Do vậy để đảm bảo nguồn nước phục vụ sinh hoạt và sản xuất cần phải có các giải pháp như: Quy hoạch các khu rừng phòng hộ, nâng cao độ che phủ của rừng, xây dựng các hồ, đập tích trữ nướ
Trang 1BÁO CÁO THUYẾT MINH TỔNG HỢP
ĐIỀU CHỈNH QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT ĐẾN NĂM 2020
VÀ KẾ HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT KỲ CUỐI (2016 - 2020) TỈNH
CAO BẰNG
Cao Bằng, năm 2017
Trang 3MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Phần I SỰ CẦN THIẾT ĐIỀU CHỈNH QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT 4
I CĂN CỨ PHÁP LÝ ĐỂ ĐIỀU CHỈNH QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT 4
II PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ BỔ SUNG ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI, MÔI TRƯỜNG TÁC ĐỘNG ĐẾN SỬ DỤNG ĐẤT 6
2.1 Phân tích, đánh giá bổ sung ĐKTN, các nguồn tài nguyên và thực trạng môi trường 6
2.2 Phân tích, đánh giá bổ sung thực trạng phát triển kinh tế - xã hội 22
2.3 Phân tích đánh giá bổ sung về biến đổi khí hậu tác động đến việc sử dụng đất 39
III PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ BỔ SUNG TÌNH HÌNH Q.LÝ, SỬ DỤNG ĐẤT ĐẾN NĂM 2015 42
3.1 Phân tích, đánh giá bổ sung tình hình thực hiện một số n.dung quản lý nhà nước về đất đai 42 3.2 Phân tích, đánh giá hiện trạng và biến động sử dụng đất 51
IV PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN QUY HOẠCH, KẾ HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT 75
4.1 Kết quả thực hiện các chỉ tiêu quy hoạch sử dụng đất kỳ trước 75
4.2 Kết quả thực hiện các Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh về việc thông qua danh mục các dự án cần thu hồi đất, các dự án có sử dụng đất trồng lúa, đất trồng rừng phòng hộ, đất trồng rừng đặc dụng……….…… ………82
4.3 Đánh giá những mặt được, những tồn tại và nguyên nhân của tồn tại trong thực hiện quy hoạch sử dụng đất kỳ trước 83
4.4 Bài học kinh nghiệm trong việc thực hiện quy hoạch, KH sử dụng đất sử dụng đất kỳ tới 87
Phần II PHƯƠNG ÁN ĐIỀU CHỈNH QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT ĐẾN NĂM 2020 89
I ĐIỀU CHỈNH ĐỊNH HƯỚNG SỬ DỤNG ĐẤT 89
1.1 Khát quát phương hướng, mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội 89
1.2 Quan điểm sử dụng đất 94
1.3 Định hướng sử dụng đất 97
II PHƯƠNG ÁN ĐIỀU CHỈNH QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT 112
2.1 Chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội trong kỳ điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất 112
2.2 Chỉ tiêu sử dụng đất theo loại đất cho các ngành, lĩnh vực 113
2.3 Tổng hợp, cân đối các chỉ tiêu sử dụng đất 149
2.4 Chỉ tiêu sử dụng đất theo khu chức năng 113
III ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA PHƯƠNG ÁN ĐIỀU CHỈNH QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT ĐẾN KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ MÔI TRƯỜNG 178
3.1 Đánh giá tác động của phương án quy hoạch sử dụng đất đến nguồn thu từ việc giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất và chi phí cho việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư 178
Trang 43.2 Đánh giá tác động của p.án QH sử dụng đất đến khả năng bảo đảm an ninh lương thực 178
3.3 Đánh tác động của phương án quy hoạch sử dụng đất đối với việc giải quyết quỹ đất ở, mức độ ảnh hưởng đến đời sống các hộ dân phải di dời chỗ ở, số lao động phải chuyển đổi nghề nghiệp do chuyển mục đích sử dụng đất 179
3.4 Đánh giá tác động của phương án quy hoạch sử dụng đất đến quá trình đô thị hóa và phát triển hạ tầng 179
3.5 Đánh giá tác động của phương án quy hoạch sử dụng đất việc tôn tạo di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, bảo tồn văn hoá các dân tộc 179
3.6 Đánh giá tác động của phương án quy hoạch sử dụng đất đến khả năng khai thác hợp lý tài nguyên thiên nhiên; yêu cầu bảo tồn, phát triển diện tích rừng và tỷ lệ che phủ 180
Phần III KẾ HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT KỲ CUỐI 181
I PHƯƠNG HƯỚNG, MỤC TIÊU PT KINH TẾ - XÃ HỘI TRONG KỲ KẾ HOẠCH 181
1.1 Phương hướng phát triển kinh tế - xã hội 181
1.2 Mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội 181
1.3 Các chỉ tiêu về dân số, lao động, việc làm 182
II KẾ HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT KỲ CUỐI (2016 - 2020) 183
2.1 Chỉ tiêu sử dụng đất theo mục đích sử dụng 183
2.2 Diện tích các loại đất cần chuyển mục đích sử dụng đất 194
2.3 Diện tích đất chưa sử dụng đưa vào sử dụng 199
2.4 Danh mục các công trình, dự án thực hiện trong kỳ kế hoạch 200
2.5 Dự kiến các khoản thu, chi liên quan đến đất đai trong kỳ kế hoạch 200
Phần IV GIẢI PHÁP TỔ CHỨC THỰC HIỆN 203
I CÁC GIẢI PHÁP BẢO VỆ, CẢI TẠO ĐẤT VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG 203
1.1 Giải pháp về quản lý, sử dụng đất 203
1.2 Nhóm giải pháp về ứng phó với biến đổi khí hậu, bảo vệ tài nguyên nước, môi trường, cải tạo và bảo vệ đất 205
II CÁC GIẢI PHÁP TỔ CHỨC THỰC HIỆN QUY HOẠCH, KH SỬ DỤNG ĐẤT 207
2.1 Nhóm giải pháp về cơ chế, chính sách 207
2.2 Nhóm giải pháp về khoa học công nghệ và kỹ thuật 208
2.3 Giải pháp về quản lý, giám sát quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất 209
2.4 Nhóm giải pháp về đào tạo nguồn nhân lực 210
2.5 Các giải pháp về tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất 210
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 212
I KẾT LUẬN 212
II KIẾN NGHỊ 212
Trang 5BẢNG CHỮ VIẾT TẮT
Trang 6ĐẶT VẤN ĐỀ
Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là nguồn nội lực, nguồn vốn to lớn của đất nước, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh và quốc phòng
Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 đã được Quốc hội khóa XIII, Kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 28/11/2013 tại Điều 53,
Chương III đã quy định “Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý” Tại Điều 54 Chương III đã quy định
“Đất đai là tài nguyên đặc biệt của quốc gia, nguồn lực quan trọng phát triển đất nước, được quản lý theo pháp luật; Tổ chức, cá nhân được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất Người sử dụng đất được chuyển quyền sử dụng đất, thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định của luật Quyền sử dụng đất được pháp luật bảo hộ”
Luật Đất đai năm 2013 đã được Quốc hội khóa XIII, Kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2013, tại Điều 22 Mục 2 Chương II quy định: Quản
lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là một trong 15 nội dung quản lý nhà nước
về đất đai Tại các Điều 35, 36, 37, 38, 39, 40, 42, 46 đã quy định nguyên tắc, căn cứ, nội dung và trách nhiệm lập và điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng
ở 3 cấp: cả nước, tỉnh, huyện; tại các Điều 45, 48, 49, 50 xác định thẩm quyền phê duyệt, quyết định, công bố công khai, thực hiện và báo cáo kết quả thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; Điều 43 quy định việc phải lấy ý kiến đóng góp của nhân dân về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Nhận thức được tầm quan trọng của quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đối với quản lý và sử dụng đất, năm 2010 UBND tỉnh Cao Bằng đã lập Quy hoạch
sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu (2011 - 2015)
và được Chính phủ xét duyệt tại Nghị quyết số 13/NQ-CP ngày 09/01/2013
Quá trình triển khai thực hiện Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2011 - 2015) trên địa bàn tỉnh trong những năm qua
đã đạt được kết quả nhất định Việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất đã đáp ứng nhu cầu đất đai của người dân và cho yêu cầu phát triển kinh tế xã hội và đảm bảo quốc phòng, an ninh; đồng thời công tác quản lý nhà nước về đất đai ở các cấp đã đi vào nề nếp, tuân thủ theo đúng các quy định của pháp luật về đất đai Những năm qua Quy hoạch sử dụng đất tỉnh Cao Bằng là một trong những cơ sở để chính quyền các cấp, các ngành quản lý,
Trang 7Tuy nhiên, trong những năm gần đây có nhiều yếu tố mới về bối cảnh quốc tế và khu vực đã tác động mạnh mẽ đến quá trình phát triển kinh tế xã hội của cả nước nói chung và tỉnh Cao Bằng nói riêng Điều này đã làm thay đổi cơ cấu sử dụng đất so với phương án Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2011 - 2015) đã được Chính phủ xét duyệt
Mặt khác, Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất
5 năm kỳ đầu (2011 - 2015) tỉnh Cao Bằng được lập theo quy định của Luật Đất đai năm 2003 nên một số chỉ tiêu sử dụng đất đã thay đổi so với Luật Đất đai năm 2013 Tại Khoản 1, Điều 51, Luật Đất đai năm 2013 quy định “Đối với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định, phê duyệt trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành thì phải rà soát, điều tra bổ sung để điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cho phù hợp với quy định của Luật này khi lập kế hoạch sử dụng đất 05 năm (2016 - 2020)”
Nhằm đáp ứng yêu cầu về quản lý, sử dụng đất cho mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của tỉnh trong giai đoạn mới, phù hợp với nội dung đổi mới của Luật Đất đai năm 2013, đảm bảo sử dụng đất tiết kiệm, có hiệu quả, bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu và thực hiện Công văn số 187/BTNMT-TCQLĐĐ ngày 21/01/2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc điều chỉnh quy hoạch và lập kế hoạch sử dụng đất, Ủy ban nhân dân tỉnh Cao Bằng tổ chức triển khai Điều chỉnh Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và lập kế hoạch sử dụng đất kỳ cuối (2016 - 2020) tỉnh Cao Bằng
Điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất
kỳ cuối (2016 - 2020) tỉnh Cao Bằng phải đảm bảo mục đích - yêu cầu sau:
1 Phải căn cứ theo đúng quy định của pháp luật hiện hành như Luật Đất đai năm 2013, Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai
2 Rà soát, điều chỉnh các chỉ tiêu sử dụng đất phù hợp với quy định của Luật Đất đai năm 2013 và đáp ứng nhu cầu đất đai cho mục tiêu phát triển kinh
tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và mục tiêu phát triển của các ngành, lĩnh vực đến năm 2020 của tỉnh Cao Bằng
3 Đảm bảo tính đặc thù, liên kết các huyện, thành phố, thị xã trên địa bàn tỉnh trong việc phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh Khai thác có hiệu quả tiềm năng đất đai và lợi thế của toàn tỉnh; đảm bảo sử dụng đất đúng mục đích, tiết kiệm và hiệu quả
4 Làm căn cứ cho việc thẩm định và phê duyệt điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp huyện và định hướng cho việc điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong quy hoạch các ngành, các lĩnh vực trên địa bàn tỉnh
Trang 85 Cụ thể hóa chỉ tiêu sử dụng đất do cấp quốc gia phân bổ và cân đối chỉ tiêu sử dụng đất do cấp tỉnh xác định để phân bổ chỉ tiêu sử dụng đất đến từng đơn vị hành chính cấp huyện
6 Làm cơ sở để Uỷ ban nhân dân tỉnh Cao Bằng cân đối giữa các khoản thu ngân sách từ giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất; các loại thuế liên quan đến đất đai và các khoản chi cho việc bồi thường, hỗ trợ, tái định
cư đến từng đơn vị hành chính cấp huyện theo từng năm
Nội dung Báo cáo thuyết minh tổng hợp Điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất kỳ cuối (2016 - 2020) tỉnh Cao Bằng gồm các phần chính sau:
- Đặt vấn đề
- Phần I: Sự cần thiết điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất;
- Phần II: Phương án điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất;
- Phần III: Kế hoạch sử dụng đất kỳ cuối (2016 - 2020);
- Phần IV: Giải pháp thực hiện;
- Kết luận và kiến nghị
Cùng hệ thống biểu số liệu theo quy định tại Thông tư số BTNMT ngày 02 tháng 06 năm 2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chi tiết việc lập, điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Trang 929/2014/TT-Phần I
SỰ CẦN THIẾT ĐIỀU CHỈNH QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT
I CĂN CỨ PHÁP LÝ ĐỂ ĐIỀU CHỈNH QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT
- Luật Đất đai ngày 29 tháng 11 năm 2013;
- Nghị quyết số 134/2016/QH13 ngày 09/4/2016 của Quốc Hội về việc Điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất kỳ cuối (2016 - 2020) cấp quốc gia;
- Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai;
- Nghị định số 35/2015/NĐ-CP ngày 13 tháng 4 năm 2015 của Chính phủ
sở giai đoạn 2013 - 2020, định hướng đến năm 2030;
- Quyết định số 88/QĐ-TTg ngày 09 tháng 01 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Quy hoạch và Kế hoạch nâng cấp, xây mới các công trình văn hóa (nhà hát, rạp chiếu phim, nhà triển lãm văn học nghệ thuật) giai đoạn 2012 - 2020”;
- Quyết định số 1752/QĐ-TTg ngày 30/9/2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật thể dục thể thao quốc gia đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030;
- Quyết định số 2164/QĐ-TTg ngày 11/11/2013 về phê duyệt Quy hoạch phát triển thể dục, thể thao Việt Nam đến năm 2020, định hướng đến năm 2030;
- Quyết định số 201/QĐ-Tg ngày 22/01/2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030”;
- Quyết định số 1600/QĐ-TTg ngày 16 tháng 8 năm 2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016 - 2020;
- Nghị định số 35/2015/NĐ-CP ngày 13 tháng 4 năm 2015 của Chính phủ
về quản lý, sử dụng đất trồng lúa;
- Công văn số 1927/TTg-KTN ngày 02 tháng 11 năm 2016 của Chính phủ về việc phân bổ chỉ tiêu sử dụng đất cấp quốc gia;
Trang 10- Quyết định số 124/QĐ-TTg ngày 02/02/2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển sản xuất ngành nông nghiệp đến năm
2020 và tầm nhìn đến năm 2030;
- Quyết định số 1976/QĐ-TTg ngày 30/10/2014 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch hệ thống rừng đặc dụng cả nước đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030;
- Quyết định số 356/QĐ-TTg ngày 25/2/2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt điều chỉnh phát triển giao thông vận tải đường bộ Việt Nam đến năm
2020, định hướng đến năm 2030;
- Quy hoạch phát triển mạng lưới đường bộ cao tốc Việt Nam đến năm
2020 và định hướng đến năm 2030 (phê duyệt tại Quyết định số 326/QĐ-TTg ngày 01/3/2016 của Thủ tướng Chính phủ);
- Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng Trung du và Miền núi phía Bắc đến năm 2020 (phê duyệt tại Quyết định số 1064/QĐ-TTg ngày 08/7/2013 của Thủ tướng Chính phủ);
- Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Cao Bằng đến năm
2020, định hướng đến năm 2025 (phê duyệt tại Quyết định số 512/QĐ-TTg ngày 11/4/2014 của Thủ tướng Chính phủ);
- Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu (2011 - 2015) tỉnh Cao Bằng (đã được Chính phủ xét duyệt tại Nghị quyết
số 13/NQ-CP ngày 09/01/2013);
- Quyết định số 485/QĐ-TTg ngày 13 tháng 4 năm 2017 phê duyệt Quy hoạch chung xây dưng khu du lịch Thác Bản Giốc và Quy hoạch chi tiết khu trung tâm du lịch Thác Bản Giốc;
- Văn bản số 2628/CP-KTN ngày 22 tháng 12 năm 2014 của Thủ tướng Chính phủ về việc điều chỉnh quy hoạch phát triển các khu công nghiệp và hệ thống xử lý nước thải tập trung tại các khu công nghiệp;
- Quyết định số 4039/QĐ-BGTVT ngày 09 tháng 12 năm 2013 của Bộ Giao thông vận tải phê duyệt phương hướng, kế hoạch phát triển kết cấu hạ tầng giao thông vận tải vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ đến năm 2015, định hướng đến năm 2020;
- Quyết định số 1541/QĐ-BNN-TCTL ngày 07 tháng 7 năm 2011 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phê duyệt Quy hoạch thuỷ lợi gắn với thuỷ điện nhỏ, trạm bơm thuỷ luân, nước va vùng Trung du và miền núi phía Bắc;
- Thông tư số 28/2014/TT-BTNMT ngày 02 tháng 06 năm 2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về quy định về thống kê, kiểm kê đất đai và lập bản
đồ hiện trạng sử dụng đất;
Trang 11- Thông tư số 29/2014/TT-BTNMT ngày 02 tháng 06 năm 2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về quy định chi tiết việc lập, điều chỉnh quy hoạch,
- Đăng ký nhu cầu sử dụng đất của các Sở, ngành và UBND cấp huyện trên địa bàn tỉnh Cao Bằng;
- Niên giám thống kê của tỉnh Cao Bằng qua các năm;
- Kết quả thống kê đất đai các năm và kết quả kiểm kê đất đai, xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất qua các kỳ của các cấp
II PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ BỔ SUNG ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ -
XÃ HỘI, MÔI TRƯỜNG TÁC ĐỘNG ĐẾN SỬ DỤNG ĐẤT
2.1 Phân tích, đánh giá bổ sung điều kiện tự nhiên, các nguồn tài nguyên và thực trạng môi trường
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
2.1.1.1 Vị trí địa lý
Cao Bằng là một tỉnh biên giới ở cực Bắc của đất nước, nằm trong vùng Miền núi và Trung du Bắc bộ; tổng diện tích tự nhiên của tỉnh là 670.026 ha Tỉnh có 13 đơn vị hành chính trực thuộc, bao gồm các huyện Bảo Lâm, Bảo Lạc, Hạ Lang, Quảng Uyên, Thạch An, Trà Lĩnh, Hà Quảng, Nguyên Bình, Thông Nông, Hòa An, Phục Hòa, Trùng Khánh và thành phố Cao Bằng Được
+ Phía Bắc và phía Đông giáp tỉnh Quảng Tây của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa;
+ Phía Nam giáp tỉnh Bắc Kạn và tỉnh Lạng Sơn;
+ Phía Đông và Đông Nam giáp tỉnh Lạng Sơn;
+ Phía Tây giáp tỉnh Hà Giang và tỉnh Tuyên Quang
Tỉnh lị là thành phố Cao Bằng cách thủ đô Hà Nội 286 km theo đường Quốc lộ 3, cách thành phố Lạng Sơn khoảng 130 km theo đường Quốc lộ 4A
Trang 12qua thị trấn Đông Khê và từ đây có thể nối liền với tỉnh Quảng Ninh theo đường Quốc lộ 4B và thủ đô Hà Nội theo đường Quốc lộ 1A
Cao Bằng là một tỉnh có vị trí địa lý cách xa các trung tâm kinh tế lớn của miền Bắc và cả nước, nhưng lại có điều kiện thuận lợi trong việc tiếp cận với thị trường Trung Quốc thông qua 3 cửa khẩu lớn là Tà Lùng, Trà Lĩnh và Sóc Giang, trong đó Tà Lùng là một trong 6 cửa khẩu Quốc tế lớn của quốc gia Ngoài ra, Cao Bằng còn có các tuyến đường giao thông đi các tỉnh Thái Nguyên, Lạng Sơn và thành phố Hà Nội khá thuận lợi Bên cạnh đó, Cao Bằng cũng có khả năng tiếp cận với cảng Cái Lân và tỉnh Quảng Ninh thông qua Quốc lộ 4A
và 4B và tới đây là đường cao tốc Cao Bằng - Lạng Sơn, tạo điều kiện cho việc lưu thông hàng hoá với các vùng trong nước và quốc tế
2.1.1.2 Địa hình, địa thế
- Địa hình: khá đa dạng với độ cao trung bình trên 300 m so với mặt nước biển, thấp dần từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang Đông, đỉnh cao nhất là núi Phia Oắc thuộc huyện Nguyên Bình có độ cao 1.931 m Địa hình của tỉnh được chia thành 3 vùng rõ rệt là vùng núi đất, vùng núi đá, vùng bình địa trũng
+ Vùng núi đất: chạy từ phía Tây Bắc huyện Bảo Lạc, qua huyện Nguyên
Bình xuống phía Tây Nam huyện Thạch An Đây là vùng có địa hình chia cắt mạnh, độ dốc lớn, độ cao trung bình từ 300 - 600 m so với mặt nước biển
+ Vùng núi đá: chạy từ phía Bắc dọc theo biên giới Việt - Trung, vòng
xuống phía Đông Nam của tỉnh; phân bố tập trung ở các huyện Hà Quảng, Trà Lĩnh, Trùng Khánh, Thông Nông, Hạ Lang, Quảng Uyên, Phục Hoà Vùng có địa hình núi đá cao, độ chia cắt phức tạp
+ Vùng bình địa trũng (vùng trung tâm): khá bằng phẳng, bao gồm đồi
thấp xen kẽ các cánh đồng tương đối rộng; phân bố chủ yếu ở huyện Hoà An, thành phố Cao Bằng và các xã phía Nam huyện Hà Quảng Độ cao trung bình khoảng 100 - 200 m so với mặt nước biển
- Địa thế: phần lớn diện tích đất của tỉnh Cao Bằng có độ dốc lớn, đặc biệt
Kết quả xác định trên bản đồ nền địa hình tỷ lệ 1/100.000 của tỉnh cho thấy:
Nhìn chung, tỉnh Cao Bằng có địa hình bị chia cắt phức tạp bởi hệ thống sông suối khá dày, núi đồi trùng điệp, thung lũng sâu,… Sự đa dạng của địa hình
đã tạo ra các tiểu vùng sinh thái đặc thù, cho phép Cao Bằng phát triển nhiều
Trang 13loài cây trồng, vật nuôi Tuy nhiên, do đặc điểm của địa hình cũng gây ảnh hưởng lớn đến việc giao lưu hàng hóa, phát triển kinh tế - xã hội và đầu tư phát triển kết cấu hệ thống hạ tầng, đặc biệt là giao thông, đồng thời cũng tạo ra sự manh mún diện tích đất sản xuất nông, lâm nghiệp và dễ gây ra hiện tượng rửa trôi, xói mòn, sạt lở đất trong mùa mưa Vì vậy, công tác quy hoạch cần có những biện pháp sử dụng đất phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương
2.1.1.3 Khí hậu
Do nằm sát chí tuyến Bắc trong vành đai nhiệt đới Bắc bán cầu nên khí hậu của tỉnh Cao Bằng mang tính chất khí hậu nhiệt đới gió mùa; một năm có 2 mùa rõ rệt: mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 10 với khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều; mùa khô bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, khí hậu mùa này thường lạnh, mưa ít
- Nắng: tổng số giờ nắng trung bình cả năm khoảng 1.300 - 1.400 giờ và phân bố không đều giữa các tháng trong năm Mùa hè có số giờ nằng nhiều, mùa đông có số giờ nắng ít
- Lượng mưa: lượng mưa trung bình năm vào khoảng 1.450 - 1.600 mm phân bố không đều giữa các tháng và các khu vực Mưa tập trung chủ yếu từ tháng 6 - 9, chiếm 70 - 80% lượng mưa cả năm Mùa khô lượng mưa chỉ chiếm
20 - 30% lượng mưa cả năm, thời kỳ khô hạn nhất là từ tháng 12 đến tháng 3 năm sau Do sự chi phối của địa hình nên lượng mưa có sự khác nhau giữa các khu vực; lượng mưa trung bình cao nhất là ở huyện Hà Quảng đạt 1.637 mm/năm; lượng mưa trung bình thấp nhất là ở các huyện Thạch An và Bảo Lạc chỉ đạt 1.000 - 1.300 mm/năm
- Lượng bốc hơi: lượng bốc hơi hàng năm biến động từ 850 - 1.000 mm Thường từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, lượng nước bốc hơi lớn hơn lượng mưa, gây nên tình trạng thiếu nước và khô hạn nghiêm trọng
- Độ ẩm không khí: trung bình năm đạt 84 - 85%, tháng có độ ẩm cao nhất
là tháng 7 độ ẩm đạt 88 - 89%, tháng có độ ẩm thấp là tháng 12, đạt 80 - 82%
- Gió: có 2 hướng gió chính là gió mùa Đông Bắc thổi từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau, gió mùa Đông Nam thổi từ tháng 5 đến tháng 11, đôi khi xuất hiện gió lốc cục bộ từng khu vực hẹp nên ít ảnh hưởng đến sản xuất, sinh hoạt của nhân dân
Trang 14Ngoài ra còn có hiện tượng sương muối, sương mù, dông tố, mưa đá và đặc biệt là lũ quét ảnh hưởng xấu đến sản xuất và sinh hoạt của nhân dân
Nhìn chung, khí hậu tỉnh Cao Bằng mang tính chất đặc thù của khí hậu lục địa miền núi cao, có nét đặc trưng riêng khác so với các tỉnh khác trong vùng Đông Bắc Trên địa bàn tỉnh còn có một số tiểu vùng có khí hậu á nhiệt đới đã tạo những lợi thế để hình thành các vùng sản xuất có cây trồng phong phú đa dạng với những cây đặc sản như dẻ hạt, hồng không hạt, đậu tương hàm lượng đạm cao, thuốc lá, chè đắng, trà giảo cổ lam… mà nhiều nơi khác không có điều kiện phát triển Tuy nhiên trong sản xuất nông, lâm nghiệp cần lựa chọn hệ thống cây trồng, mùa vụ thích hợp để tránh tình trạng úng ngập trong mùa mưa
và khô hạn trong mùa khô
2.1.1.4 Thủy văn
Chế độ thuỷ văn trên các sông, suối ở tỉnh Cao Bằng phụ thuộc chủ yếu vào chế độ mưa và khả năng điều tiết của lưu vực, có thể chia ra làm 2 mùa rõ rệt là mùa lũ và mùa cạn
- Mùa lũ: mùa lũ trên các sông, suối ở tỉnh Cao Bằng bắt đầu vào tháng 6
và kết thúc vào tháng 10 Tuy nhiên trong từng năm cụ thể, giới hạn này có thể dao động trong phạm vi 1 tháng nhưng ít khi xảy ra
Lượng nước trên các sông, suối trong mùa lũ thường chiếm khoảng 65 - 80% lượng nước cả năm Trong mùa lũ, sự phân phối dòng chảy của các tháng không đều, lũ lớn thường tập trung vào 3 tháng 6,7,8, đặc biệt tháng 7 và tháng 8
là những tháng có dòng chảy lớn nhất
- Mùa cạn: chế độ thuỷ văn trên các sông, suối ở tỉnh Cao Bằng trong
mùa cạn có mối quan hệ mật thiết với các yếu tố như dòng chảy, lượng mưa và các điều kiện khác của lưu vực như diện tích chứa nước, thổ nhưỡng, thảm thực vật, cấu trúc địa tầng, mức độ hang động ở những vùng núi đá vôi và các yếu tố khí hậu Những nhân tố này có tác dụng làm quá trình điều tiết dòng chảy mùa cạn nhanh hay chậm Nhìn chung, mùa cạn trên các sông, suối của tỉnh thường bắt đầu vào tháng 10, có năm muộn là tháng 11 và kết thúc vào tháng 4, có năm muộn là tháng 5, 6 năm sau; trong đó mùa cạn kiệt nhất kéo dài khoảng 3 tháng (từ tháng 1 đến tháng 3) Thời điểm bắt đầu và kết thúc mùa cạn trong năm trên địa bàn tỉnh Cao Bằng ít biến đổi
2.1.2 Các nguồn tài nguyên
2.1.2.1 Tài nguyên đất
Theo báo cáo thuyết minh Bản đồ đất tỉnh Cao Bằng tỷ lệ 1/100.000, trên địa bản tỉnh gồm các loại đất sau:
a) Nhóm đất phù sa
Trang 15Có diện tích 7.718 ha, chiếm 1,06% tổng diện tích tự nhiên Đất phù sa ở Cao Bằng hình thành từ sản phẩm bồi tụ của các sông Gâm, Bằng, Bắc Vọng và Quây Sơn Phân bố chủ yếu ở các huyện Hòa An, Trùng Khánh và rải rác ở các, thành phố khác trong tỉnh Do vị trí địa lý và bản chất của các sản phẩm phù
sa bồi đắp rất khác nhau nên đặc điểm của chúng cũng rất đa dạng
Hầu hết diện tích nhóm đất phù sa được sử dụng vào sản xuất nông nghiệp để trồng các cây ngắn ngày như: lúa, ngô, khoai, đậu đỗ, rau quả Do đất thoát nước tốt lại nằm ven sông suối nên rất thích hợp để trồng cây trồng cạn Những nơi địa hình thấp thường bị ngập lũ vào mùa mưa cần chú ý bố trí cây trồng và thời vụ thích hợp, hạn chế thiệt hạn do úng lụt và lũ quét Nhóm đất phù sa gồm các loại đất:
- Đất phù sa được bồi trung tính ít chua (Pbe)
Có diện tích 379 ha, chiếm 0,06% tổng diện tích tự nhiên Phân bố tập trung ven sông Bằng Giang thuộc huyện Hòa An và thành phố Cao Bằng
Đây là loại đất tốt ở địa hình bằng, thoải có độ phì nhiêu khá, gần nguồn nước Tuy nhiên mặt hạn chế của đất phù sa trung tính ít chua ở tỉnh Cao Bằng
là các tầng đất mặt thường có thành phần cơ giới nhẹ, dễ mất nước vào mùa khô Loại đất này rất thích hợp cho phát triển các cây hoa mùa lương thực và cây công nghiệp ngắn ngày
- Đất phù sa không được bồi trung tính ít chua (Pe)
Có diện tích 2.236 ha, chiếm 0,33% tổng diện tích tự nhiên Phân bố tập trung ở Hòa An, Hà Quảng Trước đây đất được hình thành do sự bồi đắp phù sa của hệ thống sông Bằng Giang, sông Bắc Vọng và sông Quây Sơn Sau này do chịu tác động bởi yếu tố địa hình và quá trình canh tác nên không được tiếp tục bồi đắp hoặc được bồi rất ít thêm phù sa mới nữa
- Đất phù sa có tầng loang lổ đỏ vàng
Có diện tích 667 ha, chiếm 0,10% tổng diện tích tự nhiên Phân bố tập trung ở các xã Bình Long, Nam Tuấn (huyện Hòa An), Hồng Trị (huyện Bảo Lạc) và Độc Lập (huyện Quảng Uyên)
Đất cũng có nguồn gốc hình thành như các loại đất cùng nhóm nhưng do phân bố ở các địa hình cao hoặc vàn cao, rất ít ở địa hình vàn thấp có chế độ nước không đều trong năm Mùa mưa cũng bị ngập, nhưng mùa khô đất bị thiếu nước nghiêm trọng.Đất phù sa có tầng loang lổ đỏ vàng thích hợp cho việc phát triển nhiều cây trồng cạn ngắn ngày và cả lúa nước Đây là loại đất có độ phì nhiêu thấp, vì vậy muốn tăng năng suất cây trồng cao, ổn định và bảo đảm sử dụng đất lâu bền cần đẩy mạnh áp dụng công nghệ canh tác tiến bộ và thích hợp
Trang 16- Đất phù sa ngòi suối (Py)
Có diện tích 3.836 ha, chiếm 0,57% tổng diện tích tự nhiên; phân bố ở các huyện trong tỉnh, tập trung thành các dải hẹp ven các suối thuộc hệ thống sông Gâm, sông Năng, Bằng Giang, Bắc Vọng và sông Quây Sơn
Loại đất này có diện tích không nhiều nhưng lại có vị trí quan trọng đang được sử dụng trồng hoa màu (như ngô, đậu đỗ…) và lúa nước ở những nơi có điều kiện tưới Tuy nhiên đây là loại đất có độ phì nhiêu thấp, mặt khác dễ bị ngập úng và lũ quét vào mùa mưa Để sử dụng có hiệu quả loại đất này cần đảm bảo tưới tiêu chủ động và xây dựng hệ thống bờ vùng bờ thửa vững chắc để giữ nước Đặc biệt phải đầu tư thâm canh: bón nhiều phân hữu cơ cân đối với các loại phân khoáng và bố trí cơ cấu cây trồng hợp lý nhằm thu hoạch năng suất cao, ổn định, đảm bảo sử dụng đất lâu bền
b) Nhóm đất lầy và than bùn
Đất than bùn có trữ lượng thấp và diện tích rất nhỏ với khoảng 11 ha, lại phân bố rất phân tán trên địa bàn huyện Trùng Khánh Tuy có diện tích rất nhỏ, trữ lượng thấp nhưng có thể khai thác làm phân bón cải tạo đất hoặc bảo vệ để giữ ẩm, giữ nguồn nước cho sản xuất
c) Nhóm đất xám bạc màu
Có diện tích 1.134 ha, chiếm 0,17% tổng diện tích tự nhiên, được hình thành trên phù sa cổ Phân bố ở các huyện Hòa An, Bảo Lạc và một số huyện khác Đây là loại đất đã bị thoái hóa do quá trình sử dụng không hợp lý từ lâu
d) Nhóm đất đỏ vàng
Có diện tích 408.563 ha, chiếm 60,8% tổng diện tích tự nhiên, phân bố ở tất cả các huyện thị trong tỉnh Nhóm đất đỏ vàng hình thành do sản phẩm phong hóa của các đá macma, trầm tích và biến chất Màu sắc đất chủ đạo là đỏ vàng Một phần diện tích nhóm đất này có tầng dày hoặc trung bình và độ dốc thấp
Phần lớn diện tích còn lại do đất dốc, ở những nơi không có rừng là đất trống đồi trọc Để khai thác hiệu quả nhóm đất này cần trồng và khoanh nuôi bảo vệ rừng, sản xuất theo mô hình nông lâm kết hợp, tăng cường áp dụng các biện pháp khoa học bảo vệ đất dốc
- Đất nâu đỏ trên đá macma bazơ và trung tính (Fk)
Có diện tích 35.295 ha, chiếm 5,25% tổng diện tích tự nhiên Phân bố chủ yếu ở các huyện Hòa An, Hà Quảng, Bảo Lạc, Thông Nông, Trùng Khánh, Nguyên Bình, Thạch An và một số huyện khác
Đất nâu đỏ trên đá macma bazơ và trung tính là loại đất quí ở tỉnh, thích hợp phát triển nhiều loại cây trồng có giá trị như cây ăn quả, cây dược liệu,…
Trang 17- Đất đỏ nâu trên đá vôi (Fv)
Có diện tích 6.344 ha, chiếm 0,94% tổng diện tích tự nhiên và được phân
bố chủ yếu ở các huyện Hòa An, Hà Quảng, Bảo Lạc, Trà Lĩnh, Thạch An, Trùng Khánh
Đất được hình thành và phát triển trên sản phong hóa của đá vôi Đất thích hợp trồng các loại cây hoa màu (như ngô, đậu…) và cây lâu năm ở những
- Đất nâu vàng trên đá vôi (Fn)
Có diện tích 18.796 ha, chiếm 2,8% tổng diện tích tự nhiên Phân bố tập trung ở địa hình thung lũng bằng thoải và sườn núi đá vôi ở các huyện Phục Hòa, Quảng Uyên, Trùng Khánh, Trà Lĩnh, Thông Nông, Thạch An, Hà Quảng,
Hạ Lang Đất thích hợp với các cây trồng cạn, cây ăn quả và cây lâu năm khác
- Đất vàng đỏ trên đá macma axits (Fa)
Có diện tích 21.678 ha, chiếm 3,23% diện tích tự nhiên Phân bố chủ yếu
ở các huyện Thạch An, Bảo Lạc, Hoà An, Nguyên Bình và thành phố Cao Bằng
Đối với loại đất này không nên sử dụng vào mục đích nông nghiệp vì những nơi đất bằng, ít dốc đã được khai thác từ lâu đời và phương thức canh tác lạc hậu đất bị xói mòn trở thành đất trống đồi trọc Những nơi tầng đất mịn còn dày thì quá dốc Vì vậy, nên có biện pháp khoanh nuôi và bảo vệ rừng
Trang 18Hòa An), Vĩnh Quang, Hưng Đạo, phường Đề Thám (thành phố Cao Bằng)
Đất nâu vàng trên phù sa cổ ở Cao Bằng có thuận lợi là tập trung ở độ dốc thấp, nhiều nơi bằng thoải gần nguồn nước thích hợp phát triển các cây trồng cạn: Các cây ăn quả, mía, thuốc lá và các cây hoa màu
- Đất đỏ vàng biến đổi do trồng lúa nước (FL)
Có diện tích 15.526 ha, chiếm 2,31% tổng diện tích tự nhiên Phân bố trên địa hình thung lũng, bậc thang ở hầu hết các huyện trong tỉnh
Đất đỏ vàng biến đổi do trồng lúa nước ở Cao Bằng có diện tích không nhiều nhưng rất quan trọng đối với việc sản xuất lúa nước của tỉnh Tùy thuộc vào điều kiện tưới mà loại đất này được sử dụng trồng 2 vụ lúa/năm hoặc trồng
1 vụ lúa, 1 vụ màu Tuy nhiên do phương thức canh tác không hợp lý (quảng canh, độc canh), không coi trọng thâm canh ngay từ đầu nên đa số diện tích loại đất này đang bị thoái hóa, mất cân bằng dinh dưỡng, sản xuất không ổn định
đ) Nhóm đất mùn trên núi cao (> 1.800 m)
Nhóm đất này chỉ có 1 đơn vị phân loại đất là Đất mùn vàng nhạt trên núi cao (A) và có diện tích 194 ha, chiếm 0,03% tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh
Đất mùn vàng nhạt trên núi cao tập trung ở núi Phia Oắc cao 1.931 m, thuộc huyện Nguyên Bình
e) Nhóm đất thung lũng do sản phẩm dốc tụ
Nhóm đất này chỉ có một đơn vị phân loại là Đất thung lũng do sản phẩm dốc tụ (D) và có diện tích 11.219 ha chiếm 1,67% tổng diện tích tự nhiên Phân
bố tập trung ở huyện Bảo Lạc, Thạch An, Trùng Khánh, Hạ Lang, Hoà An
Đất thung lũng do sản phẩm dốc tụ có diện tích nhỏ, nhưng do tình trạng rất thiếu đất trồng lúa nước nên ở nhiều nơi nhân dân đã cải tạo trồng 2 lúa
g) Nhóm đất Cacbonát
Nhóm chỉ có 1 đơn vị phân loại là Đất Cacbonát và có diện tích 6.322 ha,
chiếm 0,94% tổng diện tích tự nhiên Phân bố tập trung ở các huyện: Quảng Uyên, Trùng khánh, Hạ Lang, Thạch An, Trà Lĩnh và một số huyện khác
Loại đất này thích hợp cho sinh trưởng và phát triển của nhiều cây hoa màu, lương thực như lúa, ngô, đậu tương, rau và cây công nghiệp ngắn ngày
h) Nhóm đất đen
Nhóm đất này có một đơn vị đất là Đất đen trên Secpentine (Rr)
Đất đen trên Secpentine có diện tích nhỏ 127 ha chiếm khoảng 0,02% tổng diện tích tự nhiên Phân bố tập trung ở khu vực suối Củn của xã Ngũ Lão
và 1 số xã khác ở huyện Hòa An Đất đen trên Secpentine tuy có tầng mỏng nhưng đã và đang được sử dụng trồng lúa nước và hoa màu
Trang 19i) Nhóm đất mùn vàng đỏ trên núi
Diện tích 63.054 ha chiếm 9,38% tổng diện tích tự nhiên Phân bố ở các huyện Bảo Lạc, Bảo Lâm, Nguyên Bình, Thông Nông và một số huyện khác
- Đất mùn nâu đỏ trên đá macma bazơ và trung tính (Hk)
Diện tích 11.415 ha chiếm 1,7% tổng diện tích tự nhiên Phân bố tập trung
ở huyện Bảo Lạc, Nguyên Bình và Thông Nông
Đây là loại đất quí của tỉnh, thích hợp trồng các cây lâu năm, cây dược liệu, cây ăn quả và cây lâm nghiệp thân gỗ Đất có độ phì tự nhiên khá, nhưng hạn chế lớn nhất là ở địa hình dốc, chia cắt mạnh Vì vậy, để bảo vệ đất lâu bền
hơn sản xuất theo kiểu nông lâm kết hợp hoặc trồng, khoanh nuôi bảo vệ rừng
- Đất mùn đỏ nâu trên đá vôi (Hv)
Đất mùn đỏ nâu trên đá vôi (Hv) có diện tích 3.662 ha, chiếm 0,55% tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh, phân bố ở các huyện Nguyên Bình, Bảo Lạc, Thông Nông trên các vùng núi cao trên 900 m nên khi sử dụng cần có biện pháp bảo vệ đất theo hướng trồng rừng phòng hộ Những nơi đất có độ dốc thấp, tương đối bằng có thể khai thác trồng cây dài ngày, cây ăn quả, cây dược liệu ưa độ ẩm, nhiệt độ thấp Một số ít diện tích bị đốt nương làm rẫy dẫn đến hiện trạng thành đất trống đồi núi trọc, cần tích cực bảo vệ, trồng rừng phủ xanh diện tích này
- Đất mùn đỏ vàng trên đá sét và đá biến chất (Hs)
Diện tích 26.184 ha chiếm 3,9% tổng diện tích tự nhiên Phân bố ở các huyện Bảo Lạc, Nguyên Bình và Thạch An Chủ yếu diện tích loại đất này có độ
- Đất mùn vàng đỏ trên đá macma axít (Ha)
Diện tích 12.760 ha chiếm 1,9% tổng diện tích tự nhiên Phân bố ở các huyện Nguyên Bình và Bảo Lạc Đất cao dốc, chủ yếu khoanh nuôi, bảo vệ, phục hồi rừng
k) Đất xói mòn trơ sỏi đá
Nhóm đất này chỉ có 1 đơn vị phân loại đất là Đất xói mòn trơ sỏi đá (E)
Trang 20và có diện tích 2.420 ha, chiếm 0,36% tổng diện tích tự nhiên; phân bố ở các huyện Bảo Lạc Hạ Lang, Hà Quảng và Thông Nông
Đất này cần được sử dụng hợp lý Trước hết phải nhanh chóng phủ xanh bằng thảm thực vật đa dạng phù hợp với môi trường của từng tiểu vùng sinh thái, nhằm giữ đất, giữ ẩm, giữ màu, phục hồi độ phì nhiêu của đất
Nhìn chung, đất đai của tỉnh Cao Bằng đã và đang chịu ảnh hưởng của nhiều tác động tiêu cực như: rửa trôi, xói mòn do khí hậu và địa hình, sức ép tăng dân số và kỹ thuật canh tác lạc hậu, hạn hán nên hiện tượng hoang mạc hoá, đất chua và nghèo kiệt dần, thoái hoá hữu cơ,… đã và đang diễn ra rất sâu sắc ở hầu hết các loại đất trong tỉnh và phản ánh rõ ở tầng đất mỏng vùng đồi, núi; xu thế tăng dần của độ chua, giảm dần về các cation kiềm trao đổi, độ no bazơ và dung tích hấp thụ; sự phá huỷ các cấu trúc và đoàn lập bền vững trong đất; giảm hàm lượng mùn trong đất Tuy nhiên sự rửa trôi ở các bồn địa và thung lũng, nhất là các thung lũng đá vôi yếu hơn hẳn so với các loại đất đồi núi Phần lớn đất có sự phân dị rõ về phẫu diện đất theo thành phần cơ giới dẫn tới hiện tượng phần trên phẫu diện đất và vỏ phong hoá bị nghèo sét và các secquioxyt Hiện tượng này thấy rõ ở các loại đất trong tỉnh, đặc biệt là ở đất xám Đáng quan tâm
là tình trạng khô hạn trong điều kiện khí hậu bán ẩm, độ che phủ thực vật thưa thớt, địa hình dốc và chia cắt nhất là địa hình Kastơ với những khối núi đá vôi
đồ sộ ở Cao Bằng
2.1.2.2 Tài nguyên nước
a) Nguồn nước mặt sông, suối
Cao Bằng là vùng thượng nguồn của hai hệ thống sông Hồng và sông Tả Giang (Trung Quốc) Trên địa bàn tỉnh có khoảng 1.200 sông, suối lớn nhỏ có chiều dài từ 2 km trở lên, với tổng chiều dài khoảng 3.175 km, mật độ sông, suối
khả năng đáp ứng cho yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh
Trên địa bàn tỉnh Cao Bằng có các sông lớn là sông Gâm, sông Bằng, sông Quây Sơn và một số lưu vực nhỏ của sông Năng
- Sông Bằng: là sông chính chảy qua lưu vực toàn tỉnh, sông bắt nguồn từ vùng núi Nà Vài (Trung Quốc) ở cao độ 600 m, diện tích lưu vực đến thủy khẩu
(không kể sông Bắc Vọng) và có trạm đo thủy văn tại thành phố Cao Bằng với
với 4 chi lưu là sông STê Lao, sông Hiến, sông Trà Lĩnh, sông Bắc Vọng; lưu
Trang 21- Sông Gâm: là sông nhánh lớn của sông Lô, bắt nguồn từ Trung Quốc có
Sông Gâm chảy qua tỉnh Cao Bằng bắt đầu ở xã Khánh Xuân (huyện Bảo Lạc) và kết thúc ở thị trấn Pác Miầu (huyện Bảo Lâm), có diện tích lưu vực là
Các sông thuộc lưu vực lớn của sông Gâm là sông Neo với diện tích lưu
- Sông Quây Sơn: bắt nguồn từ Trung Quốc, chảy qua huyện Trùng Khánh và huyện Hạ Lang với chiều dài là 38 km, tổng diện tích lưu vực sông
Các sông, suối thuộc lưu vực lớn của sông Quây Sơn là sông Quây Sơn Tây, sông Quây Sơn Đông, suối Bản Viết, suối Na Vy và suối Gun
Đặc điểm chung của các sông, suối trong tỉnh Cao Bằng là có độ dốc lớn, lắm thác, nhiều ghềnh, nhất là các sông suối thuộc hệ thống sông Quây Sơn và sông Gâm, đây là tiềm năng lớn để phát triển thủy điện Tuy nhiên, lưu lượng dòng chảy lại phân bố không đều trong năm, tập trung vào mùa lũ (chiếm 60 - 80% lưu lượng cả năm) nên việc khai thác sử dụng cho sản xuất nông nghiệp gặp khó khăn, đòi hỏi đầu tư lớn
b) Nguồn nước ngầm
Theo bản đồ địa chất thuỷ văn và kết quả tìm kiếm thăm dò nước dưới đất của Liên đoàn II Địa chất Thuỷ văn tỉnh Cao Bằng cho thấy tài nguyên nước ngầm ở Cao Bằng như sau:
- Khu vực nước lỗ hổng: tập trung ở thị trấn Nước Hai - huyện Hòa An, mức độ chứa nước thuộc loại trung bình
- Khu vực nước khe nứt, cartơ: phân bố rộng khắp và có mức độ trữ nước khác nhau được chia thành 3 loại sau:
+ Tầng nghèo nước:phân bố ở những nơi có tuổi địa chất Nid, Trabp, T1sh, D2ld thuộc các huyện Bảo Lạc, Nguyên Bình, Hoà An, Thạch An và phía Nam huyện Trùng Khánh
+ Tầng nước trung bình: phân bố ở những nơi có tuổi địa chất là D1st, S1Dipp2, C3st thuộc phía Tây huyện Bảo Lạc, phía Nam các huyện Trùng Khánh, Quảng Uyên và huyện Phục Hoà
- Tầng giàu nước: phân bố ở những nơi có tuổi địa chất P2dd, CP1bs, D3tt, D12nq, S2d1pp thuộc toàn bộ các huyện Hà Quảng, Trà Lĩnh và phía Bắc các huyện Trùng Khánh, Hạ Lang, Quảng Uyên
Trang 222.1.2.3 Tài nguyên rừng
Đất lâm nghiệp có rừng của tỉnh chiếm tỷ lệ 80% tổng diện tích tự nhiên,
độ che phủ rừng ước đạt 51% Hiện nay rừng trên địa bàn tỉnh chủ yếu là rừng nghèo, rừng non mới tái sinh, rừng trồng và rừng vầu nên trữ lượng gỗ ít Rừng
tự nhiên còn một số gỗ quý như nghiến, sến, tô mộc, lát nhưng không còn nhiều, dưới tán rừng còn có một số loài đặc sản quý như sa nhân, bạch truật, ba kích, hà thủ ô và một số loài thú quý hiếm như: gấu, hươu, nai, và một số loài chim…
Mấy năm gần đây, nhờ có chủ trương và chính sách xã hội hoá nghề rừng, giao đất giao rừng, thực hiện chương trình 327, chương trình 5 triệu ha rừng, PAM 5322 và trồng rừng quốc gia nên tài nguyên rừng đang dần được phục hồi, lập lại thế cân bằng sinh thái Trữ lượng gỗ, lâm sản tăng lên sẽ có những đóng góp cho nền kinh tế tỉnh trong tương lai
2.1.2.4 Tài nguyên khoáng sản
Tỉnh Cao Bằng có trữ lượng tài nguyên khoáng sản khá phong phú Theo
số liệu của Đoàn địa chất Hà Nội đến nay đã nghi nhận và đăng ký được 199 điểm khoáng sản với 45 mỏ khoáng có quy mô từ nhỏ đến lớn; 147 biểu hiện khoáng sản và 7 điểm biểu hiện khoáng hóa Trong các loại khoáng sản của tỉnh, triển vọng hơn cả là sắt, mangan, bauxit, chì - kẽm, thiếc - volfram
* Quặng sắt (Fe): qua kết quả điều tra, tìm kiếm đánh giá và thăm dò đã
xác định được 5 mỏ khoáng, 17 biểu hiện khoáng sản, phân bố thành 2 dải:
- Dải 1: kéo dài dọc theo hệ thống đứt gãy sâu Cao Bằng - Lạng Sơn, gồm hầu hết các mỏ có mức độ tập trung trữ lượng cao là Ngườm Cháng, Nà Rụa, Nà Lũng, Bó Lếch và các biểu hiện khoáng sản như Bản Chang, Bó Nình, Boong Quang, Nà Mè - Hào Lịch
- Dải 2: kéo dài từ Nguyên Bình qua thị trấn Tĩnh Túc dọc theo hệ thống đứt gãy phương Đông - Tây gồm các điểm khoáng sản như: Tà Phình, Cao Lù, Khuổi Tông, Lũng Luông, Khuổi Lếch, Làng Chang, Bản Nùng, Nà Lèng, Nà Rai, Bản Ho và 1 điểm sắt - mangan Tài Soỏng
Trong số điểm mỏ nêu trên mới có 3 mỏ được thăm dò là Ngườm Cháng,
Nà Lũng và Nà Rụa Tổng trữ lượng và tài nguyên của 17 mỏ khoáng và biểu hiện khoáng sản là 44.754.190 tấn quặng
*Quặng thiếc - volfram: thiếc và volfram biểu hiện khá phong phú và tập
trung cao xung quanh khối xâm nhập Phia Oắc thuộc huyện Nguyên Bình Theo thành phần khoáng vật quặng, tại vùng Pia Oắc tồn tại một kiểu quặng casiterit-volframit đặc trưng Thuộc khu vực Phia Oắc đã biết 17 mỏ, điểm khoáng sản thiếc-volfram (gốc và sa khoáng) tại các vị trí sau:
- Thiếc gốc: Lũng Mười, San Alechsan, Tài Soỏng, Khía Cạnh, Bản Ổ
Trang 23- Thiếc sa khoáng: Tĩnh Túc, Nậm Kép, Nguyên Bình, Lũng Luông, Thái Lạc, Lê A, Ca Mi, Bình Đường, Nà Ngạn, Phương Xuân (Nậm Quang), Khuôn Đồng, Nà Quang
Tổng trữ lượng và tài nguyên dự báo 13 mỏ khoáng và biểu hiện khoáng sản là 13.793,18 tấn
* Quặng vàng (Au): đã phát hiện 10 điểm (trong đó có 1 mỏ khoáng) tập
trung 2 dải sau:
- Dải 1: Kéo dài từ thị trấn Nguyên Bình lên Bảo Lạc có 1 mỏ khoáng (Nam Quang) và 5 điểm khoáng sản (Khuổi Tòng, Bản Nùng, Lộc Xoa, Dược Lang, Bản Liềm) Trong đó các điểm Khuổi Tòng, Lộc Xoa, Dược Lang mới được phát hiện khi Đoàn địa chất Hà Nội lập bản đồ địa chất tỷ lệ 1:50.000
- Dải 2: kéo dài từ Hoà An đến Thạch An có 2 điểm khoáng sản (Bản Sẳng, Minh Khai)
Tổng tài nguyên dự báo cho 7 biểu hiện khoáng sản là 1.940,171 kg Au Các điểm quặng vàng hầu hết mới được phát hiện qua đo vẽ bản đồ chưa được tìm kiếm đánh giá (trừ mỏ Nam Quang đã được đánh giá và đang khai thác)
* Quặng bau xít: quặng bauxit tập trung tại 3 huyện Thông Nông, Hà
Quảng và Quảng Hoà Các mỏ quặng đều đã được tìm kiếm hoặc thăm dò
Theo trữ lượng các mỏ khoáng bauxit Cao Bằng đều thuộc qui mô nhỏ, trữ lượng từ vài triệu đến dưới 10 triệu tấn mỗi mỏ Trữ lượng và tài nguyên dự báo quặng bauxit toàn tỉnh Cao Bằng là trên 85 triệu tấn (bauxit+alit) Trong đó trữ lượng 121+122 đã tính được 37.932.809 tấn
* Quặng mangan (Mn): toàn bộ mỏ và điểm khoáng sản mangan chủ yếu
tập trung trong đới Hạ Lang, trong các hệ tầng Tốc Tát, Bằng Ca và Lũng Nậm với thành phần là đá vôi vân đỏ, đá silic, đá vôi Trong lãnh thổ Cao Bằng đã xác định có 3 mỏ khoáng là Tốc Tát, Roỏng Tháy và Lũng Luông; 13 điểm khoáng sản: Hát Pan, Bản Khuông Nộc Cu, Mã Phục, Tổng Ngà, Khau Phải, Bản Mặc, Nà Num, Tả Thán, Hạ Lang, Lũng Phẩy, Khưa Khoang, Bản Nhổn;
và 4 điểm biểu hiện khoáng hoá: Đồng Sẳng, Pò Na, Nà Khiêu, Lũng Phiac Tập trung vào 2 dải chính là:
- Dải 1: kéo dài theo phương Tây Bắc - Đông Nam, tập trung các mỏ có qui mô lớn hơn: Tốc Tát, Roỏng Tháy và biểu hiện khoáng sản Bản Khuông
- Dải 2: kéo dài phương Đông Bắc - Tây Nam gồm 2 đới quặng, trong đó đới phía bắc tập trung hầu hết các mỏ và điểm khoáng sản thuộc huyện Trùng Khánh (Nà Num, Lũng Luông, Hát Pan, Nộc Cu ) các điểm quặng ở phía nam chủ yếu là các điểm khoáng sản và các điểm biểu hiện khoáng hoá mangan nghèo qui mô nhỏ bé thuộc huyện Hạ Lang: Lũng Phẩy, Đồng Sẳng, Bản Nhổn
Trang 24Tổng trữ lượng tài nguyên quặng mangan của 12 mỏ khoáng và biểu hiện khoáng sản là 6.640.569 tấn Trong đó, trữ lượng cấp 121+122 là 1.928.688 tấn
* Quặng chì - kẽm: có 9 điểm khoáng sản chì - kẽm; trong đó có 4 điểm
phân bố ở huyện Bảo Lâm và 5 điểm ở huyện Nguyên Bình Ở hầu hết các điểm quặng đều đã có dấu hiệu khai thác từ trước Trong đó, điểm Bản Bó đã được thăm dò, điểm Bản Lìn - Lũng Thôn và Tống Tinh đã được tìm kiếm đánh giá
Tổng trữ lượng và tài nguyên của 7 mỏ khoáng và biểu hiện khoáng sản là 3.145.608 tấn kim loại Trong đó, mỏ Bản Bó có trữ lượng cấp 121+122 là 239.640 tấn kim loại, biểu hiện khoáng sản Bản Lìn - Lũng Thôn có tài nguyên cấp 333 là 2.408.309 tấn kim loại,… cần được thăm dò nâng cấp trữ lượng
* Quặng antimon
Quặng antimon của Cao Bằng phân bố ở phía tây Nguyên Bình và Thạch
An, gồm 4 biểu hiện khoáng sản là: Nam Viên, Nà Đông, Dược Lang, Khau Hai
và 2 điểm biểu hiện khoáng hoá: Nà Ngần và Linh Quang
* Quặng uran
Quặng uran có 1 điểm tại Bình Đường (xã Phan Thanh, huyện Nguyên Bình) đã được người Pháp phát hiện và Liên đoàn Địa chất Xạ hiếm tiến hành thăm dò sơ bộ Quặng uran nằm trong trầm tích bở rời eluvi-deluvi do phong hoá các đá granit, đá phiến, sét vôi và tồn tại các khoáng vật thứ sinh như dunit, tocbecnit Hàm lượng U3O8=0,05-0,06% Đã tính trữ lượng U3O8 là 21 tấn
* Quặng beryli
Mới phát hiện 1 điểm ở phía tây bắc khối xâm nhập Phia Oắc Quặng beryli phân bố trong trầm tích bở (deluvi, proluvi) dọc theo đới phá huỷ kiến tạo mạnh đã phát hiện 5 thân quặng có quy mô dài 150 - 200m; dày 1 - 25m, hàm lượng BeO = 0,1 - 1,2 % Đã dự tính tài nguyên khoảng 1.520 - 2.050 tấn Be
2.1.2.5 Tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn
Tỉnh Cao Bằng có nhiều danh lam thắng cảnh, khu di tích lịch sử và có ba khu cửa khẩu chính thuận tiện cho phát triển thương mại và khai thác du lịch
Về cảnh quan thiên nhiên: khu hồ Thang Hen với hồ chính là Thang Hen, ngoài ra còn có 40 hồ nhỏ, các cảnh quan non nước kỳ thú như hồ Khuổi Lái; thác Bản Giốc nổi tiếng được tạo nên bởi con sông Quây Sơn chạy qua huyện Trùng Khánh dọc biên giới Việt - Trung, vừa là cảnh quan đẹp, vừa có nguồn thuỷ năng lớn Bên cạnh thác lại có động Ngườm Ngao, có lẽ là đẹp vào loại nhất nhì trong các động Việt Nam, có chiều dài điều tra sơ bộ khoảng 3 km nhưng nhiều lối lạch chưa thám hiểm hết Bên cạnh đó là các cửa khẩu Tà Lùng, Trà Lĩnh và Sóc Giang giáp với Trung Quốc có thể hình thành các tour du lịch mua sắm hấp dẫn
Trang 25Về di tích lịch sử - văn hoá: trên địa bàn tỉnh Cao Bằng có nhiều khu di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh như khu di tích lịch sử Pác Bó (huyện Hà Quảng), khu rừng Trần Hưng Đạo (huyện Nguyên Bình), di tích chiến thắng Đông Khê (huyện Thạch An), khu căn cứ Lam Sơn, thành nhà Mạc (Phục Hòa), đền Vua Lê (Hòa An), đền Kỳ Sầm (thành phố Cao Bằng), chùa Sùng Phúc (xã Thanh Nhật, huyện Hạ Lang), Đây là những giá trị văn hoá vật thể góp phần quan trọng vào phát huy giá trị văn hóa, truyền thống cũng như phát triển du lịch nói riêng và phát triển kinh tế nói chung của tỉnh
Về dân tộc, theo kết quả điều tra, tỉnh Cao Bằng có tới 28 dân tộc, trong
đó phần lớn là các dân tộc Tày, Nùng, Dao, H’Mông, Kinh, Sán Chỉ, Lô Lô (chiếm 99,83% tổng số dân của tỉnh) và các dân tộc còn lại (chỉ chiếm 0,18%).Mỗi dân tộc cư trú ở Cao Bằng có những nét đặc trưng về tập quán sản xuất, bản sắc văn hoá dân tộc và tập tục sinh hoạt truyền thống tạo nên một nền văn hoá phong phú, đa dạng cần được giữ gìn bảo vệ, song tất cả đều có những nét tương đồng, hoà nhập trong cộng đồng và chung sống trên cùng lãnh thổ Các dân tộc Cao Bằng có truyền thống cách mạng, hiếu học, ham hiểu biết, cần
cù, chịu khó, sáng tạo trong lao động sản xuất và đoàn kết dũng cảm trong đấu tranh chống ngoại xâm
Về lễ hội: do có nhiều dân tộc ít người cư trú trên địa bàn, nên văn hoá phi vật thể của Cao Bằng cũng đa dạng, phong phú Trong đó những giá trị văn hoá phi vật thể tiêu biểu là đàn tính, làn điệu hát then, các lễ hội, phong tục tập quán của mỗi dân tộc, các nghề truyền thống, các trang phục, tiếng nói, chữ viết của một số dân tộc ít người,
Trong những năm tới cần quan tâm dành đất cho việc nâng cấp, tôn tạo các điểm di tích lịch sử, danh thắng để khai thác triệt để tiềm năng giá trị văn hoá, vật thể góp phần vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh
Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên:
- Nhìn chung tỉnh Cao Bằng có địa hình chia cắt phức tạp, độ dốc lớn nên gây khó khăn cho tổ chức sản xuất, phát triển kinh tế - xã hội và giao lưu trao đổi hang hóa trong và ngoài tỉnh
- Khí hậu phân hóa theo mùa và theo từng khu vực, chế độ nhiệt, chế độ mưa và độ ẩm thích hợp với nhiều loài cây trồng Tuy nhiên, vào mùa đông nhiệt độ xuống thấp và thường có hiện tượng sương mù, sương muối xuất hiện
đã ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng và phát triển của cây trồng
- Tỉnh Cao Bằng có nhiều suối lớn, nhỏ đan xen; mật độ bình quân
che phủ cao thường có nước quanh năm, ngược lại khi độ che phủ rừng bị suy giảm thì lượng nước cũng bị giảm theo, đặc biệt ở khu vực có kiểu địa hình núi
Trang 26đá vôi thường khan hiếm nước mặt, mực nước ngầm xuống thấp, điển hình như vùng Lục khu Hà Quảng hầu như thiếu nước quanh năm Do vậy để đảm bảo nguồn nước phục vụ sinh hoạt và sản xuất cần phải có các giải pháp như: Quy hoạch các khu rừng phòng hộ, nâng cao độ che phủ của rừng, xây dựng các hồ, đập tích trữ nước, xây dựng hệ thống kênh mương thủy lợi…
- Tỉnh Cao Bằng có 10 loại đất chính; trong đó đất bồn địa và đất thung lũng phù hợp cho phát triển sản xuất nông nghiệp Những lập địa đồi, núi trung bình, núi thấp phù hợp cho phát triển sản xuất lâm nghiệp và sản xuất nông - lâm kết hợp
2.1.3 Thực trạng cảnh quan và môi trường
Cảnh quan tỉnh Cao Bằng mang vẻ đẹp của vùng núi Đông Bắc với nhiều dãy núi trùng điệp Xen kẽ dưới chân đồi, núi là các ruộng bậc thang trồng lúa, màu và các cây trồng hàng năm khác Hệ thống núi đồi và các khe suối kết hợp hài hòa tạo nên bức tranh thiên nhiên đa dạng và phong phú Cảnh quan môi trường mức độ ô nhiễm chưa nhiều, về cơ bản vẫn còn giữ được sắc thái môi trường tự nhiên
Trong những năm qua tỉnh Cao Bằng đã triển khai nhiều hoạt động nhằm bảo vệ môi trường như quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên; đẩy mạnh truyền thông, mở các lớp tập huấn công tác về ứng phó với biến đổi khí hậu nhằm nâng cao kiến thức, kỹ năng cho nhiều đối tượng nhất là thế hệ trẻ; bảo vệ rừng và trồng rừng phòng hộ đầu nguồn chống xói mòn và sạt lở đất; thu gom xử lý túi nilon, bao bì, chai chứa thuốc bảo vệ thực vật; xây dựng nhà tiêu hợp vệ sinh và
di dời chuồng trại nuôi nhốt gia súc ra xa nhà ở tại địa bàn các xã vùng cao, vùng đồng bào dân tộc thiểu số
Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Cao Bằng đã tổ chức tuyên truyền, phổ biến, giáo dục chính sách pháp luật về đất đai, khoáng sản, bảo vệ môi trường với nhiều hình thức ngày càng đa dạng, phong phú và thiết thực vào đời sống nhân dân Trong lĩnh vực bảo vệ môi trường đã chỉ đạo xử lý triệt để, dứt điểm
08 cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng trọng (bãi rác Khuổi Kép; Nhà máy than cốc; Bệnh viện đa khoa các huyện Phục Hoà; Thạch An, Thông Nông
và Hà Quảng; Bệnh viện Y học Cổ truyền tỉnh Cao Bằng; cơ sở sản xuất giấy Sinh Trường,…)
Sở Tài nguyên và Môi trường đã trình UBND tỉnh phê duyệt Quy hoạch bảo vệ môi trường tỉnh Cao Bằng đến năm 2020 và đã phê duyệt mạng lưới điểm quan trắc môi trường trên địa bàn tỉnh, Xây dựng dự án khoanh định vùng cấm hoạt động khoáng sản, khu vực tạm cấm hoạt động khoáng sản trên địa bàn tỉnh; hoàn thành dự án xây dựng cơ sở dữ liệu địa chất - khoáng sản tỉnh Cao Bằng; tiến hành phê duyệt các báo cáo đánh giá tác động môi trường
Trang 27Tuy nhiên, quá trình khai thác sử dụng đất đai, tài nguyên thiên nhiên và tập quán sinh hoạt lao động của người dân chưa hợp lý đã ảnh hưởng rất lớn đến môi trường sinh thái Trong một thời gian dài, việc bảo vệ rừng không được quan tâm đúng mức dẫn đến diện tích rừng và tỷ lệ che phủ rừng suy giảm, các loài động thực vật giảm sút nghiêm trọng; đất đai bị xói mòn rửa trôi, nghèo dinh dưỡng, nguồn nước bị thiếu hụt và ô nhiễm Mặt khác, do tập quán sinh sống không vệ sinh, chăn thả gia súc, gia cầm bừa bãi, các hoạt động trong nông nghiệp như sử dụng phân bón hóa học, thuốc trừ sâu quá mức, tập quán canh tác lạc hậu cũng gây ảnh hưởng xấu đến môi trường sinh thái
Tuy là một tỉnh miền núi vùng cao, công nghiệp và đô thị chưa phát triển, song hiện trạng môi trường ở Cao Bằng cũng có một số vấn đề cần quan tâm:
- Môi trường nước: theo Báo cáo hiện trạng môi trường tỉnh Cao Bằng
giai đoạn 2011- 2015 của Sở Tài nguyên và Môi trường Cao Bằng cho thấy chất lượng nước tại đầu nguồn các con sông còn khá tốt, nồng độ các chất ô nhiễm tăng lên dần về hạ lưu các con sông nơi đông dân cư và các cơ sở công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp Trong những năm trở lại đây, các hoạt động khai thác vàng
sa khoáng, cát sỏi với công nghệ đơn giản đã làm ô nhiễm nước sông, đặc biệt là hàm lượng chất rắn lơ lửng vượt quá giới hạn cho phép: như tại sông Thể Dục, sông Gâm nhánh Bảo Lạc, Bảo Lâm hàm lượng chất rắn lơ lửngvượt Quy chuẩn Việt Nam 3 - 4 lần
- Môi trường không khí: qua kết quả khảo sát đo đạc của Trung tâm Y tế
Dự phòng của tỉnh Cao Bằng cho thấy, môi trường không khí trên địa bàn tỉnh hiện nay tương đối sạch, ô nhiễm không khí chỉ tập trung cục bộ tại một số điểm như: Nhà máy luyện kim, khu vực thi công xây dựng, một số điểm sản xuất tiểu thủ công nghiệp, các nút giao thông có mật độ phương tiện qua lại cao, các vùng dân cư nông thôn có tập quán nuôi nhốt gia súc gia cầm dưới gầm sàn
- Chất thải rắn: nhìn chung rác thải ở đô thị và rác thải công nghiệp hiện
nay chủ yếu được chôn lấp hoặc sử dụng vào việc rải đường giao thông nội bộ Hiện tại chưa có các công nghệ xử lý chất thải rắn đảm bảo vệ sinh môi trường
2.2 Phân tích, đánh giá bổ sung thực trạng phát triển kinh tế - xã hội
Trong 5 năm qua kinh tế - xã hội tỉnh Cao Bằng phát triển trong điều kiện
có nhiều khó khăn: suy thoái kinh tế trên thế giới tác động đến kinh tế trong nước; nguồn lực đầu tư cho phát triển hạn chế; thiên tai dịch bệnh xảy ra nhiều nơi ảnh hưởng lớn đến sản xuất và đời sống nhân dân Tuy nhiên, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân trong tỉnh luôn đoàn kết, phát huy nội lực, chủ động sáng tạo với nhiều chính sách phù hợp để thu hút các nguồn lực cho đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng, đảm bảo quốc phòng - an ninh trên địa bàn tỉnh
Trang 282.2.1 Về tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GRDP) đạt bình quân 9,2%/năm giai đoạn
2011 - 2015, thu nhập bình quân đầu người đạt 20,8 triệu đồng Nếu tính theo cách tính mới tại Thông báo số 371/TB-VPCP của Văn phòng Chính phủ thì tốc
độ tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2011 - 2015 chỉ đạt bình quân 4,8%/năm
Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng giảm dần tỷ trọng nông lâm nghiệp, tăng dần tỷ trọng công nghiệp, xây dựng và dịch vụ; trong đó công nghiệp, xây dựng tăng từ 20% lên 20,4%, dịch vụ tăng từ 47,7% lên 51,3%; nông lâm ngư nghiệp giảm từ 32,3% xuống 27,62% so với năm 2010
Bảng 01: Kết quả thực hiện các chỉ tiêu kinh tế giai đoạn 2011 - 2015
1
Tốc độ tăng trưởng kinh tế - GRDP (bình
3
Cơ cấu kinh tế
Nguồn: Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016 - 2020 tỉnh Cao Bằng
2.2.2 Thực trạng phát triển các ngành kinh tế
2.2.2.1 Khu vực kinh tế nông nghiệp
Tỉnh Cao Bằng đã xác định phương hướng phát triển kinh tế nông nghiệp giai đoạn 2011 - 2015 là đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, hình thành các vùng sản xuất hàng hóa tập trung, gắn với chế biến và tiêu thụ; tập trung xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn, nhất là thủy lợi, giao thông, điện, nước sạch nông thôn, các cơ sở chế biến nông, lâm sản, phát huy thế mạnh của địa phương, huy động nguồn lực để phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn Đến nay, ngành nông nghiệp tỉnh Cao Bằng có những bước phát triển khá, đã cơ bản đảm bảo đủ lương thực tại chỗ, sản lượng lương thực có hạt năm 2011 đạt 242 ngàn tấn, năm 2015 đạt hơn 250 ngàn tấn, bình quân lương thực đầu người đạt
Trang 29488 kg/người, giá trị sản xuất nông nghiệp đạt 35 triệu đồng/ha; công tác ứng dụng tiến bộ khoa học và kỹ thuật, công nghệ vào sản xuất được đẩy mạnh Các vùng chuyên canh cây trồng tập trung gắn với công nghiệp chế biến được hình thành và phát triển như: vùng mía nguyên liệu ở các huyện Phục Hòa, Trùng Khánh, Thạch An, mía xuất khẩu tại Hạ Lang; vùng thuốc lá tại các huyện: Hòa Quảng, Hòa An, Thông Nông, Trùng Khánh; vùng trúc sào tại các huyện: Nguyên Bình, Thông Nông, Hòa An, Bảo Lạc; vùng hồi ở các huyện: Trà Lĩnh, Thạch An, Bảo Lạc, Bảo Lâm Tốc độ phát triển đàn gia súc, gia cầm tương đối cao Năm 2015 đàn bò có 126,812 ngàn con, đàn trâu có 101,416 ngàn con, đàn lợn có 337,186 ngàn con, đàn gia cầm có 2.120 ngàn con Tốc độ tăng trưởng bình quân lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp tăng 3,3%/năm
Công tác quy hoạch, quản lý bảo vệ rừng được thực hiện tốt, tài nguyên rừng từng bước được phục hồi Giai đoạn 2011 - 2015, trồng rừng được 5.190
ha, độ che phủ rừng đạt năm 2015 đạt 50,7% Tình trạng du canh du cư, phá rừng làm nương rẫy và di dân tự do cơ bản được ngăn chặn; đời sống đồng bào thuộc diện định canh định cư cơ bản ổn định
Cơ sở hạ tầng ở nông thôn như giao thông, thuỷ lợi, điện, trường học, bệnh xá, chợ được quan tâm đầu tư, góp phần quan trọng vào việc đổi mới bộ mặt nông thôn, đời sống đồng bào đã được cải thiện và nâng lên đáng kể
Công tác xây dựng nông thôn mới: tỉnh đã thành lập Ban chỉ đạo và Văn phòng điều phối Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020 Phê duyệt Đồ án quy hoạch chung và quy hoạch chi tiết được được 171/177 xã; phê duyệt được 20 Đề án xây dựng nông thôn mới, nâng tổng
số Đề án được phê duyệt 127/177 xã, đạt 71,75%; thực hiện các tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới đạt bình quân 5,53 tiêu chí/xã, trong đó: có 01 xã đạt 19 tiêu chí, số xã đạt từ 10 - 14 tiêu chí có 10 xã, số xã đạt từ 5 - 9 tiêu chí có 93 xã,
số xã đạt từ 1 - 4 tiêu chí có 73 xã
2.2.2.2 Khu vực kinh tế Công nghiệp - Xây dựng
Giai đoạn 2011 - 2015, lĩnh vực sản xuất công nghiệp tên địa bàn tỉnh đã thu hút được các thành phần kinh tế tham gia đầu tư phát triển công nghiệp, đã
có những bước phát triển đáng kể và đã khai thác được một số tiềm năng thế mạnh góp phần vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Trong giai đoạn này một số nhà máy sản xuất công nghiệp truyền thống vẫn duy trì được hoạt động sản xuất kinh doanh; một số dự án đầu tư từ giai đoạn trước tiếp tục được triển khai thực hiện và hoàn thành đưa vào hoạt động sản xuất như: Nhà máy sản xuất Feromangan Khuổi Hân, Hòa An (Công ty cổ phần Khoáng sản Tây Giang), Nhà máy thủy điện Bản Rạ, Trùng Khánh (Công ty cổ phần Năng lượng Đông Bắc), nhà máy thủy điện Thoong Gót II, Trùng Khánh (Công ty TNHH
Trang 30Trường Minh ), nhà máy sản xuất tinh bột sắn Chu Trinh (Công ty cổ phần Khánh Hạ), nhà máy chế biến trúc, Nguyên Bình (Công ty TNHH một thành viên 688), nhà máy sản xuất gang thỏi (Công ty cổ phần Chế biến khoáng sản Cao Sơn Hà), các nhà máy sản xuất vật liệu xây dựng, chế biến nông, lâm sản Một số dự án trọng điểm của tỉnh tiếp tục được triển khai thực hiện như: Nhà máy luyện thép Chu Trinh (Công ty cổ phần Gang thép Cao Bằng), dự án khai thác mỏ sắt Nà Rụa (Công ty cổ phần Gang thép Cao Bằng ), nhà máy thủy điện
Nà Tẩư, Quảng Uyên (Công ty Cổ phần Thủy điện Bắc Minh), thủy điện Hoa Thám (Nguyên Bình); thủy điện Tiên Thành, thủy điện Hoà Thuận (Phục Hoà), thủy điện Bảo Lâm công suất từ 7 MW đến trên 190 MW; dự án khai thác mỏ chì - kẽm Bản Bó (Công ty Cổ phần Khoáng sản Bảo Lâm) Phát triển công nghiệp trong giai đoạn này đã tạo bước chuyển biến mới và hướng đi đúng trong phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh là chú trọng phát triển công nghiệp chế biến khoáng sản, chế biến nông lâm sản và phát triển thuỷ điện, tạo đà cho phát triển trong giai đoạn tiếp theo Số cơ sở hoạt động sản xuất công nghiệp - TTCN trên địa bàn tỉnh đến nay có khoảng 1.500 cơ sở
Các doanh nghiệp công nghiệp sau chuyển đổi đã chú trọng đầu tư thiết
bị, mở rộng sản xuất, hoạt động tương đối hiệu quả; doanh nghiệp công nghiệp ngoài quốc doanh phát triển nhanh; các làng nghề truyền thống được nhà nước
hỗ trợ phát triển như: Làng nghề dệt thổ cẩm Hoà An, Hà Quảng; nghề đúc, rèn tại xã Phúc Sen, huyện Quảng Uyên Hỗ trợ truyền nghề, đào tạo lao động để khôi phục và phát triển nghề truyền thống như: nghề trạm khắc bạc, dệt, đan lát, gốm, làm giấy dó,… góp phần giải quyết việc làm và tăng thu nhập cho người lao động
Tuy nhiên, trong giai đoạn này do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế làm cho các cơ sở sản xuất kinh doanh gặp nhiều khó khăn như: ảnh hưởng biến động giá cả thị trường, thay đổi cơ chế chính sách, thị trường tiêu thụ sản phẩm
bị thu hẹp, sản phẩm tiêu thụ chậm, giá giảm mạnh, chi phí nguyên vật liệu tăng, làm cho sản xuất kinh doanh cầm chừng, không phát huy được năng lực sản xuất, năng suất lao động thấp, công nhân thiếu việc làm, hiệu quả sản xuất kinh doanh đạt thấp; một số nhà máy đầu tư xây dựng xong không phát huy được công suất thiết bị do khó khăn về thị trường tiêu thụ, sức cạnh tranh sản phẩm kém, thiếu nguyên liệu, đã làm cho giá trị sản xuất công nghiệp trong giai đoạn này có mức tăng trưởng thấp Tiến độ thực hiện các dự án đầu tư mới chậm so với dự kiến kế hoạch đề ra, làm cho năng lực sản xuất mới tăng không đáng kể Các cơ sở sản xuất công nghiệp chủ yếu là quy mô sản xuất nhỏ và vừa, công nghệ thiết bị còn lạc hậu ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng lĩnh vực công nghiệp Giá trị sản xuất công nghiệp tăng trưởng bình quân 0,44%/năm
Trang 312.2.2.3 Khu vực kinh tế Thương mại - Dịch vụ
Trong những năm qua hoạt động thương mại và thị trường có nhiều chuyển biến tích cực, mặc dù tình hình thị trường của cả nước nói chung và tỉnh
ta nói riêng chịu tác động của suy thoái kinh tế, ảnh hưởng của dịch bệnh gia súc, gia cầm, thiên tai lũ lụt, Nhưng nhìn chung trên địa bàn toàn tỉnh lưu thông hàng hoá thuận lợi, cung cầu đảm bảo, hàng hoá trên thị trường dồi dào phong phú, đáp ứng nhu cầu sản xuất và đời sống nhân dân, đặc biệt là nhân dân vùng sâu, vùng xa Hệ thống thương mại dịch vụ tiếp tục được mở rộng; mạng lưới chợ, chợ trung tâm cụm xã vùng sâu, vùng xa được quan tâm đầu tư xây dựng, tạo điều kiện cho nhân dân giao lưu hàng hoá, tiêu thụ sản phẩm thuận lợi, góp phần nâng cao thu nhập và đời sống của nhân dân trên địa bàn Hoạt động thương mại đã thu hút và giải quyết công ăn việc làm cho hàng vạn lao động, góp phần tăng thu ngân sách, thúc đẩy kinh tế - xã hội địa phương phát triển Tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ trên địa bàn tỉnh năm 2011 đạt 5.100 tỷ đồng, năm 2015 đạt 6.643 tỷ đồng Tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2011
- 2015 đạt 12,8%/ năm
Hoạt động xuất nhập khẩu qua địa bàn tỉnh: với lợi thế là một tỉnh biên giới, các khu kinh tế cửa khẩu đang được quan tâm đầu tư phát triển Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu qua địa bàn tỉnh tăng hàng năm Năm 2011 đạt 240 triệu USD, năm 2015 ước đạt 338 triệu USD, tốc độ tăng bình quân 30,9%/năm Trong đó: kim ngạch xuất khẩu tăng 18,7%/năm, kim ngạch nhập khẩu tăng 32,7%/năm
Mặt hàng xuất khẩu chủ yếu là khoáng sản chế biến, hàng tiểu thủ công nghiệp, hàng nông lâm sản, nhưng nhìn chung hàng xuất khẩu không ổn định
và sản phẩm thô là chủ yếu; mặt hàng nhập khẩu chủ yếu gồm máy móc thiết bị, linh kiện điện tử, nguyên vật liệu, máy móc thiết bị, hàng tiêu dùng,
Nhìn chung,hoạt động xuất nhập khẩu của tỉnh đã phát triển theo hướng phù hợp, bước đầu khai thác có hiệu quả tiềm năng và thế mạnh của cửa khẩu biên giới Song vẫn còn bộc lộ những hạn chế là chưa tạo được mặt hàng xuất khẩu chủ lực, ổn định với khối lượng lớn, chưa thu hút được nhiều doanh nghiệp hoạt động xuất nhập khẩu từ các địa phương tham gia buôn bán và đầu tư tại các cửa khẩu của tỉnh Cơ sở hạ tầng kỹ thuật tại các cửa khẩu tuy đã được trú trọng đầu tư, nhưng chưa đồng bộ và kịp thời đáp ứng cho hoạt động xuất nhập khẩu của địa phương
Hoạt động kinh tế đối ngoại tiếp tục đạt được bước tiến quan trọng, đặc biệt tăng cường thúc đẩy được mối quan hệ giao lưu hợp tác kinh tế - thương mại giữa tỉnh Cao Bằng (Việt Nam) với tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc) Để phát
Trang 32triển quan hệ hợp tác song phương, hai bên đã tổ chức nhiều cuộc gặp gỡ, hội đàm, hội thảo, bàn bạc ký kết về các vấn đề hợp tác phát triển kinh tế, thương mại, đầu tư, đồng thời tổ chức nhiều hoạt động giao lưu phong phú thiết thực, góp phần thắt chặt mối quan hệ hữu nghị giữa hai địa phương
Hàng năm đã tổ chức nhiều Hội chợ Thương mại tạo cơ hội cho các nhà đầu tư, các doanh nghiệp trong và ngoài nước giao lưu gặp gỡ, liên doanh liên kết, tìm kiếm mở rộng thị trường, để Cao Bằng có điều kiện hoà nhập với thị trường khu vực và quốc tế
Mạng bưu chính viễn thông tiếp tục được nâng cấp mở rộng; phủ sóng điện thoại di động tới 13/13 huyện, thành phố và các vùng lõm của tỉnh; cáp quang hoá 100% các tuyến truyền dẫn nội tỉnh
Dịch vụ vận tải khá phát triển, có nhiều thành phần kinh tế tham gia đã cơ bản đáp ứng nhu cầu vận chuyển hàng hoá và đi lại của nhân dân Tuy nhiên, năng lực vận tải hàng hoá còn thấp, hệ thống cơ sở hạ tầng như đường, bến, bãi, nhà kho còn thiếu, nhất là các bến xe khách trên địa bàn
Các dịch vụ như: ngân hàng, bảo hiểm, tư vấn, khoa học công nghệ, nhà hàng, khách sạn, ăn uống, … cơ bản đáp ứng nhu cầu xã hội, đảm bảo phục vụ sản xuất, kinh doanh, phát triển kinh tế- xã hội địa phương
2.2.2.4 Thu, chi ngân sách
Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tăng hàng năm Năm 2011 thu đạt
705 tỷ đồng, năm 2015 tổng thu ngân sách đạt trên 1.280 tỷ đồng, tăng bình quân 17 %/năm, đạt mục tiêu kế hoạch
Chi ngân sách địa phương năm 2011 là 5.525 tỷ đồng, dự kiến năm 2015
là 5.888 tỷ đồng Cơ cấu chi ngân sách giai đoạn 2011-2015 đã có sự chuyển dịch tích cực theo hướng tập trung cao hơn cho chi đầu tư phát triển Tỷ lệ chi cho đầu tư phát triển tăng từ 18% năm 2011 lên khoảng 30% năm 2015
2.2.2.5 Tình hình triển khai thực hiện đề án tái cơ cấu kinh tế
a) Việc thực hiện tái đầu tư công
Trong những năm qua, trong quản lý thực hiện vốn đầu tư công tỉnh Cao Bằng đã thực hiện nghiêm túc các quy định của nhà nước Việc phê duyệt các dự
án đầu tư đã nghiêm túc thực hiện theo Chỉ thị 1792/CT-TTg ngày 15 tháng 10 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường quản lý vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước và trái phiếu Chính phủ, chỉ phê duyệt các dự án khi xác định được nguồn vốn và khả năng cân đối vốn cho các dự án đó và việc bố trí vốn phải đảm bảo theo quy định và văn bản thẩm định vốn
Hàng năm, việc bố trí vốn đầu tư, cơ bản đã khắc phục được tình trạng đầu tư dàn trải, tập trung bố trí vốn cho các dự án trọng tâm, trọng điểm có ảnh
Trang 33hưởng lớn đến phát triển kinh tế- xã hội của tỉnh của tỉnh Việc bố trí vốn đầu tư hàng năm đã thực hiện theo thứ tự như sau: ưu tiên bố trí vốn cho các công trình hoàn thành, bàn giao đưa vào sử dụng, các công trình chuyển tiếp đang triển khai, khi còn dư vốn mới bố trí cho các công trình khởi công mới thật sự cấp bách, do đó các dự án khởi công mới ngày càng giảm Việc bố trí vốn đầu tư trong những năm 2011 - 2013 đã góp phần thanh toán dứt điểm cho các công trình, dự án đã hoàn thành, bàn giao đưa vào sử dụng, triển khai hoàn thành các công trình, dự án đang thi công dở dang, rất ít các dự án khởi công mới (các công trình khởi công mới chủ yếu thuộc các chương trình mục tiêu quốc gia có tổng mức vốn đầu tư nhỏ, thực hiện hoàn thành trong 1, 2 năm)
Trong những năm gần đây, tỉnh Cao Bằng đã ban hành cơ chế, chính sách
ưu đãi đầu tư, khuyến khích các doanh nghiệp trong nước và nước ngoài đầu tư vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, thương mại dịch vụ Ngân sách nhà nước chỉ đầu các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và các công trình công cộng và những lĩnh vực tư nhân không đầu tư
b) Việc tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước
- Thực hiện Nghị quyết Trung ương 3, Nghị quyết Trung ương 9 khóa IX
về việc tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước và theo các quyết định đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, tính đến năm 2010, tỉnh Cao Bằng cơ bản đã sắp xếp, đổi mới xong các doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn tỉnh Trong đó: có 41 doanh nghiệp được sắp xếp, đổi mới cổ phần hóa hoạt động Luật doanh nghiệp; 4 doanh nghiệp được sắp xếp theo loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên 100 % vốn sở hữu nhà nước; 4 doanh nghiệp nhà nước được sắp xếp chuyển thành đơn vị sự nghiệp có thu; có 3 doanh nghiệp hoạt động kinh doanh thua lỗ kéo dài đã thực hiện phải giải thể
- Thực hiện Quyết định số 14/2011/QĐ-TTg ngày 04/3/2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành tiêu chí, danh mục phân loại Doanh nghiệp nhà nước, tỉnh Cao Bằng đã tiến hành rà soát phân loại và tiếp tục thực hiện sắp xếp Doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn tỉnh Cụ thể là: số doanh nghiệp nhà nước nắm giữ 100% vốn gồm 4 doanh nghiệp với tổng số vốn điều lệ là 186.660 triệu đồng; gồm: Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên Xổ số kiến thiết
Cao Bằng, Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên Thuỷ nông Cao Bằng,
Công ty Đầu tư Phát triển và Môi trường, Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên Cấp nước Cao Bằng Số doanh nghiệp sau khi đã sắp xếp chuyển đổi
cổ phần hóa nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ chỉ còn 03 Doanh nghiệp (trừ một số doanh nghiệp còn vốn nhà nước đã thực hiện thoái vốn), gồm: Công
ty Cổ phần Giống và Thức ăn chăn nuôi Cao Bằng, Công ty Cổ phần In Việt
Trang 34Lập Cao Bằng, Công ty Cổ phần Du lịch Cao Bằng Số doanh nghiệp sau khi đã sắp xếp chuyển đổi cổ phần hóa nhà nước nắm giữ dưới 50% vốn điều lệ có 01
doanh nghiệp là Công ty cổ phần thương mại tổng hợp Bảo Lạc
- Thực hiện Quyết định số 2248/QĐ-UBND ngày 13/10/2011 của UBND tỉnh Cao Bằng, từ năm 2011, một số doanh nghiệp nhà nước đã được tổ chức, cơ cấu lại thành Tổng Công ty đầu tư và xuất nhập khẩu Cao Bằng, gồm 02 công ty con: Công ty Đầu tư Phát triển và Môi trường (trước là Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên Môi trường đô thị Cao Bằng) và Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên Cấp nước Cao Bằng Đồng thời trong năm 2012 UBND tỉnh đã ra Quyết định số 1832/QĐ-UBND ngày 27/11/2012 về việc chuyển giao quyền đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước tại doanh nghiệp của Công ty Cổ phần
Du lịch Cao Bằng về Tổng Công ty Đầu tư và Xuất nhập khẩu Cao Bằng
Tiếp tục quản lý, giữ nguyên 02 doanh nghiệp sau khi đã được sắp xếp, đổi mới thành công ty trách nhiệm hữu hạn 100% vốn sở hữu nhà nước gồm: Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên Thuỷ nông Cao Bằng và Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên Xổ số kiến thiết Cao Bằng
- Đối với các doanh nghiệp đã sắp xếp, đổi mới cổ phần hoá: Các doanh nghiệp nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ; gồm 02 doanh nghiệp là Công
ty Cổ phần In Việt Lập Cao Bằng và Công ty Cổ phần Giống và Thức ăn chăn nuôi Cao Bằng Các doanh nghiệp nhà nước nắm giữ dưới 50% vốn điều lệ, gồm
01 doanh nghiệp là Công ty Cổ phần Thương mại tổng hợp Bảo Lạc
c) Thực hiện tái cơ cấu hệ thống ngân hàng
Cơ cấu lại các ngân hàng thương mại được xác định và phân chia thành 3 giai đoạn chính: tái cơ cấu các ngân hàng thương mại yếu kém, xử lý nợ xấu và tái cơ cấu toàn diện tất cả các ngân hàng
Đến nay quá trình tái cơ cấu ngân hàng đã đạt được một số kết quả, như: Đảm bảo được thanh khoản, an toàn của hệ thống đã được kiểm soát; Nguy cơ gây đổ vỡ, mất an toàn hệ thống đã được đẩy lùi; các ngân hàng yếu kém đang được tái cơ cấu theo phương án đã được phê duyệt; Đề án "Xử lý nợ xấu của hệ thống các tổ chức tín dụng" và Đề án "Thành lập Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC)" được phê duyệt tại Quyết định 843/QĐ-TTg ngày 31/5/2013 của Thủ tướng Chính phủ
Trong quá trình xử lý các ngân hàng yếu kém, về cơ bản, Ngân hàng Nhà nước đã kiểm soát được tình hình của các ngân hàng thông qua các biện pháp nghiệp vụ Việc chi trả tiền gửi của dân cư tại các ngân hàng diễn ra bình thường, không xảy ra hiện tượng rút tiền hàng loạt với quy mô lớn, thanh khoản của các ngân hàng được cải thiện rõ rệt, huy động vốn không bị giảm và có thêm
Trang 35các khoản tiền gửi mới Điều này cho thấy lòng tin của công chúng được duy trì
ổn định, nguy cơ rủi ro gây mất an toàn hệ thống đã được giảm thiểu
Tại Chi nhánh Ngân hàng nhà nước tỉnh Cao Bằng, thực hiện chỉ đạo của Thống đốc Ngân hàng nhà nước Việt Nam, trong 2 năm 2012 - 2014, các văn bản liên quan đến tái cơ cấu và xử lý nợ xấu đã được triển khai và chỉ đạo các tổ chức tín dụng (TCTD) trên địa bàn tỉnh quán triệt đến cán bộ, công chức, viên chức ngân hàng Toàn tỉnh hiện có 03 Chi nhánh ngân hàng thương mại Nhà nước, 01 Chi nhánh ngân hàng thương mại cổ phần; 02 Chi nhánh ngân hàng chính sách Kết quả thực hiện tái cơ cấu lại các TCTD trên địa bàn tỉnh, đến cuối năm 2013 các chi nhánh TCTD trên địa bàn có sự thay đổi như: Ngân hàng Đầu
tư và Phát triển chi nhánh tỉnh Cao Bằng chuyển thành Ngân hàng TMCP Đầu
tư và Phát triển Chi nhánh tỉnh Cao Bằng; Ngân hàng Nông nghiệp và PTNT chi nhánh tỉnh Cao Bằng đang trong quá trình hoàn thành Đề án cơ cấu lại
2.2.3 Dân số, lao động, việc làm và thu nhập
a) Dân số, dân tộc
Dân số trung bình toàn tỉnh Cao Bằng năm 2015 là 522.365 người, trong
đó dân số đô thị là 120.846 người, dân số nông thôn là 401.519 người; phân theo giới tính gồm 258.602 nam và 263.763 nữ Dân cư phân bố không đồng đều, tập trung chủ yếu tại thành phố Cao Bằng, các thị trấn và các trung tâm xã (hoặc thị tứ) Mật độ dân số trên tổng diện tích đất tự nhiên dao động khá lớn, từ thấp nhất
Dân số tỉnh Cao Bằng tăng trung bình 0,32%/năm trong giai đoạn 2011 -
2015 Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên ở Cao Bằng có xu hướng giảm dần: từ 1,11% năm 2005 xuống còn 0,93% năm 2010 và đến năm 2015 còn 0,91%
Các dân tộc ở Cao Bằng gồm Tày (chiếm 41,0% dân số), Nùng (31,1 %), H'Mông (10,1 %), Dao (10,1 %), Việt (5,8 %), Sán Chay (1,4 %), Có 11 dân tộc có dân số trên 50 người
b) Lao động và việc làm
Năm 2015 dân số trong độ tuổi lao động của tỉnh là 349.265 người, chiếm 66,86% tổng dân số, trong đó lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế là 345.912 người Giai đoạn 2011-2015, giải quyết việc làm cho 49.232 lao động, năm 2015 duy trì tỷ lệ thất nghiệp dưới 5%; 1.400 lao động đi xuất khẩu lao động; đào tạo nghề cho 28.875 lao động; tỷ lệ lao động qua đào tạo đến năm
2011 là 17,22%, năm 2013 là 19,26% và năm 2015 là 20,03%
Thực hiện Quyết định số 1956/QĐ-TTg ngày 27/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ về Phê duyệt Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm
Trang 362020” Giai đoạn 2011 - 2015, toàn tỉnh thực hiện đào tạo nghề cho 13.275 người, tăng 120% so giai đoạn 2006 - 2010, trong đó: trình độ sơ cấp nghề 5.793 người; dạy nghề dưới 3 tháng 7.482 người Công tác dạy nghề đã được triển khai thực hiện dạy nghề trên địa bàn của 100% số xã
Công tác dạy nghề đã được tỉnh thường xuyên quan tâm, đến nay, toàn tỉnh có 26 cơ sở dạy nghề gồm: 01 trường trung cấp nghề; 25 trung tâm dạy nghề và cơ sở có tham gia dạy nghề
Nhìn chung tỉnh có một lực lượng lao động tương đối dồi dào, nhưng chất lượng còn thấp và chủ yếu tập trung trong lĩnh vực nông lâm nghiệp là lĩnh vực tạo ra giá trị gia tăng thấp, đồng thời khả năng tiếp cận tư duy kinh tế thị trường, tác phong và kỷ luật lao động theo kiểu công nghiệp có nhiều hạn chế Đây sẽ là một thách thức lớn đối với tỉnh Cao Bằng trong giai đoạn phát triển mới
c) Thu nhập người dân, công tác giảm nghèo và an sinh xã hội
Trong những năm qua cùng với việc phát triển của nền kinh tế, đời sống của nhân dân tỉnh Cao Bằng đang dần được nâng cao Thu nhập bình quân đầu người năm 2015 đạt 1.030 USD, tăng 425 USD so với năm 2010
Công tác giảm nghèo của tỉnh trong mấy năm gần đây đạt được kết quả nhất định, đời sống người nghèo được cải thiện rõ rệt Tỉnh đã huy động nhiều nguồn lực, tiến hành lồng ghép các chương trình, dự án; huy động sự tham gia của các cấp, các ngành, các tổ chức chính trị xã hội cùng thực hiện mục tiêu xoá đói giảm nghèo Tỷ lệ hộ nghèo liên tục giảm xuống, từ đầu năm 2011 tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh là 32,98%, năm 2013 là 24,20%, năm 2015 còn 15,86% Bình quân giai đoạn 2012 - 2015 giảm 4%/năm Riêng 05 huyện nghèo Bảo Lạc, Bảo Lâm, Thông Nông, Hà Quảng và Hạ Lang giảm bình quân mỗi huyện khoảng 6,7%/năm, tỷ lệ hộ nghèo còn 25,89% vào cuối năm 2015
Thực hiện Đề án chính sách hỗ trợ hộ gia đình người có công khó khăn về nhà ở tỉnh giai đoạn 2012 - 2015, trong 2 năm 2012 - 2013 đã hỗ trợ xây dựng được 8.635 năm, trong đó: làm mới 4.023 nhà và sửa chữa là 4.612 nhà với tổng kinh phí là 254.425,8 triệu đồng Trong 2 năm 2014 - 2015, tiếp tục triển khai hỗ trợ khoảng 400 hộ còn lại, trong đó 150 nhà làm mới, 250 nhà sửa chữa với tổng
số tiền khoảng 11 tỷ đồng Giai đoạn 2011 - 2013 toàn tỉnh có 7.484 lượt hộ nghèo được vay vốn tín dụng từ Ngân hàng chính sách xã hội, với tổng số tiền vay 974,839 tỷ đồng Thực hiện Nghị quyết 30a của Chính phủ trên địa bàn 5 huyện nghèo, giai đoạn 2011 - 2015 tổng số vốn đầu tư cho 5 huyện là 816.155 triệu đồng (trong đó: vốn đầu tư phát triển 751.625 triệu đồng, vốn sự nghiệp: 64.530 triệu đồng), tập trung xây dựng, nâng cấp, duy tu bảo dưỡng các công trình: giao thông, thủy lợi, nước sạch; hỗ trợ sản xuất
Trang 372.2.4 Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng
2.2.4.1 Giao thông
Mạng lưới giao thông trên địa bàn tỉnh chủ yếu là đường bộ với đầy đủ các loại và cấp đường Cụ thể như sau:
* Quốc lộ: có tổng chiều dài 413 km, bao gồm các tuyến sau:
- Quốc lộ 3: dài 106 km, đạt tiêu chuẩn đường cấp IV miền núi
- Quốc lộ 34:dài 193 km, đạt tiêu chuẩn đường cấp V miền núi
- Đường Hồ Chí Minh (đoạn Pác Bó - Khâu Hân) dài 50 km
- Quốc lộ 4A:dài 47 km, đạt tiêu chuẩn đường đạt cấp IV miền núi
- Quốc lộ 4C: dài 17 km, đạt tiêu chuẩn đường cấp V miền núi
* Tỉnh lộ: có 18 tuyến đường bao gồm các tuyến 201, 202, 203, 204, 205,… tổng chiều dài là 607 km, được phân bố khắp 13 huyện, thành phố; đường chủ yếu từ cấp IV đến cấp VI miền núi và GTNT A-B; mặt đường có đủ cấp loại từ mặt trải nhựa đến mặt đường đất
* Huyện lộ: tổng chiều dài của hệ thống huyện lộ là 1.002,4 km, trong đó:
mặt trải nhựa có 276,7 km phân bố chủ yếu ở các huyện Hà Quảng, Nguyên Bình, một số ít ở Quảng Uyên, Trùng Khánh, Hạ Lang; các tuyến đường còn lại
là đường cấp phối và đường đất Các tuyến đường huyện có mặt đường hẹp, chưa đáp ứng được nhu cầu vận tải ngày càng gia tăng, một số tuyến đi từ huyện đến các xã chưa thuận tiện
Ngoài ra còn 141 tuyến đường đô thị với tổng chiều dài 146 km; hệ thống đường giao thông nông thôn được chú trọng đầu tư phát triển, 100% đường đến trung tâm các xã được xây dựng đạt tiêu chuẩn đường giao thông nông thôn
Nhìn chung, hệ thống giao thông của tỉnh Cao Bằng khá thuận lợi cho việc đi lại, chuyên chở hàng hoá, phát triển sản xuất nói chung và sản xuất nông lâm nghiệp nói riêng Nhưng sự phát triển hệ thống giao thông chưa đồng đều giữa các huyện trong tỉnh Chất lượng đường nông thôn còn thấp, nhiều tuyến đường đang xuống cấp, đặc biệt là hệ thống đường giao thông nông thôn một số
xã vùng cao huyện Bảo Lâm, Bảo Lạc, Nguyên Bình chưa được đầu tư, nâng cấp, đi lại khó khăn
2.2.4.2 Thủy lợi
Trong những năm qua, được sự hỗ trợ của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, sự đầu tư của tỉnh và từ các nguồn vốn khác, tỉnh đã chỉ đạo xây dựng, nâng cấp 11.633 công trình thuỷ lợi vừa và nhỏ, trong đó có 18 công trình loại vừa (công suất tưới được từ 100 - 500 ha/công trình) Cụ thể:
Trang 38- Nguồn vốn do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đầu tư đã hoàn thành 3 hồ chứa nước: Nà Tấu, Nà Danh (huyện Thạch An), Co Po (huyện Quảng Uyên) và hệ thống thuỷ lợi phía Bắc huyện Trùng Khánh, mương Lý Vạn
ở huyện Hạ Lang phục vụ tưới cho trên 1.200 ha đất ruộng
- Nguồn vốn do ADB đầu tư xây dựng, nâng cấp 6 hồ chứa và hệ thống kênh mương phục vụ tưới nước cho 1.800 ha ở Khuổi Lái, Phia Gào, Nà Tấu, Khuổi Áng và Hoàng Tung huyện Hoà An, thị trấn Thanh Nhật huyện Hạ Lang; các hồ Bản Nưa huyện Hà Quảng, hồ Bản Viết huyện Trùng Khánh,
- Nguồn vốn do EU đầu tư xây dựng đã hoàn thành các công trình thuỷ lợi thuộc các huyện Bảo Lạc, Bảo Lâm, Nguyên Bình, Thông Nông, Hạ Lang
- Nguồn vốn thuộc Chương trình 135, 120 đã đầu tư các công trình thuỷ lợi tưới cho 1.500 ha đất nông nghiệp sản xuất được 2 vụ (trước đây chỉ sản xuất
1 vụ) góp phần xoá đói giảm nghèo, ổn định cuộc sống đồng bào vùng cao
Từ các nguồn vốn đầu tư xây dựng cho thủy lợi đã nâng diện tích tưới chủ động nước lên trên 6.000 ha lúa vụ xuân và 16.500 ha lúa vụ mùa, ngoài ra còn phục vụ tưới cho diện tích mía và thuốc lá Thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn, đã hoàn thành và đưa vào sử dụng 41 dự án, cụm công trình, cung cấp nước sinh hoạt hợp vệ sinh cho nhân dân vùng nông thôn lên 85% năm 2015 Công tác ổn định dân cư nông thôn được quan tâm, đời sống nhân dân trong vùng định cư ổn định
2.2.4.3 Văn hóa thể thao
Triển khai các hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thể thao, du lịch nhân các ngày lễ trong năm và các sự kiện của tỉnh và của cả nước Tham gia liên hoan ca múa nhạc chuyên nghiệp toàn quốc tại Sơn La các tỉnh, tổ chức thành công lễ công bố Di tích lịch sử quốc gia đặc biệt Pác Bó, chương trình du lịch qua những miền di sản Việt Bắc và thành lập thành phố Cao Bằng vào tháng 10 năm 2012; hội thi hát dân ca - trình diễn trang phục dân tộc - thi đấu thể thao và hội nghị giao ban câu lạc bộ phòng văn hóa thông tin tại 2 cụm: các huyện miền Tây
và miền Đông của tỉnh Triển khai thực hiện có hiệu quả các nội dung: Tiểu đề
án 4 "tuyên truyền, giáo dục phẩm chất đạo đức phụ nữ Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước thông qua các hoạt động văn hóa, thể thao và du lịch giai đoạn 2011-2015"; chương trình hợp tác phát triển hoạt động văn hóa, thể thao và du lịch năm 2012 với các tỉnh Bắc Kạn, Lạng Sơn; triển khai cuộc vận động "toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư" một cách sâu rộng trong toàn tỉnh, gắn với cuộc vận động "Học tập
và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" Năm 2015, tỷ lệ gia đình đạt tiêu chuẩn văn hóa 80%, tỷ lệ làng, xóm, tổ dân phố đạt tiêu chuẩn văn hóa 50%, tỷ
lệ cơ quan đạt tiêu chuẩn văn hóa 90%, tỷ lệ vị có nhà văn hóa 68%
Trang 39Phong trào thể dục thể thao ở các đơn vị, địa phương tiếp tục phát triển; hoạt động thể dục thể thao được tổ chức rộng khắp Đẩy mạnh việc thực hiện cuộc vận động “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại”, phát triển phong trào thể dục, thể thao trong thanh thiếu niên, học sinh, sinh viên, cán
bộ công chức, lực lượng vũ trang, từng bước nâng cao chất lượng phong trào thể dục thể thao và các giải thể thao quần chúng Chỉ đạo tổ chức các giải đấu thể thao trong toàn tỉnh Thực hiện tốt công tác thi đấu, đào tạo vận động viên năng khiếu, tập huấn các đội tuyển của tỉnh tham dự các giải khu vực và toàn quốc Từng bước đẩy mạnh công tác xã hội hóa lĩnh vực thể dục thể thao; triển khai thực hiện có kết quả Chương trình bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống đặc sắc tỉnh Cao Bằng, giai đoạn 2006 - 2010
2.2.4.4 Giáo dục và đào tạo
Toàn tỉnh đã hoàn thành phổ cập giáo dục THCS vào năm 2008 và phổ cập giáo dục tiểu học mức độ 1 vào năm 2012 Đội ngũ giáo viên các bậc học được tăng cường về số lượng, nâng cao hơn về chất lượng Công tác xây dựng trường chuẩn Quốc gia luôn được quan tâm, toàn tỉnh hiện có 669 trường học và trung tâm giáo dục, tăng 164 trường so với năm 2010, trong đó có 70 trường đạt chuẩn quốc gia
Công tác phổ cập giáo dục đạt kết quả tốt Đến nay toàn tỉnh đã có 197/199 xã, phường, thị trấn đạt phổ cập giáo dục trung học cơ sở, 198/199 xã, phường, thị trấn duy trì kết quả phổ cập giáo dục tiểu học, 187/199 xã, phường, thị trấn duy trì đạt chuẩn xóa mù chữ; duy trì kết quả phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi đạt 194/199 xã, phường, thị trấn
Hiện toàn tỉnh đang nỗ lực triển khai thực hiện phổ cập giáo dục mần non cho trẻ em 5 tuổi, tăng cường cơ sở vật chất cho các trường mầm non, thành lập các trường mầm non mới, phát triển cả loại hình công lập và ngoài công lập, đáp ứng được yêu cầu phổ cập mầm non cho trẻ em 5 tuổi Đến nay toàn tỉnh có 184 trường mầm non, 174/199 xã có trường mầm non, đạt 86,4% Đến hết năm 2015 tỉnh Cao Bằng hoàn thành mục tiêu phổ cập giáo dục mần non cho trẻ em 5 tuổi
Quy mô, mạng lưới trường phổ thông dân tộc nội trú, phổ thông dân tộc bán trú được đầu tư, phát triển phục vụ mục tiêu tạo nguồn cán bộ là người dân tộc thiểu số và cán bộ cho vùng cao, vùng sâu xa, đáp ứng yêu cầu quy hoạch phát triển nguồn nhân lực của địa phương Đến nay, toàn tỉnh có 12 trường phổ thông dân tộc nội trú Các trường phổ thông dân tộc nội trú có đủ phòng học, có nhà ký túc học sinh, nhà bếp, nhà ăn, đảm bảo nhu cầu tối thiểu cho việc thực hiện các hoạt động giáo dục của các nhà trường
Về cơ sở dạy nghề, hiện nay có Trường trung cấp nghề tỉnh và 8 cơ sở dạy nghề đang hoạt động
Trang 40Nhìn chung, chất lượng giáo dục giữa các vùng, các địa phương chưa đồng đều và còn thấp; ở một số nơi vùng sâu, vùng xa có nguy cơ tái mù chữ cao Hệ thống cơ sở dạy nghề phát triển chậm, thời gian đầu tư xây dựng kéo dài, làm hạn chế đến chất lượng và nhu cầu học nghề của người lao động Thiếu cán bộ quản lý thiết bị dạy học tại các trường, nên khó khăn cho công tác chuẩn
bị thí nghiệm và thực hành trên lớp của giáo viên và học sinh
2.2.4.5 Cơ sở y tế và chăm sóc sức khỏe
Công tác khám chữa bệnh luôn được chú trọng và nâng cao với mục tiêu nâng cao chất lượng khám bệnh, chữa bệnh, phấn đấu thực hiện công bằng trong khám bệnh, chữa bệnh, thực hiện đúng chế độ chính sách đối với người bệnh, đảm bảo cung ứng đủ thuốc trong khám bện, chữa bệnh và phòng bệnh, khám bệnh, chữa bệnh cho trẻ em dưới 6 tuổi, người nghèo, người có công với cách mạng Tăng cường công tác quản lý bệnh viện, chỉ đạo tuyến về chuyên môn kỹ thuật, giám sát việc thực hiện quy chế chuyên môn tại các đơn vị, chú trọng công tác đào tạo nâng cao chất lượng đội ngũ y, bác sỹ Nâng cao y đức, tinh thần trách nhiệm của cán bộ ngành y tế
Công tác khám chữa bệnh bằng y học cổ truyền đã được triển khai đồng
bộ ở tất cả các tuyến Tổ chức khám bệnh, chữa bệnh, chăm sóc, phục hồi chức năng bằng y học cổ truyền kết hợp với Y học hiện đại, sử dụng các phương pháp châm cứu, xoa bóp, bấm huyệt và các phương pháp điều trị khác theo đúng quy chế chuyên môn Các bệnh viện đa khoa tuyến huyện, thành phố đã thực hiện khám chữa bệnh bằng y học cổ truyền
Công tác phòng, chống dịch bệnh luôn được quan tâm, chỉ đạo các đơn vị chủ động trong công tác phòng, chống dịch bệnh, đặc biệt là đối với các dịch
bệnh dịch có thể xảy ra trong mùa bão lũ, giao mùa Hàng năm không có vụ dịch bệnh lớn xảy ra; chỉ có một số vụ dịch nhỏ, lẻ tẻ, rải rác như cúm, tay - chân - miệng, đau mắt đỏ… đều được phát hiện và xử lý kịp thời Không có trường hợp mắc/chết bệnh truyền nhiễm thuộc tiêm chủng mở rộng
Các chương trình mục tiêu quốc gia về y tế tiếp tục được triển khai thực hiện như: Dự án phòng, chống Lao; Dự án phòng, chống phong; Dự án phòng, chống sốt rét; Dự án Tăng huyết áp; Dự án phòng, chống bệnh Đái tháo đường;
Dự án bảo vệ sức khoẻ tâm thần cộng đồng; Dự án tiêm chủng mở rộng; Dự án Chăm sóc sức khoẻ sinh sản và cải thiện tình trạng dinh dưỡng trẻ em; Dự án quân dân y kết hợp; Dự án Nâng cao năng lực, truyền thông và giám sát, đánh giá thực hiện Chương trình