Giá trị của di sản văn hóa nói chung, di tích vàdanh thắng nói riêng là vô cùng to lớn, song điều quan trọnghơn cả là việc bảo tồn và phát huy những giá trị của nó nhthế nào để phát triể
Trang 1mở đầu
1.Tính cấp thiết của đề tài
1.1 Đảng và Nhà nớc ta luôn coi trọng và quan tâm
đến việc giữ gìn, bảo tồn và phát huy di sản văn hóa củadân tộc Quán triệt t tởng chỉ đạo này, ngay từ khi mới thànhlập Nhà nớc Việt Nam dân chủ cộng hòa, ngày 23-11-1945,Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban hành Sắc lệnh bảo vệ cổtích Ngày nay, Chính phủ đã quyết định lấy ngày 23-11hàng năm là ngày Di sản Văn hóa Việt Nam
Nh vậy, di tích, cổ tích, hay gọi đầy đủ là di sản vănhóa, cho dù ở hoàn cảnh lịch sử nào, giai đoạn cách mạngnào, Đảng ta luôn luôn đặc biệt quan bảo vệ vì nó là hồncủa dân tộc, là nền tảng tinh thần, động lực nội sinh của sựphát triển bền vững, nhất là giai đoạn đất nớc ta đang trongquá trình đổi mới, hội nhập và phát triển hiện nay
1.2 Quảng Bình là một tỉnh ở khu vực Bắc miềnTrung, có diện tích khiêm tốn, song chính từ mảnh đất nàychứa đựng nhiều giá trị của di sản văn hóa nói chung, di tích
và danh thắng nói riêng hết sức phong phú và đa dạng Nơi
đây là một trong những đầu mối giao thoa và tiếp biến củacác nền văn hóa: Đông Sơn - Sa Huỳnh; Đại Việt - ChiêmThành; Đàng Trong và Đàng Ngoài Nơi đây còn có thể đợcxem là mảnh đất chứa đựng nhiều di tích lịch sử cách mạnggắn với hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đếquốc Mỹ xâm lợc, nơi gắn liền với các tuyến đờng Trờng Sơnhuyền thoại Đặc biệt, Quảng Bình còn có Phong Nha - KẻBàng đợc UNESCO công nhận là Di sản thiên nhiên thế giới
Trang 2Theo thống kê đến tháng 5 năm 2009, Quảng Bình cóhơn 300 di tích và danh thắng, trong đó có 101 di tích đã
đợc xếp hạng Tuy số lợng di tích và danh thắng không nhiềunhng lại đầy đủ các loại hình, phân bố khá tập trung, ngoàinhững giá trị về lịch sử, văn hóa và truyền thống, di tích vàdanh thắng ở Quảng Bình có tiềm năng lớn trong việc pháttriển kinh tế thông qua hoạt động du lịch
1.3 Giá trị của di sản văn hóa nói chung, di tích vàdanh thắng nói riêng là vô cùng to lớn, song điều quan trọnghơn cả là việc bảo tồn và phát huy những giá trị của nó nhthế nào để phát triển mang tính bền vững trong giai đoạnhiện nay mới chính là vấn đề cần đợc đặc biệt quan tâm
đúng mức của các ngành, các cấp, nhất là những ngời làmcông tác quản lý văn hoá hiện nay
Điều dễ nhận ra là di tích và danh thắng gắn bó mậtthiết với hoạt động du lịch, thậm chí nó còn đợc xem là tàinguyên của du lịch, chính vì lẽ đó nếu không nhận thức
đầy đủ mối quan hệ mang tính biện chứng, hữu cơ thìnguồn "tài nguyên" ấy cũng đến lúc cạn kiệt; ngợc lại, nếukhông biết sử dụng một cách khoa học vốn "tài nguyên" ấythì nó cũng trở thành lãng quên, khô cứng, uổng phí nhữnggì vốn có từ giá trị của nó Vấn đề đặt ra ở đây là làmthế nào để di sản văn hóa nói chung, di tích và danh thắngnói riêng phải trở thành bộ phận hợp thành nên nền tảng tinhthần của xã hội, góp phần vào tăng trởng kinh tế mang tínhbền vững thông qua các hoạt động du lịch từ những giá trịcủa di tích và danh thắng mang lại, đó chính là vấn đề cầnphải đợc giải quyết một cách khoa học, biện chứng
Trang 3Nhận thức tầm quan trọng cũng nh tính bức thiết củavấn đề nêu trên ở tỉnh Quảng Bình, tôi đã chọn đề tài
"Quản lý di tích, danh thắng gắn với phát triển du lịch ở Quảng Bình" làm luận văn tốt nghiệp bậc cao học
của mình, với hy vọng góp phần vào việc nâng cao chất lợng
và hiệu quả công tác quản lý di tích và danh thắng nhằmbảo tồn và phát huy tác dụng của nó một cách bền vữngtrong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc trênquê hơng Quảng Bình
2 Lịch sử nghiên cứu
Vấn đề bảo tồn di tích và danh thắng cũng nh khaithác tiềm năng của di tích và danh thắng là vấn đề nhiềuquốc gia, địa phơng đã và đang triển khai thực hiện; dovậy đây không phải là vấn đề mới, nhiều học giả, nhiềunhà nghiên cứu văn hóa đã đề cập đến vấn đề nay Tuynhiên, để nghiên cứu một cách có hệ thống giữa công tácbảo tồn và phát triển một cách bền vững trong điều kiệnchúng ta cha có đủ các điều kiện để bảo tồn một cáchnghiêm ngặt, khoa học và đồng bộ thì cha có tác giả, nhómtác giả nào nghiên cứu đề tài này ở Quảng Bình
Trong chơng trình phát triển du lịch giai đoạn 2006
-2010, ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Bình cũng chỉ banhành quyết định mang tính tổng thể bao gồm nhiều loạihình du lịch, tour du lịch, dịch vụ và phát triển kinh tế từ
du lịch là cơ bản Đề án bảo tồn, tôn tạo và phát huy tác dụngcủa di tích, danh thắng ở Quảng Bình giai đoạn 2005 -
2015 lại tập trung vào các giải pháp nhằm bảo tồn, tôn tạo,phát huy tác dụng của di tích, danh thắng thông qua giáo
Trang 4dục truyền thống là chủ yếu, cha đi sâu tìm giải pháp pháttriển du lịch thông qua di tích, danh thắng.
Một số công trình nghiên cứu văn hóa, địa chí vềQuảng Bình cũng chỉ ghi chép, su tầm, nghiên cứu từngmảng nội dung theo tiêu chí của công trình nghiên cứu, biênsoạn nh:
- Nguyễn Tú: Quảng Bình, nớc non và lịch sử, xuất bản
năm 1998
- Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Bình, Phong Nha
Kẻ Bàng - T liệu tổng quan, xuất bản năm 2002.
- Sở Văn hóa - Thông tin Quảng Bình, Quảng Bình di
Tuy nhiên, trong quá trình triển khai nghiên cứu đề tài,tác giả luận văn sẽ tiếp thu, kế thừa những kết quả nghiêncứu của các tác giả đi trớc để thực hiện mục tiêu, nhiệm vụcủa luận văn
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích
Trang 5Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận chung về mốiquan hệ giữa văn hóa với phát triển kinh tế du lịch, luận văn
đi sâu phân tích thực trạng quản lý di tích và danh thắnggắn với phát triển du lịch ở Quảng Bình hiện nay Từ đó,
đề xuất những giải pháp góp phần nâng cao chất lợng vàhiệu quả của hoạt động này trong thời gian tới, đáp ứng nhucầu đổi mới công tác quản lý văn hóa và du lịch hiện nay
- Quan điểm định hớng và giải pháp để nâng cao chấtlợng và hiệu quả của công tác quản lý di tích, danh thắng nhằmphát triển du lịch một cách bền vững
4 Đối tợng, phạm vi, thời gian nghiên cứu
4.1 Đối tợng nghiên cứu
Hệ thống di tích lịch sử, và danh thắng trên địa bàntỉnh Quảng Bình Trọng tâm là hệ thống di tích khảo cổ,
di tích đờng Hồ Chí Minh và danh thắng Phong Nha - KẻBàng
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu thực trạng quản lý di tích, danh thắng; cơchế quản lý, tổ chức bộ máy, quan điểm định hớng và giải
Trang 6pháp nhằm vừa bảo tồn, tôn tạo di tích, danh thắng vừa pháttriển kinh tế du lịch bền vững từ việc khai thác có hiệu quảnhững giá trị của di tích, danh thắng trên địa bàn tỉnhQuảng Bình.
4.3 Thời gian nghiên cứu
Tính từ năm thành lập Ban Quản lý Di tích - Danhthắng tỉnh Quảng Bình (tháng 4-1995) đến nay, trong đótrọng tâm là những số liệu để chứng minh đợc cập nhật từnăm 2002
- Góp phần làm rõ những vấn đề lý luận về mối quan
hệ giữa văn hóa và sự phát triển kinh tế du lịch
- Đánh giá công tác quản lý và phát huy giá trị của hệthống di tích và danh thắng trong giáo dục truyền thống,giữ gìn bản sắc cũng nh góp phần phát triển kinh tế từ hoạt
động du lịch thông qua hệ thống di tích và danh thắngtỉnh Quảng Bình
- Đa ra quan điểm định hớng và đề xuất một số giảipháp, cơ chế chính sách nhằm nâng cao chất lợng và hiệuquả của công tác quản lý di tích, danh thắng, đồng thời khai
Trang 7thác và phát triển du lịch mang tính bền vững nhằm gópphần phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Bình trong thờigian tới.
- Kết quả của luận văn có thể làm tài liệu tham khảocho công tác nghiên cứu, giảng dạy và quản lý văn hóa củagiảng viên, sinh viên đại học văn hóa và cán bộ quản lý vănhóa
Nếu có thể, đề nghị ủy ban nhân dân tỉnh QuảngBình nâng thành một đề án trong Chơng trình phát triểnkinh tế - xã hội giai đoạn 2010 - 2020
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu thamkhảo và phụ lục, Nội dung của luận văn gồm 3 chơng
Chơng 1: Một số vấn đề lý luận chung về quản lý di
tích, danh thắng gắn với phát triển du lịch
Chơng 2: Thực trạng công tác quản lý di tích, danh
thắng gắn với phát triển du lịch ở Quảng Bình thời gianqua
Chơng 3: Quan điểm định hớng và giải pháp để
nâng cao chất lợng và hiệu quả của công tác quản lý di tích,danh thắng nhằm phát triển du lịch bền vững ở QuảngBình
Trang 9Chơng 1
Một số vấn đề lý luận chung về quản lý di tích,
danh thắng gắn với phát triển du lịch
1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1 Di sản văn hóa
Di sản văn hóa là tài sản do các thế hệ đi trớc để lại,
có vai trò vô cùng quan trọng trong diễn trình văn hóa củamột dân tộc nói riêng, và hiểu theo nghĩa rộng là của cảnhân loại nói chung Phần mở đầu của Luật Di sản Văn hóa
của Việt Nam đã viết: "Di sản văn hóa Việt Nam là tài sản
quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của di sản văn hóa nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nớc và giữ nớc của nhân dân ta" [24, tr 5].
Để tìm hiểu khái niệm di sản văn hóa trớc hết cần phải
hiểu thế nào là văn hóa Đa số học giả hiện nay cho rằng, văn
hóa là tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần do con ngời sáng tạo ra trong quá trình lịch sử Thống nhất với quan
điểm ấy, có thể hiểu di sản văn hóa cũng chính là nhữngsản phẩm sáng tạo đó Tuy nhiên, không phải bất cứ sảnphẩm nào do con ngời sáng tạo ra trong quá trình phát triểncủa mình cũng đợc xem là di sản văn hóa Từ điển tiếngViệt định nghĩa một trong những khái niệm của di sản là
"Giá trị tinh thần và vật chất của văn hóa thế giới hay một
quốc gia một dân tộc để lại: di sản văn hóa" [52, tr 254]; tuy
nhiên phải những gì có giá trị mới đợc công nhận là di sản
Trang 10Luật số 214 ngày 1/7/1975 của Nhật Bản về bảo vệ disản văn hóa là một minh chứng Khái niệm di sản văn hóa ở
đây đợc hiểu là:
Những nhà cửa, các tác phẩm nghệ thuật, điêukhắc, những tác phẩm nghệ thuật thực dụng, nhữngcông trình có khắc chữ, các pho sách cổ điển,những tài liệu cổ và những sản phẩm văn hóa vậtthể khác, đều có một giá trị lịch sử và nghệ thuậtcao của đất nớc: bao gồm những khu vực đất đai vànhững vật liệu khác, gắn bó với nhau chặt chẽ và đ-
ợc đóng góp một giá trị tơng đơng, những mẫu vậtkhảo cổ và những hiện vật lịch sử khác có giá trịkhoa học đợc gọi là di sản văn hóa vật chất Nghệthuật và kỹ thuật sử dụng trong sân khấu, âm nhạc,nghệ thuật ứng dụng và những sản phẩm văn hóaphi vật chất khác, đều cho đất nớc một giá trị lịch
sử, nghệ thuật đợc gọi là di sản văn hóa phi vật chất
Những phong tục tập quán về ăn, mặc, ở, sinh
hoạt, những tín ngỡng, lòng tin tôn giáo, hội hè ,những cuộc trình diễn dân gian, cùng y phục, dụng
cụ, nhà ở và những đồ dùng khác, trong phạm vi này
đều cần thiết cho việc tìm hiểu những thay đổi
về đời sống của nhân dân Nhật, gọi là các di sảnvăn hóa dân gian
Những đồi mộ cổ vỏ sò, vỏ hến, những mộ
cổ, những phong cảnh cung điện, những pháo đài,lâu đài, những ngôi nhà lớn và những cảnh quankhác, đều có một giá trị lịch sử khoa học lớn Những
Trang 11vờn, cầu, cống, bãi biển, đồi núi và các cảnh quan
đẹp khác; những động vật, những cây cỏ vànhững nguồn địa chất và mỏ đều có một giá trịcao về khoa học đợc gọi là những công trình luniệm [49, tr 14]
Hay Công ớc về Bảo vệ Di sản văn hóa và thiên nhiênthế giới (Conservation Concerning the protection of the WorldCultural and Natural Heritage) của UNESCO năm 1972, nhữngloại hình đợc coi nh là "di sản văn hóa" và "di sản thiên nhiên"
đều có đặc điểm chung là "có giá trị nổi tiếng toàn cầu"
(" which are of outstanding universal value") [62].
Luật Di sản Văn hóa của Việt Nam tại Điều 1 đã nêu rõ di
sản văn hóa "bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn
hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, đợc lu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác ở nớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam" [23, tr 6].
Đây có thể xem là khái niệm về di sản văn hóa đợc sửdụng chung nhất ở nớc ta hiện nay, hoàn toàn tơng tự nh kháiniệm về di sản văn hóa đợc sử dụng trên thế giới Điều đócũng có nghĩa di sản văn hóa cũng là của cải, là tài sản quốcgia và mọi công dân phải có nghĩa vụ bảo vệ, giữ gìn
Nh vậy, di sản văn hóa tồn tại dới hai dạng: di sản văn hóa
vật thể và di sản văn hóa phi vật thể Theo Điều 4 chơng I Luật
Di sản Văn hóa Việt Nam:
Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần có giátrị lịch sử, văn hóa khoa học, đợc lu giữ bằng trí nhớ, chữviết, đợc lu truyền bằng truyền miệng, truyền nghề, trìnhdiễn và các hình thức lu giữ, lu truyền khác, bao gồm tiếng
Trang 12nói, chữ viết tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, ngữvăn truyền miệng, diễn xớng dân gian, lối sống, nếp sống, lễhội, bí quyết và nghề thủ công truyền thống, tri thức về y,dợc học cổ truyền, về văn hóa ẩm thực, về trang phụctruyền thống dân tộc và những tri thức dân gian khác.
Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trịlịch sử văn hóa, khoa học, bao gồm di tích lịch sử văn hóa,danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia
Tuy nhiên, sự phân định này thực ra cũng chỉ mangtính tơng đối, nhằm để nghiên cứu những đặc tính riêngcủa từng di sản, còn trong thực tế yếu tố vật thể và phi vậtthể gắn kết chặt chẽ với nhau, cùng tồn tại để làm nên giá trịcủa một di sản Khi đó, di sản văn hóa phi vật thể là linh hồn,
là cốt lõi, là biểu hiện tinh thần của di sản văn hóa vật thể;còn cái hiện hữu, cái làm nên di sản văn hóa vật thể thì tồntại nh là biểu hiện vật chất của di sản văn hóa phi vật thể ấy
Cũng vì thế, ngời ta còn có cách phân loại thứ hai làcăn cứ trên giá trị của di sản để phân chúng thành những
nhóm di sản có giá trị đặc biệt quan trọng hay các di sản có mức độ quan trọng cấp quốc tế; nhóm di sản có tầm quan
trọng cấp quốc gia và nhóm di sản có tầm quan trọng cấp
địa phơng:
Những di sản có tầm quan trọng cấp quốc tế là những
di sản văn hóa thế giới hoặc là những di sản đợc Nhà nớc lập
hồ sơ gửi UNESCO xem xét công nhận là di sản văn hóa thếgiới;
Nhóm các di sản thuộc cấp quốc gia bao gồm những di
sản đợc xếp hạng di tích quốc gia quan trọng, một số làng
Trang 13nghề truyền thống nổi tiếng, những lễ hội lớn mà tầm ảnhhởng của nó vợt khỏi phạm vi một tỉnh, hay một vùng;
Nhóm các di sản thuộc cấp địa phơng bao gồm những
di tích văn hóa lịch sử đợc xếp hạng cấp địa phơng mà tầm
ảnh hởng và thu hút của chúng không vợt ra khỏi giới hạn tỉnhhoặc huyện, thị xã
Dù phân loại thế nào chăng nữa, các di sản văn hóa vẫn
có những đặc điểm chung, đó là:
- Tính biểu trng đại diện cho mỗi nền văn hóa của một
quốc gia, một dân tộc;
- Tính lịch sử với những đặc trng của thời đại và đại
diện cho thời đại sinh ra chúng, nền văn minh và kỹ thuật táitạo chúng;
- Tính truyền thống lu truyền từ thế hệ này sang thế
hệ khác, không chỉ bản thân di sản mà cả những giá trị phivật thể đi cùng với chúng cũng đợc truyền sang thế hệ saubằng mô phỏng, phát triển và sáng tạo mới trên nền của di sảncũ;
- Tính nhạy cảm, dễ bị ảnh hởng dới các tác động khác
nhau, dễ dàng bị h hỏng, bị phá hủy và bị mai một đi do
những tác động khác nhau của con ngời, của điều kiện thời
tiết, các phản ứng hóa học… Trong quá trình đấu tranh dựng
nớc và giữ nớc, cha ông ta đã sáng tạo và để lại hàng nghìn ditích có giá trị Tuy nhiên, nhiều di tích đang bị xuống cấpnghiêm trọng và có nguy cơ mai một vì nhiều nguyên nhânnh: sự tàn phá của chiến tranh, thiên tai, nhận thức cha đầy
đủ về giá trị của di tích Vì vậy, vấn đề cấp thiết đang
đặt ra là phải hoạch định chiến lợc, nhanh chóng xây dựng
Trang 14các chính sách và giải pháp để bảo tồn, tôn tạo và phát huytác dụng của di tích ở Việt Nam nói chung, Quảng Bình nóiriêng trong giai đoạn phát triển mới của đất nớc một cách hợp
lý, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội và góp phần thúc
đẩy phát triển kinh tế - xã hội của địa phơng, trong đó cóhoạt động của ngành du lịch
1.1.2 Khái niệm về di tích, danh thắng
Di tích, danh thắng là một bộ phận quan trọng của disản văn hóa
Theo Công ớc về Bảo vệ Di sản văn hóa và thiên nhiênthế giới, những loại hình đợc coi nh "di sản văn hóa" là:
Di tích kiến trúc: các công trình kiến trúc, cáccông trình điêu khắc và hội họa kiến trúc, các bộphận hoặc kết cấu có tính chất khảo cổ học, các bi
ký, các hang động c trú và những bộ phận kết hợp,
mà xét theo quan điểm lịch sử, nghệ thuật hoặckhoa học là có giá trị nổi tiếng toàn cầu;
Nhóm công trình xây dựng: các nhóm côngtrình riêng lẻ hoặc liên kết mà, do tính chất kiến
Trang 15trúc, tính chất đồng nhất hoặc vị thế của chúngtrong cảnh quan xét theo quan điểm lịch sử, nghệthuật hoặc khoa học là có giá trị nổi tiếng toàn cầu
Các di chỉ: các công trình của con ngời hoặccông trình kết hợp giữa con ngời và thiên nhiên, cũng
nh các khu vực có các di chỉ khảo cổ học mà xéttheo quan điểm lịch sử, thẩm mỹ, dân tộc họchoặc nhân học là có giá trị nổi tiếng toàn cầu [62]
Giáo trình Bảo tồn di tích lịch sử - văn hóa của Trờng
Đại học Văn hóa đa ra một khái niệm khoa học về di tích nh
sau: "Là những không gian vật chất cụ thể, khách quan,
trong đó chứa đựng các giá trị điển hình lịch sử; do tập thể hoặc cá nhân con ngời hoạt động sáng tạo ra trong lịch
sử để lại" [49, tr 17].
Theo Luật Di sản Văn hóa của Việt Nam, di tích lịch sử
- văn hóa đợc qui định: "Là công trình xây dựng, địa
điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học"
[24, tr 7] Trong đó, Di vật đợc hiểu là hiện vật đợc lu truyền lại, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học; Cổ vật đợc hiểu là
hiện vật đợc lu truyền lại, có giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn
hóa, khoa học, có từ 100 năm tuổi trở lên; Bảo vật quốc gia
đợc hiểu là hiện vật đợc lu truyền lại, có giá trị đặc biệtquí hiếm tiêu biểu của đất nớc về lịch sử, văn hóa, khoahọc
- Về di sản thiên nhiên (danh thắng):
Trang 16Theo Công ớc về Bảo vệ Di sản văn hóa và thiên nhiênthế giới của UNESCO năm 1972, những loại hình đợc xem là
di sản thiên nhiên (danh thắng) đó là:
Các cấu tạo tự nhiên: bao gồm các thành tạo vật
lý hoặc sinh học hoặc các nhóm có thành tạo thuộcloại đó mà, xét theo quan điểm thẩm mỹ hoặckhoa học là có giá trị nổi tiếng toàn cầu;
Các thành tạo địa chất và địa văn và các khuvực đợc khoanh vùng chính xác làm nơi c trú cho cácloài động vật và thảo mộc bị đe dọa mà, xét theoquan điểm khoa học hoặc bảo tồn là có giá trị nổitiếng toàn cầu;
Các di chỉ tự nhiên hoặc các khu vực tự nhiên
đã đợc khoanh vùng cụ thể mà, xét theo quan điểmkhoa học, bảo tồn hoặc vẻ đẹp thiên nhiên là có giátrị nổi tiếng toàn cầu [62]
Theo Luật Di sản Văn hóa của nớc ta: Danh lam thắng
cảnh đợc hiểu "là cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có
sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc
có giá trị lịch sử, thẩm mỹ, khoa học" [24, tr 7]
Từ nhận thức trên, có thể đa ra khái niệm về di tích,
danh thắng nh sau: Di tích, danh thắng là một không gian
vật chất, cảnh quan thiên nhiên cụ thể, khách quan; nó không những là sự kết tinh giữa cảnh quan thiên nhiên và những giá trị lao động do con ngời trong lịch sử sáng tạo ra mà còn chứa đựng những giá trị điển hình về lịch sử, văn hoá, khoa học.
Trang 17Để làm rõ khái niệm này, cần nhấn mạnh một số điểmsau:
- Trớc hết, di tích, danh thắng là một không gian vậtchất, cảnh quan thiên nhiên cụ thể, khách quan nh các côngtrình, địa điểm, các di vật, bảo vật quốc gia thuộc côngtrình, địa điểm đó và cảnh quan thiên nhiên có sự kết hợpvới các công trình kiến trúc hoặc địa điểm ghi dấu hoạt
động của con ngời nằm trong khu vực cảnh quan thiên nhiên
đó Di tích, danh thắng tồn tại cụ thể trong một không gian
và thời gian; các di tích, danh thắng có quy mô, phân bố,kiến trúc khác nhau Chúng tồn tại khách quan ngoài ý muốnchủ quan của con ngời;
- Di tích, danh thắng không chỉ kết tinh những giá trịlao động xã hội của con ngời trong lịch sử sáng tạo ra mà cònkết tinh những giá trị điển hình về lịch sử, văn hóa, khoahọc Điều này hết sức quan trọng, khẳng định trớc hết nóthuộc về sở hữu của ngời lao động sáng tạo ra nó, bảo tồn nó
và chính nó lại là tài sản của quốc gia, của con ngời vì bảnthân nó đã chứa đựng những giá trị điển hình của xã hội;bản thân di tích, danh thắng vừa chứa đựng những giá trịvật chất vừa chứa đựng giá trị tinh thần
- Di tích, danh thắng bao gồm những bộ phận cấuthành: Môi trờng, cảnh quan thiên; những công trình, địa
điểm có liên quan tới các sự kiện lịch sử; hoặc nhân vật lịch
sử, địa danh lịch sử, danh nhân văn hóa và những giá trịvăn hóa tinh thần, hay còn gọi là văn hóa phi vật thể gắn vớicông trình, địa điểm đó
Trang 18Phân định di tích và danh thắng thực chất cũng để
có thể dễ nhận diện các loại hình di tích và danh thắng màthôi, còn theo quan niệm của Luật Di sản văn hóa đều thống
nhất xếp nó cùng chung một thuật ngữ là Di tích
Theo Luật Di sản văn hóa, di tích đợc phân loại nh sau:
Thứ nhất, nếu căn cứ vào giá trị tiêu biểu nhất mà di
đảo, di tích Đờng mòn Hồ Chí Minh…
* Loại hình di tích kiến trúc nghệ thuật bao gồm: quầnthể các công trình kiến trúc hoặc công trình kiến trúc đơn
lẻ có giá trị tiêu biểu về kiến trúc, nghệ thuật của một hoặcnhiều giai đoạn lịch sử nh di tích Đình làng, di tích ChùaTháp, di tích Văn miếu, di tích đạo quán, di tích đền, nghè,miếu, phủ, di tích thành lũy, di tích lăng tẩm, di tích cầu, ditích kiến trúc dân gian, di tích văn hóa Chăm Pa…
Trang 19* Loại hình di tích khảo cổ học là: những địa điểm,
ẩn giấu một bộ phận giá trị văn hóa, thuộc về thời kỳ lịch sử xãhội loài ngời cha có văn tự và thời gian nào đó trong thời kỳlịch sử cổ đại nh di tích Ba Đồn I, II; Cồn Nền; Hang Tiến hóa,Hóa Hợp; Hang Thoóc loóc; Hang Minh Cầm; Hang Trăn; Bàutró…
* Loại hình di tích danh lam thắng cảnh là: cảnh quanthiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quanthiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị thẩm mỹ tiêubiểu hoặc địa điểm ghi dấu hoạt động của con ngời tronglịch sử để lại có giá trị về lịch sử, văn hoá, khoa học
Thứ hai, theo đầu mối quản lý và giá trị của di tích,
danh thắng thì di tích danh thắng đợc chia thành 3 loại:
- Di tích quốc gia đặc biệt;
di tích tiêu biểu của Việt Nam vào Danh mục di sản thế giớinh: Phong Nha - Kẻ Bàng, Cố đô Huế, Vịnh Hạ Long, Thánh
địa Mỹ Sơn
Trang 20* Di tích quốc gia là di tích có giá trị tiêu biểu củaquốc gia.
Các di tích này đợc địa phơng lập hồ sơ, trên cơ sở
đề nghị của Chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh, Bộ trởng BộVăn hóa, Thể thao và Du lịch ra quyết định xếp hạng ditích quốc gia
* Di tích cấp tỉnh là di tích có giá trị tiêu biểu của
địa phơng
Địa phơng lập hồ sơ, trên cơ sở đề nghị của Giám
đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Chủ tịch ủy ban nhândân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ơng xếp hạng di tíchcấp tỉnh
Bên cạnh phân loại nh trên, theo chúng tôi cần thiếtphải dựa vào hình thức quản lý và điều kiện khai thác của
di tích để phân loại sâu hơn về bản chất của hệ thống ditích hiện có làm căn cứ cho việc xây dựng các chính sách vàgiải pháp
Thứ ba, dựa vào hình thức quản lý, di tích đợc chia
thành 3 loại:
- Di tích do nhà nớc trực tiếp quản lý;
- Di tích do cộng đồng dân c (dới hình thức tập thể)trực tiếp quản lý;
- Di tích do cá nhân, gia đình trực tiếp quản lý
Trong đó:
* Di tích do Nhà nớc quản lý: Đó là các di tích quốc gia
đặc biệt và di tích quốc gia do các ban quản lý di tích đợc
Trang 21Nhà nớc thành lập trực tiếp quản lý Nhà nớc cấp lơng, chi phícho hoạt động thờng xuyên, các chi phí sửa chữa trực tiếpcho Ban quản lý di tích.
* Di tích do cộng đồng dân c (hình thức tập thể quảnlý) trực tiếp quản lý: Đó là các di tích quốc gia, di tích địaphơng cấp tỉnh đợc giao cho tổ chức nhân dân trực tiếpquản lý nh đình làng, các chùa, đền thờ
* Di tích do cá nhân, gia đình trực tiếp quản lý nh:nhà thờ dòng họ, nhà ở dân c trong các khu phố cổ, sắcphong, bảo vật của dòng họ
Thứ t, Theo điều kiện khai thác của di tích thì di tích
* Di tích cha có khả năng khai thác là: các di tích cha
có điều kiện thuận lợi khách quan về hấp dẫn khách thamquan, không có nguồn thu tại di tích và rất khó huy động cácnguồn vốn ngoài ngân sách nhà nớc cho hoạt động bảo tồn,
Trang 22tôn tạo và khai thác nh các di tích cách mạng, di tích khảo cổhọc, di tích lu niệm danh nhân nằm ở những khu vực không
có điều kiện giao thông đi lại thuận lợi, không thuộc cáctuyến tham quan du lịch
Điều kiện thuận lợi khách quan ở đây là do đặc
điểm của từng loại di tích quy định không phụ thuộc vào ýmuốn chủ quan của con ngời
1.1.3 Khái niệm về du lịch
Nhà nớc Việt Nam xác định du lịch là một ngành kinh
tế tổng hợp quan trọng, mang nội dung văn hóa sâu sắc, cótính liên ngành, liên vùng và xã hội hóa cao; phát triển du lịchnhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dỡng củanhân dân và khách du lịch quốc tế, góp phần nâng caodân trí, tạo việc làm và phát triển kinh tế, xã hội của đất n-
ớc
Theo Pháp lệnh Du lịch (2/1999), "Du lịch là hoạt động
của con ngời ngoài nơi c trú thờng xuyên của mình nhằm thỏa mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dỡng trong một khoảng thời gian nhất định" [32, tr 8] Các hoạt động du
lịch liên quan một cách chặt chẽ với môi trờng (bao gồm cảmôi trờng tự nhiên và môi trờng nhân văn)
"Các nhân tố về tự nhiên" bao gồm tài nguyên du lịch
tự nhiên và chất lợng môi trờng tự nhiên; còn "các nhân tố vềkinh tế - xã hội và nhân văn" bao gồm các giá trị văn hóa vàcác điều kiện về kinh tế - xã hội mà dựa vào đó du lịch tồntại và phát triển
Trang 23Hoạt động du lịch chủ yếu thông qua tài nguyên dulịch, tài nguyên ấy chính là di sản văn hóa trong đó di tích
và danh thắng là nhân tố cơ bản
Theo Luật Du lịch: "Tài nguyên du lịch là cảnh quan
thiên nhiên, di tích lịch sử, di tích cách mạng, giá trị nhân văn, công trình lao động sáng tạo của con ngời có thể đợc
sử dụng nhằm thỏa mãn nhu cầu du lịch; là yếu tố cơ bản
để hình thành các điểm du lịch, khu du lịch nhằm tạo ra
sự hấp dẫn du lịch" [46, tr 7] Nh vậy có thể thấy du lịch là
một trong những ngành kinh tế có định hớng tài nguyên rõrệt, đồng thời cũng rất nhạy cảm với sự biển đổi của môi tr-ờng Tài nguyên du lịch ảnh hởng trực tiếp đến tổ chức lãnhthổ của ngành du lịch, đến việc hình thành, chuyên mônhóa các vùng du lịch và hiệu quả kinh tế của hoạt động dịch
vụ, còn môi trờng sẽ ảnh hởng trực tiếp đến chất lợng các sảnphẩm du lịch, đến sức hấp dẫn của du lịch Điều đó cónghĩa là hoạt động phát triển du lịch luôn gắn liền với việckhai thác các tiềm năng tài nguyên môi trờng tự nhiên cũng
nh các giá trị văn hóa, nhân văn; sự xuống cấp của môi trờng
đồng nghĩa với sự đi xuống của hoạt động du lịch
Ngợc lại, hoạt động phát triển du lịch có những ảnh ởng lớn đến chất lợng môi trờng nh hình thành các đặc tínhnhân tạo hoặc nhân tác của môi trờng, làm biến đổi đặc
h-điểm tự nhiên, dẫn đến việc tổ chức lại sản xuất, tổ chứclại kinh tế - xã hội khu vực, tạo công ăn, việc làm, hoặc tác
động đến chất lợng sống dân c, cũng nh góp phần bảo tồn,phát huy các giá trị văn hóa, tạo khả năng giao lu văn hóa, góp
Trang 24phần nâng cao dân trí, văn minh xã hội, hội nhập cộng
đồng
Việc khai thác hợp lý, phục hồi, cải tạo và tái tạo các tàinguyên du lịch sẽ làm tốt lên chất lợng môi trờng du lịch, làmtăng sức hấp dẫn du lịch tại các điểm du lịch, khu du lịch.Nếu việc khai thác không đồng bộ, không có các biện phápphục hồi, tái tạo tài nguyên du lịch sẽ dẫn đến việc phá vỡcân bằng sinh thái của khu vực, làm suy giảm các giá trị vănhóa, gây nên sự giảm sút chất lợng môi trờng du lịch dẫn
đến sự suy giảm sức hút du lịch
Vì thế, ngày nay vấn đề phát triển du lịch bền vững,hay nói cách khác quản lý di tích, danh thắng gắn với pháttriển du lịch một cách bền vững đang đợc đặt ra ngàycàng cấp bách và ngày càng có nhiều quan điểm đa ra vềvấn đề này
Lý thuyết về phát triển bền vững xuất hiện khoảng
giữa những năm 80 và chính thức đợc đa ra tại Hội nghị của
ủy ban Thế giới về Phát triển và Môi trờng (WCED) nổi tiếngvới tên gọi ủy ban Brundtlant, năm 1987
Trong định nghĩa Brudtlant thì "phát triển bền vững
đ-ợc hiểu là hoạt động phát triển kinh tế nhằm đáp ứng các nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng
đáp ứng các nhu cầu của các thế hệ mai sau" [26, tr 3] Tuy
nhiên, nội dung chủ yếu đề cập đến trong định nghĩa nàyxoay quanh vấn đề về phát triển kinh tế
Một định nghĩa khác về phát triển bền vững đợc cácnhà khoa học trên thế giới đề cập đến một cách tổng quát
Trang 25hơn: "Phát triển bền vững là các hoạt động phát triển của
con ngời nhằm phát triển và duy trì trách nhiệm của cộng
đồng đối với lịch sử hình thành và hoàn thiện các sự sống trên Trái đất" [26, tr 3].
Theo quan điểm của Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Thế
giới (IUCN) đa ra năm 1980, "phát triển bền vững phải cân
nhắc đến hiện trạng khai thác các nguồn tài nguyên tái tạo
và không tái tạo, đến các điều kiện thuận lợi cũng nh khó khăn trong việc tổ chức các kế hoạch hành động ngắn hạn
và dài hạn đan xen nhau" [26, tr 3] Điều này khẳng định
rằng mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của hầu hết các nớctrên thế giới phải đợc xác định trong mối quan hệ bền vững
Tại Hội nghị về Môi trờng toàn cầu 92 và 92+5, quan niệm về phát triển bền vững đợc các nhà khoa
RIO-học bổ sung, theo đó "phát triển bền vững đợc hình thành
trong sự hòa nhập, xen cài và thỏa hiệp của ba hệ thống
t-ơng tác là hệ tự nhiên, hệ kinh tế và hệ văn hóa - xã hội" [26,
tr 3]
ở Việt Nam, lý luận về phát triển bền vững cũng đã
đ-ợc các nhà khoa học, quan tâm nghiên cứu trong thời gian gần
đây trên cơ sở tiếp thu những kết quả nghiên cứu lý luận vàkinh nghiệm quốc tế về phát triển bền vững, đối chiếu vớinhững hoàn cảnh cụ thể ở Việt Nam
Chỉ thị số 36/CT của Bộ Chính trị Ban Chấp hành
Trung ơng Đảng ngày 25/6/1998 đã xác định mục tiêu và các
quan điểm cơ bản cho phát triển bền vững dựa chủ yếu vào hoạt động bảo vệ môi trờng Đồng thời, trong Báo cáo
chính trị tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII (1996) cũng
Trang 26đã chính thức đề cập đến khía cạnh bảo vệ môi trờng sinh
thái, sử dụng hợp lý tài nguyên nh một cấu thành không thể tách rời của phát triển bền vững
Nghị quyết Đại hội lần thứ IX Đảng Cộng sản Việt Nam
đã xác định chiến lợc phát triển của nớc ta trong khoảng 20năm tới là:
Phát triển nhanh, có hiệu quả và bền vững,tăng trởng kinh tế đi liền với phát triển văn hóa, từngbớc cải thiện đời sống vật chất và tinh thần củanhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội,bảo vệ và cải thiện môi trờng;
Sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên, bảo
vệ và cải thiện môi trờng, bảo tồn đa dạng sinh học,coi đây là một nội dung chiến lợc, quy hoạch, kếhoạch, chơng trình và dự án phát triển kinh tế xã hội[26, tr 5]
Có thể thấy rằng, nhận thức về phát triển bền vững
trên ba mặt: kinh tế, xã hội và môi trờng đã đợc thể hiện một
cách rõ ràng, chính xác trong đờng lối phát triển của Đảng
Khái niệm về phát triển du lịch bền vững không tách
rời khái niệm về phát triển bền vững Ngay từ những năm
1980, khi các vấn đề về phát triển bền vững bắt đầu đợc
đề cập, tiến hành nghiên cứu thì đã có nhiều nghiên cứukhoa học đợc thực hiện nhằm đa ra các khía cạnh ảnh hởngcủa du lịch có liên quan đến phát triển bền vững Nhiệm vụtrọng tâm của những nghiên cứu này nhằm để giải thích cho
sự cần thiết phải đảm bảo tính toàn vẹn của môi trờng sinhthái, các giá trị văn hóa trong khi tiến hành các hoạt động
Trang 27khai thác tài nguyên phục vụ phát triển du lịch, góp phần tạonền tảng cho sự phát triển bền vững.
Hiện nay trong quá trình thống nhất về nhận thức,quan niệm về phát triển du lịch bền vững vẫn còn những
bất đồng, đặc biệt giữa quan điểm coi phát triển du lịch
bền vững cần đảm bảo nguyên tắc chính là bảo tồn tài nguyên, môi trờng và văn hóa với quan điểm cho rằng nguyên tắc hàng đầu của phát triển du lịch bền vững là sự tăng tr- ởng về kinh tế do du lịch đem lại
Theo định nghĩa của Tổ chức Du lịch Thế giới đa ratại Hội nghị về môi trờng và phát triển của Liên hợp quốc tạiRio de Janeiro năm 1992 thì:
Du lịch bền vững là việc phát triển các hoạt
động du lịch nhằm đáp ứng các nhu cầu hiện tại củakhách du lịch và ngời dân bản địa trong khi vẫnquan tâm đến việc bảo tồn và tôn tạo các nguồn tàinguyên cho việc phát triển hoạt động du lịch trong t-
ơng lai Du lịch bền vững sẽ có kế hoạch quản lý cácnguồn tài nguyên nhằm thỏa mãn các nhu cầu về kinh
tế, xã hội, thẩm mỹ của con ngời trong khi đó vẫnduy trì đợc sự toàn vẹn về văn hóa, đa dạng sinhhọc, sự phát triển của các hệ sinh thái và các hệthống hỗ trợ cho cuộc sống của con ngời [26, tr 6]
Nh vậy có thể coi phát triển du lịch bền vững là một nhánh của phát triển bền vững đã đợc Hội nghị của ủy ban
Thế giới về phát triển và môi trờng xác định năm 1987 Hoạt
động phát triển du lịch bền vững là hoạt động phát triển ởmột khu vực cụ thể sao cho nội dung, hình thức, và quy mô
Trang 28là thích hợp và bền vững theo thời gian, không làm suy thoáimôi trờng, làm ảnh hởng đến khả năng hỗ trợ các hoạt độngphát triển khác Ngợc lại, tính bền vững của hoạt động pháttriển du lịch đợc xây dựng trên nền tảng sự thành côngtrong phát triển của các ngành khác, sự phát triển bền vữngchung của khu vực Về vấn đề này, Chơng trình Nghị sự 21
về công nghiệp du lịch và lữ hành hớng tới sự phát triển môitrờng bền vững của Tổ chức Du lịch Thế giới và Hội đồng
Thế giới (World Council) đã xác định: "Các sản phẩm du lịch
bền vững là các sản phẩm đợc xây dựng phù hợp với môi ờng, cộng đồng và các nền văn hóa, nhờ đó sẽ mang lại lợi ích chắc chắn chứ không phải là hiểm họa cho phát triển
tr-du lịch" [26, tr 6].
Mặc dù còn những quan điểm cha thật sự thống nhất
về khái niệm phát triển du lịch bền vững, tuy nhiên cho
đến nay đa số ý kiến các chuyên gia trong lĩnh vực du lịch
và các lĩnh vực có liên quan khác ở Việt Nam đều cho rằng:
Phát triển du lịch bền vững là hoạt động khai thác có quản
lý các giá trị tự nhiên và nhân văn nhằm thỏa mãn các nhu cầu đa dạng của khách du lịch, có quan tâm đến các lợi ích kinh tế dài hạn trong khi vẫn đảm bảo sự đóng góp cho bảo tồn và tôn tạo các nguồn tài nguyên, duy trì đợc sự toàn vẹn
về văn hóa để phát triển hoạt động du lịch trong tơng lai; cho công tác bảo vệ môi trờng và góp phần nâng cao mức sống của cộng đồng địa phơng
1.1.4 Khái niệm về quản lý di tích, danh thắng gắn với phát triển du lịch
1.1.4.1 Khái niệm về quản lý
Trang 29Có nhiều học giả, nhà nghiên cứu đa ra khái niệm vềquản lý, xuất phát từ hiệu quả và chỉ khi nào quan tâm
đến hiệu quả thì ngời ta mới quan tâm đến hoạt độngquản lý Tuy vậy, tất cả các khái niệm về quản lý đều tậptrung vào hai vấn đề cơ bản sau:
- Quản lý là một hoạt động có hớng đích của chủ thểquản lý tác động đến đối tợng quản lý nhằm đạt đợc mụctiêu của tổ chức
- Quản lý là phơng thức làm cho những hoạt độnghoàn thành với hiệu quả cao, bằng và thông qua những ngờikhác
Chủ thể quản lý có thể là một cá nhân hay một nhómngời, một tổ chức Đối tợng quản lý cũng có thể là một cánhân hay một nhóm ngời, cộng đồng ngời hay một tổ chứcnhất định
Quản lý phải là một quá trình liên tục, có tổ chức, cóhớng đích của chủ thể quản lý tới đối tợng quản lý, sao cho
sử dụng một cách tốt nhất mọi tiềm năng và cơ hội, nhằm
đạt đợc mục tiêu đề ra theo đúng luật định và thông lệhiện hành
Với ý nghĩa đó, chúng ta có thể đa ra khái niệm quản
lý nh sau: Quản lý là quá trình tác động có mục đích của
chủ thể quản lý lên đối tợng quản lý để đạt đợc mục tiêu
nhất định thông qua hệ thống luật pháp và các quy định có
tính pháp lý.
Nội dung cơ bản của quản lý hiện nay cũng có nhiềuhọc giả, nhà nghiên cứu đa ra nhiều nội dung, song tập trung
Trang 30nhất vẫn là bốn nội dung cơ bản sau: hoạch định, tổ chức,lãnh đạo (điều khiển), kiểm tra.
Cấp độ quản lý cũng có hai cấp độ cơ bản:
- Quản lý cấp vĩ mô -> Dới góc độ văn hóa: quản lý vănhóa vĩ mô
- Quản lý cấp vi mô (chuyên ngành) -> Dới góc độ vănhóa: quản lý các ngành nh Th viện, Bảo tàng, Nghệ thuật, Ditích - Danh thắng…
Nh vậy, quản lý di tích, danh thắng dới gốc độ văn hóachính là quản lý chuyên ngành di tích và danh thắng
1.1.4.2 Khái niệm quản lý di tích, danh thắng gắn với phát triển du lịch
Nh trên đã trình bày, quản lý là quá trình tác động cómục đích của chủ thể quản lý lên đối tợng quản lý để đạt
đợc mục đích nhất định
Mục đích ở đây chính là thông qua quản lý để bảotồn và phát huy giá trị của di tích và danh thắng Bảo tồnkhông có nghĩa là "hoài cổ, hoài niệm", có tính "chiêm ng-ỡng" đơn thuần, mà bảo tồn để phát triển, phát huy Trongphát triển, phát huy có phát huy về giá trị tinh thần (giáo dụctruyền thống cội nguồn, bản sắc) và một điều hết sức quantrọng chính là phát triển và phát huy về giá trị kinh tế (tăngtrởng kinh tế trong tỷ trọng nền kinh tế)
Sự tăng trởng và phát triển ấy không tự di tích, danhthắng làm nên thay đổi sự tăng trởng mà phải thông quayếu tố du lịch; thông qua hoạt động du lịch trên cơ sởnhững giá trị của di tích, danh thắng (vé tham quan, dịch
Trang 31vụ du lịch, dịch vụ lu trú,…) để tăng nguồn thu, phát triểnkinh tế Sự phát triển và tăng trởng ấy muốn bền vững phảithông qua hoạt động quản lý, đó là sự tác động của chủ thể(hoạch định, tổ chức, điều khiển, kiểm tra) đến đối tợngquản lý (di tích, danh thắng; đến các tổ chức, cá nhân
đang trực tiếp quản lý, khai thác các giá trị của di tích, danhthắng)
Về nguyên tắc, sản phẩm du lịch tuy cũng là một thứhàng hóa chịu sự chi phối sâu sắc bởi các quy luật kinh tếthị trờng nhng chất lợng của nó không phải chỉ là những "giátrị" trao đổi bình thờng mà phải là những "giá trị văn hóa"
đích thực (giá trị nhận thức, nhân bản, thẩm mỹ ), cái tạonên "đặc sản" độc đáo, lý thú (interest) cho các sản phẩm
ấy đồng thời cũng là cái có thể đáp ứng tốt nhu cầu văn hóatinh thần của các loại du khách… Vì vậy, để thực sự có chấtlợng và có đủ khả năng phát triển bền vững, có sức cạnhtranh cao đối với các sản phẩm du lịch (thông qua di tích,danh thắng) mang lại những giá trị về cả kinh tế và văn hóatất yếu phải tăng cờng vai trò quản lý nhà nớc đối với di tích
và danh thắng trong phát triển du lịch và ngợc lại
Với ý nghĩa đó, chúng ta có thể đa ra khái niệm quản
lý di tích, danh thắng gắn với phát triển du lịch nh sau:
Là quá trình tác động liên tục của chủ thể (Nhà nớc:
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; ủy ban nhân dân tỉnh; SởVăn hóa, Thể thao và Du lịch; các ngành hữu quan, chínhquyền các cấp.) lên đối tợng quản lý (di tích, danh thắng; các
tổ chức, cá nhân đang trực tiếp quản lý, khai thác di tích,danh thắng) bằng hoạch định cơ chế, chính sách, bằng
Trang 32pháp luật, bằng tổ chức, lãnh đạo, kiểm tra để nhằm đạt
đ-ợc mục đích bảo tồn và phát huy giá trị của di tích, danhthắng (cả giá trị tinh thần và giá trị kinh tế) thông qua hoạt
là nguồn lực để phát triển du lịch Các lễ hội lớn tại các địa
điểm di tích, danh thắng thờng thu hút lợng khách lớn thamquan thởng ngoạn, lễ bái, hay cầu phúc, cầu tài lộc, cầu tự…Bởi lẽ di sản văn hóa vật thể luôn luôn chứa đựng trong mìnhnhững giá trị vô hình, nơi con ngời gửi gắm đức tin và tônthờ một đấng thiêng liêng nào đó, là không gian văn hóa chonhân dân trong những ngày lễ hội truyền thống, lễ hội tôngiáo Những di tích lịch sử cách mạng là nơi hớng mọi ngờitìm về cội nguồn, tìm về với quá khứ hào hùng của dân tộc,cũng là nơi giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ Đối với disản văn hóa phi vật thể thì tự thân nó đã mang trong mìnhnhững thông điệp của quá khứ và khi tham gia vào đời sốngvăn hóa hiện đại sẽ làm cho văn hóa của mỗi dân tộc không
bị tách rời khỏi truyền thống, nó giữ lại những giá trị tựthân, đồng thời tạo nên những giá trị bên trong của cốt cách,bản lĩnh, năng lực của mỗi dân tộc Những hệ giá trị này cótính ổn định rất lớn và có tính bền vững tơng đối, có sức
Trang 33mạnh to lớn đối với cộng đồng… Và cũng vì thế, các di tích,danh thắng luôn đợc xem là nguồn tài nguyên du lịch.
Nh trên đã trình bày, tài nguyên du lịch đợc xem nhtiền đề để phát triển du lịch Thực tế cho thấy, tài nguyên
du lịch càng phong phú, càng đặc sắc bao nhiêu thì sứchấp dẫn và hiệu quả hoạt động du lịch càng cao bấy nhiêu
Di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh ở nớc
ta nhiều về số lợng, đa dạng về loại hình nên đã tạo ra sựhấp dẫn đối với rất nhiều du khách trong và ngoài nớc Đi đầutrong sự hấp dẫn du lịch là các di sản thế giới Những di sảnnày đáp ứng các tiêu chí di sản thế giới theo quy định tạiCông ớc về Bảo vệ Di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới củaUNESCO là những quần thể di tích phân bố trên nhữngkhông gian rộng lớn, bao gồm nhiều hạng mục công trình Dogiá trị nổi bật toàn cầu các di sản thế giới hàng năm đón từhàng vạn cho tới hàng triệu lợt du khách tham quan, nghiêncứu, học tập Quan sát sự phát triển du lịch tại các khu di sảnthời gian qua, chúng ta thấy rằng danh hiệu di tích cấp quốcgia hoặc di sản thế giới đã tạo cho di sản có một sức hútmạnh mẽ đối với khách tham quan du lịch trong và ngoài nớc
Lễ đón bằng di tích quốc gia và di sản thế giới đã trở thànhnhững ngày hội lớn tại địa phơng, đó là dịp thuận lợi đểquảng bá hình ảnh di sản, thu hút du lịch và là bớc ngoặt
đầu tiên của các di sản trên con đờng phát triển du lịch với tcách là di tích quốc gia hoặc di sản thế giới
Khi đạt đợc danh hiệu di tích quốc gia, di sản thế giới,nhiều hoạt động nhằm bảo tồn và phát huy giá trị di sản đợccác cấp chính quyền từ trung ơng đến địa phơng, các cơ
Trang 34quan truyền thông trong và ngoài nớc, khách tham quan dulịch, các tổ chức quốc tế - chính phủ và phi chính phủ, cáchọc giả, các nhà nghiên cứu, su tầm… đặc biệt quan tâm,
bộ mặt di sản đợc cải thiện thông qua các công tác bảoquản, tu bổ và phục hồi, tạo điều kiện thuận lợi để pháttriển du lịch Nói một cách khác, việc bảo tồn, gìn giữ, pháthuy giá trị của các di tích, danh thắng liên quan mật thiết
đến quá trình phát triển kinh tế của địa phơng và đất nớc,trong đó có ngành du lịch
1.2.2 Kinh tế du lịch phát triển tạo điều kiện
để bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị của di tích, danh thắng
Du lịch nội địa và quốc tế đến nay là một trongnhững phơng tiện hàng đầu để trao đổi văn hóa, tạo cơhội cho mỗi con ngời đợc trải nghiệm không chỉ những gìquá khứ còn để lại mà cả cuộc sống và xã hội đơng đại củangời khác Du lịch ngày càng đợc thừa nhận rộng rãi là một
động lực tích cực cho việc bảo vệ di sản thiên nhiên văn hóa
Du lịch có thể nắm bắt các đặc trng về kinh tế của di sản
và sử dụng chúng vào việc bảo vệ bằng cách gây quỹ, giáodục cộng đồng và tác động đến chính sách Đây là một bộphận chủ yếu của nhiều nền kinh tế quốc gia và khu vực và
có thể là một nhân tố quan trọng trong phát triển khi đợcquản lý hữu hiệu
Bản thân du lịch đã trở thành một hiện tợng ngày càngphức hợp đóng một vai trò chủ yếu trong các lĩnh vực kinh
tế, chính trị, xã hội, văn hóa, giáo dục, sinh thái và thẩm mỹ
Để thành tựu đợc mối tơng tác có lợi giữa mong đợi và ớc
Trang 35muốn của khách tham quan và cộng đồng chủ nhà hoặc địaphơng - mà có khi là xung đột nhau - là cả một thách đố vàmột cơ hội.
Di sản thiên nhiên và văn hóa cũng nh tính đa dạng củacác nền văn hóa đang tồn tại là những hợp lực to lớn, mà mộtkiểu du lịch cực đoan hoặc quản lý tồi và sự phát triển tùythuộc vào du lịch có thể đe dọa tính toàn vẹn của hìnhthể tự nhiên và ý nghĩa của di sản Sự viếng thăm liên tụccủa khách du lịch cũng có thể làm cho hệ sinh thái, văn hóa
và lối sống cộng đồng chủ nhà bị xuống cấp
Đại hội đồng ICOMOS họp lần thứ 12 ở Mexico, tháng10-1999 đã thông qua Công ớc quốc tế về du lịch văn hóa,trong đó nhấn mạnh:
Du lịch phải đem lại lợi ích cho các cộng đồngchủ nhà và tạo cho họ một phơng thức quan trọng vàmột động lực để chăm nom và duy trì di sản và cáctập tục văn hóa của họ Sự tham gia và hợp tác giữacác cộng đồng địa phơng hoặc bản địa đại diện,các nhà bảo tồn, các điều hành viên du lịch, chủ sởhữu tài sản, các nhà hoạch định chính sách, các nhàlàm kế hoạch phát triển quốc gia và các nhà quản lý
di tích là cần thiết để thực hiện đợc một ngànhkinh doanh du lịch bền vững và nâng cao việc bảo
vệ các nguồn lực của di sản cho các thế hệ tơng lai[26, tr 8]
Theo Luật Du lịch của Việt Nam, "du lịch văn hóa làhình thức du lịch dựa vào bản sắc văn hóa dân tộc với sựtham gia của cộng đồng nhằm bảo tồn và phát huy các giá
Trang 36trị văn hóa truyền thống" Du lịch văn hóa không chỉ dựavào văn hóa để phát triển mà còn mang sứ mệnh tôn vinhvăn hóa, bảo vệ những giá trị văn hóa tốt đẹp của nhânloại Đồng thời làm giàu thêm văn hóa chính bằng những hoạt
động của mình thông qua sự giao lu văn hóa, làm cầu nốicho sự tiếp xúc, tiếp nhận những tinh hoa văn hóa các dântộc Phát triển du lịch văn hóa không chỉ đơn thuần thu đợcnhững lợi ích kinh tế nh một hoạt động kinh doanh mà cònnhằm những mục tiêu cao cả nh góp phần thực hiện nhữngmục tiêu phát triển xã hội, bảo tồn và phát huy giá trị các disản văn hóa dân tộc truyền thống, góp phần giáo dục, nângcao nhận thức về nền văn hóa dân tộc Tất cả những giá trịtốt đẹp của văn hóa thông qua hoạt động du lịch có thể tạonên sự phát triển tích cực nhất đối với con ngời và xã hội.Những di sản văn hóa vật chất và tinh thần phải đợc khaithác tốt nhất trong hoạt động du lịch Kinh tế du lịch pháttriển đem lại nhiều cơ hội cho sự nghiệp bảo tồn và pháthuy giá trị di sản nh nguồn kinh phí tăng lên, nhiều dự án quyhoạch bảo tồn và phát huy giá trị di tích đợc triển khai Bởivậy, có thể nói kinh tế du lịch phát triển tạo điều kiện đểbảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị của di tích, danh thắng
1.3 Một số kinh nghiệm quốc tế trong bảo tồn di tích, danh thắng và phát triển du lịch
Mỗi di sản văn hóa (vật thể và phi vật thể) đều chứa
đựng trong đó những nội dung riêng biệt, độc đáo ít trùnglặp ở đó phản ánh, lu giữ đặc trng lịch sử dân tộc, đặctrng nhân cách, phẩm giá, thế giới tinh thần, đạo đức tâm lýcon ngời, qua các thời kỳ lịch sử, sự đặc sắc của phong tụctập quán của các dân tộc Chuyển tải một cách sinh động,
Trang 37trung thực, thuyết phục và hấp dẫn những giá trị nội dung
đó là công việc của hoạt động du lịch, tạo nên sức hấp dẫncủa tài nguyên du lịch nhân văn Không chuyển tải đợc nó,khách du lịch chỉ còn tìm thấy cái vỏ bề ngoài, cái vỏ kiếntrúc, cái vỏ ngôn ngữ của các di sản, nó vừa làm nghèo nàn
đi các giá trị văn hóa dân tộc trớc mắt khách du lịch, vừahạn chế tính đa dạng của du lịch Du lịch chỉ còn là phơngthức giải trí, bồi bổ sức khỏe, nghỉ ngơi, th giãn mà giảm đi
ý nghĩa, tác dụng của sự tự bồi dỡng tâm hồn, tự giáo dụcnhân cách, tự làm phong phú thế giới tinh thần, tình cảm -thẩm mỹ của con ngời Thế giới đã đi trớc Việt Nam rất lâutrong vấn đề bảo tồn và khai thác các giá trị văn hóa, do vậydờng nh rất ít có những vấn đề bất cập nảy sinh trongchính sách và cơ chế bảo tồn và khai thác các giá trị di sảnphục vụ cuộc sống, chỉ có phơng pháp triển khai là có
những khác biệt ở một vài nớc, các điểm du lịch, các di sản
văn hóa có thể không nhiều, không có gì thật đặc sắc
nh-ng họ đã biết khai thác sinh độnh-ng các di sản đó, làm nổi bật
đợc tính độc đáo của nó trong sự tiếp nhận của khách dulịch nên hiệu quả của các di sản văn hóa, các điểm du lịch
đó lại rất cao Đây cũng là một bài học để du lịch Việt Namquan tâm, tìm hiểu và học tập
Québec, một thành phố nằm bên dòng sông SaintLaurent nơi đã đợc UNESCO công nhận là di sản văn hóa thếgiới, du khách bị quyến rũ bởi nét đặc trng giao lu văn hóaPháp - Mỹ đã đợc phát hiện từ thuở xa xa Đến thành phố này,thú vị nhất là đi xe ngựa để thăm thành phố Nhiều khu phố
ở Québec vẫn còn nguyên dáng vẻ của thế kỷ XIX Màu sắc
cổ kính của những con đờng, những khu phố chật hẹp gợi
Trang 38nhớ đến quá khứ, đồng thời chào mời giới thiệu một thế giớithanh lịch, duyên dáng hiện tại Có thể nói, đó là một thànhphố cổ xa của nớc Pháp với nhiều quán ăn, cửa hàng, cửa hiệumang dáng dấp châu Âu Đến với khu phố thơng mại cổ - khuPetit Champlain du khách sẽ thấy hàng quán kéo dài từ bếncảng cũ cho đến khu hoàng gia Du khách sẽ lạc vào mộtcảnh buôn bán của thế kỷ XV - XVII xa xa đợc dựng lại Nơi
đây cũng có nhiều viện bảo tàng, nhiều khách sạn mini đợcphục vụ với phong cách "ngợc dòng thời gian" Đặc biệt là disản tôn giáo - nhà thờ thánh Anne Nhà thờ này đợc lập ra trênnúi cao từ năm 1658, tán dơng công đức nữ thánh Anne đãcứu vớt thủy thủ đi qua vùng này tránh khỏi những vụ đắmtàu khủng khiếp Du khách từ mọi miền thế giới hành hơng
về đây ngày một nhiều, do ngành du lịch địa phơng đãbiết phát huy lợi thế biến nơi đây thành một bản sao củathành Jerusalem với con đờng, thành quách, với đồi Thánh giá
- nơi Chúa bị hành hình Tất cả đã làm hài lòng những dukhách Thiên Chúa giáo QuéBec còn là quê hơng của hội hè,mỗi năm có đến hàng trăm cuộc liên hoan mang tầm cỡ quốc
tế đợc tổ chức, quy tụ hàng triệu lợt khách đến Québec để
du lịch, vui chơi tiêu xài và giao lu hội ngộ
Kyoto, một trong những thành phố lớn nhất Nhật Bảnnằm cách Tokyo 360km về phía tây đợc xây dựng vào năm
794 và đợc giữ làm thủ đô của Nhật Bản trong suốt 1.100năm Mãi tới năm 1868 chính phủ Minh Trị mới chọn Tokyo làmthủ phủ mới Trong 1.100 năm ấy, Kyoto luôn có vai trò quantrọng đối với đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa Nhật Bản
Đây là cái nôi nuôi dỡng nền mỹ thuật, học vấn và văn nghệ
độc đáo của đất nớc mặt trời mọc Từ thời Trung cổ, Kyoto
Trang 39đã nổi tiếng là kho tàng nghệ thuật của Nhật Bản với vô vànngôi đền, chùa có giá trị lịch sử - văn hóa cao Hiện naythành phố còn giữ đợc 260 ngôi đền, 1.600 ngôi chùa và 20%của tất cả các kiến trúc tợng đài, các bức tranh, th họa củacác đền chùa đó đợc chính phủ Nhật Bản công nhận là bảovật quốc gia hay tài sản văn hóa quan trọng Hàng năm cókhoảng 39 triệu lợt khách du lịch từ khắp nơi trên thế giới
đến tham quan, làm cho Kyoto trở thành thành phố du lịch
và văn hóa nổi tiếng
Vơng quốc Nepan nằm trên dãy Himalaya có đỉnhEverest cao nhất thế giới (8.848m), là một vơng quốc đa sắctộc, đa ngôn ngữ, đa tôn giáo và có một hệ thống thực vậthết sức phong phú Nepan đã từng đóng cửa với thế giới trongsuốt nhiều thế kỷ Chính sách đó không ngờ rất tốt cho pháttriển du lịch khi đất nớc này mở cửa vào những năm 60 củathế kỷ XX Do sống cách biệt với những ảnh hởng của thế giớibên ngoài trong một thời gian dài, nên cả nền văn hóa truyềnthống đặc sắc và hệ sinh thái phong phú đều đợc bảo tồnmột cách khá toàn vẹn và bắt đầu đợc sử dụng làm tàinguyên du lịch để thu hút du khách Du lịch nhanh chóngtrở thành một nguồn thu chủ yếu của Nepan Với nền văn hóaphong phú, độc đáo, cùng những chính sách điều chỉnhkịp thời, Nepan trở thành một quốc gia tiêu biểu trong xu thếphát triển du lịch bền vững trên thế giới, với tốc độ tăng tr-ởng du lịch khá mạnh đạt khoảng 12,2%/ năm
Kề cận gần sát chúng ta là đất nớc Trung Hoa rộng lớn.Trong những năm cải cách, mở cửa của Trung Quốc, có lẽkhông có một ngành nào có tốc độ phát triển mạnh mẽ nh
Trang 40ngành du lịch Chuyện tự do đi ra nớc ngoài du lịch đối vớingời dân Trung Quốc có thể nói mãi đến khoảng đầu nhữngnăm 80 của thế kỷ XX mới trở thành hiện thực, do bớc đầu họ
đã vợt qua sự khó khăn về kinh tế và những rào cản về quanniệm Du lịch không chỉ là việc đi tìm thú vui chơi và tự
do của ngời dân Trung Quốc, mà trên thực tế đã trở thànhmột trong những ngành kinh tế trụ cột
Về số lợng du khách nớc ngoài, Trung Quốc đã đợc xếpvào hàng thứ chín trong số các nớc lớn về du lịch, hơn nữa
đợc xếp vào hàng thứ năm trong số các nớc có thu nhập lớnnhất về du lịch sau Hoa Kỳ, Pháp, Tây Ban Nha và Italia
Trong ấn phẩm Tourism: 2020 vision của Tổ chức Du lịch Thế
giới, Trung Quốc đợc dự báo sẽ trở thành đích du lịch số mộttoàn cầu Những sản phẩm du lịch của Trung Quốc mang
đến cho du khách ngoại quốc ban đầu thờng chỉ là nhữngsản phẩm mang tính tuyên truyền (trờng học, nhà máy, xómlàng gơng mẫu ), du khách phải đi thăm một cách bắtbuộc Những nội dung sản phẩm du lịch buồn tẻ đó đã hoàntoàn đi vào dĩ vãng, giờ đây mặt mạnh chính trong sảnphẩm du lịch Trung Quốc là tham quan Với một quốc gia có5.000 năm lịch sử, với một nền văn hóa vật thể và phi vật thểphong phú, đồ sộ, ngay từ những năm 1992, Trung Quốc đã
tổ chức thành công "Năm du lịch Trung Quốc", và cho đếnnay, mỗi năm Trung Quốc đều xác định một chủ đề dulịch, nhằm tuyên truyền với thế giới nguồn tài nguyên du lịchphong phú của mình, đặc biệt là nguồn tài nguyên du lịchvăn hóa Hiện nay Trung Quốc cũng là một trong số nhữngquốc gia đứng đầu về danh sách có những di sản văn hóa