1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Chuyên đề nghiên cứu: KINH NGHIỆM NƯỚC NGOÀI VỀ PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP

19 129 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 227,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

2- Tiêu chí xác định một doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản Cho đến nay, có ba tiêu chí xác định một doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản thường được sử dụng trong pháp luật về p

Trang 1

TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

Chuyên đề nghiên cứu:

KINH NGHIỆM NƯỚC NGOÀI VỀ PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP

ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI

VIỆN NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP

Trang 2

Hà Nội, tháng 10 năm 2013

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

- LỜI GIỚI THIỆU- 3

I- KHÁI QUÁT CHUNG VỀ PHÁP LUẬT PHÁ SẢN Ở CÁC NƯỚC 4

1- Về tên gọi và phạm vi điều chỉnh của Luật pháp sản 4

2- Tiêu chí xác định một doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản 5

3- Cơ quan có thẩm quyền giải quyết phá sản và mục đích của việc tiến hành thủ tục giải quyết phá sản 9

4- Chủ thể có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản 11

5- Thủ tục phục hồi và thủ tục thanh lý 11

6- Người quản lý tài sản, thanh lý tài sản 13

II- MỘT SỐ BÀI HỌC KINH NGHIỆM NƯỚC NGOÀI VỀ PHÁP LUẬT PHÁ SẢN CHO VIỆT NAM 14

- TÀI LIỆU THAM KHẢO - 18

Trang 4

- LỜI GIỚI

THIỆU-Hiện nay, việc phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã ở nước ta được điều chỉnh trong Luật phá sản năm 2004 và một số văn bản pháp luật khác Các văn bản quy phạm pháp luật này đã và đang góp phần đem lại kết quả nhất định trong việc giải quyết phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã.

Tuy nhiên, các quy định của pháp luật về phá sản doanh nghiệp, hợp tác

xã ở nước ta, trong đó có các quy định của Luật phá sản năm 2004 sau hơn 8 năm thực hiện đã bộc lộ nhiều bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn

Trước tình hình đó, dự án Luật phá sản (sửa đổi) đã được khẩn trương xây dựng và sẽ trình Quốc hội khóa XIII xem xét, cho ý kiến tại kỳ họp thứ 6 này.

Nhằm góp phần cung cấp thêm thông tin nghiên cứu kinh nghiệm pháp luật nước ngoài về phá sản doanh nghiệp phục vụ Quốc hội và các cơ quan nhà nước hữu quan trong quá trình xem xét, thông qua dự án Luật này, Trung tâm Nghiên cứu khoa học, Viện Nghiên cứu lập pháp đã tổ chức nghiên cứu chuyên

đề “Kinh nghiệm nước ngoài về phá sản doanh nghiệp” 1 và xin trân trọng giới thiệu kết quả nghiên cứu chuyên đề này với các vị đại biểu Quốc hội.

ššš

1

TS Lương Minh Tuân là người thực hiện Tài liệu này có sử dụng kết quả nghiên cứu của Đề tài cấp bộ do TS.

Lương Minh Tuân làm Chủ nhiệm.

Trang 5

I- KHÁI QUÁT CHUNG VỀ PHÁP LUẬT PHÁ SẢN Ở CÁC NƯỚC

1- Về tên gọi và phạm vi điều chỉnh của Luật pháp sản

Trong nền kinh tế thị trường, tình trạng phá sản doanh nghiệp là hậu quả tất yếu của quá trình cạnh tranh trong kinh doanh trên thương trường Việc giải quyết phá sản là nhiệm vụ của các nước có nền kinh tế thị trường nhằm đảm bảo một môi trường kinh doanh lành mạnh cho các chủ thể tham gia kinh doanh

Bên cạnh đó, lịch sử cũng cho thấy, ở các nước có nền kinh tế thị trường thì thường trải qua những thời kỳ kinh tế phát triển thịnh vượng và thời kỳ suy thoái, khủng hoảng kinh tế Trong thời kỳ suy thoái, khủng hoảng kinh tế, số lượng doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, lâm vào tình trạng phá sản tăng lên bất thường

Để giải quyết tình trạng phá sản một cách hiệu quả, đảm bảo trật tự, an toàn xã hội và đồng thời bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của các bên liên quan (các chủ nợ, doanh nghiệp mắc nợ, …) thì nhiều nước trên thế giới đã ban hành đạo luật phá sản, mặc dù các đạo luật phá sản ở các nước có tên gọi và phạm vi điều chỉnh không hoàn toàn giống nhau Ví dụ như ở Nam Tư có Luật cưỡng chế hoà giải phá sản (năm 1905); ở Anh có Luật về mất khả năng thanh toán, Luật treo giò giám đốc công ty (năm 1986); ở Hàn Quốc có Luật cam kết

và Luật tổ chức lại công ty2; ở Đức từ thời Đế chế Đức có Luật phá sản (năm 1877) với tên gọi là “Reichskonkursordung” và được thay thế bằng Luật phá sản năm 1994 (có hiệu lực từ năm 1999) với tên gọi Luật về khả năng thanh toán

“Insolvenzordnung”; Cộng hòa Pháp có Luật phá sản (năm 1985; được sửa đổi,

bổ sung theo Luật phá sản năm 1994); …

Luật phá sản doanh nghiệp Trung Quốc lần đầu tiên được thông qua năm

1986 Luật này chỉ áp dụng cho các doanh nghiệp nhà nước Ngày 27/8/2006, Luật phá sản doanh nghiệp mới của Trung Quốc được ban hành với 136 điều và

có hiệu lực kể từ ngày 01/6/2007 Luật này chỉ áp dụng ở Trung Hoa đại lục, không áp dụng ở các vùng lãnh thổ như Hồng Kông, Ma Cao và Đài Loan; áp dụng cho tất cả các loại hình doanh nghiệp, không phân biệt doanh nghiệp tư hay doanh nghiệp công, áp dụng cả đối với các doanh nghiệp nước ngoài hoạt động tại Trung Quốc, nhưng không áp dụng đối với cá nhân

Do hoàn cảnh lịch sử nên hệ thống pháp luật về phá sản của Nhật Bản không được quy định trong một văn bản pháp luật mà được quy định trong nhiều đạo luật khác nhau và được ban hành tại nhiều thời điểm khác nhau Các văn bản pháp luật có quy định về vấn đề này có thể kể đến là Luật phá sản (năm 1922) điều chỉnh thủ tục thanh lý tài sản, áp dụng đối với tất cả các đối tượng mắc nợ; Bộ luật về phục hồi dân sự (năm 1999; năm 2000) điều chỉnh thủ tục phục hồi, áp dụng đối với tất cả các đối tượng mắc nợ; Luật về tổ chức lại công

ty (năm 1952); Bộ luật thương mại (năm 1938); Luật về thoả hiệp (năm 1922; năm 2000)

2

Xem Phan Thị Thu Hà, Tìm hiểu pháp luật phá sản trên thế giới.

Trang 6

Luật phá sản đầu tiên của Hoa kỳ được thông qua năm 1800 thay thế pháp luật về mất khả năng thanh toán của các tiểu bang Nội dung của Luật này giống với Luật phá sản của Anh năm 1705, ngoại trừ sự khác biệt là không áp dụng hình phạt tù đối với các thương nhân bị phá sản Sau đó vào năm 1841, Luật phá sản năm 1800 của Hoa Kỳ được sửa đổi theo hướng xóa bỏ hoàn toàn hình phạt

tù đối với mọi chủ thể bị phá sản và việc đệ đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố phá sản không chỉ còn là quyền của các chủ nợ mà còn là quyền của các con nợ Trong các thập kỷ tiếp theo Luật phá sản của Hoa Kỳ được điều chỉnh theo hướng tăng quyền của con nợ trong việc giải quyết thủ tục phá sản Luật phá sản hiện hành của Hoa Kỳ được ban hành năm 1978 và được sửa đổi năm 1984 và năm 2005, quy định hai loại phá sản: phá sản toàn phần (Mục 7) và phá sản một phần (Mục 13)3.Tuy nhiên, các định chế tài chính – các doanh nghiệp đặc thù như công ty chứng khoán (CTCK), ngân hàng thương mại (NHTM) không được điều chỉnh trong Luật phá sản hiện hành của Hoa Kỳ mà được điều chỉnh bởi các luật phá sản riêng hoặc các luật khác có liên quan về phá sản đối với từng chủ thể

Ở một số nước trên thế giới như Cộng hòa liên bang Đức (CHLB Đức), Nhật Bản, v.v , pháp luật phá sản đã điều chỉnh cả các quan hệ kinh doanh của các cá nhân, phá sản tiêu dùng

2- Tiêu chí xác định một doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản

Cho đến nay, có ba tiêu chí xác định một doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản thường được sử dụng trong pháp luật về phá sản ở các nước trên thế giới, cụ thể là:

a) Tiêu chí “định lượng”

Theo tiêu chí này thì một doanh nghiệp bị coi là lâm vào tình trạng phá sản khi không thanh toán được một khoản nợ đến hạn có giá trị tối thiểu đã được

ấn định trong Luật phá sản Theo Luật phá sản của Vương quốc Anh số tiền này

là 50 Bảng4, ở Singapore là trên 2000$ Singapore5,

- Ưu điểm:

Tiêu chí “định lượng” được thiết kế ban đầu nhằm hạn chế bớt những đối tượng cần phải áp dụng Luật phá sản Mặt khác, cách làm này đã cho phép Toà

án có thể mở thủ tục phá sản doanh nghiệp đối với bất cứ trường hợp nào mà không cần phải điều tra về tình hình tài chính của doanh nghiệp mắc nợ Trong một thời gian dài, cách làm này đã làm cho nhiều quốc gia theo hệ thống thông luật “Common Law” vốn có hệ thống án lệ rất phát triển nhanh chóng tiếp thu vì

nó rõ ràng, minh bạch và bảo đảm tính trung lập vốn có của Toà án khi mở thủ tục yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp

- Hạn chế:

3

Lịch sử các đạo luật về phá sản, http://www.russianamericanlawyer.com/history-of-bankruptcy-laws.

4

Nguyễn Tấn Hơn, Phá sản doanh nghiệp một số vấn đề về thực tiễn, Nhà xuất bản chính trị quốc gia, Trang 21.

5

Luật phá sản Singapore “Bankrupcy Act” ngày 15/07/1995.

Trang 7

Tuy nhiên, tiêu chí “định lượng” trong quá trình thực hiện cũng bộc lộ nhiều hạn chế Cụ thể là không bảo đảm tính chính xác trong việc đánh giá tình trạng tài chính của doanh nghiệp mắc nợ vì doanh nghiệp có thể mất khả năng thanh toán nhất thời do các nguyên nhân khác nhau Doanh nghiệp mắc nợ trước sức ép của thủ tục phá sản đã buộc phải bán tài sản của mình với mức giá quá thấp hoặc phải đi đến những thoả hiệp bất bình đẳng trước sức ép của các chủ

nợ, Ngược lại, doanh nghiệp mắc nợ có thể lâm vào tình trạng tài chính bi đát

và không thể khắc phục được nhưng có thể không bị mở thủ tục yêu cầu tuyên

bố phá sản doanh nghiệp do mức nợ của doanh nghiệp đối với các chủ nợ đều dưới mức định lượng mà Luật phá sản cho phép Kết quả là, khi mở thủ tục yêu cầu tuyên bố phá sản đối với doanh nghiệp này thì các mục tiêu chủ yếu của Luật phá sản đã không đạt được

b) Tiêu chí “kế toán”

Tiêu chí này được thực hiện thông qua sổ sách kế toán của doanh nghiệp mắc nợ Nếu như các số liệu kế toán của doanh nghiệp cho thấy tổng giá trị tài sản nợ lớn hơn tổng giá trị tài sản có thì doanh nghiệp đó là doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản Theo tiêu chí này, Toà án chỉ có thể mở thủ tục yêu cầu tuyên bố phá sản một doanh nghiệp khi có các số liệu kế toán chứng minh rằng trong doanh nghiệp đó tổng giá trị tài sản nợ lớn hơn tổng giá trị tài sản có Trừ trường hợp phá sản tự nguyện, Toà án muốn có được bằng chứng kế toán nói trên thì thủ tục phá sản bắt buộc phải là một thủ tục theo Luật công Và như vậy,

rõ ràng tiêu chí “kế toán” đã khác hoàn toàn so với tiêu chí “định lượng” như đã trình bày ở trên

- Ưu điểm:

So với tiêu chí “định lượng”, tiêu chí “kế toán” nhìn chung phản ánh chính xác hơn tình trạng tài chính của doanh nghiệp mắc nợ và nó cho phép thu hẹp hơn phạm vi những doanh nghiệp bị mở thủ tục phá sản Điều này hoàn toàn phù hợp với thực tế, vì có nhiều doanh nghiệp có thể mất khả năng thanh toán

nợ tại một thời điểm nhất định khi có sự mất cân đối nghiêm trọng giữa tài sản

cố định và tài sản lưu động của mình Nhờ có ưu điểm này, tiêu chí “kế toán” đã được tiếp thu một cách nhanh chóng trong Luật phá sản ở các nước như Luật phá sản của Cộng hòa Pháp năm 1967, Luật phá sản của Thái Lan trước năm

1999, Luật phá sản của Liên bang Nga, trong một thời gian dài

- Hạn chế:

Bên cạnh những ưu điểm nêu trên, tiêu chí “kế toán” cũng bộc lộ một số hạn chế như sau:

+ Tài sản của doanh nghiệp được phản ánh trên sổ sách kế toán thường mang tính chất “tĩnh” mặc dù được kiểm kê, đánh giá lại thường xuyên sau khi

đã trích khấu hao trên cơ sở đánh giá đầy đủ hao mòn vô hình và hữu hình Mặc

dù vậy, trong nhiều trường hợp, khi Toà án mở thủ tục phá sản theo tiêu chí này thì doanh nghiệp đã thực sự “phá sản” từ trước đó rất lâu vì nhiều tài sản của doanh nghiệp mắc nợ có giá trị rất thấp hoặc không thể phát mại tại thời điểm đó

Trang 8

do nhiều lý do khác nhau Trong các trường hợp như vậy, các mục tiêu của Luật phá sản không thể thực hiện được

+ Để có thể áp dụng tiêu chí này đòi hỏi hệ thống pháp luật về kế toán, thống kê phải đồng bộ và hiện đại; việc quản lý kế toán, thống kê phải ở trình độ cao và được thực hiện nghiêm túc từ phía Nhà nước và cả phía các doanh nghiệp Yêu cầu này không chỉ tỏ ra quá cao đối với các nước đang phát triển và các nước có nền kinh tế chuyển đổi mà thậm chí cả đối với các nước phát triển

Trên cơ sở nhận thức sâu sắc những bất cập của tiêu chí “kế toán”, Luật phá sản ở nhiều nước có nền kinh tế thị trường phát triển trong những thập kỷ gần đây đã không còn sử dụng nó để xác định một doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản Ví dụ như Luật phá sản liên bang Hoa Kỳ năm 1978, Luật phá sản của Vương quốc Tây Ban Nha, Luật phá sản của Cộng hòa Pháp năm 19856, Luật về mất khả năng thanh toán của Anh (Insolvency Act) năm 19867;

Ở Việt Nam, tiêu chí này cũng đã được sử dụng trong Luật công ty năm

1990 Cụ thể là, Điều 24 của Luật công ty năm 1990 có quy định “Công ty gặp

khó khăn hoặc bị thua lỗ trong hoạt động kinh doanh đến mức tại một thời điểm tổng số trị giá tài sản còn lại của Công ty không đủ thanh toán tổng số các khoản nợ đến hạn, là công ty lâm vào tình trạng phá sản”

c) Tiêu chí định tính “mất khả năng thanh toán”

Tiêu chí này được sử dụng chính thức lần đầu tiên trong Bộ luật phá sản liên bang của Hoa Kỳ năm 1978 để xác định một doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản và sau này được nhiều quốc gia trên thế giới tiếp thu và chuyển hoá vào trong pháp luật phá sản của mình8 Khác với hai tiêu chí đã trình bày ở trên, tiêu chí này hướng trực tiếp đến tính “tức thời của việc trả nợ”, khả năng thanh toán tức thời của doanh nghiệp mắc nợ mà không quan tâm nhiều đến số lượng tài sản hiện có của doanh nghiệp mắc nợ Ở góc độ tài chính-kế toán, tiêu chí này chỉ xem xét chủ yếu đến dòng tiền (cash follow) của doanh nghiệp mắc

nợ khi đánh giá khả năng thanh toán của doanh nghiệp Như vậy, với tiêu chí này, doanh nghiệp bị phá sản không chỉ là những doanh nghiệp không còn hoặc còn rất ít tài sản mà thậm chí còn rất nhiều tài sản song không hoặc chưa thể

“hiện kim” số tài sản đó ngay vì nhiều nguyên nhân khác nhau

Tiêu chí này có ưu điểm là: So với hai tiêu chí đã được trình bày trên, tiêu chí này đã làm cho khả năng mở thủ tục phá sản đối với một doanh nghiệp đến sớm hơn để có thể có những giải pháp “phục hồi” hoặc cho phá sản doanh nghiệp đó một cách kịp thời nhằm bảo vệ một cách có hiệu quả quyền và lợi ích hợp pháp của bản thân doanh nghiệp mắc nợ và các chủ nợ, ngăn chặn hiện tượng phá sản dây chuyền Biện pháp phá sản trong thời kỳ hiện đại như đã trình

6 Nhà pháp luật Việt-Pháp, Kỷ yếu hội thảo Pháp luật về phá sản doanh nghiệp, Hà Nội ngày 8, 9 và 10/01/2001,

trang 9.

7

Xem PGS TS Bùi Nguyên Khánh, Quan niệm về phá sản, phá sản doanh nghiệp, sự khác biệt giữa phá sản

doanh nghiệp và giải thể doanh nghiệp, tại Hội thảo “Pháp luật về phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã ở Việt Nam”

do Viện NCLP tổ chức tại Hà Nội ngày 9/9/2013.

8

Xem thêm: Bùi Nguyên Khánh, Pháp luật phá sản Hoa Kỳ, trang 271-279, trong:Viện nghiên cứu Nhà nước và

pháp luật, “Bước đầu tìm hiểu pháp luật thương mại Mỹ”, Nhà xuất bản khoa học xã hội, 2002.

Trang 9

bày trên còn nhằm mục đích đào thải những doanh nghiệp làm ăn thua lỗ chưa đến mức thật sự “khánh tận”, nhưng có cơ cấu vốn đầu tư không hợp lý và không phù hợp với sự vận động của thị trường Cuộc khủng hoảng tài chính khu vực Đông Nam Á trong những năm cuối của thế kỷ thứ XX đã làm cho nhiều quốc gia trong khu vực phải tư duy lại không chỉ về chính sách đầu tư, cơ cấu đầu tư mà còn về cơ chế phá sản và Luật phá sản của mình

Tiêu chí định tính “mất khả năng thanh toán” được sử dụng cả trong thủ tục phá sản mang tính chất của Luật công và thủ tục phá sản mang tính chất của Luật tư:

- Trong thủ tục phá sản mang tính chất của Luật tư, việc chứng minh doanh nghiệp mắc nợ lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán là công việc của các chủ nợ (trong trường hợp phá sản bắt buộc) và là nghĩa vụ của doanh nghiệp mắc nợ (trong trường hợp phá sản tự nguyện) Tuy nhiên, điều rất đáng lưu ý là, việc chứng minh doanh nghiệp mắc nợ lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán của các chủ nợ được quy định mang tính kỹ thuật thuần tuý mà không đi sâu vào cơ cấu tài chính của doanh nghiệp vì họ không có khả năng làm điều đó Công thức chứng minh thường thấy là: Sau một khoảng thời gian nhận được giấy đòi nợ đến hạn của chủ nợ nhưng doanh nghiệp vẫn chưa thanh toán Chỉ trong trường hợp doanh nghiệp mắc nợ nộp đơn yêu cầu phá sản tự nguyện, việc chứng minh mới đi sâu vào cơ cấu tài chính để đánh giá về tình trạng mất khả năng thanh toán nợ của doanh nghiệp Mô hình này được áp dụng chủ yếu ở các nước theo hệ thống thông luật “Common Law” như Hoa Kỳ, Vương quốc Anh,

- Trong thủ tục phá sản mang tính chất của Luật công, việc chứng minh doanh nghiệp mắc nợ lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán hay không là công việc của Toà án dựa trên đơn đề nghị của các chủ nợ hoặc doanh nghiệp mắc nợ Nói cách khác, điều tra khả năng thanh toán nợ của doanh nghiệp là một thủ tục bắt buộc do Toà án thực hiện trước khi mở thủ tục phá sản doanh nghiệp

Mô hình này được áp dụng chủ yếu ở các nước theo hệ thống pháp luật lục địa

“Continental Law” như Cộng hòa Pháp, Vương quốc Bỉ,

Một số ví dụ:

Theo Luật phá sản hiện hành của CHLB Đức thì lý do phổ biến để mở thủ tục phá sản là mất khả năng thanh toán Trường hợp tài sản của pháp nhân thấp hơn các khoản nợ hiện có của pháp nhân đó cũng được coi là lý do để mở thủ tục phá sản Con nợ được coi là không có khả năng thanh toán, nếu con nợ lâm vào tình trạng không thực hiện được nghĩa vụ thanh toán khoản nợ đến hạn Con

nợ thông thường được coi là mất khả năng thanh toán, nếu con nợ ngừng các hoạt động thanh toán Trường hợp con nợ đệ đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản thì nguy cơ mất khả năng thanh toán cũng được coi là lý do để mở thủ tục phá sản Con nợ sẽ có nguy cơ mất khả năng thanh toán, nếu con nợ tiên đoán trước là không có khả năng thực hiện các nghĩa vụ thanh toán vào thời điểm đến hạn Đối với pháp nhân là con nợ thì nguy cơ mất khả năng thanh toán cũng được coi

là lý do để mở thủ tục phá sản, nếu người đệ đơn là đại diện hợp pháp của pháp nhân

Trang 10

Các căn cứ phá sản theo Luật phá sản Nhật Bản là việc không có khả năng thanh toán và số tài sản cần phải thanh toán lớn hơn tổng số tài sản của con nợ9 Con nợ lâm vào tình trạng thường xuyên và liên tục không thể thanh toán được các khoản nợ đến hạn trong tổng số các khoản nợ, do không có khả năng thanh toán10 Do khó xác định được các tình trạng này nên khái niệm “trì hoãn chi trả” được đưa ra Khi có thể chứng minh được tình trạng “trì hoãn chi trả” thì con nợ được coi là lâm vào tình trạng không có khả năng thanh toán11 Trì hoãn chi trả

là hành động của con nợ biểu hiện ra bên ngoài về việc không thể thanh toán các khoản nợ đến hạn một cách thường xuyên và liên tục Đối với công ty hợp danh

và công ty có thành viên trách nhiệm hữu hạn và trách nhiệm vô hạn thì việc tính khả năng thanh toán chỉ dựa vào tài sản của công ty là không hợp lý Do đó, đối với các công ty này thì số tài sản cần phải thanh toán lớn hơn tổng số tài sản của công ty không được cho là căn cứ phá sản12

Theo Luật phá sản doanh nghiệp liên bang Nga năm 1992 thì tình trạng phá sản doanh nghiệp được hiểu là việc mất khả năng thực hiện yêu cầu của chủ

nợ về thanh toán hàng hóa, dịch vụ, kể cả việc mất khả năng bảo đảm thanh toán, nộp ngân sách do nghĩa vụ thanh toán của doanh nghiệp mắc nợ vượt quá tài sản của mình hoặc do mất cân đối trong cán cân thanh toán của doanh nghiệp mắc nợ Dấu hiệu của tình trạng phá sản doanh nghiệp là việc doanh nghiệp ngừng hoạt động thanh toán bình thường, nếu doanh nghiệp không bảo đảm hoặc rõ ràng không có khả năng thực hiện các yêu cầu thanh toán của chủ nợ trong thời hạn 3 tháng kể từ ngày đến hạn thực hiện các yêu cầu đó Doanh nghiệp bị coi là phá sản kể từ thời điểm Toà án trọng tài công nhận tình trạng phá sản hoặc từ thời điểm doanh nghiệp mắc nợ chính thức tuyên bố phá sản tự nguyện13

3- Cơ quan có thẩm quyền giải quyết phá sản và mục đích của việc tiến hành thủ tục giải quyết phá sản

a) Mục đích của việc tiến hành thủ tục giải quyết phá sản:

Qua nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy, ở hầu hết các nước hiện nay thì thủ tục giải quyết phá sản doanh nghiệp được luật điều chỉnh Mục đích của việc tiến hành thủ tục giải quyết phá sản doanh nghiệp thường hướng đến: 1) Duy trì, phục hồi doanh nghiệp khi có đủ điều kiện và 2) khi không có đủ điều kiện phục hồi doanh nghiệp thì hướng đến đáp ứng chung yêu cầu của các chủ nợ của một doanh nghiệp mắc nợ bằng việc bán tài sản của doanh nghiệp mắc nợ và phân chia số tiền thu được; doanh nghiệp mắc nợ trung thực có được cơ hội giải phóng khỏi các trách nhiệm còn lại của mình (các khoản nợ còn lại)

9 Luật sư Tsukahara Nagaaki, Xác định tình trạng (căn cứ) phá sản ở Nhật Bản.

10

Khoản 11 Điều 2 của Luật phá sản Nhật Bản.

11

Khoản 2 Điều 15 của Luật phá sản Nhật Bản.

12

Khoản 2 Điều 16 của Luật phá sản Nhật Bản.

13

Điều 1 của Luật phá sản doanh nghiệp Liên bang Nga năm 1992.

Ngày đăng: 26/02/2019, 23:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w