổi tăng khi tăng nồng độ dịch chiết
2.5.1.3 Bột tỏi Well
Thành phần: Garlic oil (garlicin) 20% và phụ gia vừa đủ 100%
Công dụng: Phòng trị và xua đuổi các đối tượng ruồi vàng đục trái, rầy mềm, rệp dính, nhện đỏ trên chanh, cam, quýt, bưởi, xoài, vú sữa, sapô, mận…., nhện lông nhung hại bông nhãn,…Đồng thời, bột tỏi còn có tính sát khuẩn bề mặt
Trang 37Cách sử dụng: Phòng trị và xua đuổi côn trùng: liều lượng 1g/1lits nước sử dụng 20g (2 muỗng) cho bình 16-20 lít nước Nhằm tăng hiệu quả nên pha kèm 40-80 ml Soap CoCO/bình 16-20 lít nước
Thời gian cách ly: Tùy thuộc vào thuốc BVTV pha chung (nếu có) Riêng bột tỏi Well có nguồn gốc từ cây trồng an toàn nên không cần thời gian cách ly
Nơi phân phối: Cty TNHH SX phân bón hóa sinh RVAC
2.5.2 Chế phẩm Ometar
Thành phần: Bào tử nấm xanh Metarhizium anisopliae 2,5 x109
bào tử /g và cơ chất khác
Công dụng: Trừ các loại rầy, bọ xít, bọ cánh cứng hại dừa, mối, cào cào và các loại sâu ăn lá khác Hiệu lực cao nhất từ 5-7 ngày sau phun
Cách dùng: Pha một gói chế phẩm trong 2 bình 16 lít nước, thêm vài giọt nước rửa chén, quậy đều lọc qua hai lớp vải màn Nếu trộn thêm chất bám dính nông dược hoặc dầu ăn (4-5 cc/bình) để tăng hiệu quả sử dụng Nên phun chế phẩm vào lúc chiều mát Nhà sản xuất và đăng ký: Bộ môn phòng trừ sinh học Viện lúa ĐBSCL, Cờ Đỏ, Cần Thơ
2.5.3 Thuốc hóa học Proclaim 1.9 EC
Hàm lượng 1,9% (chứa 19g Emamectin benzoate/lít thuốc)
Công dụng: Là thuốc trừ sâu có nguồn gốc thiên nhiên, có tác dụng tiếp xúc và vị độc Đặc trị nhện đỏ/cam, sâu phao đục bẹ, sâu cuốn lá lúa, sâu tơ, sâu xanh da láng/bắp cải,cà chua, hành, bông vải (súp lơ)
Thời gian cách ly: Ngưng phun thuốc 3 ngày trước khi thu hoạch
Đóng gói tại Syngenta Việt Nam
Trang 38Chương 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP
3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
3.1.1 Thời gian nghiên cứu
Đề tài được thực hiện từ 11/03/2013 - 11/07/2013
3.1.2 Địa điểm nghiên cứu
Các thí nghiệm trong phòng tiến hành tại phòng thí nghiệm côn trùng, bộ môn Bảo
vệ thực vật - Viện Cây ăn quả miền Nam, xã Long Định, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang
Các thí nghiệm ngoài đồng thực hiện tại vườn trồng nhãn ở xã Dưỡng Điềm, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang
3.2 Vật liệu thí nghiệm
- Vườn nhãn Tiêu da bò 5 năm tuổi đang bị nhiễm chổi rồng (70%), cây nhãn con
45 ngày tuổi trồng trong ly nhựa, nhện lông nhung (Eriophyes sp.)
- Kéo cắt cành, bao nilon, thướt kẻ, ly nhựa,hộp nhựa, giấy thấm, bông gòn
- Que kẹp, đĩa petri, buồng đếm hồng cầu, kính hiển vi, kính lúp, bộ máy chiết SOXHLET ly trích dịch chiết từ mẫu tươi, bộ chưng cất dung môi thu gom cồn trở lại
từ trong dịch chiết thảo mộc, nhà kính
- Môi trường nhân nấm PGA: 200g khoai tây, 15g glucose, 20g agar
- Bã bia, mật rỉ
- Thuốc thảo mộc từ dịch trích: Củ hành, củ tỏi
- Thuốc bảo vệ thực vật: Bột tỏi, Proclaim 1.9EC
- Nấm Paecilomyces sp đã được Viện Cây ăn quả miền Nam phân lập từ nhiều nguồn khác nhau Nấm Beauveria bassiana đã được Viện Công nghệ Sinh học, trường
Đại học Nông Lâm, thành phố Hồ Chí Minh phân lập từ nhiều nguồn khác nhau Chế
phẩm sinh học Ometar chứa nấm Metarhizium anisopliae Sorok