1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

KHẢO SÁT CÁC DẠNG LIÊN KẾT CHÍNH TRONG CÁC NHÀ CỔ VIỆT NAM

62 63 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 2,17 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài được thực hiện bằng phương pháp khảo sát các nhà cổ tại Công Ty TNHH – DV Phương Gia Linh tại Bình Dương, theo dõi quá trình gia công các cấu kiện của nhà cổ tại công ty TNHH chế

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH

****************

NGUYỄN HỮU BÌNH

KHẢO SÁT CÁC DẠNG LIÊN KẾT CHÍNH

TRONG CÁC NHÀ CỔ VIỆT NAM

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH CÔNG NGHỆ CHẾ BIẾN LÂM SẢN

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH

****************

NGUYỄN HỮU BÌNH

KHẢO SÁT CÁC DẠNG LIÊN KẾT CHÍNH

TRONG CÁC NHÀ CỔ VIỆT NAM

Ngành: Công NghệChế Biến Lâm Sản

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Giáo viên hướng dẫn: PGS TS PHẠM NGỌC NAM

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới:

 Cha mẹ, người đã có công sinh thành và nuôi dưỡng tôi đến ngày hôm nay

 Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu cùng toàn thể thầy cô trường đại học Nông Lâm thành phố hồ chí minh

 Quý thầy cô khoa Lâm Nghiệp, đặc biệt là bộ môn Công Nghệ Chế Biến Lâm Sản đã tận tình giảng dạy, truyền đạt lại những kiến thức giúp tôi thực hiện đề tài này

 PGS.TS Phạm Ngọc Nam, người đã hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập cũng như thời gian thực hiện đề tài

 Chú Được, anh Sang, cậu Nam cùng gia đình anh Tiến đã giúp đỡ tôi trong việc thực hiện đề tài này

 Xin cảm ơn gia đình và bạn bè gần xa đã luôn ở bên cạnh động viên

và hỗ trợ tôi trong những năm học tại trường

Xin chân thành cảm ơn!

TP.HCM, tháng 07 năm 2013 Sinh viên thực hiện: Nguyễn HữuBình

Trang 4

TÓM TẮT

Đề tài “Khảo sát các dạng liên kết chính trong các nhà cổ Việt Nam” được thực hiện từ 01/03/2013 đến 30/06/2013 Đề tài được thực hiện bằng phương pháp khảo sát các nhà cổ tại Công Ty TNHH – DV Phương Gia Linh tại Bình Dương, theo dõi quá trình gia công các cấu kiện của nhà cổ tại công ty TNHH chế biến gỗ Toàn Thuận, tìm hiểu và phân tích thông qua tài liệu về nhà cổ đặc biệt là các dạng liên kết chính trong các nhà cổ Việt Nam

Nhà cổ Việt Nam có nhiều kích thước hình dạng khác nhau tùy theo điều kiện tự nhiên của từng vùng miền, phong tục tập quán Các dân tộc khác nhau cũng có các kiểu nhà khác nhau để phù hợp với lối sống sinh hoạt của họ Nhưng theo khảo sát thì chủ yếu có 3 loại nhà cổ chính sau: Nhà Rường, nhà Rội, nhà lá mái

Trong đó nhà Rường được sử dụng phổ biến nhất.Qua khảo sát nhà Rường làm chủ yếu bằng vật liệu gỗ, các cấu kiện liên kết với nhau bằng nhiều dạng liên kết khác nhau Nhưng chủ yếu có 4 dạng liên kết chính sau:Liên kết mộng buông mõ, liên kết mộng mang cá, liên kết chốt, liên kết chêm

Để tăng tính trực quan cho đề tài tôi tiến hành gia công một số mô hình cụm liên kết chính trong ngôi nhà có sử dụng các dạng liên kết kể trên

Trang 5

MỤC LỤC

TRANG

Trang tựa i

LỜI CẢM ƠN 1

TÓM TẮT 2

MỤC LỤC 3

DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT 5

DANH SÁCH CÁC HÌNH 6

Chương 1 MỞ ĐẦU 8

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 8

1.2 Mục đích và mục tiêu nghiên cứu 9

1.2.1 Mục đích nghiên cứu 9

1.2.2 Mục tiêu nghiên cứu 9

1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 9

1.4 Giới hạn và phạm vi khảo sát 10

Chương 2TỔNG QUAN 11

2.1 Thực trạng nhà cổ và nghề làm nhà cổ ở Việt Nam 11

2.2 Đặc điểm kết cấu gỗ ở Việt Nam 12

2.3 Kết cấu của nhà cổ Việt Nam 13

2.3.1 Bộ khung nhà – Vì kèo 13

2.3.2 Mái nhà cổ Việt Nam 15

2.3.3 Hệ cột 17

2.3.4 Xà 20

2.3.5 Bẩy - kẻ: 21

2.3.6 Các bộ phận kết cấu khác: 22

Trang 6

Chương 3NỘI DUNG VÁ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25

3.1 Nội dung nghiên cứu 25

3.2 Phương pháp nghiên cứu 25

3.2.1 Phương pháp tìm hiểu và phân tích về nhà cổ 25

3.2.2 Phương pháp phân tích kết cấu ngôi nhà 27

3.2.3 Phương pháp khảo sát thực tế 27

Chương 4KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 29

4.1 Kết quả khảo sát các loại nhà cổ 29

4.1.1 Nhà rường 29

4.1.2 Nhà rội 33

4.1.3 Nhà lá mái 36

4.2 Kết quả khảo sát các dạng liên kết chính trong nhà rường 38

4.2.1 Liên kết buông mõ 39

4.2.2 Liên kết mộng mang cá 41

4.2.3 Liên kết chốt 42

4.2.4 Liên kết chêm 44

4.3 Kết quả gia công thử một số mô hình cụm liên kết 45

4.3.1 Kết cấu cụm liên kết 45

4.3.2 Quá trình gia công 49

Chương 5KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 53

5.1 Kết luận 53

5.2 Kiến nghị 54

TÀI LIỆU THAM KHẢO 55

Trang 7

DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT

UNESCO Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc

m met (đơn vị đo chiều dài)

Cm Centimet (đơn vị đo chiều dài)

Mm Milimet (đơn vị đo chiều dài)

Trang 8

DANH SÁCH CÁC HÌNH

TRANG

Hình 2.1 Kiến trúc nhà chùa Kiến cổ 12

Hình 2.2 Nhà rường miền bắc 13

Hình 2.3 Tên gọi các cấu kiện trong nhà cổ 14

Hình 2.4 Bộ khung nhà cổ 14

Hình 2.5 Hình dạng bàn tay 5 ngón (giả thủ) miêu tả hệ vì “chồng rường – giả thủ” tại một ngôi nhà cổ ở Hội An 15

Hình 2.6 Tỉ lệ mái nhà, triền mái nhà cổ Việt Nam 15

Hình 2.7 mái và hệ giàn mái nhà 16

Hình 2.8: nhà 2 mái………17

Hình 2.9: nhà 2 mái, 2 dầu hồi bít 17

Hình 2.10: Cột nhà cổ 17

Hình 2.11: Vị trí các cột 18

Hình 2.12: Liên kết mộng cột kẻ nóc 19

Hình 2.13: Các liên kết mộng ở chân cột 19

Hình 2.14: Các liên kết mộng ở đầu cột 19

Hình 2.15: Xà trong nhà cổ 20

Hình 2.16: Kẻ, bẩy trong nhà cổ 21

Hình 2.17: điêu khắc trên bẩy 22

Hình 2.18: Chi tiết hệ thống bẩy kể đỡ mái hiên 22

Trang 9

Hình 4.5: Không gian sử dụng của nhà rường thường được chia thành 4 phần chính

có vách gỗ ngăn riêng 32

Hình 4.2: Nhà lá mái của ông Trần Hiệp (Phú Yên) 36

Hình 4.3: Trần đất và nội thất nhà ông Trần Hiệp (Phú Yên) 37

Hình 4.7: Nhà Rường cổ miền nam 39

Hình 4.8: Kết cấu nhà rường miền nam 39

Hình 4.9: Buông (Họng đầu cột cái)……… 39

Hình 4.10: Mõ (Mộng dương ở kẻ ngồi) 39

Hình 4.11: Liên kết mộng thường giữa cột quân, cột cái với kẻ ngồi 41

Hình 4.12: Mộng mang cá dương……… 41

Hình 4.13: Mộng mang cá âm 41

Hình 4.14: Liên kết chốt tròn 42

Hình 4.15: Liên kết giữa hoành và kẻ ngồi………43

Hình 4.16: Chốt nối kẻ bẩy và kẻ ngồi……… 43

Hình 4.17: Trạng thái làm việc của chốt mọt mặt chốt 44

Hình 4.18: Chêm gia cố liên kết mộng giữa xà ngang và cột 44

Hình 4.19: Cụm liên kết đầu cột 46

Hình 4.20: Mô hình cụm liên kết 1 (phụ lục 1) 46

Hình 4.21: Hai vì của nhà cổ 47

Hình 4.22: Mô hình sau khi gia công (phụ lục 2) 48

Hình 4.23: Cột giả giúp chống đỡ góc hiên 48

Hình 4.24: Mô hình cụm liên kết 3 sau khi gia công (phụ lục 3) 49

Hình 4.25: Xẻ dọc nguyên liệu 50

Hình 4.26: Gia công nguyên liệu trên máy bào……….51

Hình 4.27: Mô hình cột được bo tròn 51

Hình 4.28: đục mộng kèo nhà thủ công 52

Trang 10

Chương 1

MỞ ĐẦU

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Di tích kiến trúc được xem như là một loại hình tài sản văn hoá.Điều đặc biệt là tài sản này chứa đựng những giá trị rất cô đọng của một giai đoạn lịch sử nhất định của một dân tộc, một đất nước và của những giai đoạn lịch sử nối tiếp nhau Tài sản đó biểu hiện sự kết tinh những giá trị trong những cấu trúc về kỹ thuật xây dựng, tổ hợp không gian kiến trúc, sự biểu đạt về thẩm mỹ nghệ thuật, ý thức về sự giao cảm giữa thiên nhiên, môi trường và con người Tất cả gắn liền với giá trị nhân văn về những giá trị văn hoá phi vật thể.Nhưng hiện nay với những nguyên vật liệu mới và kĩ thuật hiện đại làm cho kiến trúc cổ dần bị mai một, dẫn đến việc bảo tồn, kế thừa và phát triển các

di sản kiến thức về kiến trúc của ông cha ta còn chưa được chú trọng.Mặt khác, trong cuộc sống hiện đại ngày nay khi đời sống vật chất ngày được nâng cao thì nhu cầu hoài

cổ ngày càng phổ biến, đặt ra yêu cầu phải có sự am hiểu về kiến thức kiến trúc cổ đối với kĩ sư ngành chế biến gỗ

Với thực trạng trên, được sự phân công của khoa Lâm Nghiệp - Bộ môn Chế

Biến Lâm Sản, tôi tiến hành thực hiện Đề tài “KHẢO SÁT CÁC DẠNG LIÊN KẾT CHÍNH TRONG CÁC NHÀ CỔ VIỆT NAM” nhằm tìm hiểu các dạng liên kết

Trang 11

1.2 Mục đích và mục tiêu nghiên cứu

1.2.1 Mục đích nghiên cứu

Đề tài “khảo sát các dạng liên kết chính trong các nhà cổ Việt Nam” nhằm tìm hiểu các dạng liên kết thường được sử dụng phổ biến trong nhà cổ.Từ đó đề ra các biện

pháp nhằm áp dụng kĩ thuật cơ giới vào quá trình thi công nhà cổ

1.2.2 Mục tiêu nghiên cứu

Trong suốt quá trình thực tập, tôi tập trung vào các mục tiêu chính như sau:Tìm hiểumột số dạng nhà cổ, tìm hiểu một dạng nhà cụ thể, khảo sát các dạng liên kết được

sử dụng trong dạng nhà cổ đã chọn, phân tích các mục đích sử dụng, ưu nhược nhằm

đề ra các giải pháp liên kết ngày càng tốt hơn, gia công thử một số cụm liên kết

1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Hiện nay tiết kiệm nguyên vật liệu và các chi phí trong sản xuất đang là vấn đề

có ý nghĩa thiết thực đối với các nhà sản xuất Và trong thời điểm khủng hoảng kinh tế, vấn đề này trở nên đặc biệt quan trọng, có ý nghĩa sống còn đối với mỗi doanh nghiệp Với nhu cầu hoài cổ ngày càng cao thì các doanh nghiệp trong lĩnh vực nhà cổ cũng

không ngoại lệ

Đề tài phân tích các dạng liên kết chính trong nhà cổ, cũng như mở rộng tìm hiểu các dạng nhà cổ phổ biến và kết cấu của chúng.Từ đó gia công thử tìm ra phương pháp áp dụng cơ giới vào quá trình làm nhà cổ để rút ngằn thời gian thi công giúp cắt giảm thời gian và chi phí gia công làm tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp

Mặt khác, trong thời đại công nghiệp hóa hiện đại hóa thì nhà cổ ngày càng biến mất dần theo thời gian Số lượng nhà cổ còn tồn tại tới ngày nay không còn nhiều đó là

do ý thức của người dân còn hạn chế cũng như chưa có sự quan tâm thấu đáo của nhà nước Do đó việc thực hiện đề tài nghiên cứu về nhà cổ có ý nghĩa rất quan trọng về khoa học và thực tiễn góp phần lưu giữ lại những giá trị văn hóa quý báu

Trang 12

1.4 Giới hạn và phạm vi khảo sát

Trong phạm vi đề tài này tôi tiến hành nghiên cứu chủ yếu các dạng liên kết

chính của nhà ở bằng gỗ theo kiến trúc cổ còn tồn tại cũng nhƣ đã đƣợc phục dựng lại

Trang 13

Chương 2 TỔNG QUAN

2.1 Thực trạng nhà cổ và nghề làm nhà cổ ở Việt Nam

Nhịp sống hiện đại đang từng ngày biến đổi một cách nhanh chóng, đời sống của con người lại càng đề cao các giá trị tiện ích Xu thế này được bộc lộ rõ qua xây dựng kiến trúc hiện đại, đi theo xu hướng tôn sùng công năng sử dụng, công nghệ và vật liệu mới, thể hiện sự khô cứng, vô tính về không gian Nhiều giá trị văn hóa kiến trúc của dân tộc không còn tồn tại trong không gian sống của người Việt, làm cho bản sắc văn hóa của quốc gia dân tộc đang bị bào mòn bởi những bước đi của thời gian.Trải dài trong lịch sử kiến trúc Việt Nam, nhà gỗ là sự lựa chọn phù hợp nhất với điều kiện

và tính cách của con người Việt Kiến trúc cổ truyền Việt Nam đa phần sử dụng khung

gỗ hay nhà gỗ truyền thống với những đường nét trạm trổ tinh tế, sáng tạo kết hợp với các vật liệu bổ trợ khác như gạch, đá, tre…tạo nên một hình khối hài hòa với tự nhiên

và tư duy thiên về cảm tính Trong các làng nghề làm nhà cổ truyền thống nổi tiếng ở đồng bằng Bắc Bộ, chắc không xa lạ với dân “bách nghệ”-làng nghề truyền thống Chàng Sơn ( Thạch Thất- Hà Nội) Trở lại với quá khứ, làng quê Nủa Chàng (nay là Chàng Sơn) tỏa sáng tinh hoa văn hóa Việt với nhiều nghề thủ công truyền thống như tạc tượng; múa rối nước; quạt giấy; tre, mây đan; nghề mộc và nghề làm nhà gỗ…Đến nay, các sản phẩm mà do bàn tay tài hoa của các nghệ nhân làng Chàng Sơn vẫn thể hiện giá trị tuyệt mĩ trước sự bào mòn bởi thời gian như: Tạc tượng các vị La Hán chùa Tây Phương, Văn Miếu -Quốc Tử Giám, các kiến trúc đình, chùa; nhà thờ họ…ở nhiều địa phương

Trang 14

Hình 2.1 Kiến trúc nhà chùa Kiến cổ Tuy nhiên khi bước vào nền kinh tế thị trường, nghề cổ truyền không thể phát huy tinh hoa của mình, bị gạt ra ngoài vòng xoáy của cuộc sống hiện đại.Cũng giống như các nghề truyền thống khác ở Chàng Sơn, nghề làm nhà gỗ cổ đang mai một dần, các kiến trúc nhà gỗ cổ truyền ngày càng vắng bóng thiết kế kiến trúc hiện đại

2.2 Đặc điểm kết cấu gỗ ở Việt Nam

Cùng với gạch, đá, gỗ là vật liệu xây dựng chủ yếu và lâu đời, đạt được trình

độ cao về nghệ thuật cũng như kĩ thuật

Kết cấu gỗ truyền thống của ta có các đặc điểm:Hình thức kết cấu chịu lực là khung không gian Độ cứng dọc nhà lớn, vật liệu gỗ chị chịu nén và uốn, không chịu kéo (thích hợp với tính năng chịu lực tốt của gỗ).Dùng sức nặng của nhà chịu lực xô ngang (cột chôn không sâu).Liên kết: chủ yếu là liên kết mộng, liên kết chốt, chắc chắn, dễ tháo lắp.Vật liệu gỗ được bảo vệ như sơn son thấp vàng, ngâm nước, ngâm bùn, mái đua xa cột để hắt nước mưa.Kích thước: được thống nhất hóa ở từng

Trang 15

2.3 Kết cấu của nhà cổ Việt Nam

2.3.1 Bộ khung nhà – Vì kèo

Trong kiến trúc cổ Việt Nam thường gặp nhất nhà rường với bộ khung nhà (bộ vì) được liên kết theo kiểu “giá chiêng, chồng rường” Vì giá chiêng, có hình giống như cái giá để treo chiêng, gồm hai trụ chống và thanh bắc ngang trên hai trụ Trụ có thể được chuyển hoá thành đấu hay cột trốn, giữa giá chiêng có thể có tấm ván trang trí hình lá đề hoặc hình quầng lửa Vì chồng rường được tạo bởi các dầm gỗ có độ dài thu dần chồng lên nhau tạo thành hình tam giác, các dầm đặt trực tiếp lên nhau hoặc có những đấu gỗ đệm Ở vì kèo truyền thống thì có câu đầu nối ngang 2 vì, chồng rường

xếp trên xà nách

Hình 2.2 Nhà rường miền bắc Trong khung nhà có cột (bao gồm cột cái và cột quân), các loại xà ngang (chịu kéo liên kết các cột với nhau), bẫy, kẻ (Sẽ đề cập rõ trong phần sau)

Trang 16

Hình 2.3 Tên gọi các cấu kiện trong nhà cổ

Hình 2.4 Bộ khung nhà cổ Sau này khi được xây dựng ở miền Trung, hệ kế cấu nhà gỗ Việt Nam được cải biến thành nhiều hệ kết cấu mới rất đa dạng như “chồng rường - giả thủ” hay còn gọi là

“trính chồng - con đội” tức là không có kèo mà ba cây trính chồng lên nhau, liên kết với ba con đội Kiểu liên kết vì kèo này rất phổ biến ở Huế và phố cổ Hội An

Trang 17

Hình 2.5Hình dạng bàn tay 5 ngón (giả thủ) miêu tả hệ vì “chồng rường – giả thủ” tại

một ngôi nhà cổ ở Hội An

2.3.2 Mái nhà cổ Việt Nam

Hệ mái của kiến trúc cổ Việt Nam mang nhiều nét đặc trưng so với kiến trúc cổ Phương Đông: Mái dốc thẳng đến gần diềm mái thì được đỡ bởi bảy (có tác dụng như đòn bẩy), tỷ lệ chiều cao mái chiếm 2/3 so với chiều cao công trình

Triền mái của kiến trúc cổ Việt Nam thẳng, không cong, nhưng hếch lên ở góc mái tạo sự thanh thoát, lấy cảm hứng từ mũi thuyền của nền văn hóa sông nước Hệ kết cấu mái bao gồm các thành phần chính sau:

Hình 2.6 Tỉ lệ mái nhà, triền mái nhà cổ Việt Nam

Trang 18

Hoành hay còn gọi là xà gồ là các dầm chính đỡ mái đặt nằm ngang theo chiều dài nhà, vuông góc với khung nhà

Dui hay còn gọi là rui là các dầm phụ trung gian, đặt dọc theo chiều dốc mái (trực giao vớihoành), gối lên hệ thống hoành

Mè là các dầm phụ nhỏ, đặt trực giao với dui, song song với hoành, gối lên hệ dui.khoảng cách giữa các mè là nhỏ nhất, vừa đủ để lợp ngói Việc sử dụng hệ kết cấu hoành - dui - mè, nhằm phân nhỏ nhịp của kết cấu đỡ mái thành hệ lưới vừa đủ để lát lớp gạch màm và lợp ngói bên trên

Hình 2.7 mái và hệ giàn mái nhà Mái nhà người Việt cổ cũng có nhiều loại, do vậy hệ giàn mái cũng có chút khác

đi để phù hợp hơn với nhu cầu sử dụng và thẫm mỹ của mái nhà

Hình thức bốn mái, với hai mái phụ hai đầu hồi gọi là hai chái nhà.Mỗi chái nhà gồm có một hàng cột quân (có thể thêm một hàng cột hiên), các hàng cột này xoay vuông góc với các hàng cột trong các gian chính

Trang 19

Hình 2.8: nhà 2 mái Hình 2.9: nhà 2 mái, 2 dầu hồi bít

2.3.3 Hệ cột

Hình 2.10: Cột nhà cổ Trong bộ khung nhà kiến trúc cổ Việt Nam, cột là bộ phận chịu lực nén, hầu được đặt trên các đế cột bằng đá mà không có bất kỳ mối liên kết nào giữa phần thân cột và phần đế Công trình vững chắc được là hoàn toàn dựa vào sức nặng, sức đè nén của nó

Điểm nổi bật ở cột nhà Rường là mập và phình to ở giữa Có thể có 1,2 hay nhiều loại cột cùng tồn tại trong một hệ khung nhà Thường thấy 3 loại cột chính:

Trang 20

- Cột cái: cột chính của nhà đặt ở hai đầu nhịp chính tạo chiều sâu cho gian giữa Nối hai cột cái là câu đầu

- Cột quân hay cột con: cột phụ ngắn hơn cột cái, nằm ở đầu nhịp phụ hai bên nhịp chính Khác biệt chiều cao của cột cái và cột con tạo ra độ dốc của mái nhà Xà nách nối cột con với cột cái

- Cột hiên: nằm ở hiên nhà, phía trước, ngắn hơn cột con Kẻ bảy nối cột con và cột hiên

Hình 2.11: Vị trí các cột

Ở mỗi đầu cột, đều có liên kết mộng với các xà dọc, xà ngang…, chân cột cũng liên kế với các xà ngưỡng Toàn bộ hệ chịu lực được kết dính với nhau bằng liên kết mộng, không cần sự hỗ trợ của keo dán hay kim loại Các mối liên kết ngang dọc giữa cột và xà tạo nên một kết cấu hình hộp vững chắc

Trang 21

Hình 2.12: Liên kết mộng cột kẻ nóc

Hình 2.13: Các liên kết mộng ở chân cột

Hình 2.14: Các liên kết mộng ở đầu cột

Trang 23

2.3.5 Bẩy - kẻ:

Hình 2.16: Kẻ, bẩy trong nhà cổ Bẩy hay bẩy hậu hoặc bẩy hiên: là dầm nằm trong khung liên kết vào cột quân phía sau nhà, đỡ phần mái vẩy phía sau Đối với nhà ở thì tiền kẻ, hậu bẩy.Đối với các công trình công cộng như đình làng, thường bốn mặt xung quanh đều có hiên thoáng không có cột hiên, nên thường dùng bẩy hiên

Kẻ là các dầm đơn đặt theo phương chéo của mái nhà, gác lên các cột bằng liên kết mộng, thường có các loại kẻ sau:Kẻ ngồi là kẻ gác từ cột cái sang cột quân, trong khung;Kẻ hiên là kẻ gác từ cột quân sang cột hiên, trong khung Một phần kẻ hiên được kéo dài đâm xuyên qua cột hiên để đỡ phần chân mái.Bẩy kẻ ngoài tính chất chịu lực nó còn là vị trí ưa thích của những nghệ nhân điêu khắc xưa Nội dung điêu khắc

mô phỏng theo tâm linh, đời sống, văn hóa tùy theo thể loại các công trình từ nhà ở đến đình làng, tôn giáo

Trang 24

Hình 2.17: điêu khắc trên bẩy

Hình 2.18: Chi tiết hệ thống bẩy kể đỡ mái hiên

2.3.6 Các bộ phận kết cấu khác:

Con rường là các đoạn gối đỡ mái dạng dầm gỗ hộp để đỡ hoành mái, được đặt chồng lên nhau Chiều dài của chúng thu ngắn dần cân theo chiều vát của mái, càng các con rường bên trên càng ngắn Ở vì nóc các con rường nằm chồng lên câu đầu

Con lợn còn gọi là rường bụng lợn: là con rường trên cùng, gối lên con rường bên dưới qua hai đoạn cột ngắn gọi là trụ trốn, và làm nhiệm vụ đỡ xà nóc (thượng

Trang 25

Rường cụt là loại rường nằm ở vì nách (giữa cột cái và cột quân), chúng nằm chồng trên xà nách, chúng cũng đỡ hoành và vẫn thu dần chiều dài khi lên cao theo độ dốc mái

2.4 Cách tính toán liên kết chêm

Sự làm việc của liên kết chêm: làm việc trong điều kiện chịu ép mặt và chịu trượt

Khả năng chịu lực của chêm:

- Theo khả năng chịu ép mặt: bỏ qua vì gỗ chêm thường tốt hơn gỗ cơ bản

- Theo khả năng chịu trượt của thân chêm:

𝑻𝒕𝒓.𝒄𝒉 = 𝑹𝒕𝒓.𝒄𝒉.∝𝑻𝑩 𝑭𝒕𝒓.𝒄𝒉𝒎𝒕𝒓.𝒄𝒉Trong đó:

𝑇𝑡𝑟 𝑐ℎ : Khả năng trượt của chêm

𝑅𝑡𝑟 𝑐ℎ.∝𝑇𝐵 : Cường độ trượt trung bình của chêm

𝐹𝑡𝑟 𝑐ℎ : Diện tích mặt trượt của chêm

Ftr.ch: Diện tích mặt trượt của chêm: Ftr.ch=blch

Có nhiều chêm: mtr.ch=0.9 chêm ngang: mtr.ch= 0,8 chêm dọc

Khả năng chịu lực của gỗ cơ bản:

Trang 26

𝑇𝑒𝑚 = 𝑅𝑒𝑚 ,∝ 𝐹𝑒𝑚Trong đó:

Fem: Diện tích ép mặt của đầu chêm: Fem= bhr

𝑅𝑒𝑚 ,∝: Cường độ ép mặt theo góc α

Trang 27

Chương 3 NỘI DUNG VÁ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Nội dung nghiên cứu

- Khảo sát các loại nhà cổ phổ biến

- Khảo sát các dạng liên kết chính trong nhà cổ

- Gia công thử một số mẫu cụm kiên kết

3.2 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện các nội dung trên trong quá trình thực hiện đề tài cần tiến hành những phương pháp như sau:

3.2.1 Phương pháp tìm hiểu và phân tích về nhà cổ

Làng xóm của người Việt xưa được gây dựng ở những vị trí tiện nước sinh hoạt

và sản xuất, đồng thời phải là nơi cao ráo có khả năng chống thú dữ, giặc giã.Về sau này, tiêu chí đó còn được mở rộng thêm, đó là tiện lợi về giao thông, khi phương thức sản xuất đã vượt qua khỏi phương thức tự cung tự cấp hai loại nhà chủ yếu là nhà sàn

và nhà đất, tùy thuộc vào địa hình cũng như nhu cầu sử dụng về mặt không gian.Về sau này, khái niệm khuôn viên xuất hiện làm hoàn chỉnh thêm quy mô của mỗi ngôi nhà

Bao gồm trong mỗi khuôn viên là một tổ hợp nhà gồm có nhà chính, nhà phụ và các công trình phục vụ sinh hoạt khác như vườn, ao, nhà bếp, nhà kho Cách bố trí trong khuôn viên gia đình không chỉ khác nhau bởi mức độ giàu nghèo, mà còn khác nhau ở mỗi địa phương Ở miền bắc thường có các loại tổ hợp nhà như nhà chữ môn; nhà chữ công; nhà chữ nhị; nhà thước thợ ở miền nam lại có các loại tổ hợp nhà như: nhà chữ đinh; nhà nối đọi (còn gọi là xếp đọi, sắp đọi hay sóc đọi) cùng một số biến thể

Trang 28

Căn cứ vào vật liệu xây dựng để phân loại thì có nhà gỗ, nhà tre, nhà tranh, nhà phên, nhà lá, nhà ngói Căn cứ vào cấu trúc không gian để phân loại thì có nhà một gian, nhà 1 gian 2 chái (hay 1 căn 2 chái), nhà 3 gian, nhà 3 gian 2 chái, nhà 5 gian, nhà đơn, nhà kép Căn cứ vào hình dáng để phân loại thì có nhà vuông, nhà bánh ú, nhà băng Căn cứ vào kết cấu bộ vì lại có nhà rường, nhà rội và kết hợp của 2 loại nhà này vv

Ngoài ra tôi còn tìm hiểu về “Kiến trúc nhà Rường Huế”.Đó là một di sản đặc trưng của Huế dù nhà rường không chỉ là của riêng cố đô.Phía bắc Huế, Quảng Trị, Quảng Bình cũng có nhà rường.Phía nam Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi cũng có nhà rường Thậm chí nhà rường còn xuất hiện ở cả Tây Nam Bộ Dù vậy, hễ nói đến nhà rường là người ta lại lập tức nghĩ đến Huế! Do tính phổ biến và đặc trưng của nó nên tôi chọn nhà Rượng Huế làm đối tượng khảo sát

Nhà Rường có thể coi là loại nhà phổ biến được ưa chuộng nhất Chỉ vì một điều thật đơn giản, theo Chu Sơn, ở Huế: “Vua chúa ở nhà rường Hoàng thân quốc thích ở nhà rường.Quan lại ở nhà rường.Người giàu ở nhà rường.Phật Thánh ở nhà rường.Ma quỉ cũng ở nhà rường.Ông bà tổ tiên ở nhà rường Con cháu cũng ở nhà rường”

Có nghĩa là, nhà rường đã trở thành một bộ phận không thể tách rời của văn hóa Huế

Nhà rường có từ rất sớm Giữa thế kỷ XVIII, các giáo sỹ, thương nhân người nước ngoài đến Huế đã mô tả chúa Nguyễn ở trong những ngôi nhà rường bóng lộn với cột kèo chạm trổ tinh vi Đó là khi nhà rường đã hoàn thiện về kết cấu và mỹ thuật.Còn quá trình hình thành, chuyển biến để tạo lập nên một loại hình kiến trúc có quy tắc và

Trang 29

quanh, có thể là bức tường thành kiên cố hay chỉ là hàng chè tàu được cắt tỉa gọn gàng.Trong không gian ấy vườn luôn chiếm tỉ lệ lớn với màu xanh bao phủ bốn mùa Công trình kiến trúc tuy chiếm tỷ lệ khiêm tốn, nhưng là một tổ hợp hoàn chỉnh với nhà chính, nhà phụ (hay nhà ngang), am miếu, bình phong, cổng, đôi khi có cả mồ mả của tổ tiên hay người thân trong gia đình Cách bố trí tổ hợp trên cũng có vài kiểu đặc trưng: kiểu chữ Đinh, kiểu chữ Khẩu hay Nội Công Ngoại Quốc Dù kiểu nào thì tính khép kín và hướng nội của nhà vườn Huế cũng thể hiện rất rõ, trong đó ngôi nhà chính-nhà rường luôn chiếm vị trí trung tâm ở mọi ý nghĩa

Từ những thông tin tìm hiểu được tôi phân loại, chọn lọc, sắp xếp lại.Sau đó tôi tiến hành phân tích các dạng nhà cổ và các dạng liên kết chính được sử dụng phổ biến

của nhà cổViệt Nam

3.2.2 Phương pháp phân tích kết cấu ngôi nhà

Trong một ngôi nhà cổ các chi tiết, cấu kiện được liện kết với nhau bằng nhiều kiểu liên kết tùy từng vị trí và chức năng của các câu kiện mà sử dụng các loại liên kết khác nhau Trong phạm vi đề tài, tôi tiến hành khảo sát một số dạng liên kết được sử dụng trong các dạng kết cấu chính tạo nên bộ khung vững chắc của ngôi nhà Nhìn chung toàn bộ ngôi nhà được hình thành trên cơ sở một bộ khung chịu lực hình hộp với

sự liên kết chặt chẽ giữa các bộ phận trong một không gian ba chiều: Theo chiều đứng, trọng lực của ngôi nhà phân bố đều vào các cột (cột cái, cột con, cột hiên) và dồn xuống các viên đá tảng kê chân cột; theo chiều ngang Các cột được liên kết bằng các

kẻ (bẩy, câu dầu ) tạo nên các vì kèo; theo chiều dọc ngôi nhà, các vì kèo được liên kết lại với nhau bằng các xà (xà nóc, xà thượng, xà trung, xà hạ, xà chân) để tăng thêm

sự vững chắc cho ngôi nhà

3.2.3 Phương pháp khảo sát thực tế

Trang 30

Qua tìm hiểu trong tài liệu có được cái nhìn khái quát Tôi tiến hành đi khảo sát thực tế tại một số nhà cồ được phục dựng và một số xưởng làm nhà cổ để có được cái nhìn cụ thể Từ đó dùng các công cụ phụ trợ thu thập thêm thông tin từ thực tế

Trang 31

Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1 Kết quả khảo sát các loại nhà cổ

4.1.1 Nhà rường

Hình 4.1: Nhà rường

“Rường” là một cách nói rút ngắn của rường cột.Theo sách chữ Pháp của Giáo

sư Sử học Lê Văn Hảo do UNESCO ấn hành có lý giải, nhà cổ Việt gọi là nhà rường,

vì trong 24 chi tiết kết cấu làm nhà như cột, kèo, rui,mè, đòn tay, con sẻ thì quan trọng nhất là hai thanh rường gọi là “bụng heo và rường cụt”, nên gọi nhà rường Nhà rường

là loại nhà có hệ thống cột kèo gỗ được dựng lên theo những quy cách nhất định Dù to lớn đến đâu, nhà rường Việt Nam cũng được kết cấu hoàn toàn bằng chốt, mộng gỗ để

có thể lắp ráp và tháo gỡ dễ dàng.Số gian trong nhà được phân định bằng các hàng

Ngày đăng: 27/02/2019, 09:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm