Tính cấp thiết của đề tài Bảo hiểm thất nghiệp là chính sách được Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm.Đây là một chính sách mới được thực hiện từ 01/01/2009 và đã có những tác độngtích cực,
Trang 1z
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LƯƠNG THẾ VINH
-*** -Lê Thị Thanh Duyên
HOÀN THIỆN CƠ CHẾ CÂN ĐỐI THU - CHI ĐỂ ĐẢM BẢO PHÁT TRIỂN QUỸ BẢO HIỂM
THẤT NGHIỆP TẠI VIỆT NAM
CHUYÊN NGÀNH : Quản trị kinh doanh
Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN TRẦN QUẾ
Trang 2Nam Định, 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của tôi Các số liệutrong luận văn là trung thực Kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực vàchưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Tác giả luận văn
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sựhướng dẫn, giúp đỡ nhiệt tình của các Thầy Cô giáo, gia đình, bạn bè, đồng nghiệp
Đặc biệt tôi xin chân thành cảm ơn TS Nguyễn Trần Quế đã trực tiếp hướng dẫn,
giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Cuối cùng, xin cám ơn gia đình, bạn bè đã quan tâm, chia sẻ và động viên tôihoàn thành bản luận văn này
Tác giả luận văn
Lê Thị Thanh Duyên
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG VÀ SƠ ĐỒ
LỜI MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tổng quan về đề tài nghiên cứu 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4
3.1 Mục đích nghiên cứu 4
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
4.1 Đối tượng nghiên cứu 4
4.2 Phạm vi nghiên cứu 4
5 Phương pháp nghiên cứu 4
6 Đóng góp khoa học của luận văn 5
7 Kết cấu luận văn 5
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP VÀ QUỸ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP 6
1.1 Tổng quan về bảo hiểm thất nghiệp 6
1.1.1 Khái niệm bảo hiểm thất nghiệp 6
1.1.2 Vai trò của bảo hiểm thất nghiệp 8
1.1.3 Đặc điểm của bảo hiểm thất nghiệp 10
1.1.4 Các nguyên tắc của bảo hiểm thất nghiệp 11
1.1.4.1 Mỗi người lao động đều có quyền được bảo hiểm thất nghiệp trong trường hợp mất việc làm 11
1.1.4.2 Chế độ bảo hiểm thất nghiệp phải thể hiện tính xã hội, có sự chia sẻ rủi ro11 1.1.4.3 Chế độ bảo hiểm thất nghiệp phải thể hiện mối quan hệ hữu cơ giữa đóng góp và hưởng thụ 12
1.1.4.4 Bảo hiểm thất nghiệp phải góp phần lành mạnh hóa thị trường lao động 13
1.1.4.5 Ngân quỹ bảo hiểm thất nghiệp đóng vai trò quan trọng trong hoạt động của bảo hiểm thất nghiệp 13
1.2 Tổng quan về Quỹ bảo hiểm thất nghiệp 14
1.2.1 Khái niệm Quỹ bảo hiểm thất nghiệp 14
1.2.1.1 Khái niệm 14
1.1.2.2 Đặc điểm 15
1.1.2.3 Đối tượng bắt buộc tham gia bảo hiểm thất nghiệp 15
1.2.2 Quản lý Quỹ bảo hiểm thất nghiệp và các nội dung liên quan đến thu- chi Quỹ bảo hiểm thất nghiệp 16
1.2.2.1 Khái niệm quản lý Quỹ bảo hiểm thất nghiệp và sự cần thiết phải quản lý Quỹ bảo hiểm thất nghiệp 16
Trang 61.2.2.2 Nguyên tắc quản lý quỹ bảo hiểm thất nghiệp 18
1.2.2.3 Quản lý thu quỹ bảo hiểm thất nghiệp 20
1.2.2.4 Quản lý chi quỹ bảo hiểm thất nghiệp 23
1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới Quỹ bảo hiểm thất nghiệp 27
1.2.3.1 Các nhân tố chủ quan 27
1.2.3.2 Các nhân tố khách quan 29
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 30
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC THU- CHI CỦA QUỸ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP GIAI ĐOẠN 2011- 2015 31
2.1 Công tác thu bảo hiểm thất nghiệp 31
2.1.1 Quy trình thu bảo hiểm thất nghiệp 31
2.1.2 Kết quả thu bảo hiểm thất nghiệp 34
2.1.3 Thực trạng nợ đọng bảo hiểm thất nghiệp 36
2.2 Công tác chi bảo hiểm thất nghiệp 39
2.2.1 Chi trả chế độ trợ cấp thất nghiệp 40
Năm 2015 40
2.2.2 Chi trả chế độ hỗ trợ học nghề 43
2.2.3 Chi trả chế độ bảo hiểm y tế 46
2.2.4 Chi trả chi phí quản lý 47
2.3 Thực trạng cân đối thu-chi và đánh giá công tác quản lý Quỹ bảo hiểm thất nghiệp 48
2.3.1 Thực trạng cân đối thu-chi 48
2.3.2 Đánh giá công tác quản lý Quỹ bảo hiểm thất nghiệp 49
2.4 Thành tựu và hạn chế trong công tác thu- chi của quỹ bảo hiểm thất nghiệp giai đoạn 2011- 2015 51
2.4.1 Thành tựu đạt được 51
2.4.2 Hạn chế 52
2.4.3 Nguyên nhân 53
2.4.3.1 Nguyên nhân khách quan 53
2.4.3.2 Nguyên nhân chủ quan 54
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 56
CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP CÂN ĐỐI THU- CHI NHẰM ĐẢM BẢO PHÁT TRIỂN QUỸ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP TẠI VIỆT NAM 57
3.1 Tình hình kinh tế-xã hội và tình trạng thất nghiệp ở nước ta hiện nay 57
3.1.1 Tình hình kinh tế-xã hội ở nước ta hiện nay và những năm sắp tới 57
3.1.2 Tình trạng thất nghiệp ở nước ta hiện nay và những năm sắp tới 60
3.1.3 Dự báo xu hướng của Quỹ bảo hiểm thất nghiệp đến năm 2020 62
3.2 Đề xuất giải pháp cân đối thu-chi, phát triển Quỹ bảo hiểm thất nghiệp 64
3.2.1 Tăng thu Quỹ bảo hiểm thất nghiệp 64
Năm 2015 66
3.2.2 Quản lý chặt chẽ đảm bảo chi đúng, chi đủ Quỹ bảo hiểm thất nghiệp 66
3.2.3 Nâng cao các phương thức triển khai thực hiện hoạt động thu-chi Quỹ bảo hiểm thất nghiệp 67
Trang 73.2.3.1 Xây dựng quy trình quản lý thu bảo hiểm thất nghiệp phù hợp 67
3.2.3.2 Xây dựng mô hình quản lý quỹ phù hợp 68
3.2.2.3 Tăng cường công tác phối hợp của các cơ quan quản lý 73
3.2.2.4 Hoàn thiện phần mềm về thu - chi bảo hiểm thất nghiệp 74
3.2.4 Tăng cường tổ chức thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp 75
3.2.4.1 Đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền 75
3.3.4.2 Tăng cường đào tạo, tập huấn nâng cao năng lực cán bộ 77
3.3.4.3 Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra 78
3.4 Kiến nghị 80
3.4.1 Đối với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội 80
3.4.2 Đối với Thanh tra chính phủ, kiểm toán Nhà nước 81
3.4.3 Đề xuất khác 82
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 84
KẾT LUẬN 85
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 8DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BHTN Bảo hiểm thất nghiệp
BHXH Bảo hiểm xã hộiCBCNV Cán bộ công nhân viên
Trang 9DANH MỤC BẢNG VÀ SƠ ĐỒ
Sơ đồ:
Sơ đồ 2.1: Quy trình thu bảo hiểm thất nghiệp 32
Sơ đồ 3.1: Tổ chức bộ máy Bảo hiểm thất nghiệp theo ngành dọc từ Trung ương tới địa phương 72
Biểu đồ: Biểu đồ 2.1: Kết quả thu BHTN giai đoạn 2011-2015 34
Biểu đồ 2.2: Tỷ lệ nợ đọng BHTN 37
Biểu đồ 2.3: Cơ cấu nợ BHTN giai đoạn 2011-2015 38
Biểu đồ 2.4: Chi BHTN giai đoạn 2011-2015 39
Biểu đồ 3.1: Tỷ lệ thất nghiệp Việt Nam giai đoạn 2012-2015 62
Bảng: Bảng 1.1: Thời gian đóng, hưởng BHTN Việt Nam 25
Bảng 2.1: Kết quả thu BHTN giai đoạn 2011-2015 34
Bảng 2.2: Số thu BHTN chia theo đối tượng thu giai đoạn 2011-2015 35
Bảng 2.3: Nợ đọng BHTN giai đoạn 2011-2015 36
Bảng 2.4: Kết quả chi BHTN giai đoạn 2011-2015 39
Bảng 2.5: Chi trả trợ cấp thất nghiệp giai đoạn 2011-2015 40
Bảng 2.6: Tình hình chi trả hỗ trợ học nghề năm 2011-2015 43
Bảng 2.7: Tỷ lệ số người hỗ trợ học nghề so với số người hưởng trợ cấp của một số tỉnh các năm 2012-2015 45
Bảng 2.8: Tình hình chi chế độ bảo hiểm y tế giai đoạn 2011-2015 46
Bảng 2.9: Kinh phí quản lý quỹ BHTN 2011-2015 48
Bảng 2.10: Tình hình sử dụng quỹ bảo hiểm thất nghiệp giai đoạn 2011-2015 49 Bảng 3.1: Cơ cấu việc làm theo ngành, giai đoạn 2000-2013 57
Bảng 3.2: Tỷ lệ tổng thu nhập quốc dân bình quân đầu người của Việt nam so với ngưỡng giá trị tổng thu nhập quốc dân mà NHTG coi là nước thu nhập trung bình thấp 58
Bảng 3.3: Lạm phát tại Việt nam, 1992-2015 59
Bảng 3.4: Tóm tắt chỉ số thị trường lao động Việt Nam 61
Trang 10LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Bảo hiểm thất nghiệp là chính sách được Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm.Đây là một chính sách mới được thực hiện từ 01/01/2009 và đã có những tác độngtích cực, trực tiếp đến người lao động, người sử dụng lao động và vấn đề an sinh xãhội Chính sách bảo hiểm thất nghiệp nhằm thay thế, bù đắp một phần thu nhập củangười lao động khi bị mất việc làm và quan trọng hơn nữa là hỗ trợ người lao độnghọc nghề, tư vấn, giới thiệu việc làm để nhanh chóng quay trở lại với thị trường laođộng, ngoài ra họ còn được hưởng chế độ bảo hiểm y tế
Sau 6 năm thực hiện, chính sách bảo hiêm thất nghiệp đã đạt được những kếtquả đó là, số người tham gia của bảo hiểm thất nghiệp là 9,213 triệu người với tổngthu là 11.812 tỷ đồng Theo báo cáo của các địa phương, trong 6 năm thực hiện,Trung tâm Giới thiệu việc làm các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đã tiếpnhận được 2.010.642 lượt người đăng ký thất nghiệp, trong đó có 1.836.686 ngườiđược hưởng trợ cấp thất nghiệp Nhìn chung, việc ban hành các văn bản hướng dẫnđồng bộ, đầy đủ, kịp thời và đáp ứng được yêu cầu thu, tiếp nhận và giải quyết chế
độ bảo hiểm thất nghiệp, chi bảo hiểm thất nghiệp, các văn bản hướng dẫn đều phùhợp với các quy định của chính sách Bảo hiểm thất nghiệp trong Luật Việc làm vàcác văn bản có liên quan Các địa phương đã có sự chuẩn bị sẵn sàng về cả cơ sở vậtchất và nhân lực để tổ chức triển khai thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp,đảm bảo giải quyết đúng chế độ và kịp thời cho người lao động Đặc biệt trong thời
kỳ cuối của giai đoạn khủng khoảng kinh tế 2009-2010, bảo hiểm thất nghiệp đã chitrả trợ cấp thất nghiệp và tư vấn, giới thiệu việc làm cho hơn 100.000 nơười laođộng bị thất nghiệp, góp phần tích cực vào giải quyết an sinh xã hội Công tác triểnkhai được thực hiện đồng bộ, kịp thời và có sự phối hợp giữa các ngành Lao động -Thương binh và Xã hội, Bảo hiểm xã hội, Tài chính, Nội vụ, Công đoàn, trongviệc tuyên truyền, tập huấn, đào tạo cán bộ, hướng dẫn thực hiện, chia sẻ thông tin,giải quyết các vướng mắc trong thực tế phát sinh
Trang 11Tuy nhiên, qua thực tế hoạt động của ngành bảo hiểm xã hội nói chung vàbảo hiểm thất nghiệp nói riêng, nhiều thiếu sót, bất cập đã bộc lộ như tình trạng thukhông đủ, chưa cân bằng được thu-chi, các quy định pháp luật về BHTN chưa phùhợp với tình hỉnh thực tế dẫn đến trục lợi quỹ bảo hiểm thất nghiệp, sự phối hợpđồng bộ giữa các cơ quan chức năng còn hạn chế Tất cả những yếu kém bất cậptrên đã làm ảnh hưởng lớn tới sự phát triển của hệ thống BHTN nói chung và trựctiếp là công tác quản lý ngân quỹ bảo hiểm thất nghiệp nói riêng, từ đó làm tănggánh nặng cho ngân sách nhà nước.
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, bản thân được tham gia khóa học Thạc
sỹ Quản trị kinh doanh, tác giả lựa chọn đề tài nghiên cứu “Hoàn thiện cơ chế cân đối thu-chi đảm bảo phát triển Quỹ bảo hiểm thất nghiệp tại Việt Nam” làm đề tài
nghiên cứu cho bản luận văn tốt nghiệp thạc sỹ của mình
2 Tổng quan về đề tài nghiên cứu
Thất nghiệp được coi là bạn đồng hành của nền kinh tế thị trường Thấtnghiệp và lạm phát là hai vấn đề nan giải nhất của các quốc gia trong nền kinh tế thịtrường, có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển và sự ổn định kinh tế - chính trị - xãhội của từng nước Chính vì vậy, Bảo hiểm thất nghiệp và trợ cấp thất nghiệp đã bắtđầu thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học và nhiều nhà quản lý
Năm 1993, trong cuốn “Một số vấn đề về chính sách bảo hiểm xã hội ở nước
ta hiện nay” do Nhà xuất bản lao động phát hành, tác giả Nguyễn Văn Phần đã có
một bài viết với tiêu đề: “Một số ý kiến về trợ cấp thất nghiệp và trợ cấp hưu trí”.
Nội dung bài viết mới chỉ đề cập đến khái niệm về trợ cấp thất nghiệp và sự cầnthiết phái có trợ cấp thất nghiệp cho người lao động trong cơ chế thị trường
Năm 2000, TS.Nguyễn Văn Định và các cộng sự của bộ môn Kinh Tế Bảohiểm – Trườn Đại học Kinh Tế Quốc Dân thực hiện một đề tài khoa học cấp bộ, mã
số B2000- 38- 62: “Tổ chức bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam trong điều kiện kinh
tế thị trường” Tuy nhiên, do thời gian và kinh phí có hạn và khi đó luật Bảo hiểm
xã hội chưa ra đời cho nên nội dung của đề tài này mới chỉ dừng lại ở một số nộidung chủ yếu mang tính định tính như: Sự cần thiết khách quan phải triển khai Bảo
Trang 12hiểm thất nghiệp, phân tích thực trạng thất nghiệp và nêu lên một số quan điểmchung khi tổ chức triển khai Bảo hiểm thất nghiệp ở nước ta
Trong cuốn sách “Bảo hiểm xã hội - những điều cần biết” do Nhà xuất bản thống kê phát hành năm 2001, PGS.TS Nguyễn Văn Kỷ đã có một bài viết: “Luật
bảo hiểm xã hội và vấn đề bảo hiểm thất nghiệp” Nội dung bài viết chỉ tập trung
vào một khía cạnh nhỏ là: Khi xây dựng luật Bảo hiểm xã hội ở nước ta có nên haykhông nên đề cập đến vấn đề bảo hiểm thất nghiệp
Năm 2003, tại buổi hội thảo khoa học “Hoàn thiện chính sách tài chính đảm
bảo an ninh xã hội" do Bộ tài chính tô chức, TS Đặng Anh Duệ đã có bài báo tham
luận: “Để xây dựng và thực hiện chế độ bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam” Bài báo
này mới chủ yếu tập trung nêu lên sự cần thiết phải có chế độ bảo hiểm thất nghiệptrong hệ thống các chế độ bảo hiểm xã hội ở Việt Nam và điều kiện về mặt tài chính
để xây dựng và thực hiện chế độ này
Năm 2004, TS Nguyễn Huy Ban và các cộng sự tại Bảo hiểm xã hội Việt
Nam đã thực hiện một chuyên đề khoa học: “Nghiên cứu những nội dung cơ bản
của bảo hiểm thất nghiệp hiện đại- vấn đề lựa chọn hình thức trợ cấp thất nghiệp ở Việt Nam” Trong chuyên đề này, một số nội dung của bảo hiểm thất nghiệp đã
bước đầu được đề cập, một số quan điểm khi lựa chọn hình thức trợ cấp thất nghiệp
ở nước ta đã được đưa ra
Trong điều kiện kinh tế xã hội gặp nhiều khó khăn, một chính sách mới trong
hệ thống các chính sách an sinh xã hội đã đi vào cuộc sống và có hiệu lực từ ngày01/01/2009 đó là chính sách bảo hiểm thất nhiệp cho người lao động Bảo hiểm thấtnghiệp là một loại hình bảo hiểm đã có từ lâu đời trên thế giới, được áp dụng rộngrãi ở nhiều nước khác nhau, nhất là ở các nước phát triển Tại Việt Nam, đến năm
2006, khi Luật BHXH được ban hành mới có quy định về bảo hiểm thất nghiệp.Luật Việc làm được Quốc hội khóa XIII thông qua ngày 16/11/2013, tại kỳ họp thứ
6 Trong đó, Luật Việc làm đã quy định rất cụ thể về điều kiện, trình tự, thủ tụchưởng bảo hiểm thất nghiệp theo hướng kế thừa các quy định hiện hành và sửa đối,
bổ sung các quy định mới đảm bảo phù hợp, tiến bộ hơn, Luật Việc làm có hiệu lực
Trang 13từ ngày 01/01/2015 Các quy định về bảo hiểm thất nehiệp của Luật bảo hiểm xãhội hết hiệu lực thi hành.
Chính sách bảo hiểm thất nghiệp được quy định có nhiều thay đổi và đến nay
chưa có công trình nghiên cứu nào nghiên cứu một cách có hệ thống “Hoàn thiện
cơ chế cân đối thu-chi đảm bảo phát triển Quỹ bảo hiểm thất nghiệp tại Việt Nam”,
từ khi có những thay đổi chính sách mới này
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Thông qua việc phân tích thực trạng thực hiện bảo hiếm thất nghiệp ờ ViệtNam giai đoạn 2011- 2015, đề tài có mục đích là: tìm ra các giải pháp, hoàn thiện
cơ chế thu-chi, quản lý Quỹ bảo hiểm thất nghiệp để đảm bảo phát triển bền vững
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu vấn đề về bảo hiểm thất nghiệp, chính sách bảo hiểm thấtnơhiệp và các nội dung đảm bảo tính bền vững;
- Đánh giá thực trạng bảo hiểm thất nghiệp và tình hình thực hiện bảo hiểmthất nghiệp giai đoạn 2010- 2014;
- Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế thu-chi Quỹ bảo hiểm thấtnghiệp để đảm bảo phát triển
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu vấn đề thất nghiệp, chính sách Bảo hiếm thấtnghiệp và vấn đề quản lý thu- chi để đảm bảo phát triển Quỹ bảo hiểm thất nghiệptại Việt Nam
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Xét theo góc độ không gian và thời gian về phạm vi nghiên cứu, đề tàinghiên cứu thực trạng thất nghiệp và chính sách bảo hiểm thất tại Việt Nam tronggiai đoạn 2011-2015
5 Phương pháp nghiên cứu
- Luận văn dự kiến sử dụng các gơuồn dữ liệu sơ cấp và thứ cấp có được từ
Trang 14các hoạt động như: điều tra khảo sát, phỏng vấn, trích nguồn số liệu thống kê của
Bộ Lao dộng - Thươns binh và Xã hội, Bảo hiểm xã hội Việt Nam và các cơ quan,
tổ chức có liên quan
- Dữ liệu thu thập được sẽ được sử dụng nhằm phân tích, đánh giá tình hình;
dự báo xu thế; từ đó làm rõ thực trạng thu- chi BHTN và cơ sở giải pháp đề xuấttrên cơ sở kết hợp đồng thời các phương pháp: tổng hợp phân tích, so sánh, hệthống hóa, duy vật biện chứng trong quá trình nghiên cứu
6 Đóng góp khoa học của luận văn
Đề tài được thực hiện để thu được một số kết quả như:
- Làm rõ thực trạng thực hiện thu- chi Quỹ BHTN ở nước ta giai đoạn 2015;
2011 Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế thu2011 chi để Quỹ bảo hiểmthất nghiệp phát triển bền vững
7 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, mục lục, luậnvăn kết cấu gồm 3 chương:
Chương 1: Lý luận cơ bản về bảo hiểm thất nghiệp và Quỹ bảo hiểm thất
nghiệp
Chương 2: Thực trạng công tác thu- chi của Quỹ bảo hiểm thất nghiệp giai
đoạn 2011- 2015.
Chương 3: Đề xuất giải pháp cân đối thu- chi nhằm đảm bảo phát triển Quỹ
bảo hiểm thất nghiệp tại Việt Nam.
Trang 15CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP VÀ QUỸ BẢO HIỂM
THẤT NGHIỆP
1.1 Tổng quan về bảo hiểm thất nghiệp
1.1.1 Khái niệm bảo hiểm thất nghiệp
Dưới góc độ kinh tế xã hội, bảo hiểm thất nghiệp được hiểu là giải phápnhằm khắc phục hậu quả của tình trạng thất nghiệp, giúp người thất nghiệp tạm thờiđảm bảo được cuộc sống và tìm kiếm việc làm thông qua việc tạo lập và sử dụngmột quỹ tiền tệ tập trung Quỹ này được hình thành do sự đóng góp của người laođộng và người sử dụng lao động có sự hỗ trợ của nhà nước, được sử dụng để trả trợcấp thất nghiệp, cũng như tiến hành các biện pháp nhằm nhanh chóng giúp ngườithất nghiệp có được việc làm mới Khoản tiền trợ giúp trích từ quỹ bảo hiểm thấtnghiệp nhằm đảm bảo cuộc sống cho người lao động trong thời gian mất việc làmđược gọi là trợ cấp thất nghiệp [12]
Dưới góc độ pháp lý, chế độ bảo hiểm thất nghiệp là tổng thể các quy phạmpháp luật quy định việc đống góp và sử dụng quỹ bảo hiểm thaatsa nghiệp, chi trảcho trợ cấp thất nghiệp để bù đắp thu nhập cho người lao động bị mất việc làm vàthực hiện các biện pháp đưa người thất nghiệp trở lại làm việc Bảo hiểm thấtnghiệp vì thế thường được hiểu là một chế độ trong hệ thống các chế độ bảo hiểm
xã hội, có mục đích hổ trợ thu nhập cho người lao động bị mất thu nhập do thấtnghiệp [12]
Ngày nay, BHTN không chỉ được coi là một trong những chính sách quantrọng của mỗi quốc gia mà còn được xem xét, điều chỉnh trong phạm vi quốc tế.Thông qua việc tổ chức và sử dụng một quỹ tiền tệ tập trung trên phạm vi rộng, vớinguyên tắc "lấy số đông bù số ít", chia sẻ rủi ro Trong Công ước số 102 (1952),ILO quy định về an toàn xã hội (hay còn gọi là an ninh, an sinh xã hội) và BHXHđóng vai trò trụ cột, trong đó bao gồm cả BHTN
Công ước số 102 ILO cũng khuyến nghị các nước căn cứ vào điều kiện kinh
Trang 16tế, chính trị xã hội để triển khai thực hiện các nội dung của chương trình an toàn xãhội Nhiều nước đã xếp BHTN là một chế độ quan trọng của hệ thống BHXH Cũngphải thấy rằng, cho dù chế độ BHTN có những đặc điểm chung của chế độ BHXH,nhưng nó cũng có những đặc điểm riêng khác với các chế độ khác trong cùng hệthống Đó là, BHTN gắn liền với vấn đề việc làm và tạo việc làm, do vậy về đốitượng, mục đích, quỹ, công tác quản lý đều có những vấn đề riêng biệt
Như vậy, có thể đưa ra khái niệm bảo hiểm thất nghiệp như sau:
BHTN là sự hỗ trợ một phần thu nhập cho người lao động bị mất thu nhập
do thất nghiệp và hỗ trợ họ sớm quay trở lại thị trường lao động [16]
BHTN là bảo hiểm bồi thường cho người lao động bị thiệt hại về thu nhập do
bị mất việc làm để họ ổn định cuộc sống và có điều kiện tham gia vào thị trường laođộng
Như vậy, mục đích của BHTN là trợ giúp về mặt tài chính cho người thấtnghiệp để họ ổn định cuộc sống cá nhân và gia đình trong một chừng mực nhấtđịnh, từ đó tạo điều kiện cho họ tham gia vào thị trường lao động để có những cơhội mới về việc làm Vì thế, một số nhà kinh tế học cho rằng BHTN là hạt nhân củathị trường lao động và nằm trong chính sách kinh tế xã hội của quốc gia Chính sáchnày trước hết vì lợi ích của người lao động và người sử dụng lao động sau nữa là vìlợi ích xã hội
BHTN cũng là một loại hình bảo hiểm con người, song nó có một số đặcđiểm khác như: không có hợp đồng trước, người tham gia và hưởng thụ quyền lợi làmột, không có việc chuyển rủi ro của những người bị thất nghiệp sang những ngườikhác có khả năng thất nghiệp BHTN không có dự báo chính xác về số lượng vàphạm vi và có thể bị thiệt hại về kinh tế rất lơn, đặc biệt là trong những thời kỳ nềnkinh tế bị khủng hoảng
Trang 17giới thiệu việc làm, đào tạo nghề để có thể sớm tìm được việc làm, gia nhập lại thịtrường lao động.
Như vậy, bên cạnh việc hỗ trợ một khoản tài chính đảm bảo ổn định cuộcsống cho người lao động trong thời gian mất việc làm thì mục đích chính củaBHTN là thông qua các hoạt động đào tạo nghề, tư vấn, giới thiệu việc làm, sớmđưa những lao động thất nghiệp tìm được một việc làm mới thích hợp và ổn định
Nguồn tài chính hỗ trợ cho người thất nghiệp được lấy từ quỹ BHTN
Quỹ BHTN là quỹ tiền tệ tập trung, được hình thành từ sự đóng góp của cácbên tham gia BHTN, theo nguyên tắc cộng đồng chia sẻ rủi ro, không vì mục đíchlợi nhuận Quỹ này được dùng để trợ cấp cho người lao động bị thất nghiệp, nhằmđảm bảo ổn định đời sống cho họ và gia đình
1.1.2 Vai trò của bảo hiểm thất nghiệp
BHTN có vai trò rất quan trọng trong đời sống kinh tế - xã hội của mỗi quốcgia, đó là:
- Bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi mất việc làm
Trong quan hệ lao động không thể tránh khỏi các trường hợp người lao động
bị mất việc làm, do đó cần có mối quan hệ tương tác lẫn nhau giữa ba bên: Người
sử dụng lao động, cơ quan BHXH và người lao động để đảm bảo bù đắp thu nhậpcho người lao động khi mất việc làm Người sử dụng lao động có trách nhiệm đónggóp khoản tiền BHTN cho người lao động đang làm việc cho mình và người laođộng cũng phải có trách nhiệm đóng góp một phần tiền lương của mình để tự bảohiểm cho mình Sự đóng góp của người sử dụng lao động và người lao động phải làkhoản đóng góp bắt buộc và theo các quy định về mức đóng, định kỳ đóng cho cơquan BHXH Cơ quan BHXH được giao nhiệm vụ quản lý thu, chi BHXH và chỉkhi nào bên được bảo hiểm (người lao động) có đủ điều kiện cần thiết mới đượchưởng các khoản thu nhập từ nguồn quỹ BHXH
- Phân phối lại thu nhập
Trong thực tế, chỉ có một bộ phận người lao động bị mất việc làm trở thànhthất nghiệp do các nguyên nhân thực tế khách quan và không ai muốn mất việc làm
Trang 18để được hưởng trợ cấp từ quỹ BHTN Do đó, số người hưởng trợ cấp thất nghiệp tấtyếu ít hơn số người tham gia đóng góp bắt buộc vào quỹ BHTN Từ đó hình thànhnguyên tắc BHTN là “lấy số đông bù số ít” Nguyên tắc này thể hiện việc phân phốilại thu nhập giữa những người lao động có thu nhập khác nhau, giữa những người
có thu nhập cao và thu nhập thấp, giữa những người đóng góp đều đặn và khôngđều đặn vào quỹ BHTN Từ đó cũng cho thấy rằng, khả năng, vai trò của BHTNkhông những phân phối lại thu nhập mà còn góp phần thực hiện công bằng xã hội
- Động viên người lao động hăng hái làm việc
Khi người lao động đang làm việc sẽ có thu nhập, còn khi mất việc làm docác nguyên nhân khách quan họ được hưởng trợ cấp thất nghiệp Như vậy, ngườilao động đã có “phao an toàn” để đảm bảo cuộc sống cho họ và BHTN là chỗ dựavững chắc khi tạm thời không có việc làm “Phao an toàn” đó sẽ làm cho người laođộng gắn bó với công việc, với địa chỉ làm việc và yên tâm, tích cực làm việc đểtăng thêm nguồn thu nhập và cũng từ đó có điều kiện tăng mức đóng BHTN để lúcnào đó có thể sẽ được BHTN Đó là quan hệ hai chiều mang tính chất tích cực củaBHTN đối với người lao động
- Hình thành quỹ để phát triển sản xuất - kinh doanh
Do việc huy động BHTN bắt buộc đối với người lao động, cũng như người
sử dụng lao động và được nhận phần hỗ trợ của ngân sách Nhà nước, nên đã tồntích thành quỹ tiền tệ tập trung trong thời điểm nhàn rỗi có thể đầu tư một phần vàocác hoạt động kinh tế để sinh lời, tăng thêm nguồn thu cho quỹ BHTN Khoản đầu
tư này vừa góp phần phát triển sản xuất - kinh doanh, vừa đảm bảo an toàn cho quỹBHTN khỏi bị mất giá để chi trả trợ cấp BHTN cho người lao động
- Tạo điều kiện gắn bó giữa lợi ích của Nhà nước và người lao động
Đứng trên quan điểm xã hội, BHTN là một biện pháp dàn trải rủi ro, thiệt hạitheo cả không gian và thời gian, chia sẻ những rủi ro, thiệt hại cho số đông người,
từ đó tăng thêm khả năng giải quyết rủi ro, thiệt hại cho số ít người lao động khi đãtham gia BHTN
Về phía Nhà nước, chi BHTN cho người lao động là khoản chi nhỏ hơn thu
Trang 19nhập khi họ đang làm việc, nhưng vẫn phải giải quyết tốt những rủi ro, thiệt hại, khókhăn về đời sống cho người lao động và gia đình họ, góp phần ổn định và an toàn
xã hội, còn đối với người sử dụng lao động và người lao động cũng vì đó mà có lợi
và bảo vệ được quyền lợi của mình
1.1.3 Đặc điểm của bảo hiểm thất nghiệp
BHTN tạo điều kiện mở rộng khả năng khống chế và khắc phục hậu quả đốivới các rủi ro do mất việc làm và không có thu nhập, đảm bảo duy trì mức sống tốithiểu cho người lao động và ràng buộc chặt chẽ trách nhiệm của các bên tham giaquan hệ lao động BHTN còn là một chính sách nằm trong hệ thống các chính sáchkinh tế - xã hội của mỗi quốc gia và có những đặc điểm cơ bản là:
- Đối tượng áp dụng BHTN là những người trong độ tuổi lao động, có sứclao động, bị mất việc làm nhưng luôn sẵn sàng trở lại làm việc Ngược lại, trongBHXH, đối tượng được hưởng trợ cấp là những người lao động tham gia BHXHđang làm việc và cả những người nghỉ hưu
- Dự báo đối tượng của BHTN khó khăn hơn đối với một số chế độ BHXHkhác (chế độ hưu trí, tử tuất ) vì thất nghiệp chịu sự chi phối của nhiều yếu tố tácđộng như sự dịch chuyển lao động trong cơ chế thị trường, do thay đổi cơ cấu sảnxuất, thay đổi công nghệ, do lực lượng lao động có tính luân chuyển lớn khi cácdoanh nghiệp thiếu tính bền vững, ổn định sản xuất - kinh doanh hoặc do bản thânngười lao động, nhất là lao động nhập cư thường hay thay đổi nơi làm việc và nơi
cư trú
- BHTN không chỉ dừng ở việc thu và chi tiền bảo hiểm mà còn gắn liền vớitình trạng cung, cầu trên thị trường lao động, với các dòng di chuyển lao động.Trong BHTN, đòi hỏi phải vừa nhận đăng ký thất nghiệp, kiểm tra các điều kiệnBHTN của người đăng ký, vừa phải nắm chắc thông tin về thị trường lao động đểmôi giới, giới thiệu việc làm, đào tạo và đào tạo lại nghề hoặc tổ chức việc làm tạmthời cho người thất nghiệp Bên cạnh đó còn thực hiện các chính sách hỗ trợ ngườithất nghiệp tự hành nghề, hỗ trợ các doanh nghiệp nhận người thất nghiệp vào làmviệc
Trang 20- BHTN xuất phát từ quan hệ lao động nhưng khi thực hiện lại chủ yếu thuộclĩnh vực việc làm Việc trợ giúp tài chính cho người lao động bị thất nghiệp để sớm
ổn định cuộc sống luôn gắn liền với việc giải quyết việc làm cho họ Do đó, BHTNvừa có chức năng đảm bảo hỗ trợ tạm thời cho người thất nghiệp khi bị mất việclàm nhưng đồng thời còn tìm mọi cách đưa người thất nghiệp trở lại với thị trườnglao động Trong khi đó BHXH có mục đích trợ cấp chủ yếu là nhằm bù đắp chongười lao động khi gặp phải các trường hợp bị ngừng hoặc bị mất thu nhập
Xuất phát từ những đặc điểm trên cho thấy, BHTN chính là sự bù đắp nhữngrủi ro về thu nhập của người lao động để họ có điều kiện tham gia vào thị trường laođộng BHTN với mức chi trả trợ cấp thất nghiệp sẽ góp phần đảm bảo cuộc sốngcho người lao động khi bị mất việc làm Với ý nghĩa này, BHTN là một phạm trùkinh tế - xã hội mang tính nhân đạo xã hội sâu sắc
1.1.4 Các nguyên tắc của bảo hiểm thất nghiệp
Các nguyên tắc cơ bản của BHTN được hiểu là những phương hướng, tưtưởng chủ đạo, xuyên suốt và chi phối toàn bộ hệ thống Cụ thể bao gồm:
1.1.4.1 Mỗi người lao động đều có quyền được bảo hiểm thất nghiệp trong trường hợp mất việc làm
Quyền được BHTN là Bảng hiện cụ thể về quyền con người, đó là quyền củangười lao động trong quá trình làm việc đã có đóng góp cho quỹ BHTN, phải đượchưởng trợ cấp thất nghiệp khi mất việc làm có thể luôn luôn xảy ra một cách ngẫunhiên Về nguyên lý là như vậy, nhưng trong thực tế lại có một khoảng cách do phụthuộc vào tình hình phát triển kinh tế - xã hội của mỗi nước trong từng giai đoạn.Những quyền đó không phải là có sẵn một cách ngẫu nhiên mà do mỗi nước phải tựmình xây dựng hệ thống BHTN trên cơ sở điều kiện môi trường kinh tế - xã hội,môi trường luật pháp để tạo cho người sử dụng lao động và người lao động thựchiện trách nhiệm đóng góp tài chính của mình vào quỹ BHTN Nếu không có sựđóng góp thì sẽ không có quyền được hưởng BHTN, mặc dù chính sách BHTN cótồn tại trong thực tế
1.1.4.2 Chế độ bảo hiểm thất nghiệp phải thể hiện tính xã hội, có sự chia sẻ rủi
Trang 21BHTN là "hạt nhân" của chính sách thị trường lao động, nằm trong hệ thốngchính sách kinh tế - xã hội, góp phần đảm bảo lợi ích của các bên trong quan hệ laođộng Do vậy, BHTN có tính chất tương trợ, lấy số đông bù số ít Nếu không quántriệt nguyên tắc này thì ý nghĩa xã hội của BHTN sẽ mất đi
Việc tham gia vào BHTN là bắt buộc đối với người lao động và người sửdụng lao động Những chủ thể này đều có trách nhiệm tham gia BHTN và xem đây
là một nội dung trong hợp đồng lao động Nhà nước chỉ thực hiện chức năng quản
Một trong các vai trò quan trọng của BHTN là hỗ trợ cuộc sống cho ngườilao động khi bị mất thu nhập do thất nghiệp gây nên Do đó, việc quy định mứchưởng và thời gian hưởng trợ cấp BHTN phải đảm bảo mức sống tối thiểu chongười lao động và được cân đối với mức đóng góp BHTN trước đó (quá trình làmviệc có đóng bảo hiểm trước đó) của người lao động Khi xác định mức hưởng trợcấp BHTN một mặt căn cứ vào khả năng chi trả của quỹ BHTN, mặt khác còn phảithực hiện các hỗ trợ, khuyến khích người lao động tìm kiếm việc làm nhằm thoátkhỏi tình trạng thất nghiệp Đây là điểm khác biệt trong việc xác định mức trợ cấpBHTN so với các loại trợ cấp BHXH thông thường Nếu quy định tỷ lệ phần trămhưởng trợ cấp BHTN quá thấp (mức trợ cấp quá thấp), thời gian được hưởng quá ít
sẽ làm mất ý nghĩa của BHTN Nếu quy định mức trợ cấp BHTN quá cao, thời gianhưởng trợ cấp kéo dài sẽ dẫn đến khó cân đối tài chính giữa thu và chi BHTN, dễgây tâm lý ỷ lại trông chờ vào sự trợ giúp của BHTN, chấp nhận tình trạng thấtnghiệp để hưởng trợ cấp mà không tích cực tìm việc làm Chính vì vậy, để hạn chế
Trang 22tình trạng này, thời hạn hưởng trợ cấp BHTN cần được quy định hợp lý, phải căn cứtình hình thực tế của nền kinh tế - xã hội của mỗi nước, phù hợp với thông lệ và luậtpháp quốc tế.
1.1.4.4 Bảo hiểm thất nghiệp phải góp phần lành mạnh hóa thị trường lao động
BHTN không thể giải quyết những vấn đề mang tính gốc rễ gây ra thấtnghiệp Do vậy, để giải quyết thất nghiệp đòi hỏi phải có một chính sách tổng thể,được thiết kế khoa học để kích thích nền kinh tế Xu hướng chung của các nướchiện nay là, ngoài trợ cấp cho người lao động khi thất nghiệp có điều kiện sinh sốngngười ta còn thực hiện thêm biện pháp đào tạo lại người lao động để họ có điều kiện
dễ tìm việc làm mới Vì vậy, BHTN cần được liên kết chặt chẽ với các biện pháp thịtrường lao động tích cực như: Tạo ra chỗ làm việc mới, bảo vệ chỗ làm việc, nângcao năng lực cho người lao động, tìm việc làm cho người thất nghiệp Các biệnpháp này luôn gắn liền với chính sách và chương trình việc làm quốc gia Do đó,cần thiết có sự phối hợp giữa BHTN với chương trình việc làm quốc gia, coi đâynhư một biện pháp, chính sách hỗ trợ lao động nhằm đẩy lùi thất nghiệp, nhanhchóng đưa người thất nghiệp trở lại làm việc
1.1.4.5 Ngân quỹ bảo hiểm thất nghiệp đóng vai trò quan trọng trong hoạt động của bảo hiểm thất nghiệp
Cũng như ngân quỹ của một doanh nghiệp, ngân quỹ BHTN đảm nhận vaitrò duy trì hoạt động của bộ máy tổ chức quản lý trong hoạt động của cơ quan bảohiểm Ngoài ra nó còn thực hiện chức năng :
Một là, đảm bảo các hoạt động thu, chi theo kế hoạch chi thường xuyên vàkhông thường xuyên, đảm bảo tính bền vững của hệ thống BHTN không bị giánđoạn
Hai là, thực hiện chức năng điều tiết, cụ thể là mức trợ cấp, mức đóng theochính sách BHTN của nhà nước, góp phần lành mạnh hóa thị trường lao động
Ba là, thực hiện chức năng quản lý vĩ mô của Nhà nước : Đảm bảo an sinh xãhội cho người dân, qua việc thu – chi giúp Nhà nước đưa ra các chính sách kịp thời
Trang 23và phù hợp với xu hướng phát triển của đất nước nói chung, góp phần phát triểnhoạt động của cơ quan BHTN nói riêng.
1.2 Tổng quan về Quỹ bảo hiểm thất nghiệp
1.2.1 Khái niệm Quỹ bảo hiểm thất nghiệp
1.2.1.1 Khái niệm
Ngày 29/6/2006, Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam khóa XI tại kỳhọp thứ 9 đã thông qua Luật Bảo hiểm xã hội (BHXH), trong đó có quy định chế độbảo hiểm thất nghiệp (BHTN), chế độ bảo hiểm này có hiệu lực thực hiện từ ngày01/01/2009 Từ ngày 01/01/2015, chế độ bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) sẽ thực hiệntheo quy định của Luật Việc làm 2013, thay cho quy định của Luật Bảo hiểm xã hội
2006 Theo đó, Quỹ BHTN là quỹ tài chính độc lập, tập trung nằm ngoài ngân sáchNhà nước
Quỹ BHTN là tập hợp đóng góp bằng tiền của các bên tham gia bảo hiểm: người lao động, người sử dụng lao động, Nhà nước nhằm mục đích chi trả cho các chế độ BHTN và đảm bảo hoạt động của hệ thống BHTN.
Quỹ BHTN được tổ chức hoạt động dựa trên các nguyên tắc sau:
- Bảo đảm chia sẻ rủi ro giữa những người tham gia bảo hiểm thất nghiệp
- Mức đóng bảo hiểm thất nghiệp được tính trên cơ sở tiền lương của ngườilao động
- Mức hưởng bảo hiểm thất nghiệp được tính trên cơ sở mức đóng, thời gianđóng bảo hiểm thất nghiệp
- Việc thực hiện bảo hiểm thất nghiệp phải đơn giản, dễ dàng, thuận tiện, bảođảm kịp thời và đầy đủ quyền lợi của người tham gia
- Quỹ bảo hiểm thất nghiệp được quản lý tập trung, thống nhất, công khai,minh bạch, bảo đảm an toàn và được Nhà nước bảo hộ
Hiện nay, chế độ BHTN tại Việt Nam được thực hiện gồm có 4 nội dung là:
- Trợ cấp thất nghiệp
- Hỗ trợ tư vấn, giới thiệu việc làm
- Hỗ trợ Học nghề
Trang 24- Hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề để duy trì việclàm cho người lao động.
1.1.2.2 Đặc điểm
Quỹ BHTN có những đặc điểm đặc trưng sau:
- Là một quỹ tiền tệ tập trung, giữ vị trí là khâu tài chính trung gian trong hệthống tài chính quốc gia Là tổ chức tái chính nằm giao thoa giữa ngân sách nhànước với các tổ chức tài chính Nhà nước, tài chính doanh nghiệp và sau đó là tàichính dân cư
- Phân phối quỹ BHTN vừa mang tính hoàn trả, vừa mang tính không hoàntrả Tính không hoàn trả của quỹ BHTN được áp dụng đối với người đã tham giaBHTN trong suốt quá trình lao động
- Sự ra đời, tồn tại và phát triển của BHTN gắn liền với chức năng vốn cócủa nhà nước là vì quyền lợi của người lao động chứ không vì mục đích kiếm lời,đồng thời nó cũng phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế xã hội và điều kiện lịch
sử trong từng thời kì của từng quốc gia Khi nền kinh tế càng phát triển thì càng cónhiều chế độ BHTN được thực hiện, và bản thân từng chế độ cùng được áp dụngrộng rãi hơn, nhu cầu thoả mãn về BHTN đối với người lao động càng được nângcao và họ càng có khả năng tham gia vào nhiều chế độ bảo hiểm xã hội
- Một mặt, quỹ BHTN mang tính tiêu dùng được thể hiện thông qua mụctiêu, mục đích của nó là chi trả cho các chế độ BHTN Nhưng mặt khác nó lại mangtính dự trữ vì thông thường, khi người lao động đóng góp vào quỹ BHTN thì họkhông được sử dụng quỹ này khi gặp trường hợp thất nghiệp mà phải có đủ thờigian dự bị
- Hoạt động của quỹ BHTN đặt ra yêu cầu và hình thành tất yếu chế độ tiếtkiệm bắt buộc của xã hội và người lao động dành cho rủi ro bị thất nghiệp Đó cũng
là quá trình phân phối lại thu nhập của cá nhân và cộng đồng
1.1.2.3 Đối tượng bắt buộc tham gia bảo hiểm thất nghiệp
Theo Luật Việc làm 2013, đối tượng bắt buộc tham gia bảo hiểm thất nghiệpgồm có:
Trang 251 Người lao động phải tham gia bảo hiểm thất nghiệp khi làm việc theo hợpđồng lao động hoặc hợp đồng làm việc như sau:
a) Hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc không xác định thời hạn;b) Hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc xác định thời hạn;
c) Hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thờihạn từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng
Trong trường hợp người lao động giao kết và đang thực hiện nhiều hợp đồnglao động quy định tại khoản này thì người lao động và người sử dụng lao động củahợp đồng lao động giao kết đầu tiên có trách nhiệm tham gia bảo hiểm thất nghiệp
2 Người lao động theo quy định tại khoản 1 Điều này đang hưởng lươnghưu, giúp việc gia đình thì không phải tham gia bảo hiểm thất nghiệp
3 Người sử dụng lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp bao gồm cơ quannhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, đơn vị vũ trang nhân dân; tổ chức chính trị, tổchức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổchức xã hội - nghề nghiệp; cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế hoạt độngtrên lãnh thổ Việt Nam; doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ gia đình, hộ kinh doanh, tổhợp tác, tổ chức khác và cá nhân có thuê mướn, sử dụng lao động theo hợp đồnglàm việc hoặc hợp đồng lao động quy định tại khoản 1 Điều này
1.2.2 Quản lý Quỹ bảo hiểm thất nghiệp và các nội dung liên quan đến chi Quỹ bảo hiểm thất nghiệp
thu-1.2.2.1 Khái niệm quản lý Quỹ bảo hiểm thất nghiệp và sự cần thiết phải quản
lý Quỹ bảo hiểm thất nghiệp
Khái niệm
Quỹ BHTN là một quỹ tiền tệ ngoài ngân sách nhà nước, được cấu thành dựatrên đóng góp của người lao động, chủ sử dụng lao động và còn có thể được đónggóp từ ngân sách nhà nước Ở đây, việc quản lý quỹ bao hàm tất cả các hoạt độngliên quan đến việc thu, chi và cân đối thu chi quỹ BHTN Việc quản lý quỹ BHTN
do nhà nước trực tiếp quản lý tập trung, thống nhất, có vai trò hết sức quan trọngtrong việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước từng thời kỳ Nhà nước
Trang 26chủ động thu, chi, quản lý loại quỹ này theo các quy định của pháp luật hiện hành,nhằm thực hiện sự can thiệp của Nhà nước vào kinh tế.
Sự cần thiết phải quản lý quỹ bảo hiểm thất nghiệp
Quỹ bảo hiểm thất nghiệp là một bộ phận của tài chính bảo hiểm thất nghiệp.Nguồn hình thành quỹ bảo hiểm thất nghiệp hoàn toàn phụ thuộc vào mức độ thunhập Nếu thu nhập của quỹ bảo hiểm thất nghiệp cao thì người lao động khi bị thấtnghiệp được hưởng các chế độ bảo hiểm thất nghiệp với mức cao, còn nếu thu nhậpthấp thì ngược lại, hay nói một cách khác nó tỷ lệ thuận với thu nhập
Quản lý quỹ BHTN được thực hiện trên cơ sở tuân thủ các chính sách, chế
độ tài chính được Nhà nước quy định Hoạt động BHTN không nhằm mục đíchhoàn toàn vào lợi nhuận mà nhằm đảm bảo cân đối, an toàn quỹ để thực hiện nhiệm
vụ thúc đẩy sự ổn định, phát triển xã hội và an ninh cuộc sống cho người thấtnghiệp và gia đình họ Việc hoạch quản lý quỹ BHTN phải tính đến khả năng thunhập của chủ sử dụng lao động và người lao động trong từng thời kỳ phát triển kinh
tế - xã hội Do đó, cần phải tính toán một cách khoa học để xác định ra một tỷ lệđóng cần thiết và có biện pháp điều chỉnh tỷ lệ đóng nhằm đảm bảo cân đối quỹ lâudài, không ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh cũng như đời sống của người thamgia đóng bảo hiểm thất nghiệp
Nguyên tắc hoạt động tự cân đối thu - chi, quỹ bảo hiểm thất nghiệp phảithường xuyên được bổ sung các nguồn tài chính từ các hoạt động đầu tư sinh lờitheo quy định của pháp luật Bộ phận quỹ tài chính của bảo hiểm thất nghiệp dùng
để đầu tư sinh lời phải được thực hiện theo các hình thức đa dạng, lựa chọn các dự
án để đầu tư theo cơ chế thị trường, phù hợp với môi trường đầu tư và tự chịu tráchnhiệm về mức độ hiệu quả cũng như rủi ro trong đầu tư tài chính Quản lý, kiểm tra,kiểm soát tài chính đối với quỹ bảo hiểm thất nghiệp nhằm đảm bảo hoạt động củaquỹ an toàn, tiết kiệm và có hiệu quả kinh tế xã hội cao, nhất là kiểm soát chặt chẽthu - chi là hai khâu quan trọng nhất của hoạt động BHTN
Từ các điểm trên cho thấy nếu như quỹ BHTN không được quản lý một cáchtriệt để, nhằm đảm bảo an toàn quỹ, đầu tư sinh lời sẽ có ảnh hưởng lớn đến toàn bộ
Trang 27các bên tham gia vào việc quản lý, đóng góp cũng như phát triển sử dụng quỹ Cụthể là:
- Người lao động, doanh nghiệp sẽ phải đóng góp ở mức cao hơn 1% nhưhiện nay do cần bù đắp quỹ Mặt khác NLĐ sẽ không được hưởng đầy đủ quyền lợicủa mình khi tham gia đóng BHTN (hỗ trợ học nghề, bảo hiểm y tế, trợ cấp thấtnghiệp ), khó có thể quay trở lại thị trường lao động sau khi thất nghiệp, thu nhập
và trợ cấp không đủ đảm bảo cuộc sống
- Nhà nước hiện đang đóng góp vào quỹ BHTN 1% (trong tổng 3% đóng gópcủa ba bên là NLĐ, chủ sử dụng lao động, nhà nước), mức đó sẽ tăng nếu như quỹ
bị thâm hụt, gia tăng gánh nặng cho ngân sách nhà nước, từ đó gián tiếp ảnh hưởngtới mức sống của nhân dân, và mục tiêu đặt ra là tiến tới Nhà nước không cần hỗ trợ1% vào quỹ BHTN là không thể thực hiện được
- Cơ quan trực tiếp quản lý quỹ BHTN ở đây là BHXH Việt Nam cũng sẽ bịảnh hưởng lớn như sẽ phải tìm kiếm nguồn thu mới bù đắp vào quỹ BHTN, cụ thể
là ở các nguồn thu khác của BHXH như quỹ Bảo hiểm y tế, hưu trí Do BHXHViệt Nam là cơ quan sự nghiệp có thu, nếu như quản lý không tốt, nguồn thu khôngđảm bảo tức là đã không hoàn thành nhiệm vụ mà Chính phủ đặt ra (an toàn quỹ,gây thiệt hại cho ngân sách nhà nước)
1.2.2.2 Nguyên tắc quản lý quỹ bảo hiểm thất nghiệp
Quỹ bảo hiểm thất nghiệp phải được quản lý thống nhất, dân chủ, công khai
và hạch toán độc lập
Do quỹ BHTN được hình thành từ sự đóng góp của các bên tham gia BHTNlà: Người sử dụng lao động, người lao động và Nhà nước nên hoạt động của quỹphải dựa trên nguyên tắc quản lý thống nhất, dân chủ, công khai và hạch toán độclập, tự thu, tự chi Quỹ BHTN do một cơ quan quản lý thống nhất từ trung ương đếnđịa phương theo chế độ tài chính của Nhà nước Quỹ được sử dụng vào các mụcđích như: Chi trả trợ cấp BHTN cho người lao động; chi cho các hoạt động tìm việclàm cho người thất nghiệp; chi cho công tác đào tạo, đào tạo lại, dạy nghề chongười thất nghiệp; chi phí cho hoạt động của bộ máy quản lý BHTN Quỹ được
Trang 28hạch toán thành từng mục riêng theo mục đích của khoản chi Hoạt động của quỹBHTN có sự kiểm tra, giám sát của đại diện các bên tham gia BHTN Quỹ BHTNđược quyết toán hàng năm và thông báo định kỳ về tình hình thực hiện BHTN đốivới người lao động, người sử dụng lao động và cơ quan quản lý cấp trên.
Mức đóng góp cho quỹ BHTN phải phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội,nếu không sẽ trở thành gánh nặng đối với doanh nghiệp và người lao động Tỷ lệđóng góp phải tính toán phù hợp, bảo đảm không ảnh hưởng đến cuộc sống củangười lao động và cũng ít ảnh hưởng đến giá thành sản phẩm, dịch vụ của doanhnghiệp, để doanh nghiệp còn có thể cạnh tranh trong nền kinh tế Mức đóng góp nàythường quy định bằng tỷ lệ phần trăm so với tiền lương của người lao động Do vậy,các quy định về tiền lương tối thiểu, định mức, đơn giá tiền lương, thang bảnglương khi xây dựng phải đảm bảo tính đến yếu tố này
Sau khi thành lập, quỹ BHTN phải độc lập với ngân sách Nhà nước để chủđộng giải quyết vấn đề thất nghiệp Không sử dụng quỹ này để giải quyết các vấn
đề xã hội khác
Nhà nước thống nhất quản lý bảo hiểm thất nghiệp
Nguyên tắc này được thể hiện trong hệ thống chính sách BHTN của các nướctrên thế giới Đối với Việt Nam, nguyên tắc này được quy định tại Điều 96 chươngVII của Hiến pháp 2013 của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam: Nhà nước
"Thống nhất quản lý về kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục, y tế, khoa học, côngnghệ, môi trường, thông tin, truyền thông, đối ngoại, quốc phòng, an ninh quốc gia,trật tự, an toàn xã hội; thi hành lệnh tổng động viên hoặc động viên cục bộ, lệnh ban
bố tình trạng khẩn cấp và các biện pháp cần thiết khác để bảo vệ Tổ quốc, bảo đảmtính mạng, tài sản của Nhân dân" và Khoản 1 Điều 140 Bộ luật Lao động: "Nhànước quy định chính sách BHXH nhằm từng bước mở rộng và nâng cao việc bảođảm vật chất, chăm sóc, phục hồi sức khỏe, góp phần ổn định đời sống cho ngườilao động và gia đình trong các trường hợp người lao động ốm đau, thai sản, hết tuổilao động, chết, bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, gặp rủi ro hoặccác khó khăn khác " Nhà nước thống nhất quản lý BHTN, tổ chức thực hiện và
Trang 29kiểm tra việc thực hiện chế độ này Căn cứ vào tình hình phát triển kinh tế - xã hội ởtừng thời kỳ mà Nhà nước xây dựng chương trình Quốc gia về BHTN, các quy địnhpháp luật về BHTN (như thu hẹp hay mở rộng đối tượng BHTN, điều kiện hưởng
và mức hưởng )
Với tư cách là người đại diện và thực hiện các chính sách xã hội, Nhà nướccòn có trách nhiệm đóng góp vào quỹ BHTN, quy định áp dụng các biện pháp đểbảo tồn giá trị quỹ BHTN và làm cho quỹ tăng trưởng
Với tư cách là người đại diện cho tập thể lao động, công đoàn trung ươngđược quyền tham gia với Chính phủ trong các vấn đề: Xây dựng, thành lập hệ thống
tổ chức BHXH, ban hành Quy chế về tổ chức, hoạt động của quỹ BHXH (Điều 150
Bộ luật Lao động) Các công đoàn địa phương và cơ sở tham gia cùng với các cấpchính quyền và người sử dụng lao động trong việc thực hiện và giám sát việc thựchiện chế độ BHXH nói chung và BHTN nói riêng
1.2.2.3 Quản lý thu quỹ bảo hiểm thất nghiệp
a Quản lý đối tượng tham gia BHTN
Theo điều 2 và điều 80 Luật BHXH quy định, đối tượng áp dụng BHTN baogồm:
Người lao động: Là công dân Việt Nam giao kết các loại hợp đồng lao động,hợp đồng làm việc sau:
- Hợp đồng lao động xác định thời hạn từ đủ mười hai tháng đến ba mươi sáutháng;
- Hợp đồng lao động không xác định thời hạn;
- Hợp đồng làm việc xác định thời hạn từ đủ mười hai tháng đến ba mươi sáutháng;
- Hợp đồng làm việc không xác định thời hạn
Người sử dụng lao động: Là người sử dụng lao động có sử dụng từ 10 ngườilao động trở lên tại doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức sau:
- Cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp của Nhà nước, đơn vị lực lượng vũtrang nhân dân;
Trang 30- Tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị - xã hội - nghềnghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, đơn vị sự nghiệp thuộc tổ chức chính trị, đơn
vị sự nghiệp thuộc tổ chức chính trị - xã hội và tổ chức xã hội khác;
- Doanh nghiệp thành lập, hoạt động theo Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư;
- Hợp tác xã, Liên hiệp Hợp tác xã thành lập và hoạt động theo Luật Hợp tácxã;
- Hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác, tổ chức khác và cá nhân có thuê, sử dụng
và trả công cho người lao động;
- Cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài, tổ chức quốc tế hoạt động trên lãnhthổ Việt Nam có sử dụng lao động là người Việt Nam, trừ trường hợp Điều ướcquốc tế mà Việt Nam là thành viên có quy định khác
Trong nền kinh tế, đối tượng của BHTN không phải là bất biến, nó được thayđổi theo sự phát triển của nền kinh tế - xã hội Như trên đã đề cập, BHTN là mộtchế độ khó nhất trong các chế độ của BHXH, hơn nữa đây là một vấn đề rất mới đốivới nước ta, kinh nghiệm thực hiện chưa có nên bước đầu áp dụng BHTN cho tất cảmọi người lao động là chưa thể thực hiện được mà mới chỉ áp dụng đối với nhữngngười có thể xác định và kiểm soát được thời gian đóng góp vào quỹ BHTN Khiđiều kiện kinh tế - xã hội và khả năng chi trả của quỹ BHTN cho phép, đối tượng ápdụng BHTN sẽ được mở rộng ra cho những đối tượng khác
b Tổ chức thực hiện thu BHTN
Theo Điều 8 Luật BHXH, hệ thống BHXH được thành lập đặt dưới sự chỉđạo trực tiếp của Chính phủ, sự quản lý Nhà nước của Bộ LĐ TB & XH và các cơquan quản lý Nhà nước có liên quan.Về mặt tổ chức, BHXH Việt Nam được hìnhthành theo một hệ thống dọc từ Trung ương đến địa phương và được chia thành bacấp: cấp Trung ương, cấp tỉnh và thành phố, cấp quận huyện BHXH Việt Nam cónhiệm vụ và quyền hạn sau:
- Trên cơ sở pháp luật về BHXH, thông qua bộ máy của mình tiến hành cácnghiệp vụ thu BHXH các doanh nghiệp và NLĐ (trong đó có thu BHTN).Việc thuđúng, thu đủ, kịp thời BHXH là điều kiện cần thiết duy trì sự hoạt động của BHXH,
Trang 31bảo đảm triển khai các hoạt động chi trả cho người thụ hưởng và các hoạt độngnghiệp vụ khác.
c Quy trình thu BHTN
Quy trình quản lý thu BHXH bắt buộc được thực hiện theo quyết định số1333/QĐ-BHXH ngày 21/2/2008 và Quyết định số 902/QĐ-BHXH ngày 26/6/2007của Tổng Giám đốc BHXHVN áp dụng cho cả việc thu BHTN từ năm 2009
Quy định thời gian đóng BHXH: hàng tháng, chậm nhất vào ngày cuốitháng, cơ quan, đơn vị sử dụng lao động nộp đủ số tiền vào tài khoản chuyên thucủa cơ quan BHXH nơi đăng ký tham gia BHXH Nếu chậm nộp 30 ngày trở lên sovới kỳ hạn phải nộp thì đơn vị SDLĐ phải nộp 1 khoản lãi chậm nộp theo lãi suấtcủa hoạt động đầu tư từ quỹ BHXH trong năm do BHXH Việt Nam công bố Khoảntiền lãi này được ưu tiên khấu trừ ngay khi đơn vị nộp tiền BHXH cho cơ quanBHXH
BHXH tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là BHXHtỉnh), BHXH quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi là BHXHhuyện) có trách nhiệm: hướng dẫn, tổ chức thu BHXH đúng kỳ, đủ số lượng, theođúng quy định; cấp, đối chiếu và xác nhận trên sổ BHXH cho người lao động thamgia BHXH; quản lý chặt chẽ thời gian đóng, tình hình biến động tăng giảm số laođộng, quỹ tiền lương của các đơn vị sử dụng lao động, mức đúng của người laođộng tham gia BHXH Để quản lý tốt đối tượng tham gia BHXH, cơ quan BHXHthực hiện việc cấp sổ BHXH và cập nhật các thông tin về đối tượng tham giaBHXH vào cơ sở dữ liệu theo chương trình phần mềm Hiện nay cơ quan BHXH đãứng dụng công nghệ tin học hiện đại để quản lý đối tượng tham gia và thụ hưởngBHXH
Thực hiện nhiệm vụ của ngành BHXH, BHXH Việt Nam chỉ đạo BHXH cáctỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, các quận, huyện, thị xã mở tài khoản chuyênthu BHXH tại hệ thống Kho bạc Nhà nước và Ngân hàng Nông nghiệp & PTNT.Định kỳ, cơ quan BHXH phải chuyển toàn bộ số tiền BHXH đã thu được về BHXHcấp trên, không được sử dụng tiền thu BHXH vào bất kỳ nội dung chi tiêu nào khác,
Trang 32không được áp dụng phương thức gán thu bù chi BHXH cho các đơn vị sử dụng laođộng
BHXH các tỉnh, huyện có trách nhiệm thực hiện chế độ kế toán, thống kê,báo cáo, thông tin đầy đủ về thu BHXH theo đúng quy định của Nhà nước và củaBHXH Việt Nam
d Xử lý hành vi vi phạm về đóng bảo hiểm thất nghiệp
Theo quy định của Luật BHXH (Điều 138) thì vi phạm pháp luật quy định vềBHTN được xử lý như sau:
- Cơ quan, tổ chức có hành vi vi phạm pháp luật về đóng BHTN, thủ tục thựchiện BHTN, sử dụng tiền đóng và quỹ BHTN, vi phạm pháp luật về lập hồ sơ đểhưởng chế độ BHTN, tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử phạt hành chính;nếu gây thiệt hại thì phải bồi thuờng theo quy định của pháp luật
- Cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật về đóng BHTN, thủ tục thực hiệnBHTN, sử dụng tiền đóng và quỹ BHTN, vi phạm pháp luật về lập hồ sơ để hưởngchế độ BHTN, tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử phạt hành chính, xử lý
kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thườngtheo quy định của pháp luật
- Người sử dụng lao động có hành vi vi phạm pháp luật về đóng BHTN từ 30ngày trở lên thì ngoài việc phải đóng số tiền chưa đóng, chậm đóng và bị xử lý theoquy định của pháp luật, còn phải đóng số tiền lãi của số tiền chưa đóng, chậm đóngtheo mức lãi suất của hoạt động đầu tư từ quỹ BHTN trong năm
1.2.2.4 Quản lý chi quỹ bảo hiểm thất nghiệp
Chi BHTN là thực hiện chính sách đối với người tham gia BHTN, là mộtkhoản thu nhập của người lao động do bị mất việc làm Khoản thu nhập này phảiđảm bảo được ổn định hoặc tương đối ổn định cuộc sống cho người mất việc làm vàngười được hưởng cũng như tổ chức BHTN phải kiểm soát được một cách chắcchắn
Nhìn chung, đối với các nước có nền kinh tế thị trường, dưới giác độ chiBHTN, ngân quỹ BHTN có cơ cấu sau:
Trang 33Qbh = Ccttc + Cql + Cđt + CkTrong đó:
- Ccttc: Chi trả trợ cấp thất nghiệp cho người lao động
- Đầu tư để bảo toàn và tăng trưởng quỹ theo quy định của pháp luật
Điều 104 Luật BHXH quy định: Chi phí quản lý BHTN bằng mức chi phíquản lý của cơ quan hành chính nhà nước
a Các chế độ chi trả bảo hiểm thất nghiệp
Trợ cấp thất nghiệp
Mức trợ cấp thất nghiệp hằng tháng bằng 60% mức bình quân tiền lương,tiền công tháng đóng BHTN của 6 tháng liền kề trước khi bị mất việc làm hoặcchấm dứt hợp đồng lao động theo quy định của pháp luật lao động hoặc chấm dứthợp đồng làm việc theo quy định của pháp luật
Thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp hàng tháng phụ thuộc vào thời gian làmviệc có đóng BHTN của người lao động:
Trang 34Bảng 1.1: Thời gian đóng, hưởng BHTN Việt Nam
- Đối với người lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp tham gia học nghề
có mức chi phí học nghề cao hơn mức hỗ trợ học nghề theo quy định thì phần vượtquá mức hỗ trợ học nghề do người lao động tự chi trả
- Thời gian được hỗ trợ học nghề phụ thuộc vào thời gian đào tạo nghề củatừng nghề và nhu cầu của từng người lao động, nhưng không quá 06 tháng
- Người lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp tham gia học nghề được hỗtrợ kinh phí để học một nghề và một lần, thực hiện thông qua cơ sở dạy nghề;không hỗ trợ bằng tiền trực tiếp cho người lao động để tự học nghề
Hỗ trợ tìm việc làm
Người lao động được hưởng trợ cấp thất nghiệp được Trung tâm Giới thiệuviệc làm tư vấn, giới thiệu việc làm miễn phí Việc hỗ trợ tìm việc làm phải phù hợpvới trình độ đào tạo, kinh nghiệm làm việc của người lao động
Thời gian được Trung tâm Giới thiệu việc làm hỗ trợ tư vấn, giới thiệu việclàm tính từ ngày người lao động được hưởng trợ cấp thất nghiệp hàng tháng vàkhông quá tổng thời gian mà người lao động đó được hưởng trợ cấp thất nghiệptheo quyết định của Giám đốc Sở Lao động – Thương binh và Xã hội
Trang 35- Từ chối việc chi trả BHTN cho người được hưởng BHTN khi có kết luậncủa cơ quan có thẩm quyền về hành vi man trá, làm giả hồ sơ, tài liệu Xây dựng,
tổ chức thực hiện các dự án và các biện pháp để đảm bảo giá trị và tăng trưởng quỹBHTN theo quy định của Chính phủ;
- Tổ chức thực hiện công tác thống kê, kế toán - hạch toán hướng dẫn nghiệp
vụ thu chi BHXH;
c Quy trình chi trả BHTN
Sau khi NLĐ nộp hồ sơ xin hưởng trợ cấp thất nghiệp tại TTGTVL,TTGTVL nộp hồ sơ và nhận lại được quyết định chi trả từ Sở LĐTB&XH,TTGTVL gửi ngay cho cơ quan BHXH cấp tỉnh để tiến hành chi trả cho NLĐ bịthất nghiệp Cơ quan BHXH cấp tỉnh căn cứ vào các quyết định do Sở LĐTB&XHchuyển sang, trong thời hạn tối đa 3 ngày lập danh sách chi trả TCTN cho nhữngngười có nhu cầu nhận trợ cấp thất nghiệp tại BHXH huyện, và trong thời hạn 5ngày kể từ ngày nhận được quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp của TTGTVL, cơquan BHXH thực hiện chi trả tiền cho người thụ hưởng Trường hợp cơ quanBHXH không thực hiện chi trả theo đúng thời hạn quy định hoặc từ chối yêu cầuchi trả các chế độ BHTN không đúng quy định của pháp luật thì cơ quan BHXHphải có văn bản thông báo cho cơ quan lao động và NLĐ biết và nêu rõ lý do
Cơ quan BHXH cấp tỉnh có trách nhiệm chuyển cho cơ quan BHXH cấpdưới danh sách những người được chi trả trợ cấp và khối lượng tiền trợ cấp Cơ
Trang 36quan BHXH cấp tỉnh nhận báo cáo từ cơ quan BHXH cấp dưới và sổ BHXH củaNLĐ bị thất nghiệp để ghi lại và xác nhận khoản trợ cấp thất nghiệp mà NLĐ thuộcđối tượng được hưởng theo đúng quy định của pháp luật, sau đó trả lại sổ BHXHcho NLĐ thông qua cơ quan BHXH cấp dưới.
1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới Quỹ bảo hiểm thất nghiệp
1.2.3.1 Các nhân tố chủ quan
Thứ nhất, quan điểm của ban lãnh đạo
Ban lãnh đạo ở đây bao gồm các cấp trung ương như Chính phủ, các Bộ banngành liên quan…cũng như cơ quan quản lý việc thu chi ngân quỹ Ban lãnh đạo làchủ thể quản lý cấp cao nhất của tổ chức bảo hiểm, do vậy có tác động lớn tới quản
lý ngân quỹ với tư cách là chủ thể quản lý Nhận thức của ban lãnh đạo về công tácquản lý ngân quỹ là một trong những nhân tố quan trọng nhất tác động đến đốitượng được quản lý là ngân quỹ, từ đó đưa ra cách thức quản lý tối ưu nhất như đầu
tư nhân lực, công nghệ thông tin…Quan điểm của ban lãnh đạo ở đây còn được thểhiện qua các chính sách của Nhà nước, ví dụ như chính sách về kinh tế, chính sách
về lao động việc làm Đối với việc quản lý BHTN nói chung và quỹ BHTN nóiriêng, các chính sách này đều có ảnh hưởng rất lớn tới việc đưa ra phương thức tổchức thực hiện và quyết định sử dụng quỹ BHTN, bởi chúng có ảnh hưởng trực tiếptới lực lượng lao động của mỗi nước trong việc cải thiện tình trạng thất nghiệp, tạoviệc làm
Thứ hai, cơ cấu tổ chức, phạm vi hoạt động
Cơ cấu tổ chức và phạm vi hoạt động của tổ chức, doanh nghiệp bảo hiểm cóảnh hưởng trực tiếp tới việc quản lý ngân quỹ Hầu hết các tổ chức, doanh nghiệpnày đều có mạng lưới xuyên suốt khắp đất nước Mạng lưới chi nhánh có thể được
tổ chức thành nhiều cấp độ khác nhau từ cấp Trung ương đến cấp vùng, tỉnh/thànhphố thậm chí đến tận quận/huyện Điều này tạo nên một thể thống nhất, một quátrình xuyên suốt qua các khâu, nó quyết định tốc độ hoạt động của hệ thống bảohiểm, mặt khác cơ quan bảo hiểm thất nghiệp có một tài khoản chuyên thu riêng đặttại kho bạc nhà nước, điều này đảm bảo cho việc hỗ trợ thu chi phí bảo hiểm
Trang 37Thứ ba, bộ máy quản lý ngân quỹ
Bộ máy quản lý ngân quỹ, với tư cách là chủ thể quản lý ngân quỹ có ảnhhưởng rất lớn đến quản lý ngân quỹ Bộ máy quản lý ngân quỹ bao gồm 2 yếu tố :
Cơ cấu bộ máy và đội ngũ cán bộ tài chính
- Cơ cấu bộ máy
Mỗi cơ quan bảo hiểm sẽ có tổ chức bộ máy quản lý ngân quỹ phù hợp với
cơ cấu tổ chức, quy mô hoạt động và các mục tiêu cụ thể, thông thường bộ máy nàyđược chuyên môn hóa cao và mức độ phân tách trách nhiệm lớn hơn các doanhnghiệp bảo hiểm trong nước
- Trình độ, kinh nghiệm của đội ngũ cán bộ tài chính
Quản lý ngân quỹ là một trong những nội dung quan trọng nhất của quản lýtài chính trong một tổ chức bảo hiểm Ngân quỹ của BHTN thường xuyên biếnđộng do đó quỹ này cũng là một quỹ ngắn hạn, có liên quan đến toàn bộ hoạt độngcủa cơ quan BHTN Quản lý ngân quỹ liên quan đến các luồng tiền từ hoạt độngbảo hiểm cũng như hoạt động đầu tư vốn Quản lý ngân quỹ thường được thực hiệnbởi đội ngũ cán bộ tài chính Cán bộ tài chính đảm nhiệm quản lý ngân quỹ phảihiểu rõ sự vận động của các luồng tiền, đầu tư thặng dư ngân quỹ vào các cơ hộiđầu tư thích hợp hoặc tìm ra các nguồn tài trợ thâm hụt ngân quỹ Điều đó đòi hỏicán bộ quản lý ngân quỹ không chỉ hiểu rõ nghiệp vụ bảo hiểm mà còn phải amhiểu về thị trường tài chính, các công cụ đầu tư, các rủi ro liên quan đến hoạt độngcủa cơ quan bảo hiểm và các kỹ thuật phòng tránh rủi ro Quản lý ngân quỹ là côngviệc phức tạp, đòi hỏi phải có cán bộ tài chính có kinh nghiệm Do vậy, trình độ vàkinh nghiệm của đội ngũ cán bộ tài chính là nhân tố hết sức quan trọng ảnh hưởngtới hiệu quả của công tác quản lý ngân quỹ
Thứ tư, công nghệ tin học trong quản lý
Cơ quan BHTN thường có nhiều chi nhánh, khối lượng thông tin cần xử lýlớn, do đó cơ quan bảo hiểm sẽ không thể quản lý được nếu như không có sự trợgiúp của công nghệ tin học Các chương trình phần mềm sẽ giúp quản lý các dữ liệuliên quan đến hồ sơ của người lao động như tình hình thanh toán phí bảo hiểm, tình
Trang 38trạng hồ sơ đang chờ xử lý hay đã xử lý, tình trạng việc làm …Quan trọng hơn hết
là các phần mềm này cung cấp thêm thông tin cho việc ra quyết định của các cấpquản lý
1.2.3.2 Các nhân tố khách quan
Thứ nhất, môi trường pháp luật
Các yếu tố của môi trường pháp luật tác động đến quản lý ngân quỹ của cơquan bảo hiểm Có thể chia làm 2 nhóm: Các quy định chung và các quy định riêngđối với BHTN
- Các quy định pháp luật chung:
Các quy định pháp luật chung ảnh hưởng đến quản lý ngân quỹ của cơ quanbảo hiểm bao gồm các quy định liên quan đến lĩnh vực ngân hàng, quản lý tiền tệ,ngoại hối, thanh toán, giao dịch…Các cơ sở pháp luật này không đầy đủ và chặt chẽ
sẽ gây một khó khăn rất lớn cho việc quản lý tốt ngân quỹ Sự phát triển của côngnghệ ngân hàng với các dịch vụ thanh toán điện tử, ngân hàng điện tử - trực tuyếncho phép các ngân hàng cung cấp dịch vụ chi trả hết sức tiên tiến cho các tổ chức và
cá nhân Tuy nhiên, việc triển khai các dịch vụ dựa trên công nghệ mới này của hệthống ngân hàng phụ thuộc rất lớn vào hạ tầng pháp lý
Đối với ngành bảo hiểm nói chung và BHTN nói riêng, môi trường pháp lýchính là cơ sở để triển khai tổ chức thực hiện công tác thu chi và giới hạn trong việcphát triển đầu tư ngân quỹ
- Các quy định pháp luật điều chỉnh hoạt động của cơ quan bảo hiểm:
Với mục đích bảo vệ quyền lợi của người tham gia bảo hiểm, pháp luật bảohiểm của các nước đều quy định nguyên tắc đầu tư vốn của các tổ chức này, quyđịnh các lĩnh vực được phép đầu tư và giới hạn tối đa cho mỗi lĩnh vực Nhằm đảmbảo khả năng chi trả của các cơ quan bảo hiểm, tránh tình trạng vỡ quỹ
Thứ hai, hệ thống ngân hàng
Hệ thống ngân hàng đóng vai trò nòng cốt của hệ thống thanh toán của mỗiquốc gia Với sự tiến bộ của công nghệ hiện nay, ở nhiều quốc gia, hệ thống thanhtoán liên ngân hàng điện tử trên toàn quốc được thiết lập tạo điều kiện cho việc
Trang 39chuyển tiền, thu chi tiền nói chung và quản lý ngân quỹ nói riêng trở lên đơn giản,nhanh chóng và hiệu quả Các ngân hàng với công nghệ tin học hiện đại sẽ cung cấpnhững dịch vụ quản lý tiền mặt tiên tiến Việc tận dụng công nghệ đó sẽ giúp cácngân hàng tránh được việc phải đầu tư nhiều vào hệ thống quản lý ngân quỹ tốnkém.
Thứ ba, thị trường tiền tệ, chứng khoán
Thị trường tiền tệ và thị trường chứng khoán có ảnh hưởng to lớn đến đầu tưthặng dư ngân quỹ cũng như tài trợ thâm hụt ngân quỹ Tại các nước có thị trườngtiền tệ và thị trường chứng khoán phát triển, các công cụ đầu tư thanh khoản rất sẵn
có nhằm tối ưu hóa đầu tư thặng dư ngân quỹ Ngược lại ở các nước mà thị trườngchứng khoán chưa phát triển, các tổ chức hoặc doanh nghiệp hầu như không cónhiều các kênh đầu tư Việc tài trợ thâm hụt ngân quỹ tại những nước có thị trườngchứng khoán chưa phát triển cũng gặp nhiều trở ngại bởi lẽ các tổ chức, doanhnghiệp sẽ không dễ dàng thực hiện việc chuyển đổi tài sản đầu tư thành tiền mặt
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Chương 1 tác giả đã hệ thống hoá đầy đủ, rõ ràng các vấn đề lý luận về quỹbảo hiểm thất nghiệp và quản lý quỹ bảo hiểm thất nghiệp bao gồm các nguyên tắcquản lý thu và chi quỹ BHTN Trên cơ sở đó tác giả đã nêu ra được các nhân tố ảnhhưởng tới quản lý Quỹ thất nghiệp, nội dung quản lý thu và quản lý chi Quỹ bảohiểm thất nghiệp Bên cạnh đó, tác giả đồng thời nhấn mạnh vai trò của Quỹ bảohiểm thất nghiệp trong đời sống lao động trên thị trường hiện nay Đó chính là cơ sở
để phân tích, đánh giá thực trạng quản lý thu-chi Quỹ bảo hiểm thất nghiệp sẽ đượctrình bày cụ thể ở chương 2
Trang 40CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC THU- CHI CỦA QUỸ BẢO HIỂM THẤT
NGHIỆP GIAI ĐOẠN 2011- 2015
2.1 Công tác thu bảo hiểm thất nghiệp
2.1.1 Quy trình thu bảo hiểm thất nghiệp
Ở nước ta, phí BHTN được thu đồng thời cùng với các loại phí BHXH bắtbuộc khác Quy trình thu BHXH, BHYT bắt buộc đang được thực hiện theo Quyếtđịnh số 1333/QĐ-BHXH ngày 21/02/2008 và Quyết định 902/QĐ-BHXH ngày26/06/2007 của Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam
* Phân cấp thu BHXH: Phòng Thu thuộc BHXH tỉnh/thành phố trực tiếpquản lý thu và ghi sổ BHXH cho người lao động trong các Công ty Liên doanh, vănphòng đại diện các tổ chức kinh tế nước ngoài, Đại sứ quán các nước đứng trên địabàn tỉnh/thành phố BHXH quận, huyện, thị xã trực tiếp quản lý thu và ghi sổBHXH cho người lao động thuộc các đơn vị HCSN, DNNN, DNNQD, và các khốicòn lại trên địa bàn
* Tổ chức thu BHXH: Theo Thông tư số 85 ngày 25/6/1998 của Bộ Tàichính hướng dẫn quy chế quản lý tài chính đối với BHXH Việt Nam có quy định:BHXH các cấp thu tiền BHXH bằng hình thức chuyển khoản Vì vậy BHXHtỉnh/thành phố mở hệ thống tài khoản chuyên thu tại Kho bạc, Ngân hàng Nôngnghiệp và Phát triển nông thôn các cấp Sơ đồ khái quát tổ chức thực hiện thuBHXH như sau: