Theo luật doanh nghiệp ban hành năm 2005,khái niệm công ty xây dựng được trình bày như sau: Công ty xây dựng là tổ chức kinh tế, có tên riêng, có tài sản, có trụ sởgiao dịch ổn định, đượ
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hoạt động kinh doanh trong cơ chế thị trường vừa đòi hỏi các doanhnghiệp phải không ngừng nâng cao hiệu quả sản xuất, lại vừa tạo điều kiệncho việc nâng cao hiệu quả sản xuất Các doanh nghiệp dựa trên chiến lượcchung của cả nước để xây dựng chiến lược riêng cho chính mình, hay nóiđúng hơn là dựa trên tín hiệu của thị trường mà xây dựng chiến lược theonguyên tắc: phải bán những thứ mà thị trường cần chứ không phải bán những
gì mình có Trong quá trình kinh doanh, cạnh tranh và khát vọng lợi nhuận đãthực sự trở thành động lực thôi thúc các doanh nghiệp tăng cường đổi mớithiết bị công nghệ, đầu tư vào những ngành nghề mới… với mục đích cuốicùng - ngày càng “tối đa hoá lợi nhuận” mà mình làm ra
Lợi nhuận cũng chính là chỉ tiêu tổng hợp nhất nói lên kết quả cuốicùng của toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Là nguồntích luỹ cơ bản để doanh nghiệp đầu tư, mở rộng tái sản xuất xã hội… Nhưvậy, lợi nhuận thực sự có vai trò rất quan trọng đối với bất kỳ doanh nghiệpnào
Với mục đích tìm hiểu kỹ hơn về lợi nhuận và hoạt động kinh doanh của
các công ty xây dựng, em đã đến thực tập tại Công ty cổ phần xây dựng số
1- Vinaconex1 Và sau một thời gian học hỏi, nghiên cứu em đã quyết định
chọn đề tài: “Một số giải pháp chủ yếu nhằm tăng lợi nhuận tại Công ty
cổ phần xây dựng số 1 (Vinaconex_1)” làm khoá luận tốt nghiệp.
2 Đối tượng- phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đây là đề tài khá rộng, vì vậy em xin được hạn chế chỉ đi sâu vào phântích kết quả hoạt động của công ty trong ba năm trở lại đây Từ năm 2005 đếnnăm 2007 Trên cơ sở nghiên cứu giới hạn một số vấn đề lý luận, phân tíchđánh giá tình hình sử dụng tài sản, nguồn vốn, chi phí và thu nhập trong công
Trang 2ty Từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm nâng góp phần nâng cao lợi nhuận củacông ty trong những năm tới.
3 Mục tiêu nghiên cứu
Khoá luận sẽ cố gắng hệ thống hoá, làm sáng tỏ thêm lí luận, rút ngắnkhoảng cách giữa lí luận và thực tiễn Tiến hành phân tích và đánh giá thựctrạng lợi nhuận của công ty trong thời gian qua và đưa ra một số biện pháp,kiến nghị nhằm tạo điều kiện nâng cao lợi nhuận cho công ty
4 Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận sử dụng biện pháp nghiên cứu duy vật biện chứng trong mốiquan hệ với duy vật lịch sử, biện pháp so sánh, thống kê, phân tích Từ đótổng hợp các vấn đề trong quá trình nghiên cứu, sử dụng một cách linh hoạt,kết hợp hoặc riêng rẽ để giải quyết các vấn đề một cách tốt nhất
5 Bố cục của khóa luận
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về lợi nhuận và biện pháp nâng cao lợinhuận tại các công ty xây dựng
Chương 2: Thực trạng và kết quả hoạt động kinh doanh của công ty cổphần xây dựng số 1 (Vinaconex_1)
Chương 3: Một số giải pháp chủ yếu nhằm tăng lợi nhuận tại công ty cổphần xây dựng số 1(Vinaconex_1)
Do hạn chế về thời gian và bước đầu làm quen với thực tế, khoá luận nàykhó tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong nhận được ý kiến đóng góp củacác thầy, cô giáo và các anh chị trong phòng Tài chính- kế toán của công ty
cổ phần xây dựng số 1
Trang 3Em xin chân thành cảm ơn Cô giáo: Th.s Nguyễn Thu Hương cùng cácanh chị tại cơ quan thực tập đã hướng dẫn nhiệt tình, giúp em hoàn thành đềtài này Em xin chân thành cảm ơn !
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ LỢI NHUẬN VÀ BIỆN PHÁP NÂNG
CAO LỢI NHUẬN TRONG CÁC
CÔNG TY XÂY DỰNG
1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÔNG TY XÂY DỰNG
1.1.1 Khái niệm công ty xây dựng
Công ty xây dựng cũng là doanh nghiệp vậy nên nó mang đầy đủ mọiđặc điểm của một doanh nghiệp Theo luật doanh nghiệp ban hành năm 2005,khái niệm công ty xây dựng được trình bày như sau:
Công ty xây dựng là tổ chức kinh tế, có tên riêng, có tài sản, có trụ sởgiao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luậtnhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực xây dựng
1.1.2 Đặc điểm kinh doanh của công ty xây dựng
Muốn hiểu rõ đặc điểm kinh doanh của công ty xây dựng như thế nàotrước hết chúng ta phải biết được những đặc điểm đặc trưng của sản phẩm xâydựng
1.1.2.1 Khái niệm và đặc điểm của sản phẩm xây dựng
Sản phẩm xây dựng với tư cách là các công trình xây dựng đã hoànchỉnh.Và theo nghĩa rộng là tổng hợp và kết tinh sản phẩm của nhiều ngànhsản xuất như các ngành chế tạo máy, ngành công nghiệp vật liệu xây dựng,ngành năng lượng, hóa chất, luyện kim và tất nhiên là của ngành xây dựngđóng vai trò tổ chức cấu tạo công trình ở khâu cuối cùng để đưa chúng vàohoạt động
Trang 4Các sản phẩm XDCB thường rất lớn và phải xây dựng trong nhiều năm.Chúng được chia ra thành sản phẩm trung gian và sản phẩm cuối cùng Sảnphẩm trung gian có thể là công việc xây dựng, các giai đoạn và đợt xây dựng
đã hoàn thành và bàn giao Còn sản phẩm cuối cùng ở đây chính là các côngtrình, hạng mục công trình xây dựng hoàn chỉnh và có thể đã được bàn giaođưa vào sử dụng Nhìn chung các sản phẩm xây dựng thường có những đặcđiểm sau
Các sản phẩm xây dựng là những sản phẩm mang tính đơn chiếc, rất đadạng, phong phú Chúng không phải được sản xuất theo một khuôn mẩu cốđịnh nào cả Mà mỗi một sản phẩm hay mỗi một công trình xây dựng sẽ cónhững bản thiết kế riêng, những yêu cầu kỹ thuật riêng biệt, hình dáng, màusắc riêng biệt
Trong khi các sản phẩm khác thường được sản xuất và tiêu thụ một cáchhàng loạt thì các sản phẩm xây dựng được sản xuất và tiêu thụ theo đơn đặthàng Và đối với những trường hợp cụ thể thường thông qua hình thức ký hợpđồng thỏa thuận giữa các bên
Sản phẩm xây dựng phụ thuộc lớn vào điều kiện tự nhiên Do việc sảnxuất xây dựng chủ yếu phải tiến hành ngoài trời, cố định tại nơi sản xuất Bởivậy các sản phẩm này chịu ảnh hưởng lớn của thời tiết, khí hậu Ví dụ, tronglúc công trình đang được tiến hành đổ bê tông mà trời bổng mưa, hoặc tại thờiđịa điểm đó lại có lũ lụt thì sẽ gây thiệt hại rất lớn cho công trình, khôngnhững công trình không hoàn thành đúng thời hạn mà còn phải chịu thiệt hạinặng nề
Sản phẩm xây dựng thường có kích thước lớn, chi phí lớn, thời gian xâydựng và sử dụng lâu dài Do đó những sai lầm về xây dựng có thể gây nên cáclãng phí lớn, tồn tại lâu dài và khó sửa đổi
Sản phẩm xây dựng được tiêu thụ theo giá dự toán hoặc giá thoả thuận vớichủ đầu tư ( giá đấu thầu) Do đó, tính chất hàng hoá của sản phẩm xây dựng
Trang 5không thể hiện rõ Nếu như giá cả hàng hoá thường được xác định theo quyluật cung cầu thì ở đây, các sản phẩm xây dựng đã được quy định giá cả,người mua, người bán trước khi tiến hành sản xuất thông qua hợp đồng giaonhận thầu Bởi vậy tính thị trường trong các sản phẩm xây dựng thấp hơnnhiều so với các sản phẩm khác.
Chính những đặc điểm này của các sản phẩm xây dựng đã có ảnhhưởng rất lớn, góp phần quyết định công tác tổ chức và hoạt động sản xuấtkinh doanh tại công ty
1.1.2.2 Đặc điểm công tác tổ chức sản xuất kinh doanh tại công ty xây dựng
1.1.2.2.1 Những đặc điểm xuất phát từ tính chất của sản phẩm xây dựng
Tình hình và điều kiện sản xuất trong xây dựng thiếu tính ổn định, luônluôn biến đổi theo địa điểm xây dựng và giai đoạn xây dựng Cụ thể là trongxây dựng con người và công cụ lao động luôn phải di chuyển từ công trìnhnày đến công trình khác, còn sản phẩm xây dựng (công trình xây dựng) thìhình thành và đứng yên tại chỗ, một đặc điểm hiếm thấy ở các ngành sản xuấtvật chất khác Các phương án xây dựng về mặt kỹ thuật và tổ chức sản xuấtcủa Công ty luôn phải thay đổi theo từng địa điểm và giai đoạn xây dựng Đặcđiểm này gây khó khăn cho việc tổ chức sản xuất, khó cải thiện điều kiện làmviệc cho người lao động, làm nảy sinh nhiều chi phí cho khâu di chuyển lựclượng sản xuất và cho những công trình tạm phục vụ sản xuất Đây chính là lý
do giải thích tại sao trong các công ty xây dựng tỷ trong giữa tài sản cố định
và tài sản lưu động lại chênh lệch nhau rất lớn Thông thường tài sản cố địnhchiếm từ 10%- 15% trong tổng tài sản của công ty Với đặc thù của các sảnphẩm xây dựng như vậy nên các công ty xây dựng thường lựa chọn các hìnhthức tổ chức sản xuất linh hoạt, tăng cường điều hành tác nghiệp, phấn đấugiảm chi phí có liên quan đến công tác vận chuyển, chọn lựa vùng hoạt động
Trang 6thích hợp Công ty cần lợi dụng tối đa lực lượng xây dựng tại chỗ và liên kếttại chỗ để tranh thầu xây dựng, chú ý đến nhân tố chi phí vận chuyển khi lậpgiá tranh thầu Đặc điểm trên cũng đòi hỏi Công ty phải phát triển rộng khắptrên lãnh thổ các loại hình dịch vụ sản xuất phục vụ xây dựng như: dịch vụcho thuê máy xây dựng, cung ứng và vận tải, sản xuất vật liệu xây dựng
Các sản phẩm xây dựng thường có chu kỳ sản xuất (thời gian xây dựngcông trình) dài, giá trị lớn Đặc điểm này khiến cho vốn trong các công ty xâydựng luân chuyển chậm, doanh thu bán hàng không có thường xuyên từ đóảnh hưởng tới tổng doanh thu thu được trong năm, ảnh hưởng tới tình hình tàichính của công ty
Sản xuất xây dựng phải tiến hành theo đơn đặt hàng cho từng trườnghợp cụ thể, thông qua hình thức ký hợp đồng sau khi thắng thầu, vì sản phẩmxây dựng rất đa dạng và có tính cá biệt cao, có chi phí lớn Ở nhiều ngành sảnxuất khác, người ta có thể sản xuất hàng loạt sản phẩm để bán, nhưng với cáccông trình xây dựng thì không thể như vậy Đặc điểm này dẫn đến yêu cầu làphải định giá của sản phẩm xây dựng trước khi sản phẩm được làm ra Vì thế,hình thức giao nhận thầu hoặc đấu thầu trong xây dựng cho từng công trình cụthể đã trở nên phổ biến trong sản xuất xây lắp
Quá trình sản xuất xây dựng rất phức tạp, có nhiều đơn vị cùng tiếnhành trên công trường xây dựng theo trình tự nhất định về thời gian và khônggian Bởi vậy đòi hỏi công ty xây dựng phải có trình độ tổ chức phối hợp caotrong sản xuất, coi trọng công tác chuẩn bị xây dựng và thiết kế tổ chức thicông, phối hợp chặt chẽ giữa các tổ chức xây dựng tổng thầu hay thầu chínhvới các tổ chức nhận thầu phụ
Sản xuất xây dựng chủ yếu phải tiến hành ngoài trời, do đó bị ảnhhưởng của khí hậu Công việc sản xuất, thi công công trình thường bị giánđoạn do những thay đổi bất thường của thời tiết, điều kiện lao động, điều kiện
Trang 7làm việc nặng nhọc Năng lực sản xuất của Công ty không được sử dụng đồnghoà trong bốn quý, gây khó khăn cho việc lựa chọn trình tự thi công, đòi hỏi
dự trữ vật tư nhiều hơn Tình hình này yêu cầu công ty xây dựng phải chú ýđến nhân tố rủi ro về thời tiết khi lập tiến độ thi công, phấn đấu tìm cách hoạtđộng đều đặn trong một năm, sử dụng kết cấu lắp ghép làm sẵn trong xưởngmột cách hợp lý, để giảm bớt thời gian thi công tại hiện trường, áp dụng cơgiới hóa hợp lý, chú ý độ bền chắc của máy móc, đặc biệt quan tâm đến việccải thiện điều kiện việc làm của công nhân, cẩn thận với các nhân tố rủi ro vìthời tiết
Tốc độ phát triển kỹ thuật xây dựng thường chậm hơn các ngành khác,nền đại công nghiệp cơ khí hoá ở nhiều ngành sản xuất đã hình thành từ thế
kỷ 18, trong khi đó cơ khí hoá ngành xây dựng mới xuất hiện từ đầu thế kỷ20
Tất cả những đặc điểm trên đã ảnh hưởng đến mọi khâu của quá trình sảnxuất kinh doanh xây dựng kể từ khâu tổ chức dây chuyền công nghệ, phươnghướng phát triển khoa học kỹ thuật xây dựng, trình tự của quá trình sản xuất kinhdoanh, tổ chức cung ứng vật tư, cấu tạo trang bị vốn cố định, chế độ thanh toán,chế độ kiểm tra chất lượng sản phẩm, chính sách đối với lao động, marketing,chính sách giá cả, hạch toán sản xuất kinh doanh trong công ty xây dựng
1.1.2.2.2 Những đặc điểm xuất phát từ điều kiện tự nhiên và kinh tế của Việt
Nam.
Về điều kiện tự nhiên: Việt Nam là nước có khí hậu nhiệt đới gió mùa,
có hình thể dài và hẹp, điều kiện địa chất thuỷ văn phức tạp nhưng lại cónguồn vật liệu xây dựng phong phú Do đó các giải pháp xây dựng ở ViệtNam chịu ảnh hưởng mạnh của các nhân tố này
Về trình độ xây dựng, kỹ thuật, tổ chức sản xuất và quản lý kinh tế ởnước ta còn thấp kém hơn so với nhiều nước Quá trình sản xuất xây dựng ở
Trang 8Việt Nam hiện nay đang diễn ra như một quá trình phát triển tổng hợp, kếthợp giữa bước đi nhảy vọt với bước đi tuần tự, kết hợp giữa các công trườngthủ công, nửa cơ giới, cơ giới hóa và một phần tự động hóa Trong bối cảnhhợp tác quốc tế ngày càng mở rộng trình độ xây dựng của nước ta đang cónhiều cơ hội và điều kiện để phát triển nhanh.
1.1.3 Mục tiêu hoạt động kinh doanh của công ty xây dựng
Bất kỳ một tổ chức nào vận động cũng đều có mục tiêu của nó Mục
tiêu của một tổ chức sản xuất kinh doanh xây dựng bao gồm các mục tiêukinh tế, mục tiêu xã hội và đặc biệt chúng phải tuân theo mục tiêu chính trị,định hướng của quốc gia
Mục tiêu kinh tế thể hiện ở các chỉ tiêu như: mức doanh lợi của đồngvốn, hiệu suất sử dụng của các yếu tố sản xuất, hiệu quả chi phí sản xuất Cáccông ty xây dựng luôn đặt mục tiêu cố gắng sao cho mức doanh lợi của đồngvốn là lớn nhất, hiệu suất sử dụng các yếu tố sản xuất là lớn nhất, còn hiệuquả của chi phí sản xuất lại nhỏ nhất Việc đạt được các mục tiêu đó chính làcông ty đã tối đa hóa lợi nhuận mà mình thu được từ các hoạt động sản xuấtkinh doanh của chính mình
Mục tiêu xã hội thể hiện ở các chỉ tiêu như: nâng cao phúc lợi vật chất(nhất là tiền lương) và tinh thần cho cán bộ, công nhân viên chức của công ty,cải thiện điều kiện lao động cho công nhân và viên chức trong công ty, gópphần phát triển con người lao động một cách hài hòa, đảm bảo việc làm ổnđịnh cho công nhân viên chức, nâng cao thu nhập…
Mặc dù vậy nhưng mục tiêu xuyên suốt và là mục tiêu cuối cùng trong hoạtđộng sản xuất kinh doanh của công ty xây dựng chính là làm thế nào để lợinhuận thu được của công ty là lớn nhất hay nói cách khác là nhằm tối đa hóa lợi
Trang 9nhuận thu được của công ty, từ đó nâng cao sức cạnh trạnh của công ty trong thịtrường.
1.1.4 Nội dung hoạt động kinh doanh của công ty xây dựng
Hoạt động kinh doanh của công ty xây dựng chủ yếu bao gồm các lĩnhvực sau:
Xây dựng các công trình dân dụng, công nghiệp, hạ tầng, đường dây,trạm biến thế và xây dựng khác
Sản xuất vật liệu xây dựng, cấu kiện bê tông Sản xuất ống cấp thoátnước, phụ tùng, phụ kiện
Kinh doanh nhà ở, khách sạn và vật liệu xây dựng
Tư vấn đầu tư, thực hiện các dự án đầu tư xây dựng, lập dự án, tư vấnđấu thầu, tư vấn giám sát, quản lý dự án
Kinh doanh khách sạn du lịch lữ hành
Đại lý cho các hãng trong nước và ngoài nước kinh doanh các mặt hàngphục vụ cho sản xuất và tiêu dùng
Xuất nhập khẩu vật tư, thiết bị, xuất khẩu xây dựng
Thiết kế tổng mặt bằng kiến trúc, nội ngoại thất đối với công trình dândụng và công nghiệp
Thiết kế hệ thống cấp thoát nước khu đô thị và nông thôn: xử lý nướcthải và nước sinh hoạt
Thiết kế kết cấu đối với công trình xây dựng dân dụng, công nghiệp, kỹthuật hạ tầng khu đô thị, khu công nghiệp
Thi công cầu đường
Đo đạc, khảo sát địa hình, địa chất, thuỷ văn phục vụ cho thiết kế côngtrình, lập dự án đầu tư
Qua đó chúng ta cũng có thể thấy hoạt động của các công ty xây dựngthật đa dạng và phong phú Mỗi một công ty xây dựng nên tuỳ vào điểm
Trang 10mạnh của mình mà phát huy chủ yếu trong lĩnh vực nào đó? Đấy cũng chính
là yếu tố giúp nâng cao năng lực cạnh tranh với các công ty khác cùng ngành
1.2 LỢI NHUẬN VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN LỢI NHUẬN CỦA CÔNG TY XÂY DỰNG.
1.2.1 Lợi nhuận của công ty xây dựng.
1.2.1.1 Khái niệm lợi nhuận.
Trong nền kinh tế thị trường với sự tham gia của rất nhiều thành phầnkinh tế khác nhau đã tạo môi trường cho các doanh nghiệp ngày càng pháttriển cạnh tranh gay gắt với nhau Bởi vậy, để doanh nghiệp tồn tại và pháttriển trên thương trường hay nói cách khác là thắng trong canh tranh, thì đòihỏi tất yếu doanh nghiệp đó phải kinh doanh có hiệu quả Cụ thể là phải có lợinhuận Vậy lợi nhuận là gì?
Lợi nhuận là kết quả tài chính cuối cùng của doanh nghiệp Là chỉ tiêuchất lượng, tổng hợp phản ánh kết quả kinh tế của mọi hoạt động sản xuấtkinh doanh của doanh nghiệp
Lợi nhuận là cơ sở để tính ra các chỉ tiêu chất lượng khác, nhằm đánh giáhiệu quả của các quá trình sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp, đánh giá hiệuquả sử dụng các yếu tố sản xuất vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
1.2.1.2 Nội dung lợi nhuận.
Lợi nhuận của doanh nghiệp thường bao gồm các bộ phận cấu thànhsau đây:
Lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh
Lợi nhuận thu được từ hoạt động sản xuất kinh doanh là lợi nhuận thuđược do tiêu thụ sản phẩm hàng hóa, dịch vụ, lao vụ từ các hoạt động sản xuấtkinh doanh của doanh nghiệp Nó thường chiếm một tỷ trọng rất lớn trongtổng mức lợi nhuận của doanh nghiệp Đây cũng là điều kiện tiền đề để doanhnghiệp thực hiện tích lũy cho tái sản xuất kinh doanh mở rộng Đồng thờicũng là điều kiện tiên quyết để lập ra các quỹ của doanh nghiệp, như quỹ dự
Trang 11phòng mất việc làm, quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi, quỹ phát triển Là điềukiện cơ bản để không ngừng nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho ngườilao động Do đó lợi nhuận từ các hoạt động sản xuất kinh doanh có ý nghĩaquyết định đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp
Lợi nhuận thu từ các hoạt động tài chính
Lợi nhuận thu từ hoạt động tài chính của doanh nghiệp chính là phầnchênh lệch giữa thu và chi về hoạt động tài chính của doanh nghiệp Bao gồmlợi nhuận thu được từ hoạt động mua, bán chứng khoán, kinh doanh bất độngsản, từ tham gia góp vốn liên doanh, cho thuê tài sản, đầu tư cổ phiếu, tráiphiếu, hay là khoản thu được do chênh lệch từ lãi tiền gửi ngân hàng và lãitiền vay ngân hàng cũng chính là lợi nhuận từ hoạt động tài chính
Lợi nhuận thu được từ các hoạt động khác
Lợi nhuận khác là khoản lợi nhuận mà doanh nghiệp thu được ngoài hoạtđộng sản xuất kinh doanh, ngoài dự tính hoặc có dự tính đến nhưng ít có khảnăng thực hiện hoặc là những khoản lợi nhuận thu được không mang tính chấtthường xuyên Những khoản lợi nhuận này thu được có thể do những nguyênnhân chủ quan hoặc khách quan đem lại
Lợi nhuận khác là khoản chênh lệch giữa thu và chi từ các hoạt động khác củadoanh nghiệp Các hoạt động khác ví dụ như: thanh lý, nhượng bán tài sản cốđịnh, xử lý vi phạm hợp đồng kinh tế, các khoản nợ khó đòi…
1.2.1.3 Phương pháp xác định lợi nhuận.
Lợi nhuận của doanh nghiệp được xác định bằng tổng lợi nhuận từ hoạtđộng sản xuất kinh doanh, hoạt động tài chính, và các hoạt động khác Trong
đó lợi nhuận từng hoạt động là phân chênh lệch giữa doanh thu và chi phí màdoanh nghiệp đã bỏ ra để đạt được doanh thu đó Cách thức xác định như sau:
* Đối với lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh
Trang 12Đây là bộ phận lợi nhuận chủ yếu mà doanh nghiệp thu được từ các hoạt độngsản xuất, cung ứng sản phẩm dịch vụ trong kỳ được xác định theo công thức:Trong đó:
- Trị giáhàng bán -
Chi phíbán hàng -
Chi phí quản
lý doanhnghiệp
Doanh thu thuần được xác định :
Các khoản giảm trừ doanh thu gồm:
- Chiết khấu hàng bán: là số tiền người bán giảm trừ cho người mua trongtrường hợp người mua thanh toán trước thời hạn thanh toán hay còn gọi làthanh toán sớm và đã được ghi trên hóa đơn bán hàng hoặc hợp đồng kinh tế
- Giảm giá hàng bán: là số tiền người bán giảm trừ cho người mua (kháchhàng) trên giá bán trong trường hợp hàng kém phẩm chất, không đúng quycách, hoặc giảm giá cho khách hàng khi họ mua một khối lượng hàng hoá lớn
- Giá trị hàng bán bị trả lại: là giá trị tính theo giá thanh toán của số sảnphẩm hàng hoá, dịch vụ mà doanh nghiệp đã tiêu thụ bị khách hàng trả lại do
vi phạm các tiêu chuẩn trong hợp đồng kinh tế đã ký kết
- Thuế tiêu thụ đặc biệt: là loại thuế gián thu tính trên một số loại hànghoá, dịch vụ đặc biệt mà nhà nước không khuyến khích tiêu dùng
- Thuế xuất nhập khẩu: là loại thuế gián thu tính trên sản phẩm hàng hoácủa các tổ chức kinh tế trong và ngoài nước xuất khẩu qua biên giới ViệtNam
Trị giá vốn hàng bán (GVHB) là chỉ tiêu phản ánh toàn bộ chi phí thực
tế mà doanh nghiệp đã bỏ ra để hình thành trị giá sản phẩm hàng hoá, dịch
Doanh thu
Thuần
Tổng doanh thu tiêu thụ sản phẩm dịch vụ
Các khoản giảm trừ doanh thu
Trang 13vụ (bao gồm cả một số khoản thuế theo quy định như thuế nhập khẩu, thuếgiá trị gia tăng) đã được xác định là tiêu thụ Toàn bộ chi phí đó có thể làchi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công, chi phí máy móc thicông và chi phí sản xuất chung…
Giá vốn hàng bán = Giá thành sản phẩm của khối lượng sản phẩm tiêu thụtrong kỳ
- Chi phí bán hàng: Là những chi phí thực tế phát sinh trong quá trìnhtiêu thụ sản phẩm hàng hoá, lao vụ dịch vụ gồm có: Chi phí bảo hành sảnphẩm, tiền lương và các khoản phụ cấp tiền lương (bảo hiểm y tế, bảohiểm xã hội, kinh phí công đoàn) của nhân viên bán hàng, hoa hồng đại lý,tiếp thị quảng cáo, chi phí đóng gói sản phẩm, chi phí khấu hao tài sản cốđịnh phục vụ cho tiêu thụ sản phẩm, chi phí bảo hành sản phẩm, chi phímua ngoài phát sinh trong quá trình tiêu thụ sản phẩm Tuy nhiên trong cácdoanh nghiệp xây dựng thì chi phí bán hàng chiếm rất ít và ở một số doanhnghiệp còn không có chi phí bán hàng
Chi phí quản lý doanh nghiệp (QLDN): Là những chi phí liên quan đến
bộ máy quản lý của doanh nghiệp, chi phí quản lý kinh doanh, các chi phíliên quan đến hoạt động chung của doanh nghiệp như tiền lương, phụ cấpbảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn của ban giám đốc vànhân viên phòng ban, chi phí vật liệu đồ dùng văn phòng, khấu hao tài sản
cố định dùng chung cho toàn doanh nghiệp và các khoản phụ phí, trợ cấpmất việc, dự phòng nợ phải thu khó đòi, chi phí tiếp tân khánh tiết, phíkiểm toán và các khoản chi phí khác Đây là một loại chi phí thời kỳ đượctính đến khi hạch toán lợi tức thuần túy của kỳ báo cáo
Zsx của khối lượng sản phẩm tồn kho ĐK
Zsx của khối lượng sản phẩm sx trong kỳ
Zsx của khối lượng sản phẩm CK
Trang 14* Đối với lợi nhuận từ hoạt động tài chính
Hoạt động tài chính là những hoạt động có liên quan tới việc huy động,quản lý và sử dụng vốn trong kinh doanh
Lợi nhuận từ hoạt động tài chính được xác định theo công thức:
Lợi nhuận thu
được từ hoạt
động tài chính
=
Thu nhập từ hoạt động tài chính
_
Chi phí từhoạt động tài chính
_
Thuế gián thu
(nếu có)Trong đó:
Thu nhập từ hoạt động tài chính gồm: lãi tiền gửi ngân hàng, bán trảgóp, lãi kinh doanh chứng khoán, lãi góp vốn liên doanh, lãi đầu tư ngắnhạn và dài hạn khác, chiết khấu thanh toán khi mua hàng được hưởng, thutiền do cho thuê tài sản và bán bất động sản, chênh lệch tỷ giá, hoàn nhậpkhoản dự phòng
Chi phí hoạt động tài chính gồm: lỗ do kinh doanh chứng khoán và cáchoạt động đầu tư khác, chi phí do đem góp vố liên doanh, chi phí liên quanđến việc thuê tài sản, chênh lệch tỷ giá, lập dự phòng giảm giá đầu tưchứng khoán
* Đối với lợi nhuận từ hoạt động khác
Hoạt động khác (hoạt động bất thường) là những hoạt động diễn rakhông thường xuyên mà doanh nghiệp không dự tính trước được hoặc có dựtính nhưng ít có khả năng thực hiện như các hoạt động thanh lý, nhượng bántài sản cố định, xử lý nợ khó đòi…
Lợi nhuận từ hoạt động khác được xác định theo công thức sau:
Lợi nhuận thu
_
Chi phí từhoạt độngkhác
_
Thuế gián thu(nếu có)
Trong đó:
Trang 15 Thu nhập từ các hoạt động khác là những khoản thu về tiền phạt dokhách hàng vi phạm hợp đồng, tiền thu được từ hoạt động thanh lý,nhượng bán tài sản cố định, thu các khoản nợ khó đòi, thu các khoản miễnthuế, giảm thuế, tiền thu về giá trị tài sản thu được do vắng chủ, hoàn nhập
dự phòng, giảm giá dự trữ và phải thu nợ khó đòi, trích trước sửa chữa lớntài sản cố định, bảo hành sản phẩm nhưng không dùng hết vào cuối năm
Chi phí hoạt động khác là những khoản chi như: chi phạt thuế, tiền phạt
do doanh nghiệp vi phạm hợp đồng, chi cho thanh lý, nhượng bán tài sản,giá trị tài sản bị tổn thất do quỹ dự phòng tài chính không đủ bù đắp chiphí kinh doanh
Sau khi đã xác định lợi nhuận của các hoạt động kinh doanh, chúng tatiến hành tổng hợp lại, khi đó kết quả thu được chính là lợi nhuận trước thuếthu nhập doanh nghiệp
+ LN từ hoạtđộng khác
1.2.1.4 Các chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh lợi nhuận của công ty xây dựng.
Lợi nhuận là một chỉ tiêu chất lượng tổng hợp nói lên toàn bộ kết quảhoạt động sản xuất kinh doanh của công ty Vì vậy lợi nhuận là chỉ tiêu quan
Trang 16trọng nhất để đánh giá chất lượng hoạt động kinh doanh của các công ty xâydựng Tuy nhiên, do điều kiện sản xuất kinh doanh, điều kiện vận chuyển, quy
mô sản xuất giữa các công ty xây dựng khác nhau nên tổng lợi nhuận thuđược của mỗi công ty cũng sẽ khác nhau Chính vì vậy, ngoài chỉ tiêu tổng lợinhuận thì chúng ta cần phải quan tâm đến các chỉ tiêu đánh giá khả năng sinhlợi nhuận của công ty xây dựng
1.2.1.4.1.Tỷ suất lợi nhuận:
Có rất nhiều chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận khác nhau, mỗi chỉ tiêu có nộidung kinh tế khác nhau Sau đây là một số chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận chủ yếu: 1.2.1.4.2.Tỷ suất lợi nhuận doanh thu
Công thức:
ROS = Lợi nhuận X 100%
Doanh thuChỉ tiêu này cho biết cứ 100 đồng doanh thu thu được trong kỳ thì công
ty có khả năng thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận Và bởi vậy mà nếu tỷ suấtlợi nhuận doanh thu càng cao chứng tỏ khả năng sinh lợi hoạt động kinhdoanh của doanh nghiệp càng tốt
1.2.1.4.3.Tỷ suất lợi nhuận giá thành:
(Trong công ty xây dựng chỉ tiêu này còn được gọi là mức doanh lợi tínhcho một đồng giá trị dự toán xây lắp đã hoàn thành và bàn giao)
Khái niệm: Tỷ suất lợi nhuận giá thành là quan hệ giữa lợi nhuận thu đượctrong kỳ với giá trị dự toán xây lắp đã hoàn thành và bàn giao trong kỳ đó
Tỷ suất LN giá thành = Lợi nhuận trớc hoặc sau thuế
Giá trị dự toán xây lắp đã hoàn thành (giá thành sản phẩm xây lắp)
Chỉ tiêu này cho biết cứ bỏ ra bao nhiêu đồng chi phí sản xuất và tiêu thụsản phẩm thì thu về được bao nhiêu đồng lợi nhuận Thông qua chỉ tiêu này
có thể thấy rõ hiệu quả của chi phí bỏ vào sản xuất và tiêu thụ sản phẩm trongkỳ
Trang 171.2.1.4.4.Tỷ suất lợi nhuận tổng tài sản:
Công thức:
ROA = Tổng LN kế toán trước thuế X 100%
Tổng tài sản bình quân
Trong đó: ROA là tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản
Chỉ tiêu này phản ánh cứ 100 đồng tài sản đưa vào sản xuất kinh doanh
sẽ đem lại bao nhiêu đồng lợi nhuận? Trong điều kiện bình thường thì chỉtiêu này càng lớn chứng tỏ khả năng sinh lời của tài sản càng tốt
1.2.1.4.5.Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu:
Đây là một chỉ tiêu đánh giá mức độ thực hiện mục tiêu hoạt động củadoanh nghiệp tạo ra lợi nhuận ròng cho các chủ sở hữu doanh nghiệp đó
ROE = Tổng LN sau thuế X 100%
Vốn chủ sở hữu bình quân
Trong đó : ROE là tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu
Chỉ tiêu này nói lên một trăm đồng vốn chủ sở hữu đem đầu tư mang lạibao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế
Ngoài các chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận nói trên, trong công tác quản lýngười ta còn sử dụng các chỉ tiêu: tỷ suất lợi nhuận vốn đầu tư; tỷ suất lợinhuận giá trị tổng sản phẩm để đánh giá chất lượng xây dựng kế hoạch vàthực hiện kế hoạch trong kỳ
Nền kinh tế thị trường đã và đang tác động mạnh mẽ tới từng doanhnghiệp sản xuất kinh doanh Hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanhnghiệp luôn chịu sự chi phối một cách bình đẳng bởi các quy luật của nền kinh
tế thị trường: Các quy luật cạnh tranh, quy luật cung cầu, quy luật giá trị, Chính vì vậy doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển như những tế bào của nềnkinh tế thì phải nuôi dưỡng mình mà sự lựa chọn đầu tiên và cũng là sự lựa chọnquan trọng nhất là phải đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả cao
Trang 18Do đó việc phấn đấu tăng lợi nhuận trong điều kiện hiện nay là mục tiêu hàngđầu, là điều kiện tiên quyết và vô cùng cần thiết đối với các doanh nghiệp nóichung, các công ty xây dựng nói riêng.
1.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của công ty xây dựng.
Lợi nhuận chính là chỉ tiêu chất lượng tổng hợp nói lên kết quả cuốicùng của toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Bởi vậylợi nhuận chịu ảnh hưởng của rất nhiều nhân tố
1.2.2.1 Nhân tố khách quan.
Nhân tố khách quan là nhân tố nằm ngoài ý muốn chủ quan củadoanh nghiệp Và doanh nghiệp chỉ có thể xem xét phân tích chứ không cókhả năng kiểm soát, điều chỉnh nó Trong các công ty xây dựng thì nhân tốkhách quan ảnh hưởng đến lợi nhuận bao gồm các nhân tố sau :
* Điều kiện tự nhiên địa lý :
Do đặc trưng của các công ty xây dựng là tiến hành thi công ngoài trờibởi vậy nó chịu ảnh hưởng rất lớn sự thay đổi của điều kiện tự nhiên địa lý.Giả sử một công trình đang được tiến hành thi công thì đột nhiên xẩy ra lủ lụtlớn đã làm cho vật liệu một phần hư hỏng một phần bị cuốn trôi gây tổn thấtlớn cho công ty Hoặc cũng có thể chỉ là trời mưa to, rét đậm thôi cũng đủ làmđình trệ tiến độ thi công của công trình Nhưng nhân tố này doanh nghiệpkhông thể lường trước được Bởi thế mà đôi khi nó đã khiến cho tài sản củacông ty bị tổn thất nặng nề, chi phí cho thi công càng tăng cao thêm từ đó màlợi nhuận của công ty càng giảm sút đáng kể
* Cơ chế quản lý và các chính sách kinh tế vĩ mô của nhà nước :
Các chính sách quản lý kinh tế của nhà nước có ảnh hưởng mạnh mẽđến hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty Các chính sách này có thể sẽ
có tác động tích cực thúc đẩy sự phát triển của công ty nếu như chúng phùhợp với tình hình phát triển kinh tế nói chung và của chính các công ty xâydựng nói riêng Ngược lại nếu các chính sách đó không phù hợp thì chúng sẽ
Trang 19cản trở kìm hãm sự phát triển của công ty thông qua sự ảnh hưởng đến các chỉtiêu kết quả kinh doanh trong công ty Các chính sách của nhà nước có thể làcác chính sách về thuế, chính sách ưu đãi đầu tư, chính sách khuyến khíchxuất, nhập khẩu Cụ thể về sự tác động của chính sách thuế như sau Hiệnnay nhà nước quy định miễn thuế thu nhập doanh nghiệp 2 năm đối với cáccông ty đang trong quá trình cổ phần hoá Và năm thứ 3 thì chỉ phải nộp mộtnửa so với số thuế thực tế phải nộp Rõ ràng chính sách này đã có tác động rấttích cực đến lợi nhuận của công ty.
Như vậy với nhân tố này đòi hỏi các công ty xây dựng phải thườngxuyên cập nhật thông tin, nhanh nhạy nắm vững các chính sách quản lý củanhà nước để từ đó kịp thời thay đổi sao cho phù hợp, đồng thời qua đó có thểtận dụng lợi thế nhằm phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh của chínhmình
*Đối thủ cạnh tranh của công ty trên thị trường :
Những công ty có cùng mặt hàng kinh doanh, lĩnh vực kinh doanh, thịtrường tiêu thụ với công ty thì đó chính là đối thủ cạnh tranh của công ty trênthị trường Như vậy đối thủ cạnh tranh của các công ty xây dựng chính là tất
cả những công ty có hoạt động sản xuất kinh doanh trong lỉnh vực xây dựng
Và cụ thể hơn đối thủ cạnh tranh của Vinaconex_1 chính là các công ty như :Tổng công ty xây dựng Hà Nội, Công ty xây dựng Sông Đà
Một trong những đặc trưng cơ bản của nền kinh tế thị trường là cạnhtranh gay gắt giữa các doanh nghiệp Trong mỗi lĩnh vực kinh doanh có rấtnhiều sản phẩm hàng hoá của các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau làm thịphần bị chia nhỏ và tất yếu dẫn đến lợi nhuận giảm Môi trường cạnh tranhkhốc liệt chỉ chấp nhận doanh nghiệp nào kinh doanh có hiệu quả và đào thảidoanh nghiệp yếu kém Thể hiện sự cạnh tranh rõ nhất trong ngành xây dựng
đó là hoạt động đấu thầu Để có thể thắng thầu công ty cần phải có rất nhiềuyếu tố Ví dụ như là uy tín, khả năng tài chính hiện tại, quy trình công nghệ
Trang 20mà công ty sẽ áp dụng và quan trọng hơn cả là giá mà công ty đưa ra đấuthầu Ta có thể thấy nếu các đối thủ cạnh trạnh của công ty là nặng ký thìcông ty sẽ ngày càng mất dần thị trường, ‘‘mất thị trường là mất tất cả’’ chonên các đối thủ luôn là mối hiểm hoạ đối với công ty Đây là một nhân tốkhách quan bên ngoài mà các doanh nghiệp không kiểm soát được Bởi vậy
mà doanh nghiệp phải luôn chủ động linh hoạt tìm hiểu thị trường và các đốithủ cạnh tranh đồng thời không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm củamình từ đó sẽ nâng cao lợi nhuận cho doanh nghiệp
* Tình hình giá cả trên thị trường :
Giá cả cũng là một nhân tố khách quan ảnh hưởng đến lợi nhuận trong
kỳ của các công ty xây dựng Do đặc điểm kinh doanh của công ty xây dựngthường là thi công trong thời gian dài nên sự biến động của giá cả trên thịtrường sẽ ảnh hưởng đến chi phí đầu vào qua đó ảnh hưởng đến tổng chí phí
mà công ty phải bỏ ra, đến giá thành sản phẩm từ đó ảnh hưởng đến lợi nhuậncủa công ty Đặc biệt khi nền kinh tế tồn lạm phát cao, giá cả đầu vào lại tăngnhanh hơn nhiều so với giá của đầu ra thì không những lợi nhuận của công ty
sẽ giảm sút mà còn có thể đẩy các công ty xây dựng đến bên bờ vực của sựphá sản
* Lãi suất trên thị trường :
Hoạt động kinh doanh của công ty xây dựng đòi hỏi phải có nguồn vốnlớn Ngoài nguồn vốn chủ sở hữu, thì vốn đi vay của các công ty xây dựngthường chiếm tỷ trọng khá lớn Chính vì vậy, sự thay đổi lãi suất thị trường làvấn đề quan trọng, bởi nó sẽ ảnh hưởng đến chi phí huy động bằng vốn vay Khi
đó nếu các yếu tố khác không thay đổi thì lãi suất thị trường tăng lên, tiền lãicông ty phải trả cho các khoản vay tăng lên do đó mà lợi nhuận của công ty sẽgiảm xuống
*Sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật :
Trang 21Khoa học công nghệ sẽ là cơ hội nhưng cũng sẽ là thách thức lớn đối
với các công ty xây dựng Trình độ khoa học công nghệ đang thay đổi hàngngày, nếu các công ty xây dựng sớm áp dụng những công nghệ tiên tiến đượcnhập khẩu từ nước ngoài thì sẽ góp phần nâng cao năng suất lao động, hạ giáthành sản phẩm xây lắp qua đó lợi nhuận của công ty sẽ tăng lên Tuy nhiêncũng có thể việc thay đổi công nghệ sẽ làm tăng hao mòn vô hình và đòi hỏicông tác đầu tư đổi mới tài sản Từ đó ảnh hưởng đến lợi nhuận của công ty Mặc dù các công ty xây dựng không thể kiểm soát được các nhân tố này,song có thể giảm thiểu mức độ ảnh hưởng của nó đến lợi nhuận bằng cáchtích cực dự báo thời tiết, dự báo những biến động có thể xẩy ra của thị trường
để tự đó có biện pháp phòng ngừa hiệu quả
1.2.2.2 Nhân tố chủ quan
Nhân tố chủ quản là các nhân tố xuất phát từ nội tại của doanh nghiệp
mà doanh nghiệp có thể kiểm soát được Ở các công ty xây dựng, nhân tố chủquan ảnh hưởng đến lợi nhuận của công ty chủ yếu là : công tác quản lý hoạtđộng sản xuất kinh doanh, các quy chế tài chính trong công ty, chất lượng củacác công trình, trình độ cán bộ quản lý và của người lao động
*Quy mô sản xuất :
Các công ty có quy mô khác nhau chắc chắn sẽ thu được lợi nhuậnkhác nhau Cụ thể ở những công ty lớn hơn, mặc dù công tác quản lý kémhiệu quả nhưng lợi nhuận thu được vẫn có thể lớn hơn những công ty có côngtác quản lý tốt nhưng do quy mô nhỏ hơn Chúng ta có thể thấy được các công
ty có quy mô lớn sẽ có rất nhiều ưu thế Ví dụ như về mặt tài chính, về việckhả năng đương đầu với các loại rủi ro, đặc biệt công ty có thể tiết kiệm đượcchi phí nhờ quy mô Hơn thế nữa, với quy mô lớn thì khi tiến hành muanguyên vật liệu đầu vào công ty có thể thương lượng được với nhà cung cấpkhông chỉ về giá mà còn cả về thời hạn và dịch vụ thanh toán giao hàng Tất
cả những yếu tố đó sẽ có tác động tích cực đến lợi nhuận của công ty
Trang 22* Công tác quản lý hoạt động sản xuất và kinh doanh của công ty :
Quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh được thể hiện ở việc phân cônghợp lý công việc cho mỗi nhân viên nhằm đảm bảo nhân viên có một môitrường làm việc tốt, phát huy tối đa năng lực cá nhân và hoàn thành xuất sắccông việc của mình Hay là việc cơ cấu tổ chức bộ máy hoạt động kinh doanhsao cho phù hợp với lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp, phối hợp liên kếtgiữa các phòng ban, các đội để thực hiện quản lý một cách chặt chẽ và hiệuquả nhất Nếu công tác quản lý doanh nghiệp tốt làm cho quá trình sản xuấtkinh doanh của doanh nghiệp trôi chảy và đạt hiệu quả cao, tăng doanh thu
và cắt giảm chi phí không cần thiết từ đó làm tăng lợi nhuận cho doanhnghiệp Ngược lại, nếu công tác quản lý doanh nghiệp không tốt sẽ ảnh hưởngtiêu cực đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và làm cho chỉ tiêu lợinhuận giảm
* Khả năng tài chính của công ty
Khả năng tài chính của công ty thể hiện qua khả năng huy động vốn vàquy mô nguồn vốn từ công ty Khả năng tài chính là điều kiện quan trọng đểcông ty có thể phát triển một cách bền vững Thật vậy, một công ty có khảnăng tài chính tốt sẽ giúp công ty tự chủ trong hoạt động kinh doanh, có thểtheo đuổi những dự án kinh doanh lớn để nâng cao lợi nhuận cho công ty.Đồng thời đó cũng chính là thế mạnh của công ty khi tham gia cạnh tranh trênthị trường
* Cơ cấu mặt hàng kinh doanh:
Cơ cấu mặt hàng kinh doanh tác động đến việc tiêu thụ hàng hoá từ đóảnh hưởng đến chỉ tiêu lợi nhuận Nếu công ty lựa chọn mặt hàng kinh doanhphù hợp với thị trường đồng thời khai thác triệt để thế mạnh của mình là lĩnhvực xây dựng thì sẽ là nền tảng cho sự thành công của công ty Mỗi một sảnphẩm xây lắp hay mỗi một công trình đưa lại cho công ty những khoản lợinhuận khác nhau, sự thay đổi tỷ trọng số lượng của mỗi loại sản phẩm tất yếu
Trang 23sẽ dẫn đến lợi nhuận của công ty thay đổi Bởi vậy các công ty xây dựng phảibiết được đâu là thế mạnh thực sự của mình để từ đó phát huy, tăng lợi nhuậncho công ty
* Chất lượng sản phẩm của công ty:
Đối với các công ty xây dựng thì chất lượng sản phẩm ở đây được thểhiện là độ bền của các công trình qua thời gian sử dụng Dù trong hoàn cảnhnào đi chăng nữa thì chất lượng sản phẩm vẫn là vấn đề được đặt lên hàngđầu, là một vũ khí cạnh tranh sắc bén và đạt hiệu quả cao, tăng uy tín chocông ty Việc nâng cao chất lượng, đổi mới kiểu dáng mẫu mã sản phẩm sẽ làmột động lực thu hút người tiêu dùng chấp nhận, từ đó nâng cao uy tín củacông ty và mở rộng thị trường hoạt động, như vậy lợi nhuận cũng được nângcao
* Năng lực của cán bộ quản lý và của người lao động trong công ty:
Đây là nhân tố chủ quan ảnh hưởng mạnh mẽ đến hoạt động sản xuấtkinh doanh của các công ty nói chung và chỉ tiêu lợi nhuận nói riêng Bởi lẽnhà quản lý chính là người quyết định và điều khiển toàn bộ quá trình hoạtđộng sản xuất kinh doanh của công ty từ khâu mua nguyên liệu, tiến hành thicông, hoàn thành và bàn giao công trình Một đội ngũ cán bộ có năng lực, tinhthần trách nhiệm cao cùng với những người lao động giỏi là điều kiện để cáchoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra liên tục và đạt năngsuất cao từ đó tăng lợi nhuận Do đó hiện nay có rất nhiều doanh nghiệp coinhân tố con người là yếu tố hàng đầu quyết định sự thành công của doanhnghiệp
* Chế độ lương và cơ chế khuyến khích người lao động :
Tiền lương và cơ chế khuyến khích người lao động có ảnh hưởng rấtquan trọng đến thái độ và ý thức làm việc của họ Một mức lương tươngxứng với mức công hiến và chế độ đãi ngộ hợp lý, gắn với hiệu quả công việc
sẽ tạo động lực nâng cao năng suất lao động trong công ty, từ đó tăng lợi
Trang 24nhuận Tuy nhiên chính sách này có tác động hai chiều Nếu tốc độ tăng củachi phí tiền lương nhỏ hơn tốc độ tăng của năng suất lao động thì sẽ có tácđộng tích cực đến lợi nhuận của công ty Ngược lại làm giảm lợi nhuận củacông ty thì công ty nên thay đổi chính sách sao cho phù hợp với tinh hình hiệntại của công ty.
* Chi phí huy động vốn.
Việc công ty sử dụng bất kỳ nguồn vốn nào cũng phải chịu một khoảnchí phí nhất định Và chi phí sử dụng của mỗi nguồn vốn khác nhau sẽ khácnhau, và chúng trực tiếp ảnh hưởng đến chi phí sử dụng vôn bình quân trongcông ty vốn sẽ có ảnh hưởng đến lợi nhuận của công ty Từ đó cũng có thểgián tiếp ảnh hưởng đến lợi nhuận trong toàn công ty
Ngoài ra còn có một nhân tố chủ quan khác ảnh hưởng đến lợi nhuậncủa doanh nghiệp phải kể đến như: Phương thức thanh toán, chiến lược chiếmlĩnh thị trường, chu kỳ sản xuất kinh doanh Đây là các nhân tố mà doanhnghiệp có thể kiểm soát và khống chế được Do vậy các doanh nghiệp luônphải kiểm soát các nhân tố này, xem xét mức độ ảnh hưởng của từng nhân tốđến chỉ tiêu lợi nhuận Từ đó phát huy ảnh hưởng tích cực và loại trừ các ảnhhưởng tiêu cực để lợi nhuận của doanh nghiệp ngày càng tăng
1.3 CÁC BIỆN PHÁP CHỦ YẾU TĂNG LỢI NHUẬN TRONG CÔNG TY XÂY DỰNG
Xuất phát từ công thức tính tổng mức lợi nhuận của doanh nghiệp Tổng lợi nhuận = Tổng doanh thu – Tổng chi phí
Do đó ta có thể tăng lợi nhuận bằng cách tăng doanh thu hoặc tối thiểuhoá chi phí, giảm thiểu rủi ro trong hoạt động kinh doanh Mỗi một công tyvới những lỉnh vực hoạt động sản xuất khác nhau thì sẽ có những biện pháp
để tăng doanh thu khác nhau Tuy nhiên các biện pháp này phải được kết hợpchặt chẽ với nhau thi mới phát huy hết hiệu quả của nó
1.3.1 Các giải pháp tăng doanh thu.
Trang 251.3.1.1 Nâng cao chất lượng các sản phẩm mà công ty sản xuất ra.
Sản phẩm của các công ty xây dựng thường cung cấp những nhu cầu cơbản như nhà ở, nước uống, đường sá, trường học, bệnh viện Việc tạo ra cácsản phẩm xây dựng đó không những có ý nghĩa về mặt kinh tế trên thị trường
mà còn có ý nghĩa cả về mặt xã hội sâu sắc Như vậy đối tượng sử dụng sảnphẩm xây dựng không chỉ một hay hai người mà là cả cộng đồng Điều đó chocác công ty xây dựng biết rằng muốn ngày càng nhận được nhiều công trình hơnnữa, muốn tăng doanh thu cho hoạt động sản xuất kinh doanh thì phương thứcquảng cáo hữu hiệu nhất là phải làm hài lòng người sử dụng bằng cách khôngngừng nâng cao chất lượng cho những sản phẩm của công ty mình
1.3.1.2 Lựa chọn phương thức thanh toán hợp lý và thu hồi công nợ.
Ngành xây dựng với đặc thù là thời gian hoàn thành sản phẩm có thểkéo dài trong nhiều năm, nên phương thức thanh toán trong các công ty xâydựng khác với phương thức thanh toán trong các hợp đồng mua hàng hoáthông thường Bởi vậy, để tránh chịu sự ảnh hưởng của biến động giá cả vàkhông bị chiếm dụng vốn thì cần tiến hành tốt công tác thanh toán theo từnghạng mục công trình hoặc theo giai đoạn quy ước của công trình và tiến hànhthu hồi công nợ
1.3.1.3 Tiến hành định giá công trình chính xác
Định giá trong ngành xây lắp chính là xác định giá trị của các công việc
đã thực hiện Việc định giá có thể cũng phải dựa vào nhiều căn cứ, nhưng yêucầu căn cứ đầu tiên mà công ty phải dựa vào đó chính là dựa trên toàn bộ chiphí mà công ty phải bỏ ra trong quá trình thi công bao gồm chi phí trực tiếp
và chi phí gián tiếp Để tập hợp được chi phí trong xây dựng khá phức tạp, bởivậy đòi hỏi các công ty xây dựng phải thật cân nhắc khi xác định giá trị côngtrình sao cho phải đảm bảo bù đắp được toàn bộ chi phí đã bỏ ra, đủ trả lươngcho người lao động và có lợi nhuận thoả đáng để thực hiện tái sản xuất mở rộng
Trang 261.3.1.4 Xây dựng chiến lược kinh doanh và lập phương án kinh doanh đúng đắn, phù hợp với thực tế.
Chiến lược kinh doanh đúng đắn sẽ tạo cho công ty một môi trườngkinh doanh đảm bảo, hiệu quả kinh tế cao, giúp cho công ty có sức mạnh cạnhtranh và đứng vững trên thị trường lâu dài Ngoài ra phương án kinh doanh tối
ưu còn tạo điều kiện cho công ty hoạch định được chính xác vốn và lao động.Tận dụng được tối đa các nguồn lực sẵn có để thu kết quả cao nhất Mặt kháckhi xây dựng chiến lược kinh doanh, công ty cũng cần phải dự đoán và ướclượng sai số kế hoạch đặt ra và kết quả thực hiện để xây dựng được kế hoạchphù hợp xác thực với thực tế kinh doanh của công ty, Khi kế hoạch đưa ra phùhợp với hoạt động kinh doanh thì nó sẽ tác động tích cực đến lợi nhuận nóiriêng, và đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nói chung
1.3.1.5 Xây dựng kết cấu mặt hàng tối ưu.
Việc thay đổi kết cấu mặt hàng sản xuất cũng có ảnh hưởng đến việctăng hoặc giảm doanh thu của công ty Khi sản xuất có thể có những sản phẩmmặc dù chi phí bỏ ra không cao nhưng mà giá bán lại tương đối hấp dẫn.Công ty cần phải nhận biết và lựa chọn xem mình nên đầu tư vào những loạisản phẩm nào là có thể thu lợi được nhiều nhất Và từ đó đưa ra một kết cấumặt hàng tối ưu cho chính công ty mình
1.3.2 Các giải pháp nhằm giảm chi phí
Trong quá trình tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh, công ty
đã phải bỏ ra rất nhiều loại chi phí khác nhau Nào là chi phí nguyên vật liệu,chi phí nhân công, chi phí máy móc, chi phí nhân viên quản lý, chi phí khấuhao tài sản cố định không những thế trong quá trình hoạt động công ty cũngphải bỏ ra những khoản chi phí như là bảo quản nguyên vật liệu tại kho củatổng công ty, chi phí quảng cáo…Tất cả những khoản chi phí này đều có ảnhhưởng trực tiếp đến lợi nhuận của công ty Do đó trong quá trình hoạt độngsản xuất các công ty nói chung và công ty xây dựng nói riêng cần phải có
Trang 27những biện pháp hiệu quả nhằm giảm bớt những chi phí không cần thiết, nângcao lợi nhuận cho công ty Một số biện pháp mà các công ty nên áp dụng là:
1.3.2.1 Tăng cường công tác quản lý chi phí
Đối với các công ty xây dựng công tác quản lý chi phí không chỉ làlập kế hoạch chi phí, dùng hình thức tiền tệ tính toán trước mọi khoản chi phísản xuất kinh doanh cho kỳ kế hoạch mà còn phải được chi tiết hoá hơn nữacho từng dự án, từng hạng mục công trình Điều quan trọng nữa là phải xâydựng được ý thức thường xuyên tiết kiệm chi phí kinh doanh của tất cả cán bộcông nhân viên, người lao động trong công ty trong từng khâu sản xuất, thicông công trình Dùng các hình thức khen thưởng khuyến khích bằng vật chấtđối với các bộ phận, cá nhân thực hiện tốt tiết kiệm chi phí và có sáng kiếngiảm chi phí Cương quyết không chấp nhận các khoản chi phí không cóchứng từ hợp lệ và vượt quá định mức đã đề ra của nhà nước, của công ty
1.3.2.2 Tổ chức phân công lao động hợp lý.
Đây là một nhân tố quan trọng để nâng cao năng suất và hiệu quả laođộng, nhất là đối với các công ty xây dựng có sử dụng nhiều lao động Việc tổchức lao động khoa học hợp lý sẽ tạo ra sự kết hợp các yếu tố sản xuất kinhdoanh một cách hợp lý loại trừ được tình trạng lãng phí lao động, lãng phímáy móc Và điều quan trọng hơn cả trong việc tổ chức tốt lao động là phảibiết sử dụng yếu tố con người, biết động viên, bồi dưỡng tạo ra môi trườnglàm việc thất sự nghiêm túc nhưng lại thoải mái, từ đó khơi dậy tiềm năng sựhăng say lao động trong họ, làm cho họ thực sự tin tưởng và gắn bó lâu dàivới công ty Điều này sẽ tạo một khả năng to lớn trong việc nâng cao năngsuất và hiệu quả lao động giảm giá thành sản phẩm để tăng lợi nhuận chodoanh nghiệp
1.3.2.3 Biết khai thác tốt các chi phí đầu vào.
Chi phí đầu vào của các công ty xây dựng là sắt thép, xi măng, giàn
dáo, cốp pha, máy móc thi công…Bởi vậy tương ứng đối với mỗi loại chi phí
Trang 28công ty cần xác định cho mình một nhà cung cấp đang tin cậy, hợp tác tronglâu dài Tránh tình trạng ngừng sản xuất do thiếu nguyên vật liệu hay muaphải nguyên vật liệu giá đắt mà lại không đảm bảo chất lượng Bên cạnh đócông ty nên tích cực tìm kiếm nguồn vật liệu thay thế giá rẽ mà vẫn đảm bảochất lượng, từ đó giúp giảm giá thành sản phẩm và nâng cao lợi nhuận chocông ty.
1.3.2.4 Tận dụng triệt để công suất máy móc thiết bị.
Trong quá trình sản xuất hay thi công công trình thì máy móc là công
cụ không thể thiếu được Nhằm tiết kiệm chi phí khấu hao và một số chi phí
cố định khác thì công ty phải biết cách làm cho máy móc thiết bị sản xuấtphát huy hết khả năng hiện có của chúng Muốn vậy khi sử dụng máy mócthiết bị phải tiến hành lập kế hoạch sản xuất và phải chấp hành đúng đắn cách
sử dụng thiết bị, chấp hành nghiêm chỉnh chế độ bảo quản, kiểm tra, sửa chữathường xuyên, cải tiến kỹ thuật để nâng cao năng lực sản xuất của máy mócthiết bị Từ đó tiết kiệm được chi phí, nâng cao lợi nhuận cho công ty
1.3.2.5 Giảm đến mức tối đa những thiệt hại trong sản xuất.
Chúng ta đều biết chi phí cho thiệt hại trong xây dựng cơ bản là rất lớn
Có thể là thiệt hại do làm không đúng với yêu cầu, có thể sản phẩm đangtrong thời gian bảo hành mà bị hỏng, cũng có thể do chủ đầu tư tự thay đổithiết kế…Mặc dù những thiệt hại này không cấu thành trong giá trị sản phẩmnhưng đều dẫn đến lãng phí những chi phí không cần thiết trong sản xuất thicông Và trong một số trường hợp nó ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận củacông ty Do đó để giảm bớt những tổn thất này, công ty phải không ngừngnâng cao kỹ thuật, công nghệ và các phương pháp thao tác Nâng cao ý thứctrách nhiệm trong quá trình thi công Vật liệu và máy móc thiết bị dùng trongthi công phải đảm bảo yêu cầu kỹ thuật, xây dựng và chấp hành nghiêm chỉnhchế độ kiểm tra chất lượng các công trình hoàn thành hoặc các hạng mục côngtrình đã được hoàn thành Thực hiện chế độ quy trách nhiệm vật chất khi xẩy
Trang 29ra sản phẩm hỏng Đồng thời nên tận dụng phế liệu của những sản phẩm hỏngnhưng có thể thu hồi được nhằm tạo điều kiện tiết kiệm chi phí cho công ty Ngoài ra, các công ty xây dựng có thể sử dụng các đòn bẩy như là : đònbẩy kinh doanh, đòn bẩy tài chính, đòn bẩy tổng hợp, để tác động trực tiếpvào lợi nhuận Làm gia tăng lợi nhuận cho công ty Hoặc tiến hành dự báotình hình để hạn chế một cách tối đa những rủi ro có thể xẩy ra Đó cũng làmột biện pháp hữu hiệu nhằm gia tăng lợi nhuận trong các công ty xây dựnghiện nay.
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG LỢI NHUẬN CỦA CÔNG TY XÂY DỰNG SỐ 1
(VINACONEX_1)
Trang 302.1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG SỐ 1(VINACONEX_1).
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển.
- Công ty cổ phần xây dựng số 1- VINACONEX1 là doanh nghiệphạng 1 thành viên của Tổng công ty Cổ phần xuất nhập khẩu xây dựng ViệtNam VINACONEX JSC Vốn điều lệ của công ty là 35 tỷ, doanh thu hàngnăm trên 250 tỷ và lao động trong công ty có trên 900 người Công ty có giấyphép hoạt động sản xuất kinh doanh trên địa bàn cả nước
Địa điểm hiện tại: Vinaconex có trụ sở đóng tại nhà D9- đường KhuấtDuy Tiến- phường Thanh Xuân Bắc- quận Thanh Xuân- Thành phố Hà Nội
Số điện thoại : 04-8544057 / 8543206 Fax : 04-8541679
Email: Vinaconex1@Saigonnet.vn
- Công ty được thành lập năm 1973 với tên gọi ban đầu là công ty xâydựng Mộc Châu trực thuộc Bộ Xây Dựng có nhiệm vụ xây dựng khu côngnghiệp Mộc Châu- tỉnh Sơn La Từ năm 1977 đến năm 1981 công ty được đổitên là công ty xây dựng số 11 trực thuộc Bộ Xây Dựng, trụ sở đóng tại thị trấnXuân Mai, Hà Sơn Bình với nhiệm vụ xây dựng nhà máy bêtông Xuân Mai vàtham gia xây dựng nhà máy thuỷ điện Hòa Bình Nhưng đến cuối năm 1981công ty được Bộ Xây Dựng cho chuyển trụ sở về Hà Nội tham gia xây dựngnhà ở Thủ đô, được Nhà Nước giao nhiệm vụ xây dựng khu nhà ở tại tiểu khuBắc, Nam Thanh Xuân- Hà Nội
- Năm 1984 chủ tịch hội đồng bộ trưởng kí quyết định số 196/ CT đổitên công ty thành: Xí nghiệp Liên hợp xây dựng nhà ở tấm lớn số 1 thuộc BộXây Dựng với nhiệm vụ chính là xây nhà dân dụng và công nghiệp
- Năm 1993 Liên lợp nhà ở tấm lớn số 1 được Bộ Xây Dựng cho phépđổi tên thành Liên hợp xây dựng số 1 thuộc Bộ Xây Dựng với nhiệm vụ làxây dựng các công trình dân dụng và công nghiệp
Trang 31- Năm 1995 với chủ trương của Đảng và Nhà Nước: sắp xếp lại cácdoanh nghiệp nhà nước Bộ Xây Dựng ra quyết định sát nhập liên hợp xâydựng số 1 vào tổng công ty xuất nhập khẩu xây dựng Vinaconex và từ đómang tên mới: Công ty xây dựng số 1 (Vinaconex-1) Nhưng ngày29/08/2003 Bộ Xây Dựng ra quyết định số 1173/QĐ_BXD về việc chuyểnđổi doanh nghiệp nhà nước thành lập công ty cổ phần theo luật kinh doanh.Bởi vậy công ty lại mang tên mới là: Công ty cổ phần xây dựng số 1(Vinaconex_1) thành viên của Tổng công ty.
2.1.2 Đặc điểm hoạt động kinh doanh của công ty cổ phần xây dựng số 1.
Công ty cổ phần xây dựng số 1 là công ty con của Tổng công ty cổphần Xuất nhập khẩu xây dựng Việt Nam Bản thân là doanh nghiệp xây lắpnên lĩnh vực sản xuất kinh doanh của công ty thuộc ngành xây dựng Theogiấy phép đăng kí kinh doanh do Sở kế hoạch và đầu tư Hà Nội đã cấp thìcông ty được phép kinh doanh các ngành nghề sau:
* Xây dựng các công trình đường dây và trạm biến thế
* Xây dựng các công trình dân dụng và công nghiệp
* Xây dựng các công trình hạ tầng
* Kinh doanh phát triển khu đô thị mới, hạ tầng khu công nghiệp vàkinh doanh bất động sản
* Sản xuất kinh doanh vật liệu xây dựng
* Tư vấn đầu tư, thực hiện các dự án đầu tư xây dựng, lập dự án, tưvấn đấu thầu, tư vấn giám sát, quản lý dự án
* Kinh doanh khách sạn du lịch, lữ hành
* Đại lý cho các hãng trong và ngoài nước kinh doanh các mặt hàngphục vụ sản xuất và tiêu dùng
* Xuất nhập khẩu vật tư, thiết bị, vật liệu xây dựng
Với sự nổ lực phấn đấu của tập thể cán bộ công nhân viên và sự chỉđạo sát sao của lãnh đạo công ty, sự giúp đỡ của các phòng ban Tổng công
Trang 32ty, công ty đã hoàn thành vượt mức kế hoạch sản xuất kinh doanh đề ra Đặcbiệt là công tác đầu tư kinh doanh phát triển nhà đã có bước đột phá làmchuyển dịch đáng kể cơ cấu sản xuất kinh doanh phát triển ổn định và bênvững Cụ thể, một số công trình mà công ty đã hoàn thành trong thời giangần đây là:
Tràng Tiền Plaza
Trung tâm hội nghị Quốc gia
Khách sạn Sài Gòn_ Hạ Long
Toà nhà 34 tầng Trung Hoà Nhân Chính
Nhà máy xi măng Ninh Bình
Sân vận động Quốc Gia Mỹ Đình
Uỷ Ban Nhân Dân Thành phố Hạ Long, Quảng Ninh
2.1.3 Đặc điểm về cơ cấu tổ chức của công ty cổ phần xây dựng số 1.
Là một doanh nghiệp có quy mô, địa bàn hoạt động rộng lớn nên ngoàinhững đặc điểm chung của ngành xây dựng công ty còn mang một số đặcđiểm riêng như sau:
Việc tổ chức sản xuất kinh doanh ở công ty mang hình thức khoángọn các công trình, hạng mục công trình, khối lượng các công việc cho cácđơn vị trực thuộc
Các đội, đơn vị trực thuộc được công ty cho phép thành lập bộphận quản lý độc lập Được sử dụng lực lượng lao động của đơn vị hoặc lựclượng lao động ngoài xã hội nhưng phải đảm bảo chất lượng, kỹ thuật, mỹthuật, an toàn lao động, tiến độ thi công và hiệu quả kinh doanh
Các đơn vị trong công ty gồm các đội, chi nhánh, nhà máy Banchủ nhiệm công trình là những đơn vị hoạch toán phụ thuộc, không có tư cáchpháp nhân chỉ có công ty có tư cách pháp nhân Công ty đảm nhận mọi quan
hệ đối ngoại với các đối tác bên ngoài Giữa các đội và đơn vị khác trong
Trang 33công ty có mối liên hệ mật thiết với nhau, phụ trợ và giúp đỡ lẫn nhau trongquá trình hoạt động Các đơn vị, đội được ứng vốn để thi công công trình theo
kế hoạch sản xuất của mình
Bộ máy quản lý của công ty được tổ chức theo mô hình trực tuyếnchức năng: Đứng đầu Công ty là giám đốc chịu trách nhiệm trước Đại hộiđồng cổ đông về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty Để hỗtrợ cho giám đốc có: Phó giám đốc kỹ thuật, Phó giám đốc kinh doanh vàcác Phó giám đốc chi nhánh được cấp trên bổ nhiệm theo đề cử của giám đốccông ty Công ty có 6 phòng ban giúp giám đốc điều hành công việc Trưởngphòng là người triển khai công việc mà giám độc giao và chịu trách nhiệmtrước giám đốc về tình hình và kết quả thực hiện các công việc đó Để đảmbảo các công việc không bị gián đoạn khi trưởng phòng đi vắng thì mỗiphòng có thêm một phó phòng Bộ phận quản lý trực tiếp tại công ty là cácđơn vị, đội và các ban chủ nhiệm công trình Ở bộ phận này có bộ máy quản
lý khá độc lập, được giao quyền tương đối rộng rãi theo sự phân cấp củagiám đốc Đứng đầu là thủ trưởng đơn vị, trực tiếp điều hành mọi hoạt độngkinh doanh, đồng thời chịu trách nhiệm trước lãnh đạo công ty về mọi hoạtđộng của đơn vị Ngoài ra cũng có các cán bộ phụ trách ở những mảng cụthể
Trang 34
sơ đồ2.1: Cơ cấu tổ chức công ty cổ phần xây dựng số 1 (Vinaconex-1):
P.Giám đốc công ty
Phòng tổ chức hành chính
Đại hội đồng cổ đông Hội đồng quản trị Ban kiểm soát Giám đốc công ty
P.Giám đốc công ty P.Giám đốc công ty
Phòng thiết
bị vật tư
Phòng Đầu tư
Phòng tài chính kế
toán
Đội xây dựng 2 Đội xây dựng 3 Đội xây dựng 4 Đội xây dựng 5 Đội xây dựng 6 Đội xây dựng 7 Đội xây dựng 1
Các ban chủ nhiệm công trình Đội xây dựng 10
Trang 352.1.3.2 Chức năng và nhiệm vụ của các phòng ban.
Phòng kinh tế- thị trường
Chức năng nhiệm vụ chính của phòng này là thực hiện quản lý công tác đấuthầu, quản lý hợp đồng xây lắp, quản lý kinh tế, đồng thời theo giỏi và quản lýviệc mua, bảo quản, sử dụng vật tư, thiết bị cung cấp cho công trình
Ví dụ như quản lý kinh tế thì phòng thực hiện các công việc chính sau:
- Xây dựng các định mức, chỉ tiêu kinh tế- kỹ thuật, đơn giá các công việc xâylắp phục vụ cho công tác đấu thầu, nhận thầu, giao khoán, thanh quyết toáncông trình
- Lập, theo dõi việc thực hiện hợp đồng giao khoán nội bộ trên cơ sở phương
án kinh tế đơn vị lập và được ban giám đốc công ty phê duyệt
- Theo dõi việc thanh quyết toán các công trình
- Tổ chức theo dõi, cập nhật các thông tin về giá cả vật tư, hàng hoá cần thiết
Phòng kỹ thuật – thi công
Phòng kỹ thuật – thi công có nhiệm vụ tham gia quản lý kỹ thuật, giámsát chất lượng công trình, quản lý tiến độ, biện pháp thi công và an toàn laođộng Đây là đầu mối tiếp nhận các thông tin về thay đổi công nghệ, áp dụngkhoa hoc - kỹ thuật Tham gia cùng các bộ phận, chức năng khác giải quyết
sự cố về an toàn lao động nếu có xẩy ra trên công trường Đồng thời kết hợpvới phòng kinh tế – thị trường tham gia lập hồ sơ dự thầu và đấu thầu, thựchiện việc kiểm tra khối lượng dự toán, quyết toán các công trình Kiểm traviệc chuẩn bị mặt bằng thi công của các đơn vị, thiết kế kỹ thuật và các bản
vẻ thi công công trình Ngoài ra phòng kỹ thuật – thi công còn tham gia quản
lý máy móc, thiết bị và các công cụ sản xuất
Phòng Tài chính- kế toán
Trang 36Phòng Tài chính – Kế toán có chức năng tham mưu, giúp việc choGiám đốc Công ty về công tác tài chính kế toán, tổ chức hướng dẫn và chỉ đạotoàn bộ hoạt động tài chính kế toán của Công ty và các đơn vị trực thuộc.Phòng có chức năng kiểm tra giám sát công tác tài chính kế toán, xây dựng kếhoạch tài chính hàng năm và dài hạn theo kế hoạch sản xuất của Công ty,trình Giám đốc Công ty, Tổng giám đốc Tổng công ty phê duyệt Phối hợp vớicác phòng chức năng khác của Công ty để xây dựng cơ chế khoán, lập kếhoạch về chỉ tiêu tài chính trên cơ sở kế hoạch sản lượng của Công ty gửiPhòng Kinh tế – thị trường để tổng hợp báo cáo.
Phòng đầu tư
Phòng đầu tư có chức năng thực hiện các quy định của công ty tronglĩnh vực có liên quan thường xuyên như: lập kế hoạch đầu tư cho các dự ánđầu tư, lập báo cáo nghiên cứu khả thi, thực hiện và quản lý các dự án đầu tưcho công ty về tình hình thực hiện các dự án đầu tư đồng thời có kiến nghị cácbiện pháp cần thiết để dự án đầu tư được thực hiện một cách hiệu quả nhất
Phòng tổ chức hành chính
Phòng Tổ chức Hành chính có chức năng tham mưu giúp cho Giám đốcCông ty trong lĩnh vực quản lý nhân sự, sắp xếp tổ chức, quản lý bồi dưỡngcán bộ , thực hiện các chế độ chính sách của nhà nước đối với người laođộng Thực hiện chức năng lao động tiền lương và quản lý hành chính vănphòng của Công ty Phối hợp với Phòng Tài chính - Kế toán xây dựng cácđịnh mức lao động, đơn giá tiền lương, quỹ tiền lương, các quy chế phân phốitiền lương và tiền thưởng theo quy định của nhà nước và hiệu quả sản xuấtkinh doanh của doanh nghiệp Xây dựng chương trình thanh tra, kiểm tra nội
bộ, theo dõi tiếp nhận và xử lý các đơn khiếu nại tố cáo Phòng Tổ chức Hànhchính là thường trực trong công tác tiếp dân, thực hiện nhiệm vụ bảo vệ chính
Trang 37trị nội bộ, tổ chức tiếp các đoàn thanh tra, kiểm tra những lĩnh vực liên quanđến chức năng của phòng.
Phòng thiết bị vật tư
Chức năng chính của phòng thiết bị vật tư là thực hiện cung cấp vật tưcho tất cả các đơn vị trực thuộc, thực hiện lưu kho và bảo quản nguyên vậtliệu, kiểm soát theo dõi các thiết bị trong thời gian lưu kho cho đến lúc thiết
bị được bàn giao xem có đầy đủ không? Và đến lúc thiết bị phải bảo dưỡngthì đây cũng chính là nơi sẽ thực hiện bảo dưỡng định kỳ cho tất cả các thiếtbị
2.2 CƠ CHẾ TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG SỐ 1 (VINACONEX_1)/
2.2.1 Các quyết định về quy chế tài chính của công ty cổ phần xây dựng
số 1(Vinaconex_1).
Ngày 05/05/1993 Bộ xây dựng đã ra quyết định số 1743/BXD-TCLD
về việc thành lập lại xí nghiệp liên hợp xây dựng số 1, với tổng quy mô vốnbao gồm vốn ngân sách nhà nước cấp và vốn tự bổ sung là 14070 triệu đồng.Trong đó vốn được nhà nước cấp là 13916 triệu đồng và vốn doanh nghiệp tự
bổ sung là 154 triệu đồng Tiếp đó, QĐ số 704/BXD- TCLĐ của Bộ trưởng
Bộ xây dựng lại quy định đổi tên xí nghiệp liên hợp số 1 thành công ty xâydựng số 1 vào ngày 19/07/1995 Và sau 3 năm ngày 08/04/1999 công ty đãcho ra đời quy chế tài chính của riêng công ty với nội dung khá đầy đủ.Nhưng quy chế tài chính này chỉ đúng với các doanh nghiệp nhà nước Theo
QĐ số 1173/ QD- BXD thì công ty này lại được chuyển thành công ty cổphần Bởi vây, nhằm đáp ứng với sự thay đổi đó, quyết định số 2569CT1/TC-
KT quy định của Giám đốc công ty về việc ban hành quy chế quản lý tạm thờingày 30/11/2003 đã ra đời, có hiệu lực từ ngày 01/12/2003 Và hiện nay,công ty vẫn đang áp dụng theo quy chế quản lý tạm thời đó
Trang 38Quy chế này chủ yếu tập trung vào việc xây dựng và phát triển các quyđịnh liên quan đến vấn đề tài chính trong công ty Đó là về quản lý vốn, tàisản; về quản lý doanh thu, chi phí, những nguyên tắc trong giao khoán nội bộ,những quy định về thuế thu nhập doanh nghiệp, về quản lý cho vay và nhữngquy chế về công tác kế toán và hạch toán kế toán trong công ty.
- Ngoài ra còn có một số quy định khác như: Niên độ tài chính của công tyluôn bắt đầu từ ngày 01/01 đến ngày 31/12 mỗi năm Mọi khoản thu nhập –chi phí đều phải được hạch toán hết trong năm tài chính
Đối với Báo cáo tài chính: Công ty cũng tuỳ hoạt động sản xuất của từngđơn vị mà có những quyết định riêng
Những đơn vị là chi nhánh, xí nghiệp, nhà máy hoạt động sản xuất kinhdoanh có hiệu quả, hạch toán kế toán sổ kép rõ ràng theo chuẩn mực kế toánthì phải lập những báo cáo sau đây: Nhật ký chung, báo cáo các khoản mụcchi phí từng công trình, báo cáo giá thành sản phẩm, bảng cân đối kế toán, báocáo hoạt động sản xuất kinh doanh, thuyết minh báo cáo tài chính Sau đó hàngquý những đơn vị này sẽ lập và nộp báo cáo Tài chính cho phòng Tài chính - kếtoán công ty, cục thuế địa phương, phòng Tài chính – kế toán căn cứ vào báo cáocủa đơn vị cộng chung vào kết quả của công ty Toàn bộ chứng từ gốc sau khiđược cơ quan thuế duyệt xong thì nộp cho phòng Tài chính – kế toán
Những đơn vị còn lại như các đội…sẽ phải lập những báo cáo sau đây:Nhật ký chung, Báo cáo các khoản mục chi phí từng công trình, Báo cáo giáthành sản phẩm, bảng cân đối tài chính, chi tiết từng đối tượng các khoản phảithu, phải trả Hàng tháng đơn vị nộp chứng từ gốc, lập và nộp báo cáo Tàichính cho phòng Tài chính- kế toán công ty
Trang 39Công ty cũng quy định hàng năm, bản thân công ty phải được tổ chứckiểm toán nội bộ và kiểm toán độc lập nhằm đảm bảo tính an toàn trong quátrình phát triển của công ty trong tương lai.
2.2.2 Quy chế chi trả lương trong công ty.
* Hình thức chi trả lương.
Do đặc điểm sản xuất kinh doanh của mình nên thỏa ước lao động tậpthể ngày 16 tháng 02 năm 2005 quy định áp dụng hình thức trả lương theo sảnphẩm( lương khoán theo khối lượng công việc hoàn thành) để trả cho khốitrực tiếp sản xuất và hình thức trả lương theo thời gian để trả cho khối quảnlý
* Thời gian thanh toán lương
- Hàng tháng người lao động được trả lương làm 2 kỳ Kỳ 1 là tạm ứng từ30% đến 60% lương vào ngày 18 đến ngày 22; Kỳ 2 thanh toán lương từngày 5 đến ngày 13 tháng sau
- Nếu do trường hợp đặc biệt mà không trả lương được đúng hạn thì có thểdời sang tháng sau nhưng nhất thiết phải có tạm ứng lương
* Cách thức tính quỹ lương.
Căn cứ vào hai hình thức chi trả lương trên mà công ty cũng có hai quỹ lươngtương ứng Đó là quỹ lương thời gian và quỹ lương sản phẩm
- Phương pháp xây dựng tổng quỹ lương:
Tổng quỹ lương = Tổng doanh thu x Đơn giá tiền lương
Hiện tại đơn giá tiền lương là 240đ/ 1000đ doanh thu, xấp xỉ bằng 24%
Lương thời gian:
Là hình thức lương tính theo thời gian làm việc, hệ số cấp bậc và mứclương cơ bản của người lao động Theo hình thức này thì tiền lương cơ bản vàlương năng suất được tính như sau:
Lương cơ bản = Hệ số lương x 540000 x ngày công
Trang 40Lương năng suất
=
Mức lương năng suất x hệ số hoàn thành x ngày công thực tế
số ngày công trong tháng
Lương sản phẩm= Số lượng sản phẩm x Đơn giá lượng sản phẩm
Số lương sản phẩm được tính theo khối lượng công việc hoàn thànhcông việc hoàn thành như: diện tích sàn đã lát, số cân sắt đã uốn được, số métdây điện đã mắc …
Ngoài ra còn các khoản phụ cấp khác như: nghỉ phép, đi học,…đượcxác định bằng:
Phụ cấp = số ngày vắng mặt x Mức lương cơ bản bình quân ngày
Tiền lương của công nhân gián tiếp:
Bộ phận này được hưởng lương chính theo thời gian
Lương thời gian = Mức lương bình quân 1 ngày x số ngày hưởng lương thời gian x bậc lương
* Các khoản trích theo lương bao gồm: Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo
hiểm công đoàn được trích theo đúng tỷ lệ đã quy định
Tuy nhiên một điều cần lưu ý ở đây là công ty chưa tiến hành trích trướctiền lương nghỉ phép cho người lao động Như vậy, việc này cũng có thể sẽảnh hưởng đến tính chính xác của tổng chi phí trong kỳ và gián tiếp ảnhhưởng đến lợi nhuận của công ty
2.2.3 Quy chế quản lý vốn hoạt động trong công ty.