Khi nghiên cứu vi khuẩn tụ huyết trùng gây bệnh ở các loài gia súc, gia cầm, Hueppe phát hiện thấy sự giống nhau về tính chấtgây bệnh, tương đồng kháng nguyên, nhưng khác nhau về tính gâ
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM –––––––––––––––––––––
NGUYỄN VĂN LONG
TÊN ĐỀ TÀI:
MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ BỆNH TỤ HUYẾT TRÙNG
Ở TRÂU, BÒ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN VÕ NHAI TỈNH THÁI
NGUYÊN VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y Lớp: LTTY – K47 Khoa: Chăn nuôi thú y Khóa học : 2015 – 2017
Thái Nguyên - Năm 2017
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM –––––––––––––––––––––
NGUYỄN VĂN LONG
TÊN ĐỀ TÀI:
MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ BỆNH TỤ HUYẾT TRÙNG
Ở TRÂU, BÒ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN VÕ NHAI TỈNH THÁI
NGUYÊN VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y Lớp: LTTY – K47 Khoa: Chăn nuôi thú y Khóa học : 2015 – 2017 Giảng viên: PGS TS Đặng Xuân Bình
Thái Nguyên - Năm 2017
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành báo cáo tốt nghiệp này trước hết em xin gửi lời cảm ơn tớitoàn thể các thầy cô giáo trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên đã truyềnđạt cho em những kiến thức quý báu và bổ ích trong suốt những năm học vừaqua
Em xin dành lời cảm ơn sâu sắc tới PGS.TS Đặng Xuân Bình đã tận tìnhgiúp đỡ và hướng dẫn em trong suốt quá trình thực tập để hoàn thành báo cáotốt nghiệp
Em xin chân thành cảm ơn tới các thầy, cô giáo trong khoa Chăn nuôi thú
y, đặc biệt là các thầy cô giáo trong bộ môn Chăn nuôi động vật đã giúp đỡ
em hoàn thành báo cáo thực tập tốt nghiệp này
Em xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ Trạm chăn nuôi vàthú y Võ Nhai đã tạo điều kiện giúp đỡ cho em trong suốt quá trình thực tập
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến toàn thể gia đình, bạn bè đã giúp
đỡ và động viên em trong suốt quá trình học tập cũng như trong thời gian thựctập tốt nghiệp
Trong quá trình thực tập vì chưa có nhiều kinh nghiệm thực tế, chỉ dựavào kiến thức đã học cùng với thời gian hạn hẹp nên báo cáo không tránh khỏisai sót
Kính mong được sự góp ý nhận xét của quý thầy cô để giúp cho kiến thứccủa em ngày càng hoàn thiện và có nhiều kinh nghiệm bổ ích cho công việc sau này
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2017
Sinh viên
Nguyễn Văn Long
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.3 Tóm tắt danh pháp của Pasteurella multocida 17
Bảng 2.4 Phân biệt các loài Pasteurella 22
Bảng 2.5 Hệ thống phân loại serotype của Pasteurella multocida 25
Bảng 4.2 Tần suất xuất hiện dịch tụ huyết trùng tại Võ Nhai 38
Bảng 4.3 Kết quả xác định tỷ lệ trâu bò mắc bệnh, chết, tử vong do bệnh tụ huyết trùng theo loài gia súc 40
Bảng 4.4 Kết quả xác định tỷ lệ trâu bò mắc bệnh, chết, tử vong do bệnh tụ huyết trùng theo mùa vụ 42
Bảng 4.5 Kết quả xác định trâu, bò mắc bệnh tụ huyết trùng theo lứa tuổi tại Võ Nhai 45
Bảng 4.6 Kết quả theo dõi triệu chứng của trâu bò mắc bệnh tụ huyết trùng 47
Bảng 4.7 Kết quả xác định tỷ lệ trâu, bò mắc bệnh, chết do bệnh tụ huyết trùng theo vùng địa lý tại Võ Nhai 49
Bảng 4.8 Kết quả tiêm phòng vaccin tụ huyết trùng trâu bò của huyện Võ Nhai từ năm 2014 - 2016 50
Bảng 4.9 Kết quả thử nghiệm một số phác đồ điều trị bệnh tụ huyết trùng trâu, bò 53
Trang 5DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
Trang 6MỤC LỤC
Phần 1: ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
2 Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 3
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 3
2.1.1.3 Thời tiết khí hậu 4
2.1.3 Điều kiện kinh tế - xã hội
5 2.2 Tình hình nghiên cứu bệnh tụ huyết trùng trong và ngoài nước 6
2.2.1 Trên thế giới 6
2.2.2 Ở Việt Nam 7
2.3 Đặc điểm dịch tễ học bệnh tụ huyết trùng
10 2.3.1 Nguồn bệnh và phương thức lây lan
10 2.3.2 Loài mắc bệnh 11
2.3.3 Tuổi mắc bệnh 12
2.3.4 Mùa vụ phát bệnh 13
2.3.5 Vùng phát bệnh 14
2.3.6 Hiện tượng mang vi khuẩn Pasteurella multocida ở đường hô hấp trên gia súc khỏe 15
2.4 Đặc tính sinh học của mầm bệnh 17
2.4.1 Phân loại vi khuẩn 17
2.4.2 Hình thái và tính chất bắt màu
18 2.4.3 Đặc tính nuôi cấy 18
2.4.4 Đặc tính sinh hóa 21
2.4.5 Kháng nguyên của vi khuẩn 22
2.4.6 Độc lực của vi khuẩn Pasteurella multocida
26 2.4.7 Sức đề kháng 27
2.5 Cơ chế sinh bệnh 28
Trang 72.6 Đặc điểm bệnh tụ huyết trùng trâu, bò 28
2.6.1 Biêu hiên đăc trưng của trâ,ubò mắc bệnh tụ huyết trùng 28
Trang 82.6.1.1 Triệu chứng của trâu, bò mắc bệnh tụ huyết trùng
28 2.6.1.2 Bệnh tích 30
2.6.2 Chẩn đoán bệnh 30
2.6.2.1 Chẩn đoán lâm sàng 30
2.6.2.2 Chẩn đoán vi khuẩn học
30 2.6.2.3 Chẩn đoán huyết thanh học 32
2.6.3 Phòng và trị bệnh 32
2.6.3.1 Phòng bệnh 32
2.6.3.2 Điều trị bệnh 33
Phần 3: ĐỐI TƯỢNG NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
35 3.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu
35 3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 35
3.1.2 Thời gian và địa điểm 35
3.2 Nội dung nghiên cứu 35
3.2.1 Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh tụ huyết trùng trâu, bò tại huyện Võ Nhai 35
3.2.2 Đề xuất biện pháp phòng trị bệnh tụ huyết trùng trâu, bò tại huyện Võ Nhai Error! Bookmark not defined. 3.3 Phương pháp nghiên cứu 35
3.3.1 Phương pháp xử lý số liệu 36
3.3.2 Phương pháp tính tỷ lệ và hệ số gia súc mắc bệnh
36 Phần 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
37 4.1 Đặc điểm dịch tễ học bệnh tụ huyết trùng gia súc tại Võ Nhai
37 4.1.1 Tình hình bệnh tụ huyết trùng trâu, bò, lợn trên địa bàn huyện từ năm 2014 - 2016 37
4.1.2 Tần suất xuất hiện dịch bệnh tụ huyết trùng trâu, bò tại các xã từ năm 2014 - 2016 38
4.1.3 Kết quả điều tra trâu, bò mắc bệnh và chết do bệnh tụ huyết trùng trâu, bò theo loài gia súc 39
Trang 94.1.4 Kết quả điều tra trâu, bò mắc bệnh và chết do bệnh tụ huyết trùng trâu, bò theo mùa vụ
41
Trang 104.1.5 Kết quả điều tra trâu, bò mắc bệnh và chết do bệnh tụ huyết trùng trâu, bò theo lứa tuổi
2014 - 2016 50 4.2 Kết quả thử nghiệm một số phác đồ điều trị bệnh tụ huyết trùng trâu,
Trang 11Cùng với sự phát triển đi lên của ngành trồng trọt, thì ngành chăn nuôicũng được coi là một thế mạnh và dường như không thể thiếu Có thể kể hàngloạt những lợi ích mà ngành chăn nuôi mang lại, ví dụ như: cung cấp nguồnthực phẩm đa dạng và phong phú (thịt, trứng, sữa, ), cung cấp sức kéo, cungcấp phân bón cho ngành trồng trọt Biết được tầm quan trọng, Nhà nước ta
đã đầu tư cho ngành chăn nuôi trên rất nhiều khía cạnh, có thể kể đến như hỗtrợ đầu tư vốn cho người dân mở trang trại, cung cấp vắc xin miễn phí cho tất
cả các tỉnh thành 2 lần/năm trong 2 đợt tiêm phòng chung của cả nước Khôngnhững thế, Nhà nước còn rất chú trọng đầu tư đạo tào nguồn nhân lực có kiếnthức chuyên môn về kỹ thuật chăm sóc và điều trị bệnh cho đàn vật nuôi
Với vai trò là một bác sỹ thú y trong tương lai, em tự biết muốn trởthành một bác sỹ thú y có tay nghề cao thì cần phải cọ xát thực tế thật nhiều,cần phải tiếp xúc với nhiều ca bệnh, trực tiếp điều trị thì mới có thể nâng caotay nghề của mình Cùng với mục tiêu như trên, được sự cho phép của Nhàtrường, của Khoa, của các cấp lãnh đạo huyện Võ Nhai tỉnh Thái Nguyên, em
tiến hành thực hiện đề tài: “Một số đặc điểm dịch tễ bệnh tụ huyết trùng ở trâu, bò tại huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên và biện pháp phòng trị”.
Trang 12được sự quan tâm giúp đỡ góp ý của quý thầy cô để khóa luận của em được hoàn thiện hơn.
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định một số đặc điểm dịch tễ bệnh tụ huyết trùng trâu, bò trênđịa bàn huyện Võ Nhai
- Đề xuất các biện pháp phòng và trị bệnh hiệu quả
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
* Ý nghĩa khoa học:
- Bổ sung tư liệu về đặc điểm dịch tễ bệnh tụ huyết trùng trâu, bò
- Kết quả nghiên cứu của đề tài là thông tin khoa học về tình hình bệnh
tụ huyết trùng và điều trị bệnh cho đàn trâu, bò nuôi tại một số xã thuộc huyện
Võ Nhai, tỉnh Võ Nhai
* Ý nghĩa thực tiễn:
- Là cơ sở thực tiên để xác định biện pháp phòng, trị bệnh có hiệu quả
- Là tài liệu tham khảo cho sinh viên ngành Thú y
Trang 13- Diện tích đất phi nông nghiệp 3.274,14 ha, chiếm 3,90% tổng diệntích đất tự nhiên.
- Diện tích đất chưa sử dụng: 3.115,69 ha, chiếm 3,7% tổng diện tíchđất tự nhiên
Đặc điểm địa hình huyện Võ Nhai là núi cao, chịu ảnh hưởng của 2vòng cung là vòng cung Ngân Sơn chạy từ Bắc Kạn theo hướng Đông Bắc -Tây Nam và vòng cung Bắc Sơn chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, vìvậy huyện có địa hình khá phức tạp, đồi núi là chủ yếu, đất bằng thuận lợi chosản xuất nông nghiệp ít Vùng núi dốc và núi đá vôi chiếm 92 %, những vùngđất bằng phẳng thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ lệ nhỏ tập trung
Trang 14chủ yếu theo các khe suối, dọc các triền sông và thung lũng của vùng núi đávôi Toàn huyện độ cao trung bình so với mặt biển từ 100 - 800 m, đất nôngnghiệp phân bố ở độ cao 100 - 450 m Căn cứ vào địa hình, địa mạo và đất đaihuyện chia làm 3 tiểu vùng như sau:
- Tiểu vùng I : Bao gồm các xã, thị trấn dọc quốc lộ 1B gồm: Thị trấnĐình Cả, các xã Phú Thượng; Lâu Thượng; La Hiên, với tổng diện tích vùngnày là 14.008,33 ha (chiếm 16,69% tổng diện tích đất tự nhiên của huyện) đây
là nơi tập trung dân số cao là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hoá - xã hội củahuyện Đặc điểm vùng này có hệ thống giao thông, thuỷ lợi, điện lưới thuậnlợi cho phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ và phát triển sảnxuất nông nghiệp hàng hóa
- Tiểu vùng II: Gồm 5 xã phía Nam: Tràng Xá; Liên Minh; PhươngGiao; Dân Tiến; Bình Long với tổng diện tích 26.153,57 ha (chiếm 31,16%tổng diện tích đất tự nhiên của huyện) Địa hình đồi núi hình bát úp, bị chiacắt bởi nhiều khe, suối, sông và xen kẽ núi đá vôi có các bãi soi bằng phẳngphù hợp phát triển cây công nghiệp ngắn và dài ngày, cây lương thực và kếthợp các cây ăn quả, cây lâm nghiệp và phát triển chăn nuôi theo hướng giatrại, trang trại
- Tiểu vùng III: Bao gồm 6 xã phía Bắc của huyện là xã Nghinh Tường;Sảng Mộc; Thượng Nung; Vũ Chấn; Thần Sa và Cúc Đường với tổng diệntích 43.780,7 (chiếm 52,15% tổng diện tích đất tự nhiên của huyện) Đặcđiểm của vùng này là đất rộng, nhiều đồi núi, khe suối rất thuận lợi cho việctriển lâm nghiệp, du lịch sinh thái
2.1.1.3 Thời tiết khí hậu
Khí hậu Võ Nhai mang đặc điểm chung của khí hậu miền núi Bắc Bộchia làm hai mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô Mùa mưa kéo dài từ tháng 4đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau Lượng mưa bìnhquân năm 1.941,5 mm, thấp hơn so với các vùng khác trong tỉnh Thái Nguyên
Trang 15(2.050 - 2.500) và phân bố không đều, lượng mưa tập trung chủ yếu vào cáctháng mùa mưa với 1.765mm, chiếm 91% lượng mưa cả năm Các tháng mùakhô có lượng mưa không đáng kể, lượng bốc hơi nước rất lớn, gây nên tìnhtrạng khô hạn nghiêm trọng cho cây trồng, nhất là đối với cây trồng hàngnăm Độ ẩm bình quân hàng năm trên địa bàn huyện Võ Nhai dao động từ 80
- 87 %, các tháng mùa khô, nhất là các tháng cuối năm (tháng 11, 12) độ ẩmthấp gây khó khăn cho việc phát triển cây vụ Đông
2.1.1.4 Giao thông vận tải
Giao thông nói chung và đường xá nói riêng là cơ sở hạ tầng quantrọng đối với nền kinh tế quốc dân Giao thông vận tải phát triển sẽ thúc đẩykinh tế xã hội phát triển Trải qua nhiều giai đoạn lịch sử, đến nay huyện VõNhai đã hình thành một mạng lưới giao thông đường bộ với các loại đườngnhư sau:
- Quốc lộ 1B có chiều dài 28 km, rộng 7 km
- Đường tỉnh lộ 23,5 km
- Đường huyện dài 98,9 km
- Hơn 80 tuyến đường liên xã với tổng chiều dài 486 km
- Đường xóm dài khoảng 83 km ; xây dựng mới được 53 đường ngầm,đường tràn, 12 cầu gỗ, 433 cầu cống các loại, 9 cầu bê tông cót thép
2.1.3 Điều kiện kinh tế - xã hội
Võ Nhai có 15 đơn vị hành chính gồm thị trấn Đình Cả và 14 xã: SángMộc, Nghinh Tường, Thần Sa, Thượng Nung, Vũ Chấn, Cúc Đường, LaHiên, Lâu Thượng, Phú Thượng, Tràng Xá, Liên Minh, Phương Giao, LiênMinh và Dân Tiến
Võ Nhai là địa bàn sinh sống của 8 dân tộc như: Kinh (34,17%); Tày(29,88%); Nùng (14,52%); Dao (12,63%); Các dân tộc H’Mông, Cao Lan,Hoa chiếm 8,7%
Trang 16Người Cao Lan (Sán Chay, Sán Chí) sống chủ yếu bằng nghề làmruộng nước, làm nương, trồng rừng.
Người Cao Lan sống trong những ngôi nhà sàn 4 mái có 3 hoặc 5 gian,trong nhà có sàn phơi Y phục của người Cao Lan không có nhiều hoạ tiết,phụ nữ thường mặc váy chàm dài ngang bắp chân, mặc áo chàm dài ngangváy Nam giới búi tóc đội khăn xếp màu chàm có thêu hoa văn, mặc áo chàmdài hoặc ngắn, quần thụng màu nâu hoặc trắng Trong những dịp lễ, tết, ngườiCao Lan rất thích các điệu múa Lân, múa Tắc Xình…
2.2 Tình hình nghiên cứu bệnh tụ huyết trùng trong và ngoài nước
2.2.1 Trên thế giới
Bệnh tụ huyết trùng được Bollinger phát hiện lần đầu tiên trên bò năm
1878 ở Munich (Đức) Những năm tiếp theo bệnh được phát hiện ở nhiềunước trên thế giới, trên nhiều loài gia súc, gia cầm Năm 1885, Kitt đã phânlập được vi khuẩn gây bệnh Khi nghiên cứu vi khuẩn tụ huyết trùng gây bệnh
ở các loài gia súc, gia cầm, Hueppe phát hiện thấy sự giống nhau về tính chấtgây bệnh, tương đồng kháng nguyên, nhưng khác nhau về tính gây bệnh chocác loài vật và gọi chung là vi khuẩn gây nhiễm trùng huyết, xuất huyết, đặt
tên là Bacillus septicaemia Để ghi nhớ công lao của Louis Pasteur, người có
nhiều đóng góp nghiên cứu phát hiện ra vi khuẩn gây bệnh tụ huyết trùng, năm
1887, Trevisan đã đề nghị đặt tên cho vi khuẩn gây bệnh này là Do
Pasteurella gây bệnh cho nhiều loài gia súc nên người ta đặt tên vi khuẩn gây
bệnh tụ huyết trùng cho động vật theo tên vật chủ mà chúng thích nghi và gâybệnh:
Pasteurella suiseptica gây bệnh ở lợn
Pasteurella boviseptica gây bệnh ở bò
Pasteurella oviseptica gây bệnh ở dê,
cừu Pasteurella aviseptica gây bệnh ở
gà
Sau một vài lần thay đổi, đến năm 1939, Rosenbush và Merchant đã đề
nghị đặt tên cho vi khuẩn này là Pasteurella multocida, để chỉ khả năng
gây
Trang 17bệnh cho nhiều loài vật của chúng, tên này đã được công nhận chính thức trên thế giới và sử dụng cho đến ngày nay.
Từ năm 1887 đến nay, bệnh đã được phát hiện ở nhiều địa phương trênthế giới, bệnh gây thiệt hại nghiêm trọng về kinh tế cho nhiều nước, nhất làcác nước nhiệt đới nóng ẩm thuộc Châu Á Bệnh xảy ra tại các nước ĐôngDương, Ấn Độ, Indonesia, Malaysia Ở Nhật Bản bệnh được phát hiện vàonăm 1923, song không gây thành dịch và không thể hiện dịch tễ Bệnh cũngđược phát hiện ở bò rừng Vườn thú Quốc gia Mỹ vào các năm 1912, 1922,
1967 và chỉ thấy một báo cáo cho biết bệnh có ở bò sữa Năm 1984, tổ chứcdịch tễ thế giới OIE chính thức công bố bệnh tụ huyết trùng trâu, bò trên thếgiới Bệnh cũng đã xảy ra ở Châu Phi và gây thiệt hại nghiêm trọng cho đàngia súc
Đến nay, sau hơn 100 năm kể từ khi phát hiện bệnh lần đầu,
Pasteurella multocida vẫn là nguyên nhân gây bệnh tụ huyết trùng cho nhiều
loài gia súc, gia cầm Tuy có tính thích nghi gây bệnh trên những loài vật khác
nhau, nhưng Pasteurella multocida đều có những đặc tính cơ bản giống nhau.
2.2.2 Ở Việt Nam
Theo Phan Đình Đỗ và Trịnh Văn Thịnh (1958) [7] bệnh tụ huyết trùng
ở Việt Nam được phát hiện đầu tiên vào cuối thế kỷ 19 Năm 1868 Cudamiecho biết về bệnh ở trâu thuộc tỉnh Bà Rịa và Long Thành, sau đó Gemain(1869) phát hiện bệnh ở Gò Công, Yersin phát hiện bệnh ở các tỉnh miềnTrung vào các năm 1889-1895 Năm 1901, Shein đã xác định ổ dịch ở trâu, bòxảy ra tại Tây Ninh bằng phương pháp phân lập và tiêm truyền qua động vật
thí nghiệm là do vi khuẩn Pasteurella multocida Những năm sau này Nguyễn
Vĩnh Phước (1978) [30], Hoàng Đạo Phấn (1986) [28] đã nghiên cứu về đặc
tính của Pasteurella multocida và type huyết thanh của chúng Đoàn Thị Băng
Tâm (1987) [35] cho biết: bệnh tụ huyết trùng trâu, bò ở Việt Nam thườngxảy ra ở Nam Bộ, đặc biệt là miền Tây Nam Bộ vào những năm 1910, 1919,1920,
Trang 181933, 1935 dịch xảy ra mạnh gây thiệt hại và lây lan nhiều hơn ở những vùngđất trũng, thấp, khí hậu ẩm
ướt
Từ năm 1995 trở lại đây, đã có nhiều nghiên cứu về bệnh tụ huyết trùngnhư Dương Thế Long (1995) [23] nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ và vikhuẩn học của bệnh tụ huyết trùng trâu, bò tại tỉnh Sơn La để xác định biệnpháp phòng trị thích hợp; Nguyễn Ngã (1996) [27] nghiên cứu tính khángnguyên và độc lực của vi khuẩn tụ huyết trùng ở khu vực miền Trung; BùiQuý Huy (1998) [16] cho biết: Trước đây bệnh tụ huyết trùng xảy ra mạnh ởcác tỉnh phía Nam và xảy ra lẻ tẻ ở một số tỉnh phía Bắc Trong những năm
70 có 80% số ổ dịch tụ huyết trùng và 84% số thiệt hại gia súc do bệnh tụhuyết trùng thuộc về các tỉnh phía Nam Đến những năm 90 phân bố địa lýcủa bệnh nghiêng về các tỉnh phía Bắc, số địa phương có dịch tụ huyết trùngcũng tăng lên nhiều, hàng năm có 20 - 25 tỉnh thông báo có bệnh lưu hành.Bùi Văn Dũng (2000) [5] nghiên cứu tình hình bệnh tụ huyết trùng và vi
khuẩn Pasteurella multocida phân lập từ dịch ngoáy mũi trâu, bò khỏe ở tỉnh
Lai Châu Phan Thanh Phượng (2000) [34] nghiên cứu về bệnh tụ huyết trùng
ở gia súc, gia cầm và biện pháp phòng chống Cao Văn Hồng (2002) [14]nghiên cứu đặc điểm dịch tễ học bệnh tụ huyết trùng trâu, bò, lợn tại Đắk Lắk.Hoàng Đăng Huyến (2004) [17] nghiên cứu đặc điểm dịch tễ, các yếu tố ảnhhưởng đến bệnh tụ huyết trùng trâu, bò ở Bắc Giang Nguyễn Văn Minh(2005) [26] nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh tụ huyết trùng và xác
định tỷ lệ mang trùng Pasteurella multocida ở đàn trâu, bò tỉnh Hà Tây Trần
Xuân Hạnh và Tô Thị Phấn (2007) [13] nghiên cứu một số đặc tính của vi
khuẩn Pasteurella multocida phân lập từ trâu, bò, lợn Đỗ Ngọc Thúy và cs
(2007) [39] đã ứng dụng kỹ thuật PCR để xác định Type các chủng vi khuẩn
Pasteurella multocida phân lập từ vật nuôi Đỗ Quốc Tuấn (2008) [43] nghiên
cứu bệnh tụ huyết trùng lợn ở một số tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam
Nguyễn Thị Kim Dung (2010) [4] xác định vi khuẩn Pasteurella multocida
Trang 19gây bệnh tụ huyết trùng ở trâu, bò tại một số huyện có dịch trên địa bàn tỉnhCao Bằng và bước đầu thử nghiệm Auto-Vaccine Nguyễn Thị Hà (2010)
[10] nghiên cứu sự lưu hành của vi khuẩn Pasteurella multocida trong bệnh tụ
huyết trùng ở trâu, bò tại một số huyện có dịch trên địa bàn tỉnh Hà Giang vàbiện pháp phòng trị Trương Quang Hải (2012) [12] xác định một số đặc tính
sinh học của vi khuẩn Pasteurella multocida, Streptococcus suis gây viêm
phổi ở lợn tại Bắc Giang và biện pháp phòng trị Đặng Ngọc Lương (2012)
[24] Xác định một số đặc tính sinh học của vi khuẩn Pasteurella multocida
gây bệnh tụ huyết trùng trâu, bò tại Cao Bằng và lựa chọn vắc xin phòngbệnh Nguyễn Quang Tính và cs (2012) [41] xác định một số đặc tính sinh
học và thử kháng sinh đồ của các chủng vi khuẩn Pasteurella multocida và Streptococcus suis phân lập được từ bệnh phẩm lợn mắc bệnh viêm phổi tại
Bắc Giang Đỗ Quốc Tuấn (2012) [44] nghiên cứu đặc tính sinh vật hóa học
của vi khuẩn Pasteurella multocida gây bệnh tụ huyết trùng dê ở tỉnh Thái
Nguyên và biện pháp phòng trị Nguyễn Quang Tuyên (2012) [46] kết quả
phân lập và xác định một số đặc tính sinh học của các chủng Pasteurella multocida ở lợn dương tính với PRRSV tại Bắc Giang Lê Văn Dương (2013) [6] nghiên cứu một số đặc tính sinh học của vi khuẩn Actinobacillus pleuropneumoniae, Pasteurella multocida, Streptococcus suis gây viêm phổi
trong hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn tại Bắc Giang, biện phápphòng trị Phạm Thị Phương Lan (2013) [19] nghiên cứu xác định một số yếu
tố gây bệnh của vi khuẩn Pasteurella multocida trong bệnh tụ huyết trùng trâu,
bò tại Hà Giang, Cao Bằng và lựa chọn vắc xin phòng bệnh Phạm Thị PhươngLan (2014) [20] diễn biến của bệnh THT ở trâu, bò theo mùa trong năm vàảnh hưởng của yếu tố khí hậu đến tỷ lệ mắc bệnh tại tỉnh Cao Bằng Cù HữuPhú (2014) [29] lựa chọn chủng vi khuẩn để chế tạo thử nghiệm vắc xin
phòng bệnh do vi khuẩn Actinobacillus pleuropneumoniae, Pasteurella multocida và Streptococcus suis gây ra ở lợn.
Trang 202.3 Đặc điểm dịch tễ học bệnh tụ huyết trùng
2.3.1 Nguồn bệnh và phương thức lây lan
Nguồn lây bệnh tụ huyết trùng chủ yếu là những trâu, bò, lợn và giacầm bị bệnh và mang trùng Ngoài ra, các nguồn bệnh khác có thể là dê, cừuhay ngựa bị bệnh
Trong cơ thể gia súc khỏe mạnh, ở một điều kiện nhất định, vi khuẩn
Pasteurella multocida thường tồn tại ở đường hô hấp trên của vật chủ, đây
không phải là quan hệ cộng sinh Khi sức đề kháng của cơ thể giảm, vi khuẩntăng về số lượng, độc lực và gây bệnh
Cho đến nay chưa rõ là vi khuẩn tồn tại bằng cách truyền lần lượt trongmột số dãy cá thể của một quần thể hay nó còn tồn tại lâu dài ở một số con
Có nhiều cách lây bệnh khác nhau: Nhiễm qua đường hô hấp, đường tiêu hóa,qua vết xước trên da, bệnh có thể lây từ con ốm sang con khỏe qua tiếp xúc.Bệnh lây lan do việc giết mổ gia súc ốm, chó, mèo và một số côn trùng hútmáu như ruồi, mòng… cũng có thể là vật môi giới truyền mầm bệnh đi xa(Nguyễn Vĩnh Phước, 1978) [30] cho rằng: có một tỷ lệ thấp trâu, bò mangkhuẩn ở hầu, họng, mũi và tuyến hạnh nhân Ở những con này có hiệu giákháng thể cao hơn với con vật không mang trùng và vi khuẩn thông qua dịchtiết niêm mạc mũi bài xuất ra ngoài gây nhiễm cho gia súc khác Kiểm tra 72con trâu thấy 5 con có kháng thể (trong số 5 con này có 3 con mang vi khuẩn
Pasteurella multocida chủng 6:B), còn 67 con không có kháng thể thì không
mang vi khuẩn Nguyễn Vĩnh Phước và cs (1986a) [31], thấy rằng con vậtmang trùng là nguồn bệnh tiềm tàng có liên quan đến tần số xuất hiện dịch tụhuyết trùng trong vùng
Gia súc mang trùng từ những vùng có dịch xâm nhập vào vùng chưa
có dịch cũng là nguyên nhân quan trọng làm cho bệnh phát ra Pasteurella multocida có sẵn trong cơ thể, khi gặp điều kiện thuận lợi sẽ gây chứng
viêm phổi Một số tác giả còn cho rằng nguồn tàng trữ mầm bệnh là động
Trang 21vật hoang dã (chồn, cáo, thỏ rừng, loài gặm nhấm và các loài côn trùng như
bọ chó, ruồi trâu v v )
Tại các ổ dịch cũ, phần lớn những gia súc sống sót sau dịch thường trởthành những con vật mang trùng và thường xuyên bài thải mầm bệnh ra môitrường Bệnh chỉ phát ra ở những gia súc mới sinh ra sau dịch hay gia súc mớinhập chưa có miễn dịch
Sự xuất hiện của bệnh có liên quan đến các yếu tố stress do môi trường,quản lý chăm sóc (nóng, lạnh, các kích động, chăn nuôi vệ sinh kém, thức ănkhông tốt) kèm theo những vi khuẩn gây bệnh như nấm độc, vi khuẩn độchoặc độc tố làm giảm sức đề kháng của cơ thể là nguyên nhân làm tăng tỷ lệnhiễm trùng và phát sinh bệnh Gia súc bị nuôi nhốt quá chật trong nhữngchuồng kém thông gió, ẩm ướt, gia súc phải làm việc quá sức, trong nhữngđiều kiện không thuận lợi ảnh hưởng đến sức khỏe, bệnh cũng dễ phát ra
Vận chuyển đi xa trong những phương tiện thiếu vệ sinh, thiếu khôngkhí, nhốt quá chật, thiếu nước uống, vận chuyển với tốc độ nhanh, đi dưới trờinắng nóng, không cho gia súc nghỉ, đó là những nguyên nhân làm cho bệnh tụhuyết trùng dễ dàng xảy ra và làm chết gia súc, gia cầm
Theo Phan Thanh Phượng (1994) [33], trong giai đoạn đầu của bệnh,khi con vật còn đi lại được, vi khuẩn từ nước dãi, phân, nước tiểu được bài raxung quanh Ổ dịch rộng hay hẹp tùy theo điều kiện tồn tại của vi khuẩn vàsức miễn dịch của đàn
2.3.2 Loài mắc bệnh
Trong tự nhiên hầu hết các loài gia súc, gia cầm, loài có vú và loài chimđều mẫn cảm với bệnh Theo Lignieres (1900) [47] ít nhất có 6 dạng bệnh tụhuyết trùng khác nhau: Ở trâu, bò, lợn, cừu, gà, ngựa và chó, cả 6 dạng bệnhnày đều thấy ở thỏ
Bệnh thấy ở trâu, bò, lợn, thỏ, chó, mèo, hươu, ngựa, chồn, khỉ, dê
và cừu loài vật cảm nhiễm mạnh nhất đối với bệnh tụ huyết trùng là trâu,
Trang 22bò trong đó trâu mẫn cảm hơn bò Bệnh có thể lây sang lợn, ngựa, chóvv Bệnh còn thấy ở bò rừng, nai, sơn dương, lợn rừng, thỏ rừng, voi, lạc
đà và báo tuyết ở Hymalaya Nhiều tác giả đã khẳng định: Nơi nào có bệnh
tụ huyết trùng trâu, bò thì ở đó người ta cũng phát hiện bệnh này ở độngvật hoang dã
Ở Việt Nam, trâu dễ bị nhiễm và mắc bệnh nặng hơn bò Trâu, bòrừng cũng mắc bệnh (Đoàn Thị Băng Tâm, 1987) [35] Trâu thường chết khigặp thể quá cấp hoặc cấp tính
Theo tác giả Nguyễn Như Thanh và cs, (2001) [37], vi khuẩn
Pasteurella multocida có thể đóng vai trò tiên phát hoặc kế phát đối với nhiều bệnh ở nhiều loài động vật và người Bệnh do Pasteurella multocida đóng vai trò gây bệnh tiên phát được gọi là Pasteurellosis như bệnh tụ huyết
trùng trâu, bò, bệnh tụ huyết trùng gia cầm, bệnh tụ huyết trùng lợn vv.,
trong những trường hợp này bệnh phát sinh do chỉ nhiễm Pasteurella multocida Trong một số trường hợp như viêm vú, viêm teo mũi ở lợn, viêm phổi bò có vai trò thứ phát của Pasteurella multocida.
2.3.3 Tuổi mắc bệnh
Bệnh xảy ra ở hầu hết các lứa tuổi Những con đang bú mẹ ít mắc hơnnhững con trưởng thành Gia súc non dễ mắc hơn gia súc già Trâu, bò từ 1-3tuổi dễ mắc hơn trâu, bò già và khi mắc bệnh thường có tỷ lệ chết cao hơn.Mức độ cảm nhiễm của động vật non mạnh hơn động vật già, ở trâu và bò tỷ
lệ mắc bệnh ở lứa tuổi dưới 6 tháng là 3,5%, trong khi đó trâu, bò ở lứa tuổi
từ 6 tháng đến 2 năm là 30 32% Trâu, bò trên 2 năm tuổi chỉ mắc bệnh 3 5% ở bò và 8 - 9% ở trâu Dương Thế Long (1995) [23] nghiên cứu bệnh tụhuyết trùng trâu, bò ở Sơn La cho biết tuổi cảm nhiễm với bệnh nhất là dưới
-36 tháng tuổi Đỗ Văn Được (1998) [8] cho biết bệnh tụ huyết trùng trâu, bò ởLạng Sơn xảy ra ở mọi lứa tuổi, gây thiệt hại không nhỏ về mặt kinh tế.Thống kê trên 1.000 trường hợp cho thấy 75% trâu, bò mắc bệnh lứa tuổi 2-6
Trang 23năm, các lứa tuổi khác chỉ chiếm 25% Trâu, bò càng béo, khỏe, trẻ càng dễmắc bệnh và tỷ lệ chết cao Bê, nghé dưới 6 tháng tuổi ít mắc bệnh (Bùi QuýHuy, 1998) [16] Trong vùng có dịch, phần lớn gia súc trưởng thành có lượngkháng thể trong cơ thể cao hơn và kháng thể tự nhiên này sẽ được trâu, bòdưới 6 tháng tuổi hấp thu qua sữa mẹ Kháng thể có trong sữa đầu có thể tồntại liên tục cho đến ngày thứ 28 và giảm dần cho đến ngày thứ 58 Cao VănHồng (2002) [14] tại Đắk Lắk cũng cho thấy lứa tuổi cảm nhiễm với bệnhnhất là dưới 36 tháng tuổi Tại Bắc Giang trâu, bò nhỏ hơn 2 năm tuổi mẫncảm với bệnh nhất (Hoàng Đăng Huyến, 2004) [17].
2.3.4 Mùa vụ phát bệnh
Bệnh tụ huyết trùng trâu, bò phụ thuộc rất lớn vào thời tiết, khí hậu.Nghiên cứu về ảnh hưởng của mùa vụ tới bệnh tụ huyết trùng đã nhận xétbệnh thường liên quan tới điều kiện khí hậu ẩm ướt
Mùa phát bệnh tụ huyết trùng ở các nước Châu Á tập trung vào cáctháng và mùa khác nhau trong năm Carter và De Alwis (1989) [58] cho biếtbệnh tụ huyết trùng xảy ra quanh năm song tập trung vào các tháng mưa, ẩm
Ở Lào, bệnh phát ra từ tháng 5 đến tháng 8; Từ những kết quả trên cho thấytại từng địa phương, quốc gia khi nghiên cứu về dịch tễ học bệnh tụ huyếttrùng trâu, bò phải quan tâm đến điều kiện thời tiết, khí hậu và địa lý của từngvùng vì những yếu tố này ảnh hưởng tới sự tồn tại, phát triển của mầm bệnhtrong môi trường sinh sống của động vật cảm nhiễm
Ở nước ta bệnh xuất hiện ở khắp nơi, nhưng bắt đầu vào mùa mưa, khíhậu nóng ẩm thì bệnh lây lan thành dịch (Nguyễn Vĩnh Phước, 1978) [30].Đặc biệt sau những trận mưa đầu mùa mang đến những thay đổi về sức khỏe
do gia súc bị lạnh, ở những vùng ngập lụt, sau khi nước rút đi, cỏ bị dính bùn
và thối nên bệnh thường phát sinh vào các tháng có mưa nhiều (Đoàn ThịBăng Tâm, 1987) [35] Dương Thế Long (1995) [23], Nguyễn Xuân Bình(1996) [2], Nguyễn Thiên Thu (1996) [38], Võ Văn Hùng (1997) [15] đều cho
Trang 24rằng vào thời gian mưa, bệnh xảy ra nhiều hơn Bùi Quý Huy (1998) [16] chobiết ở miền Bắc bệnh xảy ra quanh năm nhưng tập trung vào các tháng mưanhiều từ tháng 7 đến tháng 9, ở miền Nam bệnh xảy ra mạnh sau khi mưa vànắng từ tháng 4 đến tháng 10 Đỗ Văn Được (1998) [8] cho biết, ở Lạng Sơnbệnh xảy ra mạnh từ tháng 4 đến tháng 8, 9; bệnh xảy ra nhiều đối với gia súcchưa tiêm phòng vắc xin Bùi Văn Dũng (2000) [5] ở Lai Châu bệnh tụ huyếttrùng xảy ra quanh năm nhưng tập trung vào các tháng 3, 4, 7, 8 hàng năm,vào cuối mùa khô, đầu mùa mưa Cao Văn Hồng (2002) [14] cho biết, mùadịch tụ huyết trùng ở Đắk Lắk từ tháng 5 đến tháng 9, đây là những thángmưa nhiều Hoàng Đăng Huyến (2004) [17] bệnh tụ huyết trùng xảy ra ở BắcGiang từ tháng 4 đến tháng 9 hàng năm, thời gian này cũng đang là mùa mưa.Theo Nguyễn Văn Minh (2005) [26] bệnh tụ huyết trùng xảy ra rải rác quanhnăm nhưng tập trung từ tháng 3 đến tháng 8, vào các tháng đầu mùa mưa của
vụ hè thu, cao nhất là tháng 5, 6 vì đây là các tháng nắng nóng, nhiệt độ cao,
ẩm độ cao, mưa nhiều
2.3.5 Vùng phát bệnh
Các nghiên cứu về dịch tễ cho thấy bệnh tụ huyết trùng thường xảy ra ởnhững vùng đất trũng, khí hậu nóng và ẩm ướt Theo Phan Đình Đỗ và TrịnhVăn Thịnh (1958) [7], bệnh thường xảy ra ở những vùng ẩm thấp, khí hậunóng ẩm, mưa nhiều, đặc biệt là vào đầu mùa mưa Điều kiện tự nhiên, khíhậu và phương thức chăn nuôi cũng ảnh hưởng đến quá trình phát sinh và lâylan bệnh Đặc biệt ở những vùng đất trũng, ẩm thấp, lầy lội, bị ngập lụt, cónhiều ruộng nước, nhiều kênh rạch, bệnh thường xảy ra và lây lan mạnh làmchết nhiều gia súc (Đoàn Thị Băng Tâm, 1987) [35] Xác định bệnh thườngxảy ra ở những vùng sâu, hẻo lánh nên việc phòng chống gặp nhiều khó khăn.Nguyễn Ngã (1996) [27] cho biết, bệnh phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tựnhiên, kinh tế, xã hội Theo Võ Văn Hùng (1997) [15] bệnh xảy ra ở vùng địahình phức tạp như núi cao, đầm lầy, trình độ dân trí thấp, tập quán chăn nuôi
Trang 25lạc hậu.v.v Năm 1990, riêng ba tỉnh Sơn La, Hoàng Liên Sơn, Bắc Thái, số
ổ dịch tụ huyết trùng gia súc chiếm 60% và có tới 70% số gia súc chết so vớitoàn miền Bắc (Bùi Quý Huy, 1998) [16] Đỗ Văn Được (2003) [9] cho biết,
ở Lạng Sơn vùng đất có độ dốc lớn, nhiệt độ thấp, ẩm độ cao, tập quán chănnuôi còn lạc hậu, chăn thả tự do thì tỷ lệ nhiễm bệnh và chết cao Ở BắcGiang vùng đồi núi thấp, tỷ lệ mắc bệnh và chết do tụ huyết trùng cao (HoàngĐăng Huyến, 2004) [17].Theo Nguyễn Văn Minh (2005) [26], ở Hà Tây tỷ lệtrâu, bò ốm, chết vì bệnh tụ huyết trùng ở vùng đồi, bán sơn địa cao hơn vùngchiêm trũng và vùng đồng bằng Nguyễn Đình Trọng (2002) [42], ở Bắc Cạnbệnh tụ huyết trùng xảy ra chủ yếu ở vùng sâu, vùng xa, trình độ dân trí thấp
có tập quán thả rông nên trâu, bò dễ tiếp xúc với mầm bệnh
Ở các tỉnh miền núi phía Bắc chăn nuôi trâu, bò chủ yếu theo phươngthức quảng canh, thả rông, điều kiện chăm sóc kém, có nơi không làm chuồngnuôi nhốt, để gia súc nơi lầy lội, ngập nước, không đảm bảo vệ sinh, bệnh dễxảy ra và có tỷ lệ chết cao Ngoài ra, trình độ dân trí thấp, nhận thức củangười dân về công tác phòng chống bệnh chưa cao, việc áp dụng tiến bộ khoahọc kỹ thuật vào việc phòng chống dịch bệnh còn nhiều khó khăn v v… Nêndịch bệnh thường xuyên xảy ra
2.3.6 Hiện tượng mang vi khuẩn Pasteurella multocida ở đường hô hấp trên gia súc khỏe
Hiện tượng mang vi khuẩn Pasteurella multocida ở động vật đã
được nhiều nhà khoa học nghiên cứu Mustafa và cs (1978) [48] đã tiến
hành lấy dịch ngoáy mũi trâu, bò để phân lập Pasteurella multocida và
cho biết: thường ở nơi không có dịch tụ huyết trùng trâu, bò thì tỷ lệ trâu,
bò khỏe mang trùng là 3%, còn ở nơi có dịch tụ huyết trùng thì tỷ lệ mangtrùng là 44,4%
Nghiên cứu bệnh tụ huyết trùng tại Ấn Độ phát hiện tỷ lệ mang trùng ởtrâu, bò khỏe vùng không có dịch là 0%, ở vùng ít xảy ra dịch là 1,9%, còn ở
Trang 26vùng có dịch là 5 - 6% Ngay cả các vùng có dịch thì tỷ lệ mang trùng ở đàntrâu, bò khỏe mạnh cũng giảm dần theo thời gian sau khi dịch kết thúc.
Có một tỷ lệ thấp trâu, bò mang khuẩn ở hầu họng, mũi và tuyến hạchamiđan, ở những con vật này có hiệu giá kháng thể cao hơn so với con vậtkhông mang vi khuẩn tụ huyết trùng
Vi khuẩn Pasteurella multocida có thể tìm thấy ở các hạch lympho của
đường hô hấp trên trâu, bò khỏe đóng vai trò mang trùng Những trâu, bòmang trùng tiềm tàng không xuất hiện triệu chứng lâm sàng vì vậy được coi làkhông mắc bệnh nhưng chúng liên tục thải vi khuẩn qua đường mũi Ở cácgiai đoạn tiềm ẩn này chỉ có thể xác định được vi khuẩn bằng nuôi cấy cáchạch lympho lấy từ lò mổ hoặc dịch tiết ở mũi, hầu
Nguyễn Vĩnh Phước (1986a) [31] cho biết, tỷ lệ mang trùng ở đường
hô hấp trên của trâu, bò khỏe các tỉnh phía Nam là 5,61% Ở miền Trung, TâyNguyên là 1- 9,4%, tương tự như ở trâu, bò thì có 4,1% tỷ lệ lợn khỏe mang
vi khuẩn Pasteurella multocida.
Tác giả Phan Thanh Phượng (1994) [33] cho biết, khi gia súc mang
vi khuẩn Pasteurella multocida hoặc nó sẽ gây bệnh ngay cho vật chủ khi
vật chủ chịu tác động của các yếu tố stress làm cho sức đề kháng của cơ thểgiảm hoặc nó sẽ tồn tại ở đường hô hấp của vật chủ Cao Văn Hồng (2002)
[14] khi điều tra ở Đắk Lắk cho thấy, tỷ lệ trâu, bò khỏe mang Pasteurella multocida ở đường hô hấp là 14,79%, 11,61% và sau 6 tháng có dịch thì tỷ
lệ này lên tới 21,43%
Trang 272.4 Đặc tính sinh học của mầm bệnh
Giống Pasteurella có nhiều loài, căn cứ vào tính chất gây bệnh cho các
loài động vật, người ta chia loài gây bại huyết, xuất huyết cho gia súc, gia
cầm là Pasteurella multocida và với từng giống gia súc, gia cầm khác nhau
bệnh tụ huyết trùng lại do các serotype khác nhau gây ra
2.4.1 Phân loại vi khuẩn
Theo phân loại của Bergey (1974) [49], vi khu ẩn Pasteurella multocida thuộc:
- Bộ (order) Eubacteriales;
- Họ (family) Parvobacteriaceae;
- Tộc (tribe) Pasteurellceae;
- Giống (genus) Pasteurella;
- Loài (species) Pasteurella multocida
Bảng 2.3 Tóm tắt danh pháp của Pasteurella multocida
Tác giả Năm Tên
Bollinger 1879 -
Pasteur 1880 -
Burril 1883 Micrococcus gallicidus
Zopf 1885 Micrococcus Cholerae-gallinarum
Kitt 1885 Bacterium bipolare multocidium
Oreste and Armani 1887 Bacillus septicaemia
Trevisan 1887 Pasteurella Cholerae-gallinarum
Lehmann and Neumann 1889 Bacterium multocidium
Stemberg 1893 Bacterium septicaemia haemorrhagicae
Lignieres 1900 According to host species:
Pasteurella aviseptica Pasteurella boviseptica Pasteurella suiseptica
Etc
Topley và Wilson 1929 Pasteurella septica
Rosenbush và Merchant 1939 Pasteurella multocida
Trang 282.4.2 Hình thái và tính chất bắt màu
Vi khuẩn Pasteurella multocida có dạng cầu-trực khuẩn nhỏ, hình trứng
hoặc hình bầu dục, kích thước 0,25 - 0,4 × 0,4 - 1,5 µm Trong canh khuẩngià: Vi khuẩn có dạng trực khuẩn với chiều dài rất khác nhau và có sự thay đổi
ở các ký chủ khác nhau: 0,5 - 1 x 1 - 2 µm (lợn), 0,2 - 0,4 x 0,6 - 2,5 µm (giacầm)
Có mối liên hệ về tính đa dạng của vi khuẩn khi phát triển trong điềukiện thiếu O2 Vi khuẩn thường đồng nhất trong máu động vật Trong môitrường nhân tạo, vi khuẩn thường đa hình dạng, hình cầu, hình trứng Khinuôi cấy nhiều lần trong môi trường nhân tạo, chiều dài của vi khuẩn tăng lên
Vi khuẩn có thể đứng riêng lẻ, thành đôi hoặc thành chuỗi, có giáp mô,không sinh nha bào, không có lông, không di động (Nguyễn Như Thanh và
cs, 2001) [37]
Pasteurella multocida là vi khuẩn Gram âm (-), dễ dàng bắt màu với
thuốc nhuộm Fuchsin hoặc xanh Methylen Khi nhuộm tiêu bản bệnh phẩm,
Pasteurella multocida bắt màu xẫm ở hai đầu, ở giữa không bắt màu hoặc bắt
màu nhạt hơn nên người ta gọi là vi khuẩn lưỡng cực Tính chất bắt màulưỡng cực có thể thấy khi nhuộm bằng xanh Methylen, chỉ thấy ở những tiêubản làm từ máu động vật hay vi khuẩn phân lập từ những bệnh phẩm con vậtmới chết Vi khuẩn nuôi cấy trong môi trường nhân tạo ít thấy tính chất này,nguyên nhân là do trong quá trình phân bào nguyên sinh chất bắt màu lưỡngcực dồn về hai đầu (Nguyễn Như Thanh và cs, 2001) [37] Trương QuangHải (2012) [12], Nguyễn Quang Tuyên (2012) [46] khẳng định tất cả các
chủng Pasteurella multocida phân lập được đều bắt màu Gram âm, dạng cầu
trực khuẩn hoặc hình trứng
Cơ sở của giáp mô là axit hyaluronic trên đó gắn vào lớp polysaccarit
2.4.3 Đặc tính nuôi cấy
Pasteurella multocida là vi khuẩn hiếu khí và yếm khí tùy tiện, ưa kiềm
nhẹ, pH = 7,2 - 7,4, có thể nuôi cấy ở nhiệt độ từ 13oC đến 38oC, thích hợpnhất là 37oC
Trang 29Vi khuẩn Pasteurella multocida có thể nuôi cấy ở nhiều loại môi
trường: môi trường nuôi cấy lỏng, đặc hoặc bán cố thể Trên môi trường nuôicấy thông thường vi khuẩn phát triển kém, vi khuẩn phát triển tốt hơn trênmôi trường nuôi cấy có bổ sung 5 - 10% huyết thanh hoặc máu động vật Tùytheo mục đích nghiên cứu người ta cho thêm vào môi trường các loại đường,axit amin và hóa chất khác nhau
Để vi khuẩn Pasteurella multocida phát triển tốt trên môi trường nhân
tạo cần bổ sung một số chất như: cystein, glutamic, leucine, methionine, muối
vô cơ, nicotinamide, pantothenate, thiamine và đường Trong đó, leucin có tácdụng kích thích tăng trưởng
Nếu nuôi cấy tĩnh Pasteurella multocida sẽ phát triển theo 4 pha: Pha
phát triển chậm (pha thích nghi) kéo dài từ khi nuôi cấy đến giờ thứ 8; phaphát triển (pha logarit) bắt đầu từ giờ thứ 8 đến giờ 14; pha cân bằng bắt đầu
từ giờ thứ 14 đến giờ thứ 19; cuối cùng là pha suy tàn
Trên môi trường nước thịt: Sau khi cấy 24 giờ, ở nhiệt độ 37oC, vikhuẩn làm đục môi trường, đáy ống có cặn nhầy, lắc có hiện tượng vẩn nhưsương mù rồi lại mất, có khi sinh ra một màng mỏng trên mặt môi trường.Môi trường có mùi tanh của nước dãi khô Carter (1952) [52] cho biết, mùitanh đặc trưng rõ nhất ở pha phát triển, để lâu mùi tanh giảm dần
Trên môi trường thạch thường: sau 24 giờ nuôi cấy ở 37oC vi khuẩn
Pasteurella multocida phát triển thành khuẩn lạc nhỏ trong suốt như hạt
sương, mặt khuẩn lạc vồng Nuôi lâu khuẩn lạc có màu trắng ngà dính vàomôi trường
Trên môi trường thạch Pasteurella multocida tạo thành 3 dạng khuẩn lạc:
+ Khuẩn lạc dạng S (Smooth): Có rìa gọn, bóng láng, có dung quangmạnh và độc lực mạnh
+ Khuẩn lạc dạng M (Mucoid): Nhày, có kích thước lớn nhất, bề mặtkhuẩn lạc ướt, có dung quang yếu, độc lực trung bình
Trang 30+ Khuẩn lạc dạng R (Rough): có rìa xù xì, thường không có dungquang, độc lực yếu.
Vi khuẩn Pasteurella multocida tạo khuẩn lạc dung quang sắc cầu vồng
có độc lực mạnh thường gây bệnh ở thể cấp tính Khi cấy chuyển nhiều lầnqua môi trường dinh dưỡng hoặc tiêm truyền động vật thí nghiệm, từ dạng S
có thể chuyển sang dạng M hoặc dạng R và ngược lại
Trên môi trường thạch máu hay BHI có bổ sung máu: Vi khuẩn pháttriển mạnh, không gây dung huyết, kích thước khuẩn lạc lớn hơn trên môitrường thạch thường, có màu tro xám, hình giọt sương và có mùi tanh giốngmùi nước dãi khô rất đặc trưng cho vi khuẩn tụ huyết trùng
Trên môi trường thạch huyết thanh và huyết cầu tố Đây là môi trườngđặc biệt dùng để phân lập, giám định và xác định độc lực của vi khuẩn
Pasteurella Môi trường được pha chế bằng cách: Thạch Martin 100 ml nấu
chảy để nguội đến 45oC, rồi cho 1 ml huyết cầu tố 1/10 của dê hoặc cừu, 4 mlhuyết thanh của bò, ngựa hoặc dê Trên môi trường này vi khuẩn phát triểnthành những khuẩn lạc đặc biệt, khi quan sát khuẩn lạc bằng kính hiển vi cóhai thị kính với độ phóng đại thấp khoảng 20 lần và góc chiếu phản quang củaánh sáng đèn điện là
45o thấy có hiện tượng phát huỳnh quang (Fluoresent) Tùy theo độc lực của vi
khuẩn mà màu sắc huỳnh quang của khuẩn lạc khác nhau:
+ Nếu vi khuẩn có độc lực cao: Khuẩn lạc có màu xanh lơ, xanh lá mạchiếm 2/3 diện tích khuẩn lạc về phía đèn, còn 1/3 diện tích khuẩn lạc là màuvàng kim loại, khuẩn lạc này gọi là Fg (Greenish Fluorescent)
+ Nếu vi khuẩn có độc lực vừa: Khuẩn lạc của chúng quan sát thấy diệntích màu xanh lơ ít hơn diện tích màu vàng da cam, khuẩn lạc này gọi là Fo(Orange Fluorescent)
+ Nếu vi khuẩn có độc lực yếu: khuẩn lạc của chúng không có hiệntượng phát huỳnh quang, khuẩn lạc loại này gọi là Nf (Not Fluorescent) Khuẩnlạc nhỏ, tròn, trong
Trang 31Hiện tượng phát huỳnh quang xem rõ khi nuôi cấy sau 24 giờ, để lâusau 72 giờ thì hiện tượng phát huỳnh quang sẽ mất đi.
2.4.4 Đặc tính sinh hóa
Những năm đầu của thế kỷ XX, một số đặc tính sinh vật, hóa học của vikhuẩn tụ huyết trùng đã được Lignieres phát hiện Sau đó, nhiều công trình
nghiên cứu về đặc tính sinh hóa của vi khuẩn Pasteurella multocida được
công bố Nhìn chung, các tác giả đều thống nhất những đặc tính sinh hóa cơbản của vi khuẩn tụ huyết trùng như sau:
- Dương tính trong các phản ứng Indole, khử Nitrat, Catalase, Oxydase
- Âm tính trong các phản ứng Urease, Homelyse, VP, MR
- Phân giải lên men các loại đường Glucose, Galactose, Saccarose,Mannose và Levulose
- Không lên men đường Lactose, Maltose, Ducitol và Rafinose
Khi nghiên cứu 113 chủng tụ huyết trùng về các phản ứng phân giảiArabinose, Xylose và Ducitol Rosenbusch và Merchant (1939) [87] chia vikhuẩn thành 3 nhóm
- Nhóm 1: Gồm các vi khuẩn phân giải Arabinose và Ducitol, khôngphân giải Xylose Những chủng này phân lập từ gia cầm
- Nhóm 2: Gồm những chủng phân giải Xylose, không phân giảiArabinose và Ducitol Những chủng này phân lập từ động vật có vú
- Nhóm 3: Gồm những chủng lên men phân giải Arabinose, Ducitol vàXylose Khi nuôi cấy lâu trong phòng thí nghiệm, tác giả còn thấy vi khuẩnmất khả năng phân giải Arabinose và Xylose Tất cả các chủng được nghiêncứu ở trên đều sinh Indol, không di động, không dung huyết và không phânhủy urea
Các chủng Pasteurella multocida type A phân giải Arabinose, Ducitol
và không phân giải Xylose
Trang 32Các chủng type B và C phân giải Xylose, nhưng không phân giảiArabinose, Ducitol Chúng còn phân giải Glucose, Inositol, Dextrin và tinhbột Một số chủng phân giải yếu Sorbitol và Fructose tạo thành axit.
Heddleston và cs (1966) [69] căn cứ vào tính chất sinh hóa để phân biệt
các loài vi khuẩn thuộc giống Pasteurella và được trình bày tại bảng 2.4
Bảng 2.4 Phân biệt các loài Pasteurella
Loài
Phản ứng
Pasteurella multocida
P.
heamolyti ca
P.
anatipesti fer
P.
gallinaru m
Y pseudotub erculosis
2.4.5 Kháng nguyên của vi khuẩn
Kháng nguyên Pasteurella multocida rất phức tạp và cấu trúc từng loại
kháng nguyên cũng luôn thay đổi Những nghiên cứu về cấu trúc, số lượng và
sự phân bố kháng nguyên Pasteurella multocida rất quan trọng trong việc chế
tạo vắc xin
Lignieres (1900) [47] khi nghiên cứu đặc tính kháng nguyên của vi
khuẩn Pasteurella multocida đã khẳng định các chủng Pasteurella multocida
phân lập từ các loài vật mắc bệnh khác nhau có đặc tính huyết thanh khôngđồng nhất
Trang 33Cho đến nay, người ta đã xác định được kháng nguyên của Pasteurella multocida có 3 loại là: Kháng nguyên vỏ K, Kháng nguyên thân O, kháng
nguyên ngoại tế bào OMP (outer memmbrane protein)
Kháng nguyên vỏ (K): Chỉ có ở Pasteurella multocida tạo khuẩn lạc
dạng S, không gặp ở vi khuẩn tạo khuẩn lạc dạng M và R Kháng nguyên Kbao bọc xung quanh thân vi khuẩn, che cho kháng nguyên O khỏi bị cácphage tác động, đồng thời ngăn cản sự tiếp xúc giữa kháng nguyên O vàkháng thể O Do đó, muốn phát hiện kháng nguyên O bị che lấp, người ta phảiphá huỷ kháng nguyên K hoặc dùng phương pháp nuôi cấy không cho vikhuẩn hình thành giáp mô Kháng nguyên K thu được qua chiết xuất từ canhkhuẩn non, phát hiện được dễ dàng qua phản ứng ngưng kết hồng cầu giántiếp Thành phần và cấu trúc kháng nguyên K khá phức tạp
Bằng phương pháp bảo hộ chéo trên chuột bạch đã xác định
Pasteurella multocida có 4 type kháng nguyên K đánh theo số la mã là I, II,
III, IV Carter (1955) [53] sử dụng phản ứng kết tủa và dùng phương pháp
ngưng kết gián tiếp hồng cầu cũng đã xác định Pasteurella multocida có 4
type nhóm kháng nguyên K đánh theo chữ cái in hoa A, B, C, D trong đó type
B của Carter tương đương type I của Robert Carter (1961) [55] bằng phảnứng ngưng kết gián tiếp hồng cầu đã xác định type mới, đặt tên là type E Đếnnăm 1963 Carter đã đề nghị bỏ type C
Kháng nguyên protein của vỏ (giáp mô) có khả năng gây miễn dịchmạnh Kháng nguyên K, đặc biệt là thành phần protein của kháng nguyên Kđóng vai trò tích cực trong quá trình hình thành miễn dịch
Kháng nguyên thân (O): Vi khuẩn Pasteurella multocida có kháng
nguyên thân là phức hợp protein - lipid - polysaccaride chiết xuất được nhờacid trichoaxetic, dung dịch phenol Phát hiện được bằng phản ứng kết tủakhuếch tán trong thạch
Prince G H và Smith (1966) [49] dùng phương pháp điện di miễn dịchtrên máy lắc Mikle đã tách được 16 kháng nguyên O và kí hiệu từ 1 - 16 Sau
Trang 34khi nhuộm đỏ Thiazine, xử lý nhiệt và enzyme, tác giả xác định được 6 trong
16 kháng nguyên O là protein
Bằng phản ứng ngưng kết chéo với huyết thanh miễn dịch đã chia 44chủng vi khuẩn thành 3 nhóm khác nhau Namioka và Murata (1961) [79]dùng phản ứng ngưng kết nhanh trên phiến kính cũng đã phân kháng nguyêngiáp mô thành 4 type A, B, C, D và bằng phản ứng ngưng kết trong ốngnghiệm với kháng nguyên được xử lý (đặc biệt bằng axit chlohydric để xácđịnh kháng nguyên thân (somatic antigen) ghi nhận 11 type từ 1 - 11 Tácgiả cho rằng kháng nguyên O bền nên sử dụng lâu hơn
Hiện nay, nhiều thực nghiệm xác nhận rằng: Kháng nguyên O đóng vaitrò quan trọng trong quá trình hình thành miễn dịch bảo hộ gia súc chốngbệnh (Phan Thanh Phượng, 1994 [33])
Kháng nguyên ngoại tế bào (Outer membrane proteins - OPM)
Thành phần của kháng nguyên protein ngoài màng tế bào rất phức tạp
có tới hơn 40 loại protein đã được xác định Mối quan hệ giữa các bandprotein khi tiến hành điện di và các serotype đã được nghiên cứu song khôngtìm thấy bất kỳ một loại protein duy nhất nào đặc trưng cho tất cả các chủnggây tụ huyết trùng
Kháng nguyên ngoại tế bào gồm 3 protein chính là 27 kDa, 34 kDa và
36 kDa được tìm thấy ở hầu hết các chủng (không phụ thuộc vào type củachủng đó) Một trong những protein độc tính quan trọng của protein ngoại tếbào này là protein gắn huyết cầu tố (hemoglobin-binding protein), protein này
có một receptor đặc hiệu trên màng hemoglobin Đoạn gen mã hóahemoglobin binding protein (hgbA) đã được giải trình tự (Seleim, 2005 [50])
Ba loại protein ngoại tế bào đã được phát hiện ở các chủng gây viêmteo mũi được đặt tên là OMP type I, OMP type II, và OMP type III Sự khácbiệt này được phân loại dựa trên cấu trúc chuỗi nặng (H) và chuỗi nhẹ (W)của kháng nguyên này, khối lượng phân tử dao động trong khoảng giữa
Trang 3528 kDa và 40 kDa Protein H của Pasteurella multocida có các đặc điểm tương tự protein xuyên màng của vi khuẩn thuộc họ Enterobacteriaceae,
giống các peptidoglycane, kháng trypsine, kháng dung dịch SDS (sodiumdodicyl sulphate) Hơn nữa protein H phức hợp với lipopolysaccharide khigây đáp ứng miễn dịch Mặc dù không thể phát hiện ra mối quan hệ giữa độctính của các chủng với protein ngoại tế bào, song OMP type I có độc tính caovới lợn và gây ra viêm teo mũi truyền nhiễm Ngược lại OMP type II và III ít
độc tính hơn Seleim (2005) [89] cho biết, các chủng Pasteurella multocida
khá tương đồng và ít có sự khác nhau về cấu trúc các protein ngoại bào
Tóm lại, kháng nguyên của Pasteurella multocida rất phức tạp, còn
nhiều vấn đề chưa được sáng tỏ, đặc biệt là kháng nguyên thân O Xét về quan
hệ hoá học, các kháng nguyên protein và lipopolysaccarid của Pasteurella multocida có vai trò chính trong quá trình hình thành miễn dịch bảo hộ gia súc
chống bệnh và kháng nguyên là polysaccaride đóng vai trò hỗ trợ
Bảng 2.5 Hệ thống phân loại serotype của Pasteurella multocida
Ngưng kết gián tiếp hồngcầu
IHA IHANgưng kết trên phiến kínhIHA
Type A, B, C, D
Type E
Bò Type CType A, B, C, D
Type FPhân loại theo kháng nguyên
AGPTAGPT
Type 1-11Type 1-16Type 1-16Type 1-16IHA: Phản ứng ngưng kết gián tiếp hồng cầu
AGPT: Phản ứng kết tủa khuếch tán trên thạch
Trang 362.4.6 Độc lực của vi khuẩn Pasteurella multocida
Đầu thế kỷ XX, độc tố của canh trùng Pasteurella multocida được
Baldrey nhắc đến với ảnh hưởng của chất lọc canh trùng già trên thỏ và chorằng vi khuẩn có độc tính của lipopolysaccharide
Độc lực của Pasteurella multocida rất phức tạp và không ổn định, tuỳ thuộc vào chủng vi khuẩn và loài vật ký sinh Giáp mô của Pasteurella multocida là yếu tố độc lực quan trọng, ảnh hưởng đến khả năng xâm nhập
và phát triển trong ký chủ Đa phần những chủng Pasteurella multocida có giáp mô thì độc lực cao, những chủng Pasteurella multocida không có giáp
mô thì độc lực yếu hoặc không có độc lực Khi nuôi cấy Pasteurella multocida trong môi trường nhân tạo sau 24h thì giáp mô của vi khuẩn phát
triển đầy đủ, rồi mất dần đi Một số tác giả cho rằng ở nhiều chủng
Pasteurella multocida, độc lực có thể phụ thuộc vào cấu trúc hoá học của
giáp mô hơn là sự có mặt của chúng
Nghiên cứu về độc lực của vi khuẩn Pasteurella multocida các tác giả cho biết: ở những gia súc, gia cầm chết do Pasteurella multocida gây ra
người ta tìm thấy dấu hiệu hoạt động của độc tố Nội độc tố được sinh ra
bởi các loài Pasteurella multocida, kể cả chủng có độc lực và không có độc
lực Nội độc tố được gắn kết lỏng lẻo và có thể rửa trôi khỏi tế bào vi
khuẩn Pasteurella multocida bằng dung dịch nước muối có formalin và được làm lạnh Nội độc tố của Pasteurella multocida có thể chiết xuất được
bằng acid trichloroacetic theo qui trình của Boivin
Phùng Duy Hồng Hà (1990) [11] thử nghiệm độc lực của 3 chủng
Pasteurella multocida phân lập được tại các tỉnh phía Nam trên chuột, gà và
vịt, kết quả cho thấy các chủng có dung quang màu vàng da cam có độc lựcrất cao
Nghiên cứu của Ramdani và cs (1990) [52] cho thấy một trong những
chủng Pasteurella multocida phổ biến gây bệnh tụ huyết trùng trâu, bò là