SO SÁNH SỰ SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT CỦA 12 GIỐNG ĐẬU NÀNH Glycine max VỤ XUÂN HÈ 2013 TẠI THÀNH PHỐ PLEIKU,TỈNH GIA LAI Tác giả Nguyễn Xuân Sơn Khóa luận được đệ trình
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài
SO SÁNH SỰ SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT
CỦA 12 GIỐNG ĐẬU NÀNH (Glycine max) VỤ XUÂN HÈ 2013
TẠI THÀNH PHỐ PLEIKU, TỈNH GIA LAI
Trang 2SO SÁNH SỰ SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT CỦA
12 GIỐNG ĐẬU NÀNH (Glycine max) VỤ XUÂN HÈ 2013
TẠI THÀNH PHỐ PLEIKU,TỈNH GIA LAI
Tác giả
Nguyễn Xuân Sơn
Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu cấp bằng
Kỹ sư ngành Nông học
Giảng viên hướng dẫn:
ThS Hồ Tấn Quốc ThS Nguyễn Thị Thanh Duyên
Gia Lai, tháng 08/2013
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong bốn năm được học tập tại trường Đại Học Nông Lâm - Thành phố Hồ Chí Minh, đặc biệt trong bốn tháng làm đề tài, tôi đã học tập và làm việc một cách nghiêm túc Suốt quá trình này, tôi đã được thầy cô tận tình chỉ dạy và hướng dẫn, các bạn và gia đình động viên, giúp đỡ cả về vật chất lẫn tinh thần giúp tôi có thể vượt qua những khó khăn Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến:
Ban Giám Hiệu trường Đại Học Nông Lâm - Thành phố Hồ Chí Minh
Ban chủ nhiệm khoa Nông Học
Quý thầy cô trong trường và trong khoa đã tận tình giảng dạy những kiến thức quý báu cho tôi trong suốt quá trình học tập
Đặc biệt tôi xin gửi lời cảm ơn đến thầy ThS Hồ Tấn Quốc, cô ThS Nguyễn Thị Thanh Duyên đã tận tình hướng dẫn giúp tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này
Thành kính ghi nhớ công ơn sinh thành và nuôi dưỡng của cha mẹ, xin cảm ơn tất cả bạn bè đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và làm đề tài
Và tôi xin cảm ơn cô Nguyễn Thị Đá, địa chỉ 64 Lê Quang Định, phường Yên Thế, Thành phố Pleiku đã cho tôi mượn đất và giúp đỡ tôi hoàn thành đề tài này
Xin chân thành cảm ơn!
Gia Lai, ngày 10 tháng 8 năm 2013
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Xuân Sơn
Trang 4TÓM TẮT
Đề tài: “So sánh sự sinh trưởng, phát triển và năng suất của 12 giống đậu nành
(Glycine max) triển vọng vụ xuân hè 2013 tại thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai” đã được
tiến hành từ tháng 3 đến tháng 7 năm 2013 nhằm xác định giống đậu nành có thời gian sinh trưởng ngắn, sinh trưởng và phát triển tốt, năng suất cao phù hợp với điều kiện canh tác tại địa phương Thí nghiệm đơn yếu tố gồm 12 giống đậu nành tương ứng với
12 nghiệm thức, được bố trí theo kiểu khối đầy đủ ngẫu nhiên, ba lần nhắc lại Phương pháp đánh giá dựa theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khảo nghiệm giá trị canh tác và
sử dụng của giống đậu nành QCVN 01 – 58 : 2011/ BNNPTNT (Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, 2011) Kết quả thí nghiệm cho thấy:
Các giống thí nghiệm có thời gian sinh trưởng biến động từ 81,7 – 96,0 ngày Các giống DS6-6-25, DS11-5-5, DS6-7-26, DS7-9-2, và giống DS8 thuộc nhốm giống ngắn ngày (< 85 ngày), 7 giống còn lại là DS7-14-22, DS7-9-40, DS10-3-1, DS6-7-14, MTD 176, OMDN 29 và giống địa phương thuộc nhóm giống trung ngày (85 – 100 ngày)
Chiều cao các giống biến động từ 57,0 – 74,5 cm, trong đó giống địa phương có chiều cao cây cao nhất đạt 74,5 cm
Bốn giống DS7-9-40, DS11-5-5, DS6-7-26 và DS7-9-2 là bốn giống tốt nhất trong 12 giống khảo nghiệm có năng suất thực thu đạt 2,57 tấn/ha, 2,77 tấn/ha và 2,95 tấn/ha và 2,50 tấn/ha Đây là bốn giống được xác định có triển vọng trong vụ xuân hè tại phường Yên Thế, Thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai
Trong điều kiện thí nghiệm tất cả 12 giống thí nghiệm không bị bệnh hại nhưng
đều bị sâu xanh (Heliothis armigera ) và sâu cuốn lá (Lamprosema indicate) ăn hại, bị
đổ ngã ở cấp 2 mức độ nhẹ (<25% số cây bị đổ rạp), trừ giống OMDN 29 bị đổ ngã ở cấp 3 mức độ trung bình (25 – 50% số cây bị đổ rạp, các cây khác nghiêng ≥ 45%), và
12 giống đều bị tách hạt ở cấp 2 mức độ thấp (<25% quả tách vỏ)
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Trang tựa
Lời cảm ơn ii
Tóm tắt iii
Mục lục iv
Danh sách các bảng vii
Danh sách các hình ix
Chương 1 MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu và yêu cầu 2
1.2.1 Mục tiêu 2
1.2.2 Yêu cầu 2
Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Nguồn gốc và phân loại 3
2.1.1 Nguồn gốc và lịch sử phát triển của cây đậu nành 3
2.1.2 Phân loại thực vật học cây đậu nành 3
2.2 Đặc điểm thực vật của cây đậu nành 4
2.2.1 Rễ 4
2.2.2 Thân, cành, lá 5
2.2.3 Hoa, quả, hạt 6
2.3 Yêu cầu sinh thái của cây đậu nành 6
2.3.1 Nhiệt độ 6
2.3.2 Lượng mưa và ẩm độ 7
2.3.3 Ánh sáng 7
2.3.4 Đất đai 8
2.4 Công dụng của đậu nành trong nền kinh tế hiện nay 8
2.4.1 Đậu nành được sử dụng làm thực phẩm cho con người 8
Trang 62.4.3 Đậu nành được sử dụng làm thức ăn gia súc 9
2.4.4 Đậu nành được sử dụng làm phân bón - cải tạo đất 9
2.5 Tình hình sản xuất, tiêu thụ đậu nành trên thế giới và trong nước 10
2.5.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ đậu nành trên thế giới 10
2.5.1.1 Tình hình sản xuất 10
2.5.1.2 Tình hình tiêu thụ 10
2.5.2 Tình hình sản xuất, tiêu thụ đậu nành ở nước ta 11
2.5.2.1 Tình hình sản xuất 11
2.5.2.2 Tình hình tiêu thụ 13
2.6 Tình hình nghiên cứu, tạo chọn giống trên thế giới và trong nước 13
2.6.1 Tình hình nghiên cứu, tạo chọn giống trên thế giới 13
2.6.2 Tình hình nghiên cứu, tạo chọn giống trong nước 14
2.7 Phương hướng và mục tiêu phát triển đậu nành ở Việt Nam 16
Chương 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP 3.1 Điều kiện nghiên cứu 18
3.1.1 Thời gian và địa điểm thí nghiệm 18
3.1.2 Điều kiện thí nghiệm 18
3.1.2.1 Điều kiện khí hậu thời tiết trong thời gian làm thí nghiệm 18
3.1.2.2 Điều kiện đất đai 19
3.1.2.3 Quy trình kỹ thuật canh tác 19
3.2 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu 21
3.2.1 Vật liệu 21
3.2.2 Phương pháp nghiên cứu 21
3.2.2.1 Bố trí thí nghiệm 21
3.2.2.2 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 23
Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 4.1 Đặc điểm sinh trưởng và phát triển của các giống đậu nành 28
4.1.1 Thời gian sinh trưởng, phát triển 28
4.1.2 Động thái và tốc độ tăng trưởng chiều cao cây 31
4.1.2.1 Động thái tăng trưởng chiều cao cây 31
Trang 74.1.2.2 Tốc độ tăng trưởng chiều cao cây 33
4.1.3 Động thái và tốc độ ra lá của 12 giống đậu nành 34
4.1.3.1 Động thái ra lá 34
4.1.3.2 Tốc độ ra lá 36
4.2 Đặc điểm hình thái của các giống đậu nành thí nghiệm 37
4.3 Một số chỉ tiêu về hoa.……….38
4.4 Một số chỉ tiêu về quả……… 39
4.5 Một số chỉ tiêu về hạt 41
4.6 Khả năng chống chịu sâu bệnh hại, tính đổ ngã và tính tách hạt 42
4.6.1 Khả năng chống chịu sâu bệnh hại 42
4.6.2 Một số chỉ tiêu về đổ ngã và tách hạt ngoài đồng 43
4.7 Các yếu tố cấu thành năng suất 44
4.8 Xác định một số giống triển vọng 47
Chương 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 5.1 Kết luận 48
5.2 Đề nghị 48
TÀI LIỆU THAM KHẢO 49
PHỤ LỤC 51
Trang 8DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ANOVA Analysis of Variance (phân tích phương sai)
BNNPTNT Bộ nông nghiệp và phát triền nông thôn
CV Coefficient of Variation (Hệ số biến động)
(Cộng đồng Kinh tế châu Âu)
(Tổ chức lương thực và nông nghiệp liên hiệp quốc)
(sinh vật biến đổi gen)
(Khối đầy đủ nghẫu nhiên)
(Giá trị canh tác và sử dụng)
Trang 9DANH SÁCH CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1: Tình hình sản xuất đậu nành trên thế giới từ năm 2001 đến năm 2011……10
Bảng 2.2: Diện tích, năng suất và sản lượng đậu nành Việt Nam từ năm 2000 đến năm 2011………12
Bảng 3.1 Số liệu khí tượng thu từ 04/2013 – 08/2013……… 18
Bảng 3.2 Danh sách các giống đậu nành thí nghiệm……… 21
Bảng 4.1 Thời gian sinh trưởng, phát triển của của 12 giống đậu nành 29
Bảng 4.2 Động thái tăng trưởng chiều cao cây của 12 giống đậu nành 32
Bảng 4.3 Tốc độ tăng trưởng chiều cao cây của 12 giống đậu nành 33
Bảng 4.4 Động thái ra lá của 12 giống đậu nành của 12 giống đậu nành 35
Bảng 4.5 Tốc độ ra lá của 12 giống đậu nành 36
Bảng 4.6 Đặc điểm hình thái của 12 giống đậu nành 37
Bảng 4.7 Một số chỉ tiêu về hoa 38
Bảng 4.8 Một số chỉ tiêu về quả 39
Bảng 4.9 Một số chỉ tiêu về hạt 42
Bảng 4.10 Một số chỉ tiêu về tính đổ ngã và tách hạt ngoài đồng 43
Bảng 4.11 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất 45
Bảng 4.12 Một số giống triển vọng 47
Trang 10DANH SÁCH CÁC HÌNH
Trang
Hình 1 Toàn cảnh khu thí nghiệm 22
Hình 2 Làm đất 51
Hình 3 Toàn cảnh khu thí nghiệm giai đoạn 40 – 50 NSG 51
Hình 4 Dạng hạt của bộ giống thí nghiệm 52
Trang 11Chương 1
MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Cây đậu nành (Glycine max (L.) Merrill) là một trong những cây trồng cổ xưa
nhất Trước đây cây đậu nành được mệnh danh là “Vàng mọc trên đất” đến nay đậu nành vẫn là cây “chiến lược của thời đại” là cây trồng được mọi người quan tâm nhất trong số 2000 loại đậu đỗ khác nhau
Đậu nành được trồng phổ biến ở Đông Nam Á , Bắc và Nam Mỹ Quê hương của đậu nành là Đông Nam châu Á, nhưng diện tích và sản lượng đậu tương của thế giới lại nằm chủ yếu ở Mỹ Hạt đậu nành là nguồn cung cấp protein và dầu thực vật cho con người, ngoài ra còn là nguồn thức ăn quan trọng trong chăn nuôi Ngày nay với sự gia tăng nhanh chóng của dân số, nhu cầu dinh dưỡng của con người, đặc biệt nhu cầu về protein đang trở thành một vấn đề cấp bách trong phát triển kinh tế, xã hội của nhiều quốc gia đang và kém phát triển của thế giới Theo Wijeratne và Welson (1987), khoảng 90% Calo và trên 80% protein có trong bữa ăn hàng ngày của người dân các nước Châu Á được cung cấp từ nguồn thực vật Vì vậy với hàm lượng protein trong hạt từ 38% – 42%, dầu từ 18% – 24%, Hydratcacbon 30% – 40%, chất khoáng 4% – 5%, đậu tương chiếm vị trí hàng đầu trong việc cung cấp protein, dầu thực vật
và chất khoáng cho con người thông qua các sản phẩm chế biến khác nhau (Việt Chương và Nguyễn Việt Thái, 2003)
Ở Việt Nam, trước kia cây đâ ̣u nành chưa được coi trọng Trong những năm gần đây đã có những tiến bộ đáng kể, từ 48,9 ngàn ha trong những năm 1980 đến nay diện tích đậu nành của cả nước đã đạt 181,5 ngàn ha, với sản lượng 266,3 ngàn tấn, năng suất bình quân đạt 1,47 tấn/ha (FAOSTAT, 2013) Trong thời gian gần đây, công tác chọn, tạo giống đã thu được nhiều kết quả đáng khích lệ Một số giống đậu nành được công nhận với ưu điểm năng suất cao, chất lượng tốt, hình thức đẹp và thời gian sinh
Trang 12trưởng ngắn đáp ứng nhu cầu sản xuất hàng hóa đã dần thay thế được các giống cũ Tuy nhiên nếu đem so sánh với các cây trồng khác như lúa, ngô thì số lượng giống như trên là quá ít và thiếu sự đa dạng về nhóm giống Ngoài ra việc mở rộng áp dụng giống mới trong sản xuất còn chậm
Chính vì vậy, việc chọn tạo các giống đậu nành mới có năng suất cao, chất lượng tốt, thích hợp với điều kiện canh tác của từng vùng, có khả năng kháng được một số loại sâu bệnh hại và điều kiện thời tiết bất lợi luôn được các nhà nghiên cứu chọn tạo giống đặt lên hàng đầu
Xuất phát từ những lý do trên, đề tài “So sánh sự sinh trưởng, phát triển và năng suất 12 giống đậu nành triển vọng vụ Xuân Hè 2013 tại Thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai” được thực hiện
1.2 Mục tiêu và yêu cầu
– Xử lý, phân tích số liệu theo các chỉ tiêu, từ đó xác định giống tốt theo mục tiêu đề ra
Trang 13Chương 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Nguồn gốc và phân loại
2.1.1 Nguồn gốc và lịch sử phát triển của cây đậu nành
Nguồn gốc
Theo Trần Văn Lợt (2010), hiện nay để xác định nguồn gốc một cây trồng người ta thường dựa vào ba căn cứ gồm: dựa vào nguồn biến dị di truyền, dựa vào địa
bàn phân bố, dựa vào tài liệu (sách báo, tạp chí, sách địa khai, chứng cứ khảo cổ) Đối
với cây đậu nành cũng dựa vào các căn cứ trên hiện nay người ta xác định chính xác cây đậu nành có nguồn gốc (phát nguyên chính) từ miền Đông Bắc Trung Quốc vào thời điểm thế kỉ 11 trước Công nguyên, tiếp đó là khu vực Mãn Châu
Lịch sử phát triển
Cây đậu nành xuất xứ từ Trung Quốc và người Trung Quốc đã biết đến nó từ cả ngàn năm trước Công nguyên Sau đó, cây đậu nành được du nhập vào Triều Tiên, qua Nhật Bản, Malaysia, các nước Đông Dương, trong đó có nước ta (Việt Chương và Nguyễn Việt Thái, 2003)
Ở Châu Âu mãi đến cuối thế kỷ 17 mới biết đến cây đậu nành Nước đưa cây đậu nành vào đầu tiên là nước Pháp, nơi trồng đầu tiên là vườn thực vật Hoàng Gia Paris vào năm 1793 Sau đó đậu nành được đưa đến các nước khác như: Anh (1790), Hoa Kỳ (1804), Ý (1840), Úc, Đức, Poland, Holland (1875), Hulgari (1876), Nga (1901) (Trần Văn Lợt, 2010)
2.1.2 Phân loại thực vật học cây đậu nành
Theo Đỗ Ánh và ctv (1999), sau khi nghiên cứu 31 đặc tính sinh dưỡng và 27 đặc tính sinh sản của 58 nguồn vật liệu đặc trưng cho các loài, người ta phân loại các loài đậu nành dựa vào 2 cơ sở sau:
Trang 14 Phân loại dựa vào hình thái thực vật học
Chia làm 3 nhóm:
Đậu nành hoang dại (Glycine usuriensis)
– Phân bố: Trung Quốc, Nhâ ̣t Bản, Triều Tiên
– Đặc điểm: thân cao 3 –4 m, dạng dây leo, cành nhỏ và thường xoắn lại Sinh trưởng kém, thời gian kéo dài có thể đến 200 ngày
+ Phản ứng quang kì thuộc ngày ngắn
+ Lá nhỏ hẹp, có lông tơ ép sát mặt lá
+ Hoa nhỏ, màu tím
+ Trái nhỏ, màu đen, lượng protein cao
Đậu nành nửa hoang dại (Glycine gracilis)
– Phân bố: Dọc lưu vực sông Trường Giang (Trung Quốc)
– Đặc điểm: Thân cao khoảng 1 m, dạng thân đứng hoặc thân leo
+ Hoa nhỏ, màu tím, có khả năng cho trái hữu hạn hay vô hạn
+ Hạt có màu nâu, đen, vàng Trọng lượng 5 – 6 g/100 hạt
Đậu nành trồng (Glycine max)
– Đặc điểm: Thân đứng, cao 0,5 – 1,2 m; phân biê ̣t rõ thân cành, lá to và phiến lá dày + Khả năng cho trái hữu hạn, kích thước hạt và trái to
+ Hạt có màu vàng, nâu, đen Trọng lượng 7 – 20 g/100 hạt
Phân loại dựa vào chu kỳ sinh trưởng
– Rất sớm: 75 – 90 ngày; chín sớm: > 90 – 100 ngày
– Trung bình: > 100 – 110 ngày; Muộn trung bình: > 110 – 120 ngày
– Chín muộn: 130 – 140 ngày; Rất muộn: > 140 – 160 ngày
2.2 Đặc điểm thực vật của cây đậu nành
2.2.1 Rễ
Rễ đậu nành là loại rễ cọc gồm một rễ cái và nhiều rễ bên Khi hạt nảy mầm, phôi của hạt đậu phát triển thành rễ cái Rễ cái có thể ăn sâu vào đất đến 150 cm hoặc hơn, nhưng trong điều kiện bình thường chỉ ăn sâu đến 20 – 30 cm (Phạm Văn Thiều, 2003)
Trang 15Rễ đậu nành có khả năng ăn sâu tới 1m nhưng thường tập trung ở tầng mặt 30 –
40 cm tùy thuộc đặc tính của đất, còn độ ăn ngang thường 20 – 40 cm, có trường hợp
60 – 80 cm
Đặc điểm quan trọng nhất của bộ rễ cây đậu nành là khả năng hình thành nốt
sần với sự xâm nhập của vi khuẩn Rhizobium japonicum tạo nên hệ thống rễ cố định
đạm (Nguyễn Ngọc Hải, 2008) Sau mỗi vụ trồng đậu, đất được cung cấp một lượng đạm tương đương từ 20 - 25 kg ure/ha Vì vậy mà trong sản xuất đậu nành nói riêng và các cây họ đậu nói chung, người ta ít bón phân đạm, giảm thiểu được chi phí cung cấp đạm cho đất và đất sau khi trồng các cây này thì tươi xốp và tốt hơn
Lá đơn mọc đối, lá to và có màu xanh bóng
Hệ lá kép gồm ba lá chét, mỗi lá chét đều có cuống lá riêng và có cùng một cuống lá chính
Trang 162.2.3 Hoa, quả, hạt
Hoa đậu nành thuộc loại hoa cánh bướm Hoa mọc ra ở nách các lá hoặc ngọn thân, cành Mỗi nách lá mang một chùm hoa, mỗi chùm hoa có từ 10 – 25 hoa Hoa có màu tím, tím nhạt hoặc trắng tùy thuộc giống và được quyết định bởi sắc tố anthocyanin Hoa đậu nành rất bé, chiều dài 0,6 – 0,7 cm Đậu nành là cây có hoa hoàn toàn tự thụ phấn, tỷ lệ giao phấn của đậu nành rất thấp dưới 0,5% Dựa vào tập tính ra hoa của các giống mà phân chúng ra làm hai nhóm khác nhau gồm nhóm ra hoa hữu hạn và nhóm ra hoa vô hạn (Phạm Văn Thiều, 2003)
Quả thuộc loại quả nang tự khai nên phải thu hoạch kịp thời Hiện tượng này có thể làm giảm 5 – 10% năng suất Quả lúc còn non có màu xanh, khi già chín thường có màu vàng Kích thước trái trung bình có chiều dài là 2,7 – 7 cm, rộng 0,5 – 1,5 cm Mỗi quả trung bình có 2 – 3 hạt, cũng có quả có thể có 4 hạt (Trần Văn Lợt, 2010)
Hạt đậu nành có hình dạng rất khác nhau từ hình tròn, bầu dục, tròn dài, tròn dẹp Vỏ hạt có nhiều màu như vàng, vàng xanh, nâu đen Tễ hạt có thể dài , ngắn, rộng, hẹp khác nhau (Trần Văn Lợt, 2010)
Độ lớn của hạt cũng rất khác nhau tùy đặc điểm giống và kỹ thuật trồng trọt, thường từ 50-3000 g/1000 hạt, trung bình là từ 100 – 135 g (Phạm Văn Thiều, 2003)
Theo Chu Thị Thơm và ctv (2005), kích thước hạt không ảnh hưởng nhiều tới năng suất mà độ đồng đều của hạt mới là yếu tố quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp tới năng suất
2.3 Yêu cầu sinh thái của cây đậu nành
2.3.1 Nhiệt độ
Cây đậu nành tuy là có nguồn gốc ôn đới nhưng không phải là cây chịu được rét Cây cần tổng tích ôn tối thiểu đạt 2400oC, không có giới hạn trên (Trần Văn Lợt, 2010)
Cây đậu nành rất mẫn cảm với nhiệt độ không khác gì mẫn cảm với ánh sáng
Vì vậy, nhiều chuyên gia Việt Nam cho rằng tại các tỉnh phía Nam nước ta là vùng đất
Trang 17lý tưởng cho cây đậu nành sinh sống Tại đây có thể trồng đậu nành quanh năm mà năng suất vẫn cao, vì tổng tích ôn mà cây đậu đòi hỏi có đủ (trên 30000C) và sự chênh lệch nhiệt độ trong các mùa vụ trong năm không đáng kể (Phạm Văn Thiều, 2003)
2.3.2 Lƣợng mƣa và ẩm độ
Cây đậu nành tuy là cây thích hợp với vùng có nhiệt độ tương đối cao nhưng lại
là cây chịu hạn kém Lượng nước mưa trong năm tối thiểu đòi hỏi đạt 400 mm, tốt nhất là 700 mm Và trong các thời kỳ sinh trưởng của cây đậu nành thì có hai thời kỳ cần nước nhất là thời kỳ nảy mầm và thời kỳ ra hoa – kết trái (Lê Độ Hoàng và ctv, 1977)
- Thời kỳ nảy mầm: mục đích cần nước thời kỳ này là để giúp hạt trương nước
Do đó yêu cầu ẩm độ đất trong thời kỳ này phải đạt 75 – 80% ẩm độ đất bão hòa, tương dương 80 – 90% ẩm độ đồng ruộng
- Thời kỳ cây con: lúc này cây đậu nành cần lượng nước ít hơn Do đó yêu cầu
ẩm độ đất 50 – 60% ẩm độ đất bão hòa nhằm mục đích huấn luyện bộ rễ ăn sâu và sẽ chống chịu hạn
- Thời kỳ ra hoa – kết trái: mục đích cần nước ở thời kỳ này là để tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình bốc thoát hơi nước nhất là thời kỳ ra hoa, và giúp cho quá trình vận chuyển các chất trong thân lá về tích lũy trong hạt (thời kỳ kết trái) Vì vậy yêu cầu ẩm độ đất thời kỳ này phải đạt 70 – 80% độ ẩm đất bão hòa, tương dương 75 –
Trang 18Cây đậu nành chỉ yêu cầu 5 – 6 giờ nắng/ngày Vì thế cây đậu nành có thề trồng xen với các cây trồng khác Trong tất cả các thời kỳ sinh trưởng của cây thì thời kỳ cần nắng nhất là thời kỳ ra hoa kết trái (trích dẫn theo Vũ Thị Diệu, 2012)
2.3.4 Đất đai
Về đất trồng đậu nành thì nhìn chung đậu nành không kén đất, có thể trồng trên nhiều loại đất khác nhau: Đất đỏ, đất xám, đất phù sa Nhưng để trồng đậu nành có hiệu quả thì đất trồng đậu nành phải có thành phần cơ giới nhẹ (đất thịt, đất thịt pha cát, thịt pha sét) Đất phải thoát thủy, độ pH trung tính, phạm vi độ pH từ 5 – 8 (Lê Văn Dũ, 2007)
2.4 Công dụng của đậu nành trong nền kinh tế hiện nay
Theo Nguyễn Tiến Mạnh (1995), cây đậu nành có công dụng chính trong nền kinh tế gồm:
2.4.1 Đậu nành được sử dụng làm thực phẩm cho con người
Đậu nành là cây ho ̣ đâ ̣u có giá trị dinh dưỡng cao hơn hẳn các loại đậu thông dụng khác và vượt hẳn các loại thực phẩm có nguồn gốc động vật, là nguồn cung cấp lương thực, thực phẩm cho nhu cầu của mỗi người Ngoài thành phần đạm cao (40%), đậu nành còn chứa một tỷ lệ chất béo lớn (20%), nhiều sinh tố và muối khoáng rất cần thiết cho cơ thể người
Trong ha ̣t đâ ̣u nành có các thành phần hóa ho ̣c sau : protein (40%), lipid (12 – 25%), glucid (10 – 15%); có các muối khoáng Ca, Fe, Mg, P, K, Na, S; các vitamin A, B1, B2, D, E, F; các enzyme, sáp, nhựa, cellulose; các acid amin cơ bản isoleucine, leucine, lyzine, methionine, phenylanine, tryptophane, valine và lecithin là yếu tố góp phần giúp cơ thế chống lão hoá, làm tăng các mô, cứng xương, tăng sức đề kháng
Hạt đậu nành được sử du ̣ng phổ biến để ch ế biến ra các sản phẩm: Bột đậu nành, sữa đậu nành, bơ và đặc biệt là dầu đậu nành
2.4.2 Đậu nành được sử dụng trong công nghiệp
Ly trích chất Casein trong hạt đậu nành để chế tạo thành một chất như tơ hóa học, chất tạo nhũ tương trong công nghệ cao su và là ngu yên liê ̣u chính trong cung cấp
Trang 19thực phẩm, chế biến thức ăn gia súc , công nghê ̣ ép dầu trong chế biến sản phẩm lên men từ nước tương Sản phẩm không lên men là sữa và bột dinh dưỡng
2.4.3 Đậu nành đƣợc sử dụng làm thức ăn gia súc
Thân và lá đậu nành khô sử dụng như một loại cỏ cho trâu, bò nhưng thường sử dụng để ủ chua (thêm Urea + mật đường)
Bánh dầu đậu nành cũng là nguồn thức ăn cho gia súc bởi vì trong bánh dầu đậu nành còn chứa khoảng 40 – 50% N
2.4.4 Đậu nành đƣợc sử dụng làm phân bón - cải tạo đất
Theo Lê Văn Dũ (2007), đất trồng liên tục một loại hoa màu qua nhiều năm thì chất dinh dưỡng trong đất dần dần bị mất đi, nếu không có biện pháp khắc phục kịp thời sẽ làm đất bạc màu Có nhiều biện pháp khác nhau trong đó việc trồng xen, luân canh cây họ đậu là biện pháp hữu hiệu nhất
Cây đậu nành có tác dụng cải tạo đất đóng vai trò quan trọng trong chuyển đổi
cơ cấu kinh tế cây trồng, đặc biệt là vùng sinh thái miền núi Điều này có được là do:
trong rễ cây đậu nành có vi khuẩn Rhizobium sống cộng sinh hàng năm bồi bổ lại cho
đất khoảng 40 – 46 kg đạm/ha đất, vừa cung cấp dưỡng chất cho cây đậu nành vừa góp phần nâng cao năng suất cho cây trồng vụ sau, tăng độ phì nhiêu cho đất
2.4.5 Đậu nành đƣợc sử dụng trong y học
Trước đây ngành công nghiệp chế biến thực phẩm lấy dầu chưa phát triển thì nguồn cung cấp protein hằng ngày chủ yếu là từ mỡ động vật, ở nguồn mỡ này hàm lượng protein chứa cholesterol nhiều gây tắc nghẽn mạch máu, làm chậm quá trình vận chuyển và trao đổi chất của cơ thể Do không chứa cholesterol và lượng dưỡng chất cùng các vitamin, khoáng chất, đậu nành là loại thức ăn tốt cho người béo phì (trích dẫn theo Vũ Thị Diệu, 2012)
Ngày nay, giá trị dinh dưỡng từ cây đậu nành rất quan trọng, nó cung cấp hàm lượng protein cao, không chứa cholesterol
Đậu nành là vị thuốc để chữa bệnh, đặc biệt là đậu nành hạt đen, có tác dụng tốt cho tim, gan, thận, dạ dày và ruột; làm thức ăn cho những người bị bệnh đái tháo đường, thấp khớp, mới ốm dậy hoặc do lao động quá sức
Trang 202.5 Tình hình sản xuất, tiêu thụ đậu nành trên thế giới và trong nước
2.5.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ đậu nành trên thế giới
Sản lượng (triệu tấn)
23,80 22,55 25,83 25,33
230,95 223,18 264,97 260,91
(Nguồn: FAOSTAT, 2013)
Diện tích và sản lượng đậu nành trên toàn thế giới tăng lên nhanh chóng trong vòng 10 năm qua Theo FAO, năm 2011 diện tích đậu nành trên thế giới chiếm 102,99 triệu ha; năng suất bình quân 2,53 tấn/ha Sản lượng đạt 260,91 triệu tấn; tăng 23,83 triệu ha và 152,1 triê ̣n tấn so với năm 2002
2.5.1.2 Tình hình tiêu thụ
Về thị trường giao dịch đậu nành trên thế giới: 25% tổng sản lượng đậu nành ở
Trang 21Argentina Nhiều nước nhập khẩu đậu nành để làm thức ăn cho con người, chế biến và
ép dầu Những nước nhập khẩu lớn gồm: Cộng đồng kinh tế Châu Âu (EEC), Anh, Pháp, Hà Lan, Bỉ, Luxemburg, Ý, Đan Mạch, Thổ Nhĩ Kỳ và Nhật Bản
Sau chiến tranh thế giới lần II, Mỹ và Trung Quốc là hai quốc gia xuất khẩu đậu nành nhiều nhất thế giới Phần lớn sản lượng đậu nành của Mỹ hoặc để nuôi gia súc, hoặc để xuất khẩu, mặc dù tiêu thụ đậu nành ở người trên đất nước này đang tăng lên Dầu đậu nành chiếm tới 80 % lượng dầu ăn được tiêu thụ ở Mỹ
Do nhu cầu tiêu thụ trong nước gia tăng từ năm 1974, lần đầu tiên Trung Quốc
đã trở thành nước nhập khẩu đậu nành cho đến nay Theo số liệu hải quan, hiện nay, Trung Quốc là nước nhập khẩu đậu nành lớn nhất thế giới, hằng năm đã phải nhập trên
10 triệu tấn tính từ năm 2000 Việc nhập khẩu đậu nành tại Trung Quốc trong tương lai sẽ giảm bởi Trung Quốc có tiềm năng sản xuất đậu nành và có ưu thế để sản xuất đậu nành an toàn (đậu nành không biến đổi gen) (Trần Văn Lợt, 2010)
2.5.2 Tình hình sản xuất, tiêu thụ đậu nành ở nước ta
2.5.2.1 Tình hình sản xuất
Do vị trí địa lý nước ta nằm sát Trung Quốc, có sự giao lưu nhiều mặt từ lâu đời nên cây đậu nành được biết đến và trồng từ rất sớm, ngay từ thời Vua Hùng ông cha ta
đã biết trồng cây đậu nành cùng với nhiều loại đậu khác (Trần Văn Lơt, 2010)
Mặc dù có lịch sử lâu đời, nhưng trải qua một thời gian dài cây đậu nành vẫn chiếm một vị trí rất khiêm tốn trong nền sản xuất nông nghiệp nước ta Năm 1976, diện tích đậu nành cả nước chỉ đạt gần 40 ngàn ha, năng suất 5,2 tạ/ha, sản lượng 20,7 ngàn tấn Năm 1995 có diện tích lớn nhất đạt 121,1 ngàn ha, năng suất 10,3 tạ/ha, sản lượng 125,5 ngàn tấn Hiện nay diện tích đậu nành cả nước khoảng trên dưới 100 ngàn
ha, năng suất khoảng 11 – 12 tạ/ha
Cả nước đã hình thành 8 vùng sản xuất đậu nành đó là Đồng bằng Sông Hồng, Đông Bắc, Tây Bắc, Bắc Trung Bộ, Duyên Hải Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, Đồng bằng sông Cửu long Diện tích và sản lượng đậu nành ở Đồng bằng sông Hồng (2009) lớn nhất nước tương ứng 73.400 ha và 113.800 tấn, năng suất cao nhất ở vùng Đồng bằng Sông Cửu Long (2,1 tấn/ha) (Niên giám thống kê, 2010)
Trang 22Hiện nay, đậu nành đang được khai thác phát triển trong cơ cấu 2 lúa – 1 màu; đặc biệt phát triển nhanh ở Đồng bằng sông Hồng, Đồng bằng sông Cửu Long và Duyên hải miền Trung Trong đó, tại Đồng bằng sông Hồng đang có chủ trương “đậu nành hóa” trên diện tích lúa vụ Đông trong những năm sắp tới do lợi nhuận và hiệu quả mang lại Ở Đồng Bằng Sông Cửu Long và Tây Nguyên, cây đậu nành cũng đang
có chiều hướng phát triển trở lại, các tỉnh An Giang, Đồng Tháp, Trà Vinh, Sóc Trăng, Đắk Lắk, đang có chủ trương mở rộng diện tích đậu nành ở những chân đất 2 vụ lúa và trên đất màu nhờ nước trời Vùng Đông Nam Bộ phát triển chậm hơn do sự cạnh tranh của những cây trồng khác
Bảng 2.2: Diện tích, năng suất và sản lượng đậu nành Việt Nam từ năm 2000 đến năm
2011
Năm Diện tích
(ngàn ha)
Năng suất (tấn/ha)
Sản lƣợng (ngàn tấn)
1,55 1,47
296,90 266,30
(Nguồn: FAOSTAT, 2013)
Qua bảng 2.2 cho thấy diện tích, năng suất và sản lượng đậu nành nước ta có tăng nhưng rất ít Năm 2011 diện tích trồng đậu nành chỉ đạt 181 500 ha với năng suất 1,47 tấn/ha với sản lượng đạt 266,30 ngàn tấn Việc phát triển đậu nành hiện nay gặp
Trang 23nhiều khó khắn do chủng loại giống ít, năng suất thấp và hệ thống thủy lợi cho vụ đông còn gặp nhiều bất cập Chính vì vậy, dù việc trồng đậu nành ở nước ta đã có từ lâu đời nhưng diện tích trồng cây đậu nành của cả nước ta lúc cao nhất cũng chỉ đạt dưới 200.000 ha với năng suất khá thấp so với thế giới
2.5.2.2 Tình hình tiêu thụ, nhập khẩu
Hiện nay khối lượng sản phẩm đậu nành của Việt Nam chưa nhiều Tính bình quân đầu người mới có 1,1 kg đâ ̣u nành/năm Do đó trong các năm gần đây , Viê ̣t Nam không có đâ ̣u nành xuất khẩu đáng kể Ngoài ra nước ta còn phải nhập mộ t lượng đâ ̣u nành qua con đường tiểu ngạch từ Campuchia và Thái Lan sang khoảng 18 – 20 nghìn tấn/năm (Nguyễn Tiến Ma ̣nh, 1995)
Nguồn ha ̣t đâ ̣u nành ở Viê ̣t Nam sử du ̣ng cho các nhu cầu như : làm thực phẩm gồm đâ ̣u phu ̣, nước tương, bánh kẹo, sữa đâ ̣u nành , ép dầu ăn , làm thức ăn hỗn hợp cho chăn nuôi gà công nghiê ̣p , lợn hướng na ̣c và các nhu cầu chăn nuôi khác (Nguyễn Tiến Ma ̣nh, 1995)
Dự báo rằng trong những năm tới khi mức sống của nhân dân tăng lên , ngành chăn nuôi sẽ phát triến ma ̣nh đă ̣c biê ̣t là chăn nuôi kiểu công nghiê ̣p Do đó nhu cầu
đâ ̣u nành cho chế biến làm thực phẩm , thức ăn gia súc và chế dầu thực phẩm ngày càng tăng
2.6 Tình hình nghiên cứu, tạo chọn giống trên thế giới và trong nước
2.6.1 Tình hình nghiên cứu, tạo chọn giống trên thế giới
Việc nghiên cứu , chọn tạo giống đậu nành đã được triển khai ở nhiều nước trồng và xuất khẩu đậu nành trên thế giới như : Trung Quốc, Mỹ, Brazil, Đài Loan, và
đã được các giống có năng suất cao qua lai tạo và chọn lọc được dung trong chế biến thực phẩm và xuất khẩu hạt thu ngoại tệ lớn (Huỳnh Hữu Nghĩa, 2006)
Năm 1971 Cục thống kê bộ nông nghiệp Mỹ đã chọn được 5 giống đậu nành để sản xuất đại trà gồm Wayne, Clark, Lee, Arkay và Corray Năm 1986 viện nghiên cứu lúa gạo quốc tế đã thử nghiệm 20 giống đậu nành ở 5 nước là Nepal, Việt Nam, Indonesia, Sri Lanka và Philippines và kết quả đạt được là đã chọn được bộ giống gồm IRI 1682 – 1343, I – 10IR, 7267 – 1, IRII – 4, CC – 3 – 209 – LL – II Năm 1990 các nhà chọn giống đã đưa giống đậu nành từ Trung Quốc sang mỹ với những giống
Trang 24chống chịu được điều kiện đất nghèo dinh dưỡng nhưng đạt năng suất cao Năm 1992 trung tâm nghiên cứu rau đậu Châu Á đã khảo nghiệm 328 mẫu giống đậu nành ở 23 nước và 47 mẫu giống ở 22 nước năm 1995 viện quốc tế nông nghiệp nhiệt đới thí nghiệm về chương trình cải thiện cây họ đậu và chọn lọc được nhiều giống đậu nành năng suất cao (Trần Đình Long và Hoàng Tuyết Minh, 2001)
Những năm gần đây nội dung chọn giống đậu nành ở Châu á được chú trọng theo hai hướng là đậu nành lấy hạt và đậu nành làm rau ăn quả (rau xanh đóng hộp) để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày càng tăng nhanh
Theo Trần Văn Lợt (2010), điều đặc biệt chú ý trên thế giới là các nhà khoa học
đã đi vào nghiên cứu công nghệ phân tử là chuyển gen chống hạn, kháng thuốc diệt cỏ cho cây đậu nành
Vì vậy hiện nay, khoảng 80 % lượng đậu nành được trồng phục vụ thương mại đều là GMO Năm 2007 diện tích trồng đậu nành chuyển gen đật 58,6 triệu ha, và chiếm 57% diện tích đất trồng cây trên toàn thế giới (114,3 triệu ha) tập trung ở Mỹ, Argentina, Brazil, Canada, Ấn Độ, Trung Quốc, Paraguay, Nam Phi, Uruguay
Nhờ việc áp dụng công nghệ gen mà các nước phát triển đã tạo ra các giống đậu nành chuyển gen có năng suất rất cao đạt 6,0 – 6,5 tấn/ha góp phần vào việc phát triển diện tích trồng đậu nành trên thế giới (dẫn theo Nguyễn Ngọc Hải, 2008)
2.6.2 Tình hình nghiên cứu, tạo chọn giống trong nước
Công tác nghiên cứu đậu đỗ nói chung ở nước ta được thực hiện bởi nhiều đơn
vị nghiên cứu gồm các viện, trung tâm, trạm, trường; trong đó có Viện Di truyền Nông nghiệp, Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam, Viện Cây công nghiệp và Cây ăn quả, Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm, Trung tâm Hưng Lộc – Đồng Nai, Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển rau đậu của Trường Đại học Cần Thơ Các nghiên cứu chủ yếu là nghiên cứu đơn giản như so sánh giống, mật độ - khoảng cách, phân bón, vi khuẩn cố định đạm
Theo Trần Văn Lợt (2010), từ năm 1979 các thí nghiệm so sánh các giống đậu nành địa phương và nhập nội đã được tiến hành ở các tỉnh Miền Bắc, còn ở Miền Nam thì trước năm 1975 công tác giống chủ yếu tập trung vào nhập nội giống đậu nành từ
Mỹ, Đài Loan, Thái Lan, Nhật Bản sau đó tuyển chọn dòng thuần Ở miềm Nam nước
Trang 25ta có nhiều vùng trồng đậu nành với điều kiện sinh thái, mùa vụ và tập quán canh tác khác nhau đòi hỏi cần phải có bộ giống gồm nhiều giống khác nhau để đáp ứng yêu cầu sản xuất ở các vùng và các mùa vụ khác nhau đó Bởi vì giữa các giống đậu nành
có sự khác biệt nhau rõ rệt về phạm vi thích ứng, có giống thích ứng rộng nhưng cũng
có giống thích ứng hẹp, nhưng không có và cũng sẽ không bao giờ có một giống nào
mà thích nghi được với tất cả các vùng sinh thái và các mùa vụ trồng khác nhau, dù chỉ giới hạn trong phạm vi của miền Nam
Theo Trần Đình Long và Hoàng Tuyết Minh (2001), từ 1990 – 2000 các giống đậu nành mới được chọn tạo và được công nhận gồm ĐT93, TL57-(A-57), ĐN – 42, AK06, VX93, DT2000, M103, DT – 84, AK05, AK03, DT96 – 02, DT95, VX92
Năm 1995 giống đậu nành DT – 84 đã được chọn tạo thành công tại Viện Di truyền Nông nghiệp (trích dẫn theo Nguyễn Ngọc Hải, 2008) Giống đậu nành DT –
84 này được chọn tạo bằng phương pháp xử lý đột biến trên dòng lai 8-33 giữa ĐT80
và ĐT76
Giống đậu nành HL203 có tên gốc GC84058-18-4 thuộc tổ hợp lai (PI79712613 x PI79712613 x SJ 4) được nhập nội vào Việt Nam năm 1999 Giống này đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông Thôn công nhận chính thức vào năm
2009 (Trần Đình Long và Hoàng Tuyết Minh, 2001)
Năm 2002 đã tuyển chọn giống HL92 (AGS327) từ bộ giống khảo nghiệm ASET
1992 của AVRDC Giống có năng suất trung bình 1,6 -1,8 tấn/ha với thời gian sinh trưởng ngắn 75 – 77 ngày Hạt vàng bóng, mắt hồng, được thị hiếu ưa chuộng Giống được công nhận quốc gia năm 2002
Tính đến năm 2005, Việt Nam đã có 31 giống đậu nành được công nhận chính thức đã áp dụng rộng rãi trong sản xuất Những giống được giới thiệu ở miền Bắc qua công tác nghiên cứu của nhiều Viện, Trường trong thời gian gần đây như ĐVN5, DT2000, ĐT2001, ĐT2006 và các giống đậu nành đột biến như DT96, DT84, DT10 không những cho năng suất cao mà còn có khả năng chịu hạn, đã phát huy tốt trong sản xuất (Chu Thị Thơm, 2005)
Năm 2008 giống đậu nành Đ2101 do Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm chọn tạo đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn công nhận cho phép sản
Trang 26xuất thử tại các tỉnh vùng Đồng bằng Bắc bộ Giống đậu nành Đ2101 được chọn tạo từ
tổ hợp lai Đ95 x Đ9037 và đã được công nhận chính thức năm 2010
Năm 2011, Hội đồng Khoa học Bộ NN – PTNT đã công nhận 4 giống đậu nành mới, trong đó có 2 giống đậu nành ăn hạt: DT2001 – chính thức, DT2008 – sản xuất thử và 2 giống đậu nành rau (đậu nành lông): DT02 – chính thức, DT08 – sản xuất thử
do Viện Di truyền Nông nghiệp chọn tạo
Năm 2011, Viê ̣n Di truyền Nông nghiê ̣p đã tổ chức 6 cuô ̣c hô ̣i thảo đầu bờ đánh giá năng suất , chất lượng giống đâ ̣u nành DT 2008 trên diê ̣n rô ̣ng ta ̣i 5 tỉnh Hà Giang, Cao Bằng, Thái Nguyên, Đắk Nông, Kon Tum Kết quả đánh giá được giống đậu nành DT2008 đạt năng suất 2,5 tấn/ha ta ̣i huyện Phổ Yên , Thái Nguyên, cao gấp đôi DT 84 (1,3 tấn/ha), thích hợp với vụ hè thu tại các tỉnh miền núi phía Bắc , Tây Nguyên (Nguyễn Huân, 2011)
2.7 Phương hướng và mục tiêu phát triển đậu nành ở Việt Nam
Theo Trần Văn Lợt (2010), nhằm thúc đẩy phát triển cây đậu nành để đáp ứng
đủ trong nước và hướng tới xuất khẩu Bộ Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn đã xác định những phương hướng và mục tiêu sau:
Phương hướng phát triển đậu nành ở Việt Nam
- Cây đậu nành là cây trồng chính mang tính chiến lược, đòi hỏi phải có chính sách sản xuất, ưu tiên mở rộng diện tích cho các vùng sản xuất trọng điểm cũng như các mùa vụ cho năng suất cao
- Áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất để giảm thiểu mức chi phí tối
đa, thâm canh đồng bộ để đưa năng suất cao và ổn định
- Tăng cường kinh phí tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ sở nghiên cứu khoa học trong công tác giống để chọn tạo các giống có năng suất cao, ổn định, ngắn ngày, kháng sâu bệnh
Mục tiêu phát triển đậu nành ở Việt Nam
Mục tiêu chung
- Phát triển đậu nành đảm bảo nhu cầu thực phẩm giàu dinh dưỡng và từng
bước hạn chế việc nhập khẩu đậu nành của các nước khác
Trang 27- Dựa trên kỹ thuật tiên tiến để thâm canh, nâng cao năng suất nhằm phát huy hiệu quả sản xuất, giảm giá thành, tăng thu nhập cho nông dân
Trang 28Chương 3
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP
3.1 Điều kiện nghiên cứu
3.1.1Thời gian và địa điểm thí nghiệm
Thời gian: thí nghiệm được tiến hành trong vụ xuân hè từ tháng 03 đến tháng
07 năm 2013
Địa điểm: Phường Yên Thế, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai
3.1.2 Điều kiện thí nghiệm
3.1.2.1 Điều kiện khí hậu thời tiết trong thời gian làm thí nghiệm
Gia Lai có khí hậu nhiệt đới gió mùa cao nguyên, một năm có hai mùa: mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 và kết thúc vào tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm Nhiệt độ trung bình năm là 22 – 25ºC
Bảng 3.1 Số liệu khí tượng thu từ 12/2011 – 03/2012
(Nguồn: Kết quả quan trắc khí tượng Gia Lai, 2013)
Qua bảng 3.2 cho thấy trong 4 tháng tiến hành thí nghiệm:
- Lượng mưa trung bình qua các tháng biến động từ 3,5 – 239,2 mm Tháng có lượng mưa cao nhất là tháng 06 và thấp nhất là tháng 03
- Ẩm độ trung bình qua các tháng biến động từ 71% – 87% Tháng có ẩm độ trung bình cao nhất là tháng 06 và thấp nhất là tháng 03
Trang 29- Nhiệt độ trung bình qua các tháng biến động từ 23,80C – 24,80C Tháng có nhiệt độ trung bình cao nhất là tháng 05 và nhiệt độ trung bình thấp nhất là tháng 06
Qua đó cho thấy khí hậu này thuận lợi cho sự sinh trưởng và phát triển cây đậu nành Nhưng vào tháng 03 lượng mưa tương đối ít ảnh hưởng sự nảy mầm và phát triển cây con nên cần đảm bảo đủ lượng nước để tạo điều kiện tốt nhất cho hạt nảy mầm Đến tháng 06 lượng mưa tương đối nhiều cần chú ý công tác thu hoạch, không
để làm ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng đậu nành
3.1.2.2 Điều kiện đất đai
Thí nghiệm được trồng trên vùng đất đỏ bazan trong vụ Xuân Hè
3.1.2.3 Quy trình kỹ thuật canh tác
Quy trình kỹ thuật canh tác áp dụng theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khảo nghiệm giá trị canh tác và sử dụng của giống đậu nành (VCU) đã được hiệu chỉnh phù hợp với điều kiện canh tác của địa phương
Lượng phân bón cho 1 ha gồm 5 tấn phân hữu cơ, 30 kg N, 60 kg P2O5 , 60 kg
Trang 30Bón thúc lần 2 (20 – 25 ngày sau gieo): 1/2 N + 1/2 K2O
Quy trình kỹ thuật canh tác được áp dụng
STT Loại công việc Ngày thực hiện Cách thực hiện
2 San phẳng – 5 San phẳng mặt đất, gom sạch cỏ dại
4 Phân lô, bón lót – 2 Phân lô theo kích thước định sẵn Rãi đều phân trên ô thí nghiệm,
lấp đất, bón theo liều lượng đã định
5 Cuốc hốc,
gieo hạt 0 Cuốc sâu 4 cm Khoảng cách 40 x 20 cm
6 Dặm tỉa + 7 Dặm vào các hốc không mọc, tỉa 1
9 Thu hoạch Tùy giống Cắt sát gốc, phơi khô, đập, phơi 3 nắng, cân sản lượng, bảo quản
10 Tưới nước Từ khi gieo đến 10 NSG: tưới 1 lần/1 ngày Tiếp theo tưới 2 lần/1 ngày
Trang 313.2 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu
3.2.1 Vật liệu
Tham gia thí nghiệm gồm 12 giống đậu nành được trình bày ở bảng 3.3:
Bảng 3.3 Danh sách các giống đậu nành thí nghiệm
Tên giống Mã hoá nghiệm
3.2.2 Phương pháp nghiên cứu
, diện tích toàn khu thí nghiệm là 234 m2
Trang 32
Chiều biến thiên
Trong đó: 1, 2, 3, …, 12 là số mã hoá các giống thí nghiệm theo danh sách ở bảng 3.2
Toàn cảnh khu thí nghiệm
Trang 333.2.2.2 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi
Cách lấy mẫu và phương pháp đánh giá
Cây theo dõi được xác định khi có từ 4 – 5 lá thật, mẫu lấy ngẫu nhiên, không lấy các cây ở đầu hàng Mỗi lần nhắc lại thu từ 10 cây ở 2 hàng giữa luống, mỗi hàng lấy 5 cây liên tiếp
Các chỉ tiêu theo dõi
Thời gian sinh trưởng và phát dục
- Ngày mọc mầm (ngày): 50% số cây/ô mọc 2 lá mầm
- Ngày ra lá đơn (ngày): 50% số cây/ô ra lá đơn
- Ngày ra hoa (ngày): khoảng 50% số cây/ô có ít nhất 1 hoa nở
- Ngày kết trái (ngày): 50% số cây/ô có trái non dài 1 cm
- Thời gian sinh trưởng (ngày): 90% số quả trên ô có vỏ quả chuyển màu nâu hoặc đen, tính từ lúc gieo đến lúc thu hoạch
- Tốc độ tăng trưởng chiều cao cây (cm/ngày)
- Đường kính gốc thân (cm): đo ở đốt thứ nhất trên đốt lá mầm khi thu hoạch
- Số cành cấp 1/cây (cành): đếm số cành mọc từ thân chính của 10 cây mẫu/ô vào lúc thu hoạch
Trang 35- Số quả 2 hạt/cây (quả): đếm tổng số quả có 2 hạt trên 10 cây mẫu/ô lúc thu hoạch Tính trung bình cho 1 cây
- Số quả 3 hạt/cây (quả): đếm tổng số quả có 3 hạt trên 10 cây mẫu/ô lúc thu hoạch Tính trung bình cho 1 cây
Hạt (quan sát lúc thu hoạch)
- Màu vỏ hạt: Vàng sáng (VS), vàng nhạt (VNh)
- Màu tẻ (rốn) hạt: Đen (Đ), trắng (T), vàng sáng (VS), nâu (N)
- Trọng lượng 100 hạt (g): cân trọng lượng 100 hạt ngẫu nhiên, lặp lại 3 lần
- Tổng số hạt/cây (hạt/cây)
- Trọng lượng hạt/cây (g/cây)
Các chỉ tiêu về sâu bệnh hại
Khả năng kháng sâu bệnh được đánh giá theo thang điểm của tiêu chuẩn ngành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khảo nghiệm giá trị canh tác và sử dụng của giống đậu nành QCVN 01-58: 2011/BNNPTNT (Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, 2011)được điều tra, theo dõi trong quá trình thực hiện thí nghiệm và sử dùng thuốc bảo vệ thực vật khi tới ngưỡng gây hại
Sâu hại
- Sâu đục quả (Eitiella zinekenella): điều tra ít nhất 10 cây đại diện theo phương
pháp 5 điểm chéo góc Quan sát lúc trước thu hoạch
Tính theo công thức: Tỷ lệ quả bị hại (%) = (Số quả bị hại/Tổng số quả điều
tra) x 100
- Giòi đục thân (Melanesgromyza sojae): điều tra ít nhất 10 cây đại diện theo
phương pháp 5 điểm chéo góc Điều tra lúc cây con.Tính theo công thức: Tỷ lệ cây bị hại (%) = (Số cây bị hại/Tổng số cây điều tra) x 100
- Sâu cuốn lá (Lamprosema indicata): điều tra 10 cây đại diện theo phương
pháp 5 điểm chéo góc Quan sát lúc trước thu hoạch Tính theo công thức: Tỷ lệ lá bị hại (%) = (Số lá bị hại/Tổng số lá điều tra) x 100
Bệnh hại
- Bệnh gỉ sắt (Phakopsora pachyhizi Sydow): điều tra 10 cây đại diện theo
phương pháp 5 điểm chéo góc vào thời điểm cây ra hoa rộ - vào chắc Chia làm 5 cấp:
Trang 36Cấp 1: Rất nhẹ (dưới 1% diện tích lá bị hại)
Cấp 3: Nhẹ (1% đến 5% diện tích lá bị hại)
Cấp 5: Trung bình (> 5% đến 25% diện tích lá bị hại)
Cấp 7: Nặng (> 25% đến 50% diện tích lá bị hại)
Cấp 9: Rất nặng (> 50 % diện tích lá bị hại)
- Bệnh sương mai (Peronospora manshurica) : Điều tra 10 cây đại diện theo
phương pháp 5 điểm chéo góc vào thời điểm cây ra hoa rộ - vào chắc Chia làm 5 cấp:
Cấp 1: Rất nhẹ (dưới 1% diện tích lá bị hại)
Cấp 3: Nhẹ ( 1% đến 5% diện tích lá bị hại)
Cấp 5: Trung bình (> 5% đến 25% diện tích lá bị hại)
Cấp 7: Nặng (> 25% đến 50% diện tích lá bị hại)
Cấp 9: Rất nặng (> 50% diện tích lá bị hại)
- Bệnh đốm nâu (Septoria glycines Hemmi): Điều tra 10 cây đại diện theo
phương pháp 5 điểm chéo góc vào thời điểm cây ra hoa rộ - vào chắc Chia làm 5 cấp:
Cấp 1: Rất nhẹ (dưới 1% diện tích lá bị hại)
Cấp 3: Nhẹ (1% đến 5% diện tích lá bị hại)
Cấp 5: Trung bình (> 5% đến 25% diện tích lá bị hại)
Cấp 7: Nặng (> 25% đến 50% diện tích lá bị hại)
Cấp 9: Rất nặng (> 50% diện tích lá bị hại)
- Bệnh lở cổ rễ (Rhizoctonia solani Kunh) (%): Điều tra toàn bộ các cây trên ô
lúc cây con (sau mọc 7 ngày) Tỷ lệ cây bị bệnh (%) = (Số cây bị bệnh/Tổng số cây điều tra) x 100
- Bệnh phấn trắng (Erysiphe polygoni): Điều tra 10 cây đại diện theo phương
pháp 5 điểm chéo góc vào thời điểm cây ra hoa rộ - vào chắc Chia làm 5 cấp:
Cấp 1: Không nhiễm (< 5% số cây có vết bệnh)
Cấp 2: Nhiễm nhẹ ( 6 – 25% số cây có vết bệnh)
Cấp 3: Nhiễm trung bình ( 26 – 50% số cây có vết bệnh)
Cấp 4: Nhiễm nặng ( 51 – 75% số cây có vết bệnh)
Cấp 5: Nhiễm rất nặng (> 76% số cây có vết bệnh)
Trang 37Đếm số cây bị đổ trên ô trước khi thu hoạch Có 5 cấp:
Cấp 1: Không đổ (hầu hết các cây đều đứng thẳng)
Năng suất lý thuyết và năng suất thực thu
- Năng suất lý thuyết (kg/ha) = (Năng suất cây x mật độ)/100
- Năng suất thực thu (kg/ha) = (Năng suất ô thí nghiệm/Diện tích ô thí nghiệm)
x 100
3.2.2.3 Phương pháp xử lý số liệu
Tất cả các số liệu được tính toán bằng Excel, sau đó xử lý thống kê bằng phần mềm MSTATC Trắc nghiệm phân hạng các trung bình nghiệm thức ở mức α = 0,05 hoặc α = 0,01
Trang 38Chương 4
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 Đặc điểm sinh trưởng và phát triển của các giống đậu nành
4.1.1 Thời gian sinh trưởng, phát triển
Thời gian sinh trưởng của một giống là chỉ tiêu quan trọng nhằm giúp cho việc chọn giống cây trồng phù hợp với từng vùng sinh thái khác nhau và bố trí mùa vụ thích hợp
Qua bảng 4.1 cho thấy:
Ngày mọc mầm
Thời gian từ gieo hạt đến mọc ở 12 giống thí nghiệm kéo dài từ 4,0 –5,7 ngày trong điều kiện vụ xuân hè tại phường Yên Thế, Thành phố Pleiku, Tỉnh Gia Lai Kết quả phân tích phương sai cho thấy các giống đậu nành tham gia thí nghiệm có thời gian mọc khác nhau nên sự khác biệt rất có ý nghĩa thống kê (P < 0,01) trong đó giống DS10-3-1 mọc sớm nhất (4,0 NSG) tuy không có sự khác biệt so với giống DS11-5-5, DS7-9-2, DS10-3-1 như.ng có sự khác biệt rất có ý nghĩa so với các nghiệm thức còn lại Các giống DS7-9-2, DS11-5-5 và giống đối chứng có ngày mọc trung bình biến động từ 4,3 – 5,3 NSG
Tỷ lệ mọc mầm
Tỷ lệ mọc mầm của 12 giống thí nghiệm tương đối cao, dao động từ 87,1 – 97,8% Giống DS10-3-1 có tỷ lệ mọc mầm cao nhất đạt 97,8%, nhưng sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê ở mức 0,01 đối với các giống DS8, OMDN 29, DS7-14-22, DS11-5-5, DS6-7-26 và giống đối chứng Giống đạt tỷ lệ mọc mầm thấp nhất là giống DS7-9-2 (87,1%) Các giống còn lại có tỷ lệ mọc mầm biến động từ 87,3 – 97,4%
Trang 39Bảng 4.1 Thời gian sinh trưởng, phát triển của 12 giống đậu nành thí nghiệm
Thời gian qua các giai đoạn sinh trưởng, phát dục
Ngày mọc mầm
(ngày)
Tỉ lệ mọc mầm (%)
Ngày ra lá đơn
(ngày)
Ngày ra hoa
(ngày)
Ngày ra quả
(ngày)
Ngày quả chín (ngày)
Thời gian sinh trưởng
Trang 40 Thời kỳ ra lá đơn
Đa số các giống đều có ngày ra hai lá đơn là 7,7 ngày gồm các giống DS7-14-22, DS6-6-25, DS7-9-40, DS6-7-26, DS8, DS6-7-14, MTD 176, OMDN 29 Giống DS10-3-1 có ngày ra lá đơn sớm nhất lúc 6 NSG, tuy không có sự khác biệt có ý nghĩa với các giống DS11-5-5, DS7-9-2 nhưng có sự khác biệt rất có ý nghĩa thống kê đối với các giống còn lại
Ngày ra hoa
Thời kỳ ra hoa đánh dấu sự chuyển từ giai đoạn sinh trưởng sinh dưỡng sang giai đoạn sinh trưởng sinh thực Đây là thời kỳ quan trọng vì nó ảnh hưởng đến năng suất Qua thí nghiệm cho thấy rằng 12 giống đậu nành có ngày ra hoa biến động từ 27,7 – 39,0 ngày sau gieo Kết quả phân tích phương sai cho thấy các giống đậu nành tham gia thí nghiệm có ngày ra hoa khác nhau (P < 0,01) Giống ra hoa muộn nhất là giống địa phương (39 ngày) khác biết rất có ý nghĩa so với các nghiệm thức còn lại Các giống còn lại có ngày ra hoa trung bình từ 28,3 đến 34,7 NSG
Ngày ra quả
Thời kỳ mọc đến thời kỳ kết quả biến động từ 40,7 – 56,0 ngày Khi hình thành trái, dinh dưỡng tập trung vào hạt Thời kỳ quả vào chắc và chín chịu ảnh hưởng lớn của điều kiện thời tiết, số giờ nắng ít, lượng mưa nhiều làm quá trình chín không đồng loạt, khó thu hoạch ảnh hưởng lớn đến năng suất Kết quả phân tích phương sai cho thấy các giống đậu nành tham gia thí nghiệm có ngày kết trái khác nhau (P < 0,01) Giống địa phương có ngày đậu quả muộn nhất lúc 56,0 NSG và có sự khác biệt rất có
ý nghĩa về mặt thống kê đối với các giống còn lại giống OMDN 29 có ngày đậu quả sớm nhất lúc 40,7 ngày
Ngày quả chín
Qua phân tích thống kê cho thấy ngày quả chín của 12 giống đậu nành khác biệt rất có ý nghĩa thống kê Trong đó giống chín muộn nhất là giống đối chứng (87,0 ngày) khác biệt rất có ý nghĩa so với các giống còn lại
Thời gian sinh trưởng
Xác định được thời gian sinh trưởng của giống giúp cho việc lựa chọn giống, bố trí mùa vụ để mang lại hiệu quả về kinh tế cũng như trong hiệu quả sử dụng đất cho