1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Báo cáo đánh giá tác động của dự thảo luật bảo hiểm việc làm

44 98 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 44
Dung lượng 226,45 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đócũng là những vấn đề quan trọng đối với hoạt động cải cách pháp luật, gắn với các mụctiêu của Dự thảo Luật nuôi con nuôi, bảo đảm cho các nhà hoạch định đưa ra được cácchính sách tốt,

Trang 1

BỘ TƯ PHÁP

_

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc _

BÁO CÁO ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA

DỰ THẢO LUẬT BẢO HIỂM VIỆC LÀM

_

A TÊN DỰ THẢO LUẬT

Tên gọi của dự thảo luật: “Luật Bảo hiểm việc làm” (sau đây gọi là dự thảo Luật)

B MỤC ĐÍCH BAN HÀNH LUẬT BẢO HIỂM VIỆC LÀM

- Điều chỉnh thống nhất vấn đề việc làm và chính sách đối với người lao độngtrong vấn đề việc làm

C GIỚI THIỆU CHUNG

Hiện trên toàn thế giới có 79 quốc gia và vùng lãnh thổ thực hiện chính sách Bảohiểm việc làm Ở khu vực Đông Nam Á, Việt Nam là nước thứ 2 sau Thái Lan thực hiệnchính sách này, mang lại quyền lợi không nhỏ cho người lao động và người sử dụng laođộng nhất là những người lao động vì nhiều nguyên nhân khác nhau bị giảm hoặc mất thunhập, thất nghiệp, dẫn đến đời sống khó khăn

Ngoài ra, kết quả của báo cáo RIA đối với dự án Luật nuôi con nuôi còn giúp choBan soạn thảo, Tổ biên tập, các nhà lập pháp nâng cao năng lực đánh giá tác động củaviệc ban hành và thực hiện Luật nuôi con nuôi đối với các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xãhội, an ninh quốc phòng và các lĩnh vực khác

Cũng trên tinh thần đó, việc ứng dụng phương pháp RIA còn là một thử nghiệm vàbài học rút ra từ thử nghiệm này sẽ giúp cho Nhóm nghiên cứu có thể xây dựng mộtchiến lược RIA có chất lượng tốt hơn, tổng thể và toàn diện hơn khi đánh giá những tácđộng của việc thực thi các quy định liên quan đến việc giải quyết nuôi con nuôi tại ViệtNam trong tương lai

- Tạo nên một chính sách an sinh xã hội bền vững, nhằm bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do giảm giờ làm việc, thất nghiệp Là điểm tựa cho người lao động.

Ngày 29/6/2006, Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã thôngqua Luật Bảo hiểm Xã hội Trong đó, chính sách Bảo hiểm thất nghiệp (cơ sở nềnmóng của Luật Việc làm) chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2009

Trang 2

Với mục đích đó, Bộ Tư pháp (cơ quan chủ trì soạn thảo Luật nuôi con nuôi theo

sự phân công của Chính phủ) đã tiến hành đánh giá các cải cách quan trọng trong dự ánLuật, trên phương diện cải thiện luật pháp Đối tượng đánh giá theo phương pháp RIA,như Báo cáo này thể hiện, là căn cứ vào những nội dung cơ bản của dự thảo 1 Luật nuôicon nuôi mà Bộ Tư pháp đã trình Chính phủ vào tháng 7/2009

Quá trình đánh giá tác động văn bản pháp luật là quá trình hỗ trợ Ban soạn thảocân nhắc lại các lợi ích và chi phí tốt nhất đối với mỗi phương án lựa chọn đang đượcxem xét và quyết định soạn thảo Kết quả của việc đánh giá thông qua quy trình RIA làcăn cứ chứng minh tính phù hợp thực tiễn của các quy định trong bản Dự thảo Luật nuôicon nuôi Kết quả của báo cáo RIA là một trong những cơ sở khoa học để các bên thamgia cùng với các cơ quan của Quốc hội, đặc biệt là đại biểu Quốc hội thảo luận và thôngqua dự án Luật nuôi con nuôi

Do bản chất phức tạp và nhạy cảm của vấn đề nuôi con nuôi và do thời gian thựchiện RIA không nhiều, nên Nhóm nghiên cứu lập báo cáo RIA đã xác định các vấn đềchủ chốt nhất trong quá trình phân tích mối quan hệ vấn đề và triệu chứng, trên cơ sở đóchọn ra một số vấn đề quan trọng để đánh giá, phân tích tác động trong thời gian chophép Một trong những tiêu chí quan trọng để chọn lựa nội dung đánh giá tác động của dự

án văn bản là mức độ gây tranh luận và có các ý kiến khác nhau xung quanh các vấn đề

cụ thể của dự án Vì vậy, Nhóm nghiên cứu đã quyết định đánh giá các vấn đề dựa trêncác mục tiêu căn bản của Dự thảo Luật nuôi con nuôi và các tiêu chí đánh giá của RIA

Khi so sánh tác động ảnh hưởng, chi phí và lợi ích của các phương án khác nhau

về cùng một vấn đề đánh giá, Nhóm nghiên cứu đi đến khuyến nghị nên lựa chọn phương

án có lợi nhất đối với việc thực thi chế định nuôi con nuôi Do đó, đối với những vấn đề

có tính chính sách hay qua đánh giá tác động thấy phù hợp mà vì lý do nào đó chưa đưađược vào dự thảo Luật, thì nên lưu ý để làm căn cứ xây dựng và ban hành các văn bảnhướng dẫn sau khi dự thảo Luật được Quốc hội thông qua

Báo cáo RIA về Dự thảo Luật nuôi con nuôi tập trung vào 7 nhóm vấn đề mà nội

dung của nó có nhiều ý kiến khác nhau, gây tranh luận trong quá trình soạn thảo Đócũng là những vấn đề quan trọng đối với hoạt động cải cách pháp luật, gắn với các mụctiêu của Dự thảo Luật nuôi con nuôi, bảo đảm cho các nhà hoạch định đưa ra được cácchính sách tốt, giúp cho việc thực thi Luật nuôi con nuôi đạt chất lượng cao; tăng cườngtính minh bạch, tính thống nhất và tính dễ tiếp cận của hệ thống quy định về nuôi connuôi

7 nhóm vấn đề cụ thể như sau:

Nhóm vấn đề 1: Sự cần thiết ban hành Luật nuôi con nuôi;

Nhóm vấn đề 2: Ưu tiên nuôi con nuôi trong nước và biện pháp bảo đảm ưu tiên

nuôi con nuôi trong nước;

Trang 3

Nhóm vấn đề 3: Điều kiện nuôi con nuôi, đối tượng trẻ em được nhận làm con

nuôi (trong nước và nước ngoài);

Nhóm vấn đề 4: Đánh giá điều kiện nuôi con nuôi đối với người nhận con nuôi

trong nước;

Nhóm vấn đề 5: Đánh giá thủ tục giới thiệu trẻ em làm con nuôi người nước ngoài; Nhóm vấn đề 6: Tăng cường thẩm quyền của Cơ quan con nuôi Trung ương (Bộ

Tư pháp); và

Nhóm vấn đề 7: Minh bạch hoá các hoạt động tài chính liên quan đến hoạt động

nuôi con nuôi

Nhóm nghiên cứu đã xác định có 26 phương án lựa chọn được xem xét, trong

quá trình đánh giá tác động đối với 7 nhóm vấn đề nêu trên Mỗi nhóm vấn đề sẽ có mộtgiải pháp mang tính chất vạch ranh giới - giải pháp giữ nguyên hiện trạng (hoặc khôngcan thiệp), tức là không thay đổi tình trạng hiện có của vấn đề Giải pháp giữ nguyên hiệntrạng luôn được sử dụng trong báo cáo RIA bởi phân tích RIA luôn tính tới các tác độngngoại biên; nghĩa là phải so sánh tác động của tất cả các giải pháp thay đổi với giải phápgiữ nguyên hiện trạng, để tìm hiểu rõ hơn tác động ngoại biên

Trong giai đoạn xây dựng RIA trước và trong quá trình soạn thảo, quy trình RIA

đã được thực hiện và lặp đi lặp lại nhiều lần

Trong số 7 nhóm vấn đề đã xác định và tham vấn ý kiến công chúng, có nhóm vấn

đề 3, 5, 6 có sự thay đổi về phương án sau khi có ý kiến tham gia của các chuyên giapháp luật của Vụ Pháp luật của Văn phòng Quốc hội, Uỷ ban pháp luật Quốc hội, Vụpháp luật Văn phòng Chính phủ, ý kiến thẩm tra sơ bộ của Thường trực Uỷ ban pháp luật

- Quốc hội

Cụ thể như sau:

Nhóm vấn đề 3: Xác định điều kiện trẻ em để cho làm con nuôi

Hiện nay, việc phân chia hình thức xin nhận con nuôi thành con nuôi trọn vẹn vàđơn giản sẽ gây nhiều phức tạp, lạ lẫm đối với cộng đồng dân cư, có thể gây xúc độngtrong xã hội về hệ quả của hình thúc con nuôi Cụ thể hình thức con nuôi trọn vẹn dẫnđến hệ quả cắt đứt quan hệ giữa trẻ với gia đình cha mẹ đẻ, con đẻ không được quyềnthừa kế của cha mẹ đẻ sẽ gây nhiều điều xáo trộn trong tâm lý dân cư, trái với thuầnphong mỹ tục của người Việt Nam Vì vậy, dự thảo Luật sẽ không phân chia con nuôithành hai hình thức trọn vẹn và đơn giản Về mặt tên gọi hình thức trọn vẹn và đơn giảncũng có thể gây nhiều điều khó hiểu

Nhóm vấn đề 5: Đánh giá thủ tục giới thiệu trẻ em làm con nuôi người nước ngoài (Điều 38 và 39 dự thảo Luật)

Trang 4

Thủ tục giới thiệu trẻ em về căn bản phải có sự thay đổi so với quy trình thủ tụchiện hành Tuy nhiên, phương án đề xuất của RIA về cải tiến quy định giới thiệu trẻ emkhác so với giai đoạn đánh giá RIA sơ bộ Cụ thể như sau: thẩm quyền giới thiệu trẻ emlàm con nuôi người nước ngoài sẽ thuộc về Hội đồng tư vấn giới thiệu trẻ em ở từng tỉnh,thành phố nơi trẻ em được nuôi dưỡng và sinh sống Các tiêu chí giới thiệu trẻ em sẽ do

Bộ Tư pháp ban hành theo nguyên tắc quy định tại các điều 4, điều 38, 39 dự thảo Luật

Nhóm vấn đề 6: Tăng cường thẩm quyền của Cơ quan Trung ương về con nuôi quốc tế.

Trên nền tảng con nuôi trong nước là giải pháp ban đầu và được ưu tiên, đồng thờithủ tục giới thiệu trẻ em thuộc Hội đồng tư vấn giới thiệu trẻ em của tỉnh/thành phố (điều

38 dự thảo Luật) nên việc tăng cường thẩm quyền của Cơ quan Trung ương về con nuôiquốc tế trong thủ tục giới thiệu trẻ em không còn là một vấn đề cấp thiết nữa Dự thảoLuật đã bỏ quy định Bộ Tư pháp giới thiệu trẻ em làm con nuôi người nước ngoài Tuynhiên, trong khuôn khổ Việt Nam đang trong quá trình gia nhập Công ước La Hay năm

1993 việc tăng cường thẩm quyền của Cơ quan Trung ương về con nuôi quốc tế là điềucần thiết sau này

(3) Xác định phương thức đánh giá tác động cho từng vấn đề thông qua việc xác

định các yếu tố có ảnh hưởng lớn nhất (như chi phí và lợi ích cơ bản)

(4) Xác định nhu cầu về dữ liệu phân tích.

(5) Xác định phương pháp thu thập dữ liệu và tham vấn về phương pháp đó (6) Thu thập, tập hợp dữ liệu và tham vấn bằng phương pháp đã nhất trí tại bước 5 (7) Phân tích các dữ liệu đã thu thập

(8) Thống nhất về cách diễn giải kết quả phân tích và kết luận

(9) Lập báo cáo đánh giá tác động

Trang 5

- Xây dựng các tiêu chí để lựa chọn giải quyết vấn đề trên cơ sở mục tiêu của Dựthảo Luật và vấn đề còn nhiều ý kiến khác nhau;

- Tiến hành đánh giá các mức độ tác động của các vấn đề theo các tiêu chí đã đềra;

- Lựa chọn ra được 7 vấn đề có tác động lớn nhất

Tiếp theo đó, chúng tôi tiếp tục thảo luận để tìm ra tất cả các giải pháp có thể giải

quyết nhóm 7 vấn đề nói trên, tổng cộng đã tìm ra được 26 phương án lựa chọn Như

trên đã trình bày, mỗi vấn đề luôn có một phương án là giữ nguyên hiện trạng

Việc phân tích, đánh giá và so sánh các tác động của những giải pháp đã đề xuấtđược phát triển dựa trên cơ sở của thực tiễn trong nước và quốc tế, và số liệu thu thậpđược về quá trình giải quyết việc nuôi con nuôi ở các địa phương của Việt Nam Côngđoạn khó khăn nhất của báo cáo RIA này là thu thập dữ liệu, thông tin vì thời gian quágấp và nguồn thông tin không sẵn có Để có thể phân tích các yếu tố chi phối mạnh nhất

như chi phí - lợi ích của mỗi giải pháp, chúng tôi đã thu thập 14 loại số liệu từ nhiều

nguồn khác nhau như Sở Tư pháp, Sở LĐ-TBXH, Văn phòng Con nuôi nước ngoài củacác tổ chức con nuôi nước ngoài tại Việt Nam, UBND cấp huyện, UBND xã, phường, Cơ

sở nuôi dưỡng trẻ em

Khi phân tích, đánh giá các phương án, nhóm Nghiên cứu kết hợp cả phương phápđịnh lượng và định tính theo nguyên tắc phân tích định lượng phải được sử dụng tối đatrong phạm vi thời lượng và nguồn lực cho phép Một số tác động quan trọng không thểlượng hoá được thì phải được mô tả theo phương pháp định tính chính xác nhất có thể, vàkết luận phải được kèm theo các giả định và lô-gic Lợi ích và chi phí của mỗi phương ánsẽ được so sánh với nhau và đề xuất đưa ra phải dựa trên tính toán lợi ích và chi phí của

mỗi phương án Phương pháp phân tích trên được gọi là phương pháp phân tích lợi ích chi phí mềm vì phương pháp này kết hợp cả phương pháp định tính và định lượng vào

-một khung duy nhất để từ đó các lựa chọn được so sánh lần lượt theo -một phương thứcnhất quán

Đ ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG DỰ THẢO LUẬT NUÔI CON NUÔI THEO 7 NHÓM VẤN ĐỀ LỰA CHỌN

I Sự cần thiết ban hành Luật nuôi con nuôi

1 Xác định vấn đề

Hệ thống các quy định hiện hành về nuôi con nuôi của Việt Nam được quy địnhtản mạn ở nhiều văn bản pháp luật khác nhau, cụ thể:

- Bộ luật Dân sự năm 2005

- Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000

Trang 6

- Nghị định số 70/2001/NĐ-CP ngày 3 tháng 10 năm 2001 quy định chi tiết thihành Luật Hôn nhân và Gia đình.

- Nghị định số 32/2002/NĐ-CP ngày 27 tháng 3 năm 2002 quy định việc áp dụngLuật Hôn nhân và Gia đình đối với các dân tộc thiểu số

- Nghị định số 68/2002/NĐ-CP ngày 10 tháng 7 năm 2002 quy định chi tiết thihành một số điều của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 về quan hệ hôn nhân và giađình có yếu tố nước ngoài

- Nghị định số 69/2006/NĐ-CP ngày 21 tháng 7 năm 2006 sửa đổi, bổ sung một sốđiều của Nghị định số 68/2002/NĐ-CP

- Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27 tháng 12 năm 2005 về đăng ký và quảnlý hộ tịch

- Thông tư số 08/2006/TT-BTP ngày 8 tháng 12 năm 2006 của Bộ Tư pháp hướngdẫn thực hiện một số quy định về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài

- Thông tư số 01/2008/TT-BTP hướng dẫn thực hiện một số điều Nghị định số158/2005/NĐ-CP ngày 27 tháng 12 năm 2005 về đăng ký và quản lý hộ tịch

- Một số các văn bản khác trong lĩnh vực bảo trợ xã hội liên quan đến trẻ em; thu,nộp, quản lý và sử dụng phí giải quyết việc nuôi con nuôi; xử phạt vi phạm hành chínhtrong lĩnh vực tư pháp, quy chế quản lý Văn phòng Con nuôi nước ngoài tại Việt Nam

và Gia đình và các văn bản pháp luật khác liên quan đến độ tuổi của trẻ em) Cụ thể,

trong Bộ luật Dân sự quy định người dưới 18 tuổi là người chưa thành niên; theo LuậtThanh niên năm 2005, người từ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi là thanh niên; theo Luật Bảo vệ,Chăm sóc và Giáo dục trẻ em năm 2004, trẻ em là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi Còn

độ tuổi của trẻ em được cho làm con nuôi là từ 15 tuổi trở xuống Bên cạnh đó, pháp luậtcòn quy định một số trường hợp ngoại lệ, như con nuôi là thương binh, bệnh binh, ngườimất năng lực hành vi dân sự hoặc làm con nuôi của người già yếu cô đơn, thì có thể trên

15 tuổi (về lý thuyết, người 60 tuổi già yếu, cô đơn thì có thể nhận người 40 tuổi làm connuôi)

2.1 Hiện tại đang thiếu các quy định và cơ chế thực hiện để đánh giá tính hợp

lệ của việc nuôi con nuôi: như đánh giá tính hợp pháp của mục đích xin nhận nuôi con

nuôi, xem xét đánh giá điều kiện nuôi con nuôi của người nhận con nuôi, xác định lợi íchtốt nhất của trẻ em được nhận làm con nuôi

Trang 7

2.2 Các quy định còn tản mạn, thiếu rõ ràng, không chặt chẽ và thống nhất, tạo

cơ hội cho những người trung gian lợi dụng cơ chế nhằm mục đích trục lợi, không vì mục đích bảo vệ quyền và lợi ích của trẻ em

Ví dụ tình hình giải quyết việc nuôi con nuôi quốc tế tại tỉnh Nam Định hoặc một

số địa phương khác (có hiện tượng làm giả, làm sai lệch nguồn gốc của trẻ em được giới thiệu làm con nuôi người nước ngoài); hiện tượng các cơ sở nuôi dưỡng chỉ giới thiệu trẻ

em làm con nuôi cho người nước ngoài; từ chối yêu cầu xin nhận con nuôi của ngườinhận con nuôi trong nước; không có quy định giám sát, theo dõi việc thực hiện nuôi connuôi trong nước, trong khi đó quy định theo dõi tình hình phát triển của trẻ em Việt Namđược nhận làm con nuôi ở nước ngoài lại không thiết thực, không thể thực hiện với hiệu

quả cao, vì thời gian báo cáo tình hình phát triển của con nuôi lại quá dài (cho tới năm trẻ

em 18 tuổi)

2.3 Ngoài ra, quy định thiếu rõ ràng khiếncho việc thực thi trong thực tế là rất khókhăn Có thể trẻ em vẫn được nhận làm con nuôi nhưng mục đích nhận con nuôi không rõràng, có sự che đậy mục đích mà cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi đăng ký việc nuôicon nuôi không thể phát hiện ra

2.4 Quy định hiện hành chưa tạo ra sự liên thông về quản lý nuôi con nuôi trongnước và nuôi con nuôi quốc tế, chưa có sự quản lý thống nhất, phân cấp quản lý còn bấthợp lý Chưa có quy định về việc theo dõi và giám sát việc thực hiện nuôi con nuôi trongnước Đối với nuôi con nuôi quốc tế, thiếu sự phối, kết hợp hiệu quả giữa các cơ quannhà nước trong việc theo dõi và giám sát tình hình phát triển của trẻ em Việt Nam ở nướcngoài

2.5 Một số quy định được ban hành nhưng khó khả thi, vì không phản ánh đúngthực trạng và các vấn đề hiện tại của Việt Nam Ví dụ quy định về việc nuôi con nuôi tạicác khu vực biên giới Bên cạnh đó, pháp luật cũng chưa có quy định để giải quyết cáctrường hợp nuôi con nuôi thực tế (không đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền).Ngoài ra, trình tự và thủ tục cho nhận con nuôi trong nước chưa đáp ứng được tiêu chílựa chọn những gia đình có đủ điều kiện kinh tế, tâm lý, xã hội thích hợp nhất đối vớitừng trường hợp trẻ em được nhận làm con nuôi

2.6 Việt Nam hiện chưa lồng ghép đầy đủ các tiêu chuẩn quốc tế trong quy định vềnuôi con nuôi Ví dụ như yêu cầu minh bạch hóa tài chính trong hoạt động nuôi con nuôiquốc tế; giới thiệu trẻ em làm con nuôi người nước ngoài chưa được thực hiện theo yêucầu của Công ước La Hay năm 1993 về bảo vệ trẻ em trong lĩnh vực con nuôi quốc tế;tiêu chí lựa chọn các tổ chức con nuôi nước ngoài được phép hoạt động tại Việt Nam

3 Mục tiêu của chính sách

Luật nuôi con nuôi cần sớm được ban hành nhằm khắc phục những hiện tượngtrên, tạo ra hệ thống các quy định pháp luật thông suốt giữa nuôi con nuôi trong nước vànuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài; nâng cao hiệu quả áp dụng của những quy định liên

Trang 8

quan đến một số thủ tục giải quyết nuôi con nuôi; tạo ra cơ chế phối hợp, kiểm tra, giámsát việc nuôi con nuôi của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong lĩnh vực này

4 Phương án để lựa chọn

Đưa ra 3 phương án lựa chọn giải quyết vấn đề này.

Phương án 1 Chỉ cần thực hiện tốt các quy định hiện hành.

Phương án 2 Sửa đổi, bổ sung các quy định hiện hành.

Phương án 3 Ban hành Luật nuôi con nuôi.

5 Đánh giá tác động của các phương án lựa chọn

Theo kết quả thu được thông qua hoạt động lấy ý kiến công chúng bằng phiếutham vấn RIA tại 03 tỉnh Lai Châu, TP Đà Nẵng và TP Hồ Chí Minh và một số đơn vị

thuộc Bộ Tư pháp tại Hà Nội, về “Sự cần thiết ban hành Luật nuôi con nuôi” với 260 phiếu tham vấn, có:

- 71,5% người được tham vấn trả lời đồng ý với phương án 3 cần phải ban hành

Luật nuôi con nuôi (186/260 phiếu)

- 14,6% người được tham vấn đồng ý với phương án 2 chỉ cần Sửa đổi, bổ sung

các quy định hiện hành là đủ để có thể đáp ứng được yêu cầu (38/260 phiếu)

- 7,3% người được tham vấn trả lời với phương án 1 giữ nguyên các quy định hiện

hành (19/260 phiếu)

- 6,2% phiếu tham vấn còn lại do trả lời không đúng do tích nhiều phương án

không đạt yêu cầu phiếu tham vấn đề (16/260 phiếu)

- 0,4% ý kiến khác (1/260 phiếu).

- 100% ý kiến tham vấn của các Bộ, ngành đồng ý là cần phải ban hành Luật nuôi

con nuôi

Đối tượng tham vấn đa dạng bao gồm: Cán bộ công tác tại cơ sở nuôi dưỡng, cán

bộ công tác tại cơ quan lao động thương binh và Xã hội, cán bộ UBND xã phường thịtrấn (trong đó chủ yếu là cán bộ tư pháp), cán bộ Công an, Biên phòng (ở Lai Châu), cán

bộ làm việc trong các văn phòng con nuôi nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam,phóng viên, nhà báo, người dân (chủ yếu là người Việt Nam đã làm thủ tục nhận connuôi), cán bộ đang công tác tại Bộ Tư pháp… Như vậy, các đối tượng đã tiến hành thamvấn là những đối tượng chịu ảnh hưởng trực tiếp khi Luật nuôi con nuôi được ban hành,hoặc là những người trực tiếp áp dụng các quy định pháp luật

Trang 9

14.6% 7.3%

6.2%

0.4%

Biểu đồ thể hiện ý kiến tham vấn về Sự cần thiết

ban hành Luật Con nuôi

Phương án 1 - Chỉ cần thực hiện tốt các quy định hiện hành

Phương án 2 - Sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật hiện hành

Phương án 3 - Ban hành Luật Con nuôi

Trả lời không đúng hoặc không trả lời

Phương án 2 - Sửa đổi,

bổ sung các quy định pháp luật hiện có

Phương án 3 - Ban hành Luật Nuôi con nuôi mới

Trả lời không đúng hoặc không trả lời

Nếu thể hiện theo tỉnh về sự cần thiết ban hành Luật nuôi con nuôi được thể hiệnthông qua biểu đồ sau: tại 4 tỉnh, thành phố được khảo sát, phương án 3 đã được đa số ýkiến tham vấn chấp thuận Cụ thể tại TP HCM 56% TP Đà Nẵng 54%, TP Hà Nội 44%,Lai Châu 32% ý kiến đồng ý

Phương án 1: Chỉ cần thực hiện tốt các quy định hiện hành Phương án này

không khắc phục được những hạn chế, bất cập hiện nay Hơn nữa, tạo thêm kẽ hở phápluật khiến các hành vi vi phạm pháp luật về nuôi con nuôi có thể gia tăng; mặc nhiên chophép buông lỏng kiểm soát về quản lý nhà nước đối với hoạt động cho, nhận nuôi connuôi trong và ngoài nước, đồng thời tiếp tục thả lỏng cơ chế kiểm soát tài chính hỗ trợnhân đạo từ phía các tổ chức con nuôi nước ngoài cho các cơ sở nuôi dưỡng trẻ em, đã vàđang diễn ra trong thời gian qua Gây tốn kém kinh phí cho ngân sách nhà nước để khắc

Trang 10

phục hậu quả phát sinh Về mặt xã hội sẽ tạo ra những tâm lý bất ổn đối với những ngườinhận con nuôi, cha mẹ đẻ, con nuôi vì hệ quả nuôi con nuôi không được xác định rõ ràng.Nếu việc thực thi pháp luật không tốt sẽ gây ra hậu quả khôn lường, đặc biệt không thểbảo vệ được trẻ em trong những trường hợp nguy hiểm: ví dụ người lớn cố tình đạo diễncác trường hợp trẻ em (đặc biệt là trẻ sơ sinh) bị bỏ rơi nhằm nhiều mục đích khác nhau,

có hiện tượng buôn bán trẻ em, vì một số quy định liên quan quá dễ dàng, chế tài xử phạtcòn quá nhẹ so với những lợi nhuận có thể mang lại từ hành vi trục lợi

Phương án 2: Sửa đổi bổ sung các quy định hiện hành Nếu lựa chọn phương án

này, tức là tiếp tục để tình trạng các văn bản pháp luật về nuôi con nuôi quy định tản mạn

ở nhiều văn bản khác nhau, thiếu tính thống nhất, đồng bộ, thậm chí chồng chéo; đôi khitrong một văn bản còn có các quy định trái ngược nhau; khó quản lý, khó áp dụng vàthực hiện Nếu sửa đổi, bổ sung thì vẫn mang tính chắp vá các quy định mà chưa thựchiện được một bước trong cải cách lập pháp đã và đang là một nhu cầu cần thiết đặt ratrong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế Phương án này có thể mất nhiều chi phí chonhững lần sửa đổi, bổ sung văn bản, mà có thể không cải thiện được môi trường pháp lý

về nuôi con nuôi, không làm lành mạnh hoá hoạt động nuôi con nuôi vì lợi ích tốt nhấtcủa trẻ, không thể pháp điển hoá các quy định pháp luật về nuôi con nuôi cho thống nhất

và đồng bộ

Phương án 3: Ban hành Luật nuôi con nuôi Lựa chọn phương án này đem đến

giải pháp tốt nhất, phù hợp với điều kiện xã hội, khắc phục cơ bản những vấn đề khókhăn, bất cập trong hệ thống văn bản pháp luật về nuôi con nuôi hiện nay; tạo ra sự liênthông giữa pháp luật về nuôi con nuôi trong nước và nuôi con nuôi quốc tế; cải cách mộtbước về lập pháp các quy định pháp luật về nuôi con nuôi; bảo đảm tính công khai, minhbạch trong quản lý, điều hành; minh bạch hóa các nguồn tài chính liên quan đến hoạtđộng nuôi con nuôi; tăng cường vai trò của Cơ quan con nuôi Trung ương (Bộ Tư pháp);tăng cường trách nhiệm, phối hợp giữa các cơ quan nhà nước có thẩm quyền quản lý, tácnghiệp việc nuôi con nuôi, cụ thể giữa cơ quan tư pháp, cơ quan bảo trợ xã hội, cơ quancông an

Phương án này tuy có tốn kém nhiều chi phí (xây dựng cơ sở dữ liệu, nối mạng tinhọc giữa các tỉnh, thành phố với Cơ quan Trung ương ) để pháp điển hoá các quy định

về nuôi con nuôi, bảo đảm thi hành pháp luật, nhưng lại đem đến nhiều lợi ích, đặc biệt

về mặt xã hội, tâm lý xã hội; thông qua các quy định mới, chặt chẽ và nghiêm khắc,nghiêm túc trấn chỉnh hiện tượng lợi dụng quy định pháp luật hiện hành còn quá dễ dàng

để thực hiện các hành vi trục lợi: cố tình hoặc đạo diễn tình huống bỏ rơi trẻ em xảy ralan tràn, có nguy cơ phổ biến trên toàn quốc, sau đó tiến hành các thủ tục hợp pháp hoá

để đưa trẻ em vào cơ sở nuôi dưỡng, từ đó cho trẻ em làm con nuôi người nước ngoài.Đây là một hiện tượng đẩy trẻ em vào tình huống đặc biệt nguy hiểm đến tính mạng vàsức khỏe của trẻ Hoặc ngăn ngừa và nghiêm trị hiện tượng thu gom trẻ em Hoặc dothiếu hiểu biết, người nhận trẻ em làm con nuôi không đi đăng ký việc nuôi con nuôitrước cơ quan hành chính có thẩm quyền; điều đó dẫn đến quyền và lợi ích cơ bản của trẻ

Trang 11

em không được bảo đảm Quy định mới của Luật nuôi con nuôi sẽ lành mạnh hoá hoạtđộng nuôi con nuôi vì lợi ích tốt nhất của trẻ Nhóm Nghiên cứu lựa chọn phương án 3.

Bảng xác định chi phí liên quan đến việc xây dựng

và thực hiện Luật nuôi con nuôi

1 Chi phí xây dựng Dự thảo Luật nuôi con nuôi 350.000.000 VNĐ

2 Chi phí tập huấn Luật nuôi con nuôi sau khi ban hành

Luật

50.000.000 VNĐ

3 Xây dựng Nghị định áp dụng Luật nuôi con nuôi 15.000.000 VNĐ

4 Hội thảo lấy ý kiến về Nghị định áp dụng Luật (tại ba

miền)

120.000.000 VNĐ

5 Chi phí phục vụ công tác tuyên truyền, phổ biến giáo

dục về Luật nuôi con nuôi trên phạm vi toàn quốc (Vụ

tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật - Bộ Tư pháp

dự trù)

1.000.000.000 VNĐ

Tóm tắt lợi ích do Luật nuôi con nuôi mang lại:

- Tăng cường bảo vệ trẻ em trong hoạt động nuôi con nuôi, bảo đảm tốt nhấtquyền và lợi ích của trẻ em được nhận làm con nuôi

- Thống nhất các quy định hiện hành còn tản mạn trong một văn bản duy nhất cógiá trị pháp lý cao là Luật

- Pháp điển hoá các nội dung còn chưa được điều chỉnh trong các văn bản hiệnhành

- Bảo đảm nguyên tắc ưu tiên nuôi con nuôi trong nước

- Minh bạch hoá về thủ tục và hoạt động tài chính liên quan đến việc giải quyếtnuôi con nuôi tại Việt Nam

- Tăng cường vai trò quản lý của Bộ Tư pháp, tăng cường trách nhiệm, phối hợpgiữa các cơ quan nhà nước có liên quan đến hoạt động nuôi con nuôi như giữa cơ quan tưpháp, cơ quan bảo trợ xã hội, cơ quan công an

6 Kết luận và kiến nghị

Theo phân tích kết quả tham vấn ý kiến công chúng (tỷ lệ đồng ý với phương án

Ban hành Luật nuôi con nuôi là 71,5%), và phân tích quan hệ chi phí và lợi ích, việc lựa

chọn phương án 3 của Báo cáo RIA là hợp lý và có lợi nhất về mặt xã hội, bảo đảm lợiích tốt nhất của trẻ em, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực nuôi con nuôi

Trang 12

của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Xây dựng Luật nuôi con nuôi là đáp ứng nguyệnvọng của nhân dân, đồng thời đáp ứng yêu cầu pháp điển hoá hoá các quy định pháp luật

và thực tiễn pháp lý đã và đang tồn tại trong thời gian qua

II Ưu tiên nuôi con nuôi trong nước và biện pháp bảo đảm ưu tiên nuôi con nuôi trong nước

1 Xác định vấn đề

Khi giải quyết việc nuôi con nuôi, trước hết phải tôn trọng quyền ưu tiên của trẻ

em được sống trong môi trường gia đình gốc; việc nuôi con nuôi chỉ là giải pháp thay thếgia đình cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt; việc nuôi con nuôi phải nhằm xác lập quan hệcha, mẹ và con lâu dài, bền vững giữa người nhận con nuôi và người được nhận làm connuôi, vì lợi ích tốt nhất của trẻ em được nhận làm con nuôi; bảo đảm trẻ em được thươngyêu, chăm sóc, nuôi dưỡng và trưởng thành trong môi trường gia đình của cha, mẹ nuôi;

ưu tiên giải quyết cho trẻ em làm con nuôi trong nước để trẻ em có cơ hội và điều kiện hoà nhập vào đời sống cộng đồng; chỉ giải quyết cho trẻ em làm con nuôi ở nước ngoài sau khi đã thực hiện các biện pháp cần thiết mà không thể thu xếp được cho trẻ em làm con nuôi trong nước; việc cho trẻ em làm con nuôi ở nước ngoài được giải quyết trên cơ

sở điều ước quốc tế về hợp tác nuôi con nuôi mà Việt Nam là thành viên; trường hợpkhông có điều ước quốc tế thì được giải quyết theo quy định của Luật này

Khi xem xét giải quyết cho trẻ em làm con nuôi, cần chú ý đến trật tự ưu tiên đểbảo đảm trẻ em được nhận làm con nuôi trong nước Cụ thể, trong trường hợp có nhiềungười cùng muốn nhận 01 trẻ em làm con nuôi, thì ưu tiên giải quyết theo thứ tự: (1)người có quan hệ họ hàng, thân thích với trẻ em thường trú trong nước; (2) công dân ViệtNam thường trú ở trong nước; (3) người nước ngoài thường trú tại Việt Nam; (4) người

có quan hệ họ hàng, thân thích với trẻ em thường trú ở nước ngoài; (5) người Việt Namđịnh cư ở nước ngoài; (6) người nước ngoài thường trú ở nước ngoài Đối với việc trẻ emkhuyết tật, tàn tật, trẻ em nhiễm HIV/AIDS; trẻ em là nạn nhân của chất độc hoá học; trẻ

em mắc bệnh hiểm nghèo khác được nhận làm con nuôi, thì được xem xét giải quyết màkhông cần áp dụng biện pháp tìm gia đình thay thế

Như vậy, việc giải quyết cho trẻ em Việt Nam làm con nuôi người nước ngoài làgiải pháp cuối cùng để bảo đảm quyền và lợi ích tốt nhất cho trẻ em đó Vấn đề này rấtquan trọng, được quy định rất cụ thể rõ ràng về trình tự, thủ tục thực hiện các biện pháp

ưu tiên nuôi con nuôi trong nước trong Dự thảo Luật nuôi con nuôi

2 Thực trạng

Vấn đề ưu tiên nuôi con nuôi trong nước cũng đã được quan tâm, thực hiện tươngđối tốt, mặc dù có nhiều quan niệm cho rằng việc cho trẻ em Việt Nam cho làm con nuôingười nước ngoài sẽ tốt hơn môi trường trong nước Nhưng qua kết quả thống kê chothấy tỉ lệ cho nhận con nuôi trong nước so với cho nhận con nuôi nước ngoài có sự chệnhlệch cao hơn đáng kể, cụ thể:

Trang 13

- Số lượng trẻ em được nhận làm con nuôi trong nước từ năm 2003 - 2008 là

13.723.000 trường hợp (theo số liệu thống kê của 49 Sở Tư pháp tỉnh, thành trong

cả nước), trong đó:

- Số lượng trẻ em Việt Nam được nhận làm con nuôi người nước ngoài từ năm

2003 - 2008 là: 5.876 trường hợp, chưa kể các trường hợp cho nhận trẻ em có quan hệ

họ hàng, thân thích với những người nhận con nuôi hiện đang thường trú tại những nướcchưa ký hiệp định hợp tác về nuôi con nuôi với Việt Nam

Như vậy, tổng số trẻ em được nhận làm con nuôi trong và ngoài nước trong giai

đoạn từ năm 2003 – 2008 là: 19.599 trường hợp Tổng số trẻ em được nhận làm con

nuôi trong nước trong giai đoạn từ năm 2003 – 2008 nhiều hơn số lượng trẻ em được

cho làm con nuôi người nước ngoài là: 7.876 trường hợp.

Song vẫn có nhiều ý kiến phản ánh từ các cơ quan thực thi pháp luật ở địa phươngcho rằng pháp luật hiện hành còn thiếu quy định tìm mái ấm gia đình trong nước đối vớinhững trường hợp còn trẻ em còn cha mẹ đẻ, hoặc quy định tìm mái ấm gia đình trongnước còn mang tính hết sức hình thức, quy định đó không phát huy hiệu quả cao trongthực tiễn áp dụng Rất ít trường hợp người Việt Nam nhận được con nuôi là những trẻ emhiện sống tại cơ sở nuôi dưỡng, nhờ vào thông báo tìm gia đình thay thế cho trẻ Hoặcthực hiện biện pháp tìm mái ấm gia đình trong nước chỉ nhằm mục đích hoàn tất thủ tụcgiải quyết cho trẻ em làm con nuôi người nước ngoài

dù cuộc sống vật chất có thể tốt hơn ở nước ngoài Cuộc sống vật chất không được đặtcao hơn yếu tố truyền thống, văn hóa, ngôn ngữ

Quy định ưu tiên nuôi con nuôi trong nước và biện pháp bảo đảm ưu tiên nuôi connuôi trong nước trong Dự thảo Luật sẽ tạo điều kiện tốt và có hiệu quả trong việc áp dụngpháp luật để giải quyết việc cho, nhận con nuôi trong nước nhằm bảo đảm tốt nhất cácquyền và lợi ích của trẻ em

4 Phương án lựa chọn

4.1 Ưu tiên nuôi con nuôi trong nước: đưa ra 3 phương án lựa chọn

Phương án 1: Ưu tiên nuôi con nuôi trong nước

Trang 14

Phương án 2: Ưu tiên nuôi con nuôi nước ngoài.

Phương án 3: Không có sự ưu tiên nào cả, tuỳ từng trường hợp.

4.2 Biện pháp bảo đảm ưu tiên nuôi con nuôi trong nước: đưa ra 3 phương án lựa chọn

Trong các văn bản pháp luật hiện hành, quy định về các biện pháp ưu tiên nuôicon nuôi trong nước còn rất sơ sài, vì vậy Dự thảo Luật nuôi con nuôi đã quy định rất cụthể và chi tiết về trình tự thực hiện các biện pháp ưu tiên này

Phương án 1: Như quy định hiện hành: thông báo tìm người thân cho trẻ em bị

bỏ rơi trong thời hạn 30 ngày, tìm mái ấm gia đình cho trẻ em bị bỏ rơi trong thời hạn

30 ngày (thông báo trên Đài phát thanh và Đài truyền hình của địa phương 3 lần trong 3 ngày liên tục).

Phương án 2: Thông báo tìm người thân cho trẻ em bị bỏ rơi trong thời hạn 30 ngày + kéo dài thời hạn tìm gia đình thay thế cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt (kể cả trẻ

em sống tại gia đình) trong thời hạn 30 ngày ở cấp xã, tỉnh và trung ương.

Phương án 3: Phương án 2 nhưng bắt đầu từ cấp tỉnh, đồng thời thông báo ở Cổng thông tin điện tử của Cơ quan con nuôi trung ương (Bộ Tư pháp) trong thời hạn 30 ngày

5 Đánh giá tác động của các phương án lựa chọn

5.1 Ưu tiên nuôi con nuôi trong nước

Theo kết quả thu được thông qua tham vấn ý kiến công chúng bằng phiếu thamvấn RIA tại 03 tỉnh thành phố Lai Châu, TP Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí Minh và một

số đơn vị thuộc Bộ Tư pháp tại Hà Nội về vấn đề “Ưu tiên nuôi con nuôi trong nước”

với 260 phiếu tham vấn:

- 38% người được tham vấn trả lời đồng ý với phương án 1 Ưu tiên nuôi con nuôi

trong nước (98/260 phiếu)

- 0,8% người được tham vấn đồng ý với phương án 2 Ưu tiên nuôi con nuôi nước

ngoài (2/260 phiếu)

- 60,5% người được tham vấn đồng ý với phương án 3 không có sự ưu tiên nào

cả mà tùy từng trường hợp (156/260 phiếu)

- 0,4% phiếu tham vấn còn lại do trả lời không đúng do tích nhiều phương án

không đạt yêu cầu phiếu tham vấn đề ra và 01 ý kiến khác (1/260 phiếu)

Trang 15

Hà Nội Lai Châu Đà Nẵng Tp Hồ Chí Minh

Biểu đồ thể hiện ý kiến tham vấn về vấn đề "Ưu tiên nuôi con nuôi trong nước" theo tỉnh khảo sát

Phương án 1 - Ưu tiên nuôi con nuôi trong nước

Phương án 2 - Ưu tiên nuôi con nuôi nước ngoài

Phương án 1: Ưu tiên nuôi con nuôi trong nước không được thực hiện sẽ đem lại

những hậu quả khó lường đối với tương lai của trẻ em, đặc biệt những trẻ em có hoàncảnh thiệt thòi, không được nuôi dưỡng tại gia đình cha mẹ đẻ hoặc gia đình huyết thống

Biểu đồ thể hiện ý kiến tham vấn về vấn đề

"Ưu tiên nuôi con nuôi trong nước"

Phương án 1 - Ưu tiên nuôi con nuôi trong nước

Phương án 2 - Ưu tiên nuôi con nuôi nước ngoài

Phương án 3 - Không có sự ưu tiên nào

cả, tùy trường hợp

Trả lời không đúng hoặc không trả lời

ý kiến khác

Trang 16

Có thể nhiều trẻ em sẽ gặp phải nhiều khó khăn hoà nhập với môi trường mới: tâm lý, xãhội, ngôn ngữ, giao tiếp, văn hoá, thói quen trong sinh hoạt Phương án này sẽ tạo ra cácchi phí lớn cho ngân sách nhà nước trong quá trình thực hiện biện pháp ưu tiên: thôngbáo tìm gia đình thay thế trong nước Nhưng lại bảo đảm việc trẻ em được nuôi dưỡngtại nước gốc của mình, trong môi trường gần gũi với trẻ.

Phương án 2: Ưu tiên nuôi con nuôi nước ngoài được thực hiện thì đó chỉ là phản

ảnh tư duy nhận thức bề nổi về môi trường, điều kiện vật chất và điều kiện sống tốt hơnnhưng chưa thoả mãn yếu tố tinh thần, truyền thống văn hoá và ngôn ngữ của trẻ em đó.Liệu trẻ em đó sẽ có thể hạnh phúc hơn hay vui hơn khi có cuộc sống đầy đủ hơn cuộcsống của cha mẹ nuôi là người Việt Nam ? Có thể xảy ra tình trạng đứa trẻ đó sẽ khônghạnh phúc thực sự khi phát triển ở môi trường sống đầy đủ tiện nghi Phương án nàykhông mất nhiều chi phí cho ngân sách nhà nước nhưng lại khó bảo đảm lợi ích tốt nhấtcho trẻ em Song trong một số trường hợp trẻ em bị bệnh tật hiểm nghèo, cần phải đượcchữa trị kịp thời, thì biện pháp ưu tiên con nuôi nước ngoài lại là biện pháp cần khuyếnkhích thực hiện

Phương án 3: Không có sự ưu tiên nào cả, tuỳ từng trường hợp, phương án này có

vẻ trung lập quá, dễ tạo ra sự bất bình đẳng và sự lạm dụng trong quá trình giải quyết, tạo

đà cho các hành vi vi phạm pháp luật ẩn xuất hiện mà không thể kiểm soát nổi Chưa

dám chắc rằng phương án không gây nhiều tổn thất về kinh phí cho ngân sách nhà nước,

để phục vụ cho công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát và xử lý các vi phạm pháp luật phátsinh

5.2 Biện pháp bảo đảm ưu tiên nuôi con nuôi trong nước

Theo kết quả thu được thông qua tham vấn ý kiến công chúng bằng phiếu thamvấn RIA tại 03 tỉnh thành phố khảo sát tại Lai Châu, Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí

Minh và một số đơn vị thuộc Bộ Tư pháp tại Hà Nội về vấn đề “Biện pháp bảo đảm ưu

tiên nuôi con nuôi trong nước” với 260 phiếu tham vấn Tuy nhiên tại thời điểm đoàn

khảo sát tiến hành tham vấn tại Lai Châu, Thành phố Hà Nội (một số đơn vị thuộc Bộ Tưpháp) vấn đề này có 5 Phương án để người được tham vấn lựa chọn (49 phiếu tham vấntại Lai Châu và 50 phiếu tham vấn tại Hà Nội), nhưng sau đó bản RIA mới đã sửa đổi chỉcòn 3 phương án và được tổ chức triển khai lấy ý kiến tham vấn ở Thành phố Đà Nẵng vàThành phố Hồ Chí Minh với 161 phiếu tham vấn:

- 57% người được tham vấn đồng ý với phương án thứ nhất (90/161 phiếu)

Trang 17

thông báo tìm người thân cho trẻ em bị

bỏ rơi trong thời hạn 30 ngày, tìm mái

ấm gia đình cho trẻ em bị bỏ rơi trong thời hạn 30 ngày (đăng báo của tỉnh 3 ngày liên tục)

Phương án 2 - Thông báo tìm người thân cho trẻ em bị bỏ rơi trong thời hạn

30 ngày + kéo dài thời hạn tìm gia đình thay thế cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt (kể cả trẻ em sống tại gia đình) trong thời hạn 30 ngày ở cấp xã, huyện, tỉnh, trung ương

Phương án 3 - Phương án 2 nhưng bắt đầu từ cấp tỉnh, đồng thời thông báo ở cấp trung ương

Trả lời không đúng hoặc không trả lời

- 21% người được tham vấn đồng ý với phương án thứ 2 (34/161 phiếu).

- 18% người được tham vấn đồng ý với phương án thứ 3 (28/161 phiếu)

- 4% phiếu tham vấn trả lời không đúng hoặc không trả lời (7/260 phiếu)

Phương án 1: Như quy định hiện hành: thông báo tìm người thân cho trẻ em bị bỏ

rơi trong thời hạn 30 ngày, tìm mái ấm gia đình cho trẻ em bị bỏ rơi trong thời hạn 30

ngày (thông báo trên Đài phát thanh và Đài truyền hình địa phương 03 lần trong 3 ngày liên tiếp) Phương án này không hiệu quả, chủ yếu là đối phó cho đúng quy định của pháp

luật Đồng thời phương án này chưa đủ nghiêm khắc để ngăn chặn hiện tượng lạm dụng,ngăn chặn tình trạng cố tình bỏ rơi trẻ em nhằm mục đích cho làm con nuôi, đặc biệt cho

làm con nuôi người nước ngoài (mặc dù có 57% ý kiến đồng ý).

Phương án 2: Thông báo tìm người thân cho trẻ em bị bỏ rơi trong thời hạn 30

ngày + kéo dài thời hạn tìm gia đình thay thế cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt (kể cả trẻ

em sống tại gia đình) trong thời hạn 30 ngày ở cấp xã, tỉnh, trung ương Có cải thiện hơn

về quy trình nhưng cũng chưa thực sự có hiệu quả thực thi, đồng thời làm phát sinh thêmchi phí cho ngân sách nhà nước và địa phương (ở 3 cấp xã, tỉnh và trung ương) trong việc

tìm kiếm gia đình thay thế cho trẻ em (21% ý kiến đồng ý)

Phương án 3: Gần giống với phương án 2 Kéo dài thời hạn tìm gia đình thay thế

ở Cơ quan con nuôi Trung ương là 30 ngày

Phương án này nhận được 100% ý kiến đồng ý của các Bộ, ngành và Ban soạnthảo

Bảng xác định chi phí - lợi ích của phương án 3

Trang 18

Chi phí Lượng hoá Lợi ích

1 Thông báo tìm gia

- Dự thảo Luật: Thông báo ở 3 cấp nhưng chi phí không thay đổi so với quy định hiện hành

250.000/lần phát tin x 2 cấp = 500.000 VNĐ/trường hợp

Bảo đảm cho trẻ emđược sống trong môitrường gia đình, vănhoá, xã hội, ngôn ngữgần gũi với môi trườnggốc của trẻ, bằng mọibiện pháp Đồng thờiphát huy trách nhiệmcủa các cơ quan liênquan trong việc tìm giađình thay thế cho trẻ,bảo vệ lợi ích tốt nhấtcủa trẻ

chi phí nuôi dưỡng

trẻ em trong thời gian

tăng gấp đôi chi phí

liên quan đến nuôi

- Dự thảo Luật:

240.000 VNĐ/tháng/trẻ x 7 tháng =1.680.000 VNĐ/trẻ em

So với quy định hiện hành, chi phí nuôi dưỡng sẽ tăng lên gần gấp đôi chi phí hiện hành

3 Chi phí xây dựng,

triển khai, cài đặt và

đào tạo phần mềm tại

các cơ sở nuôi dưỡng

và ở Trung ương

- Ở Trung ương: 1.500 USD/1 cơ sở nuôi dưỡng x 63 tỉnh = 94.500 USD

Trang 19

Bảng chi phí trên đây chỉ được định lượng theo chế độ tài chính do Chính phủ banhành đối với các đối tượng xã hội đang được nuôi dưỡng ở cơ sở nuôi dưỡng trẻ em Trênthực tế, con số trên còn lớn hơn gấp nhiều lần vì còn nhiều chi phí phát sinh: cuộc sốngđắt đỏ, trẻ em ốm đau bệnh tật (có thể mắc bệnh hiểm nghèo) dẫn đến tử vong Trongthời gian qua, điều kiện sống của trẻ em ở cơ sở nuôi dưỡng được cải thiện một phầnđáng kể nhờ vào sự đóng góp của các tổ chức con nuôi nước ngoài thực hiện các chươngtrình hỗ trợ nhân đạo và trợ giúp kỹ thuật ở Việt Nam

Phương án 3: Phương án 2 nhưng bắt đầu từ cấp tỉnh, đồng thời thông báo ở cấp

trung ương Có hiệu quả thực thi nhưng phải mất nhiều chi phí từ ngân sách nhà nướcphục vụ cho việc thiết lập và duy trì hoạt động thông tin điện tử (chỉ có 18% ý kiến đồngý)

6 Kết luận và kiến nghị

6.1 Ưu tiên nuôi con nuôi trong nước

Nhóm nghiên cứu thấy rằng việc quy định ưu tiên nuôi con nuôi trong nước trong

Dự thảo Luật nuôi con nuôi là cần thiết, để tạo cơ sở pháp lý nhằm thực hiện tốt quy trìnhgiải quyết nuôi con nuôi trong nước, bảo đảm trẻ em được sống trong môi

trường gốc, gần gũi với đặc điểm và nhu cầu của trẻ Đồng thời, nguyên tắc nàyphù hợp với quy định của Công ước La Hay năm 1993, phù hợp với thực tiễn pháp luậtquốc tế

Mặc dù ý kiến đồng ý lựa chọn này không cao (37,7% ý kiến đồng ý), song Nhómnghiên cứu thấy rằng phương án 1 sẽ là phương án lựa chọn có lợi nhất cho trẻ em Đây

là phương án được lựa chọn dựa trên mối quan hệ phương án - lợi ích tốt nhất Dự thảoLuật cũng đã lựa chọn phương án này Nếu theo phương án ưu tiên nuôi con nuôi trongnước thì Dự thảo Luật nuôi con nuôi cần phải quy định về cơ chế thực hiện ưu tiên nuôicon nuôi trong nước một cách cụ thể, rõ ràng để mọi công dân đều có thể tiếp cận để biết,thực hiện có hiệu quả

6.2 Biện pháp bảo đảm ưu tiên nuôi con nuôi trong nước

Nhóm nghiên cứu lựa chọn phương án 3 - phương án này sẽ đưa đến hiệu quả tối

ưu cho quy định trong quá trình thực thi Tuy nhiên, nhược điểm của phương án có thể sẽtạo ra một khoản chi phí ngân sách không nhỏ cho Nhà nước (kể cả ngân sách địaphương và Trung ương) về chi phí nuôi dưỡng trẻ em trong thời gian thực hiện biện pháptìm gia đình thay thế cho trẻ, chi phí thông báo tìm gia đình thay thế Ngoài ra, còn có chiphí phát sinh liên quan đến việc thiết lập, duy trì hệ thống thông tin dữ liệu về trẻ emđược cho làm con nuôi, tại Cơ quan con nuôi Trung ương (Bộ Tư pháp), đồng thời kếtnối thông tin về cơ sở dữ liệu với 63 tỉnh, thành phố

III Điều kiện nuôi con nuôi, đối tượng trẻ em được nhận làm con nuôi

1 Thực trạng

Trang 20

Pháp luật về nuôi con nuôi của Việt Nam chưa quy định hình thức nuôi con nuôiđơn giản hay trọn vẹn Trước đây, pháp luật về nuôi con nuôi nói chung chưa quy định vềviệc nuôi con nuôi đối với hình thức nuôi con nuôi trọn vẹn hoặc đơn giản Nhưng theođánh giá của các nhà luật gia, hình thức nuôi con nuôi theo quy định của pháp luật ViệtNam tương đương với hình thức nuôi con nuôi đơn giản trên thế giới, với lý do không

chấm dứt mối quan hệ giữa cha mẹ đẻ và trẻ được cho làm con nuôi (duy trì quan hệ thừa kế, hưởng các chế độ chính sách ưu tiên của Nhà nước đối với con nuôi trước đây

là con liệt sĩ, con thương binh, con của người có công với cách mạng), và việc nuôi con

nuôi có thể bị chấm dứt Trên thực tế, có sự phân biệt về hình thức nuôi con nuôi trongnước với nuôi con nuôi nước ngoài Hầu hết các trường hợp trẻ em Việt Nam được người

nước ngoài nhận làm con nuôi đều theo hình thức trọn vẹn (pháp luật Việt Nam công nhận hệ quả pháp lý theo pháp luật của Nước nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi, thông qua các Hiệp định song phương về hợp tác trong lĩnh vực nuôi con nuôi).

2 Mục tiêu của chính sách

- Pháp điển hoá toàn bộ các vấn đề về nuôi con nuôi

- Hình thức nuôi con nuôi trọn vẹn nhằm bảo đảm tối đa sự hoà nhập của con nuôitrong gia đình cha mẹ nuôi, kể cả trong trường hợp trẻ em được người nước ngoài nhậnlàm con nuôi

- Xác định rõ hơn quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đẻ với trẻ đã được cho làm connuôi trong trường hợp trẻ em được nhận làm con nuôi đơn giản

4 Phương án lựa chọn

Đưa ra 2 phương án lựa chọn

4.1 Trẻ em được nhận làm con nuôi trong nước

Phương án 1: Như quy định hiện hành: không có con nuôi trọn vẹn, tất cả đều là

con nuôi đơn giản

Phương án 2: Điều kiện được nhận làm con nuôi trọn vẹn: trẻ em từ đủ 15 tuổi là

trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em mồ côi hoặc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khác đang sống ở cơ sởnuôi dưỡng hoặc tại gia đình được cha mẹ đẻ hoặc người giám hộ đồng ý bằng văn bản;trẻ em từ đủ 15 tuổi trở lên đến dưới 18 tuổi trong trường hợp cha dượng hoặc mẹ kếnhận con riêng của vợ hoặc chồng làm con nuôi Những trường hợp còn lại là con nuôiđơn giản

4.2 Trẻ em được người nước ngoài nhận làm con nuôi

Phương án 1: Như quy định hiện hành: tất cả trẻ em dưới 15 tuổi trở xuống được

nhận làm con nuôi người nước ngoài theo hình thức con nuôi đơn giản

Phương án 2: Tất cả trẻ em từ đủ 15 tuổi trở xuống được nhận làm con nuôi người

nước ngoài thường trú ở nước ngoài đều theo hình thức nuôi con nuôi trọn vẹn

Trang 21

cả đều là con nuôi đơn giản

Phương án 2 - Điều kiện được nhận làm con nuôi trọn vẹn: trẻ em dưới 15 tuổi là trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em mồ côi hoặc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khác …vợ hoặc chồng làm con nuôi Trả lời không đúng hoặc không trả lời Ý kiến khác

5 Đánh giá tác động của các phương án lựa chọn

5.1 Trẻ em được nhận làm con nuôi trong nước

Theo kết quả thu được thông qua tham vấn ý kiến công chúng bằng phiếu thamvấn RIA tại 03 tỉnh thành phố: Lai Châu, TP Đà Nẵng và TP Hồ Chí Minh và một số

đơn vị thuộc Bộ Tư pháp tại Hà Nội về vấn đề 4 “Trẻ em được nhận làm con nuôi trong

nước” với 260 phiếu tham vấn Tuy nhiên, tại thời điểm lấy ý kiến tham vấn một số đơn

vị thuộc Bộ Tư pháp nội dung các phương án đã được điều chỉnh (50 phiếu tham vấn)

- 26% người được tham vấn đồng ý với phương án 1 (53/210 phiếu).

- 68,6% người được tham vấn đồng ý với phương án thứ 2 (140/210 phiếu)

- 4,9% phiếu tham vấn trả lời không đúng hoặc không trả lời (10/210 phiếu)

- 0, 5% phiếu tham vấn có ý kiến khác (1/210 phiếu).

Trang 22

Lai Châu Đà Nẵng Tp Hồ Chí Minh 0

Biểu đồ thể hiện ý kiến tham vấn về vấn đề trẻ em được nhận làm con nuôi trong nước theo tỉnh khảo sát

Phương án 1 - Như quy định hiện hành: không có con nuôi trọn vẹn, tất

cả đều là con nuôi đơn giản.

Phương án 2 - Điều kiện được nhận làm con nuôi trọn vẹn: trẻ em dưới 15 tuổi là trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em mồ côi hoặc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khác đang sống ở cơ sở nuôi dưỡng hoặc gia đình được cha mẹ đẻ hoặc người giám hộ đồng ý … con nuôi đơn giản

Không trả lời hoặc trả lời không đúng

Ngoài ra, đoàn khảo sát đã tiến hành phát phiếu hỏi để lấy ý kiến đề xuất của cácđối tượng tác động như: Phiếu dành cho người Việt Nam đã và đang làm thủ tục nhậncon nuôi trong nước; Phiếu dành cho cán bộ đang công tác tại Sở Lao động Thương binh

và Xã hội; Phiếu dành cho cán bộ UBND cấp xã và cấp tỉnh trực tiếp là những người giảiquyết hồ sơ; Phiếu dành cho cán bộ công an; Phiếu dành cho cán bộ Sở Tư pháp; Phiếudành cho cán bộ công tác ở các cơ sở nuôi dưỡng; Phiếu dành cho cán bộ đang công tác ởVăn phòng con nuôi nước ngoài; và phiếu cộng đồng lấy ý kiến rộng rãi như Luật sư, báotrí, hội liên hiệp phụ nữ, giáo viên,… với tổng 237 phiếu tham vấn về vấn đề có chấp

nhận hình thức con nuôi trọn vẹn hay không? Hay “Khi một đứa trẻ được nhận làm con nuôi của người khác cần chấm dứt quyền và nghĩa vụ pháp lý của đứa trẻ với cha mẹ đẻ”

thì có 123/237 (52%) người trả lời phiếu cho biết đồng ý với phương án chấp nhận hình thức con nuôi trọn vẹn trong Dự thảo Luật nuôi con nuôi, có 88/237 (37%) người trả lời

phiếu tham vấn cho biết không đồng ý với phương án con nuôi trọn vẹn vẫn muốn duy trìmối quan hệ giữa trẻ em và cha mẹ đẻ khi đứa trẻ được nhận làm con nuôi; (26/237 -11% người trả lời phiếu không trả lời về vấn đề này)

Phương án 1: Như quy định hiện hành: không có con nuôi trọn vẹn, tất cả đều là

con nuôi đơn giản Nếu theo phương án này, trẻ em được nhận làm con nuôi đơn giản có

cơ hội duy trì mối quan hệ cha mẹ con với gia đình cha mẹ đẻ của mình Tuy nhiên hìnhthức này không phát huy tác dụng đối với những trẻ em không xác định được gia đình

cha mẹ đẻ (trẻ em bị bỏ rơi), hoặc trong trường hợp trẻ em mồ côi cha mẹ Ngoài ra,

Ngày đăng: 26/02/2019, 17:08

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Báo cáo tổng hợp hình giải quyết việc nuôi con nuôi trong nước từ 2003 - 2007 Khác
2. Báo cáo sơ kết 5 năm thực hiện Nghị định số 68/2002/NĐ-CP Khác
3. Kết quả khảo sát về thực trạng nuôi con nuôi nói chung tại các tỉnh: Lai Châu, TP. Đà Nẵng, TP. Hồ Chí Minh, TP. Hà Nội Khác
4. Tham khảo pháp luật về nuôi con nuôi của một số Nước gốc và Nước nhận trẻ em (11 nước) Khác
5. Tham khảo kinh nghiệm xây dựng báo cáo RIA của một số cơ quan, đơn vị trong và ngoài Bộ Tư pháp Khác
6. Tham khảo một số báo điện tử và bài phát biểu về thực tiễn nuôi con nuôi tại Việt Nam và một số nước trên thế giới Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w