1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ẢNH HƢỞNG CỦA LIỀU LƢỢNG EMINA THẢO DƢỢC ĐẾN SINH TRƢỞNG, PHÁT TRIỂN, NĂNG SUẤT VÀ SÂU BỆNH HẠI CHÍNH TRÊN CÂY CẢI NGỌT (Brassica integrifolia) VÀ CÂY HÀNH LÁ (Allium fistulosum sp.) TẠI TÂN UYÊN, BÌNH DƢƠNG NĂM 2013

102 135 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 2,3 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HỒ CHÍ MINH KHOA NÔNG HỌC LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ẢNH HƯỞNG CỦA LIỀU LƯỢNG EMINA THẢO DƯỢC ĐẾN SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN, NĂNG SUẤT VÀ SÂU BỆNH HẠI CHÍNH TRÊN CÂY CẢI NGỌT Brassica integrif

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH

KHOA NÔNG HỌC

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

ẢNH HƯỞNG CỦA LIỀU LƯỢNG EMINA THẢO DƯỢC ĐẾN SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN, NĂNG SUẤT VÀ SÂU BỆNH

HẠI CHÍNH TRÊN CÂY CẢI NGỌT (Brassica integrifolia) VÀ CÂY HÀNH LÁ (Allium fistulosum sp.) TẠI TÂN UYÊN, BÌNH

DƯƠNG NĂM 2013

Tp Hồ Chí Minh, tháng 07/2013

Ngành: Bảo vệ thực vật Khóa: 2009-2013

Sinh viên thực hiện: LÊ PHÚ KHÁNH

Trang 2

ẢNH HƯỞNG CỦA LIỀU LƯỢNG EMINA THẢO DƯỢC ĐẾN SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN, NĂNG SUẤT VÀ SÂU BỆNH

HẠI CHÍNH TRÊN CÂY CẢI NGỌT (Brassica integrifolia) VÀ CÂY HÀNH LÁ (Allium fistulosum sp.) TẠI TÂN UYÊN, BÌNH

Trang 3

LỜI CÁM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến:

- TS Phạm Thị Minh Tâm, người đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn, truyền đạt những kinh nghiệm quý báu cho tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài, cũng như trong quá trình hoàn chỉnh luận văn

- Các thầy cô trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh, đặc biệt là các thầy cô khoa Nông học đã giảng dạy, truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu trong suốt bốn năm học qua

- Các hộ nông dân xã Thạnh Hội, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương đã trao đổi thông tin cũng như những kinh nghiệm trong quá trình thực hiện đề tài

- Chân thành cám ơn bạn bè, gia đình đã nhiệt tình ủng hộ, động viên, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài và hoàn chỉnh luận văn

Tp Hồ Chí Minh, tháng 07 năm 2013

Tác giả

Lê Phú Khánh

Trang 4

TÓM TẮT

LÊ PHÚ KHÁNH, Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 07/2013 ẢNH HƯỞNG CỦA LIỀU LƯỢNG EMINA THẢO DƯỢC ĐẾN SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN, NĂNG SUẤT VÀ SÂU BỆNH HẠI CHÍNH TRÊN CÂY CẢI

NGỌT (Brassica integrifolia) VÀ CÂY HÀNH LÁ (Allium fistulosum sp.) TẠI

TÂN UYÊN, BÌNH DƯƠNG NĂM 2013

Giáo viên hướng dẫn: TS Phạm Thị Minh Tâm

Đề tài được tiến hành tại xã Thạnh Hội, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương từ ngày 10/05/2013 – 10/07/2013 Nhằm tìm hiểu ảnh hưởng của liều lượng EMINA thảo dược đến sinh trưởng, năng suất, sâu bệnh hại trên cây hành lá và cây cải ngọt Đề tài gồm 2 thí nghiệm

Thí nghiệm 1: “Ảnh hưởng của liều lượng EMINA thảo dược đến sinh trưởng, phát triển, năng suất và sâu bệnh hại trên cây cải ngọt” được bố trí theo kiểu khối đầy

đủ ngẫu nhiên một yếu tố, 3 lần lặp lại với 5 nghiệm thức là liều lượng EMINA thảo dược (0, 20, 30, 40 và 50 ml/8 lít nước)

Thí nghiệm 2: “Ảnh hưởng của liều lượng EMINA thảo dược đến sinh trưởng, phát triển, năng suất và sâu bệnh hại trên cây hành lá” được bố trí theo kiểu khối đầy

đủ ngẫu nhiên một yếu tố, 3 lần lặp lại với 5 nghiệm thức là liều lượng EMINA thảo dược (0, 20, 30, 40 và 50 ml/8 lít nước)

Kết quả cho thấy: phun EMINA thảo dược liều lượng 20 và 50ml/8 lít nước trên cây cải ngọt cho năng suất cao nhất (23,37 tấn/ha), hiệu quả kinh tế cao nhất ở liều lượng 20ml/8 lít nước (50.145.500đ/ha) Đối với sâu hại thì phun EMINA thảo dược ở liều lượng 50ml/8 lít nước cho mật số bọ nhảy sọc vỏ lạc thấp nhất (0,52 con/cây ở giai đoạn 15 ngày sau lần phun thứ nhất và 0,43 con/cây ở giai đoạn 30 ngày sau lần phun thứ nhất) Đối với bệnh hại thì không xuất hiện trong quá trình thí nghiệm

Phun EMINA thảo dược liều lượng 20ml/8 lít nước trên cây hành lá cho năng suất cao nhất (7,65 tấn/ha), hiệu quả kinh tế cao nhất ở liều lượng 20ml/8 lít nước (53.553.500 đ/ha) Đối với sâu hại thì phun EMINA thảo dược ở liều lượng 50ml/8 lít nước cho tỷ lệ lá hành bị dòi đục lá (6,2% ở giai đoạn 15 ngày sau lần phun thứ nhất

và 6,08% ở giai đoạn 30 ngày sau lần phun thứ nhất), sâu xanh da láng (8,19% ở giai

Trang 5

đoạn 30 ngày sau lần phun thứ nhất) hại thấp nhất Đối với bệnh hại thì phun EMINA thảo dược ở liều lượng 50ml/8 lít nước cho tỷ lệ bệnh thán thư (15,7% ở giai đoạn 15 ngày sau lần phun thứ nhất và 18,77% ở giai đoạn 30 ngày sau lần phun thứ nhất) thấp nhất, phun EMINA thảo dược ở liều lượng 40ml/8 lít nước cho chỉ số bệnh thán thư (2,39% ở giai đoạn 15 ngày sau lần phun thứ nhất) thấp nhất, phun EMINA thảo dược

ở liều lượng 50ml/8 lít nước cho chỉ số bệnh thán thư (3,31% ở giai đoạn 30 ngày sau lần phun thứ nhất) thấp nhất Phun EMINA thảo dược ở liều lượng 50ml/8 lít nước cho

tỷ lệ bệnh thối nhũn (0,71% ở giai đoạn 15 ngày sau lần phun thứ nhất và 2,1% ở giai đoạn 30 ngày sau lần phun thứ nhất) thấp nhất

Trang 6

MỤC LỤC

Trang

TRANG TỰA i

LỜI CÁM ƠN ii

TÓM TẮT iii

MỤC LỤC v

DANH SÁCH CÁC BẢNG BIỂU, ĐỒ THỊ viii

DANH SÁCH CÁC HÌNH x

DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT xi

Chương 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục đích và yêu cầu 2

1.2.1 Mục đích 2

1.2.2 Yêu cầu 2

1.3 Giới hạn đề tài 2

Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Giới thiệu về cây cây cải ngọt và cây hành lá 3

2.1.1 Cây cải ngọt 3

2.1.1.1 Nguồn gốc và phân loại 3

2.1.1.2 Đặc điểm sinh học 3

2.1.1.3 Yêu cầu ngoại cảnh 3

2.1.1.4 Kỹ thuật trồng cây cải ngọt 4

2.1.2 Cây hành lá 5

2.1.2.1 Nguồn gốc và phân loại 5

2.1.2.2 Đặc điểm sinh học 5

2.1.2.3 Yêu cầu ngoại cảnh 5

2.1.2.4 Kỹ thuật trồng cây hành lá 5

2.2 Tình hình nghiên cứu sản xuất rau 7

2.2.1 Tình hình sản xuất rau trên thế giới 7

2.2.2 Tình hình sản xuất rau ở Việt Nam 9

Trang 7

2.3 Vi sinh vật hữu hiệu và tình hình nghiên cứu, sản xuất ứng dụng chế phẩm EM

trên thế giới và ở Việt Nam 13

2.3.1 Khái niệm về vi sinh vật hữu hiệu EM 13

2.3.2 Nguồn gốc và các dạng chế phẩm vi sinh vật hữu hiệu EM 13

2.3.3 Tình hình nghiên cứu và sản xuất ứng dụng chế phẩm EM trên thế giới 17

2.3.4 Tình hình nghiên cứu và sản xuất ứng dụng chế phẩm EM ở Việt Nam 19

2.3.5 Chế phẩm EMINA 21

2.3.5.1 Tác dụng chế phẩm EMINA 22

2.3.5.2 Một số dạng chế phẩm EMINA 23

Chương 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26

3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 26

3.2 Đặc điểm khí hậu, thời tiết 26

3.3 Vật liệu nghiên cứu 26

3.4 Phương pháp nghiên cứu 27

3.4.1 Thí nghiệm 1: Ảnh hưởng của liều lượng EMINA thảo dược đến sinh trưởng, phát triển, năng suất và sâu bệnh hại trên cây cải ngọt 27

3.4.1.1 Bố trí thí nghiệm 27

3.4.1.2 Quy trình kỹ thuật 30

3.4.2 Thí nghiệm 2: Ảnh hưởng của liều lượng EMINA thảo dược đến sinh trưởng, phát triển, năng suất và sâu bệnh hại trên cây hành lá 31

3.4.2.1 Bố trí thí nghiệm 31

3.4.2.2 Quy trình kỹ thuật 34

3.5 Hiệu quả kinh tế giữa các nghiệm thức thí nghiệm 35

3.6 Xử lý số liệu 36

Chương 4 KẾT QUẢ THẢO LUẬN 37

4.1 Thí nghiệm 1: Ảnh hưởng của liều lượng EMINA thảo dược đến sinh trưởng, phát triển, năng suất và sâu bệnh hại trên cây cải ngọt 37

4.1.1 Ảnh hưởng của liều lượng EMINA thảo dược đến sinh trưởng, năng suất cây cải ngọt 37

4.1.1.1 Ảnh hưởng của liều lượng EMINA thảo dược đến chiều cao cây cải ngọt 37

4.1.1.2 Ảnh hưởng của liều lượng EMINA thảo dược đến số lá cây cải ngọt 39

Trang 8

4.1.1.3 Ảnh hưởng của liều lượng EMINA thảo dược đến năng suất cây cải ngọt 40

4.1.1.4 Hiệu quả kinh tế 41

4.1.2 Ảnh hưởng của liều lượng EMINA thảo dược đến sâu bệnh hại cây cải ngọt 41

4.2 Thí nghiệm 2: Ảnh hưởng của liều lượng EMINA thảo dược đến sinh trưởng, phát triển, năng suất và sâu bệnh hại trên cây hành lá 43

4.2.1 Ảnh hưởng của liều lượng EMINA thảo dược đến sinh trưởng, năng suất cây hành lá 43

4.2.1.1 Ảnh hưởng của liều lượng EMINA thảo dược đến chiều cao bụi hành 43

4.2.1.2 Ảnh hưởng của liều lượng EMINA thảo dược đến số lá cây hành 45

4.2.1.3 Ảnh hưởng của liều lượng EMINA thảo dược đến số nhánh và tốc độ ra nhánh cây hành lá 47

4.2.1.4 Ảnh hưởng của liều lượng EMINA thảo dược đến năng suất cây hành 48

4.2.1.5 Hiệu quả kinh tế 49

4.2.2 Ảnh hưởng của liều lượng EMINA thảo dược đến sâu, bệnh hại cây hành 49

4.2.2.1 Ảnh hưởng của liều lượng EMINA thảo dược đến sâu hại cây hành 49

4.2.2.2 Ảnh hưởng của liều lượng EMINA thảo dược đến bệnh hại cây hành 54

Chương 5.KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 58

5.1 Kết luận 58

5.1.1 Trên cây cải ngọt 58

5.1.2 Trên cây hành lá 58

5.2 Đề nghị 58

TÀI LIỆU THAM KHẢO 59

PHỤ LỤC 62

Trang 9

DANH SÁCH CÁC BẢNG BIỂU, ĐỒ THỊ

Trang

Đồ thị 1: Tình hình sản xuất rau của thế giới năm 2007 9

Bảng 2.1: Diện tích, năng suất, sản lượng rau trên thế giới (1997 – 2001) 8

Bảng 2.2: Diện tích, năng suất, sản lượng các loại rau phân theo vùng 11

Bảng 2.3: Kim ngạch xuất khẩu rau quả năm 1990 – 2004 (triệu USD) 12

Bảng 2.4: Bình quân sản lượng rau/đầu người (kg/người/năm) 13

Bảng 3.1: Tình hình thời tiết trong thời gian thí nghiệm 26

Bảng 3.2: Quy trình kỹ thuật cây cải ngọt 30

Bảng 3.3: Bảng phân cấp bệnh 30

Bảng 3.4: Quy trình kỹ thuật cây hành lá ……… 34

Bảng 3.5: Bảng phân cấp bệnh 34

Bảng 4.1: Ảnh hưởng của liều lượng EMINA thảo dược đến chiều cao cây (cm/cây) 37

Bảng 4.2: Ảnh hưởng của liều lượng EMINA thảo dược đến tốc độ tăng trưởng chiều cao cây (cm/cây/đợt) 38

Bảng 4.3: Ảnh hưởng của liều lượng EMINA thảo dược đến khả năng ra lá (lá/cây) 39

Bảng 4.4: Ảnh hưởng của liều lượng EMINA thảo dược đến tốc độ ra lá (lá/cây/đợt) 39

Bảng 4.5: Ảnh hưởng của liều lượng EMINA thảo dược đến các yếu tố cấu thành năng suất 40

Bảng 4.6: Tổng thu, tổng chi, lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận ở các nghiệm thức 41

Bảng 4.7: Ảnh hưởng của liều lượng EMINA thảo dược đến mật độ bọ nhảy sọc vỏ lạc (Phyllotreta striolata F.) (con/cây) 42

Bảng 4.8: Ảnh hưởng của liều lượng EMINA thảo dược đến chiều cao bụi (cm/bụi) 43

Bảng 4.9: Ảnh hưởng của liều lượng EMINA thảo dược đến tốc độ tăng trưởng chiều cao bụi hành (cm/bụi/đợt) 44

Bảng 4.10: Ảnh hưởng của liều lượng EMINA thảo dược đến khả năng ra lá (lá/bụi) 45

Bảng 4.11: Ảnh hưởng của liều lượng EMINA thảo dược đến tốc độ ra lá (lá/bụi/đợt) 46

Bảng 4.12: Ảnh hưởng của liều lượng EMINA thảo dược đến số nhánh (nhánh/bụi) 47

Trang 10

Bảng 4.13: Ảnh hưởng của liều lượng EMINA thảo dược đến tốc độ ra nhánh

(nhánh/bụi/đợt) 47

Bảng 4.14: Ảnh hưởng của liều lượng EMINA thảo dược đến năng suất cây hành 48 Bảng 4.15: Tổng thu, tổng chi, lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận ở các nghiệm thức 49 Bảng 4.16: Ảnh hưởng của liều lượng EMINA thảo dược đến tỷ lệ lá hành bị dòi đục

lá (Liriomyza sp.) hại (%) 49

Bảng 4.17: Ảnh hưởng của liều lượng EMINA thảo dược đến tỷ lệ lá hành bị sâu xanh

da láng (Spodoptera exigua H.) hại (%) 52

Bảng 4.18: Ảnh hưởng của liều lượng EMINA thảo dược đến bệnh thối nhũn (Erwinia

carotovora) cây hành (%) 54

Bảng 4.19: Ảnh hưởng của liều lượng EMINA thảo dược đến tỷ lệ bệnh thán thư

(Colletotricum gloeosporioides và Colletotricum sp.) trên cây hành (%) 55

Bảng 4.20: Ảnh hưởng của liều lượng EMINA thảo dược đến chỉ số bệnh đốm lá

(Colletotricum gloeosporioides và Colletotricum sp.) trên cây hành (%) 56

Trang 11

DANH SÁCH CÁC HÌNH

Trang

Hình 3.1: Toàn cảnh khu thí nghiệm 1 28

Hình 3.2: Toàn cảnh khu thí nghiệm 2 32

Hình 4.1: Ảnh hưởng của liều lượng EMINA thảo dược đến chiều cao cây cải ngọt lúc thu hoạch 38

Hình 4.2: Bọ nhảy sọc vỏ lạc (Phyllotreta striolata F.) 41

Hình 4.3: Ảnh hưởng của liều lượng EMINA thảo dược đến chiều cao cây hành lúc thu hoạch 44

Hình 4.4: Lá hành bị dòi đục lá (Liriomyza sp.) hại 51

Hình 4.5: Lá hành bị ruồi đục lá (Liriomyza sp.) đẻ trứng 51

Hình 4.6: Sâu xanh da láng (Spodoptera exigua H.) 53

Hình 4.7: Lá hành bị sâu xanh da láng (Spodoptera exigua H.) hại 53

Hình 4.8: Bệnh thối nhũn (Erwinia carotovora) hại hành 55

Hình 4.9: Bệnh thán thư (Colletotricum gloeosporioides và Colletotricum sp.) trên cây hành 57

Trang 12

Effective Microorganisms of Institute of Agrobiology Lần lặp lại

Food Agriculture Organization Integrated Pest Management Integrated Crop Management Hecta

Đồng bằng sông Cửu Long Đồng bằng sông Hồng United States Dollar Ngày sau gieo Ngày sau trồng

Hệ số biến động Năng suất lý thuyết Năng suất thực thu Trung, du miền núi phía Bắc Ngày sau lần phun

Association of Southeast Asian Nations Good Agricultural Practices

European Urology Residents Education Programme Asia Pacific Natural Agriculture Network

Effective Microorganisms Research Organization

Trang 13

Chương 1 MỞ ĐẦU

1.1 Đặt vấn đề

Nền nông nghiệp của chúng ta đang trên đà phát triển là nhờ vào các tiến bộ khoa học kỹ thuật, và nó đã đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao cung cấp về lương thực, thực phẩm cho xã hội Nhằm bảo vệ sức khỏe cho người tiêu dùng và bảo vệ môi trường các nhà khoa học đã đưa công nghệ sinh học vào sản xuất nông, lâm nghiệp với mục đích sản xuất lương thực, thực phẩm an toàn, có nghĩa nâng cao chất lượng sản xuất nông nghiệp sạch trở thành các sản phẩm hàng hóa có khả năng cạnh tranh với các sản phẩm trong khu vực và quốc tế Trong sản xuất rau màu thói quen của người nông dân là dùng phân tươi, phân bắc, phân hóa học, thuốc trừ sâu để sản xuất Và việc sử dụng quá nhiều phân hóa học, thuốc bảo vệ thực vật trong trồng trọt đang làm cho đất đai bị thoái hoá, môi trường bị ô nhiễm, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật và Nitrat trong sản phẩm nông nghiệp gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người Những chi phí cho thuốc bảo vệ thực vật, phân vô cơ làm cho giá thành sản phẩm cao mà vẫn không đảm bảo được chất lượng

Nhằm hạn chế các vùng sản xuất nêu trên rất nhiều nghiên cứu đã được ứng dụng vào thực tế sản xuất, bước đầu đã xây dựng những vùng sản xuất rau an toàn như

mô hình canh tác nông nghiệp hữu cơ, phong trào 3 giảm 3 tăng, IPM, ICM Trong

đó việc sử dụng các chế phẩm vi sinh trong bảo vệ thực vật được đặc biệt quan tâm

Chế phẩm vi sinh vật hữu hiệu EM (Effective Microorganisms) do giáo sư Teuro Higa của trường Đại học Tổng hợp Ryukysu, Okinawa, Nhật Bản nghiên cứu và được ứng dụng từ thập niên 80 tại Nhật và nhiều nước khác trên Thế giới Đến nay công nghệ EM đã được ứng dụng ở hơn 80 nước trên thế giới và đem lại nhiều kết quả rất khả quan Năm 1994 – 1995 chế phẩm EM được du nhập và thử nghiệm có hiệu quả ở Việt Nam Trên cơ sở nghiên cứu sâu về thành phần, cơ chế tác động của chế phẩm EM Viện sinh học Nông nghiệp thuộc trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội đã phân lập thành công các chủng vi sinh vật có ích trong nước và sản xuất được chế phẩm vi sinh vật hữu hiệu EMINA

Trang 14

Chế phẩm vi sinh vật hữu hiệu EMINA là tổng hợp các chủng vi sinh vật có ích như vi khuẩn quang hợp, vi khuẩn lactic, xạ khuẩn, nấm mốc, v.v sống cộng sinh trong cùng môi trường Được sử dụng trong việc cải tạo đất, hạn chế các loại bệnh do

vi khuẩn gây ra, làm phân bón qua lá Hiện nay, đã có một số nghiên cứu sử dụng chế phẩm EMINA trên nhiều cây trồng như: đậu đũa, rau dền, mùng tơi, khoai tây, cây lạc đều cho kết quả khả quan Tuy nhiên, chưa có các kết quả nghiên cứu trên cây hành lá

và cây cải ngọt

Vì vậy, đề tài: ”Ảnh hưởng của liều lượng chế phẩm EMINA thảo dược đến sinh

trưởng, phát triển, năng suất và sâu bệnh hại chính trên cây cải ngọt (Brassica

integrifolia) và cây hành lá (Allium fistulosum sp.) tại Tân Uyên, Bình Dương năm

Trang 15

Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Giới thiệu về cây cây cải ngọt và cây hành lá

2.1.1 Cây cải ngọt

Cải ngọt là rau ngắn ngày có thể trồng quanh năm, không cần vốn nhiều mà tiêu thụ lại dễ dàng vì thế được trồng khá phổ biến ở nước ta Tuy nhiên, cải ngọt lại dễ gây ngộ độc nhất cho người tiêu dùng bởi lẽ bị nhiều sâu bệnh hại khó trừ, thời gian sinh trưởng ngắn mà phần lớn các thuốc hóa học có thời gian cách ly dài, trong khi thuốc vi sinh và điều hòa sinh trưởng kém tác dụng với một số sâu như bọ nhảy, nông dân thường tưới phân đạm nhiều lần để cây sinh trưởng nhanh Do đó dư lượng thuốc trừ

sâu và dư lượng Nitrat thường cao dẫn đến tình trạng ngộ độc cho người tiêu dùng 2.1.1.1 Nguồn gốc và phân loại

a Nguồn gốc:

Cải ngọt (Brassica integrifolia) có nguồn gốc ở Ấn Độ, Trung Quốc Ở Việt

Nam cải ngọt được trồng khắp nơi dùng làm rau ăn

2.1.1.3 Yêu cầu ngoại cảnh

Cải ngọt có khả năng chịu đựng cao với khí hậu nóng ẩm Trong mùa đông cải ngọt sinh trưởng nhanh và cho năng suất cao Cải ngọt là cây cho khối lượng thân lá lớn, tuy nhiên bộ rễ của cải ngọt nhỏ, ăn nông, cây sinh trưởng ngắn ngày do đó rất cần nước và yêu cầu được giữ ẩm thường xuyên trong suốt quá trình sinh trưởng Cải ngọt yêu cầu đất có độ pH từ 5.5 – 6.5, đất giữ mùn và thoát nước nhanh Về các nguyên tố khoáng cải ngọt cần đạm và kali hơn lân

Trang 16

2.1.1.4 Kỹ thuật trồng cây cải ngọt

a Giống và chuẩn bị cây con

Hiện nay ngoài giống địa phương, mùa khô có thể sử dụng một số giống nhập của Trung Quốc, Thái Lan và mùa mưa có thể sử dụng giống TG1 Hạt giống cần được xử lý bằng thuốc Appencard Super 50FL với lượng dùng 2 – 3cc/1 lít nước trong

15 phút vớt ra để ráo nước, ủ ấm 1 đêm rồi đem gieo, Carbenzim, Hạt Vàng, Bendazol

Sau gieo rải lớp đất mỏng phủ hạt và rắc thuốc trừ côn trùng hại như: kiến, bọ nhảy, sùng,…đồng thời phủ lớp rơm mỏng chống mưa và giữ ẩm trong mùa khô

Khi cây con đạt 18 – 19 ngày tuổi đem đi trồng, trước khi nhổ 1 ngày cần tưới phân DAP pha loãng 30g/10lít nước

b Chuẩn bị đất

Cải ngọt có thể trồng trên nhiều loại đất nhưng cần thoát nước tốt Cần chuẩn bị đất kỹ: phơi ải đất khoảng 8 – 10 ngày Trước khi lên liếp cần làm đất tơi xốp, sạch cỏ dại cùng các tàn dư thực vật, sau đó bón 5 – 6 kg vôi bột/100 m2

đất Lên liếp rộng 80 – 100 cm, nếu mùa khô lên liếp cao 10 – 15 cm, mùa mưa lên liếp cao 20

e Bón phân

 Bón lót:

- Vườn ươm: lót 5 – 6 kg phân chuồng hoai mục + 100g Super lân/10 m2

- Ruộng trồng: lót 300 kg phân chuồng hoai mục + 1,5 kg Super lân + 4 kg Kali clorua /100 m2

 Bón thúc:

- Vườn ươm: Rãi vôi hoặc tro bếp ở liếp ươm khoảng 1kg/100m2 trừ kiến tha hạt Khoảng 1 tuần sau gieo có thể tưới thúc nhẹ từ 1 – 2 lần bằng nước Urê loãng: 20 – 30g/10lít nước Cây con 18 – 19 ngày sau gieo có thể nhổ cấy Trước nhổ cấy cần

Trang 17

tưới ướt đất bằng nước DAP: 30g DAP/10 lít nước để cây dễ bén rễ sau trồng Cấy từng đợt riêng cây tốt và xấu để tiện chăm sóc

- Ruộng trồng: Xử lý đất trước khi trồng bằng Basudin 10H, Sago super 3G Sau trồng 10 ngày là thời kỳ cây phát triển thân lá mạnh cần bón thúc hỗn hợp 5 – 6 kg bánh dầu cộng 250g phân Kali, rải giữa hàng, xới nhẹ cho thoáng và lấp phân và ngâm bánh dầu hoặc hạt đậu nành tưới 2 – 3 lần/vụ

(Nguồn: Trung tâm Khuyến nông thành phố Hồ Chí Minh)

2.1.2 Cây hành lá

Ngoài công dụng là một loại rau và gia vị trong việc nấu ăn thì hành còn được

sử dụng trong việc điều trị các căn bệnh như: giảm đau đầu, trị ho, bệnh tim mạch

chính vì thế hành được trồng khả phổ biến ở nước ta

2.1.2.1 Nguồn gốc và phân loại

a Nguồn gốc

Hành (Allium fistulosum sp.) có nguồn gốc từ Đông Á (ôn đới và cận nhiệt đới),

được trồng rộng rãi khắp nơi làm rau ăn hàng ngày

2.1.2.3 Yêu cầu ngoại cảnh

Hành là cây rau gia vị được xếp vào nhóm rau bốc thoát hơi nước ít và khả năng hút nước yếu, chịu hạn khá Nhiệt độ thích hợp nhất cho cây hành sinh trưởng từ

15 – 200C và ẩm độ không khí 45 – 55%

2.1.2.4 Kỹ thuật trồng cây hành lá

a Giống

Trang 18

- Sử dụng giống địa phương, có hai loại gốc thân trắng và gốc thân đỏ có đặc

điểm sinh trưởng tương đương nhau, thời gian sinh trưởng 42 – 50 ngày

+ Hành Hương: lá nhỏ, bụi nhỏ, có mùi thơm, năng suất 1 tấn/1.000 m2, dễ

nhiễm bệnh vàng lá

+ Hành Trâu: lá to, bụi lớn, năng suất 1-1,5 tấn/1.000 m2, thị trường rất ưa

chuộng

+ Hành Đá: lá, bụi thuộc dạng trung gian, năng suất 1 – 1,5 tấn/1.000 m2, trồng

phổ biến, thị trường rất ưa chuộng, thích hợp trồng dày

- Chọn những bụi hành tương đối đồng đều, đúng tuổi, sinh trưởng tốt, không bị

- Yêu cầu: đất nhiều mùn, thoát nước, ít chua, pH thích hợp từ 6,0 – 6,5, nếu pH

thấp hơn 5 cần bón thêm vôi và tro bếp

- Đất trồng hành cần được phơi ải Kỹ thuật lên liếp hành thay đổi tùy chân đất

và tập quán canh tác Lên liếp vồng cao 35 – 45 cm, chân liếp rộng 1 m, khoảng cách

giữa hai liếp là 30 cm để thoát nước và đi lại chăm sóc

- Xử lý đất: tiến hành xử lý đất ở 3 ngày trước trồng, sử dụng 1 kg Mocap/1000

m2 Rải thuốc lên liếp rồi đảo đều lớp đất mặt

- Tủ rơm kín mặt liếp ngay trước khi trồng

Trang 19

- Tổng lượng phân dùng cho 1.000 m2: phân chuồng hoai 1 – 2 tấn + 30 kg tro

+ 12,5 kg Urea, 28 kg Super lân, 8 kg Kali

- Dạng phân có thể sử dụng Urea, DAP, NPK, có thể tăng cường sử dụng thêm các chế phẩm vi lượng (muối borat), chất kích thích sinh trưởng, phân bón lá để tăng cường dinh dưỡng cho hành và giảm hiện tượng cháy đầu lá Trong trường hợp hành

sinh trưởng xấu có thể dùng Super hume để phun lên hành

 Bón lót: 1 – 2 tấn phân chuồng hoai + 30 kg tro + 28 kg Super lân + 5 kg Kali

 Bón thúc:

- Nguyên tắc bón phân thúc: hòa nước, tưới bằng thùng vòi hoa sen Tưới phân đầu tiên khi hành hồi xanh (khoảng 7 ngày sau trồng), 7 ngày tưới phân 1 lần (khoảng

4 – 5 lần/vụ) tùy theo sinh trưởng của hành và tùy theo mùa vụ Thời gian cách ly là

10 ngày trước khi thu hoạch

Có thể sử dụng khuyến cáo sau (nếu sử dụng khuyến cáo này thì không bón lót

(Nguồn: ThS Trần Thị Ba, Bộ môn Khoa Học Cây Trồng, Khoa Nông Nghiệp & Sinh học ứng dụng, Trường Đại học Cần Thơ)

2.2 Tình hình nghiên cứu sản xuất rau

2.2.1 Tình hình sản xuất rau trên thế giới

Hiện nay, có khoảng 120 chủng loại rau được trồng sản xuất ở khắp các lục địa nhưng chỉ có 12 chủng loại chủ lực được trồng trên 80% diện tích rau trên toàn thế

Trang 20

giới Loại rau được trồng nhiều nhất là cà chua chiếm 3,17 triệu ha, thứ hai là hành chiếm 2,29 triệu ha và thứ ba là bắp cải có 2,07 triệu ha (năm 1997)

Ở châu Á, loại rau được trồng nhiều nhất là cà chua, hành, bắp cải, dưa chuột,

cà tím và được trồng ít nhất là đậu Hà Lan

Để đáp ứng nhu cầu rau ngày càng cao của con người, ngoài việc mở rộng diện tích, năng suất cũng đẩy sản lượng các loại rau tăng không ngừng Theo số liệu thống

kê năm 2001 của FAO được thể hiện qua bảng sau:

Bảng 2.1: Diện tích, năng suất, sản lượng rau trên thế giới (1997 – 2001)

an toàn (RAT) theo hướng GAP có thể được hiểu là sản phẩm khi đưa ra thị trường phải đảm bảo 3 yêu cầu: “An toàn cho môi trường, an toàn cho người sản xuất và an toàn cho người tiêu dùng”

Dựa trên những quy định của EUREPGAP phiên bản 2 (1/2004), tại Hiệp hội các

Trang 21

nước Đông nam Á (ASEAN), các tiêu chuẩn về sản xuất rau đã được chuẩn hóa ở mức

độ chung nhất cho khu vực và yêu cầu người nông dân phải tuân thủ, được gọi là ASEANGAP Các tiêu chuẩn này được đưa ra phù hợp với các nước thành viên ASEAN đến năm 2020 Sản phẩm cuối cùng mà khu vực nhằm đến là môi trường, kỹ thuật canh tác và an toàn cho xã hội

Đồ thị 1: Tình hình sản xuất rau của thế giới năm 2007

(Nguồn: FAOSTAT, 2007)

2.2.2 Tình hình sản xuất rau ở Việt Nam

Việt nam chính là trung tâm khởi nguyên của nhiều loại rau trồng, nhất là các cây thuộc họ bầu bí Song do chịu ảnh hưởng của một nền nông nghiệp lạc hậu và sự

tự túc trong nhiều thế kỷ qua, cho nên sự phát triển rau xanh ở nước ta kém xa so với trình độ canh tác của thế giới Những năm gần đây mặc dù ngành trồng rau có khởi sắc, nhưng trên thực tế vẫn chưa theo kịp nhiều ngành khác trong sản xuất nông nghiệp

Theo số liệu thống kê năm 2000 thì diện tích trồng rau cả nước là 445 nghìn ha, tăng 70% so với năm 1990 (261.090ha) Bình quân mỗi năm tăng 14,8 nghìn ha (mức tăng 7%/năm) trong đó các tỉnh phía Bắc có 249.200 ha, chiếm 56% diện tích canh tác, các tỉnh phía Nam 196.000 ha chiếm 44%

Trang 22

Năm 1998 có năng suất cao nhất là 144,8 tạ/ha bằng 80% so với mức trung bình toàn thế giới (xấp xỉ 180 tạ/ha) Nếu so với năm 1990 là 123,5 tạ thì năng suất bình quân cả nước trong 10 năm chỉ tăng 11,5 tạ/ha Hà Nội, Vĩnh Phúc, Hải Phòng, TP Hồ Chí Minh, Đà Lạt – Lâm Đồng Là các tỉnh có năng suất rau cao hơn cả nhưng cũng chỉ đạt mức 160 tạ/ha Năng suất thấp nhất là các tỉnh ở miền trung, chỉ bằng một nửa năng suất trung bình của cả nước

Sản lượng rau cao nhất là vào năm 2000 đạt 6,007 triệu tấn so với năm 1990 (2,3 triệu tấn) đã tăng 81% Mức tăng sản lượng trung bình hằng năm trong cả 10 năm qua là xấp xỉ 260 nghìn tấn, vùng trồng rau chính ở nước ta tập trung chủ yếu được hình thành từ hai vùng chính:

- Vùng rau chuyên canh ven thành phố và các khu công nghiệp, chiếm 38 – 40% diện tích và 45 – 50% sản lượng Tại đây, rau được tập trung phục vụ cho dân cư

là chủ yếu với chủng loại rau rất phong phú và đạt chất lượng cao

- Vùng rau luân canh với cây lương thực được trồng chủ yếu trong vụ đông xuân tại các tỉnh phía Bắc, đồng bằng sông Cửu Long và miền Đông Nam Bộ Đây là vùng rau hàng hóa lớn cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, phát huy được lợi thế này thì ngành sản xuất rau sẽ có tốc độ phát triển nhảy vọt

Theo số liệu thống kê, tính đến năm 2004, diện tích trồng rau của cả nước là 614,5 nghìn ha, gấp đôi năm 1994 (297,3 nghìn ha), chiếm khoảng 7% đất nông nghiệp và 10% đất cây hàng năm Với năng suất 144,1 tạ/ha (bằng 90% năng suất trung bình toàn thế giới), sản lượng rau cả nước đạt 8,855 triệu tấn/ha, gấp 2,5 lần so với năm 1994 (3,52 triệu tấn) Như vậy, trong 10 năm, mức tăng bình quân đạt 13,57%/năm

Tính đến năm 2005, tổng diện tích rau các loại trên cả nước đạt 635,8 nghìn ha, sản lượng là 9640,3 nghìn tấn; so với năm 1999, diện tích tăng 175,5 nghìn ha (tốc độ tăng 3,61%/năm), sản lượng tăng 3071,5 nghìn tấn (tốc độ tăng 7,55%/năm)

Trong đó, vùng sản xuất rau lớn nhất là đồng bằng sông Hồng (chiếm 24,9% diện tích và 29,6 sản lượng rau cả nước), tiếp đến là đồng bằng sông Cửu Long (chiếm 25,9% diện tích và 28,3 sản lượng rau cả nước)

Trang 23

Bảng 2.2: Diện tích, năng suất, sản lượng các loại rau phân theo vùng

(Nguồn: Tổng cục Thống kê, 2005)

Hiện nay, sản xuất rau theo hướng nông nghiệp công nghệ cao đã bước đầu được hình thành, các phương thức áp dụng như sản xuất trong nhà màn, nhà lưới chống côn trùng, sản xuất trong nhà plastic nhưng không cố định để hạn chế các yếu tố môi trường bất lợi, trồng rau bằng kỹ thuật thủy canh, màng dinh dưỡng, nhân giống

và sản xuất các loại cây quý hiếm, năng suất cao bằng công nghệ nhà kính của Israel

có kiểm soát các điều kiện môi trường

Tại các đô thị, diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp (Hà Nội mỗi năm mất khoảng 1000ha, TP Hồ Chí Minh đến năm 2010 giảm 24.420 ha so với năm 2000), mặt khác năng suất rau còn thấp, chỉ bằng 87% so với năng suất trung bình thế giới, tỷ lệ hao hụt sau thu hoạch khá cao (20 – 30%), nên sản xuất rau theo hướng công nghệ cao là một hướng đi đúng (Trần Khắc Thi, 2012)

Trang 24

Bảng 2.3: Kim ngạch xuất khẩu rau quả năm 1990 – 2004 (triệu USD)

(Nguồn: Tổng cục Thống kê, 2005)

Tính đến năm 2002, nước ta đã có khoảng 60 cơ sở chế biến rau quả với tổng công suất 290.000 tấn sản phẩm/năm Trong đó, doanh nghiệp nhà nước chiếm khoảng 50%, doanh nghiệp tư nhân 16% và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 34% Ngoài ra còn có hàng chục ngàn hộ gia đình làm chế biến rau quả với quy mô nhỏ

Hiện nay, sản phẩm rau tươi tiêu thụ chủ yếu ở thị trường trong nước còn sản phẩm chế phẩm chế biến thì chiếm tỷ lệ không đáng kể Năm 2005, rau quả chế biến xuất khẩu chỉ đạt 235 triệu USD, trong đó phần lớn là sản phẩm quả chế biến Sản phẩm rau xuất khẩu rất hạn chế về chủng loại, hiện chỉ có một số chủng loại như: cà chua, ngô ngọt, ngô rau, ớt, dưa hấu Ở dạng sấy khô, đóng lọ, đóng hộp, muối mặn,

cô đặc, đông lạnh và chỉ có một số là xuất khẩu tươi

Hội thảo “Trái cây Việt Nam: cơ hội và thách thức trong hội nhập kinh tế quốc

tế” tại Mỹ Tho, ngày 20 tháng 04 năm 2010 cho thấy kim ngạch xuất khẩu từ năm

2004 đến nay tăng trưởng khá đều Ước tính chung 6 năm (2004 – 2009) tổng kim ngạch xuất khẩu rau quả đạt 1,82 tỷ USD, tăng trưởng bình quân đạt 20 %/năm

Cụ thể: năm 2004: 179 triệu USD; năm 2005: 235 triệu USD; năm 2006: 259 triệu USD; năm 2007: 306 triệu USD; năm 2008: 407 triệu USD; năm 2009: 439 triệu USD

Theo số liệu Tổng cục Thống kê bình quân sản lượng rau trên đầu người thu ở đất nông nghiệp ở Việt Nam khá cao so với các nước trong khu vực, năm 2009 đạt 141,49 kg/người/năm Tuy nhiên, phân bố không đều có những tỉnh như Lâm Đồng bình quân sản lượng rau trên đầu người đạt từ 800 – 1100 kg/người/năm Đây là vùng

Trang 25

sản xuất rau hàng hóa lớn nhất cả nước cung cấp rau cho cả nội tiêu và xuất khẩu Hưng Yên là tỉnh có bình quân cao hơn bình quân cả nước có khả năng cung cấp rau tiêu dùng nội địa và một phần cung cấp rau cho chế biến xuất khẩu Sơn La bình quân rau trên đầu người thấp chỉ khoảng 40 – 55 kg/người/năm đáp ứng nhu cầu nội tỉnh và một phần cung cấp rau trái vụ cho thị trường Hà Nội

Bảng 2.4: Bình quân sản lượng rau/đầu người (kg/người/năm)

2.3 Vi sinh vật hữu hiệu và tình hình nghiên cứu, sản xuất ứng dụng chế phẩm

EM trên thế giới và ở Việt Nam

2.3.1 Khái niệm về vi sinh vật hữu hiệu EM

Vi sinh vật hữu hiệu – Effective microorganisms (EM) là tập hợp các loài vi sinh vật có ích (vi khuẩn quang hợp, vi khuẩn lactic, nấm men, xạ khuẩn, nấm mốc), sống cộng sinh trong cùng môi trường Có thể áp dụng chúng như là một chất cấy nhằm tăng cường tính đa dạng vi sinh vật đất, bổ sung các vi sinh vật có ích vào môi trường tự nhiên, giảm thiểu sự ô nhiễm môi trường do các vi sinh vật có hại gây ra Kết quả là có thể cải thiện chất lượng và làm tốt đất, chống bệnh do vi sinh vật và tăng cường hiệu quả của việc sử dụng chất hữu cơ của cây trồng

2.3.2 Nguồn gốc và các dạng chế phẩm vi sinh vật hữu hiệu EM

Giáo sư Teruo Higa, trường Đại học Tổng hợp Ryukysu, Okinawa của Nhật Bản

đã nghiên cứu và phát minh ra công nghệ vi sinh vật hữu hiệu vào những năm 70 của thế kỷ 20 Higa đã nghiên cứu phân lập, nuôi cấy, trộn lẫn 5 nhóm vi sinh vật có ích là

vi khuẩn quang hợp, vi khuẩn lactic, nấm men, xạ khuẩn và nấm sợi được tìm thấy trong tự nhiên tạo ra chế phẩm Effective Microorganisms (EM) Công nghệ EM dần trở nên nổi tiếng và có ứng dụng rộng rãi ở nhiều nước

Higa cho rằng, chế phẩm EM giúp sinh ra các chất chống oxy hoá như inositol, ubiquinone, saponine, polysaccharide phân tử thấp, polyphenol và các muối chelate

Trang 26

Các chất này có khả năng hạn chế bệnh, kìm hãm các vi sinh vật có hại và kích thích các vi sinh vật có lợi Đồng thời các chất này cũng giải độc các chất có hại do có sự hình thành các enzym phân huỷ Vai trò của EM còn được phát huy bởi sự cộng hưởng sóng sinh ra bởi các vi khuẩn quang dưỡng Sau hơn 20 năm nghiên cứu EM, giáo sư

T Higa cùng các đồng nghiệp đã phát triển từ 5 lớp sinh vật (được ghi nhận trong bằng sáng chế của T Higa) đến 9 lớp, từ 83 loài vi sinh vật lên đến 130 loài trong EM Các vi sinh vật trong chế phẩm EM có một hoạt động chức năng riêng của chúng

Do đều là các vi sinh vật có lợi, cùng chung sống trong một môi trường, sống cộng sinh với nhau, cùng hỗ trợ cho nhau nên hoạt động tổng thể của chế phẩm EM tăng lên rất nhiều (Nguyễn Quang Thạch và ctv, 2001) Có nhiều dạng chế phẩm EM đã được sản xuất Tuy nhiên, trong ứng dụng, chỉ cần dùng riêng biệt một loại chế phẩm hoặc phối hợp nhiều loại khác nhau cũng đã mang lại hiệu quả cao

 Dung dịch EM gốc (EM1)

EM1 nguyên chất là tập hợp khoảng 50 loài vi sinh vật có ích cả háo khí và kỵ khí thuộc 10 chi khác nhau gồm vi khuẩn quang hợp, vi khuẩn lactic, nấm men, xạ khuẩn và nấm mốc sống cộng sinh cùng môi trường

EM Bokashi C: Vật liệu khô là cám gạo và mùn cưa được pha trộn theo tỷ lệ 1:1

Dung dịch EM được chuẩn bị như trên Cách làm tương tự như đối với EM Bokashi B

(Lê Khắc Quảng, 2004)

 Các vi sinh vật chính trong EM

Vi khuẩn quang hợp: chủ yếu là Rhodopseudomonas palustrus, Rhodobacter

spaeroides

Trang 27

Vi khuẩn quang hợp độc lập, nó hỗ trợ cho các vi sinh vật khác Các vi khuẩn này tổng hợp các chất có lợi tiết ra từ rễ, chất hữu cơ hay chất khí độc hại (sulfite hydro) bằng việc sử dụng năng lượng từ ánh sáng mặt trời và sức nóng của đất Các chất có lợi gồm acid amine, acid nucleic, các chất hoạt động sinh học và đường, tất cả dùng thúc đẩy cho sinh vật tăng trưởng và phát triển

Vi khuẩn lactic: Lactobacillus plantarum, L casei, Streptoccus lactis

Vi khuẩn acid lactic sản xuất ra acid lactic từ đường và các carbohydrate khác được tạo ra từ vi khuẩn quang hợp và các men Tuy nhiên, acid lactic là chất khử trùng mạnh Vi khuẩn lactic làm tăng cường phân hủy của chất hữu cơ như lignin, cellulose

và sự lên men các vật liệu này không cản trở sự phân hủy của các chất hữu cơ

Các men: Saccharomyces cerevisiae, Candida utilis

Các men tổng hợp những chất có lợi cho sự phát triển của cây trồng từ acid amine và đường được tiết ra từ vi khuẩn quang hợp, chất hữu cơ và rễ thực vật

Các chất hoạt động sinh học như hormon, enzyme được sản xuất ra bởi các men thúc đẩy các hoạt động của tế bào nhóm rễ Các chất tiết ra của chúng là chất nền có lợi cho các vi sinh vật hữu hiệu như vi khuẩn lactic và xạ khuẩn

Xạ khuẩn: Streptomyces albus, S griseus

Cấu trúc xạ khuẩn là trung gian giữa vi khuẩn và nấm, sản xuất ra những chất chống vi khuẩn từ acid amine được tiết ra bởi vi khuẩn quang hợp và chất hữu cơ Xạ khuẩn có thể sống chung với vi khuẩn quang hợp Do đó, cả 2 loài làm tăng cường chất lượng môi trường đất, do tăng cường sự hoạt động của các vi sinh vật có ích trong đất

Nấm lên men

Các nấm lên men như aspergillus và penicillium phân hủy nhanh các chất hữu

cơ để tạo ra rượu, ester và các chất chống vi khuẩn Những điều này ngăn chặn các mùi và ngăn ngừa sự xâm nhập vào phá hoại của các côn trùng và giòi có hại

Tóm lại, mỗi loài vi sinh vật hữu hiệu có chức năng quan trọng riêng của nó Nhưng vi khuẩn quang hợp là xương sống của hoạt động EM, vì nó tăng cường hoạt động của các vi sinh vật khác

 Nguyên lý hoạt động của chế phẩm EM

Trang 28

Chế phẩm EM giúp cho quá trình sinh ra các chất chống oxi hóa như inositol, ubiquinone, saponine, polysaccharide phân tử thấp, polyphenol và các muối chelate

Sự hiệu quả của những chất chống oxi hóa này là ngăn chặn sự oxi hóa của vật chất và

cơ thể sinh vật vì vậy có khả năng hạn chế bệnh, kìm hãm các vi sinh vật có hại và kích thích các vi sinh vật có lợi Đồng thời các chất này cũng giải độc các chất có hại

do có sự hình thành các enzym phân hủy

Vai trò của EM còn được phát huy bởi sự cộng hưởng sóng trọng lực sinh ra bởi các vi khuẩn quang dưỡng Các sóng này có tần số cao hơn và có năng lượng thấp hơn so với tia gamma và tia X Do vậy, chúng có khả năng chuyển các dạng năng lượng có hại trong tự nhiên thành dạng năng lượng có lợi thông qua sự cộng hưởng

EM có tác dụng chủ yếu sau đây:

- EM thúc đẩy quá trình phân giải chất hữu cơ, thúc đẩy sự phát triển của hệ sinh vật có ích trong đất, hạn chế hoạt động của vi sinh vật hại, qua đó góp phần cải tạo đất, nâng cao độ phì của đất một cách bền vững, tăng nguồn dinh dưỡng dễ hấp thụ cho cây trồng

- EM làm giảm mùi hôi thối, khử trùng, giảm các chất độc hại và ruồi muỗi trong môi trường do đó có tác dụng làm sạch môi trường, nhất là môi trường nông thôn

- EM làm tăng cường khả năng quang hợp của cây trồng, thúc đẩy sự nảy mầm phát triển, ra hoa quả, kích thích sinh trưởng của cây trồng và vật nuôi, làm tăng khả năng đề kháng và tính chống chịu, qua đó góp phần tăng năng suất và phẩm chất cây trồng, gia súc và thuỷ sản, nhưng lại rất an toàn với môi trường và con người

- EM hạn chế, phòng ngừa nguồn dịch bệnh của cây trồng và vật nuôi Do những tác động trên, EM có thể sử dụng rất rộng rãi trong phát triển nông nghiệp, chăn nuôi, thuỷ sản, trong làm sạch môi trường, góp phần tạo lập sự bền vững cho nông nghiệp và môi trường, góp phần bảo vệ sức khỏe cộng đồng

Trang 29

 Cơ chế tác động của EM

Cơ chế tác dụng chủ yếu của EM thể hiện ở 3 nội dung:

- Bổ sung nguồn vi sinh vật có ích cho đất và môi trường qua đó phát huy tác dụng của các vi sinh vật có ích và trung tính, hạn chế – ngăn chặn làm mất tác dụng của các vi sinh vật hại theo chiều hướng có lợi cho con người – cây trồng – vật nuôi – đất đai và môi trường

- Thúc đẩy quá trình phân giải các chất hữu cơ trong tự nhiên qua đó giải phóng năng lượng và dinh dưỡng cho cây trồng, đất đai, môi trường

- Góp phần ngăn chặn oxy hoá trong tự nhiên

2.3.3 Tình hình nghiên cứu và sản xuất ứng dụng chế phẩm EM trên thế giới

Trong những năm 80 công nghệ EM được nghiên cứu và ứng dụng thành công ở Nhật Bản, Từ năm 1989 công nghệ EM được mở rộng ra các nước Đến nay, sau 20 năm đã có hơn 180 nước và vùng lãnh thổ tiếp cận với EM dưới nhiều hình thức: 9 hội nghị – hội chợ quốc tế về EM đã diễn ra với sự tham gia của hàng ngàn nhà khoa học khắp năm châu, giới thiệu hàng trăm chế phẩm EM, hàng ngàn sản phẩm EM Thành lập nhiều tổ chức nghiên cứu EM (EMRO) và rất nhiều Trung tâm huấn luyện EM quốc tế và quốc gia Ở Nhật có 48 trung tâm, Thái Lan có trung tâm quốc tế EM… Thành lập nhiều Hiệp hội EM ở các nước, nhiều công ty kinh doanh EM… Kể cả những tổ chức quốc tế như APNAN

Theo tổ chức APNAN, số lượng sản phẩm EM1 được sản xuất năm 2007 trên thế giới khoảng 4000 – 5000 tấn trong đó các nước Đông Bắc Á là 2100 tấn Các nước Đông Nam Á là 1400 tấn, Nam Á là 500 tấn, Mỹ Latinh 120 tấn, Châu Phi và Trung Đông 230 tấn, Châu Âu 200 tấn

Triều Tiên có trung tâm EM thuộc Viện nghiên cứu quốc tế EM, hàng năm sản xuất 1200 tấn EM1, có 100 xưởng sản xuất EM2 với công suất 500 – 2000 tấn/xưởng/năm, đã áp dụng EM trên diện tích 1 triệu ha trồng trọt Trung Quốc có 10 xưởng sản xuất EM1, công suất 1000 tấn/năm

Theo giáo sư Higa hệ thống nông nghiệp thiên nhiên có sử dụng công nghệ vi sinh vật hữu hiệu (EM) là hệ thống nông nghiệp có năng suất cao, ổn định, giá thành thấp, không độc hại, cải thiện môi trường và bền vững Do đó từ năm 1982, EM đã được sử dụng vào sản xuất nông nghiệp, kết quả là đã làm giảm rõ rệt các tác nhân gây hại cho sản

Trang 30

xuất nông nghiệp như giảm sâu bệnh, côn trùng Ngoài ra, trên thực tế, công nghệ này đã mang lại kết quả rất khả quan, đó là: năng suất, chất lượng mùa vụ tăng, sản phẩm thu hoạch tăng, chất lượng sản phẩm tăng, nhờ đó mà sản xuất tăng trưởng và phát triển bền vững

Nhờ những kết quả nghiên cứu ứng dụng có hiệu quả mà các nước trên thế giới đón nhận EM như là một giải pháp để đảm bảo cho một nền nông nghiệp phát triển bền vững và bảo vệ môi trường Trong lĩnh vực nông nghiệp EM có tác dụng bổ sung

vi sinh vật cho đất, cải thiện môi trường đất, phân hủy chất hữu cơ tăng hiệu quả của phân bón, cố định nitơ không khí, ngăn chặn các tác nhân gây bệnh, sâu hại trong đất, kích thích sự nảy mầm, ra hoa, kết quả chín, tăng khả năng quang hợp, năng suất chất lượng cây trồng

Theo Ahmad và ctv (1993), sử dụng EM cho các cây trồng như lúa, lúa mì, bông, ngô và rau ở Pakistan làm tăng năng suất các cây trồng Năng suất lúa tăng 9,5%, bông tăng 27,7% Đặc biệt, bón kết hợp EM – 2 và EM – 4 cho ngô làm tăng năng suất lên

rõ rệt Bón EM – 4 cho lúa, mía và rau đã làm tăng hàm lượng chất dễ tiêu ở trong đất Hàm lượng đạm dễ tiêu tăng 2,2% khi bón kết hợp NPK + EM – 4 (Zacharia P.P., 1993)

Khi bón kết hợp phân hữu cơ với EM cho cây lạc ở vùng đất đỏ của Trung Quốc,

đã làm tăng hàm lượng chất dễ tiêu trong đất, tăng đạm tổng số và giảm tỷ lệ C/N EM làm tăng khả năng nảy mầm của lạc, tăng năng suất và tăng khối lượng sinh vật học (Zhao, 1995)

Rochayat và ctv (2000) nghiên cứu ảnh hưởng của việc bón Bokashi và phân lân đến sinh trưởng phát triển và năng suất của cây khoai tây trồng ở Tây Java, nơi có độ cao trung bình 545m so với mặt nước biển đã cho rằng: bón Bokashi với 20 tấn/ha đã làm tăng chiều cao cây, diện tích lá, khối lượng cây khô, số củ/khóm và tăng năng suất

củ một cách rõ rệt

Susan (2002) cho rằng EM Bokashi có ảnh hưởng tích cực đến sinh trưởng, làm tăng hàm lượng diệp lục của cây giống cải bắp và cải củ Số rễ tăng lên và sự hoạt động của bộ rễ nhiều hơn, các lá xanh hơn Kết quả này là do sự cung cấp các chất dinh dưỡng liên tục cho cây từ Bokashi, còn EM có chứa các phytohormon hoặc các

Trang 31

hoạt chất sinh học khác làm trì hoãn sự già hoá của cây (Dato và ctv, 1997; Yamada và

Xu, 2000)

Theo Sopit (2006), ở vùng đông bắc Thái Lan, bón riêng Bokashi cho ngô ngọt, năng suất tăng 16% so với đối chứng, thấp hơn nhiều so với bón NPK (15:15:15), nhưng giá phân NPK đắt gấp 10 lần so với Bokashi Hơn nữa, giá phân hoá học cao và lợi ích trong sản xuất nông nghiệp hữu cơ cho người nông dân, đặc biệt đối với người nông dân nghèo là chủ của những mảnh đất cằn cỗi thì việc ứng dụng công nghệ EM

là rất hữu ích

Theo kết quả nghiên cứu của Yamada và ctv (1996), Bokashi có độ pH là 5,5 và chứa 4,3 mg S, 900 mg N dễ tiêu dưới dạng NH4, 10 mg P2O5 Hiệu lực của EM Bokashi đến hàm lượng các chất dinh dưỡng trong đất và sinh trưởng phát triển của cây trồng do các yếu tố tạo nên là nguồn hữu cơ, nguồn vi sinh vật hữu hiệu và các chất đồng hoá có trong EM

Milagrosa và Balaki (1996) cho rằng, bón riêng biệt Bokashi (2000 kg/ha) hoặc

EM – 1 (10 l/ha với nồng độ 1/500) cho khoai tây đã hạn chế được bệnh héo xanh vi

khuẩn Pseudomonas solanacearum Năng suất khoai tây ở trường hợp bón riêng

Bokashi cao hơn so với bón riêng EM – 1 Bón kết hợp Bokashi và EM – 1 làm tăng kích cỡ củ to nhiều hơn so với bón phân gà + NPK Việc tăng kích cỡ củ và năng suất

là do Bokashi và EM – 1 có hiệu lực trong việc cung cấp các chất dinh dưỡng cần thiết cho cây trong suốt các thời kỳ sinh trưởng phát triển

2.3.4 Tình hình nghiên cứu và sản xuất ứng dụng chế phẩm EM ở Việt Nam

Ở Việt Nam, nghiên cứu về chế phẩm vi sinh vật được tiến hành từ những năm đầu của thập kỷ 60 đến sau những năm 80 đã được đưa vào các chương trình khoa học cấp Nhà nước

Trên cây lúa, sử dụng chế phẩm EM – 5, EM – FPE riêng rẽ hay phun xen kẽ EM – 5 và EM – FPE trên lúa 3 lần/vụ có tác dụng hạn chế sự gia tăng của bệnh bạc lá và bệnh khô vằn hại lúa

Trên cây ngô, phun EM làm ngô trổ cờ tập trung hơn so với đối chứng Bón EM Bokashi kết hợp với phun EM thứ cấp đều có ảnh hưởng tốt đến sinh trưởng, phát triển của cây, năng suất ngô đạt cao và đem lại hiệu quả kinh tế rõ rệt (Nguyễn Quang Thạch, 2001)

Trang 32

Trên cây cà chua, dùng tổng hợp EM Bokashi, EM – 5 và EM – FPE có bổ sung Kasugamicin đạt hiệu quả giảm bệnh héo xanh đến 45,51% và làm giảm thiệt hại do bệnh thối đen đỉnh quả

Phun EM cho cây dưa chuột bao tử thì cây sinh trưởng, phát triển tốt hơn, năng suất tăng 25% so với đối chứng

Đối với rau ăn lá, sử dụng EM Bokashi kết hợp với phun EM thứ cấp làm giảm chỉ tiêu NO3-

trong lá rau cải, các chỉ tiêu cấu thành năng suất tăng rõ rệt Công nghệ

EM được coi là khâu quan trọng trong sản xuất rau sạch

Trên cây đậu tương, sử dụng EM ở dạng phun hay dạng bón trên đất thiếu ẩm làm tăng tỷ lệ nảy mầm của hạt, hàm lượng diệp lục trong lá cây đều cao hơn so với đối chứng Chế phẩm EM đã làm hạn chế bệnh lở cổ rễ đậu tương

EM còn có tác dụng làm tăng chiều cao cây, đường kính gốc ghép các cây vải, nhãn, na so với lô đối chứng (Nguyễn Quang Thạch, 2001)

Hạt lạc sau khi xử lý bằng EMINA gốc nồng độ 5% là 12,22%, 5,56% và 3,33%

Số hạt bị bệnh đáng kể khi tăng nồng độ dung dịch xử lý từ 3 đến 5% thì tỷ lệ nhiễm nấm của hạt giảm từ 46% xuống còn 33,33% và tỷ lệ mầm khoẻ tăng lên 57,78% so với đối chứng 43,33% Tác động của chế phẩm đến sức nảy mầm của hạt cũng tăng nồng độ xử lý lên 5% thì tỷ lệ nảy mầm của hạt giống là 78,89%

Ở Thái Bình, khi xử lý EM cho hạt cải bắp, thóc giống cho thấy tỷ lệ nảy mầm cao hơn, cây con sống khoẻ hơn và có tốc độ sinh trưởng, phát triển nhanh hơn Khi phun EM cho rau muống, năng suất tăng 21 – 25%, phun cho đậu tương, năng suất tăng 15 – 20% Tại Hải Phòng đã xử lý EM cho các loại cây ăn quả: vải, cam, quýt… làm cho cây phát triển mạnh hơn, quả to, chín sớm, vỏ đẹp hơn và năng suất

10 – 15%

Nhóm nghiên cứu của Th.S Đỗ Hải Lan (khoa Sinh – Hoá, ĐH Tây Bắc) cho biết có thể xử lý EM 1% với cây lan Hồ Điệp Tím Nhung khi vừa đưa ra khỏi phòng nuôi cấy mô để tăng cường khả năng thích nghi của cây với điều kiện ngoại cảnh mới Cũng có thể xử lý EM ở giai đoạn cây còn non để kích thích sự sinh trưởng sinh dưỡng, tạo điều kiện cho sự phát triển mạnh mẽ của cây lan ở giai đoạn sau

Theo Phạm Thị Kim Hoàn (2008) khi tiến hành nghiên cứu khả năng ứng dụng chế phẩm vi sinh vật hữu hiệu EMINA trong sản xuất khoai tây tại tỉnh Thái Bình đã

Trang 33

thu được kết quả rất khả quan Khi xử lí củ giống bằng dung dịch EMINA trước khi trồng đã có tác dụng tích cực với sinh trưởng, phát triển, năng suất cũng như chất lượng làm giống của khoai tây Năng suất tăng từ 4,8% đến 22,2%, giảm bệnh vàng

lá do nấm Fusarium sp Sử dụng tổng hợp các biện pháp xử lí củ giống trước khi

trồng, phun lên lá bằng dung dịch EMINA thứ cấp nồng độ 1‰ và bón lót 50% Bokashi và 50% phân chuồng trong mô hình đã làm tăng năng suất 25,8% và hiệu quả kinh tế thu được gấp 2,27 lần so với đối chứng

Dựa trên nguyên tắc hoạt động và phối chế của chế phẩm EM, nhiều cơ quan ở Việt Nam đã sản xuất ra các dạng EM của Việt Nam như EMUNI của trường Đại học Khoa học tự nhiên, EMINA của Viện Sinh học Nông nghiệp – Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội Trong đó, chế phẩm EMINA đã được thử nghiệm và ứng dụng có hiệu quả trên nhiều lĩnh vực nông nghiệp và môi trường Chế phẩm có chất lượng tương đương với chế phẩm EM nhập nội, nhưng giảm được 1/3 giá thành sản xuất Vì thế chế phẩm EMINA đã được sử dụng rộng rãi ở thị trường trong nước với nguồn tiêu thụ hàng nghìn lít một năm (Phạm Thị Kim Hoàn, 2008)

Sử dụng EM có tác dụng rút ngắn thời gian sinh trưởng từ 5 – 13 ngày, làm tăng năng suất lúa từ 290 – 490 kg/ha so với đối chứng và hạn chế được sâu bệnh, nhất là bệnh vàng lá Sử dụng EM ở dạng Bokashi hoặc EM thứ cấp đều có tác dụng xúc tiến sinh trưởng, phát triển của lúa giống CR203, rút ngắn thời gian sinh trưởng trong vụ xuân được 7 – 9 ngày, vụ mùa là 4 – 5 ngày Sử dụng EM Bokashi kết hợp với phun

EM thứ cấp có thể giảm 30% lượng phân bón vô cơ cho cây lúa (Nguyễn Quang Thạch, 2001)

Từ công thức của chế phẩm EM, một số chế phẩm tương tự và nội địa hóa đã được sản xuất ở Việt Nam là chế phẩm GEM, VEM và EMINA

2.3.5 Chế phẩm EMINA

Chế phẩm vi sinh vật hữu hiệu EMINA (Effective Microorganisms of Institute

of Agrobiology) là chế phẩm sinh học mới do Viện Công nghệ sinh học sản xuất

EMINA là chế phẩm vi sinh vật hữu hiệu gồm: vi khuẩn quang hợp, lactic, Bacillus

subtilic, B mesentericus, B megaterium, xạ khuẩn, nấm men

Các vi sinh vật hữu hiệu này được phân lập từ tự nhiên hoàn toàn không độc với người, động vật và môi trường EMINA có thể sử dụng vào nhiều mục đích khác

Trang 34

- Làm tăng sức sống cho cây trồng, tăng khả năng chịu hạn, chịu úng và chịu nhiệt

- Kích thích sự nảy mầm, ra hoa, kết quả và làm chín (đẩy mạnh quá trình đường hoá)

- Tăng cường khả năng quang hợp của cây trồng

- Tăng cường khả năng hấp thụ và hiệu suất sử dụng các chất dinh dưỡng

- Kéo dài thời gian bảo quản, làm hoa trái tươi lâu, tăng chất lượng bảo quản các loại nông sản tươi sống

- Cải thiện môi trường đất, làm cho đất trở nên tơi xốp, phì nhiêu

- Hạn chế sự phát triển của cỏ dại và sâu bệnh (Lương Đức Phẩm, 2007)

 Trong chăn nuôi

- Làm tăng sức khoẻ vật nuôi, tăng sức đề kháng và khả năng chống chịu với các điều kiện ngoại cảnh

- Tăng cường khả năng tiêu hoá và hấp thụ các loại thức ăn

- Kích thích khả năng sinh sản

- Tăng sản lượng và chất lượng trong chăn nuôi

- Tiêu diệt các vi sinh vật có hại, hạn chế sự ô nhiễm trong chuồng trại chăn nuôi (Lương Đức Phẩm, 2007)

 Trong bảo vệ môi trường

Do tác dụng tiêu diệt các vi sinh vật gây thối (sinh ra các loại khí H2S, SO2,

NH3, ) nên khi phun EMINA vào rác thải, cống rãnh, chuồng trại chăn nuôi, sẽ khử

Trang 35

mùi hôi một cách nhanh chóng Đồng thời số lượng ruồi, muỗi, ve, các loại côn trùng bay khác giảm hẳn Rác hữu cơ được xử lý bằng EMINA chỉ sau một ngày có thể hết mùi và tốc độ mùn hoá diễn ra rất nhanh Trong các kho bảo quản chế biến nông sản,

sử dụng EMINA có tác dụng ngăn chặn quá trình gây thối, mốc (Lương Đức Phẩm, 2007)

2.3.5.2 Một số dạng chế phẩm EMINA

Thực trạng nền nông nghiệp nước ta hiện nay đang diễn ra tình trạng nhà sản xuất và người nông dân đang chạy theo lợi nhuận thị trường mà quên đi tính an toàn của nông sản Các hiện tượng nổi bật như, dùng thuốc trừ sâu hóa học tràn lan, không

rõ nguồn gốc, phun với nồng độ quá mức cho phép, để lại dư lượng thuốc Bảo vệ thực vật trên sản phẩm quá lớn, vượt nhiều lần so với ngưỡng cho phép của cục vệ sinh an toàn thực phẩm và có thể gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng như: gây ngộ độc cho người sử dụng, thậm chí có thể gây ung thư Vì vậy, các nhà khoa học luôn nghiên cứu

và đưa ra các giải pháp giải quyết thực trạng này, trong đó hướng nghiên cứu sử dụng các chế phẩm vi sinh vật hữu hiệu đang là một hướng mới hứa hẹn nhiều kết quả khả quan Viện sinh học Nông nghiệp – trường đại học Nông nghiệp Hà Nội là một trong những trung tâm nghiên cứu tiên phong ở nước ta về chế phẩm vi sinh vật hữu hiệu này Sau đây chúng tôi xin giới thiệu về một số dạng của chế phẩm EMINA được Viện

sinh học Nông nghiệp nghiên cứu và sang chế

 Chế phẩm EMINA gốc

Là chế phẩm dạng dung dịch màu nâu vàng, mùi thơm dịu, vị chua ngọt, độ pH

< 4,5 Chế phẩm là hỗn hợp các chủng vi sinh vật hữu hiệu, đặc biệt là 2 nhóm vi

khuẩn quang hợp tía và vi khuẩn Bacillus Chế phẩm được sử dụng để phối trộn cùng

phân chuồng và rác thải hữu cơ ở một tỉ lệ nhất định Chế phẩm giúp thúc đẩy quá trình phân giải hữu cơ, làm giảm mùi khó chịu của phân chuồng, chuyển hóa phân chuồng thành dạng mùn, không còn mùi hôi thối và để làm phân bón cho cây trồng Chế phẩm dạng gốc có thể được pha thành dạng thứ cấp để phun trực tiếp vào chuồng trại làm giảm mùi hôi thối, cải tạo môi trường trong sạch

 Chế phẩm EMINA thảo dược

Chế phẩm này là sự kết hợp của chế phẩm EMINA gốc với các loại thảo dược

gia vị tự nhiên sẵn có là gừng, tỏi, ớt Do một số chất đặc trưng trong thành phần của

Trang 36

chế phẩm kết hợp thêm sự hoạt động của các vi sinh vật hữu hiệu trong chế phẩm mà chế phẩm có tác dụng xua đuổi nhiều loài côn trùng có hại cho nông nghiệp Một ưu điểm nổi bật của chế phẩm so với thuốc trừ sâu hóa học là hoàn toàn thân thiện với môi trường và an toàn cho người sử dụng, không tồn dư các chất độc hại trên sản phẩm, không tồn dư các chất độc hại trong đất

Thành phần gồm: EMINA gốc + gỉ đường (hoặc đường đỏ) + cồn 350

+ dấm ăn + hỗn hợp gừng, giềng, tỏi, ớt + nước

Hỗn hợp này sẽ được sử dụng sau 15 ngày ủ

Lấy 1 ml dịch trong của hỗn hợp sau ủ này hòa trong 1 lít nước rồi đem phun đẫm cho cây giống, cây cảnh; cứ 15 ngày phun một lần, phun vào chiều tối hay sáng sớm (Tránh phun vào hoa lúc cây đang ở giai đoạn ra hoa) Cây trồng khỏe mạnh, đẹp mã, năng suất tăng

Đặc biệt có hiệu quả rất cao với cây trồng khi chúng ta phun cho cây dung dịch gồm: 1ml EMINA thứ cấp + 1 ml EMINA thảo mộc + 1 ml EMINA thảo dược + 1 lít nước

 Chế phẩm EMINA dinh dưỡng

Đây là chế phẩm có thành phần là các vi sinh vật hữu hiệu trong chế phẩm EMINA gốc kết hợp với dịch axit amin Dịch axit amin ở đây là sản phẩm của quá trình thủy phân protein từ các nguồn giàu protein tự nhiên Tác dụng của chế phẩm là bổ sung dinh dưỡng lên lá cho các loại rau ăn lá Ưu điểm nổi bật của chế phẩm là không tồn

dư các chất độc hại như kim loại nặng và đặc biệt là NO3- dưới mức cho phép, an toàn cho người sử dụng

Thành phần gồm: EMINA gốc + gỉ đường (hoặc đường đỏ) + nước sạch Dung dịch này được bảo quản trong can ở điều kiện thoáng mát tránh ánh sáng trực tiếp trong khoảng 3 – 7 ngày tùy vào thời tiết, khi thấy dung dịch có mùi thơm dễ chịu và váng nổi lên Chế phẩm này không nên để quá 6 tháng

 Chế phẩm EMINA dạng bột

Đây là chế phẩm vi sinh vật hữu hiệu dành cho lĩnh vực môi trường Chế phẩm

ở dạng bột có thành phần là bột ngô, bột gạo… đây là các chất mang hữu hiệu cho các

vi sinh vật bám và sử dụng làm chất dinh dưỡng Khi ở dạng khô, chế phẩm chưa có tác dụng, nhưng khi đưa vào môi trường nước, các vi sinh vật tách các chất mang và tham gia vào môi trường nước Tác dụng nổi bật của chế phẩm là phân hủy các chất thải trong nước nhanh, khử mùi tốt, thân thiện với môi trường và con người

Trang 37

 Chế phẩm EMINA thảo mộc

Thành phần gồm: EMINA gốc + gỉ đường ( hoặc đường đỏ) + nước + Củ, cỏ, quả xanh Hỗn hợp thu được sẽ được sử dụng sau 7 ngày ủ

Lấy 1 ml dịch trong của hỗn hợp này + 1 lít nước phun đẫm cho cây trồng vào chiều tối

hay sáng sớm, cứ 15 ngày phun một lần (Tránh phun vào hoa lúc cây đang ở giai đoạn ra hoa)

Cây trồng được cải thiện khả năng sinh trưởng phát triển, tăng năng suất và chất lượng

EMINA thảo mộc không nên để quá 3 tháng

Trang 38

Chương 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Đề tài được thực hiện trong thời gian từ 10/05/2013 đến 10/07/2013 tại xã Thạnh Hội, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương

3.2 Đặc điểm khí hậu, thời tiết

Bảng 3.1: Tình hình thời tiết trong thời gian thí nghiệm

(Nguồn: Trạm Khí Tượng Thủy Văn Huyện Tân Uyên, 2013)

Nhận xét: số liệu khí tượng bảng 3.1 cho thấy, tháng 6 có lượng mưa cao nhất so với

các tháng còn lại, nhiệt độ trung bình thấp nhất và ẩm độ không khí cao nhất Đối với các thí nghiệm trên rau ăn lá, điều kiện thời tiết trong tháng 6 là tương đối bất lợi do lượng mưa nhiều làm rửa trôi chất dinh dưỡng trong đất mạnh, đồng thời ảnh hưởng đến khả năng hấp thụ thuốc của cây

3.3 Vật liệu nghiên cứu

- Chế phẩm EMINA dinh dưỡng, chế phẩm EMINA thảo dược, chế phẩm EMINA thảo mộc (đã được mô tả chi tiết tại mục 2.3.5.2)

- Bình phun thuốc, cân, thước, bút, máy ảnh

- Giống cải ngọt sử dụng: giống 2 mũi tên đỏ (én vàng)

Đặc điểm: Cuống lá hơi tròn và nhỏ, phiến lá nhỏ hẹp Chịu được nóng và mưa; nhanh cho thu hoạch nên có tác dụng giải quyết rau giáp vụ rất tốt Trong 100g phần

ăn được cho 18kcal, 1,7g protein, 125g vitamin A, 51mg vitamin C

- Giống hành sử dụng: hành hương

Đặc điểm: lá nhỏ, bụi nhỏ, có mùi thơm, năng suất 1 tấn/1.000 m2, dễ nhiễm bệnh vàng lá

Trang 39

3.4 Phương pháp nghiên cứu

3.4.1 Thí nghiệm 1: Ảnh hưởng của liều lượng EMINA thảo dược đến sinh trưởng,

phát triển, năng suất và sâu bệnh hại trên cây cải ngọt

NT2: Phun 20ml EMINA thảo dược/8 lít nước

NT3: Phun 30ml EMINA thảo dược/8 lít nước

NT4: Phun 40ml EMINA thảo dược/8 lít nước

NT5: Phun 50ml EMINA thảo dược/8 lít nước

 Nền: Phun 5ml EMINA dinh dưỡng/8 lít nước + 5ml EMINA thảo mộc/8 lít nước Chu kỳ phun 7 ngày/lần Bắt đầu phun sau khi hạt cải vừa nảy mầm Lượng nước phun: 400 lít/ha

Trang 40

Hình 3.1: Toàn cảnh khu thí nghiệm 1

 Chỉ tiêu theo dõi và phương pháp theo dõi

 Phương pháp theo dõi: Mỗi ô thí nghiệm được theo dõi và thu thập số liệu trên 5

điểm cố định theo đường zích – zắc

 Chỉ tiêu theo dõi

Sinh trưởng: (5 ngày theo dõi một lần, mỗi điểm theo dõi 1 cây)

- Chiều cao cây (cm/cây): đo từ dưới gốc lên đỉnh lá cao nhất sau khi vuốt toàn

bộ lá theo chiều thẳng đứng

- Tốc độ tăng trưởng chiều cao cây (cm/đợt) = (chiều cao cây đợt sau – chiều cao cây lần trước liền kề)

- Số lá (lá/cây) Số lá được tính từ lá gốc đến lá ngọn Quy ước chỉ tính những

lá đã thấy rõ phần cuống và phiến lá

- Tốc độ tăng trưởng số lá (lá/đợt) = (số lá đợt sau – số lá lần liền kề)

Ngày đăng: 27/02/2019, 09:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm