1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức tại Ủy ban Nhân dân huyện Mỹ Đức Thành phố Hà Nội

120 432 15

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 120
Dung lượng 799 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhà xuất bản chính trị Quốc gia đã xuất bản cuốn sách "Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nư

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUƠNG THẾ VINH

PHẠM THỊ THÚY HÀ

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG

CHỨC TẠI ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC, TP HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

1

Trang 2

Nam Định – 2016

2

2

Trang 3

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUƠNG THẾ VINH

PHẠM THỊ THÚY HÀ

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG

CHỨC TẠI ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC, TP HÀ NỘI

Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh

Mã ngành: 60.34.05

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẤN KHOA HỌC PGS.TS Ngô Thị Tuyết Mai

1

Trang 4

Nam Định – 2016

2

Trang 5

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan bản Luận văn với đề tài: “Nâng cao chất lượng đội ngũ cán

bộ, công chức tại Ủy ban Nhân dân huyện Mỹ Đức - Thành phố Hà Nội” là công

trình nghiên cứu khoa học độc lập của tôi Các số liệu, kết quả nêu trong Luận văn

là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng và chưa được công bố trong bất kỳ công trìnhnghiên cứu khoa học nào trước đây

Nam Định, ngày tháng năm 2016

TÁC GIẢ

Phạm Thị Thúy Hà

i

Trang 6

LỜI CẢM ƠN

Luận văn là kết quả học tập của cá nhân tại lớp Cao học QTKD2K3 TrườngĐại học Lương Thế Vinh tổ chức

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến:

- Ban Giám hiệu Trường Đại học Lương Thế Vinh – Nam Định

- Lãnh đạo, cán bộ, nhân viên Khoa sau Đại học - Trường Đại học LươngThế Vinh

- Các thầy giáo, cô giáo đã tham gia quản lý, giảng dạy và giúp đỡ bản thântôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơnsâu sắc đến PGS.TS Ngô Thị Tuyết Mai, người đã tận tình hướng dẫn tôi trong quátrình xây dựng và hoàn chỉnh luận văn

- Huyện ủy, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Phòng Nội vụ huyện MỹĐức, các phòng, ban chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân huyện Mỹ Đức đã tạođiều kiện thuận lợi cung cấp số liệu, tư vấn khoa học trong quá trình nghiên cứu

- Gia đình, bạn bè, đồng nghiệp và các bạn học cùng lớp đã động viên, giúp

đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận văn, bản thân đã rất cố gắngsong luận văn không tránh khỏi còn có những thiếu xót, hạn chế Kính mong cácthầy giáo, cô giáo, Hội đồng chấm luận văn, bạn bè, đồng nghiệp góp ý, bổ sung vàgiúp đỡ để luận văn đạt hiệu quả

Tôi xin trân trọng cảm ơn!

Tác giả luận văn

Phạm Thị Thúy Hà

ii

Trang 7

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN 1

MỞ ĐẦU 2

1 Tính cấp thiết của đề tài: 2

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài: 3

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6

3.1 Mục đích nghiên cứu 6

3.2 Nhiệm vụ 6

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6

5 Phương pháp nghiên cứu 7

6 Những đóng góp mới về khoa học của luận văn 7

7 Kết cấu luận văn 7

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP HUYỆN 9

1.1 Khái niệm và phân loại cán bộ, công chức 9

1.1.1 Khái niệm cán bộ, công chức 9

1.1.2 Phân loại cán bộ, công chức 18

1.1.3 Đặc điểm của cán bộ, công chức 19

1.1.4 Vai trò của cán bộ, công chức 25

1.2 Khái niệm và sự cần thiết phải nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức 26

1.2.1 Khái niệm chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức 26

1.2.2 Sự cần thiết phải nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức 28

1.3 Các tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức 30

1.3.1 Về thể lực 30

1.3.2.Trình độ văn hóa và chuyên môn, nghiệp vụ 30

1.3.3 Kỹ năng nghề nghiệp 32

1.3.4 Hiệu quả thực thi công vụ 33

1.3.5 Phẩm chất chính trị, đạo đức 35

Trang 8

1.4 Nội dung nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức 36

1.4.1 Nhóm công tác đầu vào của việc nâng cao chất lượng cán bộ, công chức 36 1.4.2 Nhóm công tác duy trì chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức 37

1.4.3 Nhóm công tác đầu ra đối với chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức 39

1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức 39

1.5.1 Các nhân tố chủ quan 39

1.5.2 Các nhân tố khách quan 40

1.6 Kinh nghiệm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức của một số địa phương 42

1.6.1 Một số kinh nghiệm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức của huyện Yên Bình - tỉnh Yên Bái 43

1.6.2 Kinh nghiệm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức ở các cơ quan chuyên môn thuộc huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh 44

1.6.3 Bài học kinh nghiệm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức tại Ủy ban nhân dân huyện có thể áp dụng với huyện Mỹ Đức – thành phố Hà Nội 45

Tóm tắt chương 1: 47

Chương 2 THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 48

2.1 Tổng quan về đặc điểm huyện Mỹ Đức ảnh hưởng đến chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức giai đoạn 2011-2015 48

2.1.1 Điều kiện tự nhiên 48

2.1.2 Điều kiện chính trị, luật pháp, thể chế 50

2.1.3 Điều kiện kinh tế, văn hóa - xã hội 51

2.1.4 Chính sách chế độ đào tạo, đãi ngộ, sử dụng và phát triển 55

2.1.5 Môi trường và điều kiện làm việc 58

2.2 Thực trạng đội ngũ cán bộ công chức tại Ủy ban nhân dân huyện Mỹ Đức 59

2.2.1 Về quy mô 59

Trang 9

2.2.2 Về cơ cấu 59

2.3 Phân tích thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức tại Ủy ban nhân dân huyện Mỹ Đức 65

2.3.1 Về thể lực 65

2.3.2 Trình độ văn hóa và chuyên môn, nghiệp vụ 66

2.3.3 Kỹ năng nghề nghiệp và mức độ đáp ứng yêu cầu công việc: 69

2.3.4 Hiệu quả thực thi công việc 72

2.3.5 Phẩm chất chính trị, đạo đức 74

2.4 Đánh giá chung về chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức tại Ủy ban nhân dân huyện Mỹ Đức 74

2.4.1 Những kết quả đạt được 74

2.4.2 Những hạn chế và nguyên nhân 77

Chương 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CÔNG CHỨC CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC - THÀNH PHỐ HÀ NỘI ĐẾN NĂM 2020 81

3.1 Định hướng phát triển đội ngũ cán bộ công chức của Ủy ban Nhân dân huyện Mỹ Đức Thành phố Hà Nội đến năm 2020 81

3.1.1 Các căn cứ phát triển đội ngũ cán bộ công chức của Ủy ban Nhân dân huyện Mỹ Đức Thành phố Hà Nội 81

3.1.2 Dự báo nhu cầu đội ngũ cán bộ công chức của Ủy ban nhân dân huyện Mỹ Đức Thành phố Hà Nội đến năm 2020 83

3.1.3 Định hướng phát triển chất lượng cán bộ công chức của Ủy ban nhân dân huyện Mỹ Đức 84

3.2 Một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức của Ủy ban nhân dân huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội 87

3.2.1 Hoàn thiện tổ chức bộ máy: 88

3.2.2 Hoàn thiện chính sách bố trí và sử dụng đúng cán bộ, công chức 93

3.2.3 Thực hiện thường xuyên và đổi mới công tác đánh giá, đào tạo bồi dưỡng và giáo dục đội ngũ cán bộ, công chức 95

Trang 10

3.2.4 Thực hiện tốt việc đánh giá, khen thưởng, kỷ luật đối với cán bộ, công chức

dựa trên kết quả thực thi công vụ 100

3.3 Một số kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức của Ủy ban nhân dân huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội 103

3.2.1 Kiến nghị đối với cấp Trung ương 103

3.2.2 Kiến nghị với Thành phố 106

KẾT LUẬN 108

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 109

Trang 11

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU

Bảng 2.10

Cơ cấu về trình độ ngoại ngữ, trình độ tin học của cán bộ côngchức Ủy ban Nhân dân huyện Mỹ Đức từ năm 2011 đến năm2015

76

1

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài:

Đảng ta trong suốt quá trình xây dựng và trưởng thành luôn coi trọngcông tác cán bộ Lịch sử cách mạng đã chứng minh: Đảng chỉ có thể làm trònvai trò chiến sĩ tiên phong, lãnh tụ chính trị của quần chúng nếu biết lựa chọn,đào tạo đội ngũ cán bộ, công chức nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt có phẩmchất, năng lực

Đội ngũ cán bộ, công chức của cơ quan UBND huyện có bản lĩnh chínhtrị vững vàng, phẩm chất đạo đức cách mạng tốt, chuyên môn nghiệp vụ chuyênsâu sẽ là yếu tố quyết định đến thành công hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nướccủa bộ máy chính quyền huyện

Trong những năm qua huyện Mỹ Đức luôn quan tâm nâng cao chất lượngđội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, đặc biệt là quan tâm xây dựng đội ngũcán bộ, công chức cấp huyện; Huyện đã ban hành nhiều văn bản, hướng dẫn, đề

án, chương trình nhằm thực hiện tốt công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộđáp ứng yêu cầu nhiệm vụ Do vậy, chất lượng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lýcác cấp của huyện nói chung cũng như đội ngũ cán bộ, công chức thuộc Ủy bannhân dân huyện nói riêng đã có sự tiến bộ đáng kể, tác động tích cực đến quátrình phát triển kinh tế - xã hội của huyện nhà, từng bước đáp ứng tốt hơn yêucầu nhiệm vụ của thời kỳ mới

Bên cạnh những kết quả đã đạt được và đứng trước những cơ hội pháttriển, đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý từ huyện đến cơ sở, nhất là ở các cơ quanhành chính cấp huyện còn bộc lộ những hạn chế, bất cập, chất lượng chưa tươngxứng so với yêu cầu nhiệm vụ ở một số lĩnh vực quản lý nhà nước về: đất đai,môi trường, xây dựng, giáo dục vv Đặc biệt, hiện nay ở huyện Mỹ Đức đangđẩy mạnh việc xây dựng nông thôn mới, tạo ra một quá trình đô thị hoá mạnh

mẽ và nhanh chóng trong sự phát triển chung của huyện Trong quá trình pháttriển đó cũng nảy sinh hàng loạt các vấn đề bức xúc và phức tạp trong công tác

Trang 13

quy hoạch, giải toả, di dời, bồi thường giải phóng mặt bằng; các vấn đề tai, tệnạn xã hội, tội phạm, các hoạt động “diễn biến hòa bình” của thế lực thù địch…làm ảnh hưởng đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội Tình hình và nhữngchuyển biến trên đang đặt ra những đòi hỏi mới, những thách thức mới đối vớiđội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp trong toàn huyện và đặc biệt là đội ngũcán bộ, công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện nóiriêng Bởi, đây là lực lượng chịu trách nhiệm các mặt công tác của chính quyềnnhà nước địa phương cấp huyện, để xây dựng bộ máy trong sạch vững mạnh, cóhiệu lực, hiệu quả cao càng trở lên quan trọng hơn bao giờ hết Trước những

đòi hỏi bức xúc đó, tôi chọn đề tài: “Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công

chức tại Ủy ban Nhân dân huyện Mỹ Đức - Thành phố Hà Nội” làm luận văn

tốt nghiệp cao học của mình với mong muốn góp một phần nhỏ vào thực hiệnnhững yêu cầu, nhiệm vụ trên

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài:

Cán bộ, công chức, chất lượng cán bộ, công chức là vấn đề được sự quantâm của nhiều nhà nghiên cứu, là đề tài được hội thảo tại nhiều hội nghị trongnước và quốc tế Xuất phát từ tầm quan trọng của đội ngũ cán bộ, công chức vànhững bất cập giữa yêu cầu nhiệm vụ và khả năng đáp ứng của đội ngũ nàytrong điều kiện mới nên nhiều nhà khoa học, nhiều công trình nghiên cứu đã đềcập tới vấn đề cán bộ nói chung và đội ngũ cán bộ, công chức cơ quan hànhchính cấp huyện nói riêng, nhằm đưa ra giải pháp để đội ngũ này hoạt động cóhiệu quả hơn

Mỗi một nhà khoa học, một công trình nghiên cứu đề cập đến một góc độnhất định và trên một địa bàn cụ thể trong đội ngũ cán bộ, công chức ở mỗi địaphương, đơn vị Trong số các công trình nghiên cứu được công bố dưới dạngsách, chuyên đề, luận văn, các bài nghiên cứu đăng trên báo, tạp chí, hội thảokhoa học, nhiều công trình đã có những đóng góp, những luận giải sâu sắc và cógiá trị như:

Công trình nghiên cứu của Phó giáo sư, tiến sĩ Hoàng Chí Bảo với đề tài:

“Một số vấn đề xử lý nạn quan liêu, tham nhũng như một tính huống chính trị”,

Trang 14

thông tin chính trị học, số 2 (9)/2001 Công trình này đã tập trung phân tích vàlàm rõ nạn quan liêu, tham nhũng, đồng thời đề xuất một số giải pháp nhằm xử

lý tệ nạn này nhằm làm trong sạch đội ngũ cán bộ, công chức

Nhà xuất bản chính trị Quốc gia đã xuất bản cuốn sách "Luận cứ khoa học

cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước" của PGS.TS Nguyễn Phú Trọng và

PGS.TS Trần Xuân Sầm, 2003; các tác giả của công trình nghiên cứu này nghiêncứu lịch sử phát triển của các khái niệm về cán bộ, công chức; góp phần lý giải, hệthống hóa các căn cứ khoa học của việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, côngchức nói chung Từ đó đưa ra những kiến nghị về phương hướng, giải phápnhằm củng cố, phát triển đội ngũ này cả về chất lượng, số lượng và cơ cấu

“Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức đáp ứng đòi hỏi của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân” của TS Thang Văn Phúc và

TS Nguyễn Minh Phương, 2004 Trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm cơ bảncủa chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng Cộng sản ViệtNam về vai trò, vị trí người cán bộ cách mạng, cũng như yêu cầu đào tạo, xâydựng đội ngũ cán bộ, công chức; tìm hiểu những bài học kinh nghiệm về việctuyển chọn và sử dụng nhân tài trong suốt quá trình lịch sử dựng nước và giữ nướccủa dân tộc ta, cũng như kinh nghiệm xây dựng nền công vụ chính quy hiện đại củacác nước trong khu vực và trên thế giới Từ đó xác định hệ thống các yêu cầu, tiêuchuẩn của cán bộ, công chức đáp ứng đòi hỏi của Nhà nước pháp quyền xã hộichủ nghĩa của dân, do dân, vì dân

Đề tài Thạc sĩ: “Nâng cao năng lực quản lý nhà nước của cán bộ, công

chức chính quyền cấp xã ở tỉnh Hà Tĩnh hiện nay” của tác giả Trần Ánh Dương

(2006), đi vào nghiên cứu về năng lực quản lý nhà nước của cán bộ, công chứcchính quyền cấp xã, cụ thể là ở tỉnh Hà Tĩnh

Nguyễn Văn Sơn (2007) đã có bài viết trình bày một cách khái quát vai

trò của nguồn nhân lực đối với sự phát triển bền vững, “Nâng cao chất lượng

nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và phát triển kinh tế tri thức”, Viện Triết học (Tạp chí tiếng Việt) Công trình này

Trang 15

đã trình bày một cách khái quát vai trò của nguồn nhân lực đối với sự phát triểnbền vững Trên cơ sở phân tích một số nét tích cực và hạn chế của nguồn nhânlực nước ta hiện nay cả về mặt số lượng lẫn chất lượng, tác giả đã đề xuất vàluận chứng một số giải pháp cần thiết để nâng cao chất lượng nguồn nhân lựcđáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và pháttriển kinh tế tri thức Cụ thể là: Đẩy mạnh giáo dục và đào tạo; Nâng cao thể lựccho con người; Khai thác và sử dụng hợp lý nguồn nhân lực; Tăng cường côngtác dự báo nguồn nhân lực; và xây dựng chính sách tiền lương hợp lý.

“Chất lượng đội ngũ cán bộ diện Ban Thường vụ thành ủy Hà Nội quản

lý trong giai đoạn hiện nay”, Luận án tiến sĩ khoa học chính trị của Cao KhoaBảng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, năm 2012 Đề tài này đãnghiên cứu và làm rõ các khái niệm, tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ cán bộthuộc diện Ban thường vụ tỉnh ủy Hà Nội quản lý; rút ra một số kinh nghiệmbước đầu trong nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ và đề xuất một số giải phápchủ yếu nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ thuộc diện Ban thường vụ tỉnh ủy

Hà Nội quản lý

Tác giả Tô Tử Hạ - Nguyên Phó trưởng ban - Ban Tổ chức Chính phủ cónhiều bài viết nghiên cứu về công chức nhà nước, nhiều tác phẩm được sử dụngnhư là giáo trình giảng dạy về cán bộ, công chức nhà nước cho đội ngũ công

chức hiện nay, như bài viết “ Xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán

bộ, công chức nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn hiện nay”

được đăng trên địa chỉ website : www.moha.gov.vn Trong các tác phẩm củamình, tác giả Tô Tử Hạ đã tập trung phân tích, lý giải việc xây dựng và đề ra cácgiải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức trong giai đoạn hiệnnay, (7)/2015

Luận văn thạc sĩ Quản lý kinh tế, Hà Nội, 2015 Nguyễn Thị Hồng Dung:

“ Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức đáp ứng yêu cầu CNH-HĐH

tại huyện Diễn Châu, Nghệ An” Luận văn đã đi sâu làm rõ thực trạng chất

lượng đội ngũ cán bộ công chức của huyện Diễn Châu, Nghệ An đã đáp ứngđược yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa của địa phương hay chưa? Trên cơ

Trang 16

sở đó đề xuất các giải pháp cơ bản để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ côngchức nhằm đáp ứng những yêu cầu đó.

Các công trình nêu trên là những tư liệu quý để tác giả có thể kế thừa mộtcách có chọn lọc và giúp tác giả có được phương pháp tốt khi tiếp cận đối tượngnghiên cứu Tuy nhiên, đến nay chưa có công trình, đề tài nào nghiên cứu xâydựng đội ngũ cán bộ, công chức ở cơ quan hành chính nhà nước cấp huyện củaThành phố Hà Nội nói chung và huyện Mỹ Đức nói riêng Do dó, đây vẫn là vấn

đề cần được nghiên cứu một cách có hệ thống ở một địa bàn đặc biệt - Hà Nội,Thủ đô của cả nước

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở vận dụng những vấn đề lý luận cơ bản để phân tích và đánhgiá thực trạng; từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũcán bộ công chức tại Ủy ban Nhân dân huyện Mỹ Đức đáp ứng với yêu cầu pháttriển trong tình hình mới

- Đề xuất các giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ,công chức tại Ủy ban Nhân dân huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội đến năm 2020

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.

Đối tượng nghiên cứu: Lý luận và thực tiễn về chất lượng của đội ngũ

cán bộ, công chức tại Ủy ban Nhân dân huyện Mỹ Đức Thành phố Hà Nội

Phạm vi nghiên cứu:

- Phạm vi về nội dung: Nghiên cứu chất lượng đội ngũ cán bộ công chứctại Ủy ban Nhân dân huyện Mỹ Đức; xác định các tiêu chí đánh giá chất lượng

Trang 17

đội ngũ cán bộ công chức, các nhân tố tác động tới chất lượng đội ngũ cán bộcông chức tại Ủy ban Nhân dân huyện Mỹ Đức

- Phạm vi về không gian: Nghiên cứu chất lượng đội ngũ cán bộ côngchức tại Ủy ban Nhân dân huyện Mỹ Đức; không nghiên cứu đội ngũ cán bộviên chức và cán bộ công tác ở khối Đảng, Đoàn thể

- Phạm vi về thời gian: Nghiên cứu chất lượng đội ngũ cán bộ công chứctại Ủy ban Nhân dân huyện Mỹ Đức, giai đoạn 2011 - 2015 và đề xuất các giảipháp, kiến nghị đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030

5 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài được nghiên cứu với việc sử dụng các phương pháp sau:

- Luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng

và duy vật lịch sử;

- Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu trong kinh tếgồm phương pháp thống kê, phân tích, so sánh, tổng hợp và phương phápchuyên gia

- Luận văn sử dụng phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp từ các giáotrình, sách, văn bản pháp luật, tài liệu khác, các báo cáo của ủy ban nhân dânhuyện Mỹ Đức có liên quan đến đề tài luận văn

6 Những đóng góp mới về khoa học của luận văn.

Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về chất lượng cán bộ công chức, xácđịnh những tiêu chí và nhân tố chủ yếu tác động tới chất lượng đội ngũ cán bộcông chức cấp huyện

Phân tích và đánh giá thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ công chức tại

Ủy ban nhân dân huyện Mỹ Đức trong thời gian qua; chỉ rõ những kết quả đạtđược, những hạn chế và nguyên nhân khách quan, chủ quan gây ra

Đề xuất được những giải pháp khả thi và điều kiện thực hiện các giảipháp đó nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức tại Ủy ban nhândân huyện Mỹ Đức trong thời gian tới, đáp ứng được yêu cầu trong thời kỳ đấtnước thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế

7 Kết cấu luận văn

Trang 18

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung củaluận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức

Chương 2: Thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức tại Ủy ban

Nhân dân huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội giai đoạn 2011-2015

Chương 3: Một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức

tại Ủy ban Nhân dân huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội cho đến năm 2020

Trang 19

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP HUYỆN

1.1 Khái niệm và phân loại cán bộ, công chức

1.1.1 Khái niệm cán bộ, công chức

1.1.1.1 Khái niệm cán bộ

Khái niệm "cán bộ" được sử dụng khá lâu tại các nước xã hội chủ nghĩa

và bao hàm một diện rất rộng các loại nhân sự thuộc khu vực nhà nước và các tổchức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội Thuật ngữ khi đó thường dùng là "cán

bộ, công nhân viên chức", bao quát tất cả những người làm công hưởng lương từnhà nước, kể từ những người đứng đầu một cơ quan tới các nhân viên phục vụnhư lái xe, bảo vệ hay lao động tạp vụ

Ở nước ta từ "cán bộ" được du nhập vào từ Trung Quốc và được dùngphổ biến trong thời kháng chiến chống Pháp Ban đầu, từ này được dùng nhiềutrong quân đội để phân biệt chiến sĩ và cán bộ, chỉ những người làm nhiệm vụchỉ huy từ tiểu đội phó trở lên Dần dần, từ "cán bộ" được dùng để chỉ tất cảnhững người hoạt động kháng chiến thoát ly, để phân biệt với nhân dân

Ngày nay, khái niệm cán bộ dùng để chỉ những người được biên chế vàolàm việc trong bộ máy chính quyền, đảng, đoàn thể, doanh nghiệp nhà nước và

sĩ quan trong lực lượng vũ trang Ngoài ra, cán bộ được coi là những người cóchức vụ, vai trò nòng cốt trong một cơ quan, tổ chức, có tác động ảnh hưởng đếnhoạt động của cơ quan, tổ chức và liên quan đến vị trí lãnh đạo, chỉ huy, quản lý,điều hành, góp phần quyết định xu hướng phát triển của cơ quan, tổ chức

Do những điều kiện lịch sử nhất định, suốt một thời gian dài trong đờisống chính trị - pháp lí ở Việt Nam tồn tại một tập hợp khái niệm "cán bộ, côngnhân, viên chức" không có sự phân biệt rạch ròi từng khái niệm cũng như quy chếpháp lí đối với từng nhóm Pháp lệnh Cán bộ, công chức năm 1998 (sửa đổi, bổsung năm 2000, 2003) đề cập tới ba đối tượng cán bộ, công chức, viên chứcnhưng không thể hiện rõ ai là cán bộ, ai là công chức, ai là viên chức, mà quy

Trang 20

định chung các đối tượng "cán bộ, công chức" là công dân Việt Nam, trong biênchế Có thể nói, thuật ngữ "cán bộ" được sử dụng như là một ước lệ, chưa thểhiện tính chất hành chính, chưa rõ nội hàm của khái niệm Đây cũng là một hạnchế của Pháp lệnh Cán bộ, công chức.

Cụ thể hóa Pháp lệnh Cán bộ, công chức, Chính phủ đã ban hành cácNghị định số 114/2003/NĐ-CP về cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn; Nghịđịnh số 115/2003/NĐ-CP về chế độ công chức dự bị; Nghị định 116/2003/NĐ-

CP về tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức trong các đơn vị sựnghiệp của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội; Nghị định số117/2003/NĐ-CP về tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức trong các

cơ quan nhà nước Trên cơ sở nghiên cứu quy định của pháp lệnh và các nghịđịnh chúng ta có thể hiểu "cán bộ" là: Những người do bầu cử để đảm nhiệmchức vụ theo nhiệm kỳ trong các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chứcchính trị - xã hội ở trung ương, ở cấp tỉnh và cấp huyện

Cùng với xu hướng toàn cầu hóa về kinh tế, những thành tựu của sự pháttriển kinh tế - xã hội chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, tăng cường mở rộnggiao lưu hợp tác nhiều mặt với các nước, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóanhân loại Đồng thời, công cuộc cải cách hành chính ngày nay đặt ra nhu cầuchuyên biệt hóa trong sự điều chỉnh pháp luật ngày càng rõ nét, đòi hỏi phải có

sự thống nhất về nhận thức trong sự phân định các khái niệm có liên quan LuậtCán bộ, công chức được Quốc hội ban hành tháng 11/2008, có hiệu lực từ ngày01/01/2010 đã quy định cụ thể:

Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữchức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam,Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộctrung ương, ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, trong biên chế và hưởnglương từ ngân sách nhà nước

Như vậy, đến nay khái niệm cán bộ đã được quy định rõ ràng, cụ thể, xácđịnh rõ nội hàm, đó là những người giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trongcác cơ quan thuộc hệ thống chính trị Việt Nam, từ trung ương đến cấp huyện,

Trang 21

quận và tương đương Tùy góc độ và mục tiêu xem xét có thể phân biệt đội ngũcán bộ thành các nhóm khác nhau:

- Xét về loại hình có thể phân thành: cán bộ đảng, đoàn thể; cán bộ nhànước; cán bộ kinh tế và quản lý kinh tế; cán bộ khoa học, kỹ thuật

- Theo tính chất và chức năng, nhiệm vụ có thể phân thành: nhóm chínhkhách; nhóm lãnh đạo, quản lý; nhóm chuyên gia; nhóm công chức, viên chức

+ Nhóm chính khách: Những cán bộ lãnh đạo ở tầm vĩ mô của đất nước

còn được gọi là những nhà lãnh đạo chính trị cấp quốc gia hoặc là các chínhkhách Các nhà chính trị có thể được phân loại theo những căn cứ khác nhaunhư: Nhà chính trị chuyên nghiệp và nhà chính trị không chuyên nghiệp; nhàchính trị tham gia bộ máy nhà nước và nhà chính trị không tham gia bộ máy nhànước Họ không thuộc đội ngũ công chức nhà nước và ở mức độ nhất định, họ

có vị trí "độc lập" trong quan hệ với nền hành chính nhà nước

Do hoàn cảnh và điều kiện chính trị - xã hội đặc thù của Việt Nam nêntrong đời sống xã hội cũng như trong các chế định pháp lý chưa có sự phân định

rõ ràng chức danh và trách nhiệm của các nhà hoạt động chính trị Vấn đề chấtlượng của đội ngũ cán bộ, công chức và đặc biệt là đội ngũ cán bộ lãnh đạochính trị quốc gia có tầm quan trọng đặc biệt đối với công cuộc đổi mới đấtnước Do đó, bồi dưỡng, đào tạo và rèn luyện để hình thành rõ nét tâm lý - ýthức của các nhà lãnh đạo chính trị để họ đạt tới tầm chính khách, đồng thời cóquy chế hợp lý để các chính khách thực hiện tốt vai trò, sứ mệnh của mình làviệc làm hết sức cần thiết nhằm góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ,công chức nhà nước

+ Nhóm cán bộ lãnh đạo, quản lý: bao gồm những người giữ chức vụ và

trách nhiệm điều hành trong một cơ quan, tổ chức, đơn vị, có ảnh hưởng lớn đếnhoạt động của tổ chức, có vai trò quyết định và định hướng, điều khiển hoạt độngcủa cả bộ máy

Thông thường, cán bộ lãnh đạo và cán bộ quản lý được hiểu tương đồng, vìcán bộ lãnh đạo, quản lý đều phải là người giỏi nghiệp vụ chuyên môn, có đủ

Trang 22

năng lực và phẩm chất để định hướng, điều khiển, chỉ huy, phải có khả năng tổchức công việc và đoàn kết tập thể

Tuy nhiên, khái niệm lãnh đạo và khái niệm quản lý không hoàn toàn

đồng nhất với nhau Vì, "lãnh đạo" thường dùng để chỉ khả năng định hướng, xác

định mục đích lâu dài và khả năng lôi cuốn, thúc đẩy mọi người, thường đượcgắn liền với việc thiết lập đường lối, chính sách Hoạt động lãnh đạo thường huyđộng mối quan hệ với con người dựa vào tài năng và đức độ của người lãnh đạo

để thu phục và ảnh hưởng đến con người Còn "quản lý" dùng để chỉ khả năng tổ

chức, xác định mục tiêu cụ thể để thi hành các đường lối chính sách ấy Quản lý

sử dụng các phương tiện, thiết lập lề lối, mẫu mực, thủ tục huy động hữu hiệucác phương tiện, trong đó con người chỉ là một thành tố Chức năng quản lý là

sự tiếp tục của chức năng lãnh đạo, là bước đi kế tiếp của lãnh đạo, đó là khâutất yếu để thực hiện sự lãnh đạo Trên thực tế sự phân biệt này chỉ là tương đốinhưng lại rất cần cho công tác tổ chức cán bộ, làm cơ sở cho việc xác định tiêuchuẩn, chức năng của người cán bộ lãnh đạo và người cán bộ quản lý

+ Nhóm chuyên gia: gồm những người giỏi một nghề, một ngành, có

trình độ lý thuyết cao và năng lực hành động thực tiễn, năng lực nghiên cứu,sáng tạo, giải quyết một vấn đề lý luận hay thực hành Họ phải có trình độ vănhóa rộng, hiểu biết chuyên môn sâu, có năng lực và vốn trí tuệ ngoại ngữ để cậpnhật những thông tin mới Đây là nhóm nhân lực bậc cao của của xã hội, có vaitrò như một bộ phận, mũi nhọn của sự phát triển Ở bất cứ lĩnh vực, ngành nghềnào nếu thiếu chuyên gia thì công việc ở đó không thể đạt tới trình độ, chấtlượng cao, cho nên khi nói đến đỉnh cao của chất lượng đội ngũ cán bộ, côngchức, viên chức phải nói đến chuyên gia

+ Nhóm công chức, viên chức: bao gồm những người được tuyển dụng để

trực tiếp thực thi các công việc hàng ngày của cơ quan, tổ chức, được hưởng lươngtheo ngạch bậc, trình độ và chức vụ Đây là nhóm có số lượng đông đảo trongtoàn bộ đội ngũ cán bộ, công chức

1.1.1.2 Khái niệm công chức.

Trang 23

Nền hành chính nào cũng được cấu thành bởi những yếu tố cơ bản là thểchế hành chính, bộ máy hành chính và công chức nhà nước Do vậy, việc đưa rakhái niệm công chức và xác định những đối tượng là công chức có vai trò hếtsức quan trọng trong công cuộc cải cách hành chính hiện nay.

Công chức là một khái niệm được sử dụng phổ biến ở nhiều quốc gia trênthế giới để chỉ những công dân được tuyển dụng vào làm việc thường xuyêntrong các cơ quan nhà nước, do ngân sách nhà nước trả lương Nhưng do tínhđặc thù của từng quốc gia nên quan niệm công chức ở các nước không hoàn toànđồng nhất Có nước chỉ giới hạn công chức trong phạm vi những người tham giahoạt động quản lý nhà nước Một số nước khác có quan niệm rộng hơn, côngchức bao gồm tất cả những người làm việc trong các cơ quan, tổ chức có tínhchất công quyền

Ở Pháp, công chức là những người làm công vụ được nhà nước hoặc cộngđồng lãnh thổ bổ nhiệm vào một công việc thường xuyên trong các công sở haycông sở tự quản, kể cả các bệnh viện [35, tr 241]

Ở Trung Quốc, một nước theo thể chế Cộng hòa dân chủ nhân dân, chế

độ một viện, khái niệm công chức nhà nước dùng để chỉ những người công táctrong các cơ quan hành chính nhà nước các cấp, từ nhân viên phục vụ Gồm hailoại: Công chức lãnh đạo là những người thừa hành quyền lực hành chính nhànước, được bổ nhiệm theo các trình tự luật định, chịu sự điều chỉnh của Hiếnpháp, Điều lệ công chức và Luật Tổ chức chính quyền các cấp; và công chứcnghiệp vụ, là những người thi hành chế độ thường nhiệm, do cơ quan hành chínhcác cấp bổ nhiệm và quản lý căn cứ vào Điều lệ công chức, họ chiếm tuyệt đại

đa số công chức nhà nước, chịu trách nhiệm quán triệt, chấp hành chính sách vàpháp luật [35, tr 23-24]

Ở Mỹ, một nước có nền kinh tế và khoa học kỹ thuật phát triển rất mạnh,

có ảnh hưởng đến toàn thế giới Công chức Mỹ bao gồm tất cả những nhân viêntrong ngành hành chính của Chính phủ, kể cả những người được bổ nhiệm về chínhtrị như: Bộ trưởng, thứ trưởng, trợ lý bộ trưởng, người đứng đầu các cơ quan Chínhphủ Tuy nhiên, khái niệm công chức trong diện điều chỉnh của Luật công chức lại

Trang 24

không bao gồm những công chức được bổ nhiệm về chính trị, họ được gọi là côngchức chức nghiệp Đặc điểm của công chức Mỹ là không mang tính thường xuyênliên tục mà tồn tại hệ thống thải loại; việc tuyển chọn, bổ nhiệm công chức chủ yếutheo công trạng thực tế, công chức chỉ được tuyển dụng vào một công việc cụ thể

mà không có con đường chức nghiệp [35, tr 352]

Ở Cộng hòa liên bang Đức, đối tượng công chức Đức khá rộng bao gồmnhững nhân viên làm việc trong các cơ quan, tổ chức văn hóa, nghệ thuật giáodục và nghiên cứu khoa học quốc gia, nhân viên công tác trong các doanhnghiệp công ích do nhà nước quản lý, các nhân viên, quan chức làm việc trongcác cơ quan chính phủ, giáo sư đại học, giáo viên trung học, tiểu học, bác sĩ, hộ

lý bệnh viện, nhân viên lái xe lửa… [35, tr 280]

Ở Việt Nam, khái niệm công chức được hình thành, gắn liền với sự pháttriển của nền hành chính nhà nước Văn bản có tính pháp lý đầu tiên quy định vềcông chức là Sắc lệnh số 76/SL ngày 20/5/1950 của Chủ tịch nước Việt Namdân chủ cộng hòa, tại Điều 1 quy định: công chức là những công dân Việt Namđược chính quyền nhân dân tuyển để giữ một chức vụ thường xuyên trong các

cơ quan chính phủ, ở trong hay ngoài nước, trừ trường hợp riêng biệt do Chínhphủ quy định

Sau đó suốt một thời gian dài, khái niệm công chức ít được sử dụng, thayvào đó là khái niệm cán bộ, công nhân viên nhà nước, không phân biệt côngchức, viên chức với công nhân

Thực hiện công cuộc đổi mới, trước yêu cầu khách quan của tiến trìnhcải cách nền hành chính nhà nước và đòi hỏi chuẩn hóa đội ngũ cán bộ, côngchức nhà nước, thuật ngữ công chức được sử dụng trở lại Tại Nghị định số169/HĐBT ngày 25/5/1991 của Hội đồng Bộ trưởng, tiếp đó là Nghị định số95/1998/NĐ-CP ngày 17/11/1998 của Chính phủ, Nghị định số 117/2003/NĐ-

CP ngày 10/10/2003 của Chính phủ về tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ,công chức trong các cơ quan nhà nước, khái niệm công chức được đề cập mộtcách rõ ràng, cụ thể; xong vẫn chưa phân biệt cán bộ, công chứcvới công chức

sự nghiệp

Trang 25

Đến nay, trước yêu cầu của sự phát triển kinh tế - xã hội, sự phát triển củađời sống chính trị pháp lý Luật Cán bộ, công chức được Quốc hội nước Cộnghòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII thông qua ngày 13/11/2008, có hiệulực từ ngày 01/01/2010 quy định rõ:

Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch,chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổchức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vịthuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp,công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không

là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn

vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị

- xã hội, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với côngchức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lươngđược bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định củapháp luật [37]

Từ quy định các đối tượng là công chức như trên, chúng ta thấy côngchức theo quy định của pháp luật Việt Nam có nhiều điểm khác biệt với các nước,

đó là; công chức không chỉ bao gồm những người làm việc trong hệ thống cơ quanhành chính nhà nước, mà còn bao gồm cả những người làm việc cho các tổ chứcchính trị, tổ chức chính trị - xã hội như: các Ban tham mưu của Đảng, Ủy ban Mặttrận Tổ quốc, Hội Liên hiệp Phụ nữ, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh, ĐoànThanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Công đoàn Việt Nam; các cơ quan, đơn vịthuộc Quân đội nhân dân, Công an nhân dân Đây là một trong những đặc trưng

cơ bản nhất của công chức nước ta, xuất phát từ đặc thù của thể chế chính trị và

tổ chức bộ máy nhà nước, đảng, đoàn thể của nước ta

Đồng thời, phạm vi đối tượng là công chức cũng đã được xác định rõ,theo đó:

Thứ nhất, cán bộ, công chức làm việc trong các cơ quan nhà nước ở cơ

sở (cấp xã, phường, thị trấn) không thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị định

117/2003/NĐ-CP, mà được điều chỉnh bởi Nghị định số 114/2003/NĐ-CP về

Trang 26

cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn Dù Pháp lệnh cán bộ, công chức 1998(sửa đổi năm 2003) đã bổ sung đối tượng này vào phạm vi điều chỉnh, hoạtđộng của những người này có tính chất như công chức nhà nước và các cơquan Ủy ban nhân dân, Hội đồng nhân dân xã phường, thị trấn là các cơ quannhà nước ở cơ sở.

Thứ hai, khái niệm công chức không áp dụng cho đối tượng làm việc

trong các đơn vị sự nghiệp của Nhà nước, kể cả các đơn vị sự nghiệp thực hiệndịch vụ công (trừ các công chức giữ chức vụ lãnh đạo) Những nhân viên làmviệc trong các đơn vị sự nghiệp y tế, giáo dục, khoa học - công nghệ, văn hóa thôngtin, thể dục thể thao, doanh nghiệp của Đảng, Nhà nước và các đoàn thể nhân dân,các hội nghề nghiệp, mà lâu nay được gọi là công chức sự nghiệp được điều chỉnhbởi Nghị định 116/2003/NĐ-CP Họ chính là viên chức nhà nước

Như vậy, đã có sự phân biệt rõ ràng giữa những đối tượng là viên chứcvới cán bộ, công chức Nhưng trong nhiều văn bản pháp luật của nước ta hiệnnay các thuật ngữ "viên chức", "công chức" nhiều khi được sử dụng như những

từ đồng nghĩa và trong đời sống hàng ngày cụm từ "cán bộ, công nhân viên" vẫnthường xuyên được sử dụng Trong khi công chức và viên chức có những điểmkhác nhau cơ bản:

- Công chức làm việc trong cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chứcchính trị - xã hội nhằm thực hiện chức năng quản lý xã hội; còn viên chức làmviệc trong các đơn vị sự nghiệp của Nhà nước, thực hiện chức năng phục vụ,cung cấp các dịch vụ cho Nhà nước như y tế, giáo dục

- Công chức hưởng lương từ ngân sách nhà nước; còn viên chức được trảlương vừa từ nguồn ngân sách nhà nước vừa từ nguồn thu từ hoạt động sựnghiệp khác

- Công chức làm việc theo chế độ biên chế, viên chức làm việc theo chế

độ hợp đồng, nhưng vẫn được thực hiện các chế độ bảo hiểm, nâng lương, khenthưởng, đề bạt như công chức

Việc phân biệt cán bộ, công chức trong các cơ quan nhà nước với cán bộ,công chức trong đơn vị sự nghiệp của Nhà nước là một điểm mốc quan trọng

Trang 27

đánh dấu xu hướng điều chỉnh có tính chuyên biệt các đối tượng phục vụ trongcác cơ quan, đơn vị sự nghiệp của Nhà nước Điều này hoàn toàn phù hợp với xuhướng cải cách hành chính là phải phân biệt giữa hành chính công quyền vớiđơn vị sự nghiệp, với dịch vụ công, với tính chất công việc, nghề nghiệp do cácđối tượng này thực hiện.

Cán bộ, công chức trong các cơ quan nhà nước ở mức độ nhất định thìhoạt động của họ luôn gắn với quyền lực nhà nước, phục vụ trực tiếp cho quyềnlực nhà nước, còn hoạt động của các viên chức trong các đơn vị sự nghiệp lạithuần túy mang tính chuyên môn Khi xã hội phát triển đến một trình độ nhấtđịnh, giai đoạn nhất định thì các tổ chức tư nhân cũng có thể thực hiện các côngviệc mà viên chức nhà nước đang đảm nhiệm Điều này tùy thuộc vào sự pháttriển của quá trình "xã hội hóa", khi đó tất yếu sẽ dẫn đến cạnh tranh giữa cácđơn vị sự nghiệp của Nhà nước với các tổ chức tư nhân thực hiện dịch vụ công.Quá trình này thúc đẩy sự phát triển xã hội và chỉ có như vậy thì người dân mớiđược hưởng các dịch vụ ngày càng tốt hơn

Thứ ba, để chuẩn bị cho hoạt động công vụ thực thụ của những người mới

được tuyển dụng vào làm việc tại các cơ quan, tổ chức chính trị, tổ chức chínhtrị - xã hội, Nghị định 115/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 của Chính phủ quyđịnh về chế độ công chức dự bị: "Là công dân Việt Nam, trong biên chế, hưởnglương từ ngân sách nhà nước, được tuyển dụng để bổ sung cho đội ngũ cán bộ,công chức trong các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xãhội" [8] Công chức dự bị được phân công làm việc có thời hạn tại các cơ quan,

tổ chức: Văn phòng Quốc Hội, Văn phòng Chủ tịch nước, Tòa án nhân dâncác cấp, Viện Kiểm sát nhân dân các cấp, Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộcChính phủ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp tỉnh, huyện và tươngđương Công chức dự bị chưa phải là công chức, mà phải trải qua một quá trìnhtập sự, thi tuyển mới đủ điều kiện trở thành công chức

Phân biệt rõ địa vị pháp lý của các đối tượng trong đội ngũ cán bộ, côngchức là việc làm cần thiết để có cơ chế quản lý và chế độ, chính sách thích hợpđối với từng đối tượng

Trang 28

1.1.2 Phân loại cán bộ, công chức

Trong hoạt động công vụ của Nhà nước, có thể phân loại công chức theonhững cách khác nhau:

* Theo đặc thù và tính chất công việc

Nhằm phục vụ cho việc quy hoạch công chức, đáp ứng yêu cầu của cácloại công việc, tạo ra sự cân đối trong việc sắp xếp và quản lý công chức, người

ta phân công chức thành 4 loại:

- Công chức lãnh đạo: là những công chức giữ cương vị chỉ huy trongđiều hành công việc Tùy theo tính chất công việc ở các vị trí khác nhau màphân ra công chức lãnh đạo ở các cấp độ cao thấp khác nhau Công chức lãnhđạo là những người được quyền ra các quyết định quản lý, tổ chức và điềuhành những người dưới quyền thực hiện công việc Công chức lãnh đạo đượcgiao những thẩm quyền, trách nhiệm nhất định Thẩm quyền và trách nhiệm đógắn với chức vụ người lãnh đạo đảm nhiệm, thẩm quyền càng cao thì tráchnhiệm càng nặng nề

- Công chức chuyên gia: là những người có trình độ chuyên môn kỹ thuật,

có khả năng nghiên cứu, đề xuất những phương hướng, quan điểm và thực thicông việc chuyên môn phức tạp Họ là những người tư vấn cho lãnh đạo, đồngthời cũng là những nhà chuyên môn tác nghiệp những công việc đòi hỏi phải cótrình độ chuyên môn nhất định

- Công chức chuyên môn, nghiệp vụ: là những người được trao thẩmquyền nhất định trong phạm vi công tác của mình để thừa hành công việc, thihành công vụ nhân danh quyền lực nhà nước Trên cơ sở chuyên môn nghiệp

vụ và nhiệm vụ được giao, họ tham mưu cho lãnh đạo ra các quyết định quản

lý hành chính và có thể họ là người trực tiếp thực hiện các quyết định hànhchính đó

- Công chức là nhân viên hành chính: là những người thừa hành nhiệm vụ

do công chức lãnh đạo giao phó Họ là những người có trình độ chuyên môn kỹthuật ở mức thấp nên chủ yếu là làm công tác phục vụ trong bộ máy nhà nước

Trang 29

Phân loại công chức như trên chỉ có ý nghĩa định tính, nhằm giúp choviệc xác định cơ cấu công chức trong việc quy hoạch, mà chưa rõ trình độ, nănglực của công chức trong từng loại khác nhau, do đó chưa đáp ứng được yêu cầuchuẩn hóa công chức

* Theo trình độ đào tạo

Công chức được chia làm ba loại:

- Công chức loại A là người được bổ nhiệm vào ngạch yêu cầu đào tạochuyên môn giáo dục đại học và sau đại học

- Công chức loại B là người được bổ nhiệm vào ngạch yêu cầu trình độđào tạo chuyên môn giáo dục chuyên nghiệp

- Công chức loại C là người được bổ nhiệm vào ngạch yêu cầu trình độđào tạo chuyên môn dưới giáo dục nghề nghiệp

Cách phân loại này có ý nghĩa nhất định về lý luận và thực tiễn trong việcchuẩn hóa trình độ chuyên môn của công chức, khuyến khích họ phấn đấu họctập, nâng cao trình độ, thăng tiến theo chức nghiệp

* Theo ngạch công chức

Ngạch công chức là một khái niệm chỉ trình độ, năng lực, khả năngchuyên môn và ngành nghề của công chức Mỗi ngạch thể hiện một cấp độ vềtrình độ chuyên môn nghiệp vụ và có tiêu chuẩn riêng, bao gồm 5 loại:

- Công chức ngạch chuyên viên cao cấp và tương đương trở lên;

- Công chức ngạch chuyên viên chính và tương đương;

- Công chức ngạch chuyên viên và tương đương;

- Công chức ngạch cán sự và tương đương;

- Công chức ngạch nhân viên và tương đương

1.1.3 Đặc điểm của cán bộ, công chức

Cán bộ, công chức là lực lượng trực tiếp thực thi các chức năng hànhpháp của nhà nước, thực hiện quản lý và điều hành đất nước theo pháp luật vàlàm cho đất nước phát triển trên cơ sở đảm bảo kỷ cương phép nước Các mệnhlệnh, quyết định quản lý trong mọi hoạt động của nền kinh tế - xã hội là do cán

bộ, công chức triển khai thực hiện Do vậy, cán bộ, công chức có những đặc

Trang 30

điểm và vai trò sau đây:

1.1.3.1 Đội ngũ cán bộ, công chức là chủ thể của nền công vụ, là những nười thực thi công vụ và được nhà nước đảm bảo các điều kiện cần thiết, quyền lợi chính đáng để có khả năng và yên tâm thực thi công vụ.

Chúng ta biết rằng hoạt động quản lý hành chính nhà nước chủ yếu đượcvận hành thông qua nền công vụ và đội ngũ công chức hành chính Đội ngũ cán

bộ, công chứclà những người có vị trí trong hệ thống cơ quan hành chính nhànước, có chức năng thực thi pháp luật và thi hành công vụ nhằm phục vụ lợi íchchung cho toàn xã hội Những loại nhiệm vụ này do chính đội ngũ cán bộ, côngchứccác cấp thực hiện, không thể chuyển giao cho bất cứ tổ chức nào bên ngoài.Đội ngũ công chức là hạt nhân cơ bản của nền công vụ,là chủ thể thực sự tiếnhành các công vụ thể chế và cũng là yếu tố đảm bảo cho nền công vụ hoạt động,vận hành có hiệu lực, hiệu quả

Cán bộ, công chức là người thực thi công vụ, trực tiếp thi hành quyền lựcnhà nước Lao động của họ thực chất là lao động quyền lực, khác với lao độngsản xuất, kinh doanh và các dạng lao động xã hội khác Sản phẩm lao động của

họ là các đạo luật,văn bản quy phạm pháp luật hoặc các quyết định quản lý nhànước, thi hành pháp luật, đưa pháp luật vào đời sống nhằm bào đảm an ninhchính trị và trật tự an toàn xã hội; quản lý sử dụng có hiệu quả nguồn tài sảnchung và ngân sách nhà nước; phát triển và ổn định kinh tế - xã hội; bảo vệ cácquyền và lợi ích hợp pháp của công dân Nhân danh quyền lực nhà nước, phục

vụ nhân dân, thực hiện lý tưởng phụng sự tổ quốc là đặc điểm nổi bật và duynhất của nguồn nhân lực hành chính nhà nước Người công chức trong bộ máyhành chính nhà nước được trao quyền để thực thi công vụ; đồng thời hộ có bổnphận phục vụ xã hội, công dân và chịu những ràng buộc nhất định do liên quanđến chức trách đang đảm nhiệm Họ có thể phải từ chức,bị truy cứu trách nhiệmhoặc phải bồi thường thiệt hại nếu không hoàn thành nhiệm vụ, vi phạm kỷ luật,

ra quyết định hành chính làm tổn hại lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức

Để thực hiện công vụ, người công chức được nhà nước cung cấp các điềukiện cần thiết để tiến hành thực thi công vụ như trụ sở, phương tiện, điều kiện

Trang 31

làm viêc Họ được đảm bảo các quyền lợi vật chất và tinh thần như: hưởnglương từ nhgân sách nhà nước tương xứng với chức trách và công việc nhận cácloại trợ cấp, phụ cấp khác bằng tiền hoặc bằng hiện và lương hưu khi đủ thờigian cống hiến cho nền công vụ, được khen thưởng khi có công lao xứng đáng.

Sự đảm bảo quyền lợi cho nguồn nhân lực này có tính chất ổn định lâu dài, thực

tế là suốt đời nếu như công chức không vi phạm kỷ luật bị thải hồi hoặc bị truy

và được đào tạo, bồi dưỡng về kỹ năng, nghiệp vụ quản lý hành chính nhà nước

ở các mức độ khác nhau

Hơn nữa, chức năng cơ bản của cán bộ, cán bộ, công chứclà thực thicông vụ, thực thi quyền lực nhà nước, thực thi pháp luật, đây là một dạng laođộng đặc thù và phức tạp không cho phép có sai sót, không đượ vi phạm Đồngthời, qua thực tiễn hoạt động, đội ngũ cán bộ cán bộ, công chứclà lực lượng sángtạo pháp luật, tham mưu đề xuất những chủ trương, chính sách, pháp luật quản

lý và phát triển xã hội, đất nước Do vậy, cán bộ, cán bộ, công chứcphải am hiểu

và tinh thông pháp luật, thực hiện đúng pháp luật; nắm vững chuyên mônnghiệp vụ, phải am hiểu sâu sắc lĩnh vực chuyên môn của mình

Tính chuyên nghiệp của cán bộ, công chứcđược quy định bởi địa vị pháp

lý và được thể hiện qua 2 yếu tố: thời gian thâm niên công tác và trình độ nănglực chuyên môn, kỹ năng nghiệp vụ hành chính Hai yếu tố này gắn bó chặt chẽvới nhau tạo nên mức độ chuyên nghiệp của từng người công chức hành chính

Trang 32

Thời gian thâm niên công tác tạo điều kiện để công chức thành thạo công việc

và đúc rút kinh nghiệm trong thực thi công vụ, còn trình độ hiểu biết pháp luật,năng lực chuyên môn, kỹ năng nghiệp vụ hành chính tạo khả năng hoàn thànhnhững công việc được giao

Chính vì vậy, ngay khi tuyển dụng, cơ quan nhà nước đã yêu cầu người

dự tuyển phải có chuyên môn, có đủ tiêu chuẩn về độ tuổi, phẩm chất chính trị,đạo đức Trong điều kiện hiện nay đội ngũ cán bộ, công chức phải có trình độchuyên môn hóa cao, được đào tạo một cách chính quy và hệ thống, đồng thờiphải luôn luôn được bồi dưỡng, cập nhật kịp thời các thông tin và tri thức mớicủa khoa học công nghệ Không thể xây dựng được nền công vụ và nền hànhchính nhà nước nói chung, chính quy hiện đại, phục vụ đắc lực nhân dân nếu độingũ cán bộ, công chức chưa được quản lý và đào tạo cơ bản theo hướng chuyênnghiệp hóa, chuyên môn hóa cao

1.1.3.3 Đội ngũ cán bộ cán bộ, công chức tương đối ôn định, mang tính kế thừa, nhưng luôn đòi hỏi không ngừng nâng cao về chất lượng.

Khác với công chức của một số nước, không có tính ổn định Đội ngũ cán

bộ, cán bộ, công chứcViệt Nam hoạt động ổn định, ít chịu biến động nhằm duytrì tính ổn định, liên tục của nền hành chính, họ được bảo hộ bằng quy định

“biên chế nhà nước” Tuy nhiên, cơ chế này cũng tạo thành môi trường nuôi

dưỡng sự thụ động, dựa dẫm,trí tuệ của một bộ phận không nhỏ cán bộ, côngchức Bởi cán bộ, công chức đã thuộc biên chế chỉ trừ khi vi phạm pháp luật,hoặc vi phạm đến mức kỷ luật buộc thôi việc còn thường thì họ làm việc từ khituyển dụng cho đến khi nghỉ hưu

Hiện nay, xã hội không ngừng phát triển , đối tượng điều chỉnh của phápluật ngày càng mở rộng và phức tạp hơn; yêu cầu của khách hàng về chất lượngphục vụ ngày càng cao nhưng các cơ quan hành chính nhà nước không thể tuyểndụng hàng loạt người lao động mới, vì rằng việc tuyển dụng và giaỉ quyết cáclao động dôi dư trong các cơ quan hành chính nhà nước luôn liên quan đến mộtloạt các vấn đề chính sách, chế độ xã hội phức tạp

Trước thực tế khách quan đó, đòi hỏi cán bộ, cán bộ, công chức phải luôn

Trang 33

được đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ Giải pháp hiệu quả thích hợp trongđiều kiện hiện nay là xây dựng hệ thống chính sách tuyển dụng, đào tạo bồidưỡng, sắp xếp đề bạt, thuyên chuyển, đãi ngộ phù hợp để giảm thiểu tối đa sựchênh lệch về số lượng và chất lượng nguồn nhân lực hành chính nhà nước.Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực hiện có bằng bồi dưỡng, đào tạo, đào tạolại đôi ngũ công chức nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của các cơ quanhành chính nhà nước Chú trọng chất lượng tuyển dụng nhân lực, thu hút,khuyến khích nhân tài thực thi công vụ Hạn chế đến mức thấp nhất những sailầm trong tuyển dụng cán bộ, công chứcnhà nước.

1.1.3.4 Hoạt động của đội ngũ cán bộ hành chính diễn ra thường xuyên, liên tục trên phạm vi rộng và mang tính phức tạp.

Các cơ quan hành chính nhà nước được tổ chức thành hệ thống từ Trungương đến cơ sở thực hiện nhiệm vu quản lý, điều hành toàn bộ các lĩnh vực kinh

tế, văn hóa, chính trị, xã hội, ngoại giao, an ninh quốc phòng với các mặt hoạtđộng hết sức phong phú và phức tạp gồm tài chính, ngân sách nhà nước, kế toán,kiểm toán, thống kê, tín dụng, bảo hiểm, tài sản công, khoa học, công nghệ, môitrường, kế hoạch, xây dựng, bưu chính viễn thông, giao thông vận tải, nôngnghiệp, y tế, văn hóa, giáo dục Tất cả các hoạt động đó đều liên quan hàngngày và trực tiếp hoặc gián tiếp đến cuộc sống của tất cả mọi người dân, đòi hỏi

hệ thống các cơ quan quản lý hành chính nhà nước và đội ngũ cán bộ, côngchứcphải đủ năng lực, thẩm quyền để giải quyết tất cả các vấn đề thuộc phạm viquản lý, điều hành một cách nhanh chóng, kịp thời, có hiệu quả

1.1.3.5 Đội ngũ cán bộ, công chức phải am hiểu và tôn trọng luật pháp và thông lệ quốc tế.

Trong điều kiện mở cửa hội nhập quốc tế hiện nay, tất yếu nhà nước phảigiải quyết các quan hệ pháp lý mang yếu tố quốc tế, đồng thời phải ký kết vàthực hiện các công ước quốc tế, các tập quán và thông lệ quốc tế trong tất cả cáclĩnh vực Để thực hiện tốt nhiệm vụ này, đội ngũ cán bộ, cán bộ, công chức phải

có tri thức, phải am hiểu và tôn trọng luật pháp và thông lệ quốc tế Muốn vậy,trước hết họ phải có kiến thức pháp luật và trình độ ngoại ngữ nhất định, đủ để

Trang 34

có thể giao tiếp, đọc hiểu văn bản pháp luật, hợp đồng mang tính quốc tế Dovậy nhà nước cần phai quan tâm đến công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán

bộ, công chức có đầy đủ phẩm chất và năng lực, am hiểu và có khả năng thực sựgiải quyết tốt các quan hệ có yếu tố nước ngoài

1.1.3.6 Đội ngũ cán bộ, cán bộ, công chức trung thành với Đảng, với Chính phủ, với Tổ quốc và nhân dân.

Đây là đặc trưng cơ bản của đội ngũ cán bộ, công chức Việt Nam nóichung, xuất phát từ truyền thống tốt đẹp của nhân dân tavà từ đặc điểm lịch sử,quá trình cách mạng hình thành Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Nhà nước ta ra đời từ thắng lợi của cuộc cách mạng tháng Tám do nhândân thực hiện dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhà nước ta

là con đẻ của khối đại đoàn kết toàn dân Về phương diện pháp lý, nhà nước ta làthiết chế quyền lực do nhân dân bầu ra theo nguyên tắc phổ thông đầu phiếu.Ngoài việc lập ra nhà nước, nhân dân thông qua các hình thức khác tham giahoạt động quản lý nhà nước, xã hội, tác động đến các quá trình hoạch địnhđường lối , chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; thực hiện việc giámsát đối với hoạt động của các cơ quan, tổ chức nhà nước, cán bộ, công chức nhànước trong thực thi công vụ Nhà nước ta tồn tại là để phục vụ lợi ích nhân dân,bảo đảm các quyền tự do dân chủ của công dân Trong hoạt động các cơ quannhà nước , cán bộ, công chức phải tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân,liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe và chịu sự giám sát của nhân dân

Trong bối cảnh mở cửa hội nhập với khu vực và quốc tế, chuyển đổi cơchế quản lý kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thànhphần định hướng xã hội chủ nghĩa, có nhiều quan hệ xã hội mới xuất hiện đòihỏi cán bộ, công chức phải có những thay đổi tương ứng nhằm thích nghi và đủkhả năng giải quyết tốt mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và bảo đảm côngbằng tiến bộ xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Mặt trái của tiến trình hội nhập và nền kinh tế thị trường cũng đặt ra yêucầu cán bộ, công chức nói chung phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, rèn luyệnphẩm chất đạo đức và lối sống lành mạnh, tận tâm tận trí phục vụ nhân dân,

Trang 35

phụng sự Tổ quốc.

1.1.4 Vai trò của cán bộ, công chức

Vai trò của đội ngũ cán bộ, cán bộ, công chức thể hiện qua bốn mối quan

hệ Một là, quan hệ với đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước;

hai là, với bộ máy tổ chức lãnh đạo quản lý; ba là, với công việc; bốn là, với

quần chúng nhân dân

Công cuộc đổi mới đất nước do Đảng cộng sản Việt Nam khởi xướng vàlãnh đạo, có sự tham gia của nhiều chủ thể xã hội, trong đó có công vụ nhànước Nền công vụ đóng vai trò chủ yếu trong việc tổ chức thực hiện các Nghịquyết của Đảng bằng việc thể chế hóa các nghị quyết của Đảng thành pháp luật

và thực thi trong xã hội, qua đó giúp Đảng đánh giá, điều chỉnh các chủ trương,đường lối cho phù hợp với thực tiễn Ngoài ra, là một bộ phận quan trọng củanguồn nhân lực trong nền công vụ, những cán bộ, công chức, đảng viên đãtrực tiếp tham gia đóng góp vào quá trình xây dựng các chủ trương, chính sáchcủa Đảng qua việc xây dựng dự thảo, đề án hoặc đóng góp ý kiến, chỉnh sửa dựthảo

Cán bộ, cán bộ, công chức là lực lượng lao động nòng cốt có vai trò cực

kỳ quan trọng trong quản lý và tổ chức công việc của nhà nước Nhiệm vụ của

họ là thực thi công vụ, thực thi pháp luật, thực thi quyền lực nhà nước Đồngthời chính họ đóng vai trò sáng tạo pháp luật, tham mưu, đề xuất, xây dựng hệthống pháp luật hoàn chỉnh và tiến bộ của Nhà nước

Với chức năng cơ bản là thực thi công vụ , cán bộ, cán bộ, công chứcnhànước là người đem chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước giải thích chodân chúng hiểu rõ và thi hành Đồng thời nắm tình hình triển khai thực hiện chủtrương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, phản ánh lạcho Đảng và nhà nước để có sự điều chỉnh, sửa đổi bổ sung cho đúng và phùhợp với thực tiễn Ở đây vai trò của người cán bộ, cán bộ, công chứcnhư là cầunối giữa Đảng, Chính phủ với nhân dân

Vì vậy, chỉ có đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất và năng lực tốtmới có thể đề ra đường lối đùng, mới có thể cụ thể hóa, bổ sung hoàn chỉnh

Trang 36

đường lối và thực hiện tốt đường lối Không có đội ngũ cán bô, công chức vữngmạnh thì dù cho đường lối chính trị đúng đắn cũng khó có thể biến thành hiệnthực Cán bộ, công chức chính là nhân tố quyết định sự thành bại của đường lối

và nhiệm vụ chính trị của Đảng và Nhà nước

Cán bộ, công chức là nhân tố chủ yếu, hàng đầu và là nhân tố “động” nhấtcủa tổ chức Cán bộ, công chức là người lập ra tổ chức và điều hành bộ máy tổchức, song đến lượt mình cán bộ, công chức lại chịu sự chi phối, ràng buộc của

tổ chức Cán bộ, công chức chỉ có sức mạnh khi gắn với tổ chức và nhân dân.Tách rời khỏi tổ chức thì cán bộ, công chức mất sức mạnh quyền lực và hiệu lực

do tập thể tạo ra

Đội ngũ cán bộ, cán bộ, công chức là “công bộ” của nhân dân, có vai tròquan trọng trong bảo đảm kỷ cương phép nước, bảo vệ pháp luật và công lý,bảo vệ các quyền tự do dân chủ, quyền con người, quyền và lợi ích hợp phápcủa công dân, bảo đảm trật tự xã hội, chống lại các hành vi xâm hại pháp luật,tuỳ tiện và vô chính phủ Họ cũng là người đóng vai trò tiên phong, đi đầu trongcuộc đấu tranh với các hiện tượng quan liêu, hành vi tham nhũng cửa quyền vàcác tiêu cực khác làm cho bộ máy nhà nước trong sạch vững mạnh, hoạt động cóhiệu lực, hiệu quả

1.2 Khái niệm và sự cần thiết phải nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức.

1.2.1 Khái niệm chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức

Khi đánh giá chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, cần phải hiểu chođúng thế nào là chất lượng của đội ngũ cán bộ, công chức Chất lượng của độingũ cán bộ công chức có thể được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau:

- Chất lượng của đội ngũ cán bộ, công chức được thể hiện thông qua hoạtđộng của toàn bộ bộ máy tổ chức các cơ quan nhà nước, ở việc nâng cao hiệulực, hiệu quả hoạt động của các cơ quan đó

- Chất lượng của đội ngũ cán bộ công chức được đánh giá dưới góc độphẩm chất đạo đức, trình độ, năng lực và khả năng hoàn thành nhiệm vụ đượcgiao cũng như hiệu quả trong công tác của họ

Trang 37

- Chất lượng của đội ngũ cán bộ công chức là chỉ tiêu tổng hợp chấtlượng của từng cán bộ công chức trong đơn vị Muốn xác định chất lượng độingũ cán bộ, công chức cao hay thấp ngoài việc đánh giá phẩm chất đạo đức phải

có hàng loạt chỉ tiêu đánh giá trình độ năng lực và sự tín nhiệm của các cá nhân,

tổ chức,… trên địa bàn Các lớp đào tạo huấn luyện mà mỗi cán bộ, công chức

đã qua, bằng cấp (kể cả ngoại ngữ, tin học) về chuyên môn, kỹ thuật, quản lýnhà nước, pháp luật v.v ; độ tuổi; thâm niên công tác v.v

- Chất lượng của đội ngũ cán bộ, công chức còn được đánh giá dưới góc

độ khả năng sáng tạo trong công việc, thích ứng và xử lý các tình huống phátsinh của người cán bộ, công chức đối với nhiệm vụ được giao

- Bên cạnh đó, nhiệm vụ của cán bộ, công chức và hoạt động công vụgắn liền với cán bộ, công chức, là một loại lao động đặc thù để thực hiệnnhiệm vụ xây dựng Đảng, chính quyền, đoàn thể, quản lý nhà nước; thực hiệnchủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhằmđưa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước vàođời sống; phục vụ nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị

Từ những góc độ khác nhau nêu trên, có thể đưa ra khái niệm chất lượng

đội ngũ cán bộ, công chức như sau: Chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức là

chỉ tiêu tổng hợp đánh giá phẩm chất đạo đức, trình độ, năng lực và khả năng thích ứng, thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ được giao của họ.

Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức có nghĩa là chúng tathực hiện một số hoạt động cũng như có những tác động nhất định nào đó dẫnđến sự thay đổi về chất lượng ở chiều hướng tăng lên so với chất lượng cán bộ,công chức hiện có Đó là những biểu hiện tăng lên về trí lực, thể lực và tâm lựccủa cá nhân mỗi con người Nâng cao chất lượng cán bộ, công chức, một mặttạo ra đội ngũ cán bộ, công chức có khả năng hơn trong việc đáp ứng nhu cầu

sử dụng trong quá trình phát triển kinh tế xã hội đang trên đà hội nhập quốc tế;một mặt tạo ra đội ngũ cán bộ, công chức tự tin hơn trong quá trình làm việctạo ra của cải vật chất cho bản thân, cho tổ chức và tạo ra khả năng cạnh tranhbền vững nhất

Trang 38

Nâng cao chất lượng cán bộ, công chức là gia tăng giá trị con người, cả giátrị vật chất và tinh thần, cả trí tuệ lẫn tâm hồn cũng như kỹ năng nghề nghiệp, làmcho con người trở thành người lao động có những năng lực và phẩm chất mới caohơn đáp ứng yêu cầu ngày càng tăng của sự phát triển kinh tế xã hội Từ góc độnày, tác giả cho rằng nâng cao chất lượng cán bộ, công chức chính là nâng cao nănglực làm việc, kỹ năng xử lý công việc và thái độ trong công việc của cán bộ, côngchức đang làm việc trong các cơ quan của Nhà nước Nó bao gồm:

Nâng cao trí lực (gồm nâng cao trình độ học vấn, trình độ chuyên môn, kỹ

năng làm việc, kinh nghiệm làm việc…) Đây là yếu tố có tính quyết định căn bản

đến nâng cao năng lực làm việc chính là nâng cao chất lượng người cán bộ

Nâng cao thể lực (bao gồm việc nâng cao sức khỏe, thể chất của cán bộ

công chức) Không có sức khỏe thì bất cứ ai cũng khó có thể hoàn thành được công

việc Sức khỏe không chỉ biểu hiện ở cá nhân mỗi cán bộ, công chức mà còn ảnhhưởng rất lớn đến chất lượng công việc Sức khỏe này hàm chứa khỏe cả thể chất

và tinh thần của người cán bộ

Nâng cao tâm lực (gồm thái độ, tinh thần, khả năng chịu áp lực…) đánh giá

được thái độ trong công việc để biết cán bộ, công chức có nâng cao được tâm lựchay không thực sự rất khó Điều này còn chịu sự tác động và ảnh hưởng của nhiềuyếu tố, ảnh hưởng trước hết chính từ trí lực của người cán bộ đến môi trường sống

và làm việc của cá nhân đó

1.2.2 Sự cần thiết phải nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức

Cải cách nền hành chính nhà nước là một bộ phận quan trọng trongđường lối đổi mới toàn diện của Đảng, nhằm tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản

lý của nhà nước, đáp ứng nguyện vọng của quần chúng nhân dân Việc xâydựng, phát triển, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, cán bộ, công chức khôngchỉ đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi bức xúc nội tại của nguồn nhân lực nhà nước, màcòn là nhân tố có tính quyết định trong việc thực hiện chương trình tổng thể cảicách nền hành chính nhà nước

Trong những năm qua công cuộc cải cách hành chính đã đạt được nhữngthành tựu quan trọng, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển và ổn

Trang 39

định kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và trật tự xã hội Cải cáchhành chính đã được triển khai đồng bộ trên 4 lĩnh vực chủ yếu: thể chế, tổ chức

bộ máy, xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ, công chức và cải cách tài chínhcông, từng bước đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của bộ máy hànhchính, hỗ trợ tích cực và thúc đẩy quá trình cải cách, đổi mới toàn diện của đấtnước Tuy nhiên, so với yêu cầu của công cuộc đổi mới, phát triển kinh tế - xãhội và chủ động hội nhập quốc tế thì cải cách hành chính còn chậm, hiệu quảthấp; công tác xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, cán bộ, côngchứcnhà nước còn nhiều hạn chế:

Đội ngũ cán bộ, cán bộ, công chứcchưa ổn định, chuyên nghiệp Trình độ

và năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức tuy đã được nâng lên một mức nhưngchưa ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ, còn nhiều bất cập, hạn chế về một sốmặt: tri thức và năng lực quản lý nhà nước về xã hội, kinh tế thị trường, phápluật, hành chính, kỹ năng thực thi công vụ cũng như khả năng vận dụng khoahọc công nghệ hiện đại trong công tác quản lý

Tinh thần trách nhiệm, ý thức tổ chức kỷ luật của một bộ phận cán bộ, côngchức còn yếu, phong cách làm việc chậm đổi mới; tinh thần phục vụ nhân dânchưa cao; tệ quan liêu tham nhũng, lãng phí, sách nhiễu chưa được ngăn chặngây nên sự trì trệ, trở ngại lớn cho công cuộc cải cách, làm giảm hiệu lực của bộmáy nhà nước

Số lượng, cơ cấu đội ngũ cán bộ, công chức chưa đáp ứng được yêu cầutrước mắt và lâu dài; tình trạng hẫng hụt các thế hệ cán bộ, công chức trong mỗi

cơ quan, đơn vị còn phổ biến; thiếu đội ngũ cán bộ, công chức nòng cốt kế cận

có trình độ chuyên môn cao và các chuyên gia hoạch định chính sách ở các cấp.Đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa và miền núi, hải đảo, đại bộ phận cán bộ, côngchức yếu về năng lực, trình độ chuyên môn, thiếu nguồn nhân lực bổ sung vào

bộ máy hành chính nhà nước [12]

Những hạn chế nêu trên đặt ra yêu cầu phải xây dựng, nâng cao chấtlượng đội ngũ cán bộ, cán bộ, công chứcnhà nước có số lượng, chất lượng, cơ

Trang 40

cấu ngạch, bậc, lứa tuổi, vùng miền, giới tính, thành phần dân tộc hợp lý, phùhợp với yêu cầu, nhiệm vụ mới của nền công vụ chuyên nghiệp, hiện đại hóa.

1.3 Các tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức

Đánh giá cán bộ được coi là một trong những khâu mở đầu trong cáckhâu của công tác cán bộ Đánh giá cán bộ là tiền đề, căn cứ để tuyển dụng, quyhoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật vàthực hiện các chế độ, chính sách đối với cán bộ Đánh giá cán bộ đúng thì sửdụng đúng, đánh giá sai thì sử dụng sai Đánh giá không đúng, ảnh hưởng khôngtốt đến tất cả các khâu khác của công tác cán bộ, phá vỡ quy hoạch, luân chuyểncán bộ không đạt được mục tiêu ban đầu, lãng phí đào tạo, bồi dưỡng; ảnhhưởng đến chất lượng đội ngũ cán bộ, đông về số lượng nhưng không mạnh,không ngang tầm nhiệm vụ

1.3.1 Về thể lực

Thể lực: Là trạng thái sức khỏe của con người biểu hiện ở sự phát triển sinh

học, không có bệnh tật, có sức khỏe lao động trong hình thái lao động ngành nghềnào đó, có sức khỏe để học tập làm việc lâu dài, được biểu hiện thông qua các chỉtiêu như chiều cao, cân nặng, sức mạnh cơ bắp, thị lực, thính lực

Thể lực yếu sẽ hạn chế rất lớn đến sự phát triển trí lực của cá nhân vàcộng đồng xã hội nói chung, từ đó ảnh hưởng đến hiệu quả công việc của ngườicán bộ, công chức

Thực tế cho thấy cán bộ, công chức nói chung mà thể lực yếu đã ảnhhưởng đến kết quả công việc được giao, từ đó dẫn đến mất lòng tin của nhândân, khó quán triệt quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật củaNhà nước đưa vào vào cuộc sống, biến chủ trương, đường lối của Đảng, phápluật của Nhà nước thành hiện thực

1.3.2.Trình độ văn hóa và chuyên môn, nghiệp vụ

Đối với Hồ Chí Minh, Người không chỉ đề cao đạo đức cách mạng vàyêu cầu mọi cán bộ, công chức phải luôn học tập, rèn luyện nâng cao trình độnăng lực, Người phê phán bệnh lười biếng, lười học là “khuyết điểm rất to, khácnào người thầy thuốc đi chữa bệnh cho người khác mà bệnh nặng trong mình thì

Ngày đăng: 26/02/2019, 17:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
9. 2000, Đảng Cộng sản Việt Nam, Các Nghị quyết của Trung ương Đảng 1996 - 1999, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các Nghị quyết của Trung ương Đảng1996 - 1999
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
10. 2006, Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốclần thứ X
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
11. 2011, Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốclần thứ XI
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
12. 2016, Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốclần thứ XII
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
14. 1997, Đảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ 3, Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
15. 2008, Đỗ Văn Phức. Tổ chức cán bộ, lao động, tiền lương (2008).NXB Đại học bách khoa - Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức cán bộ, lao động, tiền lương
Tác giả: 2008, Đỗ Văn Phức. Tổ chức cán bộ, lao động, tiền lương
Nhà XB: NXB Đại học bách khoa - Hà nội
Năm: 2008
17. Lê Hương (chủ biên) (2003) “Tính tích cực nghề nghiệp của công chức, một số nhân tố ảnh hưởng”, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội; Khóa luận tốt nghiệp - Học viện Hành chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tính tích cực nghề nghiệp của côngchức, một số nhân tố ảnh hưởng”
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
22. Nguyễn Thanh, 2005, Phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiêp hóa, hiện đại hóa đất nước, Nxb. Chính trị quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiêphóa, hiện đại hóa đất nước
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia Hà Nội
25.Nguyễn Đình Phan, Đặng Ngọc Sự, (2012), Quản trị chất lượng NXB Đại học kinh tế quốc dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị chất lượng
Tác giả: Nguyễn Đình Phan, Đặng Ngọc Sự
Nhà XB: NXBĐại học kinh tế quốc dân
Năm: 2012
1. 2011, 2016, Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Mỹ Đức: Nghị quyết Đại hội Đảng Bộ huyện Mỹ Đức lần thứ XII (2011 – 2015), lần thứ XIII (2016-2020) Khác
2. 2010, Ban Chấp hành Đảng bộ Thành phố Hà Nội: Nghị quyết Đại hội Đảng Bộ Thành phố Hà Nội lần thứ XV (2010 – 2015) Khác
3. 2003, Pháp lệnh Cán bộ, Công chức ban hành ngày 26/02/1998, sửa đổi và bổ sung năm 2000 và 2003 Khác
5. 2008, Luật Cán bộ, công chức (ban hành ngày 13/11/2008) Khác
6. 2003, Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003 Khác
7. Các Nghị quyết, đề án phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa Thành phố Hà Nội giai đoạn 2011- 2020 của Thành Ủy, UBND huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội Khác
8. 1996, Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
13. 2015, Đảng Cộng sản Việt Nam: Kết luận của Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương khóa X về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Chiến lược cán bộ từ nay đến năm 2020 Khác
16. 2015, Giáo trình quản lý nguồn nhân lực trong tổ chức, PGS.TS.Nguyễn Ngọc Quân và ThS. Nguyễn Tấn Thịnh, Nxb. Giáo dục Việt Nam Khác
18. Phạm Minh Hạc (chủ nhiệm), 2007, Nghiên cứu và phát triển văn hóa - con người - nguồn nhân lực trong điều kiện kinh tế thị trường, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế. Đề tài cấp Nhà nước KX.05 Khác
19. Nguyễn Minh Đường (chủ biên 2006), Đào tạo nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, NXB Đại học quốc gia, Hà Nội Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w