1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Dự án Nghiên cứu về bảo hiểm thất nghiệp và kinh nghiệm về bảo hiểm việc làm ở khu vực Châu Á và trên thế giới

99 209 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 1,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhiều quốc gia kết hợp giữa trợ cấp bằng tiền mặt với các chính sách thị trường lao động chủ động nhằm hỗtrợ người lao động thất nghiệp có thể tìm việc làm nhanh chóng và duy trì được cá

Trang 1

Dự án ILO/Nhật Bản

“Thúc đẩy và xây dựng dịch vụ bảo hiểm thất nghiệp trong

khu vực ASEAN

Dự thảo

Nghiên cứu về bảo hiểm thất nghiệp và kinh nghiệm về bảo

hiểm việc làm ở khu vực Châu Á và trên thế giới

Tác giả: John Carter, Chuyên gia tư vấn bảo hiểm thất nghiệp

Michel Bédard, Chuyên gia tư vấn về xác suất bảo hiểm

Biên soạn: Celine PeyronBista, Cố vấn trưởng,

Văn phòng ILO khu vực Châu Á và Thái Bình Dương

Tháng 3/2012

Trang 2

Thuật ngữ (Sẽ được hoàn thiện sau khi nhận được ý kiến đóng góp vào

bản thảo cuối cùng)

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Các tác giả báo cáo xin gửi lời cảm ơn tới sự giúp đỡ to lớn của Chính phủ Nhật Bản trong việc hỗ trợ cácquốc gia đang phát triển thuộc Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) thong qua Tổ chức ILO/Cácchương trình song phương-đa phương của Nhật Bản Chính phủ Nhật Bản nhận thức được sự cần thiết phải

hỗ trợ các quốc gia đang phát triển trong khu vực Châu Á – TBD thong qua việc hoạch định các chiến lượcphù hợp nhằm giải quyết các vấn đề liên quan tới lĩnh vực lao động Hoạt động hỗ trợ kỹ thuật cho các quốcgia Châu Á được bắt đầu từ năm 1974 kết hợp giữa hiểu biết chuyên môn của Tổ chức Lao động quốc tế và

hỗ trợ tài chính từ Chính phủ Nhật Bản Dự án “Thúc đẩy và xây dựng bảo hiểm thất nghiệp và dịch vụ việclàm trong ASEAN” là tâm điểm của hoạt động hỗ trợ đó nhằm thiết lập và củng cố các chương trình an sinh

xã hội và các dịch vụ việc làm

Chúng tôi xin bày tỏ sự biết ơn tới các chuyên gia ở các bộ/ngành tại 14 quốc gia liên quan tới vấn đề bảohiểm thất nghiệp (BHTN)/Bảo hiểm việc làm (BHVL) đã hỗ trợ chúng tôi xem xét tình hình và mô hình ởtừng quốc gia 14 quốc gia đó bao gồm: Argentina, Bahrain, Canada, Chile, Trung Quốc, Đan Mạch, Pháp,Đức, Nhật Bản, Mông Cổ, Hàn Quốc, Thái Lan, Mỹ và Việt Nam Các chuyên gia đã tư vấn về các vấn đềmang tính kỹ thuật liên quan đến chính sách BHTN/BHVL

Chúng tôi rất biết ơn Bà Isssiree Reungpoj – Trợ lý hành chính và chương trình của Dự án BHTN ASEAN

do ILO/Nhật Bản hỗ trợ Chúng tôi rất cám ơn sự chỉ dẫn và hỗ trợ trong việc hợp tác với các văn phòngILO cấp vùng khác nhau cũng như các bộ/ngành tại các quốc gia khác nhau chuyên trách về BHTN/BHVL Cuối cùng, chúng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Bà Celine PeyronBista, Tư vấn trưởng của Vănphòng ILO khu vực Châu Á-TBD đã hướng dẫn và đóng góp các ý kiến hữu ích

Trang 4

Mục Lục

Mục Lục 4

PHỤ LỤC 44

Tổng quan về các chương trình BHTN/BHVL ở một số nước 44

ARGENTINA 45

BAHRAIN 48

CANADA 52

CHILE 57

TRUNG QUỐC 61

ĐAN MẠCH 64

PHÁP 67

ĐỨC 71

NHẬT BẢN 74

MÔNG CỔ 79

HÀN QUỐC 82

THÁI LAN 87

HOA KỲ 91

VIỆT NAM 96

Trang 5

Từ viết tắt

ACOSS Agence centrale des organismes de sécurité sociale) (France)

ADA Americans with Disabilities Act (United States)

AFC Administradora de Fondos de Cesantía – a privatecompanymanaging UI (Chile)

AFIP Administración Federal de IngresosPúblicos - the national agency for tax collections - (Argentina)ALMP Các chính sách thị trường lao động chủ động

ANSES Cơ quan quốc gia về an sinh xã hội (Argentina)

ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á

BA BundesagenturfürArbeit (Germany)

BoE Cục Việc làm (Việt Nam)

CIO Trung tâm thông tin trung ương (Bahrain)

CRA Cơ quan trợ giúp thuế quan Canada

DE Bộ Việc làm (Hàn Quốc)

DoLISA Sở Lao động, Thương binh và Xã hội

DSD Bộ Phát triển kỹ năng nghề (Hàn Quốc)

DWRR Lao động dôi dư/Chương trình phản ứng nhanh (Mỹ)

EBSM Các biện pháp hỗ trợ và phúc lợi liên quan tới việc làm (Canada)

EI Bảo hiểm việc làm

EPL Luật Xúc tiến việc làm

ESC Trung tâm giới thiệu việc làm (Việt Nam)

ESO Trung tâm đảm bảo việc làm (Hàn Quốc)

FEA Cục Việc làm liên bang (Đức)

FLO Trung tâm lao động liên bang (Đức)

FNE Quỹ quốc gia về việc làm (Argentina)

FUTA Đạo luật liên bạng về thuế trợ cấp thất nghiệp (United States)

GDP Tổng sản phẩm quốc nội

HCMC Thành phố Hồ Chí Minh (Việt Nam)

I & C Điều tra và kiểm soát (Việt Nam)

ILO Tổ chức lao động quốc tế

LF Lực lượng lao động (Chile)

MLSGS Chương trình đảm bảo mức sống tối thiểu (Trung Quốc)

MoHRSS Bộ Nguồn nhân lực và dịch vụ xã hội (Trung Quốc)

MoLISA Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội (Việt Nam)

MTySS Bộ Lao động và Phúc lợi xã hội (Argentina)

NBLSS Hệ thống an sinh quốc gia về mức sống tối thiểu (Hàn Quốc)

OECD Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế

PPC Ủy ban nhân dân tỉnh (Việt Nam)

PSI Dịch vụ xã hội cấp tỉnh (Việt Nam)

RSA Revenu de solidarité active

SA Social Assistance (Canada)

SI Bảo hiểm xã hội (Việt Nam)

SIO Tổ chức Bảo hiểm xã hội (Bahrain)

SOE Doanh nghiệp quốc doanh (Trung Quốc)

SSA Đạo luật an sinh xã hội (Mỹ)

SSO Trung tâm an sinh xã hội (Hàn Quốc)

SSS Hệ thống an sinh xã hội (Hàn Quốc)

STA Trợ cấp ngắn hạn (Đức)

TAA Trợ cấp điều chỉnh thương mại (Mỹ)

UNEDIC Union nationale interprofessionnelle pour l'emploi dans l'industrie et le commerce (France)

UI Bảo hiểm thất nghiệp

U.S Hợp chủng quốc Hoa Kỳ

Trang 6

Bảo hiểm thất nghiệp ở các quốc gia khác nhau

Tháng 03/2012 A) Giới thiệu

Bối cảnh của nghiên cứu

Tại các quốc gia thuộc ASEAN, Chương trình đa phương-song phương ILO/Nhật Bản đang triển khai một

dự án nhằm thúc đẩy chương trình BHTN và các dịch vụ việc làm (Sau đây gọi là Dự án Bảo hiểm thấtnghiệp ASEAN) Một trong các mục tiêu của dự án là nhằm khuyến khích chia sẻ kiến thức và xây dựngmạng lưới chuyên gia trong khu vực ASEAN về các biện pháp đảm bảo thu nhập và các dịch vụ xúc tiến việclàm Bên cạnh đó là các hoạt động nhằm nâng cao nhận thức trong khu vực cũng như thúc đẩy các dự án tầmquốc gia thiết kế các hệ thống BHTN/BHVL (ví dụ như tại Malaysia, Indonsia và Philippines), Dự án BHTNASEAN tăng cường hỗ trợ Việt Nam trong việc điều chỉnh và cải thiện chương trình quốc gia về BHTN Nghiên cứu này nhằm minh chứng cho một loạt các chương trình thực tế kết hợp trợ cấp bằng tiền mặt vàphát triển kỹ năng nghề có thể được áp dụng hiệu quả nhằm bảo vệ những người lao động bị rơi vào tìnhtrạng thất nghiệp Nghiên cứu cũng sẽ trình bày một số các chương trình BHTN/BHVL của một số quốc giatrên thế giới Các bài học kinh nghiệm cũng như điển hình tiên tiến được rút ra từ đó sẽ giúp thúc đẩy vàcủng cố hệ thống BHTN và các dịch vụ việc làm tại khu vực ASEAN

Mục đích của Báo cáo này nhằm trình bày khái quát các đặc trưng và thực tiễn triển khai trong một số cácchương trình BHTN tại một số quốc gia trên thế giới Có 14 chương trình ở các quốc gia được lựa chọn trìnhbày trong báo cáo Báo cáo không nhằm đưa ra một loạt các cách tiếp cận khác nhau, mà theo chúng tôi bảnbáo cáo này sẽ đưa ra một góc nhìn bao quát về các chương trình tại các quốc gia khác nhau Hy vọng sẽ đủ

để cung cấp thông tin nhằm thảo luận và xem xét

Với mục đích đó, chúng tôi chọn các quốc gia sau đây: các quốc gia khu vực Bắc Mỹ: Mỹ và Canada; khuvực Nam Mỹ: Chile và Argentina; Châu Âu: Đan Mạch, Pháp và Đức; Trung Đông: Bahrain, Châu Á: ViệtNam, Thái Lan, Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc và Mông cổ Đặt 14 quốc gia trên trong bối cảnh hiện cókhoảng 70 quốc gia trên thế giới đang thực hiện trợ cấp thất nghiệp dưới một số hình thức khác nhau Điều kiện kinh tế, xã hội và thị trường lao động của mỗi quốc gia mang tính chất riêng biệt, nên cách tiếp cận

và giải pháp được áp dụng ở mỗi quốc gia thường phản ảnh điều kiện riêng biệt đó, phản ánh sự đồng thuận

xã hội đặc thù, phản ánh các mối liên hệ lịch sử đặc biệt, các tiến bộ và sự thỏa hiệp Không thể minh họa sự

đa dạng của các điều kiện trên, không có nghiên cứu nào có liên quan được coi là hoàn hảo

Chúng tôi xin được lượng thứ trước vì dù cho chúng tôi đã cố gắng để minh họa một bức tranh chân thực đốivới quốc gia mà đưa ra nhiều minh chứng nhất, vẫn còn có các sai sót, bất cập và các chi tiết quan trọng cóthể bị bỏ sót

Lịch sử phát triển

14 quốc gia được nghiên cứu trong Báo cáo này đã học hỏi kinh nghiệm từ quá trình triển khai chương trìnhbảo hiểm thất nghiệp (BHTN)/bảo hiểm việc làm (BHVL) trong vòng 578 năm, với quốc gia triển khai sớmnhất là Đan Mạch năm 1907 và quốc gia triển khai chương trình mới nhất là Việt nam năm 2009 Các quốcgia có nhiều kinh nghiệm nhất, thường ở khu vực Châu Âu và Bắc Mỹ, đã thực hiện nhiều thay đổi đáng kểđối với các chương trình trên trong quá trình thực hiện nhằm đảm bảo tính bền vững của Quỹ BHTN/BHVL

và nhằm đáp ứng sự thay đổi về nhu cầu đối với nền kinh tế và các thách thức của thị trường lao động

Trang 7

Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), kể từ khi thành lập vào năm 1919, đã ủng hộ việc triển khai chương trìnhBHTN BHTN là một trong chín nội dung của an sinh xã hội được nêu trong Công ước về an sinh xã hội (cáctiêu chuẩn tối thiểu), 1952 (Số 102) và đây cũng là công ước quan trọng nhất của ILO về an sinh xã hội.Công ước 102 quy định về các tiêu chuẩn tối thiểu như phần trăm dân cư được hưởng các chế độ an sinh xãhội, mức trợ cấp tối thiểu, điều kiện hưởng trợ cấp và thời gian hưởng trợ cấp Công ước về xúc tiến việc làm

và ngăn ngừa thất nghiệp, 1988 (Số 168) phát triển them các tiêu chuẩn và xác định các điều kiện hưởngBHTN như quá trình đủ điều kiện hưởng cũng như tạm dừng trợ cấp

Trong khi phần lới các quốc gia triển khai chế độ BHTN, Nhật Bản, Hàn Quốc và Canada đã triển khai kếhoạch BHVL trong đó kết hợp trợ cấp bằng tiền mặt với chính sách thị trường lao động chủ động nhằm hỗtrợ người lao động thất nghiệp tìm được việc làm nhanh chóng hoặc thực hiện đào tạo kỹ năng nghề để tìmkiếm và duy trì việc làm

Nhiều quốc gia ở khu vực Nam Mỹ và Châu Á đã triển khai các chương trình BHTN/BHVL với nguyênnhân từ cuộc khủng hoảng trong khu vực hoặc ở phạm vi quốc tế xảy ra – Hàn QUốc (từ khủng hoảng dầu

mỏ ở thập kỷ 70), Mông Cổ (từ cuộc khủng hoảng tài chính năm 1991), Thái Lan (từ cuộc khủng hoảng tàichính Châu Á năm 1997) và Việt Nam (từ khủng hoảng tài chính kinh tế toàn cầu năm 2008) Một số quốcgia khác đã áp dụng chương trình BHTN/BHVL nhằm thực hiện các biện pháp để đối phó với khủng hoảngnhư Chile (thảm họa động đất năm 2010) và Nhật Bản (thảm họa động đất năm 2011) và nhiều quốc gia khácđang tăng mức và thời gian hưởng trợ cấp với nguyên nhân là từ cuộc khủng hoảng tài chính kinh tế toàn cầunăm 2008) như Canada, Nhật Bản và Mông Cổ Tương tự như vậy, Trung Quốc và Mông Cổ khi chuyển từnền kinh tế xã hội chủ nghĩa sang nền kinh tế định hướng thị trường dẫn đến tình trạng nhiều người lao động

bị mất việc làm và ảnh hưởng tiêu cực tới các nhóm yếu thế cũng như tăng tỷ lệ nghèo

Hàn Quốc và Mỹ áp dụng các quy định hạn chế đối với số người lao động được sử dụng bởi một doanhnghiệp để người sử dụng lao động có thể tham gia bảo hiểm việc làm Hàn Quốc bắt đầu với quy định tốithiểu 20 người lao động sau đó giảm xuống còn 10 lao động và sau đó là xóa bỏ quy định hạn chế Tương tựnhư vậy, Luật Liên bang của Mỹ đầu tiên áp dụng đối với các cơ sở thuê từ 8 người lao động trở lên Mứcnày sau đó được giảm xuống 4 lao động và cuối cùng là 01 lao động vào năm 1972 Hiện tại, Việt Nam đang

áp dụng số lao động của người chủ sử dụng lao động từ 10 người trở lên để đủ điều kiện tham gia bảo hiểm;tuy nhiên, hiện quy định này cũng đang được sửa đổi

Tác động của việc áp dụng chế độ BHTN/BHVL đối với tỷ lệ thất nghiệp/sa thải lao động

Một chương trình BHTN được thiết kế hoàn chỉnh sẽ đóng một vai trò quan trọng nhằm tạo sự ổn định trongquá trình suy thoái kinh tế và tại các khu vực chịu ảnh hưởng Như đã trình bày, “Chương trình BHTN, gópphần bù đắp một phần thu nhập bị mất, giúp phá vỡ chu kỳ tiêu cực từ nạn thất nghiệp gia tăng dẫn đến giảmkhả năng tiêu dung, gây lên sự suy giảm sâu hơn đối với các hoạt động kinh tế” Các nghiên cứu tương tựcũng đưa ra kết luận, đối với cuộc khủng hoảng kinh tế diễn ra tại Mỹ giai đoạn 2008-2009, “Tác động bình

ổn của chương trình BHTN thường xuyên ước tính khoảng gần 1/10 tổng mức suy giảm GDP thực tế gây rabởi cuộc khủng hoảng Việc mở rộng các khoản trợ cấp cũng đóng vai trò bình ổn quan trọng Các tác độngtương tự cũng thể hiện ở các quốc gia có chương trình BHTN được triển khai với đối tượng và quy mô lớn Liên quan tới mục tiêu tổng thể của người sử dụng lao động và Chính phủ nói chung, việc triển khai chươngtrình BHTN có thể tạo động lực cho người thất nghiệp tìm kiếm các công việc thuộc diện tham gia bảo hiểm

Sự hỗ trợ từ chương trình BHTN trở thành một phần của các ưu điểm bao gồm hệ thống việc làm theo hợp

Trang 8

Người sử dụng lao động và xã hội nói chung cũng được hưởng lợi từ việc triển khai chính sách BHTN, giúpgiảm bớt khó khăn khi xử lý việc sa thải lao động, giảm bớt khả năng gây bất ổn xã hội Người lao động cóthể chấp nhận dễ dàng hơn đối với việc bị mất việc khi biết rằng ít nhất cũng có một sự hỗ trợ tạm thời đốivới họ trong quá trình tìm kiếm công việc mới

Cuối cùng, các chế độ BHTN cũng đóng vai trò ngăn chặn người lao động khỏi rơi vào tình trạng nghèo đói

và giúp họ giữ được tinh thần ổn định khi bị rơi vào tình cảnh thất nghiệp

Tuy nhiên, cũng có những tranh luận cho rằng trợ cấp thất nghiệp có thể tạo ra các động lực cản trở việc làm,dẫn đến tình trạng người lao động gian lận để hưởng trợ cấp và làm tăng thêm tỷ lệ thất nghiệp Tại Chi lê,các vấn đề nêu trên được xem xét kỹ lưỡng nhất và dẫn tới thành lập một chương trình dựa chủ yếu vào cáctài khoản tiết kiệm cá nhân, hơn là dựa vào các khái niệm bảo hiểm1

Việc áp dụng các độ BHTN giúp người tìm việc có thêm thời gian để họ tìm kiếm việc làm phù hợp với kinhnghiệm và năng lực, thay vì buộc người lao động phải chấp nhận làm công việc đầu tiên tìm được Nhờ đógiúp cải thiện sự phù hợp giữa công việc và người lao động, đó là lợi ích đối với cả người sử dụng lao động

và người lao động cũng như đối với nền kinh tế nói chung, ngay cả khi có thể dẫn đến khả năng tăng khoảngthời gian không có việc làm của người lao động

Do đó, có thể liên tưởng đến trường hợp người lao động được người sử dụng lao động cho phép nghỉ ốm, và

có thể có thời gian để bình phục thay vì phải làm việc với tình trạng sức khỏe không tốt

Có hai khía cạnh liên quan tới vấn đề nêu trên: thứ nhất, bất kỳ gian lận nào đều phụ thuộc rất lớn vào mức

độ tương đối của các chế độ BHTN hiện có, đặt biệt là tỷ lệ thu nhập thay thế cũng như vào giá trị tối đatuyệt đối được chi trả cho một tuần hay một tháng thất nghiệp; thứ hai, tác động bù đắp sẽ ở mức khiến chođối tượng thất nghiệp cần phải tích cực tìm kiếm việc làm, và sự giám sát hiệu quả quá trình tìm kiếm việclàm của các đối tượng đó Nếu thiếu sự giám sát hiệu quả, các chế độ BHTN đối với một số trường hợp sẽtrở thành các chế độ phúc lợi mang tính thụ động, như vẫn thường bị chỉ trích như vậy

Điều quan trọng là sự kết hợp giữa hai yếu tối Các chế độ trợ cấp rộng rãi hơn cần phải kèm theo quy địnhchặt chẽ về tìm kiếm việc làm, dù vậy thì ở những mức trợ cấp thấp hơn thì những tỷ lệ thay thế thu nhập vẫnyêu cầu liên quan đến hoạt động tìm kiếm việc làm của người lao động tuy ở một mức độ bớt chặt chẽ hơn Cho dù ở điều kiện nào thì trong thời gian gần đây các yêu cầu về nỗ lực tích cực tìm kiếm việc làm đã mangtính phổ biến ở hầu hết các quốc gia Có ý kiến tranh luận cho rằng điều cần thiết trên thực tế là sự vận hànhhữu hiệu của chương trình BHTN, đặc biệt khi các chế độ ở mức khá cao Tuy vậy, việc tăng cường sự tậptrung vào hệ thống lưu trữ dữ và báo cáo điện tử có thể dẫn đến các nguy cơ theo phương diện này vì lý do

bỏ qua các mối quan hệ trực tiếp giữa con người với con người Ở Mỹ đã áp dụng một quá trình để xác địnhcác đối tượng hưởng trợ cấp có khả năng phụ thuộc trợ cấp, qua đó tư vấn họ để báo cáo tới cho dịch vụ táitìm việc làm và giúp cho họ duy trì được sự đáp ứng các điều kiện hưởng trợ cấp khi họ tham gia vào cácdịch vụ như trên

Mặt khác, ở Canada dịch vụ trực tiếp trở nên tốn kém và phiền phức, và hiện tại thay vì vậy chuyển sang dựanhiều vào các báo cáo của đối tượng hưởng lợi, được thực hiện 2 tuần một lần, liên quan tới hoạt động tìmkiếm việc làm tích cực của họ Việc xác minh có chọn lọc vẫn được thực hiện đối với những đối tượnghưởng lợi “có nguy cơ cao”, có thể thực hiện phỏng vấn với một số đối tượng trong nhóm đối tượng trên.Đây có thể là cách tiếp cận thực tế khi mức trợ cấp không ở mức quá cao, ví dụ như tỷ lệ thu nhập thay thế ởmức 55% của thu nhập trước đó được áp dụng tại Canada

1 Chương trình BHTN tại Chi lê bao gồm một chế độ bảo hiểm hạn chế hoặc gồm các thành tố riêng rẽ đã được mở rộng ở mức độ nhất định vào tháng 5/2009

Trang 9

Các ví dụ hiện tại về yêu cầu chặt chẽ liên quan đến nỗ lực tìm kiếm việc làm là Đan Mạch và Pháp Ngượclại, các chế độ BHTN ở Chi lê và Argentina ít chú trọng đến nỗ lực tìm kiếm việc làm tích cực, cho dù có ápdụng chế độ báo cáo chính thức, thay vì vậy đặt phần lớn sự quan tâm vào việc thiết kế các chế độ phúc lợi -trên thực tế là việc áp dụng các chế độ phúc lợi thất nghiệp ở mức rất thấp

Các chế độ phúc lợi xã hội đảm bảo thu nhập phi đóng góp

Ở hầu hết các quốc gia có áp dụng chương trình trợ giúp xã hội phi đóng góp nhằm hỗ trợ người thất nghiệpkhông đủ điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp hoặc đã sử dụng hết khoản trợ cấp thất nghiệp được nhận Cácchương trình trợ cấp xã hội được được quản lý chung bởi các tỉnh/vùng và được tài trợ từ nguồn thuế củaChính phủ

Tại Hàn Quốc và Mỹ, có sự liên hệ giữa sự hộ trợ và yêu cầu tìm kiếm việc làm tích cực Tại Nhật Bản,Chính phủ xem xét nhu cầu của hộ gia đình, nếu trong trường hợp thu nhập của hộ gia đình xuống dưới mộtmức nhất định, sẽ tiến hành trợ cấp cho hộ gia đình Tại Mông Cổ, Chính phủ dựa vào các biện pháp của các

tổ chức phi chính phủ nhằm hỗ trợ cho các đối tượng có nhu cầu Bahrain áp dụng chế độ hỗ trợ xã hội miễnphí vì quy mô dân số nhỏ và sản lượng GDP cao Argentina áp dụng chế độ trợ cấp phổ cập đối với trẻ emcho các đối tượng có thu nhập thấp hoặc bị thất nghiệp có con dưới 18 tuổi hoặc bị khuyết tật

Pháp và Trung Quốc cũng triển khai một chương trình đảm bảo thu nhập tối thiểu, chương trình này rất có

ảnh hưởng tới thu nhập của hộ gia đình Tại Pháp, chương trình có tên là “Revenu de solidarité active - RSA

(Chế độ làm việc thu nhập tối thiểu)2” Được bắt đầu thực hiện năm 1998 dưới tên gọi “Revenu Minimum

d’Insertion” (RMI), chương trình thực hiện hỗ trợ các đối tượng gặp nhiều khó khăn nhất trong khi tìm kiếm

việc làm Mục tiêu là hướng tới các đối tượng không có bất kỳ nguồn thu nhập nào, các đối tượng ở độ tuổilao động nhưng không có các đủ điều kiện hưởng trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp Để có đủ điều kiện hưởngchế độ RMI, đối tượng phải từ 25 tuổi trợ lên hoặc có con, phải tìm việc trong vòng 03 tháng khi nhận đượckhoảng trợ cấp đầu tiên, cư trú tại Pháp (Đối tượng không phải là công dân EU cần có thời gian cư trú 05năm), không phải là đối tượng học sinh/sinh viên/có kinh nghiệm làm việc và chưa kết hôn Năm 2009,

chương trình RMI được thay thế bằng chương trình “Revenu de solidarité active-RSA” trong đó kết hợp hỗ

trợ thu nhập cho người thất nghiệp và các biện pháp khuyến khích trở lại thị trường lao động Ý tưởng củachương trình RSA là việc làm sẽ đem lại thu nhập cao hơn so với trợ cấp xã hội

Tại Trung Quốc, sự chuyển dịch từ nền kinh tế xã hội chủ nghĩa sang nền kinh tế thị trường cạnh tranh đã cócác tác động tiêu cực lên dân cư thành thị ở các đô thị lớn Chính phủ Trung Quốc đã áp dụng một chươngtrình phúc lợi nhằm giúp các cư dân thành thị chịu tác động năng nề nhất của quá trình cơ cấu lại nền kinh tế,

đó là chương trình trợ cấp bằng tiền mặt có tên là “Đảm bảo mức sống tối thiểu”, thường được biết đến với

tên là dibao3 Chương trình Dibaowas nhằm trợ giúp cho các cư dân thành thị có thu nhập của hộ gia đình ở

dưới mức thu nhập tối thiểu do địa phương quy định, cần thiết để đáp ứng mức sống tối thiểu Kinh phíchương trình được chia sẻ giữa chính quyền trung ương và chính quyền địa phương (chính quyền cấp tỉnh)

Chương trình dibaoline được xác định ở dưới mức lương tối thiểu và dưới mức trợ cấp BHTN nhằm khuyến

khích người lao động tìm kiếm việc làm

B) So sánh về mặt thiết lập chương trình BHTN/BHVL

Các đặc trưng chính của Chương trình BHTN/BHVL

Hầu hết các quốc gia coi các chương trình bảo đảm việc làm như là chương trình bảo hiểm thất nghiệp vì liên

Trang 10

đang áp dụng Ví dụ, Hàn Quốc gọi đó là chương trình bảo đảm việc làm nhằm nhấn mạnh sự kết hợp giữa

an sinh xã hội với các chính sách thị trường lao động

Nhìn chung, tất cả các quốc gia được nghiên cứu có một chương trình bảo hiểm quốc gia theo quy định củapháp luật cung cấp các khoản trợ cấp liên quan tới thu nhập trước đó Tuy nhiên, cũng có những trường hợpngoại lệ; ví dụ như Đan Mạch áp dụng chương trình bảo hiểm tự nguyện, thực hiện trợ cấp bằng tiền mặt cóthời hạn 02 năm căn cứ vào thu nhập trước đó Hệ thống bảo hiểm của Mỹ bao gồm 53 chương trình bảohiểm riêng biệt của các Bang, thực hiện trợ cấp tiền mặt tạm thời cho những người thất nghiệp bắt buộc trongquá trình họ tìm kiếm việc làm Chile đã triển khai một chương trình kết hợp giữa tiết kiệm và bảo hiểm,thực hiện trợ cấp tiền mặt khi người lao động bị mất việc làm Các trợ cấp liên quan trước tiên đến cáckhoản tiết kiệm cá nhân và có thể được hỗ trợ bởi một cấu phần bảo hiểm Trung Quốc ban hành các chínhsách quốc gia có liên quan nhưng chính quyền các tỉnh mới quản lý việc thực thi luật về BHTN, thu phí vàchi trả trợ cấp BHTN (mức đóng và tỷ lệ trợ cấp được quyết định tại cấp tỉnh và cấp địa phương)

Một số quốc gia có các phương thức độc đáo để cung cấp trợ cấp BHTN cho đối tượng thụ hưởng Bahrainban hành hai dạng chi trả trợ cấp: 1) Chế độ bồi thường đối với những người thất nghiệp bắt buộc và đangtích cực tìm kiếm việc làm và 2) Chế độ trợ giúp dành cho người tìm việc làn đầu, đó là những người không

có việc làm khi họ mới tham gia vào thị trường lao động Chile áp dụng chế độ kết hợp giữa tiết kiệm vàchương trình bảo hiểm, thực hiện trợ cấp bằng tiền mặt khi người lao động bị mất việc làm Đan Mạch ápdụng một chương trình bảo hiểm tự nguyện, thực hiện trợ cấp bằng tiền mặt căn cứ vào thu nhập trước đó vàkéo dài trong khoảng thời gian 02 năm danh cho người lao động đăng ký tham gia Quỹ BHTN trong trườnghợp bị mất việc làm

Ở hầu hết các trường hợp, lao động nước ngoài cũng được tham gia bảo hiểm ngoại trừ ở Việt Nam (Điều 6của Công ước ILO 168: tham gia bảo hiểm theo tiêu chuẩn cư trú) Hầu hết các chương trình theo quy địnhcủa luật pháp đều có sự tham gia của lao động làm công ăn lương hoặc người lao động toàn thời gian nhưngcũng có một số trường hợp ngoại lệ Các công chức đều được tham gia vào những chương trình bảo hiểmtrên ở hầu hết các quốc gia (Công ước ILO 168: bao gồm cả công chức, viên chức ngoại trừ các đối tượngthực hiện các công việc cho đến độ tuổi về hưu được đảm bảo bởi luật pháp quốc gia)

Tham chiếu cụ thể đối với sự phù hợp của chương trình BHTN/BHVL

Pháp áp dụng một chương trình đảm bảo tiền lương theo quy định của pháp luật, chương trình được giới chủ

sử dụng lao động giám sát và tài trợ, đồng thời được quản lý bởi “Union nationaleinterprofessionnelle pourl'emploidansl'industrie et le commerce (UNEDIC)” Một quỹ tương tự có tên là Chương trình đảm bảo tiềnlương (WCG) giúp đảm bảo việc chi trả khoản tiền lương còn nợ đối với người lao động (tiền lương, trợ cấpthôi việc.v.v.) trong trường hợp người sử dụng lao động bị phá sản Canada cũng áp dụng một chương trìnhđảm bảo tiền lương có thu phí, giúp đảm bảo việc chi trả các khoản còn nợ như tiền lương, tiền nghỉ phép,trợ cấp thôi việc, trợ cấp chấm dứt hợp đồng nếu doanh nghiệp tuyên bố phá sản và không thể trả được cáckhoản nợ

Các chương trình chia sẻ việc làm (tại Canada, Đức và Pháp) rất phổ biến đối với người sử dụng lao độngđặc biệt trong các thời điểm khó khăn hoặc trong cơn khủng hoảng Chia sẻ công việc là chương trình điềuchỉnh được thiết kế nhằm giúp người sử dụng lao động và người lao động tránh tình trạng sa thải nhân côngtạm thời do có sự suy giảm trong hoạt động kinh doanh bình thường vượt ngoài tầm kiểm soát của người sửdụng lao động Tại Canada, có các chế độ hỗ trợ thu nhập cho người lao động đủ điều kiện hưởng trợ cấpBHVL đang thực hiện công việc bị giảm giờ làm tạm thời trong khi hoạt động kinh doanh của người sử dụnglao động đang phục hồi Người lao động tại Canada tham gia chương trình chia sẻ công việc được coi là sẵnsàng làm việc và khoảng tiền lương bị suy giảm của họ được bù đắp bởi trợ cấp thất nghiệp để có được mứclương bình thường

Trang 11

Nhiều quốc gia kết hợp giữa trợ cấp bằng tiền mặt với các chính sách thị trường lao động chủ động nhằm hỗtrợ người lao động thất nghiệp có thể tìm việc làm nhanh chóng và duy trì được các công việc dài hạn.Chương trình BHVL của Hàn Quốc kết nối chặt chẽ giữa chương trình trợ cấp thất nghiệp với chương trình

ổn định việc làm cũng như chương trình phát triển kỹ năng nghề Theo đó, trợ cấp thất nghiệp được chiathành: 1) Trợ cấp tìm việc làm, nhằm hỗ trợ để tìm việc làm mới và 2) Trợ cấp xúc tiến việc làm, cùng vớitrợ cấp tìm việc làm nhằm cung cấp phúc lợi và và hỗ trợ tìm việc làm, tham gia đào tạo nghề và trang trảichi phí đi lại

Ở Nhật Bản, hệ thống BHVL được chia thành: i) Chương trình trợ cấp thất nghiệp (có đóng góp từ người laođộng và người sử dụng lao động) hỗ trợ cho người thất nghiệp (thu nhập thay thế, tư vấn nghề nghiệp, trợcấp đào tạo) và ii) Chương trình “Hai dịch vụ” (có đóng góp từ người sử dụng lao động và Chính phủ) cungcấp các dịch vụ ổn định việc làm và nâng cao năng lực của người lao động Trong quá trình triển khai, cáctrung tâm Hello Work quản lý hệ thống BHTN và thực hiện tư vấn nghề nghiệp và giới thiệu việc làm Bêncạnh đó, trung tâm Hello Work hướng dẫn quản lý việc làm đối với các doanh nghiệp nhờ vậy ngay từ thờiđiểm mới bắt đầu hoạt động, các doanh nghiệp có thể tạo ra một môi trường thuận lợi để duy trì việc làm,đặc biệt nhằm duy trì việc làm liên tục cho người cao tuổi cho đến khi họ được 65 tuổi và lên tới 70 tuổi theonhiều cách thức khác nhau

Một đặc trưng độc đáo khác của hệ thống Hello Work là giúp đỡ người mới ra trường tìm việc làm thông quaviệc bố trí các chuyên gia tư vấn đặc biệt Việc tăng cường chức năng của Hello Work nhằm hỗ trợ ngườimới ra trường phản ánh tình hình khó khăn về việc làm mà lao động trẻ gặp phải kể từ năm 2010

Các chính sách thị trường lao động của Đan Mạch đã được gọi là “an sinh linh hoạt’’ hoặc “tam giác vàng”:i) Thị trường lao động linh hoạt với sự hạn chế tối thiểu đối với quyền của người sử dụng lao động khi sa thảihoặc thuê mướn lao động; ii) hệ thống an sinh xã hội toàn diện và gọn nhẹ bao gồm chế độ BHTN cao, đặcbiệt đối với các trường hợp có thu nhập thấp và iii) Chính sách thị trường lao động chủ động, đòi hỏi ngườitìm việc phải nỗ lực ngày càng tăng để tìm việc làm thông qua tích cực tìm kiếm việc làm, giới thiệu việclàm, tư vấn và đào tạo kỹ năng

Thiết lập thể chế của các Quỹ BHTN/BHVL

Điều 27 của Công ước số 168 đề xuất các đại diện của đối tượng và người sử dụng lao động tham gia bảohiểm cần phối hợp quản lý chương trình BHTN, ít nhất ở mức độ thực hiện tư vấn

Ba chức năng chính của các chương trìn BHTN/BHVL là thu phí bảo hiểm, xử lý đề nghị hưởng trợ cấpBHVL và chi trả trợ cấp BHTN Nhìn chung, các cơ quan thuế vụ và cơ quan bảo hiểm xã hội có trách nhiệmthu phí BHTN (ở một số nước, các cơ quan trên còn tham gia chi trả trợ cấp BHTN – như tại Việt Nam vàBahrain) Các Bộ quản lý bảo hiểm xã hội và/hoặc lao động sẽ có trách nhiệm tiếp nhận và xử lý các yêu cầuhưởng trợ cấp BHTN (cũng có một số cơ quan tham gia chi trả trợ cấp BHTN – như tại Argentina, Canada,Pháp, Hàn Quốc)

Mông Cổ có ba thành tố riêng biệt tham gia vào chương trình BHTN: Tổng cục Bảo hiểm thất nghiệp – thuphí bảo hiểm, Cục Lao động và dịch vụ phúc lợi xã hội – tiếp nhận và xử lý các đề nghị hưởng trợ cấpBHTN và Bộ Phúc lợi xã hội và Lao động – chi trả trợ cấp

Tại Đan Mạch, đối tượng tham gia và các chế độ BHTN được tài trợ bởi các quỹ tư nhân, theo quy định củaNhà nước đặt ra Mức phí bảo hiểm của các quỹ là khác nhau nhưng ít hơn mức cần thiết để tài trợ cho các

Trang 12

Đối với hầu hết các trường hợp, khi kết thúc hợp đồng lao động, người sử dụng lao động sẽ ra thông báochính thức chấm dứt việc làm và người thất nghiệp phải thông báo sớm về văn phòng việc làm hoặc vănphòng BHTN để nộp thông báo trên sau khi mất việc làm Bên cạnh đó, nhiều quốc gia sử dụng một cuốn sổtay hoặc báo cáo về thu nhập được bảo hiểm và thời gian làm việc do người sử dụng lao động thực hiện vàcấp cho người thất nghiệp tại thời điểm hoặc ngay sau khi người lao động bị mất việc làm Cuốn sổ tay hoặcbáo cáo cũng được cơ quan thụ lý yêu cầu hưởng bảo hiểm để đánh giá tỷ lệ phúc lợi, thời gian hưởng củangười thất nghiệp cũng như xem xét liệu người lao động bị mất việc là tự nguyện hay bắt buộc

Tại Canada, người thất nghiệp được yêu cầu báo cáo cho Văn phòng xử lý đề nghị hưởng trợ cấp BHTN vớihầu hết các đề nghị hưởng trợ cấp đều được gửi qua mạng Internet Nhưng nhìn chung các các dịch vụ việclàm được cung cấp cho người lao động thất nghiệp khi họ đã hoàn thành việc gửi đề nghị hưởng trợ cấp quamạng

Hàn Quốc cũng thực hiện một chu trình theo đó người lao động thất nghiệp cần được xác nhận đủ điều kiệnhưởng trợ cấp từ Giám đốc Trung tâm đảm bảo việc làm (ESO) cũng như cần báo cáo cho ESO trong khoảngthời gian từ 1 đến 4 tuần (được quyết định bởi Giám đốc ESO) để chứng minh nỗ lực tìm kiếm việc làm của

họ trước khi được phép nhận trợ cấp BHTN

Về thực hiện trợ cấp thất nghiệp, người thất nghiệp có thể nhận chuyển trợ cấp trực tiếp qua tài khoản hoặcdưới dạng tiền mặt Ở Mông Cổ, hầu như tất cả người thất nghiệp đều nhận trợ cấp bằng tiền mặt Người thấtnghiệp ở các thành phố lớn tại Việt Nam được nhận trợ cấp thất nghiệp qua chuyển khoản vào tài khoản cánhân của người thất nghiệp trong khi người lao động tại khu vực nông thôn thường nhận bằng tiền mặt

C) SỰ ĐA DẠNG CỦA CÁC CẤU PHẦN CỦA CHƯƠNG TRÌNH BHTN/BHVL

Phân tích về tình hình thực tế và cách tiếp cận khác nhau tại 14 quốc gia liên quan tới thực hiện các chế độBHTN Khi xem xét các quy định, chúng tôi sẽ tham chiếu vào hai công ước chính của ILO liên quan đến trợcấp thất nghiệp là Công ước số 102 năm 1952 “Công ước An sinh xã hội (các tiêu chuẩn tối thiểu)” và Côngước 168 năm 1952 “Công ước xúc tiến việc làm và phòng chống thất nghiệp”

Đặc biệt, Công ước ILO số 102 được coi là “Công ước mang tính tiên phong của các Công ước ILO về ansinh xã hội, và là công cụ quốc tế duy nhất, dựa trên các nguyên tắc an sinh xã hội cơ bản, thiết lập các tiêuchuẩn tối thiểu trên phạm vi toàn cầu đố với tất cả 09 nhánh an sinh xã hội”4 Công ước ILO số

168 và Đề xuất số 176 thiết lập các tiêu chuẩn cao hơn liên quan tới trợ cấp thất nghiệp, chủ yếu được ápdụng ở các nước công nghiệp phát triển nhưng cũng có thể áp dụng cho các quốc gia khác

4 Trích từ trang web của ILO (http://www.ilo.org/public/english/protection/secsoc/areas/legal/conv102.htm) Năm

2002, Cơ quan điều hành ILO nhấn mạnh rằng Công ước số 102 và 168 là hai trong số 06 công ước được cập nhấtnhất về các công ước liên quan tới an sinh xã hội Xem thêm “Thiết lập các tiêu chuẩn an sinh xã hội trong một xã hộitoàn cầu, phân tích thực tiễn và các phương hướng tương lai về thiếp lập tiêu chuẩn an sinh xã hội toàn cầu trong Tổchức lao động quốc tế”, ILO, Geneva, 2008, Trang 6 -

(http://www.ilo.org/public/english/protection/secsoc/downloads/policy/policy2e.pdf)

Trang 13

Quy mô bảo hiểm

Từ quan đểm của lĩnh vực bảo hiểm, mục tiêu cơ bản của BHTN nhằm bảo trợ người lao động khỏi nguy cơ

bị mất việc làm Bên cạnh đó, một hệ thống được hỗ trợ kinh phí toàn bộ hoặc một phần thông qua nguồnđóng góp phí bảo hiểm chỉ bền vừng khi căn cứ vào một mức ngăn ngừa rủi ro đủ lớn Hai mục tiêu songsuongs trên được thỏa mản bằng cách mở rộng quy mô bảo hiểm tới phần lớn người lao động, thứ nhất nhằmđảm bảo trợ cấp trên thực tế cho càng nhiều càng tốt đối với số người lao động bị mất việc làm; thứ hai và

có tầm quan trong tương tự đó là việc chia sẻ kinh phí giữa số lượng lớn các nhóm đối tượng tham gia bảohiểm

Đóng góp bắt buộc sẽ là một rào cản về chi phí khi chỉ dựa vào đóng góp phí từ những người lao động cónhiều rủi ro bị mất việc làm, hoặc, xét theo một khía cạnh hoàn toàn khác, chương trình bảo hiểm sẽ là vô íchnếu chỉ nhằm bảo trợ các đối tượng có nguy cơ mất việc làm thấp

Điều 11 của Công ước ILO số 168 nhìn chung đòi hỏi các quốc gia phải áp dụng chương trình cho 85% tổng

số người lao động, bao gồm cán bộ việc chức trừ khi các đối tượng này được bảo trợ bằng chương trìnhkhác theo quy định của pháp luật Theo Điều 6, Công ước cũng quy định các quốc gia cần đối sử công bằng

và không phân biệt đối với tất cả đối tượng tham gia bảo hiểm Theo quy định của các hai Công ước, khôngyêu cầu bao gồm cả đối tượng lao động tự làm, do thực tế khó có thể đánh giá tình hình công việc của họ Công ước số 168 cũng đề cập tới lao động bán thời gian, bằng cách yêu cầu họ cần tham gia bảo hiểm trừ khi

số giờ làm việc hoặc thu nhập của họ được cho là ở mức rất thấp Do đó, Điều 25 quy định: “Mỗi quốc giathành viện phải đảm bảo các chương trình an sinh xã hội theo quy định của pháp luật dựa vào các hoạt độngnghề nghiệp được điều chỉnh theo tình trạng công việc của người lao động bán thời gian, trừ khi giờ làm việchoặc thu nhập của họ, được xem xét theo các điều kiện được quy định bởi pháp luật, ở mức rất thấp.” Cácđối tượng làm việc gần hết khoảng thời gian quy định cần được bao gồm trong đối tượng bảo hiểm, ngoại trừcác đối tượng chỉ làm việc một vài giờ trong tuần/tháng Các trường hợp ở giữa các điều kiện nêu trên, cầnphải xác định một điểm giới hạn phù hợp

Tại Bảng 1, trên thực tế 14 quốc gia được nghiên cứu đã áp dụng các chương trình bảo hiểm có quy mô khálớn mở rộng tới hầu hết số lao động làm công ăn lương Tuy nhiên, tình trạng bị loại trừ tham gia bảo hiểmvẫn còn tồn tại Ở một số quốc gia, cán bộ viên chức nhà nước được loại trừ áp dụng như tại: Argentina,Chile, Nhật Bản, Hàn Quốc và Thái Lan Các trường hợp bị loại trừ khác là nhóm người lao động có điềukiện làm việc rất đặc thù hoặc có mối liên hệ rất ít với lực lượng lao động Ví đụ như trường hợp lao độnggiúp việc gia đình tại Argentina, Bahrain và Chile; người lao động có thu nhập thấp tại Đức, Nhật Bản vàHàn Quốc; hoặc lao động tạm thời hoặc thời vụ tại Việt Nam

Một phương thức khác có tác dụng loại trừ những người lao động tại các doanh nghiệp sử dụng số lao độngthấp hơn mức quy định, nhưng trên thực tế cách thức giới hạn như vậy được coi như là một rào cản hơn làmột biện pháp hỗ trợ, dẫn đến tình trạng thị trường lao động phi thực tế hoặc tới các vấn đề về quản lý vàthực thi khi các doanh nghiệp tìm cách tránh đóng phí bảo hiểm Trên thực tế, những phương thức hạn chế đó

sẽ được dỡ bỏ sau một khoảng thời gian ngắn Ví dụ như tại Hàn Quốc (xóa bỏ các giới hạn tương tự vàonăm 1998, sau khoảng thời gian 03 năm triển khai chương trình BHVL) và tại Việt Nam (bắt đầu triển khaichương trình BHTN năm 2009 và đang dự định xóa bỏ quy định áp dụng bảo hiểm cho các doanh nghiệp sửdụng từ 10 lao động trở lên) Bahrain cũng sử dụng phương thức hạn chế áp dụng bảo hiểm đối với người lao

Trang 14

Bảng 1: Quy định về quy mô của các chương trình BHTN/BHTN

Trang 15

Quốc gia Đối tượng tham gia

Argentina - Gồm tất cả lao động làm công ăn lương ở khu vực tư nhân, ngoại trừ (i) lao động giúp việc gia đình, (ii) cán bộviên chức (Cấp liên bang, tỉnh và vùng), (iii) nhân viên của các cơ sở đào tạo tư nhân và (iv) Giảng viên tại các

trường đại học dân lập

Bahrain - Gồm tất cả lao động làm công ăn lương, bao gồm viên chức và người tìm việc làm lần đầu.- Gồm lao động nước ngoài và được hưởng trợ cấp thất nghiệp trên nguyên tắc

- Ngoại trừ: lực lượng vũ trang và an ninh

Canada - Gồm tất cả lao động làm công ăn lương, bao gồm cả lực lượng vũ trang và công chức viên chức.- Ngoại trừ: Lao động tự làm và chủ sử dụng lao động.

- Bao gồm cả người lao động giúp việc gia đình

- Có các quy định đặc biệt cho từng nhóm nhất định, ví dụ lao động phái cử, lao động tạm thời, người làm việctại nhà hoặc người lao động tham gia ngành nghệ thuật biểu diễn

Đức

- Bao gồm tất cả người lao động, ngoại trừ các đối tượng có thu nhập dưới 400 EURO/tháng

- Các đối tượng tự nguyện tham gia: Người lao động nuôi con trong thời kỳ bú sữa mẹ, người lao động tự làmtrong thời gian tối thiểu 15 giờ/tuần hoặc làm việc ngoài nước Đức, các quốc gia không thuộc Liên minh ChâuÂu

Nhật Bản

- Bao gồm tất cả người lao động, cả lao động trong nước và lao động nước ngoài, ngoại trừ: (i) người lao độngtrên 65 tuổi (Trừ đối tượng người lao động cao tuổi tiếp tục tham gia bảo hiểm); (ii) lao động bán thời gian cóthời gian làm việc dưới 200 giờ (ngoại trừ đối tượng bảo hiểm lao động công nhật); (iii) lao động tạm thời cóthời gian làm việc dưới 31 ngày và (iv) lao động thời vụ có thời gian làm việc dưới 04 tháng và 30 giờ/tuần

- Bao gồm cả lao động nước ngoài (phụ thuộc và dạng visa của người lao động)

- Người chủ doanh nghiệp nhỏ (dưới 50 lao động) được tự nguyện tham gia bảo hiểm

Thái Lan

- Bao gồm tất cả người lao động làm việc ở khu vực tư nhân, ngoại trừ: nông dân, người làm việc tại các tổ chứcngoại giao nước ngoài hoặc tổ chức quốc tế, lao động tạm thời và mùa vụ, các doanh nghiệp tham gia vàochương trình “Chương trình phúc lợi ưu đãi lao động” từ năm 2004 trở về trước

- Ngoại trừ: Công chức, viên chức và người lao động làm việc tại các doanh nghiệp nước ngoài (tham gia vàomột chương trình riêng biệt)

Trang 16

Ở hầu hết các quốc gia, các quy định về đối tượng tham gia bảo hiểm gặp khó khăn trong việc bao gồm cảngười lao động làm các công việc phi chính thức, vì lý do hiển nhiên hoặc là do ý kiến cá nhân của họ hoặc

do thói quen của người sử dụng lao động, một số đối tượng người lao động làm việc trong các hoạt động sảnxuất kinh doanh không đăng ký Cũng có thể khuyến khích những người lao động chưa đăng ký giúp họtham gia vào chương trình BHXH, nếu những người lao động đó nhận thức được các lợi ích như tiết kiệmchi phí, đặc biệt là về các phúc lợi tiềm năng trong tương lai gần như việc có thể được hưởng chính sáchBHTN trong trường hợp bị thất nghiệp

Cùng với xu hướng tương tự nêu trên, Hàn Quốc đã triển khai một dự án thí điểm vào tháng 02/2012 nhằmgiảm bớt sự loại trừ đối tượng tham gia BHXH bằng cách trợ cấp phí BHXH cho các đối tượng thu nhậpthấp chưa tham gia bảo hiểm trong các cơ sở sản xuất quy mô nhỏ Mục tiêu nhằm thúc đẩy sự tham gia củangười lao động vào chương trình BHVL và các chế độ hưu trí quốc gia Hàn Quốc đang có kế hoạch nhânrộng dự án ra toàn quốc từ tháng 7/20125

Phương pháp tiếp cận của Đan Mạch cũng đáng chú ý, không bởi vị việc tham gia vào chương trình BHTN

là tự nguyện mà còn là vì việc bao gồm cả các lao động tự làm Có thể thực hiện điều đó do trên thực tế hệthống BHTN được hỗ trợ kinh phí rất lớn từ Nhà nước, chiếm khoảng 70% tổng kinh phí Do vậy, người laođộng nhận thức được sự hấp dẫn về phí tham gia đối với chương trình BHTN, do vậy có xấp xỉ 80% sốngười lao động lựa chọn tham gia bảo hiểm Tình trạng lựa chọn không tham gia bảo hiểm vì lý do có thể rơivào tình trạng nghèo vẫn tồn tại nhưng hiển nhiên không là một trở ngại lớn, tham trí đối với các các laođộng tự làm6, vì số đối tượng lớn đã tham gia bảo hiểm

Gần đây, một số các quốc gia khác cũng mở rộng đối tượng tham gia BHTN tới các đối tượng lao động tựlàm, nhưng thường giới hạn với các đối tượng chủ doanh nghiệp và theo các điều kiện đặc biệt Ví dụ nhưHàn Quốc áp dụng bảo hiểm tự nguyện đối với các chủ doanh nghiệp quy mô nhỏ từ tháng 01/2012; từ năm

2006, Đức áp dụng bảo hiểm tự nguyện đối với người lao động khởi sự doanh nghiệp khi họ đang có việclàm hoặc khi đang nhận trợ cấp thất nghiệp; Áo (không trình bày trong nghiên cứu này) áp dụng chươngtrình BHTN tự nguyện từ năm 2009 với thời gian tham gia bảo hiểm 08 năm liên tiếp; bang California cũng

áp dụng bảo hiểm tự nguyện đối với các chủ doanh nghiệp sử dụng từ 01 lao động trở lên Còn quá sớm đểđánh giá mức độ thành công của việc mở rộng đối tượng tham gia nhưng qua đó cho thấy rằng ở một số điềukiện nhất định, có thể bao gồm cả các lao động tự làm vào trong một số các chương trình bảo hiểm

Điều kiện hưởng trợ cấp: các công việc đáp ứng điều kiện

Có hai khía cạnh liên quan tới điều kiện hưởng đầu tiên: thứ nhất, công việc trước đó và việc đóng phí bảohiểm cần thiết để đủ điều kiện hưởng và thứ hai, bản chất của rủi ro thất nghiệp, nghĩa là cho dù việc thấtnghiệp là hoàn toàn bị bắt buộc, dù được tính cả các trường hợp tự nguyện thôi việc, và cách thức giải quyếtđối với các trường hợp từ chức bắt buộc hoặc bất khả kháng Đối với vấn đề thứ nhất, cả Công ước 102 và

168 đều quy định thời gian đủ điều kiện hưởng không dài hơn thời gian đủ để tránh tình trạng lạm dụng

5 Nước Áo, không được trình bày tại nghiên cứu này, cũng đã áp dụng các biện pháp tương tự vào năm 2008

6 Xem phân tích tại “Rủi ro đạo đức quản lý trong bảo hiểm thu nhập”, MetteEjrnæs& Stefan Hochguertel, Tinbergen Institute Discussion Paper, TI 2008-065/3

Trang 17

Các quốc gia thường quy định thời gian tham gia đóng phí khoảng 06 hoặc 12 tháng để đủ điều kiện hưởng.Một số quốc gia áp dụng quy định thời gian đóng phí 06 tháng là Argentina, Chile (đối với các lao động thời

vụ ở hai quốc gia), Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc và Thái Lan Các quốc gia áp dụng quy định thời gian đóng phí

12 tháng để đủ điều kiện hưởng là Trung Quốc, Bahrain (tuy vậy cũng cho phép người tìm việc lần đầu cũngđược hưởng trợ cấp), Chi lê (đối với người lao động làm việc với hợp đồng dài hạn), Đan Mạch, Đức và ViệtNam Pháp có quy định thời gian để đủ điều kiện hưởng ngắn nhất, chỉ cần 04 tháng đối với các công việc cótham gia bảo hiểm Mông cổ có quy định thời gian đủ điều kiện hưởng dài nhất, tới 24 tháng tham gia đóngphí bảo hiểm, trong đó, 09 tháng gần nhất phải là khoảng thời gian đóng phí liên tục

Các quy định ở Canada có tính độc đáo nhất vì có sự kết nối với tỷ lệ thất nghiệp khu vực; vì vậy, có đốitượng có thể đủ điều kiện hưởng với khoảng thời gian làm việc chỉ đạt 420 giờ làm việc, hoặc khoảng từ 10đến 12 tuần làm việc toàn thời gian, nếu như đối tượng đó sống ở khu vực có tỷ lệ thất nghiệp cao (khi tỷ lệthất nghiệp cao hơn 13%) Chương trình BHVL của Canada cũng rất độc đáo thông qua việc thể hiện điềukiện làm việc chỉ bằng chỉ tiêu giờ làm việc (so sánh với chương trình BHTN tại Pháp quy định từ 122 ngàyhoặc 610 giờ làm việc) Ví dụ cho dù chương trình có ưu đãi, ví dụ đối với các lao động mùa vụ hoặc các đốitượng khác có thời gian làm việc nhiều, nhưng lại quy định chặt chẽ hơn đối với điều kiện hưởng dành cholao động bán thời gian mà trong đó phần lớn là lao động nữ

Xét vấn đề liên quan đến việc làm thời vụ và tình trạng thất nghiệp, Các quốc gia phải quyết định việc có thểxem xét trợ cấp thất nghiệp đối với lao động thời vụ, quyết định này dựa trên cấu trúc của nền kinh tế vàmong muốn hay nhu cầu hỗ trợ việc làm ở khu vực kinh tế có tính thời vụ hoặc tại các khu vực có tỷ trọngviệc làm thời vụ chiếm đa số Liên quan đến nội dung này, Điều 17.1 của Công ước số 168 giới hạn ở mức

đề xuất, bằng cách khuyến nghị các quốc gia “ nỗ lực điều chỉnh thời gian đủ điều kiện hưởng cho phù hợpvới tình trạng của lao động thời vụ”

Các nguyên tắc thực tế thường ngăn chăn việc yêu cầu hưởng trợ cấp có tính chất thời vụ lặp lại đối với trợcấp thất nghiệp, bởi vì việc chi trả trợ cấp sau đó sẽ trở thành một vấn đề gần với thực tế hơn là đối tượngchính của bảo hiểm Theo các nguyên tắc đó, khoảng thời gian gần một năm có thể được xác định là mộtkhoảng thời gian đủ điều kiện hưởng trợ cấp, cho dù cũng sẽ có một số trường hợp linh động khi áp dụng Ví

dụ, các quy định linh hoạt như các quy định về các tháng tham gia đóng phí bảo hiểm liên tục, như 09 thángtại Bahrain hay thậm chí 09 tháng tại Mông Cổ sẽ loại trừ nhiều người tìm việc có điều kiện hưởng Trườnghợp tương tự là Chile, áp dụng thời gian làm việc 12 tháng liên tiếp để đủ điều kiện tham gia một số chế độthuộc BHTN, nhưng sau đó từ năm 2009 thay thế bằng quy định thời gian đóng 12 tháng trong khoảng thờigian 24 tháng và chỉ có 03 tháng gần nhất yêu cầu tham gia đóng phí liên tục

Canada, Pháp, Đức và phần lớn các bang của Mỹ (38 trong tổng số 53 đơn vị lập pháp địa phương) áp dụngtrên thực tế các chương trình BHTN chi trả trợ cấp cho lao động thời vụ Ví dụ tại Canada khoảng 50% tổng

số trợ cấp thất nghiệp được chi trả cho những đối tượng đề nghị hưởng lần đầu tiên (được xác định là các đốitượng không đề nghị được hưởng trợ cấp trong khoảng thời gian 05 năm trước đó), phần còn lại được chi trảcho các đối tượng hoặc là đề nghị chi trả trợ cấp hàng năm hoặc khá thường xuyên Tại Đức, trợ cấp ngắnhạn dành cho lao động thời vụ được chi trả với chức năng tương tự, thông qua việc cho phép các doanhnghiệp chuyển đổi giờ làm việc cho phù hợp với sự biến động kinh tế mang tính thời vụ trong ngành xâydựng hoặc các ngành khác có sự biến động mùa vụ, thường gây ra bởi điều kiện thời tiết xấu

Trang 18

Điều kiện hưởng trợ cấp: lý do thất nghiệp

Có việc làm đáp ứng điều kiện hưởng trợ cấp là một mặt, mặt khác là cách thức và nguyên nhân tại saongười lao động bị mất việc làm Trợ cấp thất nghiệp thường với mục đích chính là giúp giải quyết đối vớitình trạng sa thải nhân công vì lý do kinh tế hoặc do sự cần thiết đối với doanh nghiệp Do vậy, Điều 20 củaCông ước 168 cho phép từ chối chi trả trợ cấp đối với trường hợp người lao động mất việc làm do hành vi saiphạm của họ hoặc nghỉ việc mà không có lý do chính đáng, hoặc trường hợp họ mất việc làm do tranh chấplao động Công ước 102 cũng có các quy định tương tự

Tuy nhiên, ở hầu hết các quốc gia đều cho phép chi trả trợ cấp thất nghiệp trong trường hợp người lao động

bị buộc phải nghỉ việc vì lý do như nợ lương, lạm dụng, điều kiện làm việc nguy hiểm hoặc các hành vi tráipháp luật của người sử dụng lao động Khi thảo luận về các trường hợp loại trừ và các biện pháp xử phạt liênquan đến BHTN; năm 2000, Tổ chức OECD có nhận xét: “Tất cả các quốc gia đều nhận thức được các hành

vi vi phạm nghiêm trọng của người sử dụng lao động có thể được coi là lý do xác đáng để chấm dứt côngviệc” 7

Ở một số trường hợp khác, cho dù không liên quan tới công việc của người lao động, cũng thường được chấpnhận, ví dụ như trường hợp người lao động nghỉ việc để đi cùng vợ/chồng tới nơi ở mới hoặc chuyển chỗ ở

để tránh bạo hành gia đình; các lý do trên được chấp nhận tại Pháp, Canada, phần lớn các bang của Mỹ và có

lẽ cũng được chấp nhận ở các quốc gia khác

Việc xác định hành vi sai phạm của người sử dụng lao động hoặc xác định các lý do xác đáng khác khi nghỉviệc sẽ thường đòi hỏi sự xem xét và đánh giá kỹ lưỡng Cũng có thể có nhu cầu cân đối và đánh giá các ýkiến trái ngược nhau của người sử dụng lao động và người lao động đã làm việc cho họ Do vậy, sẽ cần tớimột đội ngũ cán bộ có năng lực và được đào tạo kỹ càng bên cạnh sự hướng dẫn cụ thể để xác định “nguyênnhân xác đáng” dẫn đến nghỉ việc

Trong nhóm 14 quốc gia hiện tại, Chỉ có Chile hoàn toàn từ chối chấp nhận các lý do xác đáng dẫn đến nghỉviệc, khi người lao động đề nghị hưởng trợ cấp BHTN Cách thức duy nhất của người lao động là khiếu nạingười chủ sử dụng lao động cũ Nhưng cũng trong cùng một quóc gia và ở một thái cực khác, thậm chí cảngười tự nguyện thôi việc cũng được nhận đủ và ngay lập tức khoản trợ cấp khi đề nghị chi trả trợ cấp từ cấuphần tiết kiệm cá nhân của chương trình BHTN Chương trình BHTN của Việt Nam cũng chi trả trợ cấpBHTN cho cả những người lao động tự nguyện thôi việc Cho dù đã có hai ví dụ trên, việc chi trả trợ cấp mộtcách vô điều kiện đối với những người lao động tự nguyện thôi việc rất khó hài hòa với các mục tiêu cơ bảncủa chương trình BHTN

Một số quốc gia đã thực hiện cách tiếp cận hữu hiệu hơn, khi chỉ chi trả trợ cấp thất nghiệp cho các đốitượng thôi việc tự nguyên sau khi đã chờ đợi một khoảng thời gian kéo dài (ví dụ, sau khoảng thời gian chờ 5tuần tại Đan Mạch, 4 tuần tại Pháp, 12 tuần tại Đức và 3 tháng tại Nhật Bản) Tại Thái Lan, việc chi trả trợcấp đối với người thôi việc sẽ không bị chậm chễ nhưng sẽ chỉ được chi trả ở một mức thấp (30% thu nhậptrước đó) và trong một khoảng thời gian ngắn hơn Mỗi cách tiếp cận nêu trên thể hiện sự hài hòa mang tínhthực tiễn và có thể quản lý được

7 Triển vọng việc làm của OECD năm 2000, Chương 4, “Tiêu chuẩn hưởng BHTN”, trang 148

Trang 19

Khoảng thời gian chờ trước khi nhận được khoản trợ cấp đầu tiên

Khi điều kiện hưởng đã được xác định, hầu hết các quốc gia sẽ quy định một khoảng thời gian chờ đợi banđầu trước khi thực hiện chi trả trợ cấp Khoảng thời gian chờ hưởng trợ cấp BHTN là khoảng thời gian bắtđầu thất nghiệp mà chưa được nhận chi trả trợ cấp, điều này đòi hỏi đối tượng bảo hiểm chịu một phần rủi ro

bị thất nghiệp Khoảng thời gian đó nhằm vào các mục tiêu sau:

• Thứ nhất, để tạo ra một khoản đóng góp, tương tự như bảo hiểm ôtô và các loại hình bảohiểm khác, giúp ngăn ngừa việc các đối tượng đề nghị hưởng các trợ cấp có giá trị nhỏ hoặc

Tóm lại, trợ cấp thất nghiệp nhìn chung không nhằm giải quyết đối với các quá trình chuyển đổi ngắn hạn từcông việc này sang công việc khác mà nhằm vào các khoảng thời gian ngắt quãng việc làm lâu hơn, có thểdẫn tới những khó khăn về mặt tài chính

Công ước 168 và 102 đều quy định khoảng thời gian chờ tối đa là 07 ngày Hầu hết các quốc gia có quy địnhthời gian chờ là 01 tuần và một số trường hợp không phổ biến lại không quy định khoảng thời gian chờ đợinào Các nước như Pháp, Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan, Bahrain và hầu hết các bang của Mỹ áp dụngkhoảng thời gian chờ là 01 tuần Trong khí đó Argentina, Trung Quốc, Đức và Mông Cổ không áp dụngkhoảng thời gian chờ Canada áp dụng khoảng thời gian chờ 02 tuần Đan Mạch không áp dụng thời gian chờđối với lao động làm công ăn lương nhưng áp dụng thời gian chờ là 03 tuần đối với lao động tự làm

Bồi thường thôi việc và các thu nhập khi thôi việc

Các khoản thu nhập khi thôi việc gồm có bồi thường thôi việc, thường được chi trả nhằm bù đắp cho khoảngthời gian làm việc lâu dài, nhưng cũng liên quan đến khoản tiền lương còn nợ hoặc tới kỳ nghỉ được trảlương chưa thực hiện Pháp luật quốc gia cũng thường xuyên yêu cầu người sử dụng lao động thông báotrước khi sa thải lao động, trừ khi người lao động bị mất việc được trả một khoản tiền tương ứng: người sửdụng lao động cần phải chi trả khoản tiền tương ứng, ví dụ như chi trả khoản tiền tương ứng với 04 tuần tiềncông thay vì thông báo trước cho người lao động rằng họ sẽ nghỉ việc sau 04 tuần tới

Khoản tiền lương còn nợ được xác định liên quan tới các dịch vụ được người lao động trước khi bị mất việclàm Khoản tiền đó cũng được coi là cơ sở để tính mức phí BHTN/BHVL cũng như tính gộp vào với tiềnlương cơ sở được sử dụng nhằm xác định thu nhập trước đó và khoản trợ cấp thất nghiệp có liên quan Thanh toán đối với các kỳ nghỉ được trả lương nhưng chưa thực hiện có thể tương tự xét theo mặt khái niệmđối với việc tiếp tục chi trả tiền lương của người lao động trong một khoảng thời gian phù hợp, và cũng đượccăn cứ để xác định phí đóng BHTN/BHVL Trên nguyên tắc, trợ cấp thất nghiệp không được chi trả cho đếnkhi hết khoảng thời gian đó Áp dụng tương tự như vậy đối với bất kỳ khoản thanh toán nào được chi trả gắn

Trang 20

Nếu các trường hợp nêu trên đã khá rõ ràng, trường hợp tương tự không thể được áp dụng đối với bồi thườngthôi việc Khoản bồi thường thôi việc và trợ cấp BHTN có thể phục vụ một mục đích chung và vì vậy có thểphần nào bổ trợ cho nhau, vì cả hai công cụ đó đều hỗ trợ về mặt tài chính đối với người lao động bị mất việclàm Tuy nhiên, bồi thường thôi việc được chi trả cho dù người lao động sau đó có bị thất nghiệp hay không,

và số tiền được xác định không xem xét đến khả năng hoặc khoảng thời gian bị thất nghiệp trong tương lai.Thông thường, người lao động bị sa thải vì hành vi sai phạm không được nhận bồi thường mất việc, điều nàydẫn tới tình trạng một số người sử dụng lao động kiến nghị một cách bất công về hành vi sai phạm của ngườilao động Bồi thường thôi việc và trợ cấp BHTN cũng được phân biệt dựa trên thực tế là một khoản đượcquy định theo Luật Việc làm và không được ứng trước, trong khi khoản kia được quy định tại Luật Bảo hiểm

xã hội và được Nhà nước đảm bảo

Nhìn chung, bồi thường thôi việc do vậy là công cụ kém độ tin cậy và hiệu quả hơn trợ cấp BHTN trong việcbảo trợ người lao động khỏi tác động của tình trạng thất nghiệp Việc chi trả thực tế tùy thuộc vào năng lựctài chính của người sử dụng lao động và khả năng của người lao động trong việc đề nghị thanh toán, đây cóthể và thường là vấn đề nan giải

Theo bối cảnh đó, làm thế nào các quốc gia có thể lồng ghép chương trình BHTN với bồi thường thôi việc,trường hợp nào và khi nào có thể thực hiện được điều đó?

Chúng tôi nhận thấy tại Argentina, Chile và Thái Lan, các chương trình BHTN không quan tâm tới khoản bồithường thôi việc Do vậy, trợ cấp BHTN được chi trả toàn bộ ngay cả trong trường hợp tồn tại yêu cầu theoluật định về việc chi trả khoản tiền khi chấm dứt sử dụng lao động Luật của Argentina cũng bao gồm mộtquy định cho phép giảm trừ bồi thường thôi việc ra khỏi các khoản trợ cấp BHTN nhưng quy định này chưađược áp dụng Đặc biệt đối với trường hợp của Chile, theo đó tổng thời gian lũy kế người sử dụng lao độngđóng góp vào tài khoản tiết kiệm BHTN của người lao động, kể từ khi bắt đầu chương trình BHTN năm

2002, bị khấu trừ ra khỏi khoản bồi thường thôi việc trong tương lai, khoản này được sử dụng gián tiếp nhằmtạm ứng trước đối với các khoản thanh toán đó (như vậy, người sử dụng lao động ứng trước khoảng 20%tổng giá trị bồi thường thôi việc của họ) Theo cách này, trợ cấp BHTN không giảm đi, thay vì đó bồi thườngthôi việc bị giảm xuống

Tại Canada và một số bang của Mỹ, bồi thường thôi việc được khấu trừ khỏi khoản trợ cấp BHTN nếu đượcthanh toán, được thực hiện nhằm trì hoãn việc bắt đầu đề nghị hưởng trợ cấp BHTN Tuy nhiên, điều nàykhông tương tự tại tất cả các bang của Mỹ vì luật pháp ở một bang coi bồi thường thôi việc có liên hệ toàn bộđối với công việc được thực hiện trước đó Theo chương trình BHTN của Mông Cổ, có thể trì hoãn việc bắtđầu hưởng trợ cấp BHTN cho đến thời điểm sau khi được thanh toán lần cuối về bồi thường thôi việc TạiViệt Nam, người sử dụng đã phải chi trả bồi thường thôi việc cho đến thời điểm này 01/01/2009 nhưngkhông cần thiết chi trả cho bất kỳ người lao động nào đang tham gia chương trình BHTN kể từ thời điểmnêu trên8

Trong hai thái cực đó, Pháp dường như ở vị trí trung gian, vì chương trình BHTN có thể trì hoãn quá trìnhbắt đầu hưởng trợ cấp BHTN nhưng chỉ ở trường hợp khoản tiền bồi thường thôi việc cao hơn mức tối thiểutheo quy định của pháp luật Mức bồi thường thôi việc tối thiểu được quy định bởi pháp luật và có thể đượccải thiện thông qua các Thỏa ước lao động tập thể

Không có hiểu hiện về ảnh hưởng từ việc khấu trừ bồi thường thôi việc khỏi trợ cấp thất nghiệp hoặc ảnhhưởng của bồi thường thôi việc đến việc chi trả trợ cấp thất nghiệp ở các quốc gia còn lại được nghiên cứutrong báo cáo này, đó là Bahrain, Đan Mạch, Đức, Trung Quốc, Mông Cổ, Hàn Quốc, Nhật Bản và Thái Lan

8 Điều 139.- Quy định chuyển hưởng, Khoản 6 của Luật Bảo hiểm xã hội (2006) quy định: " Khoản thời gian người lao

động đóng phí BHTN theo quy định của luật này không được tính để hưởng trợ cấp mất việc hoặc bồi thường thôi việc theo các quy định của Luật Lao động hoặc Luật cán bộ và công chức."

Trang 21

Tiếp tục hưởng trợ cấp

Khi người thất nghiệp đã được xác định đủ điều kiện hưởng trợ cấp, họ phải duy trì các điều kiện hưởng trợcấp nhằm nhận khoản hỗ trợ một cách thường xuyên Các quy định về BHTN/BHVL thường yêu cầu ngườitìm việc tích cực tìm việc làm và họ duy trì khả năng và sự sẵn sàng làm việc ở mọi thời điểm Điều nàytương tự như quy định tại Điều 10.1 của Công ước số 168 Trên thực tế, các đối tượng đề nghị hưởng trợ cấpthường được yêu cầu báo cáo thường xuyên cho Trung tâm việc làm địa phương một các trực tiếp hoặc, theomột số chương trình BHTN/BHVL ở một số quốc gia, qua thư tín hoặc điện thoại hoặc thậm chí qua mạngInternet Người lao động cũng được yêu cầu báo cáo các biện pháp đã thực hiện để tìm kiếm việc làm, nhưtên của người sử dụng lao động đã có liên hệ Các yêu cầu báo cáo đó thường trùng với tần suất thanh toán,nghĩa là báo cáo hàng tháng trong trường hợp trợ cấp được chi trả hàng hàng (như tại hầu hết các chươngtrình BHTN/BHVL) hoặc hai tuần/lần trong trường hợp trợ cấp được chi trả 2 tuần/lần (như ở Canada vàMỹ)

Người đề nghị hưởng trợ cấp cũng phải chấp nhận bất kỳ công việc nào phù hợp và được giới thiệu cho họ,

có xét đến kinh nghiệm, trình độ đào tạo và các đặc trưng của các nhân, theo như quy định tại Điều 21 củaCông ước số 168 liên quan tới các biện pháp đào tạo và việc làm cũng cần được tuân thủ, cùng với các quyđịnh tại Điều 20 (f) của Công ước số 168 và Điều 69 (h) của Công ước số 102

Tuy nhiên, mức độ thực hiện các quy định trên ở các quốc gia có sự khác biệt khá lớn, và nếu trong trườnghợp không được triển khai, có nguy cơ rằng trợ cấp thất nghiệp có thể bị coi là “trợ cấp thụ động” như đôikhi được đề cập tới như vậy Nhưng đặc tính này không nên áp dụng một cách đồng đều đối với các cá nhânngười tìm việc, phần lớn trong số người tìm việc ở hầu hết các trường hợp mong muốn có việc làm đem lạithu nhập hơn là được nhận trợ cấp thất nghiệp Ví dụ như tại Canada, chỉ có 27% số người hưởng trợ cấp thấtnghiệp hưởng hết khoảng thời gian trợ cấp và phần lớn người hưởng trợ cấp (55%) báo cáo tìm được việclàm được trả công trong thời gian hưởng trợ cấp9

Một phần trong chiến lược nhằm hỗ trợ các đối tượng thất nghiệp, tại Pháp, Đức và một số các quốc gia khác

đã áp dụng các chương trình phát triển kỹ năng và tái tìm việc làm được cá nhân hóa ngay khi đối tượng đềnghị hưởng trợ cấp Đan Mạch đã thực hiện việc kết nối chế độ trợ cấp thất nghiệp ở mức cao với yêu cầubắt buộc người lao động phải nỗ lực tích cực tìm kiếm việc làm, mức độ nỗ lực của người lao động dự tínhngày càng tăng khi thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp kéo dài hơn Tại Mỹ, một quá trình được thực hiệnvới tên gọi là các Dịch vụ tái tìm việc và đào tạo kỹ năng cho người lao động nhằm phát hiện và xác địnhmục tiêu để thực hiện các biện pháp với các đối tượng có xu hướng bị thất nghiệp trong khoảng thời gian dài

Những đề xuất trên nêu bật lên nhu cầu có các biện pháp và cách tiếp cận được cá nhân hóa ngay cả trong kỷnguyên hệ thống tự động hóa và các quá trình ra quyết định hiện đại Với bản chất của rủi ro thất nghiệp xéttheo khía cạnh về mặt cá thể và mặt cá nhân, các chương trình BHTN không thể đủ tin cậy để chỉ phụ thuộcvào các hệ thống máy tính thuần túy Để thực hiện như vậy có thể áp dụng hình thức quản lý thụ động hơn là

áp dụng các hỗ trợ tích cực Theo đó, các chi phí hành chính có thể giảm đến mức tối thiểu nhưng tính hiệuquả của các chương trình có thể bị giảm sút khi hỗ trợ người lao động tìm việc làm phù hợp Chương trìnhBHTN của Chile thể hiện rõ vấn đề này: đồng thời, nếu chương trình đạt hiệu quả cao trong việc thu phí bảohiểm và chi trả trợ cấp, sẽ có ít hoặc không có vai trò hoặc động lực đễ hỗ trợ người lao động tìm kiếm việc

Trang 22

Khoản thưởng một lần về tái tìm việc làm

Có hai quốc gia thực hiện chi trả khoản trợ cấp một lần khi người lao động tìm được việc làm thay thế TạiHàn Quốc, trường hợp người sử dụng lao động tìm được việc làm trước khi nhận tất cả trợ cấp thì đượcthưởng khoản tiền bằng 50% tổng khoản trợ cấp chưa được chi trả Ví dụ, trường hợp người lao động đượchưởng trợ cấp trong khoảng thời gian 06 tháng và đã tìm được việc làm sau khoảng thời gian 02 tháng hưởngtrợ cấp, người lao động đó có thể được nhận một lần khoản trợ cấp tương ứng với số tiền trợ cấp của 02tháng Do kinh phí ngày càng tăng đối với khoản thưởng nêu trên đã dẫn tới việc thắt chặt các quy định liênquan vào năm 2009, các ảnh hưởng của việc thắt chặt nêu trên chưa được đánh giá10

Tại Việt Nam, chương trình BHTN cho phép các cá nhân có thể nhận trợ cấp một lần đối với tất cả khoản trợcấp BHTN chưa được chi trả trong trường hợp tìm được việc làm hoặc nhập ngũ, thậm chí khi người laođộng trở lại làm việc với cùng chủ sử dụng trước đó Như đã trình bày trước đó, kết hợp với các quy địnhcho phép chi trả trợ cấp đối với tất cả các đối tượng thôi việc hoặc bị mất việc làm, dường như tất cả nhữngngười mất việc hoặc thôi việc đều được nhận trợ cấp tối đa – đây là hình thức có thể không hợp lý trong dàihạn

Các dự án thí điểm về chi trả khoản thưởng về tái tìm việc làm được thực hiện ở 04 bang khác nhau tại Mỹtrong thập kỷ 80 và 90 Đầu tiên, các kết quả được đánh giá mang tính tổng hợp hoặc không chắc chán, cho

dù các đánh giá tiếp theo liên quan tới các dự án thí điểm trên đã mang tính tích cực hơn

Nhìn chung, cần chú ý tới các kết luậu sau đây được rút ra từ một nghiên cứu vào năm 2010: “Tổng kết lạicác nghiên cứu về xử phạt liên quan tới trợ cấp và các khoản thưởng về tái tìm việc làm, điều rõ ràng là cácbiện pháp khuyến khích về mặt tài chính, không xét tới liệu các biện pháp đó có tác động tích cực hay tiêucực, giúp tăng tỷ lệ người lao động tìm kiếm việc làm Ảnh hưởng của các xử phạt liên quan tới trợ cấpdường như lớn hơn ảnh hưởng của các khoản thưởng về tái tìm việc làm11 tương tự nhu vậy, đối với nhiềuhay đa số các chính sách thị trường lao động, trên thực tế rất cần phải thiết kế và xác định mục tiêu của cácbiện pháp đó một cách kỹ lưỡng

Thời gian hưởng trợ cấp

Khi người lao động đã đủ điều kiện hưởng trợ cấp, yếu tố thời gian và mức độ trợ cấp là các yếu tố chínhtrong chế độ trợ cấp Theo Điều 19 của Công ước số 168, thời gian hưởng trợ cấp tối thiểu là 26 tuần trongtình trạng thất nghiệp trong mỗi khoảng thời gian thất nghiệp tương ứng; hoặc từ 39 tuần trở lên đối với bất

kỳ khoảng thời gian 02 năm Công ước số 102 quy định khoảng thời gian hưởng trợ cấp tối thiểu là 13tuần/năm

Khoảng thời gian hưởng trợ cấp tối đa đối với người tìm việc làm thay đổi tương đối ít giữa các quốc gia.Các quyết định đó phản ánh tình hình cụ thể ở mỗi quốc gia, các đặc trưng về người thất nghiệp ở mỗi quốcgia, cũng như các quan điểm mang tính địa phương về sự công bằng và lợi ích tương đối, dẫn tới các quanngại về tình trạng gian lận và mức tiêu dùng mong muốn

Khoảng thời gian hưởng trợ cấp cũng gắn liền với các điều kiện hưởng trợ cấp, do vậy các quốc gia với điềukiện “thông thoáng” về các điều kiện hưởng trợ cấp lại có xu hướng áp dụng khoản thời gian hưởng trợ cấptương đối ngắn với các đối tượng đủ điều kiện hưởng nhưng có nỗ lực làm việc tối thiểu

10 Xem: “Các vấn đề lao động của Hàn Quốc 2010”, Biên tập: Kiu-SikBae, Việc Lao động Hàn Quốc, tháng 04/2011,

từ trang 28 đến 30, tại trang web –

http://www.kli.re.kr/kli_ehome/publication/vew.ehome-100007?ifEnDataExist=1&seq=6936

11 “Củ Cà rốt và cây gậy: Thưởng tái tìm việc và xử phạt liên quan đến trợ cấp ảnh hưởng tới tỷ lệ tìm việc làm như thế nào”, Bas van der Klaauw& Jan C van Ours (TI 2010-064/3, Tinbergen Institute Discussion Paper)

Trang 23

Một số quốc gia thực hiện chi trả trợ cấp BHTN nhiều hơn 12 tháng Thường được thực hiện cho các đốitượng đề nghị hưởng trợ cấp có thời gian làm việc lâu hơn Mông Cổ thực hiện chi trả trợ cấp BHTN thấpnhất (2,5 tháng) Đan Mạch chi trả trợ cấp trong vòng 02 năm đối với các đối tượng đủ điều kiện tham giađóng phí bảo hiểm trong vòng 52 tuần12 Tương tự như vậy, Bahrain cũng áp dụng khoảng thời gian hưởngtrợ cấp ngắn là 06 tháng (với khoảng thời gian 12 tháng làm công việc có tham gia bảo hiểm)

Cũng giống như Đan Mạch, Pháp áp dụng thời gian hưởng trợ cấp lên tới 02 năm Tuy nhiên, bắt đầu ởkhoảng thời gian 04 tháng hưởng trợ cấp sau 04 tháng tham gia bảo hiểm cho tới khoảng thời gian giới hạnnêu trên Canada cũng áp dụng một khoảng thời gian hưởng trợ cấp ngắn dành cho các đối tượng có đủ điềukiện hưởng trợ cấp với tổng số thời gian làm việc tương đối thấp, ngoại trừ trường hợp chương trình BHVLcủa Canada chi trả trợ cấp với khoản thời gian lâu hơn đối với những đối tượng sống ở trong các khu vực có

tỷ lệ thất nghiệp cao13

Trung Quốc và Việt Nam là hai quốc gia khá đặc thù khi chú trọng vào khoảng thời gian làm việc dài hạn.Trung quốc áp dụng khoảng thời gian hưởng trợ cấp 01 năm đối với các người lao động thực hiện các côngviệc có tham gia bảo hiểm trong khoảng thời gian từ 01 đến 05 năm, nhưng kéo dài khoảng thời gian hưởngtrợ cấp tới 24 tháng đối với người lao động có thời gian 10 năm làm việc Ở khía cạnh tương tự, Việt Namcũng công nhận khoảng thời gian làm việc lâu dài, thông qua áp dụng khoảng thời gian 03 tháng hưởng trợcấp nếu tham gia bảo hiểm được 01 năm, 06 tháng sau khi tham gia bảo hiểm 03 năm, 09 tháng sau khi thamgia bảo hiểm 06 năm và 12 tháng sau thời gian tham gia bảo hiểm 12 năm

Ở một số các quốc gia như Argentina, Pháp, Đức, Nhật Bản và Hàn Quốc quy định khoảng thời gian hưởngtrợ cấp không chỉ phụ thuộc vào khoảng thời gian làm việc trước đó mà còn phụ thuộc vào độ tuổi của ngườitìm việc, theo đó người cao tuổi đề nghị hưởng trợ cấp được áp dụng thời gian hưởng trợ cấp lâu hơn Một số các quốc gia cũng có các quy định kéo dài khoảng thời gian hưởng trợ cấp trong các thời điểm có tỷ

lệ thất nghiệp cao hoặc vì lý do thiên tai hay thảm họa tự nhiên Mặt khác, việc kéo dài khoảng thời gianhưởng trợ cấp thường được quy định bằng các quy định đặc biệt khi phát sinh nhu cầu Ví dụ các quy địnhđặc biệt được áp dụng tại Chile, Mông Cổ, Nhật Bản, Thái Lan, Mỹ và Canada

Do đó, có nhiều phương thức tiếp cận để thiết lập khoảng thời gian hưởng trợ cấp tối đa, tùy vào tình hình vàlựa chọn của từng quốc gia, liên quan tới cấu trúc thất nghiệp và các cơ hội tái tìm việc làm tiềm năng, vàthậm chí liên quan tới các tình hình thời sự đang diễn ra Dường như không có công thức tối ưu xét theo khíacạnh thực tiễn, ngoại trừ quan niệm cho rằng hiển nhiên cần phải xem xét sự cân bằng giữa tính hoàn chỉnh

và và chi phí liên quan

Nghiên cứu cụ thể hơn về chi trả trợ cấp cho thấy việc trợ cấp được thực hiện chi trả hàng tháng, thường gắnvới khoảng thời gian chi trả mang tính truyền thống hoặc thông thường Tuy nhiên, Canada và Mỹ thực hiệnchi trả trợ cấp thất nghiệp 2 tuần/lần Thậm chí nếu thực hiện chi trả như trên có thể đòi hỏi nhiều hơn về mặtquản trị, nhưng cũng mang lại một số ưu điểm: trước tiên, khoảng thời gian chi trả ngắn giúp tạo điều kiệncho việc kiểm tra các hoạt động cũng như tình hình của người nhận trợ cấp thất nghiệp, ưu điểm này còn cótính bù đắp cao hơn so với các gánh nặng hoạt động cũng như chi phí hành chính gây ra Thứ hai, chi trả tiềnmặt nhanh chóng và thường xuyên hơn cho người hưởng trợ cấp, điều này có thể đặc biệt hữu ích trongtrường hợp người lao động bị mất việc làm và do đó không có nguồn thu nhập nào khác

Trang 24

Làm việc trong khi hưởng trợ cấp thất nghiệp

Một số nước cho phép người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp tiếp tục nhận toàn bộ hoặc một phần trợ cấpthất nghiệp trong khi làm các công việc bán thời gian Các quy định thông thường vẫn được áp dụng với cácđối tượng hưởng trợ cấp đó Tuy nhiên, các đối tượng đó phải tiếp tục tìm kiếm việc làm và phải chấp nhậncác công việc toàn thời gian phù hợp, cũng như tiếp tục tham gia bất kỳ khóa đào tạo và thực hiện các biệnpháp kiếm việc làm mà họ được giới thiệu Trường hợp thu nhập từ công việc bán thời gian vượt quá mộtmức nhất định, có thể dừng chi trả hoặc giảm mức trợ cấp thất nghiệp của các đối tượng đó

Mục đích của các quy định trên có ba mục đích: thứ nhất, khuyến khích người hưởng trợ cấp tiếp tục thamgia vào thị trường lao động và như vậy duy trì hoặc cải thiện kỹ năng làm việc của họ, thậm chí sử dụng cáccông việc bán thời gian như là một bước đệm để tiến tới việc làm toàn thời gian; thứ hai, cho phép người sửdụng lao động tìm được những người lao động sẵn sàng thực hiện các việc tương đối nhỏ nhặt; và thứ ba,giúp người lao động duy trì một mức sống hợp lý trong thời gian chuyển việc

Các nước áp dụng những quy định nêu trên như Pháp, Đức, Canada, Nhật Bản và Mỹ Tại Pháp, người laođộng được hưởng trợ cấp thất nghiệp nếu thu nhập từ việc làm bán thời gian thấp hơn 70% thu nhập bìnhquân trước đó và thời gian làm việc thấp hơn 110 giờ/tháng.14 Tại Đức, người hưởng trợ cấp làm việc dưới

15 giờ/tuần có thể tiếp tục nhận trợ cấp BHTN, nhưng sẽ dừng nhận trợ cấp nếu thời gian làm việc có thờigian làm việc từ 15 giờ trở lên Tại Canada, người lao động thất nghiệp có thể nhận khoản trợ cấp ở mức 57$hoặc 40% khoản trợ cấp hàng tuần mà không bị khấu trừ trợ cấp; bất kỳ thu nhập bổ sung nào đều được khấutrừ trong khoản trợ cấp của họ Tại Nhật Bản, người lao động được phép có các thu nhập từ công việc bánthời gian trong thời kỳ được xác định thất nghiệp nhưng có thể bị khấu trừ khoản trợ cấp thất nghiệp nếu cácthu nhập đó vượt quá một giới hạn nhất định (như quy định tại Điều 19 của Luật BHTN Nhật Bản) Các quyđịnh tương tự cũng được áp dụng tại Mỹ, tuy có sự khác biệt giữa các bang liên quan đến mức thu nhập từcông việc bán thời gian được phép mà không ảnh hưởng đến mức trợ cấp thất nghiệp được chi trả

Mức trợ cấp phổ biến nhất là từ 50% đến 60% thu nhập trước đó được dùng làm căn cứ đóng bảo hiểm Quyđịnh trên được áp dụng khác nhau ở mỗi quốc gia ví dụ như tại Argentina (áp dụng cho 04 tháng hưởng trợcấp đầu tiên), tại Đức (áp dụng mức tiêu chuẩn), Hàn Quốc và Thái Lan (áp dụng đối với người lao động bịmất việc làm phi tự nguyện), Mỹ và Việt Nam Tại Đức, người lao động nuôi từ một con trở lên được hưởngmức trợ cấp là 67%, trong khi đó tại Pháp và Nhật Bản áp dụng mức trợ cấp còn cao hơn đối với người tìmviệc có thu nhập thấp (tương ứng lên towis75% và 80%) Chương trình BHTN Đan Mạch áp dụng mức trợcấp cao nhất, đạt mức 90%

14 Nếu thỏa mãn các điều kiện trên, trợ cấp thất nghiệp được chi trả ở mức bị khấu trừ (thu nhập từ việc làm bán thời gian được chuyển đổi sang ngày làm việc toàn thời gian và trợ cấp thất nghiệp được chi trả cho những ngày còn lại trong tháng)

15 Giải thích các nguyên tắc và quy định cơ bản của Đạo luật Bảo hiểm thất nghiệp”, Ottawa, 1953

Trang 25

Ở một thái cực khác, Chile và Argentina đều áp dụng mức trợ cấp hàng tháng giảm dần, theo đó Chile ápdụng mức trợ cấp giảm dần từ 50% xuống mức 30% tổng thu nhập trước đó, Argentina thực hiện chi trả trợcấp giảm dần từ 50% xuống mức 35% Tại Chile, các lao động tạm thời chỉ được nhận trợ cấp thất nghiệptrong khoảng thời gian 02 tháng ở mức tương ứng 35% và 30% Trung Quốc áp dụng các mức trợ cấp bằngnhau không liên quan tới thu nhập trước đó, các mức trợ cấp, theo quy định của nhà nước, không được vượtmức lương tối thiểu tại địa phương Tuy nhiên, các mức trợ cấp có thể cao hơn mức “đảm bảo mức sống tối

thiểu” (Theo chương trình Di Bao), được địa phương xác định và thiết lập nhằm chống lại tình trạng nghèo

cùng cực Cuối cùng, Mông Cổ là quốc gia áp dụng mức trợ cấp thất nhất, ở mức 15% thu nhập trước đó trừngười lao động đã làm việc trước đó tối thiểu 05 năm, và sau đó mức trợ cấp được tăng lên tối thiểu ở mức50%

Luôn có mức tối đa trong chi trả khoản trợ cấp thất nghiệp định kỳ Các quốc gia quy định mức tối đa dựavào mức được tin là có giá trị hợp lý, ví dụ như so với tiền lương bình quân của lao động làm công ăn lươnghoặc các điểm tham chiếu khác Tuy vậy, không có các quy định cứng nhắc hay nhanh chóng về mức tối đanêu trên Tại Pháp, mức trợ cấp tối đa hàng tháng vào khoảng gấp 3 lần thu nhập của một người lao độngbình thường có thể kiếm được Tại Canada là khoảng 50% tiền lương bình quân Các quốc gia khác có mứcgiới hạn tối đa thậm chí còn thấp hơn

Trên quan điểm bảo hiểm, mức lợi ích và đóng góp theo nguyên tắc được tính toán dựa trên cơ sở thu nhậpnhư nhau, đây là phương thức tiếp cận được hầu hết các quốc gia áp dụng Ngoại trừ Bahrain tính thuế đốivới tổng tiền lương nhưng xác định mức tối thiểu đối với trợ cấp hàng tháng và Trung Quốc áp dụng mức trợcấp không liên quan đến thu nhập trước đó mà áp dụng mức trợ cấp như nhau Hoặc là dựa trên việc áp dụngcủa nguyên tác trên tại Mỹ với giới hạn về thu nhập được dùng làm căn cứ tính phí bảo hiểm (Đối với mứcphí do người sử dụng lao động đóng) ở hầu hết các bang thấp hơn so với mức được dùng làm cơ sở cho việctính trợ cấp

Có một thực tế khá thú vị đối với các nhà hoạch định chính sách, đó là ở hầu hết nếu không muốn nói là tất

cả các quốc gia, rủi ro rơi vào tình trạng thất nghiệp đối với nhóm có thu nhập thấp là nhiều hơn so với nhóm

có thu nhập cao, như vậy mức phí bảo hiểm tối thiểu được xác định ở mức cao hơn trên nguyên tắc sẽ manglại nhiều thu nhập hơn là một mức tăng tương ứng trong trợ cấp thất nghiệp

Trang 26

Bảng 2 : Các gói trợ cấp của một số Chương trình BHTN/BHVL

Trang 27

Q UÔ ́ C GIA Q UY ĐI ̣ NH ĐU ̉ ĐIÊ ̀ U KIÊ ̣ N HƯƠ ̉ NG T HƠ ̀ I GIAN HƯƠ ̉ NG M Ư ́ C TRƠ ̣ CÂ ́ P

Argentina

- Tối thiểu 06 tháng tham gia bảo

hiểm trong thời gian 03 năm gần đây;

- Bị buộc phải thôi việc, hoặc nghỉ

- Từ 2006: tối thiểu AR$ 250, tối đa AR$ 400

Bahrain

- Trợ cấp bồi thường mất việc làm

(nếu bị buộc thôi việc):

• Lần 1: 12 tháng liên tục;

• Lần 2: 12 tháng trong vòng 18 tháng gần đâu;

• Lần 3: 18 tháng trong vòng 24 tháng gần đây;

• Lần 4 và nhiều hơn: 36 tháng trong vòng 48 tháng gần đây

- Trợ cấp hỗ trợ: cho người tìm việc

lần đầu tiên

- Trợ cấp bồi thường thôi việc: 6 tháng liên tục hoặc gián đoan đối với mỗi thời kỳ bị thất nghiệp;

- Trợ cấp hỗ trợ: 6 tháng trong khoảng thời gian 12 tháng

- Trợ cấp bồi thường thôi việc: 60% tiền lương bình quân cho tới mức tối đa BD

500 (mức tối thiểu là BD 150)/tháng;

- Trợ cấp hỗ trợ: sinh viên tốt nghiệp, BD 150/tháng; các đối tượng khác, BD 120

Canada

- Thực hiện công việc được bảo hiểm

từ 420 đên 700 giờ trong năm trước,

phụ thuộc vào tỷ lệ thất nghiệp của

vùng;

- Người mới tham gia thị trường lao

động cần thời gian làm việc là 910

giờ;

- Người tự nguyện thôi việc và những

người bị thôi việc vì lý do vi phạm bị

từ chối chi trả trợ cấp;

- Các lý do chính đáng để thôi việc

được chấp nhận ví du như bị lạm

dung, không trả lương, điều kiện làm

việc nguy hiểm.v.v.

-Trợ cấp thường xuyên: từ 14 đến 45 tuần hưởng trợ cấp, dựa vào số giờ đã làm việc và tỷ lệ thất nghiệp trong vùng;

- Ốm đau, 15 tuần; Nghỉ đẻ, 15 tuần;

chăm sóc con nhỏ, 35 tuần;

- Trợ cấp được chi trả 2 tuần/lần.

55% thu nhập bình quân hàng tuần, cho đến mức tối đa $485 (năm 2012)

Chile

- Các tài khoản tiết kiệm cá nhân

(ISA) từ 6 đến 12 tháng đóng phí, phụ

thuộc vào đối tượng là lao động tạm

thời hay dài hạn; bị mất việc vì bất cứ

lý do nào

- Trợ cấp bảo hiểm: (i) 12 tháng đóng

phí bảo hiểm trong vòng 24 tháng gần

nhất, 3 tháng cuối cùng đóng phí liên

tiếp và làm việc cho cùng một người

sử dụng lao động; (ii) bị buộc phải

thôi việc; (iii) sử dụng hết tiền trong

tài khoản cá nhân và (iv) không đề

nghị hưởng trợ cấp hơn 02 lần trong

- Trợ cấp “Thất nghiệp cao”: thêm 02 tháng nếu tỷ lệ thất nghiệp hiện tại là 1 điểm cao hơn tỷ lệ thất nghiệp bình quân 4 năm gần đây

- ISA: tỷ lệ giảm dần hàng tháng: 50%, 45%, 40%, 35%, 30%, 25%, 20%, dựa trên thu nhập bình quân của 6 hoặc 12 tháng gần nhất;

- Trợ cấp bảo hiểm: (i) lao động dài hạn: như trên, tối đa 05 tháng; (ii) lao động tạm thời: chi trả 02 lần trợ cấp ở mức 35% và 30%.

- Trợ cấp “Thất nghiệp cao”: 25% mức trợ cấp.

Trung Quốc

- Người sử dụng lao động và người

lao động tham gia đóng phí bảo hiểm

trong vòng tối thiểu 01 năm;

- Không bị thất nghiệp vì lý do “tự

thôi việc”;

- Phải đăng ký thất nghiệp và thể hiện

sự sẵn sàng tìm công việc mới

- Thời gian hưởng căn cứ vào đóng góp phí BHTN:

Trang 28

Q UÔ ́ C GIA Q UY ĐI ̣ NH ĐU ̉ ĐIÊ ̀ U KIÊ ̣ N HƯƠ ̉ NG T HƠ ̀ I GIAN HƯƠ ̉ NG M Ư ́ C TRƠ ̣ CÂ ́ P

Đan Mạch

- Phải làm việc tối thiểu 52 tuần trong

vòng 03 năm gần đây;

- Bị thất nghiệp phi tự nguyện, nếu

không phải áp dụng thời gian chờ trợ

cấp 05 tuần

- Phải đăng ký tìm việc làm tại ngày

đầu tiên bị thất nghiệp.

- Các khoản trợ cấp được chi trả trong khoảng thời gian lên tới 03 năm và trong vòng 03 năm

- Mức trợ cấp bằng 90% thu nhập, căn cứ vào thu nhập bình quân của 03 tháng gần nhất;

- Năm 2011, mức trợ cấp tối đa trước thuế

là DKK 766/ngày, hoặc khoảng DKK 16,600/tháng;

- Quỹ BHTN cũng trả trợ cấp nghỉ phép, trợ cấp đào tạo và trợ cấp tự nguyện nghỉ hưu non

Pháp

- Phải làm việc tối thiểu 04 tháng

trong 24 tháng gần đây (36 tháng với

người lao động ở độ tuổi 50);

- Bị thất nghiệp phi tự nguyện, trừ

trường hợp có lý do thôi việc xác

đáng (như không được trả lương, bị

lạm dụng, cần chuyển chỗ ở theo vơ

̣/chồng.v.v.);

- Phải đăng ký tìm việc làm;

- Dưới 60 tuổi (hoặc 65 tuổi nếu

không đủ điều kiện nhận toàn bộ

lương hưu);

- Phải đăng ký tìm việc làm trong

khoảng thời gian 12 tháng bị thất

nghiệp, sau đó có 02 năm tham gia

BHTN (ví dụ, lao động tự làm trong

giai đoạn quá độ);

- Áp dụng thêm 04 tháng chờ hưởng

trợ cấp nếu tự nguyện thôi việc

- Khoảng thời gian hưởng phụ thuộc vào công việc được bảo hiểm trong vòng 02 năm gần đây (3 năm nếu người lao động ở độ tuổi 50):

• 01 tháng hưởng trợ cấp/01 tháng đóng phí bảo hiểm, bắt đầu ở mức 04 tháng;

• Khoảng thời gian tối đa hưởng trợ cấp là 24 tháng (36 tháng nếu người lao động ở độ tuổi từ 50 tuổi trở lên)

- Mức trợ cấp là 75% tiền lương bình quân đối với nhóm có thu nhập thấp (lên tới khoảng 1000 EUR/tháng), giảm xuống mức 57% đối với nhóm có thu nhập cao;

- Trợ cấp tối đa hàng tháng (2012): 5920 EUR(phần ròng của mức khấu trừ)

- Trợ cấp thôi việc không đổi (khoảng 300 EUR): thanh toán theo yêu cầu tại thời điểm kết thúc trợ cấp BHTN thường xuyên, nếu trong trường hợp không đủ điều kiện để hưởng trợ cấp hỗ trợ;

- Bảo hiểm bệnh tật, sinh đẻ và y tế được tiếp tục;

- Cũng được thanh toán tiền tuất

Đức

- Người đề nghị hưởng trợ cấp phải

làm việc tối thiểu 12 tháng trong vòng

03 năm trước đó;

- Dưới 60 tuổi;

- Bị thất nghiệp (không có việc làm

hoặc làm việc dưới 15 giờ/tuần hoặc

kết thúc các công việc tự làm);

- Đăng ký thất nghiệp (trực tiếp báo

cáo với Văn phòng việc làm địa

- Mức tiêu chuẩn: 60% thu nhập trước đó

là cơ sở để tính thuế và mức phí an sinh xã hội;

- Người lao đông có một con nhỏ: 67%

- BHTN không bị áp thuế và được chi trả như một khoản trợ cấp ròng;

- Văn phòng việc làm cũng thực hiện chi trả bảo hiểm y tế theo luật định của người lao động, bảo hiểm chăm sóc dài hạn và đóng phí vào chương trình hưu trí

Nhật Bản

- Với trợ cấp cơ bản, cần tối thiểu 06

tháng thực hiện công việc có bảo hiểm

trong thời gian 02 năm qua;

- Thất nghiệp phi tự nguyện, hoặc

phải đợi trợ cấp thêm khoảng thời

gian từ 01 – 03 tháng (thường là 03

tháng).

Thời gian hưởng trợ cấp phụ thuộc vào

độ tuổi và thời gian đóng phí bảo hiểm:

- Bị mất việc vì lý do doanh nghiệp phá sản hoặc dôi dư lao động: 90 đến

330 ngày hưởng trợ cấp;

- Các trường hợp mất việc khác: 90 đến 150 ngày;

- Hợp đồng có thời hạn: 90 đến 150 ngày;

- Tự nguyện thôi việc (tất cả độ tuổi):

90 đến 150 ngày (sau khi đợi hưởng trợ cấp thêm khoảng thời gian 03 tháng)

- Tỷ lệ trợ cấp hàng ngày phụ thuộc và tiền lương bình quân trong vòng 06 tháng gần đây:

• 2,330-4,650 ¥: 80% mức trợ cấp

• 4,650-11,770 ¥: từ 80% đến 50% mức trợ cấp

• 11,770-15,780 ¥: 50% mức trợ cấp

- Nếu trong độ tuổi từ 60 đên 64, tỷ lệ 50%

ở bảng trên được thay thế bằng tỷ lệ 45%;

- Mức trợ cấp hàng ngày tối đa theo độ tuổi:

• Tới 29 tuổi: 6,455 ¥

• Từ 30 đến 44: 7,170 ¥

• Từ 44 đến 59: 7,890 ¥

• Từ 0 đến 64: 6,777 ¥

Trang 29

Q UÔ ́ C GIA Q UY ĐI ̣ NH ĐU ̉ ĐIÊ ̀ U KIÊ ̣ N HƯƠ ̉ NG T HƠ ̀ I GIAN HƯƠ ̉ NG M Ư ́ C TRƠ ̣ CÂ ́ P

Mông Cổ

- Có tối thiểu 02 năm thực hiện công

việc có tham gia bảo hiểm, 09 tháng

gần đây tham gia liên tục (giảm xuống

06 tháng kể từ 01/8/2009 đến

01/01/2011);

- làm việc thêm 06 tháng đối với đề

nghị hưởng trợ cấp tiếp theo (giảm

xuống 03 tháng kể từ 01/8/2009 đến

01/01/2011)

- Thời gian hưởng trợ cấp có thể kéo dài tới 76 ngày (trong khoảng từ 01/8/2009 đến 01/01/2011 có thể tăng lên tới 126 ngày).

- Mức trợ cấp dựa trên tiền lương bình quân của 03 tháng gần đây và thời gian làm việc;

Lên tới 5 năm: 15% mức trợ cấp

Hàn Quốc

- Làm việc tối thiểu 180 ngày trong 18

tháng gần đây, với giờ làm việc tối

thiểu là 60 giờ/tháng;

- Người thất nghiệp phải đăng ký để

được giới thiệu việc làm;

- Phải sẵn sàng làm việc’

- Bị phạt nếu từ chối công việc được

giới thiệu hoặc tự ý bỏ việc;

- Không được hưởng trợ cấp nếu bị

thôi việc vì lý do vi phạm hoặc do

tranh chấp lao động

- Phụ thuộc vào độ tuổi và công việc: 90 tới 180 ngày hưởng trợ cấp nếu dưới 30 tuổi, 90 đến 210 ngày nếu từ 30 đến 50 tuổi, 90 đến 240 ngày nếu từ 50 tuổi trở lên hoặc bị khuyết tật.

- Gia hạn trợ cấp thêm 60 ngày cho các đối tượng đã sử dụng hết khoản trợ cấp, tuân theo các quy định chặt chẽ.

- Gia hạn trợ cấp “thất nghiệp cao”:

được áp dụng khi tỷ lệ người tìm việc hưởng trợ cấp trên với tất cả các đối tượng tham gia BHVL cao hơn 3%

trong 03 tháng liên tiếp, hoặc tỷ lệ đăng ký hưởng trợ cấp tìm việc cao hơn 1% trong 03 tháng liên tục, hoặc

tỷ lệ thất nghiệp cao hơn 6% trong vòng 03 tháng liên tục

- Chi trả mức trợ cấp BHTN bằng 50% mức lương ngày tiêu chuẩn, được tính toán dựa trên mức lương bình quân

- Trường hợp người lao động sớm tìm được việc làm, họ được chi trả 50% số trợ cấp chưa nhận như là khoản thưởng tái tìm việc làm

Thái Lan

- Tối thiểu có 06 tháng đóng phí bảo

hiểm trong 15 tháng trước khi mất

việc làm;

- Đăng ký với Văn phòng Việc làm;

- Chấm dứt công việc không vì

nguyên nhân vi phạm, có âm mưu

phạm tội đối với người sử dụng lao

động, hoặc hành vi vi phạm gây thiệt

hại nghiêm trọng cho hoạt động kinh

doanh của người sử dụng lao động

hoặc bị phạt tù

- Người lao động bị sa thải được nhận tới 180 ngày trong khoảng thời gian 01 năm;

- Người lao động thất nghiệp tự nguyện thôi việc chỉ được nhận trợ cấp trong khoảng 90 ngày trong khoảng thời gian 01 năm

- Sau cuộc khủng hoảng kinh tế năm

2008, trợ cấp BHTN được gia hạn thêm 240 ngày cho người lao động bị thất nghiệp trong năm 2009.

- Người lao động bị sa thải được nhận 50% thu nhập dùng làm căn cứ để đóng phí bảo hiểm, dựa trên 03 tháng lương cao nhất nhận được trong khoảng thời gian 09 tháng trước khi mất việc làm;

- Người lao động tự ý thôi việc chỉ được nhận 30% thu nhập dùng làm căn cứ để đóng phí bảo hiểm;

- Trợ cấp hàng ngày tối đa ở mức 250 baht.

Mỹ

- Người đề nghị hưởng trợ cấp phải

đóng phí bảo hiểm dựa trên tiền lương

nhận được trong 04 quý đầu tiên của 5

quý gần đây, với mức lương tối thiểu

khác nhau giữa các bang;

- Bị mất việc không phải do lỗi của

người lao động, trừ khi có lý do chính

đáng để nghỉ việc “Lý do chính

đáng” thường hạn chế trong các lý do

gắn với công việc hoặc do lỗi của

người sử dụng lao động;

- Người đề nghị hưởng trợ cấp phải có

khả năng làm việc, ở hầu hết các

Bang, phải đăng ký tìm việc làm tại

Văn phòng dịch vụ việc làm công

- Hầu hết các bang chi trả trợ cấp lên tới 26 tuần Trường hợp tỷ lệ thất nghiệp cao có thể gia hạn trợ cấp tại các bang, thời gian gia hạn tới 13 tuần (20 tuần ở một số trường hợp);

- Trợ cấp được chi trả 02 tuần/lần;

- Trong thời kỳ khủng hoảng, khi tất cả các bang đều có tỷ lệ thất nghiệp cao, thường sử dụng các chương trình trợ cấp bổ sung được tài trợ bởi chính quyền liên bang

- Nhìn chung, các bang xác định mức trợ cấp hàng tuần khoảng 50% tiền lương trung bình, với các công thức xác định và mức tối đa khác nhau giữa các bang;

- Mức trợ cấp bình quân hàng tuần được chi trả trong năm 2010 là $293 (từ mức

$200 đến $400).

- Mức tối đa của trợ cấp bình quân là $445

và mức trợ cấp bình quân là 46% thu nhập làm căn cứ đóng phí bảo hiểm

Trang 30

Q UÔ ́ C GIA Q UY ĐI ̣ NH ĐU ̉ ĐIÊ ̀ U KIÊ ̣ N HƯƠ ̉ NG T HƠ ̀ I GIAN HƯƠ ̉ NG M Ư ́ C TRƠ ̣ CÂ ́ P

Việt Nam

- Đóng phí BHTN tối thiểu 12 tháng

trong 24 tháng gần đây;

- Đăng ký thất nghiệp với Trung tâm

giới thiệu việc làm;

- Đăng ký hưởng trợ cấp BHTN trong

vòng 15 ngày kể từ ngày đăng ký thất

nghiệp;

- Không tìm được việc làm trong vòng

15 ngày sau khi đăng ký thất nghiệp;

- Không hưởng lương hưu.

- 3 tháng hưởng trợ cấp đối với người lao động đóng phí bảo hiểm từ 12 đến

- Mức trợ cấp bằng 60% thu nhập bình quân dùng để tính phí bảo hiểm trong vòng

06 tháng gần đây, giới hạn trong mức gấp

20 lần so với lương tối thiểu

Trang 31

E) VẤN ĐỀ QUẢN LÝ, KINH PHÍ VÀ TÍNH BỀN VỮNG CỦA CÁC CHƯƠNG TRÌNH

BHTN/BHVL

Điều 71 của Công ước 102 yêu cầu các chế độ trợ cấp và chi phí quản lý cùng được chia sẻ hoặc bằng nguồnphí bảo hiểm hay bằng nguồn doanh thu thuế, theo cách thức nhằm tránh cho các cá nhân có thu nhập thấpphải chịu gánh nặng chi phí Công ước cũng đề xuất các quốc gia có trách nhiệm quản lý tốt, bao gồm cảviệc tính toán và tổng kết định kỳ tình hình thực tiễn Công ước 168 tuy thiếu chi tiết, nhưng cũng yêu cầucác quốc gia (Điều 28) có trách nhiệm quản lý hiệu quả các chương trình nêu trên Liên quan đến vấn đềquản lý hiệu quả, các quốc gia cũng được quy định tại cả hai Công ước (Điều 72 của Công ước số 102 vàĐiều 3, Điều 29 của Công ước số 168) liên quan tới việc tham với cùng với và bao gồm cả người sử dụng laođộng, người lao động trong hoạt động của các chương trình đó

Kinh phí tài trợ cho các chương trình BHTN được bảo đảm từ phía người sử dụng lao động, người lao động

và thu nhập chung của Nhà nước; đôi khi được tài trợ bởi thỏa thuận ba bên về chia sẻ chi phí Bảng 3 đưa racác chi tiết cơ bản đối với nguồn kinh phí cho các chương trình BHTN tại 14 quốc gia được lựa chọn nghiêncứu với nội dung trên

Nhìn chung, các quốc gia đã triển khai các chương trình BHTN với khoảng thời gan dài sẽ có chi phí và tỷ lệđóng phí cao hơn, đặc biệt tại các quốc gia Châu Âu, trong khi đó các nước mới triển khai các chương trìnhBHTN/BHVL trong thời gian gần đây có xu hướng áp dụng mức trợ cấp ít hơn và chi phí thấp hơn Bên cạnhđóng góp phí BHTN, Nhật Bản và Hàn Quốc là hai nước áp dụng thu thêm khoản đóng góp từ người sử dụnglao động chỉ nhằm mục đích phát triển việc làm Các nước này ưu tiên các chương trình xúc tiến việc làmnhằm hỗ trợ người thất nghiệp có việc làm và duy trì việc làm dài hạn

Chia sẻ kinh phí

Các thỏa thuận về mặt kinh phí bao gồm đóng góp từ phía người sử dụng lao động được áp dụng ở 13 quốcgia, trừ Đan Mạch, và cũng bao gồm đóng góp của người lao động, trừ Mỹ (ngoại trừ 03 bang) Đóng gópthường xuyên của Nhà nước được áp dụng tại 04 quốc gia (Bahrain, Thái Lan, Việt Nam và ở một mức độ tốithiểu tại Chile), và đóng góp của Nhà nước đối với các trường hợp khẩn cấp được áp dụng ở 04 quốc gia(Argentina, Đức, Trung Quốc và Mỹ)

Theo đó, chi tiết như sau:

- Chia sẻ kinh phí giữa ba bên được áp dụng tại Bahrain, Thái Lan và Việt Nam;

- Người sử dụng lao động thường chi trả toàn bộ kinh phí của các chương trình BHTN tại Mỹ (ngoạitrừ 03 bang áp dụng mức phí đóng góp từ phía người lao động) Tuy nhiên, Chính quyền liên bangthường sẽ thực hiện trợ cấp trong thời kỳ suy thoái để chi trả cho các trợ cấp bổ sung;

- Cơ chế chia sẻ chi phí của BHTN giữa người người sử dụng lao động và người lao động được ápdụng tại Canada, Pháp, Nhật Bản, Mông Cổ và Hàn Quốc;

- Người lao động chi trả 30% hoặc mức chi phí tương đương tại Đan Mạch, đây cũng là quốc gia duynhất áp dụng mức phí bảo hiểm như nhau và Nhà nước tài trợ cho phần kinh phí còn lại

- Tại Argentina, Đức và Trung Quốc, người sử dụng lao động và người lao động chia sẻ chi phí; Nhànước có thể tài trợ thêm nếu cần thiết;

- Tại Chile, người sử dụng lao động và người lao động chia sẻ chi phí; Nhà nước hỗ trợ kinh phí ởmức thấp (khoảng 6% các nguồn thu bảo hiểm)

Trang 32

Tổng kinh phí

Các cơ cấu kế toán hợp lý được áp dụng ở hầu hết các quốc gia, ít nhất là theo nguyên tắc, nhưng không phảilúc nào cũng có thể tiếp cận được thông tin chi tiết và cập nhật về tình hình chi phí của các chương trìnhBHTN/BHVL, cũng như thông tin chính xác về các nội dung chi phí và tình hình tài chính của mỗi chươngtrình Qua 14 chương trình được nghiên cứu tại báo cáo cho thấy có tính đa dạng cao về đặc điểm và cơ cấuchi phí, và mỗi hệ thống được vận hành trong một môi trường kinh tế khác biệt Kết quả là rất khó để rút rakết luận chung về chi phí tương đối của các chương trình BHTN/BHVL Đặc biệt, các quốc gia khác nhau lạigộp các nội dung và đặc trưng khác nhau trong tài trợ kinh phí cho các chương trình BHTN/BHVL, khôngchỉ giới hạn trong trợ cấp thất nghiệp và các chi phí quản lý tương ứng, mà đôi khi còn gồm cả chi phí vậnhành dịch vụ việc làm quốc gia, hoặc chi phí của một loạt các chương trình phát triển kỹ năng nghề và cácbiện pháp hỗ trợ tái tìm việc làm, đôi khi còn gồm cả các biện pháp mang tính khẩn cấp hoặc tạm thời Cho dù đã có các phân tích nêu trên, rất cần thiết để thực hiện so sánh tổng kinh phí báo cáo đối với cácchương trình BHTN/BHVL khác nhau với GDP ở mỗi quốc gia (tất cả các tỷ lệ phần trăm dưới đây đượctính toán dựa trên các số liệu thống kê quốc gia đã được công bố)

Tại Đan Mạch, tổng kinh phí đối với các nội dung thuộc hệ thống BHTN chiếm 3.2% GDP năm 2009 và3.3% năm 2010 Trong đó bao gồm trợ cấp thất nghiệp và một loạt các biện pháp liên quan tới thị trường laođộng Tỷ lệ thất nghiệp trên toàn quốc là 6.1% năm 2009 và 7.4% năm 2010 (dựa trên tỷ lệ thất nghiệp đượcđiều chỉnh thống nhất trong OECD)

Đối với Canada, tổng kinh phí của chương trình BHVL chiếm 1.4% GDP cả trong năm 2009 và 2010 Kinhphí chương trình bao gồm trợ cấp thất nghiệp cũng như trợ cấp bệnh tất và trợ cấp chăm sóc trẻ nhỏ, chi phíquản lý bao gồm các chi phí thực hiện công tác thu phí bảo hiểm và chi phí của dịch vụ việc làm quốc gia,cũng như các trợ cấp thất nghiệp và các biện pháp hỗ trợ nhất định Tỷ lệ thất nghiệp trên phạm vi toàn quốc

ở mức 8.3% năm 2009 và 8.0% năm 2010 (dựa trên tỷ lệ thất nghiệp được điều chỉnh thống nhất trongOECD)

Tại Pháp, kinh phí của chương trình BHTN chiếm 1.7% và 1.8% GDP tương ứng trong năm 2009 và 2010.Kinh phí này cũng bao gồm trợ cấp thất nghiệp và một loạt các biện pháp liên quan tới thị trường lao động

Tỷ lệ thất nghiệp trên phạm vi toàn quốc ở mức 9.5% năm 2009 và 9.8% năm 2010 (Dựa trên tỷ lệ thấtnghiệp được điều chỉnh thống nhất trong OECD)

Tại Mỹ, kinh phí của chương trình BHTN chiếm 0.54% GDP năm 200 và 0.37% năm 2010 Chi phí quản lýkhông được bao gồm trong mức tổng kinh phí nêu trên cũng như bất kỳ các biện pháp nào liên quan đến đàotạo kỹ năng nghề hoặc tái tìm việc làm Tỷ lệ thất nghiệp trên phạm vi toàn quốc ở mức 9.3% năm 2009 và9.6% năm 2010 (Dựa trên tỷ lệ thất nghiệp được điều chỉnh thống nhất trong OECD)

Tại Hàn QUốc, kinh phí chi trả trợ cấp BHTN năm 2010 chiếm 0.29% GDP Tỷ lệ thất nghiệp trên phạm vitoàn quốc ở mức 3.6% năm 2009 và 3.7% năm 2010 (Dựa trên tỷ lệ thất nghiệp được điều chỉnh thống nhấttrong OECD)

Tại Chile, với đặc trưng của chương trình là đặt phần lớn trọng tâm vào hoạt động tiết kiệm cá nhân hơn làngăn ngừa tình trạng thất nghiệp, nên sẽ hợp lý hơn nếu xem xét tới tổng mức đóng góp kinh phí đã thu đượcthay vì xét đến số tiền đã chi ra (chiếm gần 40% tổng kinh phí thu được) Trên cơ sở đó, kinh phí của chươngtrình BHTN tại Chile ở mức 0.54% GDP năm 2009 và 0.55% GDP năm 2010 Tỷ lệ thất nghiệp trên phạm vitoàn quốc ở mức 10.8% năm 2009 và 8.2% năm 2010 (Dựa trên tỷ lệ thất nghiệp được điều chỉnh thống nhấttrong OECD)

Trang 33

Từ các tỷ lệ phần trăm nêu trên, có thể nhận thấy rõ ràng là chi phí của chương trình BHTN có tính đa dạngcao, cách biệt từ 1/10 trở lên, như từ một tỷ lệ rất thấp ở mức 0.3% GDP tới mức 3.3%, tùy thuộc vào chínhcác nội dung thuộc phạm vi chương trình BHTN, chế độ trợ cấp tương đối cao và tình hình kinh tế hiệnhành

Tính bền vững

Biện pháp đầu tiên và rõ ràng nhất của một chương trình BHTN/BHVL liên quan đến sự sẵn sàng và nănglực của các bên tham gia nhằm đáp ứng một mức chi phí đặc thù và có thể dự đoán được Nhưng một chươngtrình BHTN cũng cần phải bền vững để cung cấp các khoản trợ cấp đang và sẽ duy trì sự đáp ứng đầy đủ,căn cứ trên khái niệm chung về sự đáp ứng đầy đủ Việc cung cấp trợ cấp thất nghiệp ở mức thấp và khôngđáp ứng đủ nhu cầu sẽ có ý nghĩa rất hạn chế, và còn có thể tác động tiêu cực tới sự bất ổn và biến động xãhội; cũng như tăng số việc làm phi chính thức ở các quốc gia đang phát triển Như ý kiến của một tác giả:

“Cuộc tranh luận này dẫn đến kết luận rằng các chi phí xã hội là các yếu tố phù hợp của “tính bền vững” đốivới hệ thống kinhtees được tổ chức theo nền kinh tế thị trường gắn với tư hữu tư liệu sản xuất”16

Bên cạnh đó, một trong những lợi ích đáng kể đối với người sử dụng lao động là sự linh hoạt mà chươngtrình BHTN có thể tạo ra cho họ khi phải sa thải lao động vì các lý do liên quan đến hoạt động kinh doanhhoặc công nghệ Nếu không có BHTN, bất kỳ một sự điều chỉnh nào như nêu ở trên có thể ít được cảm nhậnbởi người lao động và xã hội nói chung, thậm chí còn dẫn tới bạo lực Do vậy, “Sự bền vững” xét về mặttăng cường ổn định xã hội là một lợi ích đối với người sử dụng lao động và đối với toàn bộ nền kinh tế Như đã trình bày, khi được xác định dựa vào GDP, các chi phí phát sinh trong các chương trìnhBHTN/BHVL có thể khác biệt trong tỷ số từ 10 đến 1; trong 14 quốc gia được nghiên cứu tại Báo cáo này,ngoại trừ Đan Mạch, các mô hình an sinh linh hoạt cần một lượng trợ cấp lớn với lý do xuất phát từ cácchính sách thị trường lao động chủ động, các mức chi phí vẫn khác biệt nhưng trong một khoảng hẹp hơn, từkhoảng 0.3% đến 1.8% của GDP

Không ngạc nhiên với thực tế là các quốc gia có chi phí tương đối của chương trình thấp nhất thì hoặc là có

tỷ lệ thất nghiệp thấp hoặc có mức trợ cấp và đối tượng áp dụng hạn chế, hoặc có cả hai đặc trưng nêu trên(ví dụ Hàn Quốc, Mông Cổ, Thái Lan và Việt Nam)

Các chương trình BHTN ở một số quốc gia đã bị thâm hụt trong những năm gần đây do suy thoái kinh tếtoàn cầu Ví dụ như Canada, Pháp, Đức và hầu hết các bang của Mỹ phải dựa vào các khoản vay và hỗ trợ từphía chính phủ để trang trải cho các khoản trợ cấp Một số quốc gia khác lại tiếp tục tăng trưởng quỹ và đạtthặng dư, ở nhiều trường hợp là do số lượng ít các người tìm việc thuộc diện bảo hiểm cùng với các quy địnhchặt chẽ về điều kiện hưởng và trợ cấp (Bahrain, Chile và Mông Cổ)

Ở một số ví dụ khác, cũng xảy ra trường hợp các nguồn thu được duy trì ở mức cao hơn cần thiết nhằm trangtrải các chi phí trợ cấp that nghiệp, hoặc thậm chí cao hơn mức cần thiết để tích lũy một mức dự trữ được coi

là an toàn Tình hình ở Canada diễn biến theo xu hướng đó từ năm 1996 đến năm 2008, cuối cùng khiến choChính phủ thực hiện quốc hữu hóa phần thặng dư của BHTN Những hành động như vậy cần được ngănngừa bằng cách thông qua các cơ chế để thực hiện các đánh giá định kỳ về đóng góp BHTN Bahrain cũngđang phải đối mặt với vấn đề tương tự tại thời điểm hiện tại do áp dụng mức đóng góp BHTN cao hơn mứccần thiết

Trang 34

Xét đến đối tượng người sử dụng lao động và chi phí thực hiện hoạt động kinh doanh, có ý kiến bổ sung vềviệc cần có sự đồng thuận tương đối giữa các nhà kinh tế học về việc bất kỳ sự đóng góp phí bảo hiểm dựatrên tổng số tiền lương nào cuối cùng sẽ dẫn đến tác động đối với người lao động thể hiện ở mức lương thấphơn Bên cạnh đó, xét ở khía cạnh người sử dụng lao động được phép bù đắp hoặc giảm bất kỳ khoản bồithường thôi việc mà họ phải trả, việc áp dụng BHTN có thể là một lợi ích ròng đối với người sử dụng laođộng, đó là một sự giảm sút ròng trong chi phí của người sử dụng lao động

Tuy nhiên cần phải cân nhắc một số điểm đặc thù sau đây: một là, có thể có các chi phí chuyển đổi cho đếnkhi người sử dụng lao động có thể điều chỉnh mức tiền lương, do điều này thường đạt được thông qua việcđàm phán một mức tăng lương ở mức thấp hơn khi gia hạn các hợp đồng làm việc Thứ hai, theo nguyên tắckhông thể điều chỉnh xuống dưới mức lương tối thiểu của người lao động – tuy nhiên người sử dụng laođộng có thể gây áp lực lên Chính phủ để tác động làm giảm mức tăng lương tối thiểu hơn mức cần phải có Nhằm đưa ra kết luận của phần này và đặt các vấn đề ở một bối cảnh rộng hơn, vấn đề tính bền vững ở bất

kỳ quốc gia nào cuối cùng phụ thuộc vào sự đồng thuận và các ưu tiên của quốc gia, tất cả yếu tố đó có thểthay đổi theo thời gian

Trang 35

Bảng 3 – Kinh phí và tính bền vững của một số các chương trình BHTN/BHVL

Trang 36

Quốc gia CÁC PHƯƠNG THỨC TÀI TRỢ

TỶ LỆ THẤT NGHIỆP (2010) *

7.75% Không biết liệu đóng góp của người sử dụng lao động có đủ hoặc

liệu hỗ trợ của Nhà nước có chiếm tỷ trọng đáng kể

Bahrain

Chia sẻ giữa ba bên, người sử dụng lao

động, người lao động và Nhà nước đóng

Người lao động và người sử dụng lao động

đóng phí căn cứ vào tiền lương,

Tỷ lệ chia sẻ kinh phí là 5/12 và 7/12

8.0%

Tài khoản BHVL là tự trang trải nhưng cần phải bù đắp những thâm hụt gần đây gây ra bởi suy thoái kinh tế bằng cách tăng mức đóng phí, để bù đắp cho thực tế là thặng dư BHTN trước đây đã bị quốc hữu hóa bởi nhà nước

Chile

Các tài khoản tiết kiệm cá nhân (ISA)

được tài trợ phần lớn bởi người sử dụng

lao động/Trợ cấp tương trợ (SB) được tài

trợ bởi người sử dụng lao động cộng với

mức đóng góp cố định từ phía Chính phủ

8.2% Đã hình thành lên các Quỹ ISA và SB lớn từ năm 2002; dự tính sẽ

có thặng dư lớn và ngày càng tăng.

- Chính quyền địa phương có thể điều

chỉnh tỷ lệ đóng góp tại địa phương với sự

thông qua của Hội đồng Nhà nước;

- Quỹ BHTN được bao cấp bởi Chính

quyền địa phương nếu cần thiết;

- Lao động di cư nông thôn được tham gia

đóng phí nếu giao kết hợp đồng lao động

4.1%

“Cân đối lớn của Quỹ BHTN – Cho đén cuối năm 2007, tổng cân đối quốc gia của Quỹ BHTN đạt 97.910 triệu yuan, gấp 4.5 lần tổng kinh phí năm 2007 Thặng dư Quỹ BHTN chủ yếu tập trung

ở các khu vực phát triển và tại các thành phố quy mô lớn và trung bình.”

Đan

Mạch

Tham gia tự nguyện, tỷ lệ phí cố định hàng

tháng đối với người lao động, Nhà nước tài

Tỷ lệ đóng phí chung trên phạm vi toàn

quốc ở mức 3,0% thu nhập được căn cứ

xác định phí (đến mức tối đa 5.600

euros/tháng năm 2012, hoặc 4.650 trong

“new Länders”) được chia sẻ như nhau

giữa người sử dụng lao động và người lao

động

7.1%

Năm 2010, BA đạt doanh thu 37,1 tỷ EURO và chi phí là 45,2 tỷ EURO Mức thâm hụt 8.1 tỷ EURO đã được bù đắp bằng khoản

hỗ trợ từ phía Nhà nước ở mức 5.2 tỷ EURO (bên cạnh đóng góp

từ phía Nhà nước là 4.9 tỷ EURO) và 2,9 tỷ EURO rút ra từ quỹ

dự trữ

Nhật Bản

Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi thu phí ở

mức 1,2% tiền lương (mức 0.6% đối với cả

người lao động và người sử dụng lao động)

cũng như ¼ khoản đóng góp phí là từ Kho

bạc nhà nước Đối với chương trình “hai

Trang 37

Quốc gia CÁC PHƯƠNG THỨC TÀI TRỢ

TỶ LỆ THẤT NGHIỆP (2010) *

kể từ năm 2007 và mức chi phí chỉ tăng 1/3.

Hàn

Quốc

- Với trợ cấp thất nghiêp: cả người sử dụng

lao động và người lao động đóng góp

0,55% thu nhập của người lao động

- Đối với các chương trình thị trường lao

động (Chương trình phát triển kỹ năng

nghề cùng với Chương trình đảm bảo việc

làm): chỉ người sử dụng lao động tham gia

đóng góp phí, ở mức 0,25% tổng tiền

lương nếu sử dụng dưới 150 lao động, và ở

mức 0,65% nếu sử dụng trên 1.000 lao

động

3.7%

- “Bắt đầu từ tháng 01/2011, mức phí BHVL không căn cứ vào tổng tiền lương mà căn cứ vào tổng chi trả trợ cấp cho tất cả đối tượng bảo hiểm, tạo điều kiện cho phí BHVL dựa vào chi trả trợ cấp thực tế.”

- “Hàn Quốc đã vận hành Quỹ BHVL theo một phương thức rất

ổn định, với tỷ lệ thất nghiệp duy trì ở mức 3% thay vì tỷ lệ thất nghiệp trước đó cùng với tác động của khủng hoảng tài chính toàn cầu lan từ Mỹ ra khắp thế giới từ tháng 9/2008, chi phí BHVL tăng theo cấp số nhân, dẫn tới suy giảm Quỹ dự phòng được tích lũy từ năm 2007”

Thái Lan

- Mức phí: Người sử dụng lao động và

người lao động đóng góp 0,5% thu nhập,

mức phí tối đa hàng tháng là 15.000 baht;

- Chính phủ: 0.25% thu nhập của người lao

động.

1.04%

- “Mức trợ cấp thất nghiệp được xác định ở mức chiếm 50% tiền lương (không vượt quá mức 7.500 bath/tháng) thậm chí cho cả các đối tượng bị buộc phải sa thải, và họ chỉ được nhận trợ cấp trong khoảng thời gian 06 tháng đầu tiên Do đó thậm chí khi tỷ lệ thất nghiệp tăng ở mức cao nhất, hệ thống BHTN của Thái Lan có thể

sẽ không rơi vào trình trạng thâm hụt.”

- Mức thặng dư đạt được hàng năm kể từ năm 2004, thậm chí ngày cả trong thời điểm khủng hoảng năm 2008

Mỹ

- Thuế liên bang áp dụng ở mức 0,6% trên

thu nhập và lên tới 7.000 USD/năm, người

lao động đóng 42 USD/năm;

- Trên phạm vi toàn quốc, tổng đóng góp

BHTN vào các chương trình của nhà nước

chiếm trung bình 1% tổng tiền lương năm

2010;

- Đóng góp từ phía người sử dụng lao động

là nguồn duy nhất cho chương trình (trừ 03

bang)

9.6%

- Tiếp sau giai đoạn khủng hoảng trầm trọng giai đoạn 2008-2009, các Quỹ BHVL ở trên một nửa số các bang hoặc là ở tình trạng thâm hụt hoặc ở mức cân bằng quỹ rất thấp;

- Chính phủ liên bang tài trợ toàn bộ kinh phí liên quan đến gia hạn trợ cấp lên tới tới 99 tuần.

Việt Nam

- Chia sẻ kinh phí ba bên, 1% tổng tiền

lương đối với người sử dụng lao động,

người lao động và nhà nước

5.0%

- Với tỷ lệ thất nghiệp thất và cho dù áp dụng các chế độ trợ cấp hướng tới người nghèo, Quỹ BHTN Việt Nam đã đạt được thặng

dư đáng kể từ khi bắt đầu đi vào hoạt động năm 2009

- Thời gian hưởng trợ cấp tối đa sẽ tăng từ 03 đến 06 tháng năm

2012, chưa thể xác định rõ tác động có liên quan.

* Nguồn: Tỷ lệ thất nghiệp được điều chỉnh thống nhất trong các quốc gia thuộc OECD Tỷ lệ thất nghiệp do IMF

công bố từ Cơ sở dữ liệu triển vọng kinh tế thế giới, tháng 9/2011, áp dụng đối với các quốc gia khác

Các chính sách thị trường lao động chủ động (Gồm phát triển kỹ năng nghề và việc làm)

Ở phần đầu của Công ước ILO số 168 đề xuất “ nhận thức rằng các chính sách hướn tới sự tăng trưởng kinh

Trang 38

bảo rằng hệ thống an sinh xã hội cần hỗ trợ việc làm và kinh tế đối với các đối tượng trong tình trạng bị buộcphải thôi việc ”

Nhiều quốc gia đang chú trọng xúc tiến các chính sách thị trường lao động chủ động thể hiện việc tích hợp trợcấp BHTN vào các chính sách việc làm hiệu quả (Nhật Bản, Hàn Quốc, Đức, Pháp và Mông Cổ) Tại HànQuốc, các dự án BHVL được chia thành trợ cấp thất nghiệp, đảm bảo việc làm và các dự án đào tạo kỹ năngnghề - các chương trình mang tính tổng thể cao và mang lại lợi ích cho cả người lao động và người sử dụnglao động Tại Nhật Bản, Trợ cấp BHTN thực hiện chi trả hỗ trợ xúc tiến việc làm, chi phí đi lại và các chi phí

hỗ trợ tìm việc làm ở địa bàn rộng

Tất cả các quốc gia đều cung cấp các dịch vụ việc làm thông dụng gắn với tính hiệu quả của hoạt động tìmviệc làm, như tư vấn, sàn giao dịch việc làm, hỗ trợ viết sơ yếu lý lịch (CV), thông tin thị trường lao động,ngân hàng công việc.v.v

Có nhiều chương trình khác nhau dành cho người thất nghiệp đang hưởng trợ cấp BHTN khi họ tham gia cáckhóa đào tạo, đặc biệt là các khoản trợ cấp bổ sung nhằm trang trải các kinh phí liên quan đến đào tạo cũngnhư gia hạn trợ cấp nếu như khóa đào tạo kéo dài hơn khoảng thời gian hưởng trợ cấp BHTN Tại TrungQuốc, Quỹ BHTN có thể được sử dụng nhằm hỗ trợ cho việc đào tạo nghề và tư vấn nghề cho người thấtnghiệp nhằm hỗ trợ họ tìm được việc làm Tại Mông Cổ, người thất nghiệp đủ điều kiện hưởng BHTN đượctham gia vào các khóa đào tạo hoặc đào tạo lại trong khoảng thời gian 06 tháng sau khi kết thúc hợp đồngcông việc và sau khoảng thời gian 02 năm sau khi kết thúc khóa đào tạo nghề đầu tiên

Nhật Bản có một chương trình xúc tiến việc làm hoạt động rất mạnh mẽ bao gồm việc chi trả trợ cấp TN trongkhoảng thời gian tham gia đào tạo mà không xét đến thời gian bao lâu đối tượng đã nhận trợ cấp BHTN.Chương trình cũng hỗ trợ “tìm kiếm việc làm ở địa bàn rộng” khi người lao động muốn tìm kiếm việc làm ởbên ngoài khu vực chỉ định có thể được hưởng trợ cấp BHTN thêm 90 ngày Tại Đức, Hệ thống đào tạo nghề

có lẽ là cấu phần quan trọng nhất của Hệ thống giáo dục Đức, đặt trọng tâm chủ yếu vào việc thực hành đốivới các vị trí đòi hỏi lao động có kỹ năng thông qua sự đào tạo của các lao động lành nghề/các chuyên gia đàotạo.Vì vậy, Đức có tỷ lệ sinh viên đại học thấp hơn so với các quốc gia khác ở khu vực Tây Âu, và có tỷ trọngthấp hơn về người lao động tham gia vào lực lượng lao động để vừa học vừa làm

D) SO SÁNH HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CHƯƠNG TRÌNH BHTN/BHVL

Xét đến các mối quan tâm và nhu cầu khác nhau giữa lao động nữ giới và nam giới

Các chương trình BHXH như BHTN phải không phân biệt về giới tính, nói cách khác là tạo điều kiện tiếp cậncông bằng khi tham gia và đem lại lợi ích cho cả nam giới và nữ giới Điều này có thể đòi hỏi các quy địnhđặc biệt để đảm bảo sự bình đẳng giới nêu trên Phụ nữ hiện vẫn là người chăm sóc chính đối với trẻ em vàchịu trách nhiệm với nhiều việc trong gia đình Họ cũng thường bị trả lương thấp và có thể ít được chú ý trongthực tiễn tuyển dụng Phụ nữ cũng chiếm phần nhiều trong số những người mới đi tìm việc làm sau khoảngthời gian chăm sóc con nhỏ hoặc thành viên gia đình bị đau ốm hoặc sau khi ly dị, ly thân hoặc sau khi ngườichồng/vợ qua đời

Đôi khi có những thời điểm không thể hiện rõ ràng về mức độ mà pháp luật cần phải thực hiện để giải quyếtcác vấn đề nêu trên, nhưng trong khuôn khổ chương trình BHTN, cần phải nỗ lực để nhận biết các tình huống

đó cũng như khuyến khích một sự cân bằng giữa công việc – cuộc sống

Vì vậy, các chương trình BHTN cần phải hỗ trợ đặc biệt đối với khoảng thời gian không tham gia lực lượnglao động của nữ giới vì lý do sinh con hoặc chăm sóc con nhỏ Điều này được Đan Mạch thực hiện thông quaviệc gia hạn trong khoảng thời gian 03 năm mà trong đó người lao động nghỉ sinh nở hay nghỉ chăm sóc connhỏ (hay nghỉ do đau ốm) có thể tìm các công việc được bảo hiểm ở mức tối thiểu cần thiết cho họ để đảm bảo

đủ điều kiện hưởng trợ cấp BHTN, cũng như áp dụng các điều chỉnh về thời gian nghỉ chăm sóc con nhỏ dựatheo phương thức bán thời gian để chăm sóc con nhỏ

Trang 39

Pháp cũng áp dụng phương pháp tiếp cận tương tự Cũng tại Pháp, các lý do chính đang để thôi việc, và dovậy đủ điều kiện hưởng trợ cấp BHTN, bao gồm lý do bị lạm dụng tình dục hoặc chuyển chỗ ở để theovợ/chồng (hoặc theo cha mẹ trong trường hợp thanh niên dưới 18 tuổi) Các quy định tương tự cũng thườngđược áp dụng ở các quốc gia khác, ví dụ như tại Canada và nhiều bang của Mỹ

Tất cả 14 chương trình cũng áp dụng tối thiểu là nghỉ đẻ, và ở một số trường hợp là nghỉ nuôi con, cũng thuộcvào các chương trình BHTN (tại Canada và Nhật Bnar) hoặc được thực hiện như là các chương trình riêngbiệt

Xét đến các mối quan tâm và nhu cầu khác nhau của người khuyết tật

Người khuyết tật phải đối mặt với các thách thức đặc thù khi họ tìm cách hòa nhập vào thị trường lao độnghoặc xét ở khía cạnh thực tế là công việc dành cho họ được tạo ra thông qua các chương trình việc làm công.Các biện pháp sau đây được áp dụng ở các quốc gia thuộc phạm vi nghiên cứu của Báo cáo này

Tại Đức, các biện pháp hỗ trợ hòa nhập bao gồm tư vấn và giới thiệu việc làm nhằm cải thiện triển vọng hòanhập gắn với xúc tiến việc làm, tự tạo việc làm, bắt đầu tham gia và nâng cao kỹ năng nghề Tương tự nhưvậy, người sử dụng lao động có thể được hỗ trợ nhằm trợ giúp sự hòa nhập của người khuyết tật và người tàntật

Một số bang của Mỹ cho phép người lao động không có việc làm trong khoảng thời gian gần đây được sửdụng tiền lương và công việc trước đó khi bị ốm đau hoặc tai nạn Có 10 bang cho phép người hưởng trợ cấptiếp tục nhận trợ cấp BHTN khi họ bị ốm đau hoặc bị tàn tật sau khi hết thời gian hưởng trợ cấp, cho đến khingười hưởng trợ cấp đó tự chối chận công việc phù hợp được giới thiệu cho họ

Tại Canada, chương trình BHVL hỗ trợ một số chương trình và dịch vụ việc làm nhằm giúp đỡ người khuyếttật hòa nhập thị trường lao động Một trong số đó là Quỹ cơ hội dành cho người khuyết tật, đây là một chươngtrình thực hiện tài trợ cho các tổ chức giúp đỡ người khuyết tật chuẩn bị làm việc, tìm được việc làm và duy trìcông việc hoặc trở thành lao động tự làm

Chương trình BHVL của Canada cũng áp dụng các quy định cho phép một mức độ linh hoạt nhất định đối vớicác đối tượng bị ốm đau hoặc bị khuyết tật, liên quan đến khoảng thời gian mà đối tượng đó phải có đủ điềukiện hưởng trợ cấp cũng như khoảng thời gian được hưởng trợ cấp BHVL

Tại Thái Lan, theo quy định của pháp luật người sử dụng lao động có từ 100 lao động trở lên phải sử dụng 1%lực lượng lao động là người khuyết tật Tương tự như vậy tại Nhật Bản, các doanh nghiệp có từ 200 lao độngtrở lên phải sử dụng tối thiểu 1,8% lực lượng lao động là người khuyết tật

Các chỉ tiêu thực hiện và giám sát liên quan đến hiệu quả và các thách thức đối với chương trình (Đặc biệt là các biện pháp phòng và chống)

Có một câu châm ngôn là: “Giám sát để hoàn thiện.” Có nhiều ấn phẩm, báo cáo và nghiên cứu đã hướng tớicác phương thức giám sát hoạt động một cách hiệu quả, từ các mục tiêu đến các chỉ số và việc thu thập dữliệu, từ các trách nhiệm đến mục tiêu và báo cáo, kết thúc là một quá trình cải thiện liên tục Tuy vậy, cũng cócác khó khăn gặp phải: việc giám sát có xu hướng làm biến dạng các đối tượng được giám sát, các các nhân và

tổ chức trở lên thích nghi với các khía cạnh được giám sát và có thể dẫn tới việc không chú ý tới các khía cạnhquan trọng nhưng không được giám sát

Trang 40

mức, gian lận, chi trả dưới mức quy định và từ chối chi trả do hành vi vi phạm, giải quyết khiếu nai, sự tuânthủ và việc báo cáo được thực hiện bởi người sử dụng lao động.17

Đứng ở vị trí riêng biệt so với hệ thống đánh giá thực hiện nêu trên, Mỹ cũng thực hiện báo cáo thường xuyên

về số liệu thống kê BHTN, ví dụ số liệu về đề nghị hưởng trợ cấp hàng tuần, đặc điểm của các đối tượng thấtnghiệp thuộc diện bảo hiểm, số liệu tài chính hàng tháng và hàng quý được chi trả và mức phí đã thu

Canada cũng tiến hành các hình thức đánh giá thực hiện tương tự nhằm hướng dẫn cho việc quản lý chươngtrình BHVL, tuy vậy chỉ có một ít các kết quả được công bố, các báo cáo có liên quan hầu hết chỉ được giớihạn trong phạm vi lưu hành nội bộ Một báo cáo rất đáng chú ý được công bố là Báo cáo đánh giá và giám sátBHVL18, trong đó cung cấp thông tin tổng thể và các đánh giá về kinh nghiệm thực hiện chương trình BHVL.Tuy vậy, chi có một số ít, hạn chế các chỉ số và các dữ liệu tài chính chung được trình bày ở hai ấn khác đó làtrong Báo cáo hoạt động hàng năm của Bộ có thẩm quyền quản lý và Báo cáo Tài khoản công của Chính phủCanada Số liệu thống kê về số người hưởng trợ cấp và chi trả trợ cấp BHTN được công bố hàng tháng bởiTổng cục Thống kê của Canada

Báo cáo của Canada về đánh giá và giám sát BHVL cũng rất đáng quan tâm xét theo khía cạnh trình bày vàđánh giá các biện pháp được thiết kế như trợ cấp việc làm và các biện pháp hỗ trợ (EBSM), tương ứng mộtcách tổng thể đối với các biện pháp được biết dưới tên gọi các chính sách thị trường lao động chủ động(ALMP) – ngoại trừ yêu cầu tích cực tìm việc làm mà Canada coi là một bộ phận không thể tách rời củachương trình BHVL hơn là một biện pháp được tích hợp và vì thế không được giám sát một cách riêng rẽ TạiCanada, các biện pháp ALMP chủ yếu được quản lý bởi chính quyền cấp tỉnh trong khuôn khổ đối tác giữachính quyền liên bang – chính quyền tỉnh và cần được đánh giá định kỳ Kết quả của các đánh giá đó thườngkhá tương đồng và chỉ rõ các quan ngại về hiệu quả chung của các chính sách thị trường lao động chủ độngnhư sau19:

“Nhìn chung, căn cứ vào tác động ròng được dự tính cho đến thời điểm hiện tại, hệ thống EBSM đã có một sốtác động nhỏ mang tính tích cực đối với các thành viên tham dự, dù vậy các kết quả đạt được cũng không nhấtquán trong tất cả các đánh giá Các kết quả đạt được phản ánh trong việc đánh giá được thực hiện tại các quốcgia thuộc tổ chức OECD Qua hoạt động đánh giá đó có thể rút ra được kết luận là các chính sách thị trườnglao động chủ động có tác động hạn chế trong điều kiện tỷ lệ thất nghiệp cao và thị trường lao động non yếu.Tương tự như nghiên cứu của OECD, một nghiên cứu tổng thể hơn về 97 đánh giá kinh tế lượng vi mô liênquan đến các chính sách thị trường lao động chủ động cho thấy rằng các chương trình việc làm khu vực côngđược Nhà nước tài trợ là tương đối kém hiệu quả Tuy vậy, nghiên cứu đó cũng chỉ ra các ảnh hưởng khá tíchcực về mặt dài hạn (từ 2 năm trở lên) so với mặt ngắn hạn của giáo dục và đào tạo tại chức Nghiên cứu cũngrút ra kết luận là các đánh giá về mặt dài hạn cho thấy kết quả khả quan hơn so với các đánh giá trong ngắnhạn Nhiều chương trình đã không có tác dụng hoặc thậm chí gây ra tác động tiêu cực chỉ sau khoảng thời gianmột năm, nhưng sau đó đã có kết quả tích cực rõ rệt sau khoảng từ hai đến ba năm.”

So sánh giữa đối tượng áp dụng theo quy định của pháp luật và trên thực tế

Nhằm đánh giá phạm vi và ảnh hương của các chế độ an sinh xã hội, ILO đã đưa ra hai biện pháp khác nhau làđối tượng áp dụng theo pháp định và đối tượng áp dụng trên thực tế Đối với bất kỳ nhánh an sinh xã hội nào,đối tượng áp dụng theo pháp định thường được hiểu chung là tỷ lệ đối tượng bảo hiểm trên tổng số đối tượngtrên nguyên tắc có thể được áp dụng dạng chương trình an sinh này Mặt khác, đối tượng áp dụng trên thực tếthường được xác định bằng cách lấy số người hưởng trợ cấp chia cho số người, trong tổng số dân cư, đangchịu tác động của những tình huống nhất định

17 Xem trang web của Bộ Lao động Mỹ http://workforcesecurity.doleta.gov/unemploy/

18 Xem báo cáo năm 2010 tại http://www.hrsdc.gc.ca/eng/employment/ei/reports/eimar_2010/index.shtml

19 Xem http://www.hrsdc.gc.ca/eng/employment/ei/reports/eimar_2010/Chapter5_4_4.shtml

Ngày đăng: 26/02/2019, 17:15

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w