1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

BUỚC ĐẦU NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG HƯƠNG ƯỚC PHÒNG CHÁY RỪNG CẤP THÔN TẠI ĐỊA BÀN HUYỆN BẮC TRÀ MY, TỈNH QUẢNG NAM

90 87 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 3,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kết quả đạt được: xác định được tình hình cháy rừng tại địa bàn huyện Bắc Trà My, dựa vào quá trình nghiên cứu thực tế và qua bảng câu hỏi phỏng vấn người dân, tìm hiểu được công tác QLB

Trang 1

****************

NGÔ CÔNG LỘC

BUỚC ĐẦU NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG HƯƠNG ƯỚC

PHÒNG CHÁY RỪNG CẤP THÔN TẠI ĐỊA BÀN HUYỆN BẮC TRÀ MY,

TỈNH QUẢNG NAM

Chuyên ngành: Quản lý tài nguyên rừng

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Người hướng dẫn: ThS HỒ LÊ TUẤN

TP HỒ CHÍ MINH Tháng 7/2013

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này tôi xin chân thành cảm ơn:

- Quý thầy cô trường đại học nông lâm thành Phố Hồ Chí Minh và bộ môn Nông Lâm Kết Hợp, bộ môn Quản Lí Tài Nguyên Rừng đã truyền đạt những kiến thức và kinh nghiệm quý báu cho tôi trong suốt quá trình học tập tại trường

- Cảm ơn các ban ngành huyện Bắc TRà My, Hạt Kiểm Lâm Huyện Bắc Trà My đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình thực tập và thực hiện đề tài

- Thầy Hồ Lê Tuấn đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ cho tôi trong quá trình thực hiện hoàn thành khóa luận

Xin cám ơn gia đình, người thân, và bạn bè đã bên cạnh động viên tôi trong thời gian học tập và hoàn thành khóa luận

Xin chân thành cám ơn!

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 7 năm 2013 Sinh viên

Ngô Công Lộc

Trang 3

TÓM TẮT

Đề tài nghiên cứu: “ Bước đầu nghiên cứu xây dựng hương ước phòng chóng cháy rừng cấp thôn tại địa bàn xã Trà Giang, huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam”, được tiến hành tại xã Trà Giang, huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng

Nam

Kết quả đạt được: xác định được tình hình cháy rừng tại địa bàn huyện Bắc Trà My, dựa vào quá trình nghiên cứu thực tế và qua bảng câu hỏi phỏng vấn người dân, tìm hiểu được công tác QLBVR trên địa bàn huyện, tình hình sản xuất các ngành công- nông nghiệp có nguy cơ gây cháy rừng Thành lập được hương ước phòng chống cháy rừng tự quản do người dân cùng tham gia

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU i

TÓM TẮT ii

SUMMARY iii

PHỤ LỤC CÁC BẢNG v

PHỤ LỤC CÁC HÌNH vi

PHỤ LỤC CHỮ vii

Chương 1: ĐẶT VẤN ĐỀ 1

1.Mở đầu 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Giới hạn đề tài 3

Chương 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU 4

2.1 Tổng quan nghiên cứu 3

2.1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 3

2.1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 5

2.1.3 Những chính sách, chủ trương liên quan đến vấn đề nghiên cứu 9

2.2 Tìm hiểu về một số khái niệm 9

2.2.1 Khái niệm hương ước 9

2.2.2 Các đặc điểm đặc trưng của hương ước 10

2.2.3 Vai trò hương ước đối với đời sống và sinh hoạt của người dân 11

2.2.3 Tổng quan về PRA 11

2.3 Tình hình cháy rừng ở Việt Nam và trên thế giới 12

2.3.1 Tình hình cháy rừng trên thế giới 12

2.3.2 Tình hình cháy rừng ở Việt Nam 13

2.3.3 Tình hình cháy rừng ở khu vực nghiên cứu 15

2.4 Địa điểm nghiên cứu 17

Trang 6

2.4.1 Đặc điểm tự nhiên 17

2.4.2 Đặc điểm về dân sinh - kinh tế - xã hội 20

Chương 3: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23

3.1 Nội dung nghiên cứu 23

3.2 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và giới hạn của đề tài 23

3.2.1 Đối tượng nghiên cứu 23

3.2.1 Phạm vi nghiên cứu 23

3.3 Phương pháp nghiêncứu 23

3.3.1 Phương pháp thu thập số liệu 23

3.3.2 Phương pháp xử lý số liệu 25

Chương 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 26

4.1 Tìm hiểu thực trạng cháy rừng và công tác quản lý cháy rừng tại địa bàn nghiên cứu 26

4.1.1 Thực trạng cháy rừng trên địa bàn nghiên cứu 26

4.1.2 Những nguyên nhân dẫn đến nguy cơ cháy rừng 27

4.1.2.1 Ảnh hưởng Kinh tế hộ gia đình đến rừng và nguy cơ cháy rừng 27 4.1.2.2 Sự hiểu biết của người dân đến công tác phòng chống cháy rừng 28

4.1.3 Công tác quản lý cháy rừng trên địa bàn huyện Bắc Trà My 29

4.1.3.1 Tổ chức quản lý PCCR trên địa bàn huyện Bắc Trà My 30

4.1.3.2 Công tác tuyên truyền phòng chống cháy rừng tại xã Trà Giang 31 4.1.3.3 Những công trình phòng chống cháy rừng trên địa bàn xã Trà Giang 32

4.2 Những đặc trưng sản xuất có nguy cơ gây cháy rừng tại xã Trà Giang 33

4.2.1 Các loại hình sản xuất trên địa bàn xã Trà Giang 33

4.2.2 Phương thức canh tác nương rẫy trên địa bàn xã Trà Giang 35

4.2.2.1 Phương thức canh tác 35

4.2.2.2 Những đặc trưng cơ bản của sản xuất nương rẫy trên địa bàn xã Trà Giang 36

Trang 7

4.3 Thực trạng công tác quản lý rừng trong hoạt động sản xuất nương

rẫy và trồng rừng trên địa bàn huyện Bắc Trà My 37

4.3.1 Thực trạng quản lý nương rẫy 37

4.3.2 Tình hình trồng rừng trên địa bàn huyện Bắc Trà My 39

4.4 Phân tích các bên liên quan trong công tác phòng chống cháy rừng trên địa bàn xã Trà Giang 40

4.4.1 Phân tích nhiệm vụ và mối liên hệ của các bên liên quan trong công tác phòng chống cháy rừng 40

4.4.2 Phân tích vấn đề khó khăn và giải pháp trong công tác phòng chống cháy rừng 44

4.5 Thiết lập mô hình tự quản và phối hợp quản lý lữa rừng 45

4.5.1 Các bước tiến hành 45

4.5.2 Nội dung hương ước 48

4.5.3 Kì vọng hiệu quả của hương ước đem lại cho công tác PCCR ở địa bàn nghiên cứu 50

Chương 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 51

5.1 Kết luận 51

5.2 Kiến nghị 52

TÀI LIỆU THAM KHẢO 53

PHỤ LỤC 56

Trang 8

PHỤ LỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Thống kê số liệu cháy rừng ở Việt Nam (2000 – 2010 14

Bảng 2.2: Thống kê cháy rừng và thiệt hại do cháy rừng tỉnh Quảng Nam trong 10 năm (2003- 2012) 15

Bảng 2.2: Hiện trạng đất huyện Bắc Trà My năm 2011 20

Bảng 3.1: Các tiêu chí trong phân chia kinh tế hộ 24

Bảng 4.1: Ảnh hưởng cháy rừng đến người dân 26

Bảng 4.2: Kết quả phân loại kinh tế hộ 27

Bảng 4.3: Ảnh hưởng kinh tế hộ đến sự phụ thuộc của người dân vào tài nguyên rừng 28

Bảng 4.4: Mối quan hệ giữa sự hiểu biết của người dân và nơi ở của họ 29

Bảng 4.5: các công trình phòng cháy hiện có tại xã Trà Giang 33

Bảng 4.6: Cơ cấu các loại cây trồng theo dân tộc 33

Bảng 4.7: Ma trận các tổ chức, các bên liên quan trong công tác quản lý lữa rừng trong sản xuất nông lâm nghiệp 41

Bảng 4.8: khung SWOT trong quản lý sản xuất nông lâm nghiệp 44

Bảng 4.9: Mẫu giám sát hành vi vi phạm hương ước PCCR 47

Trang 9

PHỤ LỤC CÁC HÌNH

Hình 2.1: Biểu đồ thể hiện lượng mưa của huyện Bắc Trà My năm 2013 18

Hình 4.1: tỷ lệ (%) ảnh hưởng cháy rừng đến người dân sống ven rừng 27

Hình 4.2: Sơ đồ tổ chức QLBVR & PCCR 30

Hình 4.3: tỷ lệ (%) sự hiểu biết người dân qua buổi tuyên truyền 32

Hình 4.4: Tỷ lệ (%) sử dụng đất nương rẫy 34

Hình 4.5: sơ đồ Veen về ảnh hưởng các bên liên quan trong công tác quản lý PCCR 42

Trang 10

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

 BVR: Bảo vệ rừng

 Đoàn TN: Doàn thanh niên

 BVR & PCCR: Bảo vệ rừng và phòng cháy chữa cháy rừng

 FAO: Food and Agriculture Organization – Tổng chức Lương thực và Nông

 KNKL: khuyến nông khuyến lâm

 QLBVR &PCCR: Quản lý bảo vệ rừng và phòng cháy chữa cháy rừng

 UBND: Ủy ban nhân dân

 SWOT: Strengths (Điểm mạnh), Weaknesses (Điểm yếu), Opportunities

(Cơ hội) và Threats (Thách thức)

 WB: World Bank- Tổ chức ngân hàng thế giới

 nghiệp Liên Hợp Quốc

 WMO: World Meteorological Organization - Tổ chức khí tượng thế giới

Trang 11

Theo thống kê đến năm 2013 nước ta có trên 13,5 triệu ha rừng, trong đó hơn một nửa là các loại rừng có nguy cơ cháy rừng cao (Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2012) Chính vì vậy, công tác phòng cháy, chữa cháy rừng luôn được đặt ra là một trong những nhiệm vụ quan trọng và cấp bách của các cấp, các ban ngành Việc phổ biến những kiến thức liên quan đến công tác phòng cháy, chữa cháy rừng là một trong những giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả trong triển khai thực hiện công tác phòng cháy, chữa cháy rừng trên toàn quốc nói chung và cho lực lượng kiểm lâm nói riêng

Trên địa bàn tỉnh Quảng Nam, vấn đề quản lý bảo vệ rừng được chú trọng, nhiều phương án và giải pháp được đưa ra, đặc biệt trong công tác PCCR Nhưng trên thực tế theo thống kê trong 10 năm từ năm 2002 đến 2012 trên địa bàn tỉnh

Trang 12

Quảng Nam đã xảy ra 74 vụ cháy, diện tích thiệt hại là 471,57 ha Từ đó cho thấy

công tác PCCR của tỉnh chưa mang lại hiệu quả cao, các gải pháp PCCR chưa đi sâu vào nghiên cứu trách nhiệm, cũng như các mối liên hệ của các bên liên quan, các nguồn lực khác nhau cho nên công tác quản lý và phối hợp chưa thật sự hiệu quả

Trên địa bàn huyện Bắc Trà My với tổng diện tích rừng là 82.543,6 ha, trong đó rừng trồng chiếm 8.853 ha Vì đây là những diện tích rừng dễ cháy, nên thời gian qua công tác PCCR của huyện đã được quan tâm nhiều, tuy nhiên những gải pháp thiên về kỹ thuật vẫn chưa mang lại hiệu quả

Đến nay trên địa bàn huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam đã có những bước đầu nghiên cứu, áp dụng giải pháp quản lý ở cấp thôn trong công tác PCCR có hiệu quả, từ cơ sở đó với sự đồng ý của khoa Lâm Nghiệp Đại Học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh, dưới sự hướng dẫn của Thạc sĩ Hồ Lê Tuấn, chúng tôi tiến hành đề tài:

“Bước đầu nghiên cứu xây dựng hương ước phòng chống cháy cấp thôn thuộc huyện bắc Trà My tỉnh Quảng Nam”

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Tìm hiểu hiện trạng PCCR và những nguy cơ gây nên cháy rừng đến từ người dân

- Tiến hành thiết lập được hương ước PCCR dựa vào người dân trên địa bàn

xã Trà giang

3 Giới hạn đề tài

- Do địa bàn quá rộng, thời gian làm đề tài cũng có giới hạn, điều kiện đi lại khó khăn Vì vậy, đề tài giới hạn phạm vi nghiên cứu trong khuôn khổ 40 hộ của thôn 2 và thôn 3 thuộc xã Trà Giang Về điều kiện tự nhiên của các thôn trong xã khá giống nhau, cho nên việc lựa chọn này được xem là một nghiên cứu điểm của

đề tài

- Trong khuôn khổ của đề tài này, chỉ nghiên cứu những yếu tố gây cháy rừng

và nắm bắt những nguyên nhân dựa vào người dân để đưa ra những giải pháp PCCR

bằng việc xây dựng hương ước cấp thôn trên địa bàn xã Trà Giang

Trang 13

Chương 2

TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN

CỨU

2.1 Tổng quan nghiên cứu

2.1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Rừng là nguồn tài nguyên vô giá của mỗi quốc gia, để phục vụ cho việc sử dụng, kinh doanh và phát triển rừng hợp lý, có hiệu quả đạt yêu cầu về kinh tế, xã hội, môi trường Những năm gần đây, các nhà khoa học lâm nghiệp đã có nhiều nghiên cứu về phương thức quản lý, bảo vệ rừng dựa vào cộng đồng, trong đấy nhóm nhóm sử dụng rừng (Forest User Group- FUG) là đối tượng chia sẽ lợi ích chính RECOFTC- Trung tâm đào tạo lâm nghiệp cộng đồng trong khu vực châu á Thái Bình Dương có những nghiên cứu trên một số nước như (dẫn theo Nguyễn Ngọc Huyền, 2012)

- Tại Nêpal: chính phủ cho phép chuyển giao một số diện tích đáng kể các khu rừng cộng đồng ở vùng trung du cho các cộng đồng dân cư địa phương, thông qua các tổ chức chính quyền ở cấp cơ sở để quản lý rừng Chính phủ yêu cầu các tổ chức đó phải thành lập một Ủy ban về rừng và cam kết quản lý những vùng rừng ở địa phương theo kế hoạch đã thỏa thuận Tuy nhiên sau một thời gian người ta nhận

ra các tổ chức đó không phù hợp với việc quản lý và bảo vệ rừng do các khu rừng nằm phân tán, không theo đơn vị hành chính và người dân có các nhu cầu, sở thích khác nhau Tiếp theo, nhà nước đã phân biệt quyền sở hữu và quyền sử dụng rừng Quyền sở hữu rừng chia làm hai loại là sở hữu cá nhân và sở hữu nhà nước Trong

sở hữu nhà nước chia rừng thành các dạng khác nhau như: rừng cộng đồng theo các nhóm sử dụng, rừng tín ngưỡng, rừng phòng hộ, rừng nhà nước Trong vòng 14 năm Nhà nước giao khoảng 9000 ha rừng quốc gia cho các cộng đồng Từ năm

1993 chính sách lâm nghiệp mới nhấn mạnh đến các nhóm sử dụng rừng Cho phép

Trang 14

gia tăng quyền hạn và hỗ trợ các nhóm sử dụng rừng, thay đổi chức năng của các phòng lâm nghiệp huyện từ chức năng cảnh sát và chỉ đạo sang chức năng hỗ trợ và thúc đẩy cho các cộng đồng, từ đó rừng được quản lý và bảo vệ có hiệu quả hơn

- Tại Ấn Độ: nhà nước chỉ giao đất không rừng cho các cộng đồng địa phương, đất lâm nghiệp do nhà nước thống nhất quản lý theo hình thức cộng tác quản lý Hình thức thức quản lý này có sự tham gia của người dân trông công tác QLBVR, hạn chế được sự tác động cửa người dân vào rừng tự nhiên, tuy nhiên vì lúc đầu giao đất không rừng cho người dân nên bước đầu không mang lại thu nhập Cho nên một số nơi có điều kiện khó khăn khó có thể trồng rừng đúng mục đích những vẫn còn tình trạng chặt phá rừng để lấy tài nguyên rừng như: gỗ, tre, nứa

để phục vụ cho cuộc sống của họ

- Ở Philipine: áp dụng chương trình lâm nghiệp xã hội tổng hợp theo đó chính phủ giao quyền quản lý đất lâm nghiệp cho cá nhân, các hội quần chúng và cộng đồng địa phương trong 25 năm và gia hạn thêm 25 năm nữa, thiết lập rừng cộng đồng và giao cho nhóm quản lý Người được giao đất phải có kế hoạch trồng rừng, nếu được giao dưới 300ha thì năm đầu tiên phải trồng 40% diện tích, 5 năm sau phải trồng được 70% diện tích và 7 năm phải hoàn thành trồng rừng trên diện tích được giao

- Ở Myanmar: theo phân tích của Hobley (1996) về vấn đề hưởng lợi trong quản lý sử dụng rừng cho thấy hệ thống rừng Taugya từ năm 1850 đã cho phép những người dân du canh được chiếm một diện tích rừng khoảng 3 – 4 ha với điều kiện họ phải trồng và chăm sóc cây con khi chăm sóc cây nông nghiệp Do vậy, cơ quan lâm nghiệp địa phương có thể kiểm soát những người du canh thông qua hoạt động canh tác của họ cùng với việc tái sinh rừng với các loài cây có giá trị

- Ở Phần Lan: có 2/3 tổng diện tích rừng thuộc sở hữu tư nhân Cả nước có trên 430 nghìn chủ rừng và trung bình mỗi chủ rừng có 33 ha Sở hữu cá nhân về rừng ở Phần Lan mang tính truyền thống và liên quan chặt chẽ đến sản xuất nông nghiệp Với chính sách giao đất giao rừng của Phần Lan đã giải quyết người vấn đề QLBVR, mang lại nguồn thu nhập cho người dân Ngoài nguồn thu nhập dựa vào

Trang 15

lâm nghiệp người dân còn có nông nghiệp do tính chất sản xuất nông lâm kết hợp truyền thống

- Châu á hầu như tất cả các quốc gia ở châu á đều có những chính chính sách phân cấp phân quyền trong quản lý tài nguyên rừng, họ đã thành công trong cách tiếp cận có sự tham gia của người dân, chú ý phát huy ý kiến bản địa, nâng cao năng lực của các cộng đồng thiểu số để xây dựng các mô hình quản lý rừng cộng đồng với sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà nước và người dân Chính sách dựa vào sự liên kết chặt chẽ của nhà nước và người dân, mang lại cho người dân nguồn lợi từ tài nguyên rừng Dựa vào ý kiến của người dân để quản lý rừng tốt hơn và chính sách

đã mang lại nhiều hiệu quả như diện tích rừng tăng, độ che phủ cao hơn

Nhận xét: qua các nghiên cứu QLBVR của các nước, đã đưa người dân vào cùng quản lý tài nguyên rừng, và đã đều mạng lại những hiệu quả, phần nào đã giải quyết một phần kinh tế của người dân trong công tác QLBVR, giảm áp lực vào rừng Nhưng bên cạnh đấy còn có nhiều vấn đề cần quan tâm trong công tác QLBVR dựa vào cộng đồng như: chưa giải quyết triệt để vấn đề vấn đề sử dụng lữa rừng có nguy cơ cháy rừng, người dân vẫn còn tác động vào rừng tự nhiên mà chưa

có biện pháp nào ngăn chặn hợp lý Vì vậy, qua những vấn đề trên cần phải có những chính sách hợp lý hơn trong vấn đề QLBVR như: đưa người dân cùng các cấp chính quyền vào tổ chức QLBVR, dùng người dân tự quản lý rừng tự nhiên dưới sự giám sát của các ban ngành trên Cho nên đề tài chúng tôi đưa ra bước đầu nghiên cứu xây dựng hương ước phòng chống cháy cấp thôn, do người dân trực tiếp tham gia quản lý dưới sự tham gia giám sát của các cơ quan chuyên trách

2.1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

Từ sau Đại Hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, với đường lối đổi mới của đảng, ngành lâm nghiệp từ chỗ dựa vào quốc doanh là chủ yếu nay dần chuyển sang lâm nghiệp xã hội, mang tính chất cộng đồng cùng quản lý bảo vệ rừng Chính sách giao đất giao rừng là một đường lối quản lý tài nguyên rừng của nước ta đã được áp dụng theo Nghị định số 02/CP ngày 15/04/1994 (nay là nghị định 163/ CP ngày 16/11/1999), Nghị định 01/ CP của Chính phủ ngày 04/01/1995 Ngoài ra nhà nước

có ban hành một số chính sách có liên quan đến hưởng lợi của hộ gia đình, cá nhân

Trang 16

nhận rừng, đất rừng Đó là Quyết định 178/2001/QĐ – TTg của Thủ tướng Chính phủ ra ngày 12/11/2001 và thông tư liên tịch số 80/2003/TTLT – BTC/BNN&PTNT ngày 30/09/2003 về việc hướng dẫn thực hiện quyết định số 178

đã được thông qua và triển khai rộng rãi Trong thời gian qua đã có rất nhiều nghiên cứu, tổng kết về chính sách giao đất giao rừng và hưởng lợi từ rừng và đất rừng được giao như:

- Từ năm 1998, Chương trình phát triển nông thôn miền núi Việt Nam – Thụy Điển đã triển khai một số mô hình quản lý bảo vệ rừng cộng đồng ở tỉnh Yên Bái và

Hà Giang Khi việc thử nghiệm kết thúc nguời ta tiến hành đánh giá mô hình quản

lý rừng cộng đồng dựa trên 5 tiêu chí sau: trạng thái rừng cho các cộng đồng, sự tác động của nhà nước, sự tham gia của cộng đồng người dân vào quản lý và bảo vệ rừng, quyền sử dụng đất của người dân, những lợi ích cộng đồng được hưởng Việc đánh giá trên làm cơ sở cho việc đề suất các giải pháp phát triển mô hình quản lý bảo vệ rừng cộng đồng Nhìn chung chương trình chỉ gói gọn trong lĩnh vực quản lý bảo vệ rừng cộng đồng còn các hình thức bảo vệ rừng khác không được đề cập đến

ở đây

- Năm 2002, Ngô Đình Thọ và Phạm Xuân Phương nghiên cứu tình hình triển khai chính sách giao đất, giao rừng và chính sách hưởng lợi ở tỉnh Sơn La đạt được kết quả như sau: người dân được hưởng nhiều quyền lợi từ diện tích rừng nhận khoán, diện tích rừng giao cho hộ gia đình và cộng đồng được bảo vệ và phát triển tốt, diện tích rừng bị chặt hạ trái phép giảm rõ rệt, nhận thức của người dân về rừng được nâng lên và có ý thức bảo vệ rừng Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được thì vẫn còn những hạn chế sau: việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chưa đồng bộ; quyền hưởng lợi từ rừng đối với người dân nhận rừng tùy thuộc vào từng loại rừng, nhưng việc phân chia ranh giới giữa rừng sản xuất với rừng phòng

hộ ở một số địa phương chưa rõ; quyền hưởng lợi từ rừng đối với người được giao rừng tùy thuộc vào trạng thái rừng, nhưng việc xác định trạng thái rừng trên thực địa ở một số nơi còn đơn giản; chưa quy định rõ quyền hưởng lợi khi hộ gia đình được giao rừng có trữ lượng ở mức trung bình và giàu; chưa quy định cụ thể chính sách hưởng lợi từ rừng đối với hộ nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp; chưa quy

Trang 17

định cụ thể trường hợp hộ gia đình được giao đất trống quy hoạch rừng phòng hộ nhưng nhà nước đầu tư vốn trồng và chăm sóc rừng, hộ gia đình bỏ công trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng; việc quy định không được canh tác cây ngắn ngày trên đất lâm nghiệp trong thời gian cây rừng chưa khép tán ở một số địa phương trong tỉnh

có yếu tố tích cực trong việc bảo vệ và phát triển rừng như: giảm bớt cạnh tranh về dinh dưỡng, tránh sự lây lan mầm bệnh từ cây nông nghiệp, nhưng đồng thời cũng ảnh hưởng đến việc sản xuất lương thực của hộ gia đình, có hộ gia đình thiếu từ 3 -

5 tháng lương thực, trong khi đó quyết định 178, người dân sử dụng đất lâm nghiệp

có quyền sử dụng tối đa 20% diện tích đất chưa có rừng để canh tác cây nông nghiệp

- Năm 2010, Huỳnh Văn Chương, Trường Đại học Nông Lâm Huế tiến hành nghiên cứu đề tài: ”Thực trạng và các quyền trên đất lâm nghiệp được giao cho hộ gia đình quản lý và sử dụng tại xã Phú Vinh, huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế” Song kết quả nghiên cứu cho thấy việc chuyển giao còn kéo dài và gặp nhiều lúng túng giữa các bên liên quan Mặc dù các chính sách vĩ mô của Nhà nước về việc giao đất lâm nghiệp là khá rõ ràng nhưng việc thực hiện ở cấp địa phương vẫn chưa

cụ thể Cách hiểu và thực hiện các bước trong quá trình giao đất vẫn còn có sự chồng chéo giữa các đối tượng, nhất là giữa BQLR và chính quyền xã, huyện

- Năm 2008, theo nghiên cứu của Hà Văn Tiệp, Trung tâm Khoa học Sản xuất Lâm nghiệp Tây Bắc - Sơn La, Bùi Phước Chương, Trung tâm Tư vấn và Nghiên cứu Quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên - Huế tiến hành nghiên cứu đề tài: "Đánh giá thực trạng triển khai các chính sách quản lý rừng cộng đồng tại tỉnh Lào Cai” Kết quả nghiên cứu cho thấy: tỉnh chưa giao đất lâm nghiệp, giao rừng cho cộng đồng dân cư theo Luật bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004; các hình thức quản lý rừng cộng đồng chủ yếu theo truyền thống, cộng đồng nhận khoán bảo vệ rừng và quản lý bảo vệ rừng theo nhóm hộ; nguồn ngân sách hỗ trợ cho quản lý rừng cộng đồng trên địa bàn tỉnh chưa được phân bổ từ nguồn ngân sách địa phương; chia sẻ lợi ích chưa công bằng; qũy bảo vệ và phát triển rừng của cộng đồng chưa thành lập

Trang 18

- Năm 2010, Nguyễn Ngọc Châu cùng Hồ Trọng Phúc, Trường Đại học Huế nghiên cứu đề tài: ”Đánh giá công tác giao đất, giao rừng trên địa bàn huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế” Kết quả nghiên cứu cho thấy: công tác giao đất giao rừng trên địa bàn huyện đã được chính quyền và người dân quan tâm; phần lớn diện tích đã giao cho hộ, nhóm hộ và cộng đồng quản lý bước đầu đem lại kết quả nhất định Tuy nhiên, việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất còn chậm, tập quán canh tác còn lạc hậu, đời sống kinh tế còn nhiều khó khăn, người dân chủ yếu đi vào rừng để kiếm sống nên việc quản lý, bảo vệ rừng còn gặp nhiều khó khăn, mức

độ nhận thức của người dân trong việc bảo vệ tài nguyên rừng chưa cao, sau khi được giao đất giao rừng nhưng do điều kiện kinh tế gia đình khó khăn nên mức đầu

tư để phát triển rừng còn thấp

- Năm 2005, nghiên cứu xây dựng hương ước bảo vệ và phát triển rừng ở xã Hoá Hợp huyện Minh Hoá tỉnh Quảng Bình Kết quả nghiên cứu xây dựng hương ước: quy định chặt chẽ các hình thức đốt nương làm rẫy, quy hoạch nơi làm nương rẫy, nơi chăn thả gia súc và quy định về chăn thả gia súc, săn bắn động vật và công tác PCCR có sự phối hợp giữa người dân và các ban ngành chức trách Hương ước thể hiện sự tham gia quản lý rừng có sự tham gia của cộng đồng Tuy nhiên, hương ước chỉ áp dụng trong không gian hẹp chỉ một thôn Đa Năng

Nhận xét: qua những năm qua, nhiều chính sách quản lý rừng dựa vào người dân, đặc biệt là quyết định giao đất giao rừng cho người dân, đã mang lại những bước tiến trong công tác quản lý bảo vệ rừng trên cả nước Với bước đà đó, mỗi tỉnh, mỗi địa phương đã đưa ra nhiều phương án xây dựng và bảo vệ tài nguyên rừng, mỗi phương án đều mang lại những mặt tích cực, bên cạnh đó còn có những mặt hạn chế chưa giải quyết được, đặc biệt là vấn đề dân sinh cho người dân khi quản lý rừng Không ổn định được dân sinh thì vấn đề bảo vệ rừng rất khó thực hiện được Qua đây chúng tôi lấy những mặt tích cực và tìm hiểu về những mặt hạn chế

để chúng tôi tiến hành nghiên cứu xây dựng hương ước phòng chống cháy rừng dựa vào người dân

Trang 19

2.1.3 Những chính sách, chủ trương liên quan đến vấn đề nghiên cứu

- Quyết định 163/TTg ngày 16/11/1999 về giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân thay thế Nghị định 02/CP ngày 15/01/1994

- Quyết định 187/2001/QĐTTg ngày 12/11/2001 về quyền hưởng lợi, nghĩa

vu của các hộ gia đình, cá nhân được thuê nhận khoán rừng và cấp giấy chứng

nhận quyền sử dụng đất

- Quyết định số 178/2001/QĐ-TTg ngày 12/1/2001 của Thủ tướng Chính phủ

về quyền hưởng lợi, nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân được giao, được thuê, nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp

- Nghị định số 09/2006 ngày 26/01/2006 của Chính phủ về Quy định về phòng cháy, chữa cháy rừng

- Quyết định 289/2008/TTg của Chính phủ về hỗ trợ dầu cho các hộ dân tộc thiểu số, gia đình chính sách, hộ nghèo, hộ cận nghèo

- Nghị định 99/2009/NĐ-CP ban hành 02/11/2009 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý Rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản

- Chỉ thị 24/1998/CT-TTg của Chính phủ Về việc xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước của làng, bản, thôn, ấp, cụm dân cư

- Quyết định 06/2011 ngày 21/1/2011 của tỉnh Quảng Nam về việc ban hành quy định về phòng cháy và chữa cháy rừng

Nhận xét: được sự quan tâm của các cấp uỷ đảng, đã đưa ra những chính sách đúng đắng trong công tác QLBVR và những chính sách hỗ trợ người dân vùng sâu vùng xa, nhằm tạo sự ổn định về dân sinh, thúc dẩy các phương án QLBVR & PCCR thực hiện tốt hơn

2.2 Tìm hiểu về một số khái niệm

2.2.1 Khái niệm hương ước

Theo Thông tư liên tịch số Thông tư liên tịch số 03/2000/TTLT ngày 31 tháng

3 năm 2000 giữa Bộ Tư pháp, Bộ Văn hóa Thông tin và Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam như sau:

Trang 20

“Hương ước là văn bản quy phạm xã hội trong đó quy định các quy tắc xử sự chung do cộng đồng dân cư cùng thỏa thuận đặt ra để điều chỉnh các quan hệ xã hội mang tính tự quản của nhân dân nhằm giữ gìn và phát huy những phong tục, tập quán tốt đẹp và truyền thống văn hóa trên địa bàn làng, bản, thôn, ấp, cụm dân cư, góp phần hỗ trợ tích cực cho việc quản lý nhà nước bằng pháp luật”

2.2.2 Các đặc điểm đặc trưng của hương ước

Từ khái niệm hương ước chúng tôi đưa ra một số đặ trưng cơ bản sau:

- Là loại hình giao ước của người dân, được thể hiện bằng một loại văn bản với nhiều tên gọi khác nhau như: hương ước làng, quy ước làng,… Ngoài ra còn có nhiều giao ước trong dân gian thể hiện không bằng những loại văn bản như các câu tục ngữ, lời nói có vần, phương ngôn, ngạn ngữ truyền miệng

- Do cộng đồng dân cư cùng thỏa thuận đặt ra trên cơ sở sự nhất trí của tập thể cộng đồng dân cư Đây cũng là một trong những nguyên tắc xây dựng hương ước, bất cứ một cá nhân hay một cơ quan, tổ chức nào xây dựng văn bản và tự gọi đó là hương ước đều là không đúng, không phù hợp với tính chất, đặc trưng và nguyên tắc xây dựng hương ước

- Hương ước cũng là một loại văn bản quy phạm, có nghĩa là nó cũng chứa đựng những nguyên tắc bắt buộc hoặc cho phép cá nhân, tổ chức được làm hoặc không được làm một việc gì đó trong cuộc sống hàng ngày tại địa phương, nhưng đấy là các quy phạm xã hội do cộng đồng dân cư thỏa thuận đặt ra và cùng nhau thực hiện Nghĩa là cộng đồng dân cư tự xây dựng các nguyên tắc ứng xử trên cơ sở pháp luật và truyền thống, tập quán địa phương và tự nguyện thực hiện các nguyên tắc đó Đặc điểm này của quy phạm trong hương ước, quy ước khác hẳn với các quy phạm pháp luật trong các văn bản do Nhà nước ban hành

- Các quy định trong hương ước không được trái với quy định của pháp luật, nếu trái thì phải loại bỏ những quy định đó

- Trên thực tế, hương ước được xây dựng chủ yếu để điều chỉnh các quan hệ tự quản tại cộng đồng dân cư, là những quan hệ xã hội trong lĩnh vực xã hội - dân sự

mà pháp luật không điều chỉnh hoặc chỉ điều chỉnh ở mức độ quy định các nguyên

Trang 21

tắc chung như: việc tổ chức ma chay, cưới xin, bảo vệ trật tự trị an, phát triển sản xuất, khuyến khích học hành, giữ gìn và phát huy những giá trị đạo đức truyền thống, giải quyết các tranh chấp hoặc những vi phạm nhỏ trong nhân dân, các phương thức cụ thể tại địa phương để xoá đói, giảm nghèo,…

2.2.3 Vai trò hương ước quy ước đối với đời sống và sinh hoạt của người dân

Cùng với pháp luật, hương ước, quy ước giúp duy trì an ninh trật tự, vệ sinh môi trường, phòng chống các tệ nạn xã hội, phát triển sản xuất, khuyến khích học hành, giải quyết các tranh chấp, vi phạm nhỏ trong nhân dân, xoá đói, giảm nghèo, góp phần duy trì và phát huy thuần phong mỹ tục, đề cao các chuẩn mực đạo lý và đạo đức truyền thống dân tộc Gần đây, nhiều nội dung của hương ước, quy ước còn góp phần thực hiện chính sách dân số, bài trừ các hủ tục và tệ nạn xã hội

2.2.4 Tổng quan về PRA

PRA là quá trình liên tục, là phương pháp khuyến khích, lôi cuốn người dân nông thôn cùng tham gia chia sẻ, thảo luận và phân tích kiến thức của họ về đời sống và điều kiện thực tế của họ để họ lập kế hoạch hành động và thực hiện

PRA là một cách làm việc mới, sẽ khắc phục được cách làm việc cũ đồng thời cách làm này không những được dùng trong quá trình thu thập, xử lý thông tin mà được thực hiện xuyên suốt dự án hay chương trình

Sử dụng các công cụ PRA một cách mềm dẻo, linh hoạt và sáng tạo, nghĩa là không lựa chọn, sử dụng một cách máy móc tùy theo bối cảnh, điều kiện, đặc tính con người của địa phương

Dưới đây là những công cụ trong phương pháp PRA được áp dụng nghiên cứu:

Trang 22

- Sơ đồ venn:

Sơ đồ venn hay phân tích yếu tố tổ chức giúp nhóm PRA nhận biết được các hoạt động của các nhóm người và tổ chức khác nhau trong cộng đồng / địa phương một cách nhanh chóng; đánh giá mối quan hệ giữa những tổ chức này thông qua biểu đồ

- Phân tích SWOT:

SWOT là một công cụ để giúp cộng đồng xác định những thuận lợi và bất lợi bằng cách phân tích những ảnh hưởng “bên trong” ( mặt mạnh, mặt yếu ) và những ảnh hưởng “bên ngoài” (cơ hội, rủi ro) mà nó gây tác động đến tiến trình phát triển

- Bảng hỏi:

Bảng hỏi được dùng để lấy thông tin trực tiếp từ một cá nhân hoặc một nhóm nhỏ, sử dụng những bộ câu hỏi có phạm vi rộng để hướng dẫn các cuộc trao đổi, cho phép đưa ra những câu hỏi mới như là kết quả của cuộc thảo luận Các cuộc phỏng vấn bán cấu trúc có vai trò quan trọng, đặc biệt trong việc tăng cường sự hiểu biết sâu về những vấn đề định tính Vì những cuộc phỏng vấn có tính mở (mặc dù được dẫn hướng thông qua một danh sách những điểm cần kiểm tra), nên các cuộc phỏng vấn này rất hữu ích đối với việc đánh giá

2.3 Tình hình cháy rừng ở Việt Nam và trên thế giới

2.3.1 Tình hình cháy rừng trên thế giới

Trong những năm lại đây, tình trạng biến đổi khí hậu toàn cầu, trái đất nóng lên, theo nghiên cứu của tổ chức khí tượng thế giới (WMO), 2010 Từ năm 1850 đến nay nhiệt độ trung bình trên thế giới tăng 0,55oC, đặc biệt năm 2010 là năm nóng nhất kể từ 1850 Nhiệt độ tăng mạnh nhất ở Bắc Cực, châu Phi và Nam Á Trong khi đó, nền nhiệt độ tại Bắc Âu, châu Mỹ và châu Á đang giảm trong vài năm gần đây, qua đó cho thấy khí hậu cả trái đất đang biến đổi khó lường, và những thiên tai mang theo do biến đổi khí hậu mang lại cũng được minh chứng rõ như những con bão xảy ra ngày càng nhiều và cường độ mạnh hơn

Những nguyên nhân gây ra những biến đổi khí hậu như vậy phần lớn do mất rừng gây ra, theo thống kê thì mỗi năm cả thế giới mất khoảng 20.000 ha rừng nguyên nhân mất rừng lớn nhất là do cháy rừng gây ra, hàng năm khí Co2 thải ra

Trang 23

bầu khí quyển hàng năm là 650 triệu tấn, qua đó cho thấy cần quan tâm lớn về công tác QLBVR & PCCR để bảo vệ tốt tài nguyên rừng và bão vệ bầu khí quyển của trái đất ta được trong sạch (dẫn theo Bế Minh Châu, Phùng Văn Khoa , 2002),những đám cháy rừng điển hình đã xảy ra ở một số nước như sau:

Mỹ: - ở Miramichi và Maine (10/1825) cháy rừng đã thiêu hủy 30,000ha rừng,

số người thiệt mạng không xác định được

- Tại Great Idaho (8/1991) cháy rừng thiêu hủy 30.000ha rừng và gây 85 người thiệt mạng

- Vụ cháy năm năm 1947 thiêu hủy 1.200.000ha và có ít nhất 60 người đã thiệt mạng

- Trong 1993 – 1994 đã xảy ra hang chục nghìn vụ cháy rừng và đã thiru hủy khoảng 1.590.000ha rừng

- Riêng năm 2000: cháy gây thiệt hại 2,8 triệu ha rừng

Pháp: năm 1949 có tới 350 vụ cháy rừng với tổng số 155.000ha rừng bị thiêu hủy

Hy Lạp: những đám cháy liên tục từ nước này từ năm 1998 – 7/2000 đã gây nên sự quan tâm lớn của thế giới Riêng tháng 7 và tháng 8/1998 có tới 9000 vụ cháy lớn nhỏ, thiêu hủy khoảng 150.000 ha rừng, và hang ngàn ngôi nhà, bệnh viện trường học

Australia: năm 2976 cháy rừng đã thiêu hủy 1,7 triệu ha, ngày 16/2/1983, một

vụ cháy thiêu hủy hơn 335.000ha rừng và đồng cỏ bang Victoria, làm chết 73 người, hơn 1.000 người bị thương và gây thiệt hại khoảng 450 triệu USD

Khu vực Đông Nam Á: theo thống kê của FAO (Food and Agriculture Organization), từ năm 1982 – 1998 có trên 15 triệu ha rừng và đất rừng trong khu vực bị cháy, trong đó Indonesia là nước thường xuyên bị cháy rừng với thiệt hại lớn nhất

2.3.2 Tình hình cháy rừng ở Việt Nam

Số liệu thống kê cho thấy diện tích rừng Việt Nam giảm lien tục trong thời gian từ năm 1943 – 1990 cả nước có 14,3 triệu ha rừng, tương ứng với độ che phủ 43%, nhưng đến năm 1990, diện tích rừng chỉ còn 9,2 triệu ha, với độ che phủ

Trang 24

27,8% Như vậy trong thời gian này, mỗi năm diên tích rừng Việt Nam giảm bình quân 108.000ha Ở một số tỉnh như Sơn La, Lai Châu có thời kỳ độ che phủ rừng chỉ còn 8 – 10% (dẫn theo Bế Minh Châu, 2012)

Với nhiều nổ lực phục hồi và phát triển rừng, từ những năm cuối của thế kỹ

XX đến nay Việt Nam đã đạt được nhiều thành công lớn trong công tác nâng cao độ che phủ của rừng tính đến tháng 12 năm 2008, nước ta có 13.119 triệu ha rừng tương ứng với độ che phủ 38,8% lảnh thổ, trong đó có 10,348 rừng tự nhiên và 2,77 triệu ha rừng trồng Mặc dù vậy, chất lượng rừng cần phải quan tâm Diện tích rừng

đã cháy hơn 6 triệu ha, bao gồm rừng thông, tràm, bạch đàn, phi lao, sa mu, rừng khộp, rừng tre nứa, rừng tái sinh nghèo và trảng cỏ, cây bụi… (dẫn theo Bế Minh Châu, 2012)

Từ năm 2000 trở về trước ở nước ta mỗi năm mất khoảng 100.000 ha rừng do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó do khoảng 10% do cháy rừng Thống kê chưa đầy đủ, từ năm 1963 – 1994 có khoảng 1 triệu ha rừng bị cháy, chủ yếu ở tỉnh Quảng Ninh, Lâm Đồng, Kiên Giang, Thừa Thiên Huế, các tỉnh Tây Bắc, Tây Nguyên Trong đó từ 1960 – 1999 chúng ta đã trồng mới được khoảng 1 triệu ha rừng (dẫn theo Bế Minh Châu, 2012)

Số liệu tình hình cháy rừng ở địa phương trên cả nước từ 2000 – 2010 theo bảng 2.4

Bảng 2.1: Thống kê số liệu cháy rừng ở Việt Nam (2000 – 2010)

Năm Tổng Số vụ

cháy rừng

Tổng diện tích rừng cháy

Cháy rừng

tự nhiên

Cháy rừng trồng

Trang 25

Số liệu cho thấy từ năm 2000 trở lại đây, cả vụ cháy và diện tích rừng bị cháy

ở Việt Nam có giảm hơn so với các kỳ trước đó nhưng nhìn chung, ở các địa phương cháy rừng vẫn diễn ra thường xuyên Trong 6 năm gần đây trung bình mỗi năm cả nước xảy ra xấp xỉ 670 vụ cháy, thiệt hại khoảng 3.817ha rừng trong đó rừng trồng khoảng 2.782ha( 72,9%) và rừng tự nhiên khoảng 1.035 ha(27,1%) (dẫn theo Bế Minh Châu, 2012)

Hiện nay với sự biến đổi khí hậu toàn cầu, nạn cháy rừng trở thành vấn đề nghiêm trọng đối với mọi quốc gia trên thế giới, đặc biệt những nước có diện tích rừng lớn vì vậy, hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại do cháy rừng, bảo vệ môi trường sống của nhân loại là nhiệm vụ cấp bách không chỉ cho riêng một quốc gia nào mà cho toàn thế giới

2.3.3 Tình hình cháy rừng ở khu vực nghiên cứu

a) Tình hình cháy rừng trên địa bàn tỉnh Quảng Nam

Qua thống kê 10 năm qua từ năm (2003 - 2012), trên địa bàn tỉnh Quảng Nam

đã xảy ra 74 vụ cháy rừng, làm thiệt hại 332,8ha, ước tính thiệt hại trên 3 tỷ đồng

Bảng 2.2: Thống kê cháy rừng và thiệt hại do cháy rừng tỉnh Quảng Nam trong 10

Trang 26

Qua bảng trên ta thấy, số vụ cháy rừng xảy ra mỗi năm càng tăng và số diện tích thiệt hại càng nhiều, cháy rừng chủ yếu xảy ra ở các rừng keo trồng, bạch đàn, thông… Một số địa phương thường xảy ra như: Phú Ninh, Núi Thành, Tiên Phước, Thăng Bình, Hiệp Đức…

Nguyên nhân xảy ra cháy rừng tỉnh theo thống kê, theo dõi trong những năm qua có những nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan

+ Nguyên nhân khách quan: do thời tiết mùa khô trên địa bàn tỉnh Quảng Nam thường khô hạn, nắng nóng kéo dài; mùa khô thường có gió tây nam nên có nhiệt

độ rất cao, làm cho vật liệu khô dễ bén ra lữa gây cháy rừng Ngoài ra còn có những nguyên nhân như sấm sét; đường điện cao thế đi qua các khu rừng dễ xảy ra cháy rừng

+ Nguyên nhân chủ quan: là nguyên nhân chủ yếu, gồm những trường hợp như: do các khu rừng trọng điểm dể xảy ra cháy rừng nhưng chưa có các công trình, điều kiện đảm bảo an toàn cho các công tác phòng cháy rừng; việc sử dụng lữa thiếu ý thức của người dân trong các hoạt động sản xuất và sinh hoạt gây ra cháy rừng như: đốt nương rẫy, đốt than, phát đốt bờ ruộng, khai hoang, đốt ong, đốt đồng

cỏ chăn nuôi gia súc, thắp hương mồ mã, xử lý thực bì để trồng rừng, vệ sinh rừng sau khai thác… đó là những nguyên nhân chủ yếu gây ra những vụ cháy rừng trrên địa bàn tỉnh trong thời gian qua

b) Tình hình cháy rừng trên địa bàn huyện Bắc Trà My

Địa bàn huyện Bắc Trà My là khu vực xung yếu về cháy rừng, những xã trọng điểm cháy rừng như: Trà Dương, Trà Giang, Trà kót, Trà Nú, các khu rừng trồng của Ban quản lý rừng phòng hộ Sông Tranh

Trên địa bàn huyện trong năm qua đã xảy ra 2 vụ cháy rừng tại xã Trà Giang

và Trà Dương làm thiệt hại hơn 12ha rừng trồng, chủ yếu là keo (báo cáo tổng kết công tác QLBVR, 2013)

Nguyên nhân chính xảy ra cháy rừng tại huyện chủ yếu do ý thức của người dân trong công tác dọn thực bì và đốt thực bì không đúng phương pháp Ngoài ra những nguyên nhân lớn có thể gây ra cháy rừng như người dân sử dụng lữa để đốt ong, đốt gỗ lấy than tại rừng… và những hoạt động này thường xảy ra vào tháng 3 -

Trang 27

5 của năm, những tháng này là những tháng có nguy cơ cháy rừng lớn của huyện do thời tiết mưa ít, nắng nhiều

2.4 Địa điểm nghiên cứu

Huyện Bắc Trà My là một huyện thuộc tỉnh Quảng Nam có

 Đông giáp huyện Núi Thành và tỉnh Quảng Ngãi

 Tây giáp huyện Phước Sơn

 Nam giáp huyện Nam Trà My

 Bắc giáp các huyện Tiên Phước, Hiệp Đức

b) Địa hình

Độ cao địa hình khoảng 300 - 600 m

Huyện Bắc Trà My có địa hình chủ yếu đồi núi, các dãy núi nối liền với nhau, địa hình hiểm trở, trên địa bàn huyện có Sông Tranh nối dài từ huyện Năm Trà My qua huyện Bắc Trà My, là nguồn cung cấp nước sản xuất chủ yếu của huyện Ngoài

ra trên địa bàn huyện còn nhiều con suối nhỏ trải đều trên địa bàn huyện

Trên địa bàn xã Trà Giang huyện Bắc Trà My là nơi đặc thù của vùng đồi núi với nhiều vùng đồi núi chia cắt các thôn, làng với nhau, giao thông đi lại khó khăn

Vì vậy, đó là một trong những nguyên nhân khó khăn trông công tác QLBVR của huyện

c) Khí hậu

Khí hậu nước ta là khí hậu nhiệt đới gió mùa Quảng Nam nói chung và huyện Bắc Trà My nói riêng nằm phía Đông dãy Trường Sơn và phía Nam đèo Hải Vân nên thuộc vùng khí hậu chuyển tiếp giữa khí hậu miền Bắc và khí hậu miền Nam, nhưng lại mang tính chất á xích đạo nhiều hơn

Trang 28

Mùa mưa thường bắt đầu từ tháng 9 đến tháng 1 năm sau, mùa khô từ tháng 2 đến tháng 8 Miền trung nói chung và huyện Bắc Trà My tỉnh Quảng Nam nói riêng

là nơi chiụ nhiều ảnh hưởng của thiên tai, như bão lụt, hạn hán, mùa đông thường mưa nhiều gây ra lũ quét tại huyện, ở phía bắc có dãy Đèo Hải Vân nên khí hậu lạnh (còn gọi là gió mùa Đông Bắc) được cản lại phần lớn nên mùa đông ít lạnh Lượng mưa bình quân của năm 2011 của huyện 5,626 mm, huyện Bắc Trà My là huyện có lượng mưa lớn nhất tỉnh Quảng Nam trong những năm gần đây

(Phòng thống kê huyện Bắc Trà My, năm 2011)

Hình 2.1: Biểu đồ thể hiện lượng mưa của huyện Bắc Trà My năm 2013

- Nhiệt độ bình quân năm của huyện 24oc

- Độ ẩm trung bình của năm: 92%

- Tổng giờ nắng trong năm 1.616 giờ, tháng có giờ nắng nhiều nhất là từ tháng 5 đến tháng 8 với tổng giờ nắng 833 giờ chiếm 51,55% tổng số giờ nắng trong năm (nguồn: niên giám 2011; huyện Bắc Trà My)

Chế độ gió ở huyện Bắc Trà My phân thành 2 mùa rõ rệt:

- Mùa gió Tây Nam: hoạt động từ tháng 3 đến tháng 5, có năm mùa gió Tây Nam bắt đầu sớm hơn và kết thúc muộn hơn bình thường Hướng gió thịnh hành là Tây, Tây Nam

Trang 29

- Mùa gió Đông Bắc: hoạt động từ tháng 10 đến tháng 2 năm sau, có khi kéo dài đến tháng 3 nhưng ổn định nhất là từ tháng 12 đến tháng 2 năm sau Hướng gió thịnh hành là Bắc và Tây Bắc

Ngoài ra, xen giữa hai hướng gió thịnh hành trên là gió Đông, Đông Nam Còn tùy theo địa hình mà gió phân bố thêm một số hướng khác nhưng tần suất không lớn

Tốc độ gió trung bình năm ở khu vực dự án trung bình từ 1,6 – 2,0 m/s, gió lớn thường xuất hiện trong bão, áp thấp nhiệt đới hoặc khi có gió lốc

d) Thủy văn

Huyện Bắc Trà My có hệ thống thủy văn phong phú, nhiều con sông suối lớn nhỏ chảy qua, đáng kể nhất là dòng Sông Tranh nơi cung cấp nước sản xuất nông nghiệp cho toàn huyện tưới tiêu cho hơn 2.500ha diện tích đất nông nghiệp và là nơi thuận lợi để khai thác thủy điện Thủy điện Sông Tranh nằm trên dòng sông tranh được xây dựng năm 2010, cung cấp 679,6 KWh mỗi năm và được hòa cùng lưới điện quốc gia Nhưng ngược lại với những nguồn thu những lợi ích của các thủy điện mang lại, làm thủy điện là một trong những nguyên nhân gây mất rừng lớn Theo thống kê của huyện sau khi xây dựng xong thủy điện Sông Tranh 2 huyện đã mất ít nhất 315ha rừng, và theo ước tính nếu đập tại thủy điện bị lở thì hơn 62.000 người dân phải di tản do nước ngập

Hệ thống thủy văn phong phú là một trong những điều kiện thuận lợi lớn trong công tác PCCR tại các khu rừng tại huyện

ít chất hữu cơ, nghèo dinh dưỡng, bị rửa trôi và xói mòn mạnh Loại đất này chỉ thích hợp cho các loại cây trồng có rễ mọc sâu, chịu được khí hậu khắc nghiệt nên chủ yếu được phân bổ cho ngành lâm nghiệp

Trang 30

Thuộc nhóm này gồm có hai loại chính là: đất đỏ vàng trên đá mamaz acid và đất đỏ vàng trên đá biến chất

Nhóm đất dốc tụ: đất dốc tụ là sản phẩm tích tụ của quá trình bào mòn được di chuyển không xa, phẩm chất và màu sắc phụ thuộc vào đá mẹ của vùng lân cận Nhóm đất này có tầng dày từ 50 – 100 cm, hàm lượng dinh dưỡng lớn và thường tạo thành tầng lắng đọng mùn hữu cơ trên bề mặt sau mỗi mùa mưa, cho năng suất cây trồng cao Loại này phân bố ở thung lũng đồi núi nhiều khi là bãi thoải lớn ở chân đồi hoặc địa hình trũng vùng đồi Nhóm đất này đã được khai thác triệt để chỉ còn khoảng 0,2% phân bố rải rác ở các địa hình phức tạp, đi lại khó khăn và chưa có thủy lợi

2.4.2 Đặc điểm về dân sinh - kinh tế - xã hội

a) Dân số và phân bố dân cư

Huyện Bắc Trà My thuộc tỉnh Quảng Nam có 12 xã và 1 thị trấn, dân số tính đến 31/12/2011 là 40.097 người, trong đó người trong độ tuổi lao động là 21.533 người, mật độ dân số 48,28 người/km2, và có 80 thôn - tổ dân phố ( Theo thống kê niên giám huyện Bắc Trà My năm2012) Sau đây là bảng thống kê về dân số trung bình và mật độ dân số của từng xã trên huyện Bắc Trà My

Dân tộc tại huyện chủ yếu Kinh, Cadong, Cor, Mơ nông

b) Tình hình sản xuất

Diện tích tự nhiên của huyện Bắc Trà My là 82.543,6ha, trong đó diện tích các loại đất được thể hiện trong bảng sau

Bảng 2.3: Hiện trạng đất huyện Bắc Trà My năm 2011

Trang 31

Đời sống của người dân chủ yếu dựa vào sản xuất lâm nghiệp, chủ yếu là cây keo, người dân cần cù trong lao động, nhưng mù về kỹ thuật trồng và chăm sóc Hệ thống giao thông tại huyện đang được đầu tư nhưng nhiều xã trên địa bàn huyện vãn còn khó khăn, cho nên nguồn tiêu thụ keo vẫn còn hạn chế, nếu muốn khai thác keo được phải phá rừng làm đường, cho nên đó là một trong những nguyên nhân gây mất rừng Tại huyện Bắc Trà My sự ưu đãi của thiên nhiên còn tạo ra cho Bắc Trà

My nhiều thắng cảnh hấp dẫn như núi Hòn Bà, khu di tích Nước Oa với vườn cam Chu Huy Mân,

c) Tình hình giao thông

Trên địa bàn huyện mạng lưới giao thông đang được đầu tư và xây dựng, nhưng đến thời điểm hiện tại vấn đề đường xá, cầu cống vẫn còn thô sơ, gây khó khăn trong lưu thông Đặc biệt là những xã xa trung tâm huyện như xã Trà Giáp, xã Trà Ka chưa có đường giao thông nào được xây dựng, chỉ có những đường mòn do người dân đi lại nhiều năm hình thành Vì vậy, rất khó khăn trong vấn đề QLBVR, nhất là việc quan triệt vấn đề đốt nương làm rẫy cho người dân ở nơi đây

Tuyến đường chính của huyện là con đường dẫn từ trung tâm huyện xuống thành phố Tam Kỳ tới quốc lộ 1A, tổng chiều dài khoảng 60km, con đường mở ra

sự hội nhập với các huyện khác, và là tuyến đường chính vận chuyển lâm sản của huyện qua các huyện các tỉnh khác trong vùng

d) Văn hóa- Giáo dục

3 Văn hóa: trên địa bàn huyện đã có 13/13 xã, thị trấn có điện sinh hoạt, khoảng 75% số hộ gia đình đã dùng lưới điện quốc gia, hệ thống thông tin liên lạc ngày càng được mở rộng Tất cả các xã, thị trấn đều có đài truyền thanh, sóng truyền hình của trung ương và địa phương đến tất cả các thôn, làng

4 Giáo dục: sự nghiệp giáo dục luôn được các cấp ủy, chính quyền địa phương quan tâm đúng mức và có nhiều chuyển biến tích cực, cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học được đầu tư, đội ngũ giáo viên ngày được chuyển hóa về chuyên môn Đến năm 2013 thì cả huyện có 13 trường tiểu học, 14 trường trung học cơ sở phân bố trên 13 xã, thị trấn, có 2 trường trung học phổ thông nằm trên trung tâm huyện Số học sinh đến lớp được duy trì ổn định qua các năm

Trang 32

Chương 3

NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Nội dung nghiên cứu

- Tìm hiểu thực trạng cháy rừng và công tác quản lý cháy rừng trên địa bàn nghiên cứu

- Tìm hiểu đặc trưng cuả các loại hình sản xuất nông lâm nghiệp có nguy cơ gây cháy rừng tại địa bàn nghiên cứu

- Đánh giá thực trạng công tác quản lý rừng trong hoạt động sản xuất nương rẫy và trồng rừng trên địa bàn nghiên cứu

- Phân tích các bên liên quan trong công tác PCCR trên địa bàn xã Trà Giang

- Thiết kế mô hình tự quản và xây dựng hương ước PCCR dựa vào người dân

3.2 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và giới hạn của đề tài

3.2.1 Đối tượng nghiên cứu

- Các tổ, đội QLBV &PCCR ở các thôn (đã có quyết định thành lập của UBND xã) Người dân tại xã Trà Giang, huyện Bắc Trà My

- Các bên liên quan trong công tác QLBVR

Trang 33

 Các thông tin về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội được thu thập bằng cách gặp các cán bộ UBND xã Trà Giang, các cán bộ kiểm lâm địa bàn xã Trà Giang và các cán bộ thuộc phòng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Bắc Trà My

 Kế thừa các số liệu từ báo cáo tổng kết công tác QLBVR, kế thừa số liệu trên những web thuộc ngành lâm nghiệp Việt Nam

- Thu thập số liệu sơ cấp

Sử dụng phương pháp điều tra nhanh nông thôn có sự tham gia của người dân để

bổ sung những thông tin liên quan bên cạnh những số liệu thứ cấp, cụ thể như sau:

 Tiến hành phỏng vấn những người đưa tin then chốt, có uy tín, những người trong nghề như: chủ tịch xã, các trưởng thôn và chủ hộ hoặc các thành viên của các gia đình

 Bảng câu hỏi điều tra hộ gia đình và cán bộ địa phương chuẩn bị sẵn (phụ lục

4 và phụ lục 5), để phỏng vấn các hộ gia đình và các cán bộ địa phương thuộc thôn

2 và thôn 3 thuộc xã Trà Giang, huyện Bắc Trà My, để thu nhập những thông tin cần thiết về tình hình sản xuất nông lâm - nghiệp có nguy cơ gây cháy rừng, tình hình quản lý sản xuất nông – lâm nghiệp, tìm hiểu về ý thức của người dân về bảo

vệ tài nguyên rừng, kết quả mang lại qua công tác tuyên truyền BVR tại các thôn

Từ những số liệu đó giúp chúng tôi tiến hành xây dựng hương ước phòng chống cháy rừng dựa vào người dân

Chúng tôi sử dụng các tiêu chí ở bảng 3.1 để phân chia kinh tế hộ gia đình

Bảng 3.1: Các tiêu chí trong phân chia kinh tế hộ

Tivi, 1 - 2 xe máy, bép gas, máy bơm nước, tủ lạnh

Tivi, tủ lạnh, máy bơm nước, >2 xe máy,

tủ lạnh

Diện tích đất sản

Trang 34

 Sử dụng công cụ PRA (phương pháp khảo sát nhanh có sự tham gia) để đánh giá nông thôn có sự tham gia của người dân

Trang 35

Chương 4

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1 Tìm hiểu thực trạng cháy rừng và công tác quản lý cháy rừng tại địa bàn nghiên cứu

4.1.1 Thực trạng cháy rừng tại địa bàn nghiên cứu

Theo thống kê Hạt kiểm lâm (2012), trên địa bàn huyện trong 10 năm qua

2002 – 2012 trên địa bàn huyện xảy ra 3 vụ cháy rừng lớn Một vụ cháy rừng tại địa bàn xã Trà Dương gây thiệt hại khoảng 8ha rừng trồng theo dự án 661 xảy ra năm

2011, 2 vụ cháy lớn khác diễn ra tại xã Trà Giang năm 2012 gây thiệt 5 ha rừng keo Ngoài ra những vụ cháy nhỏ khác không thống kê số liệu

Qua công tác điều tra do hạt kiểm lâm huyện Bắc Trà My lãnh đạo, điều tra được nguyên nhân do ý thức người dân trong quá trình phát nương làm rẫy, phát dọn nương sau thu hoạch nông sản, không kiểm soát được lữa khi đốt dọn, cho nên gây ra cháy lan

Cháy rừng là đề tài luôn được quan tâm trên tất cả các địa phương sống ven rừng, do sự ảnh hưởng của cháy rừng đến người dân về nhiều mặt như sinh thái, dân sinh, Qua nghiên cứu phỏng vấn các hộ trên địa bàn xã Trà Giang tìm hiểu vệ mức độ ảnh hưởng của cháy rừng đến người dân, ta được bảng 4.1 và hình 4.1 sau:

Bảng 4.1: Ảnh hưởng cháy rừng đến người dân

Trang 36

Hình 4.1: tỷ lệ (%) ảnh hưởng cháy rừng đến người dân sống ven rừng

Qua bảng 4.1 và hình 4.1 cho thấy cháy rừng ảnh hưởng nhiều đến người dân sống ven rừng Qua khảo sát thực tế người dân, những mặt ảnh hưởng như mất đi các tài nguyên có sẵng như mật ong, LSNG một bộ phận lớn người dân sẽ mất đi nguồn thu nhập

4.1.2 Những nguyên nhân dẫn đến nguy cơ cháy rừng

4.1.2.1 Ảnh hưởng Kinh tế hộ gia đình đến rừng và nguy cơ cháy rừng

Xã Trà Giang thuộc huyện Bắc Trà My, có 899 hộ, số khẩu là 2.980 khẩu trong đó có 1.658 khẩu trong độ tuổi lao động chiếm 55,6% số khẩu của xã Các hộ trên địa bàn xã có mức sống khác nhau Cho nên, việc phân chia tình hình kinh tế

hộ dựa vào các tiêu chí; thu nhập bình quân hàng tháng, phương tiện sản xuất, tỷ lệ lao động

Sau khi điều tra phỏng vấn xác định được kết quả bảng 4.2 sau:

Bảng 4.2: Kết quả phân loại kinh tế hộ

Nhóm hộ

Dân tộc

Tổng (%)

Số hộ

Tỷ lệ (%) Số hộ

Tỷ lệ (%) Số hộ

Tỷ lệ (%)

Trang 37

Qua bảng 4.2 ta thấy được hộ nghèo trên địa bàn xã Trà Giang còn rất nhiều chiếm 65% số hộ tham gia phỏng vấn chia đều cho các thành phần dân tộc, có 30% số hộ tham gia phỏng vấn có thu nhập trung bình, chỉ có 5% số hộ thu nhập ổn định Sinh kế hộ gia đình của các thành phần dân tộc trên địa bàn tương đối như nhau Có thể thấy tình trạng khó khăn chung tất cả đồng bào tại địa bàn trước tiên vấn đề dân sinh kinh tế chưa ổn định gây nên những tình trạng lấn chiếm, phá rừng

Bảng 4.3: Ảnh hưởng kinh tế hộ đến sự phụ thuộc của người dân vào tài

Từ đó rút ra nhận xét, trên địa bàn xã Trà Giang, tình hình sinh kế hộ còn rất khó khăn và ảnh hưởng lớn đến sự tác động vào tài nguyên rừng Đặc biệt các hộ nghèo, do thiếu ăn cho nên họ phải sử dụng các tài nguyên có sẵn từ rừng tự nhiên

để giải quyết nhu cầu hằng ngày của họ, thông qua các hoạt động như khai thác, thu hái các sản phẩm LSNG từ rừng, lấn rừng làm nương, gây sức ép lên công tác QLBVR tại địa bàn

4.1.2.2 Sự hiểu biết của người dân đến công tác phòng chống cháy rừng

Qua nghiên cứu phỏng vấn chúng tôi tìm hiểu về thực trạng hiểu biết về cháy rừng người dân so với vị trí nơi ở, có kết luận sau: những hộ thường sống xa rừng

Trang 38

kém hiểu biết về kinh nghiệm PCCR hơn so với những hộ sống gần rừng Ta thấy

hộ có hiểu biết, sống gần rừng chiếm đến 75% tổng số hộ nghiên cứu gấp 5 lần so với những hộ sống xa rừng, có hiểu biết về cháy rừng (chiếm 15% tổng số hộ tham gia phỏng vấn) Tuy nhiên sự hiểu biết của người dân không đi đôi với việc giảm sự tác động của họ vào tài nguyên rừng, người dân có xu hướng khai thác tài nguyên

do sinh kế của hộ gia đình là nhân tố chủ yếu gây ra nguy cơ cháy rừng và dẫn đến những hệ quả khác Cho nên, muốn giải quyết vấn đề nguy cơ cháy rừng trên địa bàn xã Trà Giang nói riêng và huyện Bắc Trà My nói chúng, cần quan tâm đến vấn

đề dân sinh kinh tế, ổn định cuộc sống người dân, làm cho họ giảm đi sự phụ thuộc vào tài nguyên rừng

4.1.3 Công tác quản lý cháy rừng trên địa bàn huyện Bắc Trà My

Trong những năm qua thực trạng cháy rừng trên địa bàn huyện chỉ nằm ở mức báo động cháy rừng, ít xảy ra cháy rừng lớn trên địa bàn huyện Nhưng không vì vậy mà công tác quản lý rừng trên địa bàn huyện thiếu sự quan tâm của các cấp chính quyền

Trên thực tế qua việc thu thập thông tin từ các cán bộ địa phương chuyên trách

về thực trạng quản lý PCCR trên địa bàn huyện Bắc Trà My thì hầu hết ý kiến cho rằng công tác PCCR trên địa phương được sự quan tâm và đang thực hiện tốt

Trang 39

4.1.3.1 Tổ chức quản lý PCCR trên địa bàn huyện Bắc Trà My

Thực hiện quyết định Số: 57/QĐ-TTg ngày 09 tháng 01 năm 2012 của Thủ

tướng chính phủ “V/v Phê duyệt Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011

– 2020” và UBND huyện đã ra công văn 610/ UBND ngày 26/6/2012, “V/v: tăng cường công tác PCCR và thành lập lực lượng QLBVR & PCCR trên địa bàn huyện Bắc Trà My”, nhằm thực hiện quyết định của thủ tướng chính phủ, hướng dẫn các

cấp thành phương án và lực lượng trong QLBVR & PCCR Dưới sự chỉ đạo hướng dẫn của UBND huyện và với sự tham mưu của hạt kiểm lâm huyện, xã Trà Giang

đã thành lập ban BVR & PCCR trên địa bàn chịu trách nhiệm về kết quả và nhiệm

Ban Chỉ Huy vấn Đề Cấp Bách QLBVR và PCCR

Tổ Đội Quản Lý Bão

Vệ Rừng Các Thôn

Kiểm Lâm Địa Bàn

Ban Chỉ Huy Quân Sự,

Dưới sự chỉ đạo của ban chỉ huy bảo vệ và phát triển rừng do UBND huyện Bắc Trà My đứng đầu, cùng với sự tham mưu của Hạt kiểm lâm huyện Bắc Trà My

về phương pháp và tổ chức lực lượng trong công tác QLBVR & PCCR trên địa bàn huyện Các cơ quan quân sự, công an và ban chỉ huy huyện phối hợp với cán bộ chuyên trách về PCCR khi có cháy lớn xảy ra Ngoài ra có kiểm lâm địa bàn hỗ trợ cùng các ban chỉ huy cấp bách trong QLBVR & PCCR về mặt phương pháp

Trang 40

QLBVR, cùng với sự hỗ trợ về lực lượng từ các bộ phận như công an xã, thôn, quân đội xã, thôn, các hội phụ nữ, nông dân

Các tổ chức này phối hợp với nhau, thường xuyên tuần tra, giám sát các khu rừng xung yếu giáp ranh các huyện, tỉnh khác, nhằm hạn chế nạn phá rừng, buôn bán lâm sản trái phép, thực hiện đúng chỉ thị 287/TTg của chính phủ và chỉ thị 10/CT – UB của UBND huyện Bắc Trà My về việc truy xét các tổ chức, cá nhân phá hoại rừng Tăng cường công tác bảo vệ rừng và ngăn chặn phá hoại rừng Định

kỳ công tác tuyên truyền, vận động nhằm nâng cao ý thức trách nhiệm người dân trong bảo vệ tài nguyên rừnglà trách nhiệm của mọi người

4.1.3.2 Công tác tuyên truyền phòng chống cháy rừng tại xã Trà Giang

Theo ý kiến của cán bộ địa phương, trong năm qua trên địa bàn xã Trà Giang

ít tổ chức các buổi họp dân tuyên truyền về QLBVR & PCCR Nguyên nhân là do

sự hạn chế của lực lượng cán bộ chuyên trách đồng thời do địa bàn quản lý lớn gây nên sự khó khăn trong việc tập hợp và đi lại của người dân Theo thống kê từ UBND huyện Bắc Trà My, 2012 cả huyện tổ chức được 59 cuộc họp dân ở 50 thôn trên toàn huyện, riêng trên địa bàn xã Trà Giang tổ chức được 1 lớp tuyên truyền phổ biến pháp luật cho các cán bộ chủ chốt ở thôn và các hộ sống gần rừng Ngoài

ra, ban quản lý dự án WB3 tổ chức tập huấn được cho 15 cán bộ ở các thôn và hơn

100 lượt người dân trong xã về QLBVR Các hình thức tuyên truyền trực tiếp và gián tiếp cũng đồng thời được thực hiện qua phương tiện như đài phát thanh, đài truyền hình huyện, những biển báo, logo,

Qua tìm hiểu từ việc phỏng vấn người dân cho thấy các hình thức tập huấn và tuyên truyền này mang lại hiệu quả nhất định trong việc nâng cao ý thức người dân trong công tác QLBVR & PCCR

Ngày đăng: 27/02/2019, 09:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w