ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊNTRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM PHẠM THỊ THU MIỀN PHÂN LẬP VÀ SO SÁNH ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC GEN GmDREB2 CỦA MỘT SỐ GIỐNG ĐẬU TƯƠNG CÓ KHẢ NĂNG CHỊU HẠN KHÁC NHAU LUẬN VĂN THẠC SĨ S
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
PHẠM THỊ THU MIỀN
PHÂN LẬP VÀ SO SÁNH ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC
GEN GmDREB2 CỦA MỘT SỐ GIỐNG ĐẬU TƯƠNG
CÓ KHẢ NĂNG CHỊU HẠN KHÁC NHAU
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
THÁI NGUYÊN - 2014
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
PHẠM THỊ THU MIỀN
PHÂN LẬP VÀ SO SÁNH ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC
GEN GmDREB2 CỦA MỘT SỐ GIỐNG ĐẬU TƯƠNG
CÓ KHẢ NĂNG CHỊU HẠN KHÁC NHAU
Chuyên ngành: Di truyền học
Mã số: 60.42.01.21
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS VŨ THỊ THU THỦY
THÁI NGUYÊN - 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình công bố của riêng tôi Các số liệu, kếtquả nghiên cứu trong luận văn là trung thực chưa từng có ai công bố trong bất
kì công trình nào
Thái Nguyên, tháng 4 năm 2014
Tác giả
Phạm Thị Thu Miền
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Vũ Thị Thu Thủy đã trực tiếp
hướng dẫn tận tình và tạo mọi điều kiện giúp đỡ để tôi hoàn thành đề tài nghiên cứu này
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của GS TS Chu Hoàng Mậu,
các cán bộ phòng thí nghiệm Di truyền học, trường Đại học Sư phạm TháiNguyên đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo Trường Đại học Sư phạm - Đạihọc Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa Sinh - KTNN và các thầy cô giáo, cán
bộ khoa đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình hoàn thành luận văn
Cuối cùng, tôi xin được cảm ơn đến gia đình, bạn bè đã động viên, khích
lệ tôi trong thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Thái Nguyên, tháng 4 năm 2014
Tác giả
Phạm Thị Thu Miền
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC .iii DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv DANH MỤC CÁC BẢNG v DANH MỤC CÁC HÌNH vi MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
3 Nội dung nghiên cứu 3
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Cây đậu tương 4
1.1.1 Nguồn gốc và đặc điểm sinh học của cây đậu tương
4 1.1.2 Giá trị kinh tế của cây đậu tương 6
1.1.3 Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới và Việt Nam
7 1.1.4 Đặc điểm hóa sinh của hạt đậu tương 9
1.2 Hạn và khả năng chịu hạn của cây 10
1.2.1 Hạn và ảnh hưởng của hạn đối với cây trồng
10 1.2.2 Cơ sở sinh lý, sinh hóa và cơ chế phân tử liên quan đến tính chịu hạn 12
1.2.3 Đặc tính chịu hạn của cây đậu tương 14
1.3 Gen liên quan đến khả năng chịu hạn của cây đậu tương
15 1.3.1 Các gen chức năng 15
1.3.2 Gen DREB và DREB2 20
Trang 6Chương 2: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
2.1 Vật liệu 292.2 Hóa chất - Thiết bị .29
2.2.1 Hóa chất 29
Trang 72.2.2 Thiết bị 30
2.3 Phương pháp nghiên cứu 30
2.3.1 Phương pháp sinh học phân tử 30
2.3.1.1 Thiết kế mồi nhân gen DREB2 30
2.3.1.2 Phương pháp tách chiết RNA tổng số 30
2.3.1.3 Tổng hợp cDNA 31
2.3.1.4 Khuyếch đại gen DREB2 32
2.3.1.5 Thôi gel và tinh sạch sản phẩm thôi gel 33
2.3.1.6 Tách dòng gen và xác định trình tự nucleotid của gen 33
2.3.2 Phương pháp phân tích số liệu 36
2.4 Địa điểm nghiên cứu 36
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 37
3.1 Đặc điểm sinh học của các giống đậu tương nghiên cứu 37
3.2 Kết quả phân lập gen DREB2 từ giống đậu tương DT 26 38
3.2.1 Kết quả tách RNA 38
3.2.2 Kết quả nhân bản gen DREB2 bằng phản ứng RT-PCR 39
3.2.3 Kết quả biến nạp vector tái tổ hợp vào tế bào khả biến E.coli chủng DH5α 41
3.2.4 Kết quả chọn dòng tế bào mang vector tái tổ hợp 42
3.2.5 Kết quả tách plasmid 43
3.2.6 Kết quả xác định trình tự nucleotide của gen DREB2 43
3.3 Kết quả phân tích gen DREB2 44
3.3.1 Cấu trúc gen DREB2 44
3.3.2 So sánh trình tự nucleotide 45
3.3.3 So sánh trình tự protein suy diễn 50
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 53
1 Kết luận 53
2 Đề nghị 53
TÀI LIỆU THAM KHẢO 54
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ABA Abscisic acid
DNA Deoxyribonucleic acid
Bp Base pair (cặp base)
CYS Cystatins
DREB Dehydration Responsive Element Binding
HSP Heat shock protein (protein sốc nhiệt)
LEA Lea Embryogenesis Abundant (protein tích lũy với số lượng lớn ở
giai đoạn cuối của quá trình hình thành phôi) với số lượng lớn ở giaiđoạn cuối của quá trình hình thành phôi)
LTP Lipid transfer protein (protein vận chuyển lipit)
PCR Polymerase Chain Reaction (phản ứng chuỗi polymeaza)
PC5S Pyroline - 5 - carboxylate synthease (enzym tham gia trong quá
trình tổng hợp proline)
TAE Tris Acetate Ethylendiamin tetraacetic axit
CBF C - repeat binding factor
EREBP Ethylene Responsive Element binding protein
ERF Ethylene Responsive Element binding factor
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Sản xuất đậu tương Việt Nam từ 2007 - 2013 8
Bảng 2.1: Danh sách các giống đậu tương nghiên cứu 29
Bảng 2.2: Trình tự cặp mồi nhân gen DREB2 30
Bảng 2.3: Thành phần phản ứng nhân gen DREB2 32
Bảng 2.4: Chu trình nhiệt cho phản ứng nhân gen DREB2 32
Bảng 2.5 Thành phần phản ứng ghép nối gen vào vector pBT 34
Bảng 3.1 Một số đặc điểm hình thái của 5 giống đậu tương nghiên cứu 37
Bảng 3.2 Đặc điểm cấu trúc gen DREB2 ở đậu tương 45
Bảng 3.3 Sự sai khác về trình tự nucleotide trên gen DREB2 của giống đậu tương DT 26 với các trình tự đã công bố 48
Bảng 3.4 Độ tương đồng và độ sai khác về gen DREB2 của giống DT 26 với các giống công bố trên ngân hàng gen 49
Bảng 3.5 Trình tự amino acid của gen DREB2 thay đổi của các giống đậu tương 51
Bảng 3.6 Độ tương đồng và độ sai khác về amino acid của protein DREB2 giống DT 26 với các giống công bố trên Ngân hàng gen 51
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 Sơ đồ mô tả gen và vùng mã hóa của gen GmDREB2 ở đậu tương
26 Hình 1.2 Sơ đồ mô tả protein GmDREB2 ở đậu tương 27
Hình 1.3 Trình tự amino acid của vùng AP2 của protein DREB2 ở đậu tương 27
Hình 1.4 Điểm liên kết với DNA của protein DREB2 27
Hình 2.1 Sơ đồ vector pBT 34
Hình 3.1 Hình ảnh 5 giống đậu tương nghiên cứu 37
Hình 3.2 Kết quả nhân gen DREB2 của giống đậu tương nghiên cứu 40
Hình 3.3 Kết quả biến nạp vector tái tổ hợp vào tế bào khả biến E.coli chủng DH5α 41
Hình 3.4 Sản phẩm colony-PCR nhân gen DREB2 trực tiếp từ các khuẩn lạc được chọn 42
Hình 3.5 Kết quả tách plasmide từ khuẩn lạc trắng 43
Hình 3.6 Trình tự nucleotide của gen DREB2 ở giống đậu tương DT26 44
Hình 3.7 So sánh trình tự nucleotide của gen DREB2 của giống DT 26 với các trình tự đã công bố 47
Hình 3.8 Sơ đồ hình cây mô tả mối quan hệ giữa các giống 49
Hình 3.9 So sánh trình tự protein DREB2 của DT26 với các trình tự protein đã được công bố
50 Hình 3.10 So sánh trình tự amino acid trong vùng AP2 của giống đậu tương DT26 với 5 giống đậu tương công bố trên Ngân hàng gen 52
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Đậu tương (Glycine max (L.) Merrill) thuộc cây họ đậu (Fabaceae), là
cây trồng cạn ngắn ngày có giá trị dinh dưỡng và kinh tế cao Hạt đậu tương cóhàm lượng protein từ 20% - 40%, dễ tan và chứa hầu hết các loại amino acid,đặc biệt là các loại amino acid không thay thế (lysin, triptophan, metionin ).Hàm lượng lipid từ 18 - 20%, có chứa tỷ lệ lớn các axit béo chưa no, có hệ sốđồng hóa lớn (98%) và chỉ số iốt cao, tốt cho việc phòng chống bệnh bướu cổ ởngười Trong hạt đậu tương còn có nhiều loại vitamin khác như: Vitamin A, D,
E, PP, K… cung cấp nguồn dinh dưỡng phong phú, cần thiết cho người vàđộng vật [2], [3], [4]
Cây đậu tương là một trong những cây trồng quan trọng không chỉ ở ViệtNam mà còn ở nhiều nước trên thế giới Các sản phẩm rất quen thuộc của đậutương như đậu phụ, nước tương, dầu ăn có vai trò hết sức quan trọng trongđời sống hằng ngày của con người Các nhà khoa học đã nghiên cứu phát hiện
ra khả năng phòng và điều trị bệnh ung thư, tim mạch trong hạt đậu tương Đặctính quan trọng nữa của đậu tương, đó là khả năng cải tạo đất do hệ rễ củachúng có nốt sần chứa vi khuẩn cố định đạm Cùng với thân và lá làm thay đổitính chất lý, hóa và tăng độ phì nhiêu cho đất Chính vì vậy, trồng đậu tươngngoài việc đem lại hiệu quả kinh tế còn góp phần vào công cuộc cải tạo đấttrồng trọt [4]
Ở Việt Nam, theo số liệu thống kê chính thức của Chính phủ, đậutương được trồng ở 28 tỉnh trên khắp cả nước, trong đó 70% ở miền Bắc và30% ở miền Nam Khoảng 65% đậu tương nước ta được trồng ở vùng cao,những nơi đất không cần màu mỡ và 35% được trồng ở những vùng đấtthấp ở khu vực Đồng bằng sông Hồng Đậu tương được trồng ở nhiều địaphương trên khắp cả nước vào từng thời điểm khác nhau nên có cả vụ xuân,
vụ hè và vụ đông [3]
Trang 12Sản lượng đậu tương trên thế giới đạt hàng trăm triệu tấn/ năm Tuynhiên, ở Việt Nam đậu tương chỉ đạt vài trăm nghìn tấn/ năm Để đáp ứng nhucầu tiêu dùng và chế biến nước ta vẫn phải nhập khẩu đậu tương từ các nướctrên thế giới đặc biệt là Mĩ [62] Thực trạng này cũng chứng tỏ một điều là diệntích gieo trồng và năng suất đậu tương của nước ta còn thấp so với các nướctrong khu vực và trên thế giới Một trong những nguyên nhân làm sụt giảmnăng suất cây trồng nói chung và đậu tương nói riêng chính là hạn hán [2] ViệtNam nằm trong khu vực chịu ảnh hưởng nặng nề của biến đổi khí hậu, hơn nữanhiều tỉnh miền núi của nước ta có địa hình dốc cho nên tình trạng hạn hán cục
bộ xảy ra rất phổ biến Đậu tương là cây tương đối mẫn cảm với điều kiệnngoại cảnh và thuộc nhóm cây chịu hạn kém, vì thế hạn xảy ra sẽ làm giảmnăng suất của đậu tương [2], [3], [4] Do đó, công tác tuyển chọn giống đậutương có kiểu gen chịu hạn ngày càng được quan tâm nghiên cứu
Khả năng chịu hạn của thực vật là tính trạng do nhiều gen quy định.Cho đến nay, người ta vẫn chưa tìm được một gen cụ thể nào thực sự quyếtđịnh tính chịu hạn, mà mới chỉ xác định được các gen liên quan đến tính chịuhạn của cây đậu tương [9] Các trình tự gen liên quan đến tính chịu hạn ở đậu
tương đã được công bố trên Ngân hàng gen Quốc tế, trong đó có gen DREB DREB (Dehydration Responsive Element Binding) là một họ gen sản xuất
protein kích hoạt nhóm gen liên quan đến tính chịu hạn của thực vật nói chung
và của cây đậu tương nói riêng Việc nghiên cứu về DREB đã thành công trên các đối tượng như cây Arabidopsis [37], lúa mì [28], thuốc lá [38], hoa cúc [35], hướng dương [23], ngô [47], lúa [24]… Trong phân họ DREB của đậu tương, việc nghiên cứu gen DREB2 liên quan đến tính chịu hạn cho thấy đây là
nhóm gen đa dạng về cấu trúc, chức năng và các tác giả khuyến cáo cần tiếp tục
mở rộng nghiên cứu Công bố đầu tiên về gen DREB2 ở cây đậu tương bởi Chen và cộng sự (2006), với việc phân lập gen DREB2 từ mRNA có kích thước 480bp Theo nhóm nghiên cứu, trong cây đậu tương, gen DREB2 tham gia tích
cực vào việc cải tiến khả năng chịu hạn của cây [22], [54]
Trang 13Nhằm tìm hiểu đặc điểm cấu trúc của gen DREB2 liên quan đến khả
năng chịu hạn của cây đậu tương, chúng tôi lựa chọn và tiến hành nghiên cứu
đề tài: “Phân lập và so sánh đặc điểm cấu trúc gen GmDREB2 của một số giống đậu tương có khả năng chịu hạn khác nhau”.
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Phân lập và so sánh gen DREB2 của giống đậu tương DT 26 với một số
trình tự đã công bố
3 Nội dung nghiên cứu
- Phân lập gen DREB2 từ mRNA của giống DT 26 bằng kỹ thuật PCR.
- So sánh trình tự nucleotide của gen GmDREB2 với một số trình tự đã
công bố
- So sánh trình tự amino acid suy diễn từ gen DREB2 với một số trình tự
đã công bố
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Cây đậu tương
1.1.1 Nguồn gốc và đặc điểm sinh học của cây đậu tương
Cây đậu tương hay đậu nành (Glycine max L Merill) là một trong những
loại cây trồng được biết đến rất sớm Bằng chứng về lịch sử, địa lý, khảo cổhọc đã chỉ ra, đậu tương có nguồn gốc từ Trung Quốc, được thuần hóa và trồnglàm thực phẩm vào khoảng thế kỉ XVII trước Công nguyên Từ Trung Quốc,đậu tương được đưa sang Triều Tiên, Nhật Bản, Nga, sang Đông Nam Á vàNam Á qua con đường tơ lụa [4] Ở Việt Nam đậu tương được trồng từ lâu đời,sớm nhất là các tỉnh trung du, miền núi phía Bắc và miền Đông Nam Bộ Hiệnnay, đậu tương được trồng ở Việt Nam có hai nguồn gốc, đó là các giống địaphương và các giống nhập nội [3], [4]
Về phân loại thực vật học, cây đậu tương hay còn gọi là đậu nành, tên
khoa học Glycine max (L.) Merill (2n= 40) thuộc họ đậu (Fabaceae), họ phụ
cánh bướm (Papilinoideae) (Hymowitz và Newell, 1981) Các giống đậu tương
trồng ở Việt Nam thuộc loài Glycine max (L.) Merill (2n = 40) trong giống phụ
G.Soya, giống Glycine thuộc họ đậu (Fabaceae), họ phụ cánh bướm(Papilinoideae) [2], [3]
Về hình thái, cây đậu tương có các bộ phận chính là rễ, thân, lá, hoa vàquả Rễ cây đậu tương khác với rễ cây hoà thảo là có rễ chính và rễ phụ Rễchính có thể ăn sâu 30-50cm và có thể trên 1m Trên rễ chính mọc ra nhiều rễphụ, rễ phụ cấp 2, cấp 3 tập trung nhiều ở tầng đất 7-8 cm rộng 30-40 cm2 [2].Trên rễ chính và rễ phụ có nhiều nốt sần Đó là các u bướu nhỏ bám vào các rễ.Nốt sần là kết quả cộng sinh của một số loại vi sinh vật có tên khoa học là
Rhizobium Japonicum với rễ cây đậu tương Trong một nốt sần có khoảng 3-4
tỷ vi sinh vật, mà ta chỉ có thể nhìn thấy chúng qua kính hiển vi phóng đại 600
-1000 lần [4] Nốt sần đóng vai trò chính trong quá trình cố định Nito thành đạm
Trang 15dễ tiêu Bộ rễ phân bố nông, sâu, rộng, hẹp, số lượng nốt sần ít hay nhiều phụthuộc vào giống, đất đai, khí hậu và kỹ thuật trồng [3].
Đậu tương là cây hai lá mầm thân thảo, ít phân cành, dạng bụi Thân cây
có hình tròn, trên thân có nhiều lông tơ có tác dụng giảm thoát hơi nước vàchống bệnh Thân non có thể có màu xanh hoặc màu tím, màu sắc thân non cótương quan chặt chẽ tới màu sắc của hoa, thân xanh hoa trắng, thân tím hoatím Thân có trung bình 14-15 lóng, các lóng ở phía dưới thường ngắn, các lóng
ở phía trên thường dài Thân có nhiều dạng như đứng, bò, nửa bò và leo.Đường kính thân thay đổi tùy theo giống và có liên quan chặt chẽ tới tínhchống đổ của cây Số cành trên thân nhiều hay ít phụ thuộc vào giống và các kỹthuật canh tác Có giống chỉ có 1 - 2 cành hoặc thậm chí không có cành Cáccành mọc ra từ chồi ở các nách lá Các chồi ở dưới thân chính sẽ phát triểnthành các chùm quả, các chồi ở giữa và ngọn thì phát triển thành các chùm hoa.Các cành mọc ra ở đốt thứ nhất hay đốt thứ hai sẽ khỏe hơn các cành mọc ởphía trên Các cành cùng với thân sẽ tạo thành tán cây [2], [3], [4]
Đậu tương là cây hai lá mầm nên có ba loại lá: lá mầm, lá đơn, và lá thật
Lá mầm cung cấp dinh dưỡng cho cây ở thời kì đầu, về sau rụng đi Lá đơnmọc đối là lá thật chưa hoàn chỉnh có khả năng quang hợp cho cây Lá thật hay
lá kép có ba lá chét, nhưng cá biệt cũng có lúc có 4 đến 5 lá chét Phiến lá cónhiều hình dạng khác nhau, hình dạng của lá thay đổi theo từng giống, những lánhỏ và dài chịu hạn tốt nhưng cho năng suất thấp, những giống lá to thườngcho năng suất cao nhưng khả năng chịu hạn thường kém [4]
Đậu tương là cây tự thụ phấn, hoa đậu tương nhỏ không có mùi, có màutím, tím nhạt, hoặc màu trắng, hoa mọc từ nách lá hoặc ngọn Một hoa có từ1800-6800 hạt phấn tuỳ theo giống khác nhau, giống hạt to thì có bao phấn to
và nhiều hạt phấn Hạt phấn thường hình tròn, số lượng và kích thước hạt phấntuỳ giống khác nhau, giống hạt to thường có hạt phấn to và nhiều hơn so vớigiống có hạt nhỏ Quả đậu tương thuộc loại quả ráp thẳng hoặc hơi cong, có
Trang 16nhiều lông khi chín màu vàng hoặc xám Một quả chứa từ 1 tới 5 hạt, nhưnghầu hết các giống quả thường từ 2 đến 3 hạt Hạt đậu tương không có nội nhũ
mà chỉ có một lớp mỏng bao quanh một phôi lớn Hạt có hình tròn, ôvan, dẹt,bầu dục Vỏ hạt nhẵn có thể có màu vàng đậm, vàng nhạt, xanh hoặc nâu, đennhưng phổ biến là hạt màu vàng [2], [3]
Đậu tương là cây trồng lấy hạt, cung cấp dầu quan trọng bậc nhất trongcác cây lấy dầu Theo thống kê của FAO, cho thấy từ năm 1980 trở lại đây sảnlượng đậu tương trên thế giới tăng gấp 2 lần chủ yếu nhờ vào tăng năng suất vàdiện tích [58] Ở Việt Nam, hiện nay đậu tương được trồng trên cả bảy vùngnông nghiệp, trong đó vùng núi phía Bắc có diện tích gieo trồng lớn nhất Câyđậu tương chiếm một vị trí khá quan trọng trong nền nông nghiệp nước ta, đặcbiệt ở vùng nông thôn khó khăn, kinh tế chưa phát triển Tuy nhiên năng suấtđậu tương của nước ta thường thua kém nhiều so với các nước trên thế giới
1.1.2 Giá trị kinh tế của cây đậu tương
Đậu tương là cây trồng có giá trị kinh tế cao, là cây công nghiệp, câythực phẩm, cây cải tạo đất Với ưu thế ngắn ngày, trồng được nhiều vụ trongnăm, có thể trồng thuần, trồng xen, luân canh gối vụ, trồng được nhiều vùngsinh thái khác nhau Vì vậy, sau lúa và ngô, cây đậu tương có vai trò đặc biệtquan trọng trong nền nông nghiệp nhiệt đới [2], [3]
Giá trị về mặt thực phẩm: Đậu tương có hàm lượng protein cao hơn
trong gạo, thịt, cá và cao gấp hai lần các loại đậu đỗ khác Trong hạt đậu tươngkhông có thành phần cấu tạo của cholesterol Đậu tương được xem là cây cungcấp dầu thực vật quan trọng Lipid đậu tương chứa thành phần các acid béokhông no cao, tổng số chất béo chiếm khoảng 18% Hạt đậu tương chứa nhiềuloại vitamin như: vitamin B1, B2, B6, vitamin E… Ngoài ra, nó còn chứa sắt,canxi, photpho và các thành phần chất xơ tốt cho tiêu hóa [2]
Giá trị về mặt công nghiệp: Hiện nay trên thế giới, có các loại cây lấy
dầu quan trọng là đậu tương, bông, lạc, hướng dương, cải dầu, dừa, cọ…Trong
Trang 17đó, đậu tương là cây cung cấp nguyên liệu hàng đầu cho công nghiệp ép dầu,dầu đậu tương chiếm khoảng 50% dầu thực vật Dầu đậu tương có chỉ số iốtcao, nhiệt độ ngưng tụ từ -15 đến -18oC Đậu tương còn là nguyên liệu quantrọng cho các nghành công nghiệp khác như: chế biến cao su nhân tạo, mực in,chất dẻo, tơ nhân tạo…[2].
Giá trị về mặt nông nghiệp: Trong nông nghiệp đậu tương được sử dụng
làm thức ăn gia súc Đậu tương là nguồn thức ăn tốt cho gia súc 1kg hạt đậutương đương với 1,38 đơn vị thức ăn chăn nuôi Toàn cây đậu tương (than, lá,quả, hạt) có hàm lượng đạm khá cao, cho nên các sản phẩm phụ như thân, látươi có thể làm thức ăn cho gia súc rất tốt hoặc nghiền khô làm thức ăn tổnghợp của gia súc Ngoài ra, đậu tương còn có vai trò trong cải tạo đất trồng đemlại hàm lượng đạm cao cung cấp cho cây trồng Điều này có được là do hoạtđộng cố định N2 của loài vi khuẩn Rhizobium cộng sinh trên rễ cây Nhờ khả
năng cố định đạm nên sau mỗi vụ thu hoạch thành phần hóa tính của đất trồngđược cải thiện rõ rệt, lượng đạm trong đất tăng và khu hệ vi sinh vật trong đấtcũng tăng Vì vậy, việc luân canh trồng cây đậu tương với các loại cây trồngkhác có thể được xem là biện pháp cải tạo đất trồng hữu hiệu [2], [3]
1.1.3 Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới và Việt Nam
Đậu tương là một trong những cây trồng mang tính chiến lược đối vớinhững quốc gia có điều kiện phát triển vì có giá trị trao đổi rất cao trên thịtrường do nhu cầu sử dụng protein, dầu thực vật, thực phẩm chức năng vànguyên liệu thức ăn chăn nuôi gia súc ngày càng tăng [3] Đậu tương đứng thứ
4 sau lúa, ngô và lúa mỳ
Trên thế giới, năm 2010 diện tích đậu tương chiếm 102,4 triệu ha, năngsuất bình quân 2,58 tấn /ha, sản lượng đạt 264,9 triệu tấn, tăng 9 triệu ha và46,6 triệu tấn so với năm 2005 [59]
Diện tích đậu tương trên thế giới tập trung chủ yếu ở Mỹ, Brazil, TrungQuốc, Argentina, Ấn Độ Trong đó, nước Mỹ thường chiếm 1/3 diện tích đậu
Trang 18tương hằng năm (31 triệu ha) Năng suất và hàm lượng protein là chỉ tiêu phảnánh tiến bộ nghiên cứu về đậu tương trên thế giới Dự báo diện tích trồng đậutương trên thế giới có thể tăng nhiều vào cuối thập kỷ này do chính sách quản
lý và thương mại của các quốc gia, đặc biệt trong hoàn cảnh ngày càng cónhiều quốc gia sử dụng các giống được cải tiến thông qua chỉ thị phân tử vàbiến đổi gen
Trong khu vực Châu Á, diện tích đậu tương ở Việt Nam đang tăng dần,
đã vượt qua Myanmar và đang đứng thứ 4 sau các nước Ấn Độ, Trung Quốc,Triều Tiên [59] Ở nước ta, cây đậu tương đã được trồng rất sớm từ khi còn làmột cây hoang dại sau đó được thuần hoá và đưa vào trồng như một cây có giátrị kinh tế cao
Trước cách mạng tháng 8 năm 1945, diện tích trồng đậu tương trong cảnước là 30.000 ha, năng suất 410kg/ha Sau cách mạng và trong kháng chiếnchống Mỹ, nhà nước chú ý đẩy mạnh sản xuất đậu tương nhưng kết quả đạtđược thấp Từ sau năm 1975 trở lại đây, năng suất đậu tương đã tăng đáng kể[59] Theo cục xúc tiến thương mại, sản lượng đậu tương nước ta năm 2011giảm 14% so với năm 2010, xuống còn 254,2 nghìn tấn [65] Nguyên nhân chủyếu là do năng suất cây trồng còn thấp, chi phí sản xuất lại khá cao và côngnghệ thu hoạch còn rất lạc hậu Ngoài ra có thể là do dịch bệnh hay do biến đổikhí hậu và hạn hán Tình hình sản xuất đậu tương của nước ta trong những nămgần đây được thể hiện qua bảng 1.1
Bảng 1.1: Sản xuất đậu tương Việt Nam từ 2007 - 2013
Trang 19Theo Ngô Thế Dân và cộng sự, (1999), thì cả nước đã hình thành 6 vùngsản xuất đậu tương: Vùng Đông Nam bộ có diện tích lớn nhất (26,2% diện tíchđậu tương cả nước), Miền núi Bắc bộ 24,7%, Đồng bằng sông Hồng 17,5%,Đồng bằng sông Cửu Long 12,4% Tổng diện tích 4 vùng này chiếm 80% diệntích trồng đậu tương cả nước, còn lại là đồng bằng ven biển miền Trung và TâyNguyên [2] Ở nước ta, đậu tương chủ yếu được trồng theo vụ là vụ xuân, vụ
hè, vụ hè thu, vụ đông và vụ đông xuân Trong đó, đậu tương được trồng nhiềuvào vụ đông xuân
Những năm gần đây, cùng với việc nghiên cứu các công nghệ sinh học
và các loại đậu tương cao sản mới để tìm ra giống cho năng suất cao với chi phísản xuất thấp, các nhà chọn giống Việt Nam còn quan tâm nghiên cứu cácgiống đậu tương địa phương có năng suất thấp nhưng lại có chất lượng hạt cao
và có khả năng chống chịu với các điều kiện bất lợi của môi trường như: nóng,lạnh, mặn, phèn, hạn Như vậy sẽ tạo ra một cơ hội rất lớn cho việc phát triểnsản xuất đậu tương trong nước và xuất khẩu ra nước ngoài
1.1.4 Đặc điểm hóa sinh của hạt đậu tương
Hạt đậu tương có thành phần chủ yếu là protein, gluxit, lipid, các vitamin
và các chất khoáng [2], [3] Tuy nhiên, nói đến đậu tương người ta quan tâmchủ yếu đến protein và lipid Hàm lượng protein trong hạt đậu tương chiếm tỷ
lệ cao Thực tế cho thấy, tuy bị ảnh hưởng bởi kiểu gen và điều kiện canh tácnhưng hàm lượng protein của đậu tương vẫn lớn hơn hàm lượng protein củacác loài thực vật khác Nó được dự trữ trong các bào quan và có chức năng duynhất là cung cấp nguồn amino acid và nitơ cho quá trình nảy mầm của hạt,protein dự trữ chủ yếu ở hạt đậu tương là albumin và globulin
Dựa vào hệ số lắng người ta chia protein của hạt đậu tương thành 3 loại:legumin, vixilin, enzyme và chất ức chế enzyme có bản chất protein Trong hạtđậu tương, protein dự trữ chiếm 70% tổng số protein Ngoài ra là các enzyme,các chất ức chế protease và lectin Thành phần của protein gồm có albumin
Trang 20(9,5%), globulin tan trong nước (75,8%), globulin tan trong NaCl là 3%, glutelin- protein tan trong NaOH 0,2M là 11,7% [2], [3].
Protein của cây họ đậu nói chung, cây đậu tương nói riêng được coi là cóchất lượng tốt nhất trong các loại protein của thực vật, chúng chứa tất cả cácamino acid không thay thế, cần thiết cho cơ thể người [9] Một điều đáng quantâm là hàm lượng lyzin ở đậu tương rất cao so với protein từ loại ngũ cốc khác,nhưng hàm lượng các amino acid chứa gốc SH như metionin, cystein còn thấp
Lipid là hợp chất hữu cơ có trong tế bào sống, không có khả năng hòatan trong nước, nhưng tan trong các dung môi hữu cơ không phân cực như ete,benzene, toluene, ete dầu hỏa… Lipid còn là thành phần quan trọng của màngsinh học, là nguồn năng lượng cung cấp cho cơ thể Chất lượng lipid của hạtđậu tương rất tốt, cho nên nó được sử dụng rộng rãi trong công nghiệp chế biếnthực phẩm Hạt đậu tương còn có các loại vitamin tan trong lipid, đặc biệtvitamin E, ngoài ra trong hạt đậu tương còn chứa một số chất khác như hydratcacbon, muối khoáng, acid nucleic, kích tố sinh trưởng [2], [3]
Tóm lại, hạt đậu tương có giá trị dinh dưỡng rất cao, giá trị của nó đượcđánh giá đồng thời về cả hàm lượng protein và lipid Trong đó, hàm lượngprotein dự trữ là yếu tố quyết định làm cho đậu tương trở thành nguồn thựcphẩm quan trọng cho người và gia súc Ngoài ra, đậu tương còn được dùng làmthuốc chữa bệnh rất tốt, nhất là hạt đậu tương có màu đen
1.2 Hạn và khả năng chịu hạn của cây
1.2.1 Hạn và ảnh hưởng của hạn đối với cây trồng
Hạn là khái niệm dùng để chỉ sự thiếu nước của thực vật do môi trườnggây nên làm ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của thực vật Hạn cũng cóthể được định nghĩa là sự thiếu lượng nước do mưa hoặc nước tưới trong thờigian dài dẫn đến sự cạn kiệt độ ẩm trong đất gây nên sự tổn thương cho câytrồng Khả năng thực vật có thể giảm thiểu mức tổn thương vì thiếu hụt nướcgọi là tính chịu hạn Những cây trồng có khả năng duy trì sự phát triển trongđiều kiện khô hạn gọi là cây chịu hạn [7], [9]
Trang 21Ảnh hưởng của hạn đến cây trồng có thể phân biệt thành hai mức độ đó
là tế bào và cơ thể Ở mức độ tế bào, hiện tượng hạn xảy ra khi mất một phầnnước trong các cơ quan ở giai đoạn nhất định của chu kỳ sống thực vật nhưtrong quá trình tạo hạt, hạt phấn, bào tử và không làm ảnh hưởng đến tế bào,
mô của cây Đây là quá trình biến đổi trong tế bào có sự điều khiển của hệthống thông tin di truyền Trong giai đoạn hình thành hạt tế bào bị mất nước,khả năng chịu hạn tăng lên Khả năng này đạt cực đại ở thời kỳ hạt chín và cóchiều hướng giảm dần khi hạt nảy mầm Hạt khô còn có khả năng chống chịuvới hàng loạt các điều kiện ngoại cảnh bất lợi như nhiệt độ, gió…[6]
Đối với mức độ cơ thể, hạn gây ảnh hưởng đến đời sống của cây, có thểdẫn đến hủy hoại cây cối và mất mùa Hiện tượng này xảy ra khi trong môitrường đất và không khí thiếu nước đến mức áp suất thẩm thấu của cây khôngcạnh tranh được để lấy nước vào tế bào Các thành phần thổ nhưỡng, nhiệt độ,gió nóng hay thời tiết khí hậu chính là những yếu tố bất lợi đối với cơ thể thựcvật [6], [7]
Có hai loại hạn do môi trường tác động đến thực vật là hạn đất và hạnkhông khí Hạn đất thường xảy ra ở những vùng khí hậu hay thổ nhưỡng đặcthù, trong đó đất phù sa giữ nước tốt nhất, cát giữ nước kém nhất Hạn tác độngmạnh lên bộ rễ của cây trồng Trong thời kì gieo hạt và nảy mầm hạt, lượngnước trong đất không đủ sẽ gây ra héo mầm, có thể hủy hoại toàn bộ; Hạnkhông khí thường xảy ra ở những vùng gió, nóng và nhiệt độ cao Loại hạn nàythường tác động chủ yếu lên các bộ phận bên trên mặt đất như lá, hoa Hạn dotác động của môi trường dẫn đến hiện tượng mất nước trong cây ở các bộ phận
mô, tế bào khác [6], [7]
Như vậy, hạn tác động lên cây trồng theo hai hướng chính làm tăng nhiệt
độ cây và làm mất nước trong cây Nước vừa là nguyên liệu vừa là môi trường
để các phản ứng trao đổi chất xảy ra Mức độ thiếu hụt nước càng lớn thì càngảnh hưởng xấu đến năng suất cây, nếu thiếu nước nhẹ thì làm giảm tốc độ sinhtrưởng của cây [7], [9]
Trang 22Những tác hại của hạn đối với thực vật được thống kê bao gồm nhữngbiểu hiện sau: Thứ nhất hệ thống keo nguyên sinh chất bị biến đổi mạnh Bởi vìhạn làm thay đổi tính chất lý hóa và làm tăng độ nhớt của chất nguyên sinh,làm chậm các hoạt động sống, giảm mức độ phân tán, khả năng thủy hóa vàtính đàn hồi của keo nguyên sinh Hạn cũng làm thay đổi đặc tính hóa keo từtrạng thái sol rất linh động sang trạng thái coaxecva hoặc gel kém linh động,cản trở các hoạt động sống.
Thứ hai biểu hiện ở quá trình trao đổi chất, hạn làm đảo lộn hoạt độngtổng hợp khi đủ nước và chuyển sang phân giải khi thiếu nước Quá trình phângiải chính là phân giải protein và nucleic acid, kết quả là giải phóng và tích lũy
NH3 gây độc cho cây và có thể làm cho cây chết
Thứ ba, hạn dẫn đến hoạt động sinh lý bị kìm hãm Thiếu nước sẽ ức chếhoạt động quang hợp vì khí khổng đóng nên thiếu CO2, lục lạp có thể phân hủy,
ức chế sự tổng hợp diệp lục, lá bị héo khô rồi chết làm giảm diện tích quanghợp Sự vận chuyển sản phẩm quang hợp ra khỏi lá và về cơ quan dự trữ bị tắcnghẽn Thiếu nước sẽ làm tăng hô hấp vô hiệu, về sau giảm hô hấp nhanh, hiệuquả sử dụng năng lượng của hô hấp rất thấp vì hô hấp sản sinh ra nhiệt là chính
Cuối cùng làm quá trình sinh trưởng và phát triển của thực vật bị kìmhãm Thiếu nước thì đỉnh sinh trưởng không tiến hành phân chia được, quátrình giãn của tế bào bị ức chế làm cho cây sinh trưởng chậm Do đó, nướcđược xem là yếu tố rất nhạy cảm trong sự sinh trưởng của tế bào Thiếu nướccũng ảnh hưởng đến quá trình phân hóa hoa và đặc biệt là quá trình thụ tinh.Khi gặp hạn, hạt phấn không nảy mầm, ống phấn không sinh trưởng được, sựthụ tinh không xảy ra và hạt bị lép
1.2.2 Cơ sở sinh lý, sinh hóa và cơ chế phân tử liên quan đến tính chịu hạn
Khi cây gặp các điều kiện bất lợi về nước thì sẽ sử dụng các cơ chế khácnhau để có thể sinh trưởng và thích ứng với môi trường Các cơ chế này khá đadạng có thể chia làm ba cơ chế chủ đạo: cơ chế trốn thoát điều kiện hạn, cơ chếtránh hạn, cơ chế chống chịu hạn [8], [9]
Trang 23Cơ chế trốn thoát điều kiện hạn cho phép cây có thể hoàn thành chu kìsống của mình trong giai đoạn được cung cấp đủ nước trước khi hạn xảy ra.Các giống đậu tương ngắn ngày được trồng khá phổ biến ở khu vực Nam Mỹchủ yếu sử dụng cơ chế trên để thích ứng với các điều kiện bất lợi về nước.Thường thì các giống có tính chín sớm, bắt đầu nở hoa vào cuối tháng tư và tạoquả trong tháng 5, vì thế mà chúng có thể hoàn thành chu kì sinh sản của mìnhtrước khi tình trạng khan hiếm về nước xảy ra từ tháng sáu đến tháng tám [9].
Đối với cơ chế tránh hạn, các giống đậu tương có khả năng duy trì lượngnước trong cơ thể trong giai đoạn hạn thông qua việc tăng khả năng hấp thunước từ rễ hoặc giảm quá trình thoát hơi nước ở các bộ phận khác nhau củacây Như vậy, quá trình trao đổi chất có thể diễn ra bình thường trong điều kiệnlượng nước bên ngoài rất thấp [9]
Khả năng chống chịu của thực vật dựa trên cơ chế điều chỉnh áp suấtthẩm thấu và sự biến đổi thành tế bào Theo Bohnert và Jensen (1996), trongmôi trường thiếu nước cực đoan các cơ chế liên quan đến sự giữ nước của bavùng tế bào như: (i) Cơ chế ngăn cản ion, thải ion và biến đổi thành tế bào(vùng ngoại bào và vùng tế bào); (ii) Cơ chế điều chỉnh áp suất thẩm thấu, khửcác gốc tự do, thay đổi tính chọn lọc, tăng cường bơm proton, điều tiết trao đổinước…; (iii) cơ chế dự trữ ion Ca++ và Na+, thải ion K+, duy trì thế năng proton,điều chỉnh áp suất thẩm thấu
Tùy vào mức độ cực đoan của môi trường mà khả năng chịu hạn củathực vật biểu hiện khác nhau như [9]: Giảm diện tích lá và rút ngắn thời giansinh trưởng để sử dụng nước một cách hợp lý trong điều kiện thiếu nước; Tăngkhả năng đâm sâu của bộ rễ để tận dụng nguồn nước ở tầng sâu đảm bảo tươngứng cho nhu cầu thoát hơi nước của lá; Duy trì sức trương của tế bào thông quakhả năng điều chỉnh áp suất thẩm thấu để bảo vệ các chồi non khỏi bị khô hạntrong điều kiện mất nước cực đoan; Kiểm soát mức độ thoát hơi nước trên bềmặt lá thông qua điều tiết độ mở của khí khổng
Trang 24Tính chịu hạn của cây trồng được hình thành trong quá trình tiến hóa tựnhiên dưới tác động của điều kiện ngoại cảnh, hạn hán Đối với bất kỳ điềukiện bất lợi nào của tự nhiên mà ở đó sự sống còn có thể tồn tại và phát triểnđược thì sẽ phải có những kiểu gen thích ứng có khả năng chống chịu đượcngoại cảnh đó [7] Ngày nay, trên thực tế vẫn chưa tìm được gen thực sự quyếtđịnh tính chịu hạn, mà mới chỉ tìm được gen liên quan đến tính chịu hạn.
1.2.3 Đặc tính chịu hạn của cây đậu tương
Trong các giống cây trồng lấy hạt thì cây đậu tương là cây tương đốimẫn cảm với điều kiện ngoại cảnh, có nhu cầu về nước cao hơn các loài câykhác Đó chính là do trong hạt và cây đậu tương có hàm lượng protein và lipitrất cao, để tổng hợp 1kg chất khô cần 500 - 530 kg nước Trong quá trình nảymầm thì nhu cầu về nước của đậu tương khá cao 50%, trong khi đó ở Ngô chỉ
là 30%, lúa là 26% [2], [3]
Nghiên cứu về các đặc tính chịu hạn của cây đậu tương về phương diệnsinh lý và di truyền đã cho thấy rằng, các đặc tính này liên quan chặt chẽ đếnđặc điểm hóa keo của nguyên sinh chất, đặc điểm của quá trình trao đổi chất.Tính chịu hạn của cây đậu tương là tính trạng đa gen Chúng thể hiện ở nhiềukhía cạnh khác nhau như: sự phát triển của bộ rễ, tính chín sớm tương đối, cũngnhư bản chất di truyền của từng giống có khả năng sử dụng nước tiết kiệmtrong quá trình sinh trưởng và phát triển của cây Căn cứ vào đặc điểm này, đậutương được chia làm hai nhóm [7]: Nhóm thứ nhất, chịu được sự mất nướctrong từng giai đoạn phát triển của cây Và nhóm thứ hai, chịu được sự thiếunước trong tất cả giai đoạn phát triển của cây
Ở giai đoạn cây con khi gặp hạn, đậu tương có thể dễ vượt qua hơn, còn
ở những giai đoạn sau như giai đoạn ra hoa, kết quả, hạt chín sữa mà gặp hạnthì sẽ dẫn đến năng suất giảm đáng kể
Trong những năm gần đây các nhà khoa học đã có những thành công khinghiên cứu sâu hơn tính chịu hạn của cây đậu tương ở mức phân tử Maitra và
Trang 25Cushman (1994) đã phân lập được cDNA của dehydrin từ lá cây đậu tương khi
bị mất nước, ngoài ra các tác giả còn phân lập được cDNA của LEA nhóm D
-95 từ lá và rễ cây đậu tương khi bị hạn [39] Misaka và cộng sự (1996), đãnghiên cứu phân lập thành công cDNA của gen mã hóa cho cystatin từ cây đậutương Đoạn cDNA này có kích thước 1175 nucleotide với trình tự mã hóa cóchiều dài 737 nucleotide bắt đầu từ vị trí 48 đến 785 mã hóa cho chuỗipolypeptide dài 245 amino acid [41] Jinn và cộng sự (1997) đã nghiên cứu vềsHSP nhóm 1 (15 - 18 kDa), đã nhận thấy chúng tăng lên lượng lớn trong mầmđậu tương dưới tác động của nhiệt độ được tìm thấy dưới cấu trúc dạng hạttrong nguyên sinh chất và trong nhân cùng với protein bị biến tính [29]
Ở Việt Nam đã có một số công trình nghiên cứu phân lập các gen về khảnăng chịu nóng chịu hạn ở cây đậu tương Năm 2009, Nguyễn Thúy Hường vàcộng sự đã phân lập được gen P5CS ở đậu tương từ mRNA với kích thước
2148 bp và phân tích đặc điểm của gen P5CS phân lập từ cây đậu tương GenP5CS là nhân tố giới hạn cho nhịp độ tổng hợp proline ở thực vật trong nhữngđiều kiện do hạn và mặn gây nên giống đậu tương địa phương của nhóm nghiêncứu Chu Hoàng Mậu và cộng sự (2008) [9]
1.3 Gen liên quan đến khả năng chịu hạn của cây đậu tương
1.3.1 Các gen chức năng
Một hướng nghiên cứu phát triển mạnh trong những năm gần đây đó làtìm hiểu chức năng của gen, làm căn cứ để cải thiện hệ gen của sinh vật theohướng có lợi cho con người Các gen chức năng có liên quan đến khả năngchống chịu hạn của thực vật gồm nhiều loại Một số loại thường được nghiêncứu gần đây như: HSP và môi giới phân tử, LEA, LTP, P5CS, CYS,…
Nhóm HSP (Heat Shock Protein) và môi giới phân tử
HSP có hầu hết ở các loại thực vật như: lúa mì, lúa mạch, lúa gạo, ngô,đậu, hành, tỏi…HSP là protein được tổng hợp khi tế bào gặp điều kiện bất lợi
do môi trường như nóng, khô, muối cao Bình thường, HSP xuất hiện trong
Trang 26quá trình sinh trưởng của các giai đoạn biệt hóa mô và cả trong thời kỳ sinhtrưởng của thực vật [29] HSP được chia làm 6 nhóm khác nhau dựa vào khốilượng phân tử là: HSP110, HSP90, HSP70, HSP60, HSP20, HSP8,5 Trong đó,HSP70 và HSP60 có đại diện của chất môi giới phân tử (MGPT - gọi làchaperonin) Môi giới phân tử (MGPT) hay chaperone được sử dụng lần đầutiên vào năm 1978 khi Laskey và các đồng nghiệp mô tả tính chất củanucleoplasmin, protein nhân có tính acid Protein môi giới phân tử là một nhómgồm nhiều loại protein khác nhau, nhưng có cùng chức năng tham gia tạo cấutrúc không gian đúng cho protein mới tổng hợp từ bước đầu tiên đến bước cuốicùng, ngay từ trong ribosome; chuyển protein qua màng; duy trì cấu trúc đặchiệu của protein; ngăn chặn sự hủy hoại protein chưa tạo cấu trúc đúng; khởiđầu cho sự phân giải protein bị biến tính Như vậy, protein môi giới phân tử cóchức năng rất quan trọng khi các tế bào gặp điều kiện cực đoan, nhất là sốcnhiệt [7].
Công trình nghiên cứu đầu tiên về MGPT ở thực vật liên quan đếnenzyme riboluasebisphosphas caboxylase/ oxygenase (Rubisco) Rubisco xúctác phản ứng tổng hợp chất hữu cơ từ CO2 tự do trong quá trình quang hợp Đểtạo cấu trúc không gian đúng cho Rubisco cần một loại protein đặc hiệu gắn vớinhững tiểu đơn vị chính của phức chất này (Rubisco binding protein - RBP).RBP chính là MGPT [25]
MGPT chia thành hai nhóm sau: HSP 70 là nhóm MGPT có hoạt tínhATP - ase và có tính bảo thủ cao Trong điều kiện cực đoan HSP có thể ngănchặn sự co cụm và kết tụ protein; HSP 60 (Chaperonin) là loại protein cấu tạo
từ các tiểu đơn vị có khối lượng 60 kDa và cũng có hoạt tính ATP - ase [25]
Ở cây đậu tương, gen HSP60 đã được nghiên cứu bởi nhóm tác giả Yang
và cộng sự (2008) đăng kí trên Ngân hàng gen Quốc tế với mã số EU036414,
có kích thước là 498 bp [54] Cũng năm 2008, Lei và cộng sự đã phân lập gen
được GmHSP70 có kích thước 1683bp [30].
Trang 27Nhóm HSP 8,5 (Ubiquitin) có chức năng bảo vệ cho tế bào nhưng khôngphải là MGPT, chúng có hoạt tính proteinase và thực hiện chức năng phân giảiprotein nhưng không có hoạt tính enzyme, ngăn chặn các protein này gây độccho tế bào [7].
Các nhóm HSP100, HSP90 đều có tính bảo thủ cao và có hoạt tínhATPase Một số tìm thấy trong tế bào bình thường nhưng phần lớn chúng sinh
ra khi gặp các điều kiện ngoại cảnh bất lợi như hạn, nóng, lạnh Chức năngchính của chúng là ngăn chặn sự co cụm của protein và tái hoạt hoá proteinbiến tính
Trong tế bào thực vật, HSP tập trung thành các hạt sốc nhiệt HSG (HeatShock Granules) Quan sát dưới kính hiển vi điện tử, các hạt HSG gồm các hạtHSP và mRNA Các HSP gắn kết trên các RNA polymerase để ngăn cản sựphiên mã tổng hợp mRNA trong quá trình bị stress nóng Sau sốc nóng, các hạtnày phân tán và liên kết dày đặc với các ribosome hoạt động sinh tổng hợpprotein [7], [29], [30]
Nhóm LEA (Late embryogenesis abundant protein - protein tích lũy với
số lượng lớn để hình thành phôi).
Protein LEA được tổng hợp và tích lũy trong mầm hạt ở giai đoạn cuốikhi mất nước tham gia bảo vệ giữ nguyên vẹn cấu trúc của mầm khi mất nước,ngăn chặn protein trong tế bào khỏi kết tụ và biến tính khi gặp điều kiện cựcđoan [55] Loại protein này trên thực tế không có trong phôi mầm hạt chưa chín
và mầm non Nhưng sự xuất hiện của chúng thường gắn liền sự gia tăng hàmlượng ABA nội bào trong quá trình hình thành hạt, đặc biệt giai đoạn hạt chín
Bray (2000) đã chia protein LEA thành 5 nhóm chính: protein D19; LEA2-D11; LEA3-D7; LEA4-D95 và LEA5-D113 Các protein nàygiống nhau có sự tồn tại của những vùng bảo thủ cao và các tính chất khác bảođảm cho chúng thực hiện các chức năng chống chịu hạn Những đặc điểm nổibật trong cấu trúc phân tử của protein LEA là giàu amino acid ưa nước, không
Trang 28LEA1-chứa Cysteine và Tryptophan, có vùng xoắn α và có khả năng chịu nhiệt Nóthực hiện các chức năng như cô lập ion, bảo vệ protein màng tế bào, phân hủyprotein biến tính, điều chỉnh áp suất thẩm thấu [7], [45].
Trong đó, nhóm LEA2-D11 còn gọi là dehydrin được nghiên cứu kĩ hơn
cả Dehydrin có khả năng bền nhiệt và có thể giữ nguyên vẹn cấu trúc không bịthay đổi trong dung dịch nước ở nhiệt độ đến 1000C Cấu trúc phân tử củachúng giàu gốc Gly và Lys, không có gốc Cys và Trp Dehydrin có chức năngbảo vệ tế bào khi mất nước Năm 2005, Porcel và cộng sự đã phân lập genLEA-D11 ở cây đậu tương và đăng ký trên ngân hàng gen NCBI với mã sốAJ704824, kích thước 641 bp [45]
Ở Việt Nam, nhóm tác giả Trần Thị Phương Liên và cộng sự, (2003), đãphân lập gen Dehydrin ở đậu tương và đã đăng ký trên ngân hàng gen NCBIvới mã số là AJ583799, kích thước là 681 bp [49]
Nhóm Protein vận chuyển lipid (LTP - Lipid Transfer Protein)
LTP thuộc họ gen pathogenesis - relate là protein có liên quan tới đặctính chịu khô hạn ở thực vật, có khả năng tổng hợp protein thúc đẩy quá trìnhvận chuyển photpholipid giữa các màng Khi bị stress hạn, LTP được kích thíchtăng tổng hợp ngoại bì giúp thực vật có thể giảm mất nước nhờ tăng độ dày củalớp vỏ ngoài LTP có khả năng tạo phức với một số acid béo và xúc tác cho quátrình vận chuyển lipid qua màng tế bào, giúp hạn chế sự mất nước Bên cạnh
đó, LTP còn liên quan đến quá trình hình thành tầng cutin của tế bào thực vật,làm tăng khả năng chống chịu và hạn chế tác hại của stress môi trường (muối,hạn) LTP được chia thành hai dạng khác nhau về khối lượng phân tử Dạngthứ nhất có khối lượng phân tử khoảng 9 kDa (LTP1) và dạng thứ hai có khốilượng phân tử khoảng 7 kDa (LTP2) Cả LTP1 và LTP2 đều có một vùng bảothủ gồm 8 amino acid loại cystatin và 4 amino acid loại proline [35]
Gen LTP đã được phân lập ở cây đậu xanh và công bố trên ngân hànggen bởi tác giả Liu và cộng sự (2004), về việc nghiên cứu phân lập gen LTP1
Trang 29và LPT2 từ mRNA ở cây đậu xanh với kích thước tương ứng 576 bp và 687 bp,đăng kí trên ngân hàng gen với mã số AY300806 và AY300807 [35].
Ngoài ra, gen LTP còn được phân lập ở cây lúa (Oryza sativa) [42]
Nhóm P5CS (Pyroline - 5 - carboylate synthetase - Enzyme có vai tròtrong quá trình tổng hợp proline)
Enzyme này xúc tác cho hai phản ứng đầu tiên của quá trình sinh tổnghợp proline và giữ vai trò trung tâm trong quá trình điều hòa sự sinh tổng hợpproline thực vật [26], [58] Các nghiên cứu cho thấy enzyme này được sử dụng
để điều khiển hàm lượng proline thích ứng và tăng cường khả năng chống chịuvới các điều kiện bất lợi về áp suất thẩm thấu; bảo vệ cấu trúc protein và nângcao hoạt tính của nhiều loại enzyme khác nhau; chống oxy hóa với chức năngphân cắt các gốc oxy phản ứng và bất hoạt các gốc oxy tự do P5CS là enzymehai chức năng và có cấu trúc gồm hai domain xúc tác của hai enzyme làglutamin kinase và glutamic seminaldehyde synthase [6], [26]
Ở cây đậu tương, Porcel và cộng sự (2005) đã nghiên cứu phân lập genP5CS và đăng ký trên ngân hàng gen NCBI, mã số là AJ715851, kích thước là
831 bp [47] Tại Việt Nam, gen P5CS được Nguyễn Thị Thúy Hường và cộng
sự phân lập năm 2009 với kích thước 2148 bp từ mRNA [44]
Nhóm Cystatin (CYS)
Cystatin (CYS) là một dạng protein ức chế hoạt động của cysteineprotease Cystatin được phân bố ở cả thực vật, động vật và vi sinh vật cho thấyđây là nhóm chất đóng vai trò quan trọng với sự tồn tại, sinh trưởng và pháttriển của sinh vật [11], [41], [52] Đối với cystatin thực vật, các gen có kíchthước không giống nhau, ví dụ ở Lạc gen cystatin được phân lập từ một sốdòng lạc có nguồn gốc từ mô sẹo chịu xử lý bởi một số tác nhân khác nhau,song đều có kích thước 461 bp [11] và mã hóa cho phân tử protein gồm 98amino acid Khi thực vật gặp hạn, cystatin protease hiện diện như nhữngprotease tham gia vào quá trình thủy phân protein dự trữ Protein CYS của mọi
Trang 30loài thực vật đều có trình tự tripeptid bảo thủ là FAV (Phenylalanin alanin valin) ở gần đầu NH2 và 1 dipeptid bảo thủ ở gần đầu COOH là PW(Phenylalanin - tyrosin) Các trình tự bảo thủ được ghi nhận rất quan trọng vớiviệc kết hợp với enzyme mà chúng ức chế hoạt động Hiện nay, cystatin đượcchia thành 3 họ nhỏ là họ cystatin-1 có khối lượng phân tử khoảng 11 kDa, họcystatin-2, có khối lượng phân tử khoảng 13 - 24 kDa và họ cystatin-3 có khốilượng phân tử lớn hơn 60 - 120 kDa Sự phân loại này dựa vào sự tương tự vềtrình tự cấu trúc cơ sở, khối lượng phân tử, số lượng các cầu nối disulfide và sựđịnh vị của chúng trong tế bào [11], [41].
-Ở đậu tương, Misaka và cộng sự (1996), đã nghiên cứu phân lập thànhcông cDNA của gen mã hóa cho cystatin Đoạn cDNA này có kích thước 1175nucleotide với trình tự mã hóa có chiều dài 737 nucleotide bắt đầu từ vị trí 48đến 785 mã hóa cho chuỗi polypeptide dài 245 amino acid (mã số trên ngânhàng NCBI là BAA19608) [41]
1.3.2 Gen DREB và DREB2
Mọi gen trong tế bào được biểu hiện mạnh hoặc yếu dưới sự điều khiểncủa các yếu tố phiên mã - TF (transcription factor) Nhóm gen mã hóa nhân tốphiên mã mặc dù không tham gia trực tiếp vào phản ứng đáp ứng với điều kiệnhạn ở thực vật nhưng chúng lại có vai trò kích hoạt sự biểu hiện của rất nhiềugen chức năng khác tham gia vào quá trình đáp ứng hạn, dẫn tới làm tăngcường khả năng chịu hạn ở thực vật [5] Đặc điểm đặc trưng của các nhân tốphiên mã là có hai vùng hoạt động (domain): (1) Vùng hoạt hoá các proteinchức năng (activation domain) và (2) vùng liên kết (binding domain) với cáctrật tự DNA đặc hiệu (cis-acting element) trên vùng khởi động gen (promoter).Các nhân tố phiên mã điều hòa biểu hiện các gen chức năng tăng cường tínhchịu hạn phân loại dựa vào trật tự DNA đặc hiệu mà chúng liên kết Vùng khởiđộng gen của hầu hết các gen liên quan đến tính chịu hạn thường chứa mộthoặc nhiều trật tự DNA đặc hiệu, phổ biến là ABRE (ABA responsive element
Trang 31- yếu tố đáp ứng ABA) và DRE/ CRT (Dehydration responsive element/ Crepeat - yếu tố/đoạn C lặp lại đáp ứng hạn), NAC, MYB với chức năng tươngứng là điểm bám của các nhân tố phiên mã biểu hiện phụ thuộc và không phụthuộc vào nồng độ ABA [55].
TF là các protein có khả năng nhận biết các trình tự cis - yếu tố điều hòa
sự phiên mã đặc hiệu trên promoter và hoạt hóa sự phiên mã Yếu tố cis chứa
trình tự hộp GC là một trình tự dài 11 bp (5’- C/AACACGTGGCA - 3’) nằm ởphía trước của rất nhiều gen mã hóa cho các tiểu đơn vị nhỏ của ribulosebiphosphate carboxylase [23], [55] Các protein tham gia điều khiển biểu hiệngen có chức năng trong việc phản ứng với điều kiện cực đoan nhờ các motif(tiết tấu trình tự) có khả năng gắn với DNA như bZIP, MYB, MYC…Các yếu
tố cực đoan tác động lên TF, TF hoạt hóa khả năng phát hiện và gắn với DNAtạo thành đường dẫn truyền tín hiệu phức tạp: từ sự nhận biết, cảm ứng với điềukiện môi trường đến việc tổng hợp hoocmon như ABA, sau đó hoạt hóa các TF[23] Phần lớn các protein cảm ứng với ABA được xếp vào nhóm RAB Một sốgen có thể biểu hiện trong điều kiện thiếu ABA Trong đó, DRE (DehydrationResponsive Element) là yếu tố điều hòa không phụ thuộc ABA Yếu tố DREphản ứng với sự mất nước có trình tự dài 9 bp nằm trên promoter làTACCGACAT [22] Trong đó, vùng quan trọng nhất của tiết tấu trình tự DRE
là vùng lặp lại giàu C (CRT - C repeat) với trình tự là CCGAC Các yếu tốprotein gắn với trình tự DRE (DRE binding proteins - DREBs) ở vùngpromoter đã được nghiên cứu và phân lập Những protein này chứa các vùngbảo thủ như các protein EREBP (ethylene responsive binding protein - tham giabiểu hiện ethylene) và AP2 (Apetala2 - tham gia vào quá trình biểu hiện ở thựcvật có hoa) Các protein này còn được ký hiệu là nhân tố gắn với CRT (CRTbinding factor - CBF) Chúng phản ứng rất nhanh với trạng thái cực đoan, trướckhi xuất hiện lượng ABA đáng kể [23], [29] Protein AP2 là protein điều hòathực vật đóng vai trò trong việc kiểm soát sự phát triển của thực vật
Trang 32DREB (Dehydration Responsive Binding protein) là họ gen tổng hợp
protein được tìm thấy trong thực vật khi gặp điều kiện bất lợi như hạn, mặn vàlạnh Các nhà khoa học cho rằng, DREB là nhân tố phiên mã tham gia tích cựcvào quá trình kích hoạt nhanh hoạt động của các gen tham gia chống lại các
điều kiện bất lợi từ môi trường [22], [32] DREB đã được các nhà khoa học trên
thế giới quan tâm và nghiên cứu từ những năm 80 của thế kỷ XX, tập trung vàocác giống cây trồng như hoa cúc [35], hướng dương [23], ngô [47], lúa [24]…
và đã thu được nhiều kết quả trong việc cải thiện khả năng chống chịu của thựcvật trong điều kiện khắc nghiệt của môi trường Ngoài ra, các nhà khoa học
Trung Quốc, Đức, Pháp, Mỹ… đã nghiên cứu giải trình tự gen DREB trên các đối tượng cây trồng khác nhau như Arabidopsis [37], lúa mì [28], thuốc lá [38]
…và so sánh trình tự gen của các loài cây trồng với hoang dại thấy rằng sự saikhác giữa chúng Từ đó, họ nghiên cứu tạo ra các giống cây trồng mới có khảnăng chống chịu cao hơn nhờ phương pháp chuyển gen
Ở cây Arabidopsis trên cơ sở số lượng và sự giống nhau của các miền
gắn vào DNA, 145 nhân tố phiên mã được phân thành 5 nhóm: AP2 (14 gen),
RAV (6 gen), DREB (56 gen), ERF (còn gọi là EREBP, 65 gen) và nhóm gen
khác (4 gen) Trên cơ sở tương tự và đặc tính cấu trúc của chuỗi amino acid, 10
họ gen DREB (kí hiệu từ DREB2 đến DREB11) được phân thành 5 nhóm, nhóm thứ nhất gồm DREB3, DREB4, DREB4 và DREB5; nhóm thứ hai gồm W5, DREB6, DREB7 và DREB1; nhóm thứ ba gồm DREB2 và DREB8; nhóm thứ tư gồm có DREB9 và DREB10; nhóm thứ năm gồm DREB11, ERF1 và ERF2 [37], [50] Hai gen DREB2A và DREB2B chỉ biểu hiện trong điều kiện
hạn và hoạt hoá các gen chức năng tham gia vào tính chịu hạn của thực vật
Tuy nhiên, biểu hiện của các gen DREB2A và DREB2B không làm tăng tính kháng hạn của các cây Arabidopsis chuyển gen, điều này chứng tỏ nhóm gen
này cần quá trình sửa đổi sau phiên mã ví dụ như qua quá trình phosphoryl hóa
để chuyển protein sang dạng hoạt hoá [27] Gen DREB2A được thay đổi cấu
Trang 33trúc để loại bỏ 30 amino acid tương ứng với trật tự từ 136 đến 165 để tạo ra
dạng DREB2ACA Kết quả, sự biểu hiện của gen DREB2ACA giúp cây chuyển gen Arabidopsis tăng cường đáng kể tính chịu hạn Các phân tích sử dụng kỹ thuật DNA microarray và Northern blot đã chứng minh là gen DREB2ACA điều
khiển sự biểu hiện của rất nhiều gen chức năng tham gia vào tính kháng hạn ởthực vật [27], [37]
Ở lúa (Oryza sativa L.) gen DREB, kí hiệu là OsDREB, Dubouzet và cộng sự (2003), đã nghiên cứu phân lập 5 họ gen DREB: OsDREB1A, OsDREB1B, OsDREB1C, OsDREB1D và OsDREB2A Biểu hiện của OsDREB1A và OsDREB1B được gây ra bởi lạnh, còn biểu hiện của OsDREB2A được gây ra bởi hạn và muối cao Qua biểu hiện của OsDREB1A trong Arabidopsis chuyển gen làm tăng khả năng chịu hạn, mặn và lạnh Các
phân tích sử dụng kỹ thuật ADN microarray và Northern blot đã chứng minh là
OsDREB1A rất hữu ích trong việc tạo cây một lá mầm biến đổi gen có khả năng chịu hạn hán, mặn và lạnh Gen OsDREB1A (được đăng kí trên Ngân
hàng gen Quốc tế với mã số AF300970) có chiều dài 909 nucleotide, gồm phần
mã hóa gen có chiều dài 720 nucleotide mã hóa 240 amino acid, phần không
mã hóa đầu 5’ có chiều dài 80 nucleotide và phần không mã hóa gen đầu 3’ cóchiều dài 109 nucleotide [24]
Ở Ngô (Zea May), Quin và cộng sự (2007), đã phân lập gen ZmDREB2A
có chiều dài 1283 bp gồm phần mã hóa gen có chiều dài 954 bp mã hóa cho
318 amino acid, phần không mã hóa gen đầu 5’ có chiều dài 400 bp và phầnkhông mã hóa gen đầu 3’ có chiều 204 bp [47]
Diaz-Martin và cộng sự (2008), đã phân lập gen DREB2 từ mRNA của cây hướng dương (Helianthus annuus) và công bố trên ngân hàng gen quốc tế
với mã số AY508007 có kích thước 1301 bp, mã hóa cho 314 amino acid [23]
Javad và cộng sự (2009) đã phân lập 4 gen DREB từ mRNA đặc trưng của bốn giống lúa mì Alvand, Bayat, Darab1 và Shahi ở Iran và đã công bố
Trang 34trình tự gen trên ngân hàng gen quốc tế với mã số lần lượt là FC556845,FC556846, FC556847, FC556850 có kích thước là 500 bp, với sự tương đồng
về trình tự gen của bốn giống này khá cao là 99% Nghiên cứu protein suy luậncủa các gen này, cho thấy, chúng có chứa vùng AP2 với ba chuỗi β - sheet vàmột đường xoắn ốc, gồm 57 amino acid bảo tồn vị trí valine thứ 14 và glutamicthứ 19 [28]
đã công bố trình tự gen trên ngân hàng gen quốc tế với mã số EU727158
699 bp, mã hóa cho 232 amino acid, trong đó vùng AP2 chứa 59
amino acid [38] Các tác giả này cũng đã phân lập gen DREB2 từ mRNA ở cây
thuốc lá và công bố trình tự gen trên ngân hàng gen quốc tế với mã số EU727156 có kích thước là 648 bp, mã hóa cho 215 amino acid, trong đó vùng AP2 chứa 59 amino acid [38]
Liu và cộng sự (2007) đã nghiên cứu gen DREB2 ở cây hoa cúc (Dendranthema vestitum, kí hiệu DvDREB2A) DvDREB2A được phân lập có
chứa một khung đọc mở (open reading frame - ORF) dài 1.471 bp mã hóa 366
amino acid và được xếp vào phân họ DREB2 dựa trên sự liên kết nhiều trình tự.
Trong đó, trình tự protein điển hình chứa AP2/EREBP với các điểm gắn DNAgần khu vực N Trong một phân tích, protein DvDREB2A đã bị ràng buộc bởiyếu tố DRE (AGCCGAC) và kích hoạt sự biểu hiện của HIS3 và giải phóng
lacZ Các thí nghiệm cho thấy mức độ biểu hiện của DvDREB2A đã bị ảnh
hưởng đáng kể bởi nhiệt, nhiệt độ thấp, hạn hán, độ mặn cao Như vậy, gen
DvDREB2A là một yếu tố mới của các yếu tố phiên mã DREB, có thể đóng một
vai trò quan trọng trong việc tăng khả năng chịu áp lực môi trường [35]
Nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu ở cây đậu tương về protein DREB và
thu được thành quả nhất định cho khoa học như: Liu và cộng sự (2005) đã
nghiên cứu phân lập gen DREB3 từ mRNA ở cây đậu tương với kích thước 819
bp, mã hóa cho 272 amino acid, trong đó vùng AP2 chứa 60 amino acid và đượccông bố trình tự gen trên Ngân hàng gen Quốc tế với mã số DQ055133 [36]
Trang 35Chen và cộng sự (2007) đã nghiên cứu phân lập gen DREB5 từ mRNA ở
cây đậu tương với kích thước là 927 bp; Cao và cộng sự (2008), phân lập vànhận dạng GmGβ1 liên quan tới protein GmDREB5 trong đậu tương [18]
Li và cộng sự đã phân lập ba gen DREB (GmDREBa, GmDREBb và GmDREBc) từ cây đậu tương và cho rằng mỗi phân tử protein của các gen này
chứa một miền AP2 gồm 64 amino acid [32] Thực nghiệm đã chứng minh cả 3protein này đều liên quan đến sự mất nước và đáp ứng sự mất nước của tế bào
Ở nấm men, GmDREBa và GmDREBb có khả năng kích hoạt quá trình phiên
mã còn GmDREBc lại không có khả năng này Các protein GmDREBa và GmDREBb trong lá của cây đậu tương được tổng hợp bởi tác động của muối,
hạn, mặn và lạnh
Năm 2009, nhóm tác giả Charlson và cộng sự nghiên cứu phân lập gen
DREB1 ở đậu tương từ DNA tổng số có kích thước là 705 bp với mã số
FJ965342 trên Ngân hàng gen Quốc tế [20], [21]
Ở Việt Nam, Nguyễn Vũ Thanh Thanh và cộng sự, (2008), đã nghiên
cứu phân lập gen DREB1 ở đậu tương từ DNA tổng số có kích thước 705 bp
với mã số đăng kí trên Ngân hàng gen Quốc tế HE647689 [45]
Tsui-Hung Phang và cộng sự, (2008), đã tổng kết phân họ DREB ở đậu tương bao gồm các gen biểu hiện không phụ thuộc vào ABA là GmDREBa, GmDREBb, GmDREBc, GmDREB1, GmDREB2, GmDREB3, GmDREB5, GmDREB6, GmDREB7 [51].
Chen và cộng sự (2007), đã phân lập gen GmDREB2 từ đậu tương và dựa trên sự giống nhau về miền AP2, gen GmDREB2 xếp vào phân họ A5 trong nhóm gen DREB Sự biểu hiện của gen GmDREB2 trong môi trường có
xử lý bởi hạn hán, nồng độ muối cao, nhiệt độ thấp và ABA Sự biểu hiện của
GmDREB2 ở cây thuốc lá chuyển gen được tích lũy cao hơn của hàm lượng
proline [25] Đối với cây đậu tương, chức năng kích hoạt và phiên mã của gen
GmDREB2 là cơ sở quan trọng và hữu ích cho việc cải tiến khả năng chống
chịu và hữu ích cho việc cải tiến khả năng chịu hạn của cây
Trang 36Trên Ngân hàng gen Quốc tế (NCBI) trình tự gen GmDREB2 ở cây đậu
tương đã được công bố bởi các tác giả: Chen và cộng sự (2006), Arumingtyas
và cộng sự (2011)… Theo Chen và cộng sự (2006), nghiên cứu mối quan hệ
giữa GmDREB2 và các gen DREB khác sử dụng phần mềm SMART [55], trình
tự amino acid suy luận của protein GmDREB2 so với sáu protein DREB củađậu tương thì có sự tương đồng với vị trí valine thứ 14 và axit glutamic ở vị trí
thứ 19 trong vùng AP2 Trong đó, GmDREB2 có sự liên quan chặt chẽ với gen GmDREB1 (có mã số trên Ngân hàng gen là AF514908) với 64% sự giống nhau về trình tự amino acid Dựa trên cấu trúc gen GmDREB2 do Chen và cộng
sự công bố năm 2006, cho thấy gen GmDREB2 phân lập từ mRNA của cây đậu
tương có trình tự gồm 480 nucleotide, mã hóa cho 159 amino acid, với mã sốđăng kí trên Ngân hàng gen Quốc tế là DQ054363 [22], [54] Sơ đồ gen đượcbiểu diễn như hình sau:
Hình 1.1 Sơ đồ mô tả gen và vùng mã hóa của gen GmDREB2
ở đậu tương [22]
Hình 1.1 mô tả gen và vùng mã hóa gen GmDREB2 ở đậu tương theo
Chen và cộng sự (2006) [54] Kết quả trên hình cho thấy, đoạn mã hóa của gen
GmDREB2 (đoạn hình màu xanh lá cây) có kích thước 480 nucleotid là kết quả
của quá trình phiên mã ngược từ phân tử mRNA sau khi tách chiết và thu nhận
từ RNA tổng số Đoạn hình màu xanh nước biển là phân tử mRNA cũng có 480nucleotid Phân tử mRNA dài 480 nucleotid trưởng thành sẽ dịch mã tạo chuỗipolypeptid chứa 159 amino acid (đoạn hình màu đỏ)