KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐIỀU TRA TÌNH HÌNH DIỄN BIẾN, MỨC ĐỘ GÂY HẠI BỆNH THAN ĐEN VÀ BỆNH THỐI ĐỎ TRÊN MỘT SỐ GIỐNG MÍA TRIỂN VỌNG TẠI HUYỆN DƯƠNG MINH CHÂU TỈNH TÂY NINH NGÀNH : BẢO VỆ
Trang 1KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐIỀU TRA TÌNH HÌNH DIỄN BIẾN, MỨC ĐỘ GÂY HẠI BỆNH THAN ĐEN VÀ BỆNH THỐI ĐỎ TRÊN MỘT SỐ GIỐNG MÍA TRIỂN VỌNG TẠI HUYỆN DƯƠNG MINH
CHÂU TỈNH TÂY NINH
NGÀNH : BẢO VỆ THỰC VẬT
KHÓA : 2009 - 2013
SINH VIÊN THỰC HIỆN: NGUYỄN PHÚ THẠNH
Tp Hồ Chí Minh, tháng 08/2013
Trang 2ĐIỀU TRA TÌNH HÌNH DIỄN BIẾN, MỨC ĐỘ GÂY HẠI BỆNH THAN ĐEN VÀ BỆNH THỐI ĐỎ TRÊN MỘT SỐ GIỐNG MÍA TRIỂN VỌNG TẠI HUYỆN DƯƠNG MINH CHÂU TỈNH TÂY
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu nhà trường đại học Nông Lâm TP.HCM đặc biệt là các quý thầy cô trong khoa Nông Học đã tận tình giúp đỡ và truyền đạt cho tôi những kiến thức được học tập tại nhà trường để vận dụng trong công việc đang làm
Xin gửi lòng biết ơn sâu sắc tới cô TS Võ Thị Thu Oanh đã tận tình hướng dẫn cũng như giúp đỡ tôi thực hiện và hoàn hiện khóa luận tốt nghiệp
Xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của nhân dân huyện Dương Minh Châu, nhà máy đường Biên Hòa – Tây Ninh và trạm Nông vụ Biên Hòa 4 đã mọi điều kiện thuận lợi
và giúp đỡ tôi trong thời gian thực hiện đề tài tại địa phương
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến những người thân trong gia đình đã tạo điều kiện và
động viên tôi trong quá trình học tập tại trường
TP.HCM ngày 09 tháng 08 năm 2013
Sinh viên
Nguyễn Phú Thạnh
Trang 4TÓM TẮT
Nguyễn Phú Thạnh, Trường đại học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh, tháng 8 năm
2013 “ĐIỀU TRA TÌNH HÌNH DIỄN BIẾN, MỨC ĐỘ GÂY HẠI BỆNH THAN
ĐEN VÀ BỆNH THỐI ĐỎ TRÊN MỘT SỐ GIỐNG MÍA TRIỂN VỌNG TẠI HUYỆN DƯƠNG MINH CHÂU TỈNH TÂY NINH”
Giáo viên hướng dẫn: TS Võ Thị Thu Oanh
Tiến hành điều tra hiện trạng canh tác và mức độ gây hại bệnh than đen và bệnh thối đỏ trên một số giống mía triển vọng từ tháng 01/04/2013 đến 31/07/2013 Điều tra hiện trạng canh tácđược thực hiện một lần tại 3 xã tại huyện Dương Minh Châu Diễn biến và mức
độ gây hại bệnh than đen và thối đỏ trên 5 giống mía mỗi giống 6 ruộng tiến hành lấy số liệu lần đầu tiên sau đó lập lại chu kì lấy số liệu 14 ngày một lần
Sau thời gian tiến hành điều tra thực tế hiện trạng canh tác và diễn biến và mức độ gây hại của bệnh than đen và bệnh thối đỏ đã thu được một số kết quả như sau:
Đánh giá được hiện trạng canh tác của nông dân về cơ cấu sản xuất mía theo vụ, loại hình canh tác tại 3 xã của huyện Dương Minh Châu
Bệnh than đen trên cây mía trồng tại huyện Dương Minh Châu ít xuất hiện trên các giống mía được điều tra Bệnh xuất hiện thường vào các tháng mùa nắng Yếu tố ảnh hưởng đến bệnh phát triển là giống, ánh sáng và nhiệt độ thời kì sinh trưởng của mía, vụ mía
Bệnh thối đỏ trên cây mía trồng tại huyện Dương Minh Châu xuất hiện trên tất cả các giống mía được điều tra Bệnh xuất hiện vào cuối những tháng mùa nắng đầu mùa mưa Yếu tố ảnh hưởng đến bệnh phát triển chủ yếu là nhiệt độ, gió, lượng mưa, sâu hại trên mía và loại hình canh tác
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN ii
TÓM TẮT iii
DANH SÁCH CHỮ VIẾT TẮT viii
DANH SÁCH CÁC BẢNG ix
DANH SÁCH CÁC HÌNH x
Chương 1 1
MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích nghiên cứu 1
1.3 Giới hạn đề tài 2
Chương 2 3
TỔNG QUAN 3
2.1 Sơ lược về cây mía 3
2.1.1 Nguồn gốc 3
2.1.2 Phân loại 3
2.1.3 Phân bố 4
2.1.4 Đặc điểm thực vật của cây mía 5
2.1.4.1 Rễ mía 5
2.1.4.2 Thân mía 5
2.1.4.3 Lá mía 6
2.1.4.4 Hoa và hạt 6
2.1.5 Đặc điểm sinh thực vật riêng của từng loài 7
2.1.5.1 Loài nhiệt đới (Saccharum officinarum L.) 7
2.1.5.2 Loài mía Trung Quốc (Saccharum sinence Roxb Emend.Jesw) 7
2.1.5.3 Loài mía Ấn Độ (S barberi Jesw) 7
Trang 62.1.5.4 Loài hoang dại thân nhỏ (S spontaneum L) 7
2.1.5.5 Loài hoang dại thân to (S robustum) 7
2.1.5.6 Loài hoang dại thân nhỏ (S edule) 8
2.1.6 Yêu cầu điều kiện sinh thái 8
2.1.6.1 Khí hậu 8
2.1.6.2 Ánh sáng 8
2.1.6.3 Lượng nước và ẩm độ đất 8
2.1.6.4 Đất 8
2.1.6.5 Yêu cầu về dinh dưỡng 9
2.1.7 Nhân giống 9
2.1.8 Sản lượng 10
2.1.9 Chế biến và sử dụng 10
2.1.10 Vị trí kinh tế của cây mía 11
2.2.1 Tình hình sản xuất mía ở Việt Nam 12
2.2.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ đường ở Việt Nam 12
2.3 Các loại bệnh trên mía bệnh trên mía 13
2.4 Giới thiệu bệnh than đen 14
2.4.1 Nguồn gốc và phân bố 14
2.4.2 Triệu chứng 14
2.4.3 Tác nhân gây bệnh 15
2.4.4 Đặc điểm phát sinh và phát triển bệnh 16
2.4.5 Thiệt hại về kinh tế 16
2.5 Giới thiệu bệnh thối đỏ 16
2.5.1 Nguồn gốc và phân bố 16
2.5.2 Triệu chứng 16
2.5.3 Tác nhân gây bệnh 17
2.5.4 Biện pháp phòng trừ 18
2.6 Sơ lược về tỉnh Tây Ninh 18
2.6.2 Điều kiện tự nhiên 19
Trang 72.7 Những giống mía trồng phổ biến tại tỉnh Tây Ninh 20
2.7.1 Giống mía VN84 – 4137 (Ja60-5 x đa giao) 20
2.7.2 Giống mía K84- 200 (ROC1 x CP63 - 588) 21
2.7.3 Giống mía K 95- 156 (PL 310 x U - thong 1) 23
2.7.4 Giống mía LK 92- 11 (Mẹ x bố: K84- 200 x Eheaw) 23
2.7.5 Giống mía K 95- 84 (K90- 79 x K84- 200) 24
2.7.6 Giống mía K 93- 219 (U- thong 1 x Eheaw) 24
2.7.7 Giống K 88- 92: (U- thong 1 x PL 310) 25
2.7.8 Giống K 88- 200: Mẹ x bố (ROC 1 x CP 63- 588) 25
Chương 3 26
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM 26
3.1 Điều tra hiện trạng canh tác mía tại huyện Dương Minh Châu tỉnh Tây Ninh 26
3.1.1 Thời gian thực hiện điều tra 26
3.1.2 Phương tiện điều tra 26
3.1.3 Phương pháp thí nghiệm và chỉ tiêu theo dõi 26
3.2 Điều tra tình hình bệnh than đen và thối đỏ trên một số giống mía triển vọng 27
3.2.1 Mục đích: 27
3.2.2 Thời gian thực hiện điều tra 27
3.2.3 Phương pháp điều tra 27
3.2.4 Chỉ tiêu theo dõi 28
3.3 Phương pháp xử lý số liệu 28
Chương 4 29
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 29
4.1 Hiện trạng canh tác 29
4.1.1Đặc điểm chung của các hộ được điều tra 29
4.1.2 Diện tích trồng mía vụ Đông Xuân năm 2013 29
4.1.3 Đặc điểm kỹ thuật canh tác 29
4.1.4 Tình hình sâu hại mía 33
4.1.5 Cách phòng trừ sâu hại trên mía của các hộ nông dân 33
Trang 84.2 Tình hình bệnh trên cây mía tại huyện Dương Minh Châu 33
4.2.1 Bệnh than đen 33
4.2.1.1 Diễn biến bệnh than đen 33
4.2.1.2 Ảnh hưởng giống mía đến tỉ lệ bệnh than đen 34
4.2.2.1 Diễn biến bệnh thối đỏ 376
4.2.2.2 Ảnh hưởng của các giống mía đến tỉ lệ bệnh thối đỏ 367
4.2.2.3 Ảnh hưởng của các giống mía đến chỉ số bệnh thối đỏ 38
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 39
5.1 Kết luận 39
5.2 Đề nghị 39
TÀI LIỆU THAM KHẢO 40
PHỤC LỤC 41
1.1 Tỉ lệ bệnh than đen (%) 45
1.1 Tỉ lệ bệnh thối đỏ (%) 45
1.2 Chỉ số bệnh thối đỏ (%) 46
Trang 10DANH SÁCH CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Tình hình sản lƣợng ở Việt Nam từ năm 2006 -2011 12
Bảng 2.2 Tác nhân gây bệnh 14
Bảng 4.1: Diện tích gieo trồng mía của các hộ đƣợc điều tra 28
Bảng 4.2: Đặc điểm canh tác của các hộ đƣợc điều tra 29
Bảng 4.3: Loại phân và liều lƣợng sử dụng 31
Bảng 4.4: Một số thuốc trừ cỏ đƣợc nông dân sủ dụng trong sản xuất mía 32
Bảng 4.5: Vị trí gây hại và mức độ gây hại phổ biến của một số sâu hại trên mía 32
Bảng 4.6: Diễn biến bệnh than đen trên các giống mía 34
Bảng 4.7: Diễn biến bệnh than đen trên các vụ mía 34
Bảng 4.8: Diễn biến bệnh thối đỏ trên các giống mía 36
Bảng 4.9: Diễn biến bệnh thối đỏ trên các vụ mía 37
Trang 11DANH SÁCH CÁC HÌNH
Hình 2.1 Cây mía 3
Hình 2.2 Rễ, thân, hoa, hạt của cây mía 6
Hình 2.3 Biều đồ mức tiêu thụ đường bình quân đầu người 13
Hình 2.4 Triệu chứng do bệnh than gây hại trên mía 15
Hình 2.5 Bào tử nấm Ustilago scitaminea 16
Hình 2.6 Triệu chứng bệnh thối đỏ tren thân và lá 17
Hình 2.7 Bào tử nấm Colletotrichum falcatum 18
Hình 4.2 Tỉ bệnh than đen trên giống mía K95 -84 35
Hình 4.3 Triệu chứng bệnh than đen trên mía 35
Hình 4.4 Triệu chứng bệnh thối đỏ trên mía 36
Hình 4.5 Tỉ số bệnh trung bình trên một số giống mía 37
Hình 4.4 Chỉ số bệnh trung bình trên một số giống mía 38
Trang 12Chương 1
MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Hiện nay cây mía (Saccharum spp.) đang là một trong những loại cây công
nghiệp cho hiệu quả kinh tế cao ở nước ta cũng như nhiều nước trên thế giới như Cuba, Ấn Độ, Australia,…vì vậy diện tích trồng mía cũng như sự ra đời của nhiều giống mới không ngừng gia tăng trong những năm gần đây Tuy nhiên mía là cây trồng một lần nhưng lại cho khả năng cho thu hoạch nhiều vụ, nên đây cũng là một trong những điều kiện thuận lợi cho nhiều loại sâu bệnh hại tồn tại và phát triển (Nguyễn Huy Ước, 1994) Hơn nữa cơ cấu giống mía phong phú hơn, thời tiết cũng có nhiều biến đổi cũng góp phần làm cho dịch bệnh đa dạng hơn Các bệnh quan trọng ảnh hưởng đến năng suất mía hiện nay có rất nhiều, trong đó có bệnh than (Smut) và bệnh thối đỏ (Red rot)
Bệnh than do nấm Ustilago scitaminea, bệnh thối đỏ do nấm Colletotrichum falcatum Went gây ra, đây là 2 bệnh rất phổ biến và có ảnh hưởng lớn đến nghành sản
xuất mía đường của nhiều nước trên thế giới Do vậy việc phát hiện bệnh than và bệnh thối đỏ trên các giống mía có vai trò rất quan trong, nhằm thống kê tình hình nhiễm bệnh, nâng cao hiệu quả chọn lọc giống và kiểm soát bệnh
Trước tình hình trên được sự đồng ý của khoa Nông Họcchúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Điều tra tình hình diễn biến, mức độ gây hại bệnh than đen và bệnh thối đỏ trên một số giống mía triển vọng tại huyệnDương Minh Châu tỉnh Tây Ninh”
1.2 Mục đích nghiên cứu
Phương thức sản xuất của nông hộ
Nắm được diễn biến tình hình, mức độ nhiễm bệnh, trên các giống mía triển vọng tại huyện Dương Minh Châu tỉnh Tây Ninh
Trang 14Chương 2 TỔNG QUAN
2.1Sơ lược về cây mía
2.1.1 Nguồn gốc
Cây mía xuất hiện trên trái đất từ thời xa xưa,
khi lục địa châu Á và châu Úc còn dính liền nhau
Một số tác giả cho rằng vùng Tân Ghi Nê là quê
hương của cây mía nguyên thủy Tuy nhiên trong
tác phẩm “Nguồn gốc cây mía” của De Candellel lại
viết “cây mía được trồng đầu tiên ở vùng Đông
Nam Á, rồi từ đó qua Châu Phi và sau cùng là Châu
Mỹ” (R.P Humbert, 1963) Khi cây mía đưa vào
trông ở vùng Ả Rập, tên Sarkara được chuyển thành
Sukka Từ vùng Ả Rập mía được đưa sang Eetiopia, Ai Cập, rồi Sicilia… người Ả Rập cũng đem mía vào Tây Ba Nha Thái Tử Bồ Đào Nha Don Enrique nhập mía đem trồng ở đảo Maderia rồi từ đó chuyển đến Canaria Chính nơi đây đã sản xuất ra tất cả lượng đường tiêu dùng của châu Âu trong vòng 300 năm Cây mía được đưa sang châu
Mỹ trong chuyến đi thứ 2 của Christopher Columbus vào năm 1493 và được trồng đầu tiên ở đảo Santo Domingo
Cùng với cây mía công nghiệp chế biến đường, Ấn Độ là nước đi đầu trên thế giới, ngay từ thế kỷ thứ 4 họ đã biết chế biến mật thành đường kết tinh Từ Ấn Độ, Trung Quốc, kỹ nghệ chế biến đường được lan rộng sang các vùng Ả Rập, châu Phi, châu Âu, châu Mỹ, châu Úc Vùng mía tập trung ở nhiệt đới và á nhiệt đới, giữa vĩ tuyến 35 Bắc và Nam (Nguyễn Huy Ước,1994; Lê Song Dự và ctv, 1997; Trần Văn Sỏi,2003)
Trang 15Họ: Gramineae
Loại: Saccharum
Trong loại Saccharum có 6 loài:
- Loài nhiệt đới (Saccharum officinarum L.)
- Loài Trung Quốc (Saccharum sinence Roxb Emend.Jesw)
- Loài Ấn Độ (Saccharumbar barberi Jesw)
- Loài hoang dại thân nhỏ (Saccharum spontaneum L.)
- Loài hoang dại thân lớn ( Saccharum robustum Bround and Jesw)
- Loài hoang dại thân nhỏ (Saccharum edule Hassk)
Cây mía thuộc họ Gramineae, giống Saccharum (S) là hỗn hợp của 2 loài cỏ lưu năm thuộc giống Saccharum L., trong đó có 2 loài dại là S spontaneum và S robustum(Brvaes và Jeswite ex Grassl), và 4 loài cây trồng ở vườn S officinarum L., S barberi Jeswiet, S sinence Roxb., S edule Hassk Bốn loài cây trồng ở vườn có sự lai
giống phức tạp và luôn có thể giao phấn chéo với nhau Tất cả các loại mía trồng thương mại được trồng hiện nay đều là các giống lai giữa các loài này với nhau.(Bull,2000; Deng,2004; D’hont và ctv, 1998)
2.1.3 Phân bố
Loài S spontaneum xuất hiện trong quần thể hoang dại ở phía đông và phía
nam châu Phi, từ suốt vùng Trung Đông Tới Ấn Độ, Trung Quốc, Triều Tiên, và Malaisia, từ suốt vùng Thái Bình Dương đến New Guinea
Trung tâm xuất xứ có thể là miền nam Ấn Độ nơi đã xuất hiện giống S robustum có số lượng NST nhỏ nhất dọc theo bờ sông New Guinea và một ít đảo liền
kề và đã trở thành cây bản xứ của khu vưc này
Loài S.officinarum còn gọi là “noble cane” giống với các giống mía nguồn gốc
ở New Guinea Loại mía này chỉ phù hợp với vùng nhiệt đới với điều đất đai và khí hậu thuận lợi
Loài S.barberi có thể có nguồn gốc Ấn Độ
LoàiS.sinence có xuất xứ một phần ở Ấn Độ, Indonesia, Trung Quốc, nam
Trung Quốc, Triều Tiên
LoàiS edule loại không thể sản xuất mùa màng như S.robustum và chỉ tìm thấy
ở New Guinea và các đảo kế cận
Trang 16Cây mía hiện tại là cây trồng chính tại nhiều nước vùng nhiệt đới Vĩ độ cao nhất mà cây mía được trồng là tại Natal, Argentina và tại cực nam Australia (Phan Gia Tân, 1990, cây mía)
2.1.4 Đặc điểm thực vật của cây mía
2.1.4.1Rễ mía
Rễ mía thuộc loại rễ chùm Rễ mía mọc từ các điểm trên đai rễcủa hom giống, hoặc ở chân mầm nơi tiếp giáp giữa mầm và hạt
Nói chung rễ mía được chia làm 2 loại rễ sơ cấp và thứ cấp
Rễ sơ cấp còn gọi là rễ giống, rễ sơ sinh, rễ tạm thời,… tức là loại rễ mọc từ hom giống hoặc hạt giống ra, loại rễ này đường kính bé phân nhánh nhiều, ít ăn sâu, tuổi thọ ngắn, chỉ đảm bảo cho việc nuôi cây trong vòng 4 -7 tuần đầu
Rễ thứ cấp hay còn gọi là rễ thứ sinh, rễ vĩnh cửu Rễ này mọc từ gốc (điểm rễ) của mầm mới sinh ra từ hom giống Thường khi cây con có từ 3-5 lá thật thì rễ thứ cấp mới xuất hiện Loại rễ này to hơn rễ giống, ăn sâu hơn và tuổi thọ dài hơn nhiều, nên gọi là rễ vĩnh cửu (Trần Văn Sỏi, 2003)
2.1.4.2 Thân mía
Theo Trần Văn Sỏi (2003), thì thân mía là đối tượng thu hoạch, là nguyên liệu
để chế biến đường; là bộ phận làm giống cho các vụ sau Số lượng thân hữu hiệu và trộng thân (cao + to) là hai yếu tố quyết định năng suất Thân mía vừa là biểu hiện đặc trưng của giống, vừa phản ánh tình trạng sinh trưởng và tác động của các biện pháp kỹ thuật canh tác ngào ra thân mía là một chỉ tiêu đẻ phân biệt giống Thân mía là cơ quan tích lũy đường, thân mía cao 2-5 m, đường kính 2-4 cm, thân gồm nhiều lóng và nhiều đốt Ở phía gốc các lóng rất ngắn và bé Mỗi lóng mang một mắt mầm nên phần gốc
có rất nhiều mắt mầm và mía có thể đẻ nhiều nhánh Càng lên trên lóng cây dài và ở ngọn lóng ngắn lạ Phần ngọn mía đường thấp không có giá trị ép đường, nhưng vì có nhiều mầm nên được sủ dụng làm giống.Lóng mía có hình dạng khác nhau tùy giống: Hình ống , hình thót bụng, hình trống, hình chóp cụt, hình chóp cụt ngược, hình cong Màu sắc lóng: Vàng, xanh, tím, đỏ hoặc sọc dưa tím xen lẫn vàng Đốt gồm đai sinh trưởng, đại rễ, nốt rễ, sẹo lá và mầm
Trang 172.1.4.3 Lá mía
Lá mía mỗi đốt mang một lá gồm bẹ lá phiến lá và gối lá Số lá thay đổi theo tùy từng giống, thời kỳ vươn lóng mạnh thì cây mía có khoảng 10 lá xanh Bẹ lá bọc thân lá, bảo vệ mầm, có mầm xanh, xanh nhuốm đỏ hoặc tím Mặt ngoài bẹ có sáp bao bọc thường có lông Bẹ lá khi khô rụng đi hay không rụng là tùy giống Gối lá là phần nối giữa bẹ lá và phiến lá hình dạng có thể là hình vuông, tam giác, hình lưỡi và hình trung gian, màu sắc, độ lớn của gối lá là do đặc điểm của giống (Tài liệu kĩ thuật chuyên đề cây mía tháng 8/2010công ty cổ phần đường Biên Hòa lưu hành nội bộ)
2.1.4.4 Hoa và hạt
Hoa mía mang từ 8.000-15.000 hoa Hoa mọc thành đôi, lưỡng tính, có 4-5 vỏ trấu, 3 nhị đực, bầu hoa Nhụy cái có vòi ngắng, đầu chẻ đôi, hình lông chim, màu tím thẫm Khi hoa mía nở các bao phấn tung phấn, thụ phấn nhờ gió Hạt mía rất bé, trông như chiếc vẩy khô hình thoi, nhẵn, rất bé, dài 1,5 mm, rộng 0,5 mm, màu hạt dẻ Trong công tác cải tạo giống mía, lai hữu tính là một phương pháp được áp dụng rộng rãi và thu được nhiều kết quả.(Tài liệu kĩ thuật chuyên đề cây mía tháng 8/2010công ty cổ phần đường Biên Hòa lưu hành nội bộ)
Hình 2.2: Rễ, hoa, hạt của cây mía (http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S0378429005000298)
Trang 182.1.5Đặc điểm sinh thực vật riêng của từng loài
2.1.5.1Loài nhiệt đới (Saccharum officinarum L.)
Còn gọi là mía quý có số lượng nhiễm sắc thể 2n=80 Loài này có tỷ lệ đường cao, nhiều nhước, tỷ lệ xơ thấp, lá rộng, thân to, không hoặc ít ra hoa, nguyên sản ở các đảo phía Nam Thái Bình Dương các vùng khí hậu nhiệt đới; gặp các điều kiện thuận lơi (khí hậu, đất đai, không nhiễm bệnh) năng suất đạt rất cao, hơn các loài mía khác Nhược điểm của loài mía này là khả năng chống chịu sâu bệnh kém, nhất là các bệnh ở rễ, khả năng chống hạn, rét, chống đổ ngã yếu, để gốc kém Các giống nguyên thủy ở nước ta thuộc nhiều giống mía quý như mía voi, mía đỏ, mía thuốc mía Thanh Diệu, mía Kim Ngân thuộc loại này.(Lê Song Dự và ctv, 1997)
2.1.5.2 Loài mía Trung Quốc.(Saccharum sinence Roxb Emend.Jesw)
Loài mía trung quốc có số lượng nhiễm sắc thể 2n=124 hình thóp bụng, phiến
lá rũ, phân bố ở miền nam Trung Quốc, Ấn Độ Ở các tỉnh phía Bắc nước ta các giống mía gie thuộc loại này Các giống mía thuộc loài bộ thô sơ; tỷ lệ đường trung bình mẫn cảm bệnh than, bệnh rượu nhưng có khả năng chống bệnh gôm, bệnh mosaic.(D’hont
và ctv, 1998; Lê Song Dự và ctv, 2007)
2.1.5.3 Loài mía Ấn Độ (S barberi Jesw)
Loài mía Ấn Độ có số nhiễm sắc thể 2n = 92 (nhóm Saretha) Thân nhỏ lóng hình trụ màu xanh hoặc màu trắng, tỷ lệ xơ cao sức sống mạnh, chín sớm, đẻ khỏe, bộ
rễ phát triển, chịu hạn tốt, kháng được nhiều loại sâu bệnh hại Loài này phân bố ở Bắc
Ấn Độ, thích hợp khí hậu Á nhiệt đới.(Rao và ctv,1985)
2.1.5.4 Loài hoang dại thân nhỏ (S spontaneum L)
Loài này có bộ nhiễm sắc thể 2n = 112 (một số nhóm) Thân nhỏ, vỏ cứng, hàm lượng đường thấp, tỷ lệ xơ cao, ra hoa mạnh, Loài này phân bố rộng ở các vùng Tây Nam Á, ở Việt Nam nhiều nơi trong nước thuộc loài này Khả năng thích ứng của loài hoang dại thân nhỏ rất rộng, sức sống mạnh, ít bị sâu hại phá hoại, kháng nhiều bệnh như bệnh gôm, bệnh mosaic, thối rễ nhưng rất mẫn cảm với bệnh than (Lê Song Dự
và ctv, 2007)
2.1.5.5 Loài hoang dại thân to (S robustum)
Bộ nhiễm sắc thể của loài này 2n = 84 thân to, cây cao trên 3m, vỏ rất cứng, tỷ
lệ đường thấp, do Jewiet phát hiện ở Guniea vào năm 1929 Loài này có sức sống
Trang 19mạnh, chống sâu đục thân, chống gióng thân, để gốc tốt nhưng kháng bệnh ở lá và rễ kém.(Tai và ctv, 2001; Pursgolve, 1972)
2.1.5.6 Loài hoang dại thân nhỏ (S edule)
Có bộ nhiễm sắc thể 2n = 60, 2n = 70, 2n =80, tương tự như S robustum và lá
lông tơ đai sinh trưởng vồng lên bông và cờ bị thui không có ý nghĩa trong lai tạo.(Rao
2.1.6.2Ánh sáng
Rất cần cho sự quang hợp để tạo đường cho cây mía Do mía là cây C4 nên số giờ nắng tối thích cho cây mía sinh trưởng 2.000 giờ và tối thiểu 1.200 giờ nắng/năm Khi cường độ ánh sáng tăng thì hoạt động quang hợp của bộ lá cũng tăng Thiếu ánh sáng cây mía phát triển yếu, vóng cây, hàm lượng đường thấp,và cây mía dễ bị sâu bệnh
2.1.6.3Lượng nước và ẩm độ đất
Đây là yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng và phát triển của cây mía Trong thân cây mía chứa nhiều nước (70% khối lượng) Cây mía không cần tưới nước cần lượng nước mưa 1500-2500 mm Cây mía là cây trồng cạn có bộ rễ ăn nông nên rất cần nước nhưng không chịu được ngập úng Ở vùng đất cao cần tưới nước trong mùa khô Nơi đất thấp cần chống úng ngập trong mùa mưa.thời kỳ cây mía làm lóng vươn cao rất cần nhiều nước ẩm độ thích hợp khoảng 70-80%, ở các thời kỳ khác cần
ẩm độ 60-75%
2.1.6.4Đất
Cây mía ít kén đất có thể trồng trên nhiều loại đất từ đất cát, cát pha đến đất sét, đất có thành phần cơ giới nặng Mía là cây có năng suất sinh học cao nhất, để đạt được năng suất 100 tấn/ha cây mía lấy đi khoảng 170 kg N, 80kg P2O5, 100-200 kg K2O (K Mohan Naidu và Arulraj, 1987)
Trang 202.1.6.5Yêu cầu về dinh dưỡng
Mía là cây trồng có khả năng tạo sinh khối rất lớn, chỉ trong vòng chưa đầy 1 năm, 1 ha mía có thể cho từ 70-100 tấn mía cây, chưa kể lá và rễ Vì vậy nhu cầu dinh dưỡng của cây mía rất lớn Ngoài các chất đa lượng NPK, cây mía rất cần Canxi (Ca)
Lân (P): Lân giúp bộ rễ phát triển để hấp thu nước và chất dinh dưỡng, tăng khả năng chịu hạn, giữ sự cân đối giữa đạm và kali nên giúp cây phát triển khỏe mạnh, tăng năng suất và chất lượng mía Thiếu lân, bộ rễ kém phát triển, đẻ nhánh ít, thân cây lá nhỏ, cây cằn cỗi Trung bình cần 1,3 kg P2O5 để có 1 tấn mía
Kali (K): là nguyên tố dinh dưỡng cho cây cần nhiều nhất Để tạo ra 1 tấn mía cây cần 2,75 K2O Kali có vai trò quan trọng trong việc tổng hợp ra đường Đủ kali cây cứng cáp, không đổ ngã, ít sâu bệnh, chín sớm và tỉ lệ đường
Canxi (Ca): Canxi làm giảm độ chua trong đất, cải thiện tính chất vật lý của đất, giúp phân giải chất hữu cơ và hoạt động của các vi sinh vật có trong đất được tốt hơn, tạo điều kiện cho cây mía hấp thu chất dinh dưỡng hiệu quả hơn
Các chất vi lượng Bao gồm các nguyên tố như Magie (Mg), Sắt (Fe), Mangan (Mn), Kẽm (Zn)…tuy cần ở số lượng rất ít nhưng rất quan trọng đối với quá trình sinh trưởng và phát triển cũng như chất lượng của cây mía.(Http://tailieu.vn/liet-ke-tai-lieu.0.0.html)
2.1.7 Nhân giống
Để nhân gống mía người ta trồng thân mía người ta cắt từ cây mía chưa trưởng thành có thời gian trồng từ 6-8 tháng tuổi Những đoạn thân được cho tốt nhất nếu được lấy từ đốt thứ ba từ dưới lên của cây mía vì chồi ở đốt này còn non hay ít bị khô Đoạn thân có thể được trồng xiên theo một góc 450
hay có thể đặt năm ngang ngay trên luống Ước tính cần 12.500- 20.000 đoạn để trồng hết một ha Mía là cây trồng
Trang 21quanh năm với thời gian từ 3-6 năm trước khi được đốn bỏ và trồng lại Vụ đầu tiên là mía tơ và thường mất 9-24 tháng để cây trưởng thành, phụ thuộc vào vùng địa lí Các
vụ mía gốc mất khoảng 1 năm để trưởng thành và thường thì sau hai khoảng vụ mía gốc là người ta đã thay bằng các ruộng mía mới, điều này phụ thuộc vào năng suất và
sự chậm suy tàn của giống.(tailieu.vn/liet-ke-tai-lieu.0.0.html)
2.1.8 Sản lượng
Năng suất cao nhất của mía thuộc vào chỉ số calories trên đơn vị diện tích là 10 tấn đường (sucrose) trên ha ở Barbardos Sản lượng cao nhất đạt được ở Hawai22 tấn sucrose trên ha, nhưng giống mía này cần đến 2 năm hay hơn mới có thể đạt trạng thái thành thục ở khuc vực này Sản lượng mía đã được cải thiện và gia tăng đáng kể trong suốt 100 năm qua nhờ quá trình cải tiến giống, đặc biệt là việc sử dụng phân bón, kiểm soát được các loại côn trùng và các loại bệnh, cơ giới hóa đồng ruộng và nhà máy, và việc tạo ra nhiều giống mới năng suất cao.(tailieu.vn/liet-ke-tai-lieu.0.0.html)
2.1.9 Chế biến và sử dụng
Trước khi sản phẩm đường được làm ra lần đầu tiên ở Ấn Độ khoảng 1.000 trước Công Nguyên, nhờ vào việc đun sôi dịch chiết từ cây mía thì cây mía ban đầu được trông chỉ nhằm mục đích làm thực phẩm mà thôi Ngày nay cây mía được nhiều nghành công nghiệp sử dụng và là một trong những sản phẩm được sử dụng rộng rãi
và có giá trị của mỗi quốc gia
Khoảng 1 tấn đường thô có thể thu được khi chế biến 8-9 tấn mía Loại đường thô này có màu nâu này có thể tinh chế thành dương trắng sạch hơn
Cây mía được sử dụng trong nhiều mục đích khác hơn nữa chứ không gì việc sản xuất
ra đường
Mật đường là sản phẩm phụ trong quá trình chế biến đường, nó là chất lắng xuống khi không còn khả năng kết tinh thành đường Gần 2.7 % mật đường hình thành khi chiết suất 1 tấn mía Mật đường được sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau: dung làm phân bón cho đất trồng mía, được vô trùng lên men để tạo ra nhiều sản phẩm khác nhau như cồn vô trùng, rượu umhay elthyl alcohol
Sản phẩm còn lại sau quá trình ép nước mía dó là bã mía được dùng như là nguồn nguyên liệu chính của các nhà máy đường, nó còn được làm giấy, bìa cứng, bảng và tường bằng giấy ép cứng
Trang 222.1.10 Vị trí kinh tế của cây mía
Hiện nay ở nước ta mía là cây nguyên liệu duy nhất để chế biến ra đường, nên mía là một cây trồng quan trọng trong cơ cấu thực phẩm Đường là thức ăn lành tính
dễ tiêu, giàu năng lượng Một cân đường cung cấp năng lượng tương đương với 0.5 kg
mỡ, 50-60 kg rau quả Đường cung cấp 10% nhu cầu năng lượng của cộng đồng Trên thế giới năng lượng do đường cung cấp bằng 7% năng lượng do các loại ngũ cốc cung cấp
Đường có thị trường tiêu thụ ổn định do nhu cầu về đường trong nước ngày càng tăng cao Đường lại là mặt hàng chế biến bằng công nghệ hiện đại nên chất lượng
ổn định, dễ dàng đạt tiêu chuẩn quốc tế, cho nên nếu sản xuất nhiều sẽ xuất khẩu ra bất
cứ nước nào trong khu vực.Vì vậy người trồng mía không có gì lo ngại về thị trường tiêu thụ
Mía là cây xóa đói giảm nghèo cho nông dân trung du, miền núi, là cây có hiệu quả kinh tế cao Do mía là cây hàng năm, thích hợp với các loại đất, bộ rễ bám sâu nên
có khả năng chịu hạn khá, có thể trồng trên đất đồi và trung du miền núi.Vì mía có khả năng lưu gốc tới vụ sau nên đỡ công giống trồng Mía là cây có sản lượng cao (200-
250 tấn sinh khối/1ha/năm) Nhờ những ưu thế trên mà cây mía trở thành cây làm giàu cho nhiều gia đình, nhiều khu vực như Thanh Hóa, Nghệ An, Bình Định,…
Mía là cây năng lượng cuối thế kỉ XX và về sau Do nguồn nguyên liệu hóa thạch ngày càng cạn kiệt trong khi nhu cầu năng lượng trên thế giới ngày càng tăng nên việc tìm ra một nguồn năng lượng thay thế có ý nghĩa rất quan trọng Nguồn năng lượng từ thực vật là hướng được nhiều quan tâm vì đây là nguồn năng lượng tái tạo được hàng năm không bao giờ cạn kiệt Trong đó, cây mía đươc coi là cây năng lượng hàng đầu trong các loại thực vật có thể sản xuất năng lượng lỏng Từ 1 tấn mía có thể sản xuất ra 30-50 lít cồn 960 có thể dùng làm nguyên liệu cho động cơ Ở Brazil từ lâu
đã sản xuất cồn từ mía để thay thế xăng chạy ô tô vận tải
Mía là cây cây kiêm dụng, ngoài đường, cellulose trong bã mía có thể làm giấy, làm gỗ ép thay cho một phần gỗ rừng Mía là cây ngắn ngày lại là cây đặc biệt cao sản nên có rất nhiều triển vọng trong lĩnh vực này
Mía với thành phần hóa học rất phong phú nên ngày càng được nhiều ngày công nghiệp quan tâm khai khác Saccarose được nghành đường khai thác để sản xuất
Trang 23đường trắng Cellulose được nghành giấy và nghành gỗ ép khai thác Mật gỉ trong quá trình lên men, chưng cất và các phương pháp hóa học khác có thể sản xuất ra rượu các loại, cồn tinh khiết,acid lactic, acid nitric, acid glutamic, men thực phẩm…
2.2Tình hình sản xuất là tiêu thụ đường ở Việt Nam
2.2.1 Tình hình sản xuất mía ở Việt Nam
Bảng 2.1Tình hình sản lượng ở Việt Nam từ năm 2006-2011
Niên vụ Diện tích
(1000 ha)
Năng suất (tấn/ha)
Sản lượng mía (triệu tấn)
2005-2006 2006-2007 2007-2008 2008-2009 2009-2010 2010-2011
288,100 293,500 270,700 260,100 266,300 282,200
58,030 59,270 59,640 58,620 59,880 62,15
16,720 17,398 16,146 15,246 15,947 17,540 (Nguồn: Bộ Nông Nghiệp và phát triển Nông Thôn, 2011.) Mặt khác, là do chúng ta nắm bắt được xu hướng sản xuất mía trong khu vực cũng như trên thế giới, khai thác tiềm năng đất đai, khí hậu con người để phát triển việc trồng cây mía và các tiến bộ khoa học kỹ thuật như: Giống mía tốt, các biện pháp
kỹ thuật canh tác mía tiên tiến Hiên nay nước ta đã nhập nội các giống tốt của các nước như: Tung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan, Úc, CuBa, Đài Loan, Mỹ và hơn nữa trong nước các giống mía do các Viện nghiên cứu, các trung tâm sản xuất giống lai tại, tuyển chọn ra có khả năng thích hợp với nhiều vùng sinh thái cho năng suất cao
2.2.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ đường ở Việt Nam
Cả nước có tới 40 nhà máy đường tuy nhiên việc quy hoạc và xây dựng chưa hợp
lý dẫn đến sản lượng mía thu được hàng năm không đáp ứng đủ nhu cầu chế biến của các nhà máy đường theo công suất thiết kế,gây ra hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh không chỉ ở các tỉnh, mà còn lan rộng ra các các tỉnh phía Bắc giữa các nhà máy, xuất hiện hiện tượng ép mía non làm thất thu một lượng đường lớn
Nhiều nhà máy phải vận chuyển mía nguyên liệu với khoảng cách xa từ 50 –
100 km làm tăng giá thành sản xuất đường
Trang 24Thời gian từ lúc thu họach xong đến thời điểm chế biến quá dài làm sụt giảm nghiêm trọng hàm lượng đường trong mía (tối ưu trong vòng 24 giờ)
Nhà nước có chủ trương giao cho các địa phương tự phân chia vùng nguyên liệu cho các nhà máy dẫn tới hiện tượng độc quyền trong việc thu mua mía nguyên liệu, không quan tâm đến quyền lợi của người nông dân
Cơ chế phân chia lợi nhuận giữa nhà máy và nông dân trồng mía hiện nay ở Việt Nam chưa hợp lý và chưa được ấn định rõ ràng như các nước khác trên thế giới
Giá thành sản xuất đường ở nước ta khá cao còn do khấu hao lớn từ các nhà máy mới đầu tư xây dựng
Mức tiêu thụ bình quân đầu người của Việt Nam có tốc độ tăng trưởng khá cao Bình quân giai đoạn 1999 -2009 tiêu dùng tăng khoảng 5,1 % Tuy nhiên mức tiêu thụ đầu người ở Việt Nam còn thấp hơn nhiều so với các nước tiêu thụ chính và thấp hơn
so với mức bình quân thế giới(>20/người năm)
Hình 2.2 Biều đồ mức tiêu thụ đường bình quân đầu người
(www.maybank-kimeng.com.vn)
2.3Các loại bệnh trên mía bệnh trên mía
Theo Hà Đình Tuấn năm 2004 ở các nước trồng mía hiện nay thì có tất cả 126 bệnh hại mía trên thế giới (Philipe, 2000), trong đó có 73 bệnh hại phổ biến Các loại bệnh gây hại trên mía được gây ra bao gồm 8 tác nhân chính cho ở bảng 2.3
Trang 25
Bảng 2.3 Tác nhân gây bệnh:Thống kê nhóm tác nhân gây bệnh và số lượng bệnh xảy
ra trên cây mía
Nhóm tác nhân gây bệnh Số lượng bệnh gây ra
Ở nước ta bệnh than là một trong những bệnh nguy hiểm trên cây mía, cần phải
có những biện pháp kịp thời để hạn chế thiệt hại do bệnh gây ra
2.4.2Triệu chứng
Khi cây mía bị nấm xâm nhập, cây trở nên còi cọc, biến dạng mất khả năng tạo lóng, ở gốc đẻ nhiều nhánh nhỏ, các mầm mới ra hầu hết nhiễm bệnh, thân mía nhỏ bé lại, từ ngọn đâm lên một roi than màu đen cong xuống, có khi roi dài cả mét Bên ngoài roi bao phủ một lớp mang đầy bào tử dạng bột, dễ bung ra, lan truyền theo gió, nước,… đi rất xa Tính chất nguy hiểm của bệnh này là mỗi roi than mang hàng ngàn
Trang 26bào tử nấm, trung bình mỗi roi than có khoảng 5.000 triệu bào tử (Võ Thị Thu
hậu (chlamydosporse) Bào tử hậu là giai đoạn bắt buộc trong chu trình phát triển của
nấm bệnh Bào tử hậu có hình tròn, bề mặt vỏ bào tử gợn gai nhỏ hoặc nhẵn, màu sắc thay đổitừ nâu, nâu vàng đen, chúng có đường kính 6-11µm, trung bình 8,6µm
Bào tử hậu nảy mầm trong điều kiện nắng ấm và ẩm, hình thành đảm đa bào thường có 3-4 tế bào và một số không ổn định, các bào tử dài 25*3µm sắp xếp thành từng nhóm 2 -3 cái Bào tử hậu hình thành từ các sợi nấm hai nhân, phân chia tế bào tạo thành một khối bột đen bao gồm toàn bào tư nấm Khối bào tử này có kích thước thay đổi từ 15-50cm và dài hơn Nhiệt độ thích hợp cho sự nảy mầm của bào tử nấm từ 21-300 C, tối thiểu là 50C và tối đa là 400C Tuy nhiên ở nhiệt độ 250
C nấm sinh sản rất nhiều bào tử, pH thích hợp cho sự sinh trưởng, phát triển của nấm là 6,5 (Nguyễn Văn Tuất, 2002)
Trang 27Hình 2.5: bào tử nấm Ustilago scitaminea(www.padil.gov.au/aus-smuts)
2.4.4.Đặc điểm phát sinh và phát triển bệnh
Bệnh thường xâm nhiễm và tế bào non của cây,ở mầm cây và ở cả ngay lát cắt đầu hom mía
Bệnh lan truyền bằng bào tử theo gió, nước mưa, nước tưới, bào tử bám bên ngoài cơ thể côn trùng, qua dụng cụ chăm sóc, qua hom trồng và qua đất
Bào tử có khả năng tồn tại trong đất rất lâu, khi gặp điều kiên thuận lợi là phát triển gây hại và dễ dàng lây lan trong tự nhiên
Một số giống nhập nội nhiễm nặng bệnh than là: F134 (Đài Loan), Co715 (Ấn Độ), NCO310(Nam Phi),Việt Đường 77-9 (của Trung Quốc lai tạo), Roc1 (Đài Loan) (Trần Văn Sỏi, 2003)
2.4.5 Thiệt hại về kinh tế
Bệnh có thể làm giảm năng suất đến 50% gây thiệt hại trong nhiều năm và ngày càng lan rộng nhanh chóng diện tích xung quanh (Ferreria and Comstock, 1989)
2.5Giới thiệu bệnh thối đỏ
2.5.1 Nguồn gốc và phân bố
Bệnh thối đỏ hại mía được phát hiện đầu tiên vào năm 1893, bệnh phổ biến khắp thế giới, nó gây thiệt hại đáng kể đến năng suất và phẩm chất cây mía Việt Nam bệnh thối đỏ xảy ra ở hầu hết các tỉnh phía Nam, các giống mía trồng hiện nay đều bị
nhiễm bệnh
2.5.2Triệu chứng
Các bộ phận lóng, mầm mía, lá, bẹlá, rễ đều có thể bệnh hại, nhưng chủ yếu trên thân,lóng và lá, nhất là lá khi mía đã vươn cao Khi thân mía bệnh lúc đầu nhìn bên ngoài rất khó phát hiện vì triệu chứng ở bên trong ruột mía phát triển một thời gian dài không lộ ra ngoài vỏ Cho nên phải lấy dao che thân mía ra mới thấy bên trong ruột
có vết bệnh màu đỏ huyết Lúc đầu vết bệnh trong ruột thân chỉ là một điểm nhỏ màu
Trang 28nhạt sau lan rộng, kéo dài trong lóng mía làm thành những đoạn dài màu đỏ huyết Vết bệnh có thể thối, lên men rữa ra, ruột mía có chỗ hơi rỗng và mùi rượu, vị chua nhạt và đến khi đó vỏ thân bên ngoài mới mất sắc bóng, tóp nhỏ; có kiểu vết hằn màu đỏ tía, bên trên sinh ra nhiều hạt đen nhỏ là các ổ đĩa cành bào tử của nấm gây bệnh Cây bị bệnh lá ngọn thường vàng héo, nếu bị nặng toàn cây khô chết Trên lá vết bệnh xuất hiện ở gân chính, dọc theo gân chính thành hình bầu dục dài, có khi chỉ là một vệt dài 5-6 cm có màu đỏ huyết, ở giữa vết bệnh màu nhạt hơn Về sau trên bề mặt vết bệnh cũng thấy những hạt đen nhỏ, đó là các đĩa cành của nấm gây bệnh (Nguồn Võ Thị Thu Oanh,2011)
Hình 2.6 Triệu chứng bệnh thối đỏ trên thân và lá(http://vtc16.vn/news/55/5206)
2.5.3 Tác nhân gây bệnh
- Do nấm Glomerella tucumanensis/Colletotrichum falcatum Went (Võ Thị Thu Oanh, 2011).Trong đó Glomerella tucumanensis là một nấm túi (Ascomyceteous) được coi như giai đoạn hoàn chỉnh của Colletotrichum falcatum Bệnh thối đỏ chủ yếu
do nấm Colletotrichum falcatumgây ra.Bệnh có tên tiếng Anh là Red rot
- Nấm có hình thức sinh sản vô tính hình thành đĩa cành trên mô bệnh, bên trong có các cành bào tử phân sinh ngắn, đơn bào Bào tử phân sinh hình hạt gạo dài, thon cong, đơn bào, không màu Trên mặt đĩa cành có lông gai bảo vệ Sợi nấm có thể tạo thành bào tử hậu màu tối sẫm Giai đoạn hữu tính rất ít gặp, quả thể bầu có lỗ ở đỉnh
- Bào tử túi hình hình bầu dục dẹt Nấm sinh trưởng phát triển tốt ở nhiệt độ
27oC-32oC, pH =5-6 Khi nhiệt độ qua thấp (dưới 10oC) hoặc quá cao (trên 37oC) nấm sinh trưởng kém Bào tử phân sinh do côn trùng, gió, mưa truyền di chuyển đi xa Sau khi bào tử hình thành trên lá mía dễ bị gió mưa làm trôi dạt xuống bẹ lá tới các mắt đốt
Trang 29trên thân, qua các vết thương cơ giới hoặc qua các lỗ đục của sâu mà xâm nhập vào trong Bào tử phân sinh ở trong giọt nước sẽ nảy mầm nhanh, sợi nấm phát triển đâm nhánh nhiều Sợi nấm và đĩa cành trên thân mía, lá mía, hom mía là nguồn bệnh tồn tại trong tự nhiên Một số bào tử hậu cũng là nguồn bệnh tồn tại trong đất Nấm có thể bảo tồn trên các tàn dư cây bệnh ít nhất là 7-8 tháng (Lê Lương Tề, 2011)
Hình 2.7 Bào tử nấm Colletotrichum falcatum(Agropedia.iitk.ac.in)
- Trước khi trồng cần chọn lọc loại bỏ các hom bệnh là biện pháp quan trọng nhất Trong trường hợp cần thiết phải xử lý hom giống bằng cách ngâm vào dung dịch CuSO4 1% trong 2 giờ Sát trùng đầu cắt hom giống trong nước vôi 2% hoặc dung dịch Boocđô Xử lý hom giống bằng nước nóng 52oC trong 20 phút có tác dụng thúc đẩy mầm và tiêu diệt nguồn bệnh Dùng thuốc phun: Tilt-250ND (0,4 lít/ha), Benlate
C 50WP- 0,2% trên lá, thân (Lê Lương Tề, 2011)
2.6 Sơ lược về tỉnh Tây Ninh