1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Đề án xây dựng cơ cấu tổ chức bộ máy bảo hiểm thất nghiệp

37 170 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 37
Dung lượng 450 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bảo hiểm thất nghiệp thuộc Cục Việc làm được thành lập tháng 9/2009theo Quyết định số 1199/QĐ-LĐTBXH ngày 22/9/2009 của Bộ trưởng Bộ Laođộng-Thương binh và Xã hội, với 19 cán bộ, công ch

Trang 1

ĐỀ ÁN XÂY DỰNG CƠ CẤU

TỔ CHỨC BỘ MÁY BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP

I SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỀ ÁN

1 Bối cảnh

Trong hơn một thập kỷ qua, Việt Nam đã đạt những thành tựu lớn trongphát triển kinh tế-xã hội: tốc độ tăng trưởng kinh tế cao; vốn đầu tư trong nước vànước ngoài tăng nhanh; cơ cấu lao động chuyển dịch theo hướng tích cực; hàngnăm tạo việc làm cho hàng triệu lao động; các chính sách an sinh xã hội và phúclợi xã hội ngày càng đồng bộ và hoàn thiện Một trong những thành tựu nổi bật vềbảo đảm an sinh xã hội trong giai đoạn này là việc thực hiện chính sách bảo hiểmthất nghiệp (BHTN) từ 01/01/2009, không những đáp ứng được nguyện vọngchính đáng của đông đảo người lao động mà còn bảo đảm hài hòa lợi ích giữangười lao động, doanh nghiệp và Nhà nước, góp phần ổn định chính trị, giữ vững

an ninh trật tự, an toàn xã hội

Bước sang giai đoạn chiến lược mới, Đảng và Nhà nước ta tiếp tục coi bảođảm an sinh xã hội và phúc lợi xã hội là một nhiệm vụ chủ yếu thường xuyên.Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 2011-2020 đã xác định: Tăng trưởng kinh tếkết hợp hài hoà với tiến bộ và công bằng xã hội, nâng cao không ngừng chấtlượng cuộc sống của nhân dân; phát triển hệ thống an sinh xã hội đa dạng, ngàycàng mở rộng và hiệu quả Trong đó, phát triển mạnh và đa dạng hệ thống bảohiểm, bao gồm bảo hiểm thất nghiệp để người lao động tiếp cận và tham gia làmột trong những ưu tiên hàng đầu

Theo dự báo, quy mô lực lượng lao động tiếp tục tăng từ 48,2 triệu ngườinăm 2010 lên 56,9 triệu người năm 2020 Tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị có

xu hướng giảm nhưng quy mô thất nghiệp vẫn ở mức cao khoảng 1,4 triệungười/năm Đặc biệt, tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên (từ 15 đến dưới 25 tuổi)cao hơn khoảng 2,5-3 lần so với lao động trưởng thành (trên 25 tuổi), điều nàycho thấy thanh niên là nhóm đối tượng gặp nhiều khó khăn hơn trên thị trườnglao động

Thêm vào đó, sự mất cân đối cung-cầu lao động giữa các vùng, khu vực

và ngành kinh tế tiếp tục diễn ra tương đối nghiêm trọng Trong khi dư thừa laođộng không có kỹ năng và thiếu lao động kỹ thuật đang là bài toán khó trongviệc giải quyết việc làm thì nhiều doanh nghiệp vẫn gặp khó khăn trong tuyểndụng, không chỉ lao động qua đào tạo mà cả lao động phổ thông Tỷ lệ lao động

có trình đó chuyên môn kỹ thuật chỉ chiếm 34,75% lực lượng lao động nên nguy

cơ thất nghiệp của người lao động lớn

Mở rộng đối tượng tham gia, thực hiện tốt chế độ bảo hiểm thất nghiệp làyêu cầu bức thiết trong việc bảo đảm an sinh xã hội, góp phần thúc đẩy pháttriển nhanh và bền vững nền kinh tế của nước ta trong thập kỷ tới

Dự thảo

Trang 2

2 Sự cần thiết của Đề án

Thực hiện Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm thất nghiệp, Chính phủ,ngành Lao động-Thương binh và Xã hội đã sớm thiết lập hệ thống các cơ quan,đơn vị thực hiện chính sách từ Trung ương đến cấp tỉnh Qua hơn 01 năm tổchức thực hiện, bên cạnh những kết quả đạt được như: thu BHTN vượt kếhoạch, giải quyết trợ cấp thất nghiệp, tư vấn giới thiệu việc làm đối với hơn

160 nghìn người, tích cực tuyên truyền, phổ biến chính sách trên các phươngtiện thông tin đại chúng vẫn còn nhiều hạn chế cần khắc phục, đặc biệt tỷ lệngười lao động bị mất việc làm được hưởng trợ cấp thất nghiệp còn thấp so với

số người mất việc làm trong thực tế

Thực trạng trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau nhưng quantrọng nhất là sự thiếu đồng bộ, phối hợp chưa chặt chẽ giữa các cơ quan, đơn vịdẫn đến thiếu chủ động, linh hoạt của cơ quan lao động trong việc giải quyết chế

độ đối với người lao động bị mất việc làm

Do đó, cùng với những điều chỉnh về chính sách, cơ chế thực hiện thìcần thiết phải điều chỉnh cơ cấu, chức năng nhiệm vụ của từng cơ quan, đơn vịtrong hệ thống nhằm đảm bảo thực hiện tốt nhất việc giải quyết chế độ đối vớingười lao động trong điều kiện sức ép về giải quyết việc làm, quy mô thấtnghiệp lớn, số người tham gia BHTN ngày càng tăng sẽ là thách thức khôngnhỏ đối với ngành Lao động-Thương binh và Xã hội

Xây dựng tổ chức bảo hiểm thất nghiệp tập trung, thống nhất từ Trungương đến địa phương đang là nhu cầu cấp bách để đáp ứng yêu cầu phát triểnkinh tế-xã hội của đất nước trong giai đoạn tới và phù hợp với xu thế chung củathế giới

3 Cơ sở pháp lý xây dựng Đề án (1)

- Luật Bảo hiểm xã hội;

- Nghị định số 127/2008/NĐ-CP ngày 12/12/2008 của Chính phủ quy định chitiết và hướng dẫn một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về Bảo hiểm thất nghiệp;

- Nghị quyết số 48/NQ-CP ngày 09/12/2010 của Chính phủ về việc đơngiản hóa thủ tục hành chính thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội;

- Văn bản chỉ đạo của các cơ quan, đơn vị có liên quan;

- Các quy định về định mức trụ sở làm việc, trang thiết bị, kinh phí, địnhbiên…đối với cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp nhà nước

4 Mục tiêu và nguyên tắc thực hiện Đề án

4.1 Mục tiêu: Đề án sẽ đưa ra mô hình tổ chức bộ máy BHTN tinh gọn,

hoạt động có hiệu quả theo cơ chế thống nhất từ Trung ương đến địa phương

1 Trên cơ sở đề xuất của Bảo hiểm thất nghiệp, nếu được Lãnh đạo Cục Việc làm phê duyệt chủ trương sẽ bổ sung căn cứ pháp lý, tiếp tục hoàn thiện Đề án, trình cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định.

Trang 3

4.2 Nguyên tắc thực hiện: Quá trình xây dựng tổ chức bộ máy BHTN

phải đảm bảo các nguyên tắc:

- Phản ánh đầy đủ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm củacác cơ quan, đơn vị trong hệ thống; tạo điều kiện thuận lợi nhất để người laođộng nhận được trợ cấp thất nghiệp, hỗ trợ đào tạo nghề và tham gia lại vào thịtrường lao động;

- Quy mô của từng cơ quan, đơn vị, bộ phận được sắp xếp, bố trí hợp lýtương ứng với khối lượng công việc được phân công;

- Mối quan hệ giữa các cơ quan, đơn vị, bộ phận trong hệ thống phải rõràng, không chồng chéo;

- Hệ thống tổ chức bộ máy phải phù hợp với thực tiễn của Việt Nam vềquản lý hành chính, kinh tế, ngân sách…

II THỰC TRẠNG CƠ CẤU TỔ CHỨC BỘ MÁY BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP

1 Vai trò, vị trí của tổ chức BHTN

Theo quy định tại Luật Bảo hiểm xã hội, Nghị định số 127/2008/NĐ-CP

và các Thông tư hướng dẫn thi hành thì BHTN được thực hiện thông qua 02 cơquan: Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội và Bảo hiểm xã hội Việt Nam, trong

đó mỗi cơ quan có vai trò, vị trí khác nhau, cụ thể:

- Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội chịu trách nhiệm trước Chính phủthực hiện quản lý nhà nước về BHTN Sở Lao động-Thương binh và Xã hội cáctỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (trực tiếp là các Trung tâm Giới thiệu việclàm) thực hiện giải quyết chế độ liên quan đến BHTN đối với người lao động

- Bảo hiểm xã hội Việt Nam thực hiện thu BHTN, chi trả trợ cấp thất nghiệp,

hỗ trợ kinh phí đào tạo nghề, kinh phí tư vấn, giới thiệu việc làm, đóng bảo hiểm y

tế đối với người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp, quản lý và phát triển Quỹ BHTN

Như vậy, trong khuôn khổ Đề án này, tổ chức BHTN được hiểu là các đơn

vị thuộc ngành Lao động-Thương binh và Xã hội thực hiện giải quyết chế độliên quan đến BHTN Tùy thuộc vào cấp quản lý, các đơn vị được thành lập làpháp nhân độc lập hoặc đơn vị phụ thuộc

2 Thực trạng cơ cấu tổ chức BHTN

2.1 Cơ cấu tổ chức bộ máy BHTN

Hiện nay, cơ cấu tổ chức bộ máy BHTN có 01 cơ quan Bảo hiểm thấtnghiệp ở Trung ương (đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Cục Việc làm-Bộ Laođộng-Thương binh và Xã hội), 64 phòng Bảo hiểm thất nghiệp thuộc Trung tâmgiới thiệu việc làm (Trung tâm GTVL) của 63 Sở Lao động-Thương binh và Xãhội các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương

2.1.1 Ở Trung ương:

Trang 4

Bảo hiểm thất nghiệp thuộc Cục Việc làm được thành lập tháng 9/2009theo Quyết định số 1199/QĐ-LĐTBXH ngày 22/9/2009 của Bộ trưởng Bộ Laođộng-Thương binh và Xã hội, với 19 cán bộ, công chức, viên chức và người laođộng (định biên: 30 người), tập trung thực hiện 02 nhiệm vụ chính, gồm:

- Tổ chức thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp (Xây dựng kế hoạch

và tổ chức thực hiện các hoạt động về sự nghiệp về BHTN; Theo dõi, tổng hợpbáo cáo tình hình thực hiện các chế độ BHTN và tổ chức tuyên truyền, phổ biếnpháp luật, đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ về thực hiện chính sách BHTN) (1);

- Lập dự toán, phân bổ, kiểm tra, xét duyệt, quyết toán, báo cáo quyết toánkinh phí quản lý BHTN (2)

2.1.2 Ở địa phương:

Ngay sau khi thành lập Bảo hiểm thất nghiệp thuộc Cục Việc làm, Bộ Laođộng-Thương binh và Xã hội đã có văn bản đề nghị Ủy ban nhân dân các tỉnh,thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo Sở Lao động-Thương binh và Xã hộithành lập phòng bảo hiểm thất nghiệp thuộc Trung tâm GTVL, thành lập các vănphòng đại diện của Trung tâm tại các quận, huyện để thực hiện nhiệm vụ Theobáo cáo, tất cả 64 Trung tâm GTVL thuộc 63 Sở Lao động-Thương binh và Xãhội đã thành lập Phòng Bảo hiểm thất nghiệp (một số Trung tâm lập văn phòngđại diện, chi nhánh khu vực và điểm tiếp nhận đăng ký thất nghiệp và giải quyếtcác thủ tục hưởng bảo hiểm thất nghiệp tại quận/huyện hoặc cụm quận/huyện),với tổng số cán bộ, viên chức và người lao động tính đến thời điểm 31/12/2010

là 697 người, bình quân: 11 người/01 phòng (định suất 631 người(2)) Nhiệm vụcủa các Phòng, gồm:

- Tổ chức việc đăng ký, xét duyệt hồ sơ của người lao động bị mất việclàm (1);

- Hoàn thiện các thủ tục, trình cấp có thẩm quyền ra quyết định để ngườilao động đủ điều kiện hưởng được hưởng chế độ BHTN theo quy định (2);

- Tư vấn, giới thiệu việc làm và thực hiện các thủ tục liên quan để ngườilao động được đào tạo nghề sơ cấp (3);

- Tổ chức tuyên truyền, hướng dẫn chế độ chính sách về BHTN đối vớingười lao động và người sử dụng lao động (4);

- Lữu trữ hồ sơ của người được hưởng các chế độ BHTN (5)

2.1.3 Cơ chế quản lý, điều hành

a Ở Trung ương: Bảo hiểm thất nghiệp là đơn vị sự nghiệp công lập trực

thuộc Cục Việc làm (Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội), chịu sự quản lý,điều hành bởi Cục Việc làm

2 Hiện nay, chưa có cơ chế thống nhất về giao biên chế viên chức tại các địa phương nên Bộ Tài chính cấp kinh phí hoạt động trên cơ sở định suất tạm tính 631 người

Trang 5

b Ở địa phương: Phòng Bảo hiểm thất nghiệp thuộc Trung tâm GTVL.

Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Phòng Bảo hiểm thấtnghiệp do Giám đốc Trung tâm GTVL quyết định

Như vậy, cơ chế làm việc giữa Trung ương và địa phương không phải cơchế chỉ đạo trực tiếp, được thể hiện qua sơ đồ 1

Sơ đồ 1: Tổ chức bộ máy Bảo hiểm thất nghiệp hiện tại

Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội

Cục Việc làm

Bảo hiểm thất nghiệp

Trung tâm giới thiệu việc làm tỉnh,

thành phố trực thuộc Trung

ương

Chi nhánh khu vực, điểm tiếp nhận tại quận/huyện hoặc cụm quận/huyện

Cơ quan, đơn vị chỉ đạo

Cơ quan, đơn vị phối hợp

2.1.4 Cơ chế tài chính:

- Cơ chế thu: Bảo hiểm thất nghiệp thuộc Cục Việc làm và Trung tâm

GTVL không thực hiện thu BHTN

Tổ chức giới thiệu việc làm

Cơ sở

dạy nghề

Sở Lao Thương binh và

động-Xã hội

Trang 6

- Cơ chế chi: Ở Trung ương và địa phương đều không thực hiện chi trả:

trợ cấp thất nghiệp, phí tư vấn giới thiệu việc làm và kinh phí đào tạo nghề đốivới người thất nghiệp

2.2 Nhân lực

Tính đến tháng 01/2011, tổng số nhân lực của hệ thống tổ chức bộ máyBHTN gần 720 người (19 người ở Trung ương và gần 700 người ở địa phương).Biên chế ở Trung ương do Bộ Nội vụ giao, thông qua Cục Việc làm-Bộ Laođộng-Thương binh và Xã hội (30 người) nhưng nhân lực tại các địa phương chủyếu là lao động làm việc theo chế độ hợp đồng lao động (một số ít cán bộ, viênchức được điều động, tăng cường cho giai đoạn hoạt động ban đầu thuộc biênchế do Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quản lý)

2.2.1 Nhân lực ở Trung ương

a Số lượng: Tổng số cán bộ, viên chức và người lao động của Bảo hiểm

thất nghiệp thuộc Cục Việc làm tính đến tháng 01/2011 là 19 người, được phân

bổ vào 4 phòng, ban, cụ thể như sau:

Biểu số 1: Số lượng nhân lực của Bảo hiểm thất nghiệp

Nguồn: Tổng hợp của Bảo hiểm thất nghiệp thuộc Cục Việc làm

Theo kế hoạch trong năm 2011, Bảo hiểm thất nghiệp sẽ tổ chức thi tuyểnviên chức để bổ sung nhân lực vào các phòng, ban theo đúng biên chế được giao

b Chất lượng: 100% cán bộ, viên chức và người lao động của Bảo hiểm

thất nghiệp có trình độ đại học trở lên, trong đó có 03 thạc sĩ (chiếm 16%).Chuyên ngành được đào tạo chủ yếu là kinh tế (78,9%), luật (15,8%) và cácngành khác (5,3%)

2.2.2 Nhân lực tại địa phương

a Số lượng: Như đã trình bày ở trên, về nhân lực của các địa phương trực

tiếp thực hiện nhiệm vụ là số người làm việc tại các phòng bảo hiểm thất nghiệpthuộc Trung tâm GTVL nên trong khuôn khổ Đề án này chỉ đề cập đến số nhânlực đó

Trang 7

Biểu số 2: Số lượng nhân lực Phòng Bảo hiểm thất nghiệp

theo vùng kinh tế

Nguồn: Tổng hợp báo cáo của địa phương (Phòng Nghiệp vụ-Bảo hiểm thất nghiệp)

Nhìn vào biểu số 2, có thể thấy tổng số nhân lực thuộc các phòng bảohiểm thất nghiệp, gồm cả các điểm tiếp nhận là 697 người, tập trung ở vùngĐông Nam Bộ, Đồng bằng Sông Hồng, những nơi có quan hệ lao động sôi động,thị trường lao động linh hoạt, đi liền với nó là số lượng lớn người lao động cónguy cơ bị mất việc làm

Như vậy, số nhân lực thực tế này đã vượt định suất tạm tính là 66 người,cùng với số lượng cần bổ sung năm 2011 là 144 người, thì tổng số nhân lực cần sửdụng ở các địa phương là 841 người (bằng 133,28% so với định suất tạm tính)

Biểu số 3: Số nhân lực tại các phòng BHTN chia theo quy mô

Trang 8

7 Đồng bằng Sông Cửu Long 120 13 9

Nguồn: Tổng hợp báo cáo của địa phương (Phòng Nghiệp vụ-Bảo hiểm thất nghiệp)

Biểu số 3 phản ánh quy mô số nhân lực của 01 phòng bảo hiểm thấtnghiệp (gồm cả văn phòng đại diện và các điểm tiếp nhận), bình quân cả nước là

11 người/01phòng, trong đó vùng Tây Bắc, Đông Bắc, Tây Nguyên và Đồngbằng Sông Cửu Long có quy mô bình quân dưới 10 người/01 phòng; Đồng bằngSông Hồng, Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ có quy mô bình quân từ 10 người đếndưới 15 người/01 phòng; Vùng Đông Nam bộ có quy mô bình quân cao nhất, với

22 người/01 phòng

b Chất lượng: Với nhiệm vụ trực tiếp tiếp nhận hồ sơ, xem xét và giải

quyết chế độ đối với người thất nghiệp nên không nhất thiết tất cả cán bộ, viênchức và người lao động phải có trình độ đại học trở lên Do đó, trình độ đào tạocủa nhân lực tại địa phương như sau: đại học và trên đại học 433 người (chiếm62,12%), cao đẳng 140 người (chiếm 20,09%), trung cấp 124 người (chiếm16,98%), trong đó trình độ cao đẳng và trung cấp tập trung nhiều tại các điểmtiếp nhận ở quận/huyện hoặc cụm quận/huyện

Về chuyên ngành đào tạo, 55% thuộc chuyên ngành kinh tế, 19% thuộccác chuyên ngành xã hội, gồm: Luật, Bảo hiểm xã hội, Công tác xã hội… và26% thuộc các chuyên ngành khác

Tổng số nhân lực ở địa phương đều hoàn thành các khóa tập huấn nghiệp

vụ BHTN, bước đầu đã đáp ứng yêu cầu của công việc

2.3 Cơ sở vật chất, trang thiết bị

2.3.1 Ở Trung ương

- Trụ sở làm việc: Trong điều kiện khó khăn chung về bố trí nơi làm việc

của Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội và Cục Việc làm nên Bảo hiểm thấtnghiệp phải thuê trụ sở (khu liên cơ quan tại 12 Tràng Thi, Hoàn Kiếm, Hà Nội).Tổng diện tích sử dụng không lớn (170m2)(3), nhưng với cách với cách bố trí hợp

lý, bước đầu đã đáp ứng yêu cầu về diện tích làm việc, hội nghị, lễ tân…

- Trang thiết bị: đã đáp ứng được yêu cầu của cán bộ, viên chức và người

lao động về bàn ghế, máy vi tính, tủ đựng tài liệu…theo quy định của Nhànước(4) Hơn nữa, Bảo hiểm thất nghiệp đã tiết kiệm chi thường xuyên để trang

bị điều hòa nhiệt độ, thiết lập mạng internet nhằm đảm bảo các điều kiện tốt nhất

để cán bộ, viên chức và người lao động làm việc

3 Chưa đáp ứng tiêu chuẩn theo quy định tại Quyết định số 147/1999/QĐ-TTg ngày 05/7/1999 của Thủ tướng Chính phủ về tiêu chuẩn, định mức sử dụng trụ sở làm việc tại các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp.

4 Theo tiêu chuẩn tại Quyết định số 170/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Quy định tiêu

chuẩn, định mức trang thiết bị và phương tiện làm việc của cơ quan và cán bộ, công chức, viên chức nhà nước.

Trang 9

Như vậy, về cơ sở vất chất, trang thiết bị ở Trung ương tương đối đầy đủ,đáp ứng được yêu cầu của công việc nhưng cần bố trí trụ sở ổn định, đảm bảolàm việc lâu dài

2.3.2 Ở địa phương

- Trụ sở làm việc: Do Phòng bảo hiểm thất nghiệp là bộ phận thuộc Trung

tâm GTVL nên sức ép về trụ sở làm việc ở địa phương không lớn Tuy nhiên, đốivới các địa phương có quy mô thất nghiệp lớn như thành phố Hồ Chí Minh, BìnhDương, Đồng Nai, Khánh Hòa, Hà Nội còn gặp rất nhiều khó khăn về bố trí diệntích làm việc tại Trung tâm GTVL Mặt khác, cả nước có 107 chi nhánh thuộc 36Trung tâm GTVL đặt tai các quận/huyện, cụm quận/huyện đều phải đi thuê trụsở

- Trang thiết bị:

Về nguyên tắc, phòng Bảo hiểm thất nghiệp thuộc Trung tâm GTVL nêntrang thiết bị do Trung tâm GTVL đảm bảo, được xây dựng trong dự toán ngânsách hàng năm của Sở Lao động-Thương binh và Xã hội Theo báo cáo của cácđịa phương, về cơ bản trang thiết bị bước đầu đã đáp ứng được đòi hỏi của côngviệc Trong đó, hệ thống máy vi tính của các phòng BHTN do Bảo hiểm thấtnghiệp-Cục Việc làm trang bị, nguồn kinh phí do Quỹ BHTN đảm bảo

Như vậy, về bản chất trang thiết bị ở các địa phương để thực hiện giảiquyết chế độ đối với người thất nghiệp chưa được Quỹ BHTN bảo đảm toàn bộ,các địa phương gặp nhiều khó khăn trong bố trí trụ sở làm việc đối với các chinhánh đặt tại quận/huyện, cụm quận/huyện

2.4 Kinh phí quản lý

2.4.1 Chi thường xuyên: Trên cơ sở biên chế ở Trung ương do Bộ Nội vụ

giao và định suất tạm tính ở các địa phương, toàn bộ chi phí chi thường xuyêncủa tổ chức BHTN và phòng Bảo hiểm thất nghiệp do Quỹ BHTN đảm bảo.Theo định mức được giao năm 2010 là 49,0 triệu đồng/người/năm thì tổng sốkinh phí thường xuyên của cả hệ thống là 32,2 tỷ đồng (Trung ương: 1,4 tỷ đồng;địa phương: 30,8 tỷ đồng)

Như vậy, tổng kinh phí chi thực hiện BHTN là 53,36 tỷ đồng, bằng 1,11%

so với tổng thu Quỹ BHTN năm 2010 (4.800 tỷ)

2.5 Tình hình hoạt động

2.5.1 Tình hình hoạt động của Bảo hiểm thất nghiệp thuộc Cục Việc làm

Trang 10

Sau khi có quyết định thành lập (tháng 9/2009), với nhiều khó khăn banđầu nhưng được sự quan tâm, chỉ đạo của Cục Việc làm, Bảo hiểm thất nghiệp

đã nhanh chóng ổn định về tổ chức để triển khai thực hiện nhiệm vụ, cụ thể:

a Hoạt động sự nghiệp về bảo hiểm thất nghiệp:

Bảo hiểm thất nghiệp không trực tiếp giải quyết chế độ đối với người laođộng, bằng công tác hướng dẫn tổ chức thực hiện, tổng hợp báo cáo đã kịp thờikiến nghị các cơ quan có thẩm quyền, đôn đốc các địa phương giải quyết chế độđối với người lao động bị mất việc làm Tuy nhiên, do chưa có phần mềmchuyên dụng nên việc theo dõi, tổng hợp còn mang tính thủ công, mất nhiều thờigian đối với người thực hiện

Để khắc phục yếu điểm này, năm 2010 Bảo hiểm thất nghiệp phối hợp vớimột số địa phương thí điểm ứng dụng phần mềm trong tiếp nhận và xử lý hồ sơcủa những người đăng ký thất nghiệp Bước đầu phần mềm đã phản ánh đượcquy trình tác nghiệp từ đăng ký đến ra quyết định trợ cấp thất nghiệp, sẽ tiếp tụchoàn thiện để áp dụng rộng rãi trên toàn quốc

b Về hướng dẫn, đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ:

Bảo hiểm thất nghiệp phối hợp với các cơ quan, đơn vị có liên quan tổchức nhiều lớp tập huấn, với từng nhóm đối tượng, gồm: Lãnh đạo Sở Lao động-Thương binh và Xã hội; Lãnh đạo phòng Việc làm, Trung tâm GTVL; cán bộ,viên chức, người lao động của Phòng Bảo hiểm thất nghiệp thuộc Trung tâmGTVL ở nhiều địa phương, với chương trình đào tạo phù hợp, cô đọng, cung cấpkịp thời những quy định mới về cơ chế thực hiện giải quyết chế độ đối với ngườithất nghiệp, đảm bảo mỗi cán bộ, viên chức và người lao động trực tiếp cũngnhư gián tiếp giải quyết chế độ phải qua đào tạo, tập huấn nghiệp vụ

Ngoài ra, năm 2010, Bảo hiểm thất nghiệp đã dự thảo “Sổ tay hướng dẫnnghiệp vụ BHTN” để Cục Việc làm phát hành, cung cấp kịp thời cho các địaphương trong quá trình tổ chức thực hiện

c Về công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách:

Thực hiện tuyên truyền về chính sách BHTN trên các phương tiện thôngtin đại chúng như: Đài Truyền hình Việt Nam (kênh VTV1, VTV2), Đài Tiếngnói Việt Nam (VOV3), các báo, tạp chí chuyên ngành, báo điện tử… Đây lànhững kênh truyền thông truyền tải thông tin đến cộng đồng nói chung và ngườilao động nói riêng nhanh nhất, với mức độ bao phủ lớn, đạt hiệu quả cao

Tuy nhiên, công tác tuyên truyền chưa có hệ thống, tần suất phát chưa cao

và chưa có những chương trình mang tính dài hạn để công đồng, người sử dụnglao động và người lao động nhận thức sâu sắc hơn về ý nghĩa của chính sáchBHTN

d Về cấp phát, quyết toán kinh phí quản lý:

Trang 11

Theo báo cáo của các địa phương, với định suất kinh phí được cấp khônglớn nhưng cũng tạm đủ đối với các địa phương để tổ chức thực hiện nhiệm vụ.Riêng Trung tâm GTVL thành phố Hồ Chí Minh còn gặp khó khăn khi kinh phíđược cấp thấp hơn so với mặt bằng chung của các đơn vị sự nghiệp thuộc Thànhphố (định suất do BHTN đảm bảo: 49 triệu đồng/người/năm; các đơn vị sựnghiệp thuộc Thành phố: 54-60 triệu/người/năm).

Tuy nhiên, Bảo hiểm thất nghiệp là đơn vị dự toán cấp 3, nên không đủthẩm quyền cấp phát kinh phí đối với các địa phương Vì thế, trong năm 2010,việc cấp phát kinh phí do Phòng Tài chính-Kế toán (Cục Việc làm) thực hiện,điều này tạo sức ép rất lớn về khối lượng công việc đối với bộ phận tài chính củaCục Do đó, chưa kịp thời cấp kinh phí đối với một số địa phương nên các địaphương này chưa chủ động chi tiêu và chăm lo đời sống đối với cán bộ, viênchức và người lao động

đ Mối quan hệ với các cơ quan, đơn vị có liên quan

-Với Cục Việc làm: Bảo hiểm thất nghiệp là đơn vị sự nghiệp công lập

thuộc Cục Việc làm, mối quan hệ trực tiếp giữa cơ quan chủ quản với đơn vịquản lý trực tiếp Theo chức năng, nhiệm vụ quy định tại Quyết định 1199/QĐ-LĐTBXH ngày 22/9/2008, Bảo hiểm thất nghiệp còn phụ thuộc vào sự phêduyệt của Cục Việc làm đối với phần lớn công việc nên tính chủ động chưa cao,chưa thực sự hoạt động theo quy định của Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày25/4/2006 của Chính phủ quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thựchiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệpcông lập

- Với Trung tâm GTVL: Mối quan hệ giữa Bảo hiểm thất nghiệp với các

Trung tâm GTVL chỉ dừng lại ở công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ thực hiệnBHTN và công tác báo cáo tình hình thực hiện chế độ BHTN hàng tháng nênviệc trao đổi, phối hợp về nghiệp vụ tương đối tốt và nhuần nhuyễn Tuy nhiên,việc trao đổi về hoạt động thông tin tuyên truyền, cấp phát và sử dụng kinh phí,nguồn nhân lực và chất lượng nhân lực còn phụ thuộc Cục Việc làm

- Với các cơ quan, đơn vị khác: Bảo hiểm thất nghiệp chưa có nhiều mối

quan hệ đối với các cơ quan, đơn vị khác Việc kết nối với Bảo hiểm xã hội ViệtNam, các Bộ, ngành, Sở Lao động-Thương binh và Xã hội các tỉnh, thành phốtrực thuộc Trung ương đều thông qua Cục Việc làm và các mối quan hệ cá nhân

2.5.2 Tình hình hoạt động của các Phòng Bảo hiểm thất nghiệp

Với vị trí là đơn vị trực tiếp tiếp nhận và giải quyết chế độ đối với ngườilao động, tuy còn gặp nhiều khó khăn về cơ sở vật chất, nguồn nhân lực, songcác phòng BHTN đã phối hợp với các cơ quan, đơn vị giải quyết chế độ đối vớigần 200 nghìn người lao động, cụ thể:

a Tổ chức đăng ký, xét duyệt hồ sơ của người lao động bị mất việc làm:

Trang 12

Tính đến năm 2011, trên toàn quốc có 171 điểm đăng ký và giải quyết chế

độ BHTN, trong đó 64 điểm tại Trung tâm GTVL thuộc Sở Lao động Thươngbinh và Xã hội, 107 chi nhánh đặt tại quận/huyện hoặc cụm quận/huyện Tínhchung trong cả nước, 01 điểm tiếp nhận phải phụ trách địa bàn tương đối rộngkhoảng 1.395 km2 Các điểm tiếp nhận ở vùng Tây bắc, Bắc Trung bộ và TâyNguyên đang phải phụ trách địa bàn quá lớn tương ứng là 4.723 km2; 3.574km2

và 3.536 km2, điều này xuất phát từ những nguyên nhân khách quan về điềukiện địa lý, khí hậu, tài nguyên của vùng không thuận lợi để mở rộng cácđiểm tiếp nhận trong điều kiện thị trường lao động hoạt động kém sôi động,quy mô thất nghiệp nhỏ Điều này đã và đang gây trở ngại đối với người laođộng bị mất việc làm hoặc thôi việc khi đăng ký thất nghiệp và thông báo tìmkiếm việc làm hàng tháng

Biểu số 4: Mức độ bao phủ của các điểm giải quyết BHTN

Diện tích khu vực

(tạm tính) (Km 2 )

Diện tích địa bàn phụ trách trung bình của 1 điểm đăng ký thất

Nguồn: Tổng hợp báo cáo của địa phương-Bảo hiểm thất nghiệp (Cục Việc làm)

Hiện nay, người thất nghiệp chủ yếu liên hệ với 107 chi nhánh, điểm tiếpnhận để đăng ký, nộp hồ sơ đề nghị hưởng chế độ, nhận hồ sở hưởng BHTN,tiếp nhận thông báo tìm kiếm việc làm…còn hồ sơ của người thất nghiệp đượctập trung về phòng BHTN để thất nghiệp để xét duyệt và hoàn thiện thủ tục trợcấp thất nghiệp cho người lao động

Một số địa phương như thành phố Hồ Chí Minh và Bình Dương việc tiếpnhận còn gặp nhiều khó khăn do người thất nghiệp đông, cán bộ tiếp nhận hồ sơmỏng và địa điểm tiếp nhận nhỏ hẹp chưa đủ năng lực tiếp nhận đồng thời nhiềungười nên vẫn còn tình trạng cán bộ phải làm việc cả ngày thứ bảy và chủ nhật

để giải quyết

Thêm vào đó, do chưa triển khai được phần mềm chuyên dụng giải quyếtBHTN và lực lượng cán bộ tiếp nhận hồ sơ tuổi đời còn trẻ, chưa có kinh

Trang 13

nghiệm nên việc giải quyết chế độ BHTN còn chậm trễ, việc kiểm soát tình hìnhtìm kiếm việc làm của người lao động được hưởng chế độ bảo hiểm thất nghiệpcòn khó khăn.

b Hoàn thiện thủ tục, trình cấp có thẩm quyền ra quyết định trợ cấp BHTN:

Theo Thông tư số 04/2009/TT-BLĐTBXH ngày 22/01/2009 của Bộ Laođộng-Thương binh và Xã hội hướng dẫn một số điều của Nghị định số127/2008/NĐ-CP ngày 12/12/2008 của Chính phủ quy định chi tiết và hướngdẫn thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm thất nghiệpđược sửa đổi, bổ sung tại Thông tư số 34/2009/TT-BLĐTBXH ngày 16/10/2009thì quy trình ra quyết hưởng trợ cấp thất nghiệp đối với người thất nghiệp đượctiến hành như sau:

- Trung tâm GTVL tiếp nhận, hoàn thiện hồ sơ, gửi Phòng Việc làm vàquản lý lao động thuộc Sở Lao động-Thương binh và Xã hội;

- Phòng Việc làm và Quản lý lao động thẩm định hồ sơ, trình Giám đốc Sở;

- Giám đốc Sở ký quyết định thực hiện BHTN đối với người lao động.Với quy trình này, thời gian xử lý hồ sơ tương đối lâu và khó kiểm soát,ảnh hưởng đến thời hạn giải quyết chế độ đối với người lao động

Trước tình hình đó, Thông tư số 32/2010/TT-BLĐTBXH được ban hànhngày 25/10/2010, thay thế Thông tư số 04/2009/TT-BLĐTBXH nói trên nhằmrút ngắn một khâu trong quy trình giải quyết, bằng quy định Trung tâm GTVLhoàn thiện hồ sơ, trình Giám đốc Sở ký quyết định thực hiện BHTN đối vớingười lao động Quy định này mới được thực hiện 04 tháng nhưng vẫn gặp một

số khó khăn vì Phòng Việc làm và Quản lý lao động thực hiện chức năng quản lýnhà nước về BHTN tại địa phương, là cơ quan tham mưu của Giám đốc Sở nênthực tế quy trình thủ tục ở các địa phương vẫn phải qua phòng quản lý nhà nước

về BHTN thẩm định

c Tư vấn, giới thiệu việc làm đối với người thất nghiệp:

Chính sách BHTN là chính sách mới, nên việc phối hợp giữa các phòngnghiệp vụ trong Trung tâm GTVL còn nhiều khó khăn, chưa thông suốt làm ảnhhưởng không nhỏ đến hoạt động tư vấn, giới thiệu việc làm đối với người đanghưởng trợ cấp thất nghiệp Khi có nhu cầu, người đang hưởng trợ cấp thất nghiệpđược phòng BHTN được giới thiệu qua phòng tư vấn, phòng giới thiệu việc làm,tại đây người lao động thất nghiệp được các bộ tư vấn và giới thiệu việc làm vớicác biểu mẫu kê khai dành riêng đối với người lao động bị thất nghiệp

Mặt khác, do chưa thống nhất với Bảo hiểm xã hội về căn cứ về mức chitrả đối với việc tư vấn, giới thiệu việc làm đối với người hưởng trợ cấp thất

Trang 14

nghiệp nên các Trung tâm GTVL chưa nhận được kinh phí chi trả cho công tác

tư vấn và giới thiệu việc làm, ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng tư vấn

d Tuyên truyền, hướng dẫn chế độ chính sách về BHTN đối với người lao động và người sử dụng lao động:

Theo báo cáo, các địa phương đã tổ chức khoảng 250 buổi tuyên truyềntrực tiếp chế độ chính sách về BHTN dưới hình thức hội thảo, tọa đàm đối vớihơn 17,5 nghìn tổ chức, doanh nghiệp Ngoài ra, thực hiện tuyên truyền trên cácphương tiện thông tin đại chúng của địa phương, tổ chức các hội nghị tập huấn,phát tờ rơi…

Tuy nhiên, công tác tuyên truyền còn mang tính đơn lẻ, chưa thành thành

hệ thống, chưa đạt được hiệu quả như mong muốn vì nhiều địa phương chưanhất quán về nội dung, cách thức, thời điểm, tần suất tuyên truyền nên người laođộng chưa hiểu hết quyền lợi và trách nhiệm khi tham gia bảo hiểm thất nghiệp,cũng như trình tự, thủ tục, nơi đăng ký thực hiện chính sách bảo hiểm thấtnghiệp

đ Mối quan hệ với các cơ sở dạy nghề:

Mối liên hệ giữa Trung tâm GTVL với cơ sở dạy nghề tại địa phương nhìnchung là tốt Nhưng trong việc triển khai thực hiện nhiệm vụ đào tạo nghề chưathành hệ thống vì đối tượng đang hưởng trợ cấp thất nghiệp có nhu cầu học nghềthấp Do đó, mối quan hệ này cần phải củng cố trong thời gian tới để giải quyếttốt nhất chế độ đối với người lao động

e Mối quan hệ với Bảo hiểm xã hội tại địa phương:

Ở Trung ương thông qua việc ký quy chế phối hợp công tác giữa Bộ Laođộng-Thương binh và Xã hội và Bảo hiểm Xã hội Việt Nam, trong đó có quyđịnh về việc phối hợp thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp nên mối quan

hệ rất khăng khít và chặt chẽ, nhưng ở một số địa phương thì công tác phối hợpgiữa Bảo hiểm xã hội các tỉnh và Sở Lao động-Thương binh và Xã hội còn gặpnhiều khó khăn, vướng mắc phải giải quyết trong thời gian tới

3 Kết quả thực hiện

Với nỗ lực của các đơn vị thuộc ngành Lao động-Thương binh và Xã hội,

sự ủng hộ và phối hợp của các Bộ, ngành, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phốtrực thuộc Trung ương, trong hơn 01 năm thực hiện(5) giải quyết chế độ đối vớingười thất nghiệp đã đạt kết quả như sau:

5 Số liệu cập nhật đến ngày 31/12/2010

Trang 15

Biểu số 5: Kết quả thực hiện giải quyết chế độ BHTN

Đơn vị: người

2 Số lượng người nộp hồ sơ hưởng Bảo hiểm thất nghiệp 162.711

3 Số người có quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp 156.765

4 Số người thất nghiệp có quyết định hưởng trợ cấp 1 lần 2.910

5 Số người thất nghiệp đề nghị chuyển hưởng đến địa phương khác 26.666

6 Số người thất nghiệp nhận chuyển hưởng BHTN 20.749

Nguồn: Tổng hợp báo các địa phương-Bảo hiểm thất nghiệp (Cục Việc làm)

Trong tổng số 156.765 người được hưởng trợ cấp thất nghiệp, có 95.141người là nữ giới, chiếm 60,69%; độ tuổi người thất nghiệp: dưới 24 tuổi chiếm23,78%, từ 25 đến 40 tuổi chiếm 62,13%, trên 40 tuổi chiếm 14,08%

Như vậy, có thể nói nữ giới có nguy cơ mất việc làm cao hơn nam giới và

độ tuổi bị mất việc làm nhiều nhất là từ 25 đến 40 tuổi Đây là những lao độngchính trong gia đình và của xã hội, do đó quay lại thị trường lao động là nhu cầucấp bách của người lao động

Biểu số 6: Tỷ lệ so sánh các chế độ BHTN

2 Số người có quyết định/Số người đã nộp hồ sơ 96,35%

3 Số người hưởng trợ cấp 1 lần/Số người được hưởng hàng tháng 1,86%

4 Số người chuyển hưởng đến địa phương khác/Số người được hưởng 13,24%

5 Số người được tư vấn giới thiệu VL/Số người hưởng trợ cấp TN 80,10%

6 Số người được trợ cấp học nghề/Số người được hưởng trợ cấp TN 0,17%

Nguồn: Tổng hợp báo các địa phương-Bảo hiểm thất nghiệp (Cục Việc làm)

Nhìn vào biểu số 6 ở trên có 02 nội dung đáng lưu ý, đó là tỷ lệ ngườichuyển hưởng đến các địa phương khác tương đối cao, chiếm 13,24% tổng số

Trang 16

người được hưởng trợ cấp thất nghiệp và số người được hỗ trợ học nghề rất thấp,chỉ chiếm 0,17% trong tổng số người được hưởng trợ cấp thất nghiệp.

Tuy nhiên, nhiều khả năng người lao động đã tìm được việc làm nhưng donhững quy định của pháp luật hiện hành, người lao động sẽ nhận trợ cấp thấtnghiệp một lần và giao kết hợp đồng với người sử dụng lao động mới ngay sau đó

Biểu số 7: Tỷ lệ thực hiện BHTN theo vùng kinh tế

Đơn vị: %

Đăng

ký thất nghiệp

Nộp hồ

sơ đề nghị hưởng

Đề nghị chuyển hưởng

Tư vấn giới thiệu VL

Trợ cấp học nghề

Nguồn: Tổng hợp báo các địa phương-Bảo hiểm thất nghiệp (Cục Việc làm)

Tổng hợp báo cáo từ các địa phương, có thể thấy tỷ lệ lao động đăng kýthất nghiệp tập trung phần lớn tại vùng Đông Nam bộ, chiếm tới 70,3% tổng sốngười đăng ký thất nghiệp trong cả nước Cũng tại khu vực này, số người đềnghị chuyển hưởng BHTN sang các địa phương khác chiếm tỷ lệ rất cao, tới84,2% tổng số người đề nghị chuyển hưởng BHTN cả nước, chứng tỏ vùngĐông Nam bộ tập trung nhiều lao động ngoại tỉnh

Các vùng Tây Bắc, Đông Bắc, Bắc Trung bộ và Tây nguyên có tỷ lệ đăng

ký và nộp hồ sơ ít nhất trong cả nước nhưng đây là những địa bàn rộng, giaothông khó khăn nên người thất nghiệp gặp rất nhiều khó khăn để tiếp cận cácđiểm đăng ký thất nghiệp

Các vùng Tây Bắc, Đông Bắc, Bắc Trung bộ và Đồng bằng Sông CửuLong có số người nộp hồ sơ đề nghỉ hưởng trợ cấp thất nghiệp cao hơn số ngườiđến đăng ký thất nghiệp (tương ứng là: 319/256 người; 4.253/3.543 người;5.486/1.647 người và 24.199/21.889 người) là do số người chuyển hưởng BHTN

từ những vùng khác

4 Đánh giá

4.1 Những mặt được:

Trang 17

- Trong thời gian ngắn đã thiết lập được các đơn vị thực hiện giải quyếtchế độ BHTN để kịp thời tiếp nhận, giải quyết chế độ đối với người thất nghiệp

từ 01/01/2010 và đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận;

- Căn cứ vào tình hình thực tiễn các địa phương đã thiết lập các điểm đăng

ký, tiếp nhận tại các quận/huyện, cụm quận/huyện tạo điều kiện thuận lợi đểngười thất nghiệp liên hệ giải quyết chế độ;

- Bộ máy tổ chức thực hiện BHTN đã tích cực thực hiện công tác tuyêntruyền trên nhiều phương tiện thông tin đại chúng, báo đài của Trung ương vàđịa phương, có tác động tích cực đến cộng đồng nói chung, người lao động vàngười sử dụng nói riêng;

- Nhân lực ở Trung ương và địa phương đã khắc phục nhiều khó khăn đểhoàn thành tốt nhiệm vụ, đồng thời chủ động đề xuất nhiều biện pháp cải tiếnphương thức làm việc;

- Bảo hiểm thất nghiệp thuộc Cục Việc làm đã chủ động trong hướng dẫnnghiệp vụ đảm bảo 100% cán bộ, viên chức và người lao động trực tiếp thựchiện giải quyết chế độ đối với người thất nghiệp đều qua đào tạo, tập huấnnghiệp vụ

Trang 18

- Vẫn có trường hợp người lao động bị mất việc làm chưa được hưởng chế

độ do không có điều kiện di chuyển đến địa điểm đăng ký thất nghiệp

b Nguyên nhân của những hạn chế:

- Hiện nay, ngành Bảo hiểm xã hội được tổ chức theo ngành dọc từ Trungương xuống địa phương, ở Trung ương là Bảo hiểm xã hội Việt Nam, ở địaphương là Bảo hiểm xã hội tỉnh, Bảo hiểm xã hội huyện, nên việc tổ chức triểnkhai thực hiện thu, chi BHTN rất thuận lợi Trong khi đó, đối với ngành Laođộng-Thương binh và Xã hội thực hiện tiếp nhận và giải quyết các thủ tục hưởngBHTN, ở Trung ương là Bảo hiểm thất nghiệp thuộc Cục Việc làm, ở địa phương

là phòng Bảo hiểm thất nghiệp trực thuộc Trung tâm GTVL của Sở Lao Thương binh và Xã hội do địa phương quản lý, không được tổ chức theo ngànhdọc như đối với Bảo hiểm xã hội Việt Nam nên việc chỉ đạo từ Trung ươngxuống các địa phương đã gặp rất nhiều khó khăn

động Để đảm bảo hoạt động kịp thời và tiết kiệm kinh phí đầu tư xây dựngmới trụ sở nên tất cả các cơ quan, đơn vị đều phải đi thuê trụ sở làm việc, điểmtiếp nhận Đây là giải pháp tình thế trong giai đoạn đầu hoạt động

- Do các phòng Bảo hiểm thất nghiệp thuộc Trung tâm GTVL của Sở Laođộng-Thương binh và Xã hội nên trang thiết bị do địa phương đảm bảo Tuynhiên, theo quy định thì tất cả chi phí thực hiện BHTN do Quỹ BHTN đảm bảonên khó phân định tài sản dành riêng để thực hiện nhiệm vụ BHTN, hay phục vụchung của Trung tâm nên việc bố trí trang thiết bị chưa được thực hiện đầy đủ vàđồng bộ;

- Việc thành lập các điểm tiếp nhận giải quyết chế độ BHTN, là giải pháptình thế, cấp bách của các địa phương có quy mô thất nghiệp lớn, địa bàn rộng;

- Do nguồn nhân lực ở các địa phương chưa được xác định trong địnhmức biên chế nên người lao động chưa yên tâm công tác, cũng như khối lượngcông việc của các địa phương là khác nhau nên chưa có điều kiện để rút kinhnghiệm, hoàn thiện và nâng cao nghiệp vụ;

- Theo quy định tại Nghị định số 127/2008/NĐ-CP thì toàn bộ chi phí chocác hoạt động sự nghiệp BHTN được trích từ Quỹ BHTN nhưng phòng Bảohiểm thất nghiệp chỉ là một bộ thuộc Trung tâm GTVL, không phải hệ thốngdọc nên việc lập dự toán, phân bổ, giải ngân và thanh, quyết toán gặp rất nhiềukhó khăn, phức tạp, ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện nhiệm vụ;

- Công tác giải quyết chế độ BHTN mới thực hiện từ 01/01/2010 nên cả

hệ thống phải tập trung thực hiện tốt nhiệm vụ nên chưa kiến nghị các cơ quan,đơn vị thực hiện thanh, kiểm tra định kỳ hoặc đột xuất Theo quy định công tácthanh tra, kiểm tra phụ thuộc vào thanh tra chuyên ngành và cán bộ Cục Việclàm trong điều kiện lực lượng thanh tra viên mỏng và chuyên viên còn thiếunên chưa kịp thời thực hiện công tác này;

Ngày đăng: 26/02/2019, 17:02

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w