1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

BNT Luận văn thạc sỹ cao học Đẩy mạnh cổ phần hóa các doanh nghiệp Nhà nước tại Tổng cục công nghiệp quốc phòng Nghiên cứu tại nhà máy Z181

81 82 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 504,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bên cạnh đó, Việt Nam vừa mớigia nhập tổ chức Thương mại thế giới, thế giới đang trong xu thế chung làtoàn cầu hóa, xu hướng hội nhập ngày càng tăng lên, Việt Nam đã và đang cónhững biện

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI

-TÔ HUYỀN TRANG

ĐẨY MẠNH CỔ PHẦN HÓA CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TẠI TỔNG CỤC CÔNG NGHIỆP QUỐC PHÒNG - NGHIÊN CỨU TẠI NHÀ MÁY Z181

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI

-TÔ HUYỀN TRANG

ĐẨY MẠNH CỔ PHẦN HÓA CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TẠI TỔNG CỤC CÔNG NGHIỆP QUỐC PHÒNG - NGHIÊN CỨU TẠI NHÀ MÁY Z181

CHUYÊN NGÀNH : QUẢN LÝ KINH TẾ

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Sau khi hoàn thành luận văn tốt nghiệp của mình, tôi cam đoan nhữngthông tin, dữ liệu được sử dụng trong đề tài nhằm phân tích thực trạng củavấn đề nghiên cứu là đúng

Hà Nội, ngày 10 tháng 12 năm 2017

Tác giả luận văn

Tô Huyền Trang

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài luận văn, tôi đã nhậnđược sự giúp đỡ quý báu của các cơ quan, tập thể và các cá nhân Trước hết,tôi xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo, các giảng viên của khoa Sauđại học, Trường Đại học Thương mại, sự quan tâm và hướng dẫn nhiệt tình

của GS.TS Phạm Vũ Luận trong suốt thời gian triển khai đề tài luận văn.

Tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ và tạo điều kiện của Ban lãnh đạo, tập thểcán bộ và người lao động đang làm việc tại Tổng cục Công nghiệp Quốcphòng nói chung và Nhà máy Z181 nói riêng, đã giúp đỡ tôi hoàn thành đềtài này

Xin chân thành cảm ơn các đồng chí lãnh đạo, bạn bè, gia đình và đồngnghiệp đã động viên và tạo điều kiện cho tôi thực hiện đề tài này

Hà Nội, ngày 10 tháng 12 năm 2017

Tác giả luận văn

Tô Huyền Trang

Trang 5

MỤC LỤC

Trang 6

DNNN Doanh nghiệp nhà nước

DNQĐ Doanh nghiệp quân đội

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong quá trình đổi mới ở Việt Nam, nhiệm vụ phát triển đất nước theomục tiêu nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ chủchốt mà Đảng và nhân dân ta quyết tâm thực hiện Đây là nhiệm vụ khôngphải là dễ dàng, bên cạnh đảm bảo chính trị, việc phát triển nền kinh tế để phùhợp với mục tiêu đã đề ra Kinh tế Nhà nước nắm giữ vai trò chủ đạo nhưnghoạt động của khối doanh nghiệp Nhà nước trong những năm vừa qua khôngđạt kết quả cao và còn khá nhiều hạn chế Việc cổ phần hóa Doanh nghiệpNhà nước như là một phương tiện thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh củanhững doanh nghiệp Nhà nước hiệu quả hơn Bên cạnh đó, Việt Nam vừa mớigia nhập tổ chức Thương mại thế giới, thế giới đang trong xu thế chung làtoàn cầu hóa, xu hướng hội nhập ngày càng tăng lên, Việt Nam đã và đang cónhững biện pháp để thu hút những nhà đầu tư nước ngoài vào thị trường vốn.Việc tiếp tục quá trình Cổ phần hóa để thúc đẩy tạo nguồn cung cho thịtrường chứng khoán là một điều rất cần thiết thể có thể thu hút thêm lượngvốn phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Đại tướng Phùng QuangThanh ngày 18/12/2007, tại phiên họp thứ 3, Ủy ban Thường vụ Quốc hội

" Sau năm 2012 công nghiệp quốc phòng cần hội nhập với công nghiệp quốcgia và do Chính phủ quản lý, Bộ Quốc phòng chỉ quản lý các cơ sở côngnghiệp quốc phòng nòng cốt "

Cổ phần hóa (CPH) các doanh nghiệp Nhà nước, trong đó có các doanhnghiệp quân đội là chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta Tuy nhiên,

dù hoạt động hiệu quả hay không hiệu quả sau CPH thì các doanh nghiệp đều

Trang 8

gặp khó khăn chung đó là: nhiều cán bộ quân đội rút khỏi doanh nghiệp, môhình tổ chức mới chưa được vận hành tốt bởi đội ngũ cán bộ mới Do khôngđược biên chế, nhiều sĩ quan và quân nhân chuyên nghiệp là cán bộ, nhânviên kỹ thuật, cán bộ chỉ huy, cán bộ chính trị đã xin phục viên, chuyểnngành, chuyển đơn vị… nên đội ngũ cán bộ, nhân viên kỹ thuật của đơn vị bịhẫng hụt, đơn vị rơi vào tình trạng bị thiếu hụt nguồn nhân lực.

Xuất phát từ thực tế đó, em đã lựa chọn đề tài "Đẩy mạnh cổ phần hóacác doanh nghiệp Nhà nước tại Tổng cục công nghiệp quốc phòng - Nghiêncứu tại nhà máy Z181" để viết luận văn tốt nghiệp của mình

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài

Cổ phần hoá là một chủ trương cần thiết và đúng đắn để làm cho hệthống doanh nghiệp Nhà nước hiện có mạnh lên, tăng sức cạnh tranh, tănghiệu quả kinh tế và tăng được sức mạnh chi phối, nâng cao vai trò chủ đạo của

hệ thống này trong nền kinh tế thị trường tiến dần từng bước trên con đườngcông nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa Không chỉ vậy, cổ phần hóa các doanhnghiệp Nhà nước trong bối cảnh nền kinh tế mở cửa và hội nhập hiện nay làđiều tất yếu

Với vị trí, vai trò quan trọng ấy, cổ phần hóa các doanh nghiệp Nhà nướckhông những nhận được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước mà còn trở thànhđối tượng nghiên cứu được nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân quan tâm với cáccông trình nghiên cứu cụ thể Có thể kể đến một số đề tài lớn như:

(1) Đề tài :" Các điều kiện tiền đề cho việc cổ phần hóa công ty thươngmại và dịch vụ tổng hợp - Tổng công ty than Việt Nam do tác giả NguyễnĐức Thái viết đề tài nghiên cứu Đề tài đã hệ thống một cách đầy đủ, toàndiện lý luận về cổ phần hóa các doanh nghiệp Nhà nước trong đó làm rõnhững kết quả đạt được, những hạn chế, bất cập và nguyên nhân của nhữnghạn chế, bất cập trong tiến trình cổ phần hóa; Kiến nghị các giải pháp đẩymạnh quá trình cổ phần hóa trong thời gian tới

Trang 9

(2) Đề tài :"Cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước tại Hải Phòng Thựctrạng và giải pháp" của thạc sĩ Hồ Mạnh Tiến đã đánh giá thực trạng tiến trình

cổ phần hóa của các doanh nghiệp, hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệpsau cổ phần hóa Từ đó đề ra giải pháp đẩy nhanh tiến trình cổ phần hóa chocác doanh nghiệp còn lại và phương hướng để các doanh nghiệp hoạt động cóhiệu quả sau cổ phần

(3) Đề tài :"Những vấn đề pháp lý về cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhànước trong quân đội" của tác giả Nguyễn Gia Trọng Đề tài đã đề cập đến sựmâu thuẫn, sự không đồng nhất giữa các văn bản quy phạm pháp luật về CPHDNNN với các văn bản Quy phạm pháp luật quân sự (Luật Nghĩa vụ quân

sự, Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam, Luật Quốc phòng, Pháp lệnhCông nghiệp quốc phòng (CNQP), các nghị định hướng dẫn và qui định đốivới các DN quốc phòng…) và địa vị pháp lý "kép" của người lao động trongcác DNQĐ

(4) Đề tài :" Quản lý Nhà nước đối với các doanh nghiệp kinh tế quốcphòng" của tác giả Nguyễn Xuân Phúc Đề tài đã hệ thống hoá và làm

rõ cơ sở lý luận về QLNN đối với các DN KTQP; phân tích hoạtđộng của các DN KTQP dưới tác động của QLNN; đánh giáthực trạng QLNN đối với các DN KTQP Từ đó đề xuất một sốgiải pháp hoàn thiện QLNN đối với các DN KTQP nhằm bảođảm cho các DN thực hiện được sứ mệnh của mình trong điềukiện hội nhập toàn cầu

Những công trình nghiên cứu nói trên cho thấy từ nhữnggóc độ khác nhau các tác giả đã đề cập đến lĩnh vực Cổ phầnhoá các doanh nghiệp Nhà nước, đó là nguồn tài liệu phongphú, gợi mở cho tác giả luận văn tiếp tục nghiên cứu Tuynhiên vấn đề Cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nước trong

Trang 10

quân đội vẫn chưa được nghiên cứu đầy đủ và có hệ thống.Hơn nữa cổ phần hoá các DNNN trong quân đội là một hoạtđộng có tính đặc thù không hoàn toàn giống với DNNN thuầntúy Vì vậy, việc lựa chọn đề tài “Đẩy mạnh cổ phần hoá cácDNNN tại Tổng cục công nghiệp quốc phòng - Nghiên cứu tạinhà máy Z181” của tác giả vừa mang tính khoa học và thựctiễn, vừa không trùng lắp với các công trình nghiên cứu đãđược công bố đến thời điểm này

3 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu:

Đề xuất được các giải pháp có căn cứ khoa học và thực tiễn nhằm đẩymạnh quá trình cổ phần hóa các doanh nghiệp Nhà nước tại Tổng cục côngnghiệp quốc phòng

Nhiệm vụ nghiên cứu:

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về cổ phần hóa các doanhnghiệp Nhà nước

- Phân tích và đánh giá thực trạng cổ phần hóa các doanh nghiệp Nhànước tại Tổng cục công nghiệp quốc phòng - nghiên cứu tại nhà máy Z181

- Đề xuất một số giải pháp nhằm đẩy mạnh quá trình cổ phần hóa cácdoanh nghiệp Nhà nước tại Tổng cục công nghiệp quốc phòng

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Về đối tượng nghiên cứu của đề tài là giải pháp đẩy nhanh tiến trình cổphần hóa các doanh nghiệp taih Tổng cục công nghiệp quốc phòng

Về phạm vi: Đề tài chọn điểm nghiên cứu thực tiễn tại Tổng cục Côngnghiệp Quốc phòng trong thời gian 2014-2017

5 Phương pháp nghiên cứu

Trang 11

Đề tài sử dụng phương pháp duy vật biện chứng để nhìn nhận và phântích các sự việc hiện tượng trong quá trình vận động tất yếu của quá trình cổphần hoá các DNNN trong quân đội.

Trên cơ sở phương pháp luận trên, đề tài sử dụng các phương pháp cụthể như sau:

Về phương pháp thu thập dữ liệu được sử dụng là phương pháp thuthập dữ liệu thứ cấp

Về phương pháp xử lý số liệu, đề tài sử dụng phương pháp phân tích,tổng hợp Phương pháp này được sử dụng trong việc phân tích các văn bản,tài liệu, số liệu, báo cáo, thống kê và kết quả của những công trình nghiên cứu

về cổ phần hóa các doanh nghiệp Nhà nước

6 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, Đềtài gồm ba chương Cụ thể:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về cổ phần hóa doanh nghiệp

Nhà nước và doanh nghiệp Quốc phòng

Chương 2: Thực trạng cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước tại Tổng

cục công nghiệp quốc phòng - Nghiên cứu tại nhà máy Z181

Chương 3: Một số giải pháp nhằm đẩy nhanh quá trình cổ phần hóa

các doanh nghiệp nhà nước tại tổng cục công nghiệp quốc phòng

Trang 12

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CỔ PHẦN HÓA DN NHÀ NƯỚC VÀ DN QUỐC PHÒNG

1.1 Cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước

1.1.1 Khái niệm cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước

Cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) là việc chuyển doanhnghiệp mà chủ sở hữu là Nhà nước (doanh nghiệp đơn sở hữu) thành công ty

cổ phần (doanh nghiệp đa sở hữu), chuyển doanh nghiệp từ chỗ hoạt độngtheo Luật doanh nghiệp Nhà nước sang hoạt động theo các quy định về công

ty cổ phần trong Luật Doanh nghiệp

1.1.2 Bản chất cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước

Xét về bản chất cổ phần hoá DNNN là việc Nhà nước bán một phầnhay toàn bộ giá trị cổ phần của mình trong doanh nghiệp hoặc phát hànhthêm cổ phiếu bán cho các đối tượng là tổ chức, cá nhân trong và ngoàidoanh nghiệp bằng đấu giá công khai hay thông qua thị trường chứng khoán

Cổ phần hoá DNNN chính là phương thức thực hiện xã hội hoá sở hữu,chuyển hình thái kinh doanh một chủ sở hữu Nhà nước trong doanh nghiệpthành nhiều chủ sở hữu, tức là chuyển từ hình thức sở hữu đơn nhất sang đachủ sở hữu thông qua việc chuyển một phần tài sản của doanh nghiệp chongười khác để tạo ra một doanh nghiệp phù hợp với nền kinh tế thị trường,những người này trở thành chủ sở hữu của doanh nghiệp theo tỷ lệ cổ phần

mà họ sở hữu

Cổ phần hoá DNNN chính là quá trình chuyển đổi toàn bộ những DNNN

mà Nhà nước không cần nắm giữ 100% vốn điều lệ thành công ty cổ phần.CPH DNNN gắn liền với việc DNNN chuyển sang hoạt động dưới tên công ty

và luật công ty cổ phần, không còn là DNNN nữa

Trang 13

1.1.3 Sự cần thiết phải CPH doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam

Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do nhà nước đầu tư vốn,thành lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công íchnhằm thực hiện mục tiêu kinh tế - xã hội do nhà nước giao

Cho đến nay, DNNN vẫn giữ vai trò quan trọng trong việc điều tiếtnền kinh tế, với tiềm lực to lớn, DNNN đảm bảo hầu hết các sản phẩm dịch

vụ công ích, các điều kiện hạ tầng cơ sở, hạ tầng kỹ thuật cho các thành phầnkinh tế, có ảnh hưởng tới sự phát triển của nền kinh tế theo những phươnghướng, mục tiêu, nhiệm vụ phù hợp với lợi ích quốc gia trong từng giai đoạn

cụ thể Đảm bảo sự phát triển ổn định của nền kinh tế, việc làm cho người laođộng Trong thực tế, ở những thời điểm nhất định, DNNN ở các nước đã thựchiện tốt được vai trò này Tuy nhiên, so với yêu cầu của nền kinh tế thịtrường, hội nhập kinh tế thế giới thì các DN Việt Nam nói chung và đặc biệt

là các DNNN nói riêng cần phải được sắp xếp và cơ cấu lại

Về thực trạng DNNN ở Việt Nam hiện nay như sau: DNNN đãchi phối được các ngành, lĩnh vực then chốt và sản phẩm thiết yếu của nềnkinh tế; góp phần chủ yếu để kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, ổn định vàphát triển kinh tế - xã hội tăng thế và lực của đất nước DNNN chiếm tỷ trọnglớn trong tổng sản phẩm trong nước, trong tổng thu ngân sách, kim ngạchxuất khẩu và công trình hợp tác đầu tư với nước ngoài; là lực lượng quantrọng trong thực hiện các chính sách xã hội, khắc phục hậu quả thiên tai vàbảo đảm nhiều sản phẩm, dịch vụ công ích thiết yếu cho xã hội, quốc phòng,

an ninh DNNN ngày càng thích ứng với cơ chế thị trường; năng lực sản xuấttiếp tục tăng; cơ cấu ngày càng hợp lý hơn; trình độ công nghệ và quản lý cónhiều tiến bộ; hiệu quả và sức mạnh cạnh tranh từng bước được nâng lên; đờisống của người lao động từng bước được cải thiện Tuy nhiên, DNNN cònnhững mặt hạn chế, yếu kém, có mặt rất nghiêm trọng như: quy mô còn nhỏ,

Trang 14

cơ cấu còn nhiều bất hợp lý, chưa thật tập trung vào những ngành, lĩnh vựcthen chốt; nhìn chung trình độ công nghệ còn lạc hậu, quản lý còn yếu kém,chưa thực sự tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong hoạt động sản xuất kinh doanh;kết quả sản xuất kinh doanh chưa tương xứng với các nguồn lực đã có và sự

hỗ trợ, đầu tư của nhà nước; hiệu quả và sức cạnh tranh còn thấp, nợ không

có khả năng thanh toán tăng lên, lao động thiếu việc làm và dôi dư còn lớn.Hiện nay, DNNN đang đứng trước thách thức gay gắt của yêu cầu đổi mới,phát triển và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế

Những hạn chế yếu kém của DNNN có nguyên nhân khách quan,nhưng chủ yếu là do những nguyên nhân chủ quan: chưa có sự thống nhất caotrong nhận thức về vai trò, vị trí nền kinh tế Nhà nước và DNNN, về yêu cầu

và giải pháp sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả DNNN; nhiềuvấn đề chưa rõ, còn ý kiến khác nhau nhưng chưa được tổng kết thực tiễn đểkết luận Quản lý nhà nước đối với DNNN còn nhiều yếu kém, vướng mắc;cải cách hành chính chậm Cơ chế, chính sách còn nhiều bất cập chưa đồng

bộ, còn nhiều điểm chưa phù hợp với nền kinh tế thị trường theo định hướng

xã hội chủ nghĩa, bộ máy tổ chức còn cồng kềnh, chưa nhanh, nhậy với vấn

đề chuyển đổi cơ chế, chưa tạo động lực mạnh mẽ thúc đẩy cán bộ và ngườilao động trong DN nâng cao năng suất lao động và hiệu quả kinh doanh;một bộ phận cán bộ DNNN chưa đáp ứng yêu cầu về năng lực và phẩmchất Sự lãnh đạo của Đảng và chỉ đạo của Chính phủ đối với việc đổi mới

và nâng cao hiệu quả DNNN chưa tương xứng với nhiệm vụ quan trọng vàphức tạp này Tổ chức và phương thức hoạt động của Đảng tại DNNN chậmđược đổi mới

Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc khoá XII đã nhận định:

"Doanh nghiệp cổ phần ngày càng phát triển, trở thành hình thức kinh tếphổ biến, thúc đẩy xã hội hóa sản xuất kinh doanh và sở hữu"; và chỉ rõ:

Trang 15

Đẩy mạnh việc sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhànước, trọng tâm là cổ phần hóa…Đẩy mạnh và mở rộng diện cổ phần hóadoanh nghiệp nhà nước, kể cả các tổng công ty nhà nước

Quá trình cổ phần hoá DNNN ở Việt Nam đã thực hiện được hơn 20năm, những kết quả và thành tựu mà chúng ta đã đạt được càng khẳng địnhtính tất yếu, phù hợp quy luật của nền kinh tế thị trường, nâng cao hiệu quả vàsức cạnh tranh của doanh nghiệp không chỉ tại thị trường trong nước mà cảthị trường nước ngoài

1.1.4 Đặc điểm của quá trình cổ phần hoá DNNN

Thứ nhất, CPH DNNN là biện pháp chuyển DN từ sở hữu nhà nước

sang hình thức nhiều sở hữu hay còn gọi là đa sở hữu

Trước khi CPH, toàn bộ vốn của DN thuộc sở hữu nhà nước Khi tiếnhành CPH, nhà nước sẽ tiến hành xác định giá trị phần vốn nhà nước tại DN,xác định số lượng cổ phiếu phát hành thông qua hình thức bán một phần vốnnhà nước hoặc giữ nguyên phần vốn nhà nước, hoặc phát hành cổ phiếu rabên ngoài để thu hút vốn cho DN Trên cơ sở đó, DN bán cổ phiếu của mìnhcho các tổ chức, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế Những người mua cổphiếu trở thành cổ đông của công ty cổ phần (CTCP), có quyền sở hữu chungđối với công ty, tương ứng với tỷ lệ phần vốn góp trong vốn điều lệ, đồng thờiphải chịu trách nhiệm đối với các khoản nợ của công ty tương ứng với phầnvốn góp vào công ty Các cổ đông góp vốn sẽ thể hiện quyền và nghĩa vụ củamình thông qua đại hội cổ đông và được giới thiệu đại diện tham gia ứng cửhội đồng quản trị của CTCP nếu đủ điều kiện do điều lệ công ty quy định.Việc chuyển đổi sở hữu DNNN từ hình thức sở hữu đơn nhất sanghình thức đa sở hữu đã thu hút sự tham gia của các nhà đầu tư trong và ngoàinước, giúp cho DN thay đổi căn bản phương thức quản lý điều hành DN, nângcao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của DN và hoạt động của DN vìlợi ích của các cổ đông công ty và sự phát triển lâu dài, bền vững của CTCP

Trang 16

Thứ hai, CPH là quá trình chuyển đổi hình thức hoạt động từ DN

100% vốn nhà nước sang CTCP

Khác với DNNN hoạt động theo Luật DNNN trước CPH, DN sau khichuyển đổi hình thức hoạt động sang CTCP thì địa vị pháp lý của DN đượcquy định trong Luật DN DNNN trước CPH hoạt động theo cơ chế chủ quan,cấp trên giao hoặc duyệt kế hoạch, mang nặng cơ chế "xin - cho" mối quan hệcủa DN với cơ quan chủ quản là cấp trên cấp dưới, thiếu sự bình đẳng, khôngtheo nguyên tắc thị trường Khi chuyển sang CTCP, các quy định của Luật

DN có tính chất mềm dẻo, linh hoạt và tạo cơ chế cho CTCP được phát huyquyền chủ động trong hoạt động của DN vì lợi ích của các công ty và của các

cổ đông công ty

Thứ ba, quá trình CPH được tiến hành thông qua hình thức nhà nước

bán một phần hay toàn bộ vốn nhà nước hiện có tại DN

Mỗi hình thức CPH đều có những ưu điểm và nhược điểm riêng.Nhưng sự đa dạng trong hình thức sẽ tạo thêm cho DN nhiều lựa chọn phùhợp với ngành nghề kinh doanh, loại hình DNNN đang tồn tại, mục đích củachủ sở hữu để tiến hành cổ phần hoá

Việc bán cổ phần được áp dụng cho các đối tượng:

- Bán cổ phần cho những người lao động trong DN

- Bán cổ phần cho một số nhà đầu tư chiến lược

- Bán cổ phần của DN ra công chúng

Thông qua việc bán CP của DN ra công chúng, DNNN sau khi CPH cóthể thu hút sự tham gia mua cổ phần của những người có trình độ và kinhnghiệm về kỹ thuật, tài chính, quản lý và thương mại Họ là những nhà quản

lý giỏi, có tinh thần trách nhiệm cao và hoạt động thực sự vì lợi ích của DN

Trang 17

1.1.5 Mục tiêu của cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước

Thứ nhất, là không để quyền lợi Nhà nước bị xâm phạm khi dư luận xã

hội đang bức xúc việc định giá tài sản DNNN có vấn đề dẫn tới thất thoát tàisản, vốn Nguyên tắc là phải tính đúng, tính đủ tài sản hữu hình, vô hình vàogiá trị doanh nghiệp, như việc tìm cách tính thương hiệu, lợi thế thương mại,phát minh sáng chế, cải tiến kỹ thuật, định giá đất đai,…

Về phương pháp tính, ngoài phương pháp định giá tài sản thì Bộ Tàichính sử dụng thêm phương pháp dòng tiền chiết khấu để tính toán linh hoạtgiá trị tài sản gắn liền với doanh nghiệp

Thứ hai, mục tiêu của giải pháp CPH DNNN hướng tới đa sở hữu doanh

nghiệp, là xu hướng vận hành của thị trường hiện đại Cần phải tăng cườngtính minh bạch trong xây dựng, ban hành các kế hoạch CPH DNNN

Nhà đầu tư chiến lược trước hết phải có tư cách pháp nhân, có ngànhnghề kinh doanh phù hợp với chiến lược phát triển doanh nghiệp khi đượcduyệt kế hoạch CPH và cuối cùng mới là vốn, chứ không nên quan niệm “cótiền là làm được tất” Nếu nhà đầu tư khác ngành nghề thì phải có cam kếthợp tác với một đối tác chuyên nghiệp trong lĩnh vực hoạt động chính của

DN Đồng thời dự thảo cũng phải ghi rõ lĩnh vực nào, trường hợp nào thì cầnnhà đầu tư chiến lược, tiêu chuẩn của nhà đầu tư chiến lược, cam kết của nhàđầu tư chiến lược

Do đó, phải phân loại cổ phiếu (dành cho nhà đầu tư chiến lược, ngườilao động và Nhà nước) theo Luật Quản lý, sử dụng vốn Nhà nước đầu tư vàodoanh nghiệp; đi liền với quyền và nghĩa vụ của các bên trong sở hữu cổphần, cổ phiếu của DNNN sau CPH

Thứ ba là nâng cao hiệu quả và quản trị doanh nghiệp.

Cuối cùng là phải bảo vệ lợi ích Nhà nước trong một số trường hợp quan

trọng, ví dụ như giữ thương hiệu quốc gia Phải quy định cổ đông chiến lượccam kết bảo vệ thương hiệu

Trang 18

1.2 Cổ phần hoá doanh nghiệp quân đội

1.2.1 Khái niệm CPH doanh nghiệp quân đội

Có thể nói DNNN trong quân đội là một bộ phận của thành phần kinh

tế nhà nước nằm trong tổ chức biên chế của quân đội, do quân đội tổ chức,quản lý, điều hành hoạt động theo pháp luật của Nhà nước và quy định của BộQuốc phòng (BQP) Nhiệm vụ chủ yếu, thường xuyên của DNNN trong quânđội là phục vụ nhiệm vụ quốc phòng an ninh đồng thời tham gia vào các hoạtđộng sản xuất - kinh doanh, góp phần vào sự tăng trưởng của nền kinh tếquốc dân, củng cố vị trí vai trò của DNNN trong quân đội, góp phần củng cố

an ninh quốc phòng, giữ và duy trì đội ngũ, tiềm lực quốc phòng góp phầnvào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

1.2.2 Đặc thù của các doanh nghiệp quân đội (DNQĐ)

1.2.2.1 Về sản phẩm

DNQĐ thuộc hệ thống quốc phòng (QP), có nhiệm vụ cung cấp các sảnphẩm/dịch vụ công phục vụ QP theo hợp đồng cung ứng sản phẩm Mặc dù cóthể không mang lại hiệu quả kinh tế cho DN nhưng do tầm quan trọng của cácsản phẩm đó đối với QP nên DN được BQP chỉ định và giao chỉ tiêu kế hoạchsản lượng cung ứng hàng năm, không phải đấu thầu, không phải cạnh tranh đểtiêu thụ sản phẩm, được duyệt giá theo quy định và phần lớn đều được bù đắpchi phí DNQĐ không thể từ chối sản xuất những sản phẩm công có liên quanchặt chẽ đến nhiệm vụ quốc phòng an ninh (QPAN) mà Nhà nước, quân đội

đã chỉ định cho dù lợi nhuận không cao; trong khi đó DN “dân sự” có quyềnlựa chọn không SX sản phẩm nào đó nếu xét thấy việc sản xuất đó là khókhăn và sản phẩm không có hiệu quả kinh tế cao

Bên cạnh đó, DNQĐ được thực hiện sản xuất kinh doanh (SXKD) bổsung nhằm hỗ trợ nhiệm vụ QP, đảm bảo cải thiện đồng lương, nâng cao đờisống cho người lao động, đồng thời tạo quỹ phúc lợi cho DN để đầu tư để tái

Trang 19

sản xuất Cho nên DNQP được phép phát huy công suất, hiệu quả sử dụng tàisản nhà nước giao sau khi đã hoàn thành việc sản xuất, cung ứng sản phẩmtrực tiếp phục vụ QP, hoặc thực hiện nhiệm vụ QP được giao Các sản phẩm,dịch vụ kinh doanh tất nhiên nhằm mục tiêu lợi nhuận và phải theo cơ chếcạnh tranh như các DN khác Trong các DNQĐ ở Việt Nam hiện nay, sản xuấtsản phẩm, dịch vụ phục vụ QP thường chiếm tỉ trọng ít hơn so với các loại sảnphẩm, dịch vụ kinh doanh trên thị trường do NSNN đầu tư cho mua sắm mặthàng QP của Nhà nước còn khó khăn Việc cung cấp đồng thời hai loại sảnphẩm như trên là điểm khác biệt của DNQĐ so với DN ngoài quân đội Nóvừa là lợi thế vừa là khó khăn cho DNQĐ Lợi thế vì hai nhiệm vụ đó bổ sung

và kết hợp với nhau, từ đó DN có thể tận dụng năng lực sản xuất một cáchhiệu quả hơn Khó khăn ở chỗ nhiệm vụ phục vụ QP và nhiệm vụ kinh doanhchưa được tách bạch rõ ràng, khó có thể tính đúng, tính đủ các chi phí sảnxuất sản phẩm Trong nhiều trường hợp, do yêu cầu phải duy trì năng lựcthường xuyên cho QP để sẵn sàng chiến đấu khi cần thiết, nên DNQĐ có thểphải chấp nhận mức SXKD thấp hơn so với các nguồn lực và năng lực có thểhuy động được

1.2.2.2 Về sở hữu

DNQĐ thuộc sở hữu nhà nước với các hình thức:

- DN 100% vốn nhà nước Danh mục DN thuộc diện này do Thủ tướngChính phủ quyết định hoặc ủy quyền cho Bộ trưởng BQP quyết định trongtừng thời kì

- Công ty cổ phần, được hình thành do chuyển đổi những DN mà Nhànước không cần giữ 100% vốn điều lệ sang loại hình DN có nhiều chủ sở hữu,trong đó Nhà nước nắm giữ cổ phần chi phối Phần vốn sở hữu nhà nước làphần vốn góp được đầu tư từ nguồn NSNN và nguồn vốn khác của Nhà nước.BQP là đại diện chủ sở hữu nhà nước đối với công ty cổ phần do mình quyết

Trang 20

định thành lập và được Thủ tướng Chính phủ uỷ quyền thực hiện một sốquyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà nước.

BQP thực hiện quyền chủ sở hữu vốn nhà nước tại các DNQĐ theo cácnguyên tắc: 1) Thực hiện quyền chủ sở hữu với vai trò là người đầu tư vốn; 2)Bảo toàn và phát triển vốn nhà nước; 3) Tách biệt chức năng thực hiện cácquyền chủ sở hữu với chức năng QLNN; 4) Tách biệt thực hiện quyền chủ sởhữu với quyền chủ động kinh doanh của DN

Với tư cách chủ sở hữu, Nhà nước có quyền quyết định sứ mệnh vàchiến lược phát triển cũng như việc sử dụng vốn nhà nước của DNQĐ

1.2.2.3 Về các yếu tố chi phối hoạt động của doanh nghiệp quân đội

DNQĐ chịu tác động đồng thời của hai hệ thống quy luật kinh tế vàquy luật quân sự Là DN hoạt động kinh doanh, các DNQĐ chịu sự chi phốicủa quy luật kinh tế thị trường như mọi loại hình DN khác Là DN thuộc

hệ thống QP, các DN này còn chịu sự chi phối của quy luật quân sự, quy luậtchiến tranh Điểm đặc thù này là khó khăn đối với DNQĐ:

Thứ nhất, DNQĐ mặc dù làm kinh tế nhưng vẫn là lực lượng dự bị của

QĐ, được thành lập, bố trí trước hết theo yêu cầu của QĐ (chứ không phảihoàn toàn theo yêu cầu thị trường); và khi cần thiết nó phải trở thành các đơn

vị binh đoàn, các đơn vị kĩ thuật, hậu cần trong đội hình chiến đấu của các

quân khu, quân đoàn, quân chủng, binh chủng

Thứ hai, DNQĐ đặc biệt là các DN đóng chân trên địa bàn chiến lược

(biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa ) khó khăn hơn trong hoạt động kinhdoanh và nhất là tiếp cận thị trường, hơn nữa còn phải tham gia giải quyết cácvấn đề xã hội như: chuyển dịch cơ cấu ngành nghề, cơ cấu lại dân cư, xoá đóigiảm nghèo, bảo đảm điện, nước, đường xá, trường học, trạm y tế, cứu hộ chonhân dân khi có thiên tai, cho dù các nhiệm vụ đó không mang lại hiệu quảkinh tế cho DN Song điểm đặc thù này cũng tạo ra lợi thế nhất định cho

Trang 21

DNQĐ, đó là phong cách làm việc quân đội: tổ chức và kiểm soát chặt chẽ,

kỷ luật “sắt”, tinh thần đồng đội, dám nghĩ dám làm, dám chịu trách nhiệm,tính tập trung thống nhất cao, kĩ năng ra quyết định nhanh… Điều này tạo môitrường văn hóa thuận lợi cho DNQĐ trong việc đạt mục tiêu và nếu có phátsinh tiêu cực thì có thể sớm phát hiện được Tất nhiên phong cách mệnh lệnh,tính nguyên tắc, tính tập trung cao kiểu quân đội khi áp dụng trong kinhdoanh không phải lúc nào cũng hiệu quả, thậm chí đôi khi làm giảm tính tựchủ, linh hoạt của DN trước những biến động nhanh chóng của thị trường

1.2.2.4 Về tài chính

Có một số đặc thù trong cơ cấu tài chính của DNQĐ Vốn ban đầucủa DNQĐ do NSNN và ngân sách QP cấp; hàng năm DN còn được cấpvốn bổ sung tuỳ theo nhiệm vụ kế hoạch QP được giao và việc hoàn thànhnhiệm vụ của năm trước Ngoài vốn ban đầu và vốn bổ sung do ngân sáchcấp, DN còn có vốn tự có nhờ hoạt động kinh doanh của mình Vốn và tài sản

mà BQP cấp cho DN trước hết để thực hiện nhiệm vụ phục vụ QP nên bao giờcũng được ưu tiên và DN có thể tận dụng các nguồn đó để kinh doanh Tuynhiên một khi còn dựa dẫm vào vốn nhà nước sẽ khiến DN không chủ độnghuy động từ các nguồn khác Vốn và tài sản nhà nước giao cho DNQĐ phảiđược quản lý theo pháp luật về kinh tế bởi chúng cũng được sử dụng để kinhdoanh, đồng thời cũng được quản lý theo pháp luật về quân sự, theo cơ chếhành chính- quân sự Như vậy trong một số trường hợp khó có thể phân địnhrạch ròi giữa “tài sản kinh doanh” và “tài sản quân sự” trong việc sử dụng, từ

đó cũng khó để quản lý chúng

1.2.2.5 Sự chi phối và hỗ trợ của Nhà nước

Sự chi phối và hỗ trợ của Nhà nước đối với DNQĐ đều ở mức ñộcao hơn so với DN khác, được thể hiện qua các công cụ chủ yếu sau:

Trang 22

- Quyền sở hữu nhà nước

BQP là đại diện chủ sở hữu của DNQĐ Với vai trò đó, BQP sẽ phảithống nhất quản lý và tổ chức thực hiện các quyền của chủ sở hữu đối vớiDNQĐ Đối với DNQĐ mà Nhà nước sở hữu 100% vốn, các quyền đó baogồm: 1) Quyết định thành lập, tổ chức lại, chuyển đối hình thức sở hữu, giảithể DN; 2) Quyết định mức vốn điều lệ ban đầu và điều chỉnh vốn điều lệtrong quá trình hoạt động của DN; 3) Quyết định mục tiêu, nhiệm vụ, chiếnlược phát triển, các kế hoạch trung và dài hạn của DN; 4) Quyết định quy chếtài chính của DN; 5) Quyết định cơ cấu tổ chức quản lý DN; bổ nhiệm, miễnnhiệm, cách chức các chức danh quản lý chủ chốt của DNQĐ Theo NĐ31/2005/NĐ-CP thì Bộ trưởng BQP quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm, khenthưởng, kỷ luật tổng giám đốc, giám đốc; quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm,khen thưởng, kỷ luật phó tổng giám đốc, phó giám đốc, kế toán trưởng theo

đề nghị của tổng giám đốc, giám đốc công ty

Đối với DNQĐ là công ty cổ phần, mặc dù Nhà nước giữ cổ phầnchi phối (trên 50% tổng số cổ phần) nhưng quyền của Nhà nước với tư cáchchủ sở hữu chỉ giới hạn trong khuôn khổ phần vốn góp Chính phủ không tựmình thực hiện các quyền đó, mà ủy quyền cho BQP và phân cấp cho cácTổng cục, Quân khu, Quân chủng, hội đồng quản trị (HĐQT) thực hiện quyềnchủ sở hữu của Nhà nước phù hợp với loại hình DNQĐ

- Pháp luật chung và pháp luật quân sự

DNQĐ là một pháp nhân kinh tế hoạt động theo pháp luật và bìnhđẳng trước pháp luật, chịu sự chi phối và điều chỉnh chặt chẽ của hệ thốngpháp luật như đối với mọi loại hình DN

Để hướng dẫn thực hiện các Luật còn có các Nghị định, Quyết định, Chỉthị của Chính phủ, Thông tư, các Bộ, ngành có liên quan đến QLNN đối vớiDNQĐ, các văn bản quy phạm pháp luật quản lý các hoạt động của DN Theo

Trang 23

pháp luật hiện hành, DNQĐ được tổ chức quản lý và hoạt động theo quy địnhcủa Luật DN năm 2005 sửa đổi và bổ sung năm 2009 và quy định riêng củaChính phủ Ngoài ra DNQĐ còn chịu chi phối của hệ thống pháp luật quân

sự, sự điều chỉnh của các thể chế liên quan đến QP

DNQĐ được thành lập và phân cấp quản lý theo hệ thống dọc từBQP trở xuống Vì vậy các DNQĐ chịu sự ràng buộc chặt chẽ của Quânđội về tổ chức và nhiệm vụ; phải chấp hành những quy định của BQP và chịu

sự lãnh đạo tuyệt đối và toàn diện của Quân uỷ trung ương

- Chính sách nhà nước và các quy định riêng của BQP

Với vai trò là công cụ QLNN, hệ thống chính sách có tác động rất quantrọng đến DNQĐ nhằm thực hiện các mục tiêu nhất định:

+ Chính sách định hướng hành vi và tạo khuôn khổ hoạt động choDNQĐ, chẳng hạn định hướng huy động, phân bổ và sử dụng các nguồn lực

để phục vụ nhiệm vụ QPAN, yêu cầu kết hợp kinh tế với QP, hướng tới nhữngmục tiêu chung về kinh tế, chính trị, QP của đất nước

+ Chính sách điều tiết những mất cân đối, những hành vi không phù hợpcủa DNQĐ cũng như của các chủ thể trên thị trường Ngoài ra DNQĐ cònchịu sự kiểm soát bởi một số quy định riêng của BQP, chẳng hạn bị cấm hoạtđộng trong một số lĩnh vực nhạy cảm mà DN dân sự có thể được làm

+ Chính sách là công cụ hỗ trợ, khuyến khích sự phát triển của DNQĐ

Do yêu cầu phân bố lực lượng sản xuất phục vụ cho nhiệm vụ QPAN cũngnhư yêu cầu kết hợp QPAN với kinh tế, nên phần lớn các DNQĐ được bố trítrên địa bàn các tỉnh trung du, miền núi, vùng biên giới, hải đảo xa xôi, thường

là nơi mật độ dân cư thấp, trình độ dân trí chưa cao, cơ sở hạ tầng yếu kém, theo

đó DN bị thiệt thòi về chi phí vận chuyển, khả năng tiếp cận thông tin, cơ hộiphát triển thị trường nguồn nhân lực Vì vậy cần có một số chính sách hỗ trợ đểtạo sự công bằng, khuyến khích DNQĐ nâng cao năng lực cạnh tranh

Trang 24

+ Về trợ cấp, Nhà nước cung cấp các khoản trợ cấp, hay chi trả cho cácDNQĐ sản xuất các mặt hàng trực tiếp phục vụ QP và một số sản phẩmđầu vào thiết yếu trong nền KTQD (điện, xăng dầu, sắt thép, ) Nhà nướccòn tài trợ cho những DNQĐ bố trí tại vùng sâu, vùng xa, vùng hải đảo, biêngiới, hoặc nằm trong khu công nghiệp, khu chế xuất để làm nòng cốt, địnhhướng và khai phá những lĩnh vực mới cần có được tạo cơ sở ban đầudẫn dắt các DN khác Có nhiều chính sách, trong đó các chính sách tác độngmạnh nhất đến hoạt động của DNQĐ là các chính sách sản phẩm, chính sáchtài chính, tín dụng, đầu tư

- Hợp đồng cung ứng sản phẩm phục vụ quốc phòng an ninh

Danh mục sản phẩm phục vụ nhiệm vụ QPAN do Nhà nước quy định.Các sản phẩm phục vụ nhiệm vụ QP được thực hiện theo phương thức: Nhànước đặt hàng hoặc giao kế hoạch sản xuất cho DNQĐ thông qua hợp đồngcung ứng sản phẩm, trong đó xác định rõ yêu cầu về chủng loại, số lượng,chất lượng, giá cả, thời hạn cung cấp sản phẩm mà DN có trách nhiệm sảnxuất và cung cấp cho QP Và Nhà nước là người mua số lượng lớn sản phẩmdịch vụ công phục vụ QP

1.2.3 Sự cần thiết cổ phần hoá các doanh nghiệp quân đội

Như vậy có thể thấy, các DNQĐ hoạt động công ích phần lớn đượcthành lập trong thời kỳ bao cấp Là những DN có 100% vốn của Nhà nướctham gia sản xuất và phục vụ dân sinh, các DN có thể chuyển sang chiến đấuhoặc phục vụ chiến đấu khi có yêu cầu Các DNQĐ này không có vai trò tolớn trong việc điều tiết nền kinh tế, nhưng nó lại bảo đảm cho việc phục vụnhiệm vụ quốc phòng, an ninh

Cũng như các DNNN, do nền kinh tế nước ta trong một thời gian dài duytrì cơ chế kế hoạch hóa tập trung, vì vậy các DNNN trong quân đội đã pháttriển một cách nhanh chóng, với rất nhiều DN được thành lập để phục vụ

Trang 25

nhiệm vụ quốc phòng, an ninh và sản xuất hàng dân sinh trong các lĩnh vựcbất kể hiệu quả hoạt động của nó như thế nào.

Để đáp ứng yêu cầu của quá trình phát triển, lực lượng các DNQĐ đượcxác định với các loại hình DN sau:

- Các DN công ích: bao gồm các DN sản xuất hoặc sửa chữa vũ khí,

trang thiết bị đồ dùng quân sự, DN đóng quân trên các địa bàn chiến lược vàthực hiện nhiệm vụ kinh tế với quốc phòng theo quyết định của Chính phủ

- DN hoạt động sản xuất - kinh doanh: bao gồm các DN trong quân

đội sản xuất kinh doanh các sản phẩm lưỡng dụng vừa phục vụ quốc phòngvừa phục vụ dân sinh, khi có nhu cầu sẽ chuyển thành đơn vị chiến đấu hoặcphục vụ chiến đấu

- Doanh nghiệp CPH: bao gồm các DN cổ phần do Bộ Quốc phòng

chuyển đổi từ các DNNN trong quân đội sang, thuộc diện CPH, đang CPH, đãthực hiện xong CPH, mà quân đội có cổ phần chi phối Đây là các DN hoạtđộng sản xuất kinh doanh như các DN thuộc các ngành kinh tế khác

DNNN trong quân đội là một bộ phận của thành phần kinh tế nhànước có nhiệm vụ chủ yếu là phục vụ nhiệm vụ quốc phòng an ninh đồng thờitham gia làm kinh tế, sản xuất, kinh doanh góp phần vào sự tăng trưởng củanền kinh tế quốc dân, củng cố vị trí vai trò của DNNN trong nền kinh tế thịtrường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN Tuy nhiên, cũngnhư DNNN nói chung, DNNN trong quân đội cũng còn nhiều hạn chế, yếukém như: quy mô còn nhỏ, cơ cấu còn nhiều bất hợp lý, chưa thật tập trungvào những ngành, lĩnh vực then chốt; nhìn chung trình độ công nghệ còn lạchậu, quản lý còn yếu kém, chưa thực sự tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong hoạtđộng sản xuất kinh doanh; kết quả sản xuất kinh doanh chưa tương xứng vớicác nguồn lực đã có và sự hỗ trợ, đầu tư của Nhà nước; hiệu quả và sức cạnhtranh còn thấp, nợ không có khả năng thanh toán tăng lên, lao động thiếu việclàm và dôi dư còn lớn

Trang 26

Việc yếu kém của DNNN trong quân đội do nhiều nguyên nhân, trong

đó có thể thấy nổi lên một số nguyên nhân như:

- Do còn nặng tính bao cấp, mệnh lệnh nên đến đầu những năm 90,DNNN trong quân đội vẫn còn bộc lộ rất nhiều bất cập Đa số DNNN trongquân đội thành lập để hoạt động công ích nên do Nhà nước đầu tư vốn vàquản lý với tư cách là chủ sở hữu, do đó DN vẫn được quản lý theo cơ chế kếhoạch hóa tập trung và bao cấp từ khâu cung ứng vật tư cho đến khâu tiêu thụsản phẩm Các DN không chịu sức ép của cạnh tranh nên việc giảm thiểu chiphí chưa được quan tâm đúng mức Khi chuyển đổi cơ chế không theo kịp và

bị tụt hậu

- DNNN trong quân đội rất dàn trải, được bố trí trên hầu hết các địa bànbao quát trên nhiều lĩnh vực, ngành nghề, nên sự đầu tư của Bộ Quốc phòngđối với từng DN là không nhiều Nguồn vốn của Nhà nước đã hạn hẹp lại đầu

tư dàn trải vào nhiều DN nên không tập trung đầu tư được công nghệ mới,

DN trở nên lạc hậu khi chuyển đổi cơ chế

- Các DN hoạt động chủ yếu không vì mục đích lợi nhuận, mà theomệnh lệnh Phạm vi hoạt động, ngành nghề đăng ký của từng DN kinh doanhhẹp, địa bàn hoạt động thường không thuận lợi khi chuyển sang hoạt độngkinh doanh, nên làm ăn hay thua lỗ hoặc làm ăn cầm chừng

- Do Nhà nước đầu tư vốn và quản lý nên đến khi chuyển đổi cơ chếkhông theo kịp, vẫn sử dụng dây chuyền công nghệ lạc hậu, không đồng bộ,

sử dụng nhiều lao động nhưng không có liên hệ chặt chẽ giữa DN trong vàngoài quân đội

- DNNN trong quân đội ít tham gia cung ứng dịch vụ công cộng, chủ yếuphục vụ cho quốc phòng và an ninh, do đó khi chuyển đổi cơ cấu, việc sửdụng lao động không theo đúng khả năng thực tế và không khuyến khíchđược người lao động sáng tạo Điều này làm cho số lao động làm việc trong

Trang 27

các DNNN trong quân đội tăng và chi phí sản xuất tăng lên nên hiệu quả sảnxuất thấp.

- Việc xây dựng kế hoạch để sản xuất kinh doanh không phải theo nhucầu thị trường mà bằng chỉ tiêu, pháp lệnh, DN hoàn toàn không có quyền tựchủ trong quản lý và trong phân phối sản phẩm cũng như quy định của giá

cả Vì vậy chưa thích nghi kịp với cơ chế thị trường, tính năng động và linhhoạt của DNNN trong quân đội thường kém

- DNNN trong quân đội thường được đầu tư trang thiết bị nhằm mụcđích thực hiện nhiệm vụ sản xuất các sản phẩm phục vụ quốc phòng, mangtính lưỡng dụng thấp nên sự thích nghi với sản xuất các sản phẩm phục vụdân sinh chưa cao, khó thích nghi với thị trường tiêu thụ bên ngoài Khichuyển đổi cơ chế, các DN này có kết quả sản xuất kinh doanh thấp, khôngtương xứng với các nguồn vốn đã có và sự hỗ trợ, đầu tư của Nhà nước

- Kinh nghiệm sản xuất kinh tế của các DNNN trong quân đội thườngkhông nhiều, sản phẩm hàng hóa phần lớn chưa khẳng định được uy tínthương mại, việc chiếm lĩnh và mở rộng thị trường có nhiều khó khăn Do cơchế bao cấp nên sự năng động, tiếp cận thị trường thường chậm và thiếu linhhoạt, hiệu quả và sức cạnh tranh còn thấp Các DN lại thường đóng quân ởvùng sâu, ảnh hưởng đến lợi nhuận khi tham gia hoạt động kinh doanh củacác DN này

- Là DNNN trong quân đội nên nguồn vốn dành cho DN để tái đầu tưcủa DN hầu như không có từ bên ngoài mà các DNQĐ chủ yếu nhận sự bảotrợ, ưu đãi từ ngân sách quốc phòng, mà thực chất là ngân sách từ nhà nước.Chỉ có một nguồn vốn duy nhất là vốn do Bộ Quốc phòng cấp

- Sức cạnh tranh của nhiều DN thấp, nguy cơ tụt hậu ngày càng tăng,nổi bật nhất là các DN ngành xây dựng DNNN chủ động đổi mới công nghệ,chuyển từ nhận thầu sang kết hợp đầu tư kinh doanh hạ tầng, còn các DN

Trang 28

trong quân đội không dám nhận thầu rộng rãi, chỉ dựa vào vốn được giao đểnhận thầu do đó không có sức cạnh tranh Một số DN được đầu tư hiện đạinhư Công ty Lũng Lô, nhưng không làm chủ được công nghệ, trình độ chưatheo kịp do đó danh tiếng cũng giảm dần, sự liên kết giữa các DN xây dựngkhông thực hiện được.

Chính vì vậy những năm 80 của thế kỷ trước, một số ngành trongquân đội như cơ khí chế tạo, công nghiệp ô tô, đóng tầu sánh vai được vớicác ngành công nghiệp tương ứng của Nhà nước, nhưng hiện nay các ngànhnày đã bị các DN ngoài quân đội bỏ xa Một số DN ngành điện tử như CTđiện tử Sao Mai, CT vật liệu và thiết bị viễn thông 43… từng giữ vị trí đầungành điện tử cả nước nhưng đến nay hoàn toàn mất vị thế trên thị trường

- Về năng lực và trình độ quản lý của cán bộ quản lý trong các DN cònnhiều hạn chế, chưa theo kịp với sự phát triển của các DN ngoài quân đội.Khả năng tiếp cận công nghệ, thông tin, tư duy và kỹ năng quản lý, kinhdoanh còn nhiều hạn chế Trong khi đó việc đào tạo, bổ sung nguồn cán bộkhoa học kỹ thuật cho phát triển khoa học kỹ thuật đang thiếu cả công nhânlành nghề và kỹ thuật viên lẫn các nhà khoa học, đây là hạn chế rất lớn có ảnhhưởng đến sự cạnh tranh và xu hướng phát triển của các DN

Có thể thấy, DN trong quân đội còn nhiều rào cản tạo môi trường kinhdoanh chưa thông thoáng Các rào cản đã tác động đến sự phát triển và khảnăng cạnh tranh của các DNNN trong quân đội, cụ thể như: thủ tục hànhchính còn rườm rà, chậm trễ, qua nhiều khâu trung gian; quản lý nhà nướcvừa buông lỏng vừa can thiệp quá sâu vào hoạt động kinh doanh của DN;nhiệm vụ của các cơ quan chồng chéo, trách nhiệm không rõ ràng minh bạch,dẫn đến khó khăn cho DN khi phải xử lý những vấn đề có liên quan đến cơquan của Bộ

Trang 29

Thực tế có nhiều DNNN trong quân đội đã hoạt động có hiệu quả, gópphần quan trọng vào sự nghiệp đổi mới và phát triển đất nước, xây dựng quânđội, như Công ty Tân Cảng Sài Gòn, Công ty viễn thông quân đội, Tổng công

ty dịch vụ bay…nhưng vẫn còn nhiều DN sản xuất kinh doanh đạt hiệu quảchưa cao, có DN còn thua lỗ nặng, như Công ty Sông Hồng QK3, Công ty 89,

số công ty gặp khó khăn khi chuyển đổi cơ chế ngày càng nhiều

Như vậy, DNNN trong quân đội đang đứng trước thách thức gay gắt của

yêu cầu đổi mới, phát triển và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế Do quy luậtcạnh tranh khắc nghiệt của cơ chế thị trường, nếu các DNNN trong quân độikhông khắc phục được khó khăn, bị "thua lỗ", không theo kịp cơ chế thịtrường thì kinh doanh không thể có hiệu quả Điều này gây khó khăn choquân đội và góp phần cản trở quá trình đi lên của nền kinh tế đất nước

Do yêu cầu tất yếu của quá trình hội nhập, của nền kinh tế thị trườngXHCN, đòi hỏi DNNN trong quân đội cũng phải đổi mới, hòa nhập để phùhợp với nền kinh tế thị trường để tồn tại và phát triển Cũng như các DNNNkhác, các DN trong quân đội đầu những năm 90 cũng có hiệu quả sản xuấtthấp và tình trạng thua lỗ là phổ biến Tuy nhiên, do vẫn nặng quan điểm baocấp nên các DNNN trong quân đội vẫn duy trì hoạt động như thời bao cấp,những DN làm ăn bị lỗ vẫn được Bộ Quốc phòng dùng ngân sách nhà nước

để nuôi và duy trì sự sống của DN Với quan điểm chính là phục vụ nhiệm vụquân sự, quốc phòng Đó cũng là đặc thù làm cho DNQĐ không năng động

và tự chủ, không phát huy hết khả năng của mình, luôn ỷ lại và thụ động

Từ những phân tích trên, có thể thấy, CPH DNNN trong quân đội là quyluật tất yếu, kết quả CPH DNNN trong quân đội thời gian qua cho phép khẳngđịnh tính tích cực trong quá trình sắp xếp đổi mới DNQĐ góp phần nâng caohiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh, vị thế của DNQĐ trong nền kinh tếquốc dân

Trang 30

1.2.4 Chủ trương, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về cổ phần hóa các doanh nghiệp quân đội

Ngày 3 tháng 3 năm 1989, thành lập Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng

và Kinh tế, là cơ quan trực thuộc Bộ Quốc phòng, với chức năng thực hiệnquản lý nhànước đối với các xí nghiệp sản xuất quốc phòng và cơ sở kinh tếtrong toàn quân Sự ra đời của cơ quan này đánh dấu việc chuyển hoạt độngcủa các xí nghiệp quốc phòng từ cơ chế bao cấp sang sản xuất kinh doanh,hạch toán độc lập

Ngày 21 tháng 11 năm 1989, Bộ Quốc phòng có chỉ đạo việc kiện toàn

tổ chức và quản lý các cơ sở sản xuất, kinh doanh của quân đội Trên cơ sở

đó, các cấp đã triển khai việc sắp xếp lại các đơn vị kinh tế thành các tổngcông ty, công ty, xí nghiệp… cho phù hợp với tổ chức và cơ chế hoạt độngkinh tế đang được đổi mới

Ngày 4-10-2017, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt "Đề án cơ cấu lại,đổi mới và nâng cao hiệu quả DNQĐ đến năm 2020"

Theo đề án được phê duyệt, Bộ Quốc phòng tiếp tục duy trì DN 100%vốn Nhà nước đối với 17 DN, trong đó giữ nguyên 12 DN đang thực hiện cácnhiệm vụ quân sự, quốc phòng và xây dựng Đề án hình thành 5 tổng công

ty có nhiệm vụ sản xuất, sửa chữa vũ khí, trang bị kỹ thuật đặc chủng, trên

cơ sở cơ cấu lại các DN công nghiệp quốc phòng Thực hiện CPH 29 DN

có ngành nghề kinh doanh chủ yếu là thương mại, xây dựng, dịch vụ Thựchiện thoái vốn Nhà nước tại 20 công ty cổ phần (thuộc danh mục DN, Nhànước không cần nắm giữ vốn điều lệ) Một số DN có quy mô nhỏ sẽ đượcsáp nhập, hợp nhất

Bộ Quốc phòng sẽ duy trì tỷ lệ vốn Nhà nước từ 51% vốn điều lệ đếnhết năm 2019 tại 12 DN sau khi CPH

Trang 31

Trong thời gian qua, các nguồn lực dành cho DNQĐ đã ngày càng đượckiểm soát chặt chẽ hơn Cụ thể, về đất đai, các DN sử dụng đất quốc phòngcho mục đích kinh tế-quốc phòng cũng sẽ phải thuê đất Bộ Quốc phòng đãthu hồi hơn 1.400 biển số xe quân sự của các DN, để tới đây mỗi DNQĐ, kể

cả DN 100% vốn Nhà nước cũng chỉ có tối đa 2 xe biển số quân sự Khi rúthết vốn Nhà nước tại DN nào thì cũng đồng thời sẽ thu hồi hết biển số xequân sự tại DN đó

Bộ Quốc phòng yêu cầu đẩy mạnh công tác giáo dục, tuyên truyền, địnhhướng tư tưởng để cán bộ, đảng viên và người lao động tại các DN thuộc diện

cơ cấu lại, sáp nhập, cổ phần hóa, thoái vốn và giải thể nhận thức đầy đủ, thựchiện đúng quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước

và Quân ủy Trung ương; kiên quyết đấu tranh với những tư tưởng ngại đổimới, né tránh cổ phần hóa

1.2.5 Nội dung của quá trình CPH doanh nghiệp Nhà nước trong quân đội

1.2.5.1 Đối tượng doanh nghiệp Nhà nước trong quân đội thực hiện cổ phần hóa

Các công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Bộ Quốc phòng đạidiện nắm giữ 100% vốn điều lệ, gồm: Công ty mẹ của Tập đoàn kinh tế, Tổngcông ty Nhà nước; các công ty trách nhiệm hữu hạn không thuộc diện Nhànước cần nắm giữ 100% vốn điều lệ Không áp dụng cổ phần hóa đối với đơn

vị hạch toán phụ thuộc

1.2.5.2 Những điều kiện cần có để thực hiện cổ phần hoá

Chuyển hoá DNNN sang hình thức công ty cổ phần là một công việcphức tạp, không thể thực hiện trong thời gian ngắn và để quá trình hoạt động

có hiệu quả thì phải thực sự chuẩn bị những điều kiện cần thiết tạo môi trườngcho công ty cổ phần

Trang 32

Một là, sớm tạo ra cơ sở pháp lý và cơ sở phương pháp luận cho việc

chuyển hoá sở hữu DNNN Đó là việc dự thảo và thông qua các văn bản luậtpháp và pháp quy, việc chủ động thực hiện và phối hợp hoạt động hệ thốngcác cơ quan chức năng có liên quan Trong tất cả những công việc đó rất cần

có một đội ngũ chuyên gia giỏi, nhạy bén, năng động với đủ trình độ nghiêncứu, xử lý những vấn đề phát sinh ở doanh nghiệp cần chuyển hoá sở hữucũng như trong quá trình chuyển đổi sở hữu tiếp sau

Trong những văn bản nêu trên cần phải xác định những điều kiện pháp

lý phổ biến như: cách tiếp cận các Doanh nghiệp để tiến hành cổ phần hoá,khả năng tham dự vào việc chuyển đổi của công ty, cách thức xem xét các ýkiến khác nhau của tập thể lao động, hình thức và phương thức cổ phần hoá

Hai là, phải lập xong chương trình tiến hành bao gồm những công việc

chủ yếu: nhiệm vụ cụ thể của quá trình cổ phần hoá và phân loại tài sản vàDNNN theo quy mô và xác định tỷ trọng chuyển đổi sở hữu trong chuyểnđổi sở hữu trong từng loại nhỏ, trung bình, lớn và những doanh nghiệpkhông chuyển hoá sở hữu trong từng ngành, từng lĩnh vực, cải cách cơ chếquản lý ngân hàng, trình tự tiến hành kiểm kê và định rõ nguồn hình thànhgiá trị của các loại tài sản, vốn, quỹ xí nghiệp theo mức giá thị trường

Ba là, phải có sự quyết tâm của Chính Phủ Toàn bộ những bước đi

của quá trình chuyển hoá sở hữu các DNNN từ đặt vấn đề, đến xem xét môitrường kinh doanh, những thay đổi về luật pháp, cách thức chuyển cácDNNN sang cơ chế thị trường Không thể tiến hành nếu thiếu sự quyết tâmcủa chính phủ và thái độ kiên quyết của các cơ quan có trách nhiệm

Thứ tư là, phải có sự thông hiểu và ủng hộ của quần chúng Nếu muốn

quá trình này được thực thi một cách suôn sẻ thì trước hết phải tổ chức tuyêntruyền, công khai hoá về tài sản, tài chính, ngành nghề kinh doanh, chiến lượcphát triển qua đó sẽ tạo ra sự hưởng ứng của dư luận xã hội, và xác lập mộtmôi trường cho việc mở rộng đầu tư trong nước

Trang 33

1.2.5.3 Quy trình cổ phần hoá

Bước 1: Xây dựng Phương án cổ phần hoá

1 Thành lập Ban chỉ đạo cổ phần hoá và tổ giúp việc

2 Chuẩn bị hồ sơ tài liệu:

2.1 Lựa chọn phương pháp, hình thức xác định giá trị doanh nghiệp,lựa chọn thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp phù hợp với điều kiện củadoanh nghiệp và các văn bản hướng dẫn có liên quan đến cổ phần hoá

2.2 Chuẩn bị đầy đủ các hồ sơ, tài liệu sau:

- Các hồ sơ pháp lý về thành lập doanh nghiệp; tài sản của doanhnghiệp (bao gồm cả diện tích đất được giao hoặc thuê); công nợ (đặc biệt làcác khoản nợ tồn đọng, các khoản nợ đã xử lý theo chế độ trước thời điểmxác định giá trị doanh nghiệp); tài sản không cần dùng, vật tư, hàng hoá ứđọng, kém, mất phẩm chất (nếu có), tài sản hình thành từ nguồn quỹ khenthưởng phúc lợi; các công trình đầu tư xây dựng cơ bản dở dang (kể cả cáccông trình đã có quyết định đình hoãn); các khoản vốn đầu tư dài hạn vàodoanh nghiệp khác

- Báo cáo tài chính, báo cáo quyết toán thuế của công ty đến thời điểmxác định giá trị doanh nghiệp

- Lập dự toán chi phí cổ phần hóa theo chế độ quy định

3 Kiểm kê, xử lý những vấn đề về tài chính và tổ chức xác định giá trịdoanh nghiệp: thuê công ty có tư cách pháp nhân đánh giá giá trị tài sảncủa DN

4 Căn cứ thời điểm quyết định công bố giá trị doanh nghiệp, doanhnghiệp lập:

- Danh sách người lao động có tên trong danh sách thường xuyên củadoanh nghiệp tại thời điểm quyết định công bố giá trị doanh nghiệp để xácđịnh số cổ phần dự kiến người lao động được mua ưu đãi

Trang 34

- Lập danh sách lao động thường xuyên làm việc tại công ty tại thờiđiểm quyết định công bố giá trị doanh nghiệp, phân loại lao động theo các đốitượng: hợp đồng không xác định thời hạn, hợp đồng có thời hạn từ 1-3 năm,danh sách lao động dôi dư…

5 Hoàn tất Phương án cổ phần hoá

5.1 Lập Phương án cổ phần hoá:

a) Giới thiệu về công ty, trong đó mô tả khái quát về quá trình thành lậpcông ty và mô hình tổ chức của công ty; tình hình và kết quả hoạt động sảnxuất kinh doanh của công ty trong 3 - 5 năm liền kề trước khi cổ phần hoá

b) Đánh giá thực trạng của công ty ở thời điểm xác định giá trị doanhnghiệp

c) Phương án sắp xếp lại lao động

d) Phương án hoạt động sản xuất kinh doanh trong 3 - 5 năm tiếp theo đ) Phương án sử dụng đất quốc phòng

cổ phần bán cho các nhà đầu tư chiến lược (kèm theo danh sách) và số cổphần dự kiến bán đấu giá cho các nhà đầu tư thông thường

- Phương thức phát hành cổ phiếu theo quy định (đấu giá trực tiếp tạicông ty, hoặc đấu giá tại các tổ chức tài chính trung gian, hoặc đấu giá tạitrung tâm giao dịch chứng khoán)

f) Dự thảo Điều lệ tổ chức và hoạt động của công ty cổ phần theo cácquy định của Luật doanh nghiệp và các văn bản pháp luật hiện hành

Trang 35

5.2 Hoàn thiện Phương án cổ phần hoá.

a) Căn cứ quyết định công bố giá trị doanh nghiệp cổ phần hoá, Tổ giúpviệc cùng với doanh nghiệp phối hợp với tổ chức tư vấn (nếu có) hoàn thiệnPhương án cổ phần hoá và gửi tới từng bộ phận trong công ty để nghiên cứutrước khi tổ chức hội nghị công nhân viên chức (bất thường)

b) Tổ chức Hội nghị công nhân viên chức (bất thường) để lấy ý kiếnhoàn thiện phương án cổ phần hoá

c) Sau Hội nghị công nhân viên chức, Tổ giúp việc, doanh nghiệp phốihợp với tổ chức tư vấn (nếu có) hoàn thiện Phương án cổ phần hoá để trình cơquan có thẩm quyền phê duyệt

d) Ban chỉ đạo thẩm định phương án cổ phần hoá báo cáo cơ quanquyết định cổ phần hoá phê duyệt

5.3 Phê duyệt phương án cổ phần hoá

Bước 2: Tổ chức bán cổ phần.

1 Ban chỉ đạo CPH lựa chọn phương thức bán cổ phần theo quy định

2 Tổ chức bán cổ phần:

2.1 Tổ chức bán đấu giá cho các nhà đầu tư thông thường

2.2 Trên cơ sở giá đấu thành công bình quân của các nhà đầu tư thôngthường, Ban chỉ đạo cổ phần hoá:

- Chỉ đạo doanh nghiệp bán cổ phần ưu đãi cho người lao động và tổchức công đoàn tại doanh nghiệp (nếu có)

- Tiến hành bán cổ phần cho nhà đầu tư chiến lược hoặc thương thảovới các nhà đầu tư chiến lược đã được lựa chọn

3 Tổng hợp kết quả bán cổ phần báo cáo cơ quan quyết định cổ phần hoá

4 Báo cáo cơ quan quyết định cổ phần hoá ra quyết định điều chỉnh quy

mô, cơ cấu cổ phần của doanh nghiệp cổ phần hoá đối với trường hợp không bán

cổ phần cho các đối tượng theo đúng phương án cổ phần hoá được duyệt

Trang 36

Bước 3: Hoàn tất việc chuyển doanh nghiệp thành công ty cổ phần.

1 Đại Hội đồng cổ đông lần thứ nhất

2 Căn cứ vào kết quả Đại Hội đồng cổ đông lần thứ nhất, Hội đồngquản trị công ty cổ phần thực hiện đăng ký kinh doanh, nộp con dấu củadoanh nghiệp cũ và xin khắc dấu của công ty cổ phần

3 Lập báo cáo tài chính tại thời điểm công ty cổ phần được cấp giấychứng nhận đăng ký kinh doanh lần đầu, thực hiện quyết toán thuế, quyết toánchi phí cổ phần hoá, báo cáo cơ quan quyết định cổ phần hoá

Nộp tiền thu từ cổ phần hoá về Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty, công ty

mẹ, công ty nhà nước hoặc Quỹ hỗ trợ sắp xếp doanh nghiệp tại Tổng công tyĐầu tư và kinh doanh vốn nhà nước

4 Công ty cổ phần mua hoặc in tờ cổ phiếu cấp cho các cổ đông theoquy định hiện hành

5 Tổ chức ra mắt công ty cổ phần và thực hiện bố cáo trên phương tiệnthông tin đại chúng theo quy định

6 Tổ chức bàn giao giữa doanh nghiệp và công ty cổ phần

Tóm lại, quy trình cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước trong quân

đội cũng như ngoài quân đội tương đối giống nhau Chỉ khác ở 1 số điểm cơ bản sau:

- Cơ quan có thẩm quyền phê duyệt và quyết định phương án cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước trong quân đội là Bộ Quốc phòng; còn cơ quan

có thẩm quyền phê duyệt và quyết định phương án cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước ngoài quân đội là Bộ Tài chính.

- Người được cử làm đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp CPH trong quân đội phải là quân nhân có đủ tiêu chí năng lực trong quân đội.

- Giải quyết chế độ chính sách cho người trong quân đội (quân nhân) khi chuyển ra cổ phần hoá đối với DNQĐ.

Trang 37

- Xử lý các trang thiết bị quân sự trước khi cổ phần hoá đối với DNQĐ.

Trang 38

CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG CỔ PHẦN HOÁ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC

TẠI TỔNG CỤC CÔNG NGHIỆP QUỐC PHÒNG

- NGHIÊN CỨU TẠI NHÀ MÁY Z181

2.1 Thực tiễn CPH một số doanh nghiệp quân đội tại tổng cục CNQP

2.1.1 Khái quát về Tổng cục công nghiệp quốc phòng

Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng là cơ quan trực thuộc Bộ Quốcphòng Việt Nam, có chức năng tổ chức, quản lý các cơ sở CNQP nòng cốt,bao gồm các viện nghiên cứu thiết kế, công nghệ vũ khí, các nhà máy, các liênhiệp xí nghiệp chế tạo vũ khí, trang bị và các phương tiện kỹ thuật quân sự,đảm bảo cho Quân đội Nhân dân Việt Nam chiến đấu bảo vệ Tổ quốc

Hằng năm tỷ trọng hàng quốc phòng chiếm 50% - 80% tổng tỷ trọng cácmặt hàng sản xuất Song, tỷ trọng hàng quốc phòng phân bố trong các doanhnghiệp không đồng đều Có doanh nghiệp chỉ sản xuất 10% - 20% hàng quốcphòng trong tổng số các sản phẩm sản xuất Có doanh nghiệp tỷ trọng hàngquốc phòng lại chiếm 80% - 90% tổng sản phẩm Sự chênh lệch này nguyênnhân là do đặc thù của dây chuyền sản xuất của mỗi doanh nghiệp

Các doanh nghiệp có tỷ trọng quốc phòng thấp không được đầu tư máymóc, trang thiết bi hiện đại Hầu hết máy móc đã lạc hậu, tốn kém nguyên vậtliệu, tiêu hao nhiều năng lượng, năng suất thấp Thường các doanh nghiệpnày, người lao động có mức lương bình quân thấp Doanh nghiệp phải tựnghiên cứu, mở rộng sản xuất thêm các mặt hàng dân dụng để đảm bảo đờisống cho người lao động Ngược lại, các doanh nghiệp có tỷ trọng hàng quốcphòng cao, mức lương bình quân của người lao động cao

Trang 39

Tổng cục có 5 công ty cổ phần:

- Công ty cổ phần Thanh Bình Hà Nội

- Công ty cổ phần Xây dựng Tây Hồ Hà Nội

- Công ty cổ phần Vật tư tổng hợp và phân bón hoá sinh

- Công ty cổ phần xi măng X18

- Công ty cổ phần Thanh Bình phía Nam

2.1.2 Thực trạng quá trình CPH các DN tại Tổng cục CNQP

Cũng như các DN trong quân đội, việc CPH các DN tại Tổng cục CNQP

đã thực hiện theo đúng đường lối, chủ trương của Nhà nước đề ra, bước đầu

đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng

Sau CPH các CTCP đều phát triển tốt Hầu hết các chỉ tiêu kinh tế quantrọng như: doanh thu, lợi nhuận, nộp ngân sách, tỷ suất lợi nhuận trên vốn, cổtức và thu nhập bình quân của người lao động đều tăng trưởng đáng kể Từnăm 2002 đến nay tổng cục CNQP đã tiến hành CPH 5 doanh nghiệp, thoáivốn nhà nước 3 DN, phần lớn các DN làm ăn có lãi Trong 5 công ty cổ phần

có 4 DN kinh doanh có lãi (chiếm 80%) trong đó, có 2 công ty CP chia cổ tứchàng năm trên 12% đảm bảo việc làm cho gần 2.000 lao động với thu nhậpbình quân 7,5 triệu đồng/tháng, cụ thể ở các công ty điển hình như:

Công ty cổ phần xây dựng Tây Hồ Hà Nội

CPH Công ty xây dựng Tây Hồ Hà Nội nhằm tăng tính minh bạch, nângcao hiệu quả của hoạt động SXKD Đồng thời, CPH Công ty xây dựng Tây

Hồ Hà Nội thành công sẽ cùng với một số DNQĐ khác tạo ra một nguồn hàngdồi dào, góp phần tạo sự chuyển biến tích cực cho TTCK cũng như nền kinh

tế Việt Nam Thêm vào đó, CPH Công ty xây dựng Tây Hồ Hà Nội hoàn tấtcùng với kết quả tích cực từ CPH một số công ty của Tổng cục CNQP cũng

đã cho thấy việc CPH không quá khó khăn nếu có quyết tâm, xây dựngphương án và lộ trình hợp lý Công ty cổ phần xây dựng Tây Hồ Hà Nội đang

Trang 40

thay đổi mạnh mẽ sau CPH Lãi trước thuế của TCT này trong 9 tháng đầunăm 2015 đạt hơn 13 tỷ đồng Ðây là kết quả khả quan, vì trong năm ngoái,lợi nhuận trước thuế mà DN này đạt được chỉ khoảng 1,71 tỷ đồng TheoCông ty cổ phần xây dựng Tây Hồ Hà Nội, kết quả tích cực này là do Công ty

đã tiến hành tái cấu trúc, hợp lý hóa qui trình sản xuất, thoái vốn khỏi các lĩnhvực kinh doanh ngoài ngành DN này đang rà soát để giảm số lượng nhânviên xuống còn 650 người vào năm sau, từ mức hơn 1100 trong năm 2014.Nếu điều này diễn ra, đây là sẽ đợt cắt giảm nhân sự lớn nhất của Công ty cổphần xây dựng Tây Hồ Hà Nội từ trước đến nay Năm 2016, doanh thu củaCông ty cổ phần xây dựng Tây Hồ Hà Nội đạt gần 57 tỷ VND, lợi nhuận sauthuế là hơn 1,7 tỷ (Nguồn: Bộ Quốc phòng, 2017)

Bảng 2.1 Kết quả kinh doanh của Công ty cổ phần xây dựng Tây Hồ

Hà Nội sau CPH.

ĐVT: tỷ đồngNăm Tổng doanh thu Lợi nhuận trước thuế

Ngày đăng: 26/02/2019, 21:06

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
9. Chính phủ (2003), Công văn số 1231/CP-ĐMDN ngày 12/9 về việc xử lý đất quốc phòng ở các doanh nghiệp quân đội cổ phần hóa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công văn số 1231/CP-ĐMDN ngày 12/9 về việcxử lý đất quốc phòng ở các doanh nghiệp quân đội cổ phần hóa
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2003
10. Chính phủ (2008), Quyết định số 339/QĐ-TTg ngày 31/3 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt phương án sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp 100%vốn nhà nước thuộc Bộ Quốc phòng giai đoạn 2008-2010, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 339/QĐ-TTg ngày 31/3 của Thủtướng Chính phủ phê duyệt phương án sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp 100%vốn nhà nước thuộc Bộ Quốc phòng giai đoạn 2008-2010
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2008
11. Đảng Cộng sản Việt Nam (2017), Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương khoá XII, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng Cộng sản Việt Nam (2017), "Văn kiện Hội nghị lần thứ nămBan chấp hành Trung ương khoá XII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2017
12. Đoàn Hùng Minh (2007), một số cơ sở lý luận và thực tiễn để định hướng xây dựng các chế độ chính sách cho người lao động trong công nghiệp quốc phòng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: một số cơ sở lý luận và thực tiễn để địnhhướng xây dựng các chế độ chính sách cho người lao động trong côngnghiệp quốc phòng
Tác giả: Đoàn Hùng Minh
Năm: 2007
13. Nguyễn Gia Trọng (2009), Những vấn đề pháp lý về cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nước trong quân đội, khoa Luật - Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề pháp lý về cổ phần hoácác doanh nghiệp Nhà nước trong quân đội, khoa Luật - Đại học Quốcgia
Tác giả: Nguyễn Gia Trọng
Năm: 2009
14. Quốc hội (1999), Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam
Tác giả: Quốc hội
Năm: 1999
15. Quốc hội (2008), Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sĩ quanQuân đội nhân dân Việt Nam
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2008
16. Quốc hội (2016), Luật Quân nhân chuyên nghiệp và công nhân, viên chức Quốc phòng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Quân nhân chuyên nghiệp và công nhân, viênchức Quốc phòng
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2016
17. Trần Ngọc Hiên (2007), "Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước - Thực trạng và giải pháp", Tạp chí Cộng sản, 6(126), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước -Thực trạng và giải pháp
Tác giả: Trần Ngọc Hiên
Năm: 2007
18. Ủy ban Thường vụ Quốc hội (2008), Pháp lệnh Công nghiệp quốc phòng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp lệnh Công nghiệp quốcphòng
Tác giả: Ủy ban Thường vụ Quốc hội
Năm: 2008

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w