NGUYEN VAN SANG, August 2013, “Analysis theEconomic Efficiency And The Factors Affecting The Choice ofOrganic Shrimp Farming In Ben Tre Province” Đề tài nghiên cứu về hiệu quả và các yế
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
***************
NGUYỄN VĂN SANG
PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ KINH TẾ VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN LỰA CHỌN MÔ HÌNH NUÔI TÔM
SINH THÁI Ở TỈNH BẾN TRE
LU ẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH KINH TẾ TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG
Thành phố Hồ Chí Minh
- Tháng 7 năm 2013-
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
****************
NGUYỄN VĂN SANG
PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ KINH TẾ VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN LỰA CHỌN MÔ HÌNH NUÔI TÔM
SINH THÁI Ở TỈNH BẾN TRE
Ngành: Kinh T ế Tài Nguyên Môi Trường
LU ẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Người hướng dẫn: Th.S MAI ĐÌNH QUÝ
Thành phố Hồ Chí Minh
- Tháng 7 năm 2013-
Trang 3Hội đồng chấm báo cáo khoa Kinh Tế, trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố
Hồ Chí Minh xác nhận bài luận“PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ KINH TẾVÀ CÁC YẾU
T Ố ẢNH HƯỞNG ĐẾN LỰA CHỌN MÔ HÌNH NUÔI TÔM SINH THÁI Ở
T ỈNH BẾN TRE” do Nguyễn Văn Sang, sinh viên khóa 2009 – 2013, ngành Kinh Tế
Tài Nguyên Môi Trường, đã bảo vệ khóa luận tốt nghiệp thành công trước hội đồng vào ngày _.
ThS Mai Đình Quý Người hướng dẫn
Ngày tháng năm
Chủ tịch hội đồng chấm báo cáo Thư ký hội đồng chấm báo cáo
Ngày tháng năm Ngày tháng năm
Trang 4L ỜI CẢM TẠ
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, trước tiên cho con tỏ lòng biết ơn sâu
sắc đến cha mẹ, anh chị em trong gia đình đã không ngại khó khăn vất vả lo cho con
ăn học nên người
Em xin chân thành cảm ơn quý thầy cô trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố
Hồ Chí Minh đặc biệt là quý thầy cô trong Khoa Kinh tế đã tận tình dạy bảo, truyền đạt cho em những kiến thức, những bài học quý báu mà nhờ đó em có thể vận dụng nó
một cách thiết thực vào công việc và cuộc sống
Em xin trân trọng tỏ lòng biết ơn đến sự hướng dẫn tận tình của thầy giáo Mai Đình Quý, người đã giúp đỡ, hướng dẫn trực tiếp trong quá trình thực tập và hoàn thành Khoá Luận Tốt Nghiệp
Em xin chân thành cảm ơn sự quan tâm giúp đỡ của Uỷ Ban xã Vĩnh An, xã
Bảo Thuận, HĐND huyện Ba Tri, và huyện Thạnh Phú đã hết lòng chỉ dẫn, giúp đỡ
em trong quá trình thực tập và thực hiện khóa luận tốtnghiệp
Cuối cùng một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn tất cả những người đã giúp đỡ
và bên cạnh tôi, những bạn bè, những người thân quen đã giúp tôi về mặt kiến thức
cũng nhưtrong quá trình thực tập để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp
Xin chân thành cảm ơn!
TP Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2013
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Văn Sang
Trang 5N ỘI DUNG TÓM TẮT
NGUYỄN VĂN SANG, tháng 8 năm 2013,“Phân Tích Hiệu Quả và Các Yếu
T ố Ảnh Hưởng Đến Lựa Chọn Mô Hình Nuôi Tôm Sinh Thái Ở Tỉnh Bến Tre”
NGUYEN VAN SANG, August 2013, “Analysis theEconomic Efficiency And The Factors Affecting The Choice ofOrganic Shrimp Farming In Ben Tre Province”
Đề tài nghiên cứu về hiệu quả và các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mở rộng
mô hình nuôi tôm sinh thái của hộ nuôi tôm ở tỉnh Bến Tre Việc thu thập các số liệu điều tra từ hộ nuôi tôm và từ phòng TNMT, phòng PTNT huyện Ba Tri cho biết tình hình áp dụng mô hình tại địa phương
Kết quả nghiên cứu đạt được cho biết hộ đầu tư nuôi tôm sinh thái có lợi ích ròng gần 15 triệu VNĐ/1 vụ Việc nuôi tôm có trồng thêm cây rừng có hiệu quả kinh
tế cao hơn mô hình vuông tôm với kết hợp trong rừng ngập mặn Đồng thời, đề tài cũng tính toán hộ nuôi tôm thuần có lợi nhuận trung bình đạt gần 21 triệu VNĐ/1 vụ Tuy nuôi tôm thuần đạt lợi nhuận cao hơn nhưng rủi ro và chi phí đầu tư cao hơn, vì
vậy các hộ dân nghèo khó có thể nuôi tôm thuần
Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn mô hình nuôi tôm sinh thái cho biết các biến diện tích đất nuôi tôm, hiểu biết kỹ thuật nuôi tôm sinh thái, tỷ lệ
diện tích rừng trong vuông tôm, kỳ vọng giá tôm sinh thái có tác động mạnh đến quyết định chọn lựa mô hình nuôi tôm sinh thái Các yếu tố trình độ học vấn, kinh nghiệm nuôi tôm cũng có tác động đến quyết định chọn lựa của chủ hộ nhưng mà thấp
Trang 6M ỤC LỤC
Trang
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT viii
DANH MỤC CÁC BẢNG ix
DANH MỤC CÁC HÌNH x
DANH MỤC PHỤ LỤC xi
CHƯƠNG 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu chính 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3
1.2.3 Ý nghĩa của nghiên cứu 3
1.3 .Phạm vi nghiên cứu của đề tài 3
1.3.1 Phạm vi không gian 3
1.3.2 Phạm vi thời gian 3
1.3.3 Phạm vi nội dung 3
1.4 Cấu trúc bài nghiên cứu 3
CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN 5
2.1 Tổng quan các tài liệu có liên quan 5
2.1 Tổng quan về tỉnh Bến Tre 5
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 5
2.1.2 Kinh tế - xã hội 7
2.2 Tổng quan về huyện Ba Tri 8
2.2.1 Điền kiện tự nhiên 8
2.2.2 Kinh tế xã hội 12
Trang 72.2.3 Tình hình văn hóa - xã hội 14
2.3 Tổng quan về huyện Thạnh Phú 15
CHƯƠNG 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18
3.1 Nội dung nghiên cứu 18
3.2 Các khái niệm và cơ sở lý luận 19
3.2.2 Mô hình nuôi tôm thuần (không có cây rừng) 24
3.3 Phương pháp nghiên cứu 26
3.3.1 Phương pháp thu thập số liệu 26
3.3.2 Phương pháp thống kê mô tả 26
3.3.3 Phương pháp xử lý số liệu 27
3.3.4 Phương pháp tham vấn cộng đồng 27
3.3.5 Phương pháp phân tích 27
3.3.6 Phương pháp phân tích lợi ích – chi phí 27
3.3.7 Phương pháp phân tích hồi quy 29
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 32
4.1 Thực trạngnuôi tôm ở huyện Ba Tri 32
4.2 Đặc điểm mô hình nuôi tôm sinh thái tại các hộ 33
4.3 Phân tích hiệu quả kinh tế của mô hình nuôi tôm sinh thái 41
4.3.1 Phân tích hiệu quả chung của mô hình nuôi tôm 41
4.3.2 Sự khác biệt về năng suất tôm giữa 3 mô hình nuôi tôm 46
4.4 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến lựa chọn mô hình nuôi tôm sinh thái 47
4.4.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn mô hình nuôi tôm sinh thái 47
4.4.2 phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn mô hình nuôi tôm sinh thái 47
4.5 Thuận lợi và khó khăn trong việc nuôi tôm sinh thái 52
Trang 84.5.1 Thuận lợi 52
4.5.2 Khó khăn 53
4.5.3 Đánh giá lợi ích môi trường từ mô hình nuôi tôm sinh thái với nuôi tôm công nghiệp 55
4.5.4 Một số ý kiến đề xuất nhằm khuyến khích hộ chăn nuôi tôm áp dụng mô hình nuôi tôm sinh thái 55
4.5.5 Một số khuyến cáo đối với người dân khi áp dụng mô hình 56
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 58
5.1 Kết luận 58
5.2 Kiến nghị 59
TÀI LIỆU THAM KHẢO 61
Trang 10Bảng 4.1 Tình Hình Biến Động Nuôi Trồng Thủy Sản Huyện Ba Tri 33
Bảng 4.6 Tình Hình Tham Gia Các Lớp Khuyến Ngư của Chủ Hộ 38
Bảng 4.7 Sự Hiểu Biết Kỹ Thuật Nuôi Tôm Sinh Thái Của Chủ Hộ 40
Bảng 4.10 Chi Phí Đầu Tư Sản Xuất Cho 1ha Nuôi Tôm 43
Bảng 4.11 So Sánh Hiệu Quả Kinh Tế Cho 1ha Của 2 Hình Thức Nuôi Tôm 44
Bảng 4.12 So Sánh Hiểu Quả Kinh Tế Giữa 2 Mô Hình Nuôi Tôm Sinh Thái 45
Bảng 4.13 So Sánh Hiệu Quả Kinh Tế 3 Mô Hình Nuôi Tôm 46
Bảng 4.14 Dự Đoán Năng Suất Tôm trên 1ha Các Mô Hình Nuôi Tôm Của Hộ
Bảng 4.15 Giá Trị Trung Bình Các Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Quyết Định Lựa
Bảng 4.17 Dấu Ước Lượng và Kết Quả Kiểm Định P – value (α = 10%) 50
Bảng 4.18 Sác xuất chọn lựa mô hình nuôi tôm sinh thái của chủ hộ khi một yếu
Trang 11Trang
Hình 3.2 Đồ Thị Thể Hiện Các Mô Hình Nuôi Tôm Của Hộ Nuôi Tôm 23
Trang 12Phụ lục 1 Các bảng kết xuất mô hình Logit
Phụ lục 2 Một Số Hình Ảnh về Mô Hình Nuôi Tôm Sinh Thái
Phụ lục 3: Bảng câu hỏi
Trang 13CHƯƠNG 1
4
1.1 1Đặt vấn đề
Nền kinh tế nước ta hiện nay ngành thủy sản có vai trò quan trọng với người dân sống vùng ven biển, ven sông và các hải đảo Trong nuôi trồng thủysản trên thế
giới cũng như ở Việt Nam, nghề nuôi tôm là một trong những nghề phát triển mạnh Trong khi đó nuôi tôm đang trở thành nghề mũi nhọn của ĐBSCL nói chung và Bến Tre nói riêng Nghề nuôi tôm những năm gần đây phát triển mạnh ở tỉnh Bến Tre, phát triển không chỉ về chất lượng mà còn tăng trưởng về diện tích Điều này dẫn đến rất nhiều diện tích rừng ngập mặn nước ta bị tàn phá nặng nề do người dân phá rừng nuôi tôm
Năm 1943, ở Việt Nam có khoảng 408.500 ha rừng ngập mặn, diện tích này tập trung chủ yếu ở phía nam (Đỗ Đình Sâm, et al, 2005) Theo báo cáo của cục lâm nghiệp, diện tích rừng ngập mặn ở Việt Nam đã suy giảm một cách nghiêm trọng Năm 1962, diện tích là 290.000 ha và đến năm 1982 diện tích chỉ còn 252.000 ha vào năm 2000 chỉ còn 155.290 ha (FAO, 2007) Hiện nay diện tích chỉ khoảng 209.740 ha, trong đó chỉ có 21% diện tích là rừng tự nhiên và phần còn lại được trồng Diện tích
rừng ngập mặn đã suy giảm đáng kể, mà nguyên nhân chủ yếu là do áp lực gia tăng dân số, phá rừng lấy đất canh tác, đặc biệt con người phá rừng nuôi thủy sản chủ yếu
là nuôi tôm
Hằng năm, ở các cửa sông một lượng lớn phù sa bồi lắng tạo ra các bãi phù sa, bãi bùn tạo điều kiện cho các loài cây chịu mặn phát triển như bần, sú, vẹt, dừa nước, đước.v.v Chúng phát triển thành rừng ngập mặn Rừng ngập mặn đem lại vô số nguồn
lợi ích cho chúng ta: Giúp duy trì đa dạng sinh học, là nơi cung cấp thức ăn, cư trú rất nhiều loài chim di cư, nhiều loài thủy sản.v.v.Rừng ngập mặn phát triển ở khu vực ven
Trang 14biển, chúng như một con đê chắn sóng, giảm tốc độ gió, hạn chế thiệt hại do sóng thần gây ra Ngoài ra, rừng ngập mặn còn hạn chế, ngăn chặn quá trình xâm nhập mặn, làm
giảm phạm vi đất bị nhiễm mặn.Nếu không có rừng ngập mặn thì nước mặn sẽ theo dòng triều lên và được gió hỗ trợ sẽ lấn sâu vào đất liền, ảnh hưởng đến vùng nước
ngọt Ngoài ra, chúng như một “bức tường xanh” vững chắc Hệ thống rễ trên mặt đất
của các cây này làm giảm tác hại của sóng, nhờ đó bảo vệ được bờ biển và chân đê
khỏi bị xói lỡ do sóng và nước biển dâng Đồng thời chúng cũng như lá phổi xanh của vùng cư dân vùng ven biển
Bến Tre là một Tỉnh của ĐBSCL, nằm giáp với biển đông rất thuận lợi cho nghề nuôi trồng và đánh bắt thủy sản Nghề nuôi tôm của Tỉnh phát triển rất mạnh trong những năm gần đây Diện tích nuôi tôm không ngừng mở rộng dẫn đến rất nhiều cánh rừng ngập mặn ven biển đã biến mất do người dân phá rừng nuôi tôm Đồng thời,
diện tích nuôi tôm sinh thái ven biển cũng giảm dần theo sự gia tăng diện tích nuôi tôm thuần
Dịch bệnh phát triển đã làm nhiều gia đình nuôi tôm phá sản, thua lỗ do môi trường nước, môi trường đất bị ô nhiễm Nếu có rừng ngập mặn, tất cả các chất độc đó
sẽ được thanh lọc dần Chính rừng ngập mặn là yếu tố trung hòa và tiêu hủy chất thải
do hoạt động nuôi tôm Sự kết hợp hài hòa giữa rừng nhập mặn và nuôi tôm sẽ là yếu
tố sống còn cho cư dân vùng này Bài toán đó không phải một gia đình làm được Nó đòi hỏi cả cộng đồng phải cùng chung sức và đồng lòng thế mới có thể thực hiện thành công
Đứng trước yêu cầu vừa bảo tồn hệ sinh thái đất ngập nước, đặc biệt là rừng
ngập mặn vừa đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, nâng cao đời sống người dân nói
chung và người nuôi tôm nói riêng tôi thực hiện nghiên cứu đề tài “ Phân tích hiệu
qu ả kinh tế và các yếu tố ảnh hưởng đến lựa chọn mô hình nuôi tôm sinh thái ở
t ỉnh Bến Tre”
1.2 1Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 2Mục tiêu chính
Phân tích hiệu quả kinh tế và các yếu tố ảnh hưởng đến lựa chọn mô hình nuôi tôm sinh thái ở tỉnh Bến Tre
Trang 151.2.2 2Mục tiêu cụ thể
- Tìm hiểu thực trạng nuôi tôm thuần và nuôi tôm sinh thái ở huyện Ba Tri
- Phân tích hiệu quả kinh tế của mô hình nuôi tôm thuần và mô hình nuôi tôm sinh thái
- Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn nuôi tôm sinh thái và xây dựng mô hình ước lượng quyết định lựa chọn của người dân
- Đề xuất các giải pháp và khuyến cáo cho nhà nước, người dân và các tổ chức về
mô hình nuôi tôm sinh thái
1.2.3 3Ý nghĩa của nghiên cứu
Đề tài xuất phát từ thực trạng nuôi tôm trong rừng ngập mặn tại tỉnh Bến Tre nên có ý nghĩa thiết thực Đây sẽ là tài liệu tham khảo cho bà con nông dân và chính quyền xã, huyện giúp cho hoạt động nuôi tôm ngày càng tốt hơn, góp phần nâng cao thu nhập ổn định đời sống cho người dân, đồng thời chất lượng môi trường qua đó cũng được cải thiện
1.3 1.Ph ạm vi nghiên cứu của đề tài
1.4 1C ấu trúc bài nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu gồm 5 chương:
Chương 1 Mở đầu
Trình bày sự cần thiết của đề tài, mục tiêu nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu và
cấu trúc của khóa luận
Chương 2 Tổng quan
Giới thiệu tổng quan về tài liệu tham khảo, trình bài về điệu kiện tự nhiên, kinh
tế, xã hội của địa bàn nghiên cứu
Chương 3 Cở sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Trình bài một số khái niệm liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu, các chỉ tiêu sử
dụng và phương pháp nghiên cứu
Trang 16Chương 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Trình bài các kết quả nghiên cứu và thảo luận các kết quả nghiên cứu mà khóa
luận đạt được trong quá trình nghiên cứu khảo sát thực nghiệm 95 mẫu điều tra ở địa bàn nghiên cứu
Chương 5 Kết luận và kiến nghị
Tóm lược các kết quả nghiên cứu và đưa ra những kiến nghị của tác giả
Trang 17CHƯƠNG 2
5
2.1 1Tổng quan các tài liệu có liên quan
Trong quá trình nghiên cứu đề tài “ Phân tích hiểu quả kinh tế và các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn mô hình nuôi tôm sinh thái ở tỉnh Bến Tre” có tham
khảo các tài liệu liên quan chuyên ngành kinh tế, chuyển đổi nông nghiệp cũng như tham khảo các luận văn tốt nghiệp của các sinh viên khoa Kinh Tế - Đại Học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh
Nguyễn Chí Hải, 2011, Đánh giá hiệu quả kinh tế và môi trường của mô hình canh tác “lúa sạch” tại huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre, thì với 1 công lúa – tôm trong
một năm sẽ thu được lợi nhuận là 5.483.000 (VNĐ) với chi phí là 3.171.000 VNĐ và doanh thu 8.654.000 VNĐ, lợi nhuận gấp đôi lúa thường Đồng thời, đề tài cũng phân tích các yếu tố như: Lao động, phân bón, số lần tham gia tập huấn, ảnh hưởng nhiều đến năng suất cùng với biến Dummy là biến mô hình (sạch và thường) dẫn đến sự khác biệt về năng suất
Nguyễn Hữu Tiến, 2009, Đánh giá hiệu quả kinh tế môi trường mô hình nuôi tôm sinh thái tại Phân Trường 184, Huyện Năm Căn, Tỉnh Cà Mau Đề tài tìm hiểu về
hiệu quả kinh tế môi trường của mô hình nuôi tôm sinh thái ở Phân trường 184 trên cơ
sở điều tra 70 hộ nuôi tôm sinh thái tại Phân trường 184, huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau Đồng thời đề tài còn dùng phương pháp phân tích hồi quy để phân tích các yếu
tố đầu vào ảnh hưởng đến năng suất tôm sinh thái Qua đề tài cho thấy nuôi tôm sinh thái còn gặp khó khăn về vốn, con giống, tỷ lệ rừng, tuổi rừng
2.1 1Tổng quan về tỉnh Bến Tre
2.1.1 3Điều kiện tự nhiên
a) Vị trí địa lý
Trang 18Bến tre là một tỉnh của ĐBSCL, nằm cuối nguồn sông Cửu Long, tiếp giáp biển Đông với chiều dài đường biển khoảng 65 km và các tỉnh Tiền Giang, Trà Vinh, Vĩnh Long Trung tâm của tỉnh Bến Tre cách Thành Phố Hồ Chí Minh 87 km về phía Tây qua tỉnh Tiền Giang và Long An
Tỉnh Bến Tre có hình rẻ quạt, đầu nhọn ở thượng nguồn, với các hệ thống kênh ngòi chằn chịt Phía Bắc giáp với tỉnh Tiền Giang, có ranh giới chung là sông Tiền, phía Tây và phía Nam giáp với Vĩnh Long và Trà Vinh, có ranh giới chung là sông Cổ Chiên, phía Đông giáp với Biển Đông với chiều dài bờ biển 65 km Bến Tre có bốn con sông lớn là Tiền Giang, Ba Lai, Hàm Luông, Cổ Chiên bao bọc, đồng thời chia
Bến Tre thành ba phần là cù lao An Hóa, cù lao Bảo, cù lao Minh phù sa màu mỡ, cây trái sum sê.v.v.Điểm cực Nam nằm trên vĩ độ 90
Địa hình Bến Tre có độ cao trung bình từ 1 – 2 mét so với mực nước biển, thấp
dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam, độ cao chênh lệch khá lớn, tối đa là 3,5 mét Trong
đó, phần cao nhất thuộc huyện Chợ Lách và một phần huyện Châu Thành, độ cao tuyệt đối có nơi cao trên 5 mét, nhưng đa số từ 3 – 3,5 mét Phần đất thấp có độ cao trung bình khoảng 1,5 mét, tập trung tại các vùng Phước An, Phước Tú ở huyện Châu Thành
hoặc Phong Phú, Phú Hòa ở huyện Giồng Trôm Phần đất trũng, độ cao không quá 0,5 mét, phân bố ở các huyện ven biển như huyện Bình Đại, Ba Tri và Thạnh Phú Địa hình bờ biển của Tỉnh chủ yếu là các bãi bồi rộng ra biển hàng ngìn mét, tạo thuận lợi cho nuôi trồng thủy sản
Bến tre có 4 nhóm đất chính là nhóm đất cát, nhóm đất phù sa, nhóm đất phèn
và nhóm đất mặn Trong đó nhóm đất mặn chiếm diện tích lớn nhất trong các loại đất
của Tỉnh 43,11%, nhóm đất phù sa chiếm 26,9% diện tích toàn Tỉnh, nhóm đất phèn chiếm khoảng 6,74% diện tích đất tự nhiên của Tỉnh, nhóm đất cát chủ yếu là loại đất
giồng chiếm diện tích thấp nhất 6,4% diện tích toàn Tỉnh
c) Khí h ậu
Bến tre nằm trong vùng có khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, nhưng lại
nằm ngoài ảnh hưởng của gió mùa nhiệt đới, nên nhiệt độ cao, ít biến đổi trong năm,
Trang 19nhiệt độ trung bình hằng năm từ 260
C – 270C Tỉnh Bến Tre chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau và gió Tây Nam từ tháng 5 đến tháng
11, giữa hai mùa này thời kỳ chuyển tiếp có hướng gió thay đổi vào các tháng 11 và tháng 4 tạo nên 2 mùa rõ rệt
2.1.2 3Kinh t ế - xã hội
Bến tre có diện tích trồng lúa khá lớn, do phù sa sông Cửu Long bồi đấp, đặc
biệt là ở Hàm Luông Cây lương thực chính là cây lúa, hoa màu phụ cũng chiếm phần quan trọng là khoai lang, bắp, và các loại rau Mía được trồng nhiều tại các vùng đất phù sa ven sông rạch; nổi tiếng nhất là có các loại mía tại Mỏ Cày và Giồng Trôm
Diện tích trồng thuốc lá tập trung ở Mỏ Cày, nơi có loại thuốc thơm cũng nổi tiếng
Bến Tre có nhiều loại cây ăn trái như cam, quít, sầu riêng, chuối, chôm chôm, măng cụt, mãng cầu, xoài cát, bòn bon, khóm, vú sữa, bưởi da xanh Chúng được
trồng nhiều ở Chợ Lách, Giồng Trôm,Mỏ Cày và Châu Thành Ngoài đặc sản là kẹo
dừa, bánh tráng Mỹ Lồng, bánh Phồng Sơn Đốc Làng nghề Cái Mơn, huyện Chợ Lách, hằng năm cung ứng cho thị trường hàng triệu giống cây ăn quả và cây cảnh nổi
tiếng khắp nơi Năm 2012, tỉnh Bến Tre đề ra mục tiêu cơ bản của năm là tăng trưởng đạt 10%, cải thiện đời sống nhân dân, giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống còn 11%, bảm đảm
an sinh xã hội, giữ vững chính trị
Trong 6 tháng đầu năm 2012, mặc dù kinh tế tỉnh gặp nhiều khó khăn nhưng
vẫn tiếp tục duy trì và phát triển, tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) đạt 6,29%, thị trường xuất khẩu được giữ vững và có bước phát triển, xuất khẩu tăng trưởng khá,
tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 197,72 USD Cơ cấu cây trồng, vật nuôi chuyển theo hướng tăng năng suất, chất lượng, hiệu quả mô hình trồng xen, nuôi xem trong vườn
dừa tiếp tục được triển khai và nhân rộng, dịch bệnh nguy hiểm trên gia xúc, gia cầm không xảy ra Sản xuất công nghiệp duy trì và phát triển khá, hoạt động thương mại
nội địa đáp ứng được nhu cầu sản xuất và tiêu dùng trong nhân dân Tổng vốn đầu tư cho toàn xã hội 5.360 tỷ đồng Chất lượng phục vụ các ngành dịch vụ đáp ứng tốt nhu
cầu
Trang 202.2 1T ổng quan về huyện Ba Tri
2.2.1 3Điền kiện tự nhiên
a) V ị trí địa lý
Huyện Ba Tri nằm phía cuối dãy cù lao Bảo, phía Đông của tỉnh Bến Tre, là
một trong ba huyện ven biển của tỉnh Bến Tre Trung tâm huyện Ba Tri cách thành
phố Bến Tre 37 km theo đường tỉnh 885, nằm trong tọa độ địa lý từ 90
57’38” đến
10011’14” độ Bắc và từ 1060
28’17” đến 1060
41’14”kinh độ Đông
Có ranh giói như sau:
-Phía Bắc và phía Đông Bắc giáp huyện Bình Đại qua ranh giới tự nhiên là sông Ba Lai
- Phía Nam giáp với huyện Thạnh Phú qua ranh giới tự nhiên là sông Hàm Luông
- Phía Đông và Đông Nam giáp biển Đông
- Phía Tây và Tây Bắc giáp huyện Giồng Trôm
- Huyện Ba Tri nằm trên đoạn cuối của trục đường tỉnh 885 nối thành phố Bến Tre qua Giồng Trôm Về đường thủy, Ba Tri nằm giữa hai tuyến sông lớn là Ba Lai và Hàm Luông
Huyện Ba Tri nằm cuối dãy cù lao Bảo, giáp với biển Đông với khoảng 12 km
bờ biển, làm cho Ba Tri có nhiều thuận lợi trong phát triển kinh tế biển, đánh bắt và nuôi trồng thủy sản
Về giao thông đường bộ, huyện Ba Tri nằm cuối trục Đường tỉnh 885, cách thành phố Bến Tre khoảng 37 km, cách thị trấn Giồng Trôm khoảng 15 km nên thuận
lợi trong việc giao lưu kinh tế với các huyện trong nội bộ cù lao Bảo Mặt khác, cống đập Ba Lai sau khi hoàn thành đã nối liền Huyện với huyện Bình Đại và bến phà An Đức – Mỹ An sau khi đi vào hoạt động nối liền Ba Tri với huyện Thạnh Phú qua sông Hàm Luông đã rút ngắn khoảng cách vận chuyển hàng hóa cũng như tạo điều kiện thuận lợi trong đi lại cho nhân dân huyện Ba Tri đến các Huyện lân cận
Trang 21Hình 2.1 B ản Đồ Hành Chính Huyện Ba Tri
Nguồn: bentre.gov.vn b) T ổ chức hành chính
Huyện Ba Tri có tổng diện tích tự nhiên 35.837,61 ha, dân số 189.000 người chiếm 15,29% di tện tích toàn tỉnh (2011) Huyện gồm có 24 đơn vị hành chính, trong
đó có 23 xã: Tân Xuân, Mỹ Hòa, Mỹ Chánh, Mỹ Nhơn, Mỹ Thạnh, An Phú Trung, Tân Hưng, An Ngãi Tây, An Hiệp, An Bình Tây, Phú Lễ, Phú Ngãi, Phước Tuy, Bảo
Thạnh, Bảo Thuận, Tân Thủy, Vĩnh Hòa, Vĩnh An, An Đức, An Hòa Tây, An Thủy
Trang 22mùa Đông Bắc Đây cũng là thời kỳ khó khăn về nguồn nước sinh hoạt, chăn nuôi và
trồng trọt, nước sinh hoạt cho người dân trong huyện, nhất là các xã ven biển như Bảo Thuận, Tân Xuân,
- Mưa
+ Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 11 hằng năm do chịu ảnh hưởng của chế độ gió mùa Tây Nam Lượng mưa trung bình hằng năm đạt 1.250 – 1.500 mm Lượng mưa tập trung nhiều nhất vào tháng 6 – 7 , lượng mưa trung bình từ
170 – 250 mm Trong hai tháng này, mỗi tháng có 13 đến 14 ngày có mưa, chiếm khoảng 90% lượng mưa cả năm, vào mùa này quang năng thấp, độ ẩm cao, lượng bốc hơi yếu,
+ Mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 hằng năm, trùng với gió Đông Bắc (vận tốc khoảng 2,4 m/s), vào mùa khô quang năng cao, lượng bốc hơi cao, ẩm độ thấp, nước mặn từ biển xâm nhập sâu vào đất liền dưới tác động của triều cường, gió Xu hướng xâm nhập mặn ngày càng nghiêm trọng do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu và nước biển dâng
d) Tài nguyên nước và chế độ thủy văn
- Tài nguyên nước
+ Nước mặt: Do vị trí nằm ở giữa các sông chính của tỉnh nên huyện Ba Tri
chịu ảnh hưởng của biển Đông, các con sông lớn là Hàm Luông và Ba Lai với chế độ bán nhật triều Bên cạnh 2 con sông lớn Ba Tri còn có hệ thống sông rạch chằn chịt như: rạch Ba Tri, rạch Cái Bông, rạch Kênh 9A,.v.v Các kênh rạch có xu hướng phát triển theo hướng Bắc – Nam, mật độ càng về phía biển càng dày, trung bình dọc theo 2
bờ sông Hàm Luông và Ba Lai cứ 1 km có một con rạch Do đó, huyện có đầy đủ các
yếu tố thuận lợi về thủy văn, ít bị ảnh hưởng của lũ lụt và biên độ triều thích hợp cho
việc tưới tiêu Tuy nhiên, lượng nước sử dụng trong mùa khô còn hạn chế do tình hình nước mặn xâm nhập sâu
Nước mưa: Là nguồn nước mặt quan trọng cung cấp cho sinh hoạt và hoạt động
sản xuất nông nghiệp Nước mưa còn là nguồn nước dự trữ quan trọng dành để uống đối với các vùng bị xâm nhập mặn quanh năm mà nguồn nước máy không đáp ứng được
Trang 23Nước kênh rạch: Vốn là huyện ven biển, nước mặn, đồng chua nên chỉ thích
hợp với cây chà là gai phát triển, thiếu nguồn nước ngọt nghiêm trọng Nhưng với sự
cố gắng của huyện trong việc cung cấp nước ngọt phục vụ cho sản xuất và tiêu dùng cho người dân, đến nay có khoảng 3/4 diện tích đất nông nghiệp của huyện được cung
cấp nước ngọt Chưa tính hệ thống thủy lợi ven sông Hàm Luông đang thi công, đến nay huyện có hệ thống kênh chính dài 46,7 km và các hệ thống kênh tưới gồm kênh Láng Sen, Bến Than, Vàm Hồ, An Bình Tây, Rạch Nò – Bà Hiền và kênh Giồng Quít Ngoài ra, Ba Tri còn có hệ thống ngăn mặn dài 42,85 km
+ Nước ngầm: Kết quả thăm dò và kết quả ban đầu cho thấy các tầng nước nước ngầm của huyện cơ bản đã bị nhiễm mặn, nước ngầm ngọt còn lại rất ít trên đất
giồng cát và trữ lượng thay đổi thùy thuộc vào hai mùa mưa, nắng Do vậy, lượng nước ngầm ngọt của huyện có ý nghĩa không đáng kể trong việc sản xuất nông nghiệp
và phục vụ sinh hoạt của người dân
Nhìn chung, với hơn 50 sông, rạch vào sâu nội đồng có chiều dài khoảng 128
km phân bô điều khắp trên địa bàn huyện, có thể nói nguồn nước mặt ở huyện rất dồi dào, khá thuận lợi cho giao thông đường thủy, sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy
sản, sản xuất muối, Tuy nhiên, cũng gặp không ít khó khăn do giao thông bị chia cắt, nước mặn xâm nhập sâu vào mùa khô, nguồn nước mặt có thể bị ô nhiễm bởi các nguyên nhân như: Ô nhiễm môi trường do sinh hoạt và sản xuất, nhất là vào mùa mưa, khi nước dân cao, ô nhiễm bởi tác động do hoạt động sản xuất nông nghiệp (sử dụng thuốc bảo vệ thực vật), do các chất thải từ các phương tiện giao thông thủy, các cơ sở
sản xuất chế biến gây nên
- Chế độ thủy văn
Địa bàn huyện Ba Tri nằm giữa sông Hàm Luông và sông Ba Lai đoạn đổ ra
biển, điều kiện thủy văn hoàn toàn chịu ảnh hưởng chế độ bán nhật triều không đều
của biển Đông, biên độ triều dao động trong khoảng 2,0 – 2,4m (vùng nội địa) và trên 3m (vùng ven biển)
Vào thời kỳ cao điểm mùa khô (tháng III – IV), độ mặn tối đa vùng cửa sông
Ba Lai và sông Hàm Luông có thể lên đến 23 – 28 g/l; vào đầu mùa mưa (tháng VI), vùng cửa sông vẫn nhiễm mặn 10 – 15 g/l và ranh mặn 4 g/l vượt khỏi Tân Hưng Nhìn chung đi từ vùng cửa sông đến ranh giới huyện Giồng Trôm, thời gian qua ranh
Trang 24mặn tối đa < 4 g/l tăng dần 3 – 4 tháng/năm Tuy nhiên, dưới tác động các công trình thuê bao tạo nguồn trên vùng ngọt hóa (khu vực phía Bắc đường tỉnh 885 từ ranh Giông Trôm đến Tân Thủy) vẫn đảm bảo nguồn nước ngọt cho canh tác các loại cây
trồng
Sau khi hoàn thành công trình cống đập Ba Lai (thuộc hệ thống thủy lợi Bắc
Bến Tre), sông Ba Lai được ngọt hóa hoàn toàn từ Tân Xuân trở về thượng lưu Tuy nhiên các tác động lên môi trường nước mặt vẫn chưa được đánh giá đầy đủ
Bờ biển Ba Tri được bồi đấp khá mạnh, trong vòng 100 năm qua, bờ biển được
bồi thêm khoảng 200 – 250m (Bảo Thạnh), 400 – 600m (An Thủy) và gần 1.000m (Bảo Thuận),
e) Đất thổ nhưỡng
Phù sa của Ba Tri là do hai con sông Ba Lai và Hàm Luông bồi tụ nên, còn nằm
kề biển Đông nên đất đai của huyện chủ yếu là đất ruộng và đất giồng, không có vườn cây trù phú như các huyện phía Tây Vào cuối thế kỉ XVII đầu thế kỉ XIX, nơi đây là
rừng hoang và đầm lầy, nơi ngự trị của những loài thú dữ như heo rừng, cá sấu,.v.v
Tổng diện tích tự nhiên của Ba Tri là 355km2 được chia thành 2 vùng chính, vùng chịu ảnh hưởng của nước mặn và vùng không chịu ảnh hưởng của mặn
Vùng chịu ảnh hưởng nước mặn bao gồm các xã tiếp giáp ven biển và các xã
nằm tiếp giáp 2 con sông Ba Lai và Hàm Luông Với đặc điểm của nước mặn, lợ thì nguồn thu nhập của người dân vùng này chủ yếu dựa vào ngề nuôi, khai thác thủy sản
và nghề làm muối, một ít từ nông nghiệp Diện tích nuôi trồng thủy sản nước mặn, lợ
của Huyện tập trung chủ yếu ở các xã này, với tổng diện tích 5.210 ha
Vùng không chịu ảnh hưởng của nước mặn bao gồm các xã còn lại trong huyện Thu nhập của các hộ nông dân trong vùng này rất đa dạng từ cây lúa, cây ăn quả, chăn nuôi Diện tích trồng lúa ba vụ của Huyện là 37.703,4 ha với sản lượng 184.848,4 tấn
2.2.2 3Kinh t ế xã hội
a) M ột số kết quả phát triển kinh tế-xã hội của Huyện năm 2012
Năm 2012, trước tình hình trước tình hình chung của cả nước như thời tiết không thuận lợi, mưa kéo dài, giá hàng nông sản thấp, không ổn định, người nuôi thủy
sản kém hiệu quả nhưng UBND Huyện đã tích cực chỉ đạo, điều hành, kịp thời có
những giải pháp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc nhằm thực hiện thắng lợi các mục tiêu
Trang 25đề ra năm 2011 Kết quả, trong năm 2012 tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) là 13,1 % Giá trị sản xuất nông – lâm – ngư nghiệp tăng 10,2%, giá trị sản xuất công nghiệp – xây dựng tăng 14,48%, các ngành sản xuất dịch vụ tăng 15,87%, thu nhập bình quân là 21,44 triệu đồng người/năm, tỉ lệ hộ sử dụng điện đạt 99,25%, tỉ lệ hộ dân sử dụng
nước máy là 30%,
b)Tình hình s ản xuất nông nhiệp
Tr ồng trọt
Cây lúa: Tổng diện tích gieo trồng 39.291 ha, sản lượng 200.460 tấn tăng 8,5%
so với năm trước Cụ thể như sau:
+Vụ Thu Đông: Thu hoạch 14.171 ha, năng suất bình quân đạt 46,37 tạ/ha sản lượng 65.714 tấn đạt 107,27% kế hoạch tăng 10,79% so với cùng kỳ
+Vụ Đông Xuân: Thu hoạch 12.667 ha, năng suất bình quân đạt 56,8 tạ/ha, sản lượng 71.946 tấn, đạt 104,65% kế hoạch tăng 14,2% so với cùng kỳ
+Vụ hè thu 2012: Thu hoạch 12.453 ha, năng suất bình quân đạt 50,43 tạ/ha,
Tổng đàn trâu 974 con, đạt 89,85% kế hoạch; đàn bò 72.392 con, đạt 101,96%
kế hoạch, tăng 3,45% so với cùng kỳ; đàn heo 24.090 con, đạt 120,45% kế hoạch, tăng 42% so với cùng kỳ; đàn gia cầm đạt 690.361 con, đạt 86,30% kế hoạch, giảm 8,6% so
với cùng kỳ
c)Tình hình phát tri ển thủy sản
Tổng diện tích nuôi là 5.197 ha, đạt 99,8% kế hoạch, giảm 0,3% so với cùng kỳ
Tổng sản lượng 13.149 tấn, đạt 84,4% kế hoạch, giảm 9,48% kế hoạch so với cùng kỳ
Trang 26Trong năm, thời tiết nắng nóng mưa kéo dài, phát sinh nhiều dịch bệnh, có 658
ha nuôi tôm thâm canh bị thiệt hại chủ yếu là bệnh đốm trắng và hoại tử gan tụy chiếm 40% diện tích Huyện đã cung cấp 90 tấn Chclorin hộ trợ nông dân xử lý dịch bệnh Sau khi xử lý, bà con tiếp tục thả nuôi, do giá tôm thương phẩm thấp nên hầu như người nuôi không có lời
Khai thác: Toàn huyện có 1.668 tàu đánh bắt thủy sản,đạt 92,15% kế hoạch,
giảm 86 chiếc so với cùng kỳ, trong đó có 1.143 tàu đánh bắt xa bờ, tăng 90 chiếc so
với cùng kỳ Tổng sản lượng khai thác đạt 57.316 tấn, đạt 104,84% kế hoạch
2.2.3 3Tình hình văn hóa - xã hội
a) Văn hóa thông tin, thể dục thể thao
Thực hiện tốt công tác tuyên truyền các chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà Nước
Chất lượng đài truyền thanh Huyện và các xã được nâng lên, phản ánh sâu rộng nhiều sự kiện chính trị, kinh tế, xã hội quan trọng Thực hiện tốt lịch tiếp âm chương trình đài phát sóng của Trung ương, đài Tỉnh
b) Giáo dục
Tổng kết năm học năm 2011 – 2012 , huy động 446 trẻ em đến lớp, đạt 5,63%
so với trẻ trong độ tuổi, giảm 1,1% so với cùng kỳ; mẫu giáo 6.478 cháu, tăng 77 cháu, tăng 1,2% so với cùng kỳ, trong đó trẻ em 5 tuổi ra lớp đạt 100%; tiểu học 16.393 em,
giảm 366 em, trong đó huy động trẻ em 6 tuổi vào lớp 1 đạt 100%; Trung học cơ sở 11.835 em, giảm 110 em, trong đó huy động 100% học sinh tốt nghiệp Tiểu học vào
lớp 6 Tỷ lệ học sinh đỗ tốt nghiệp tiểu học đạt 98,8%, Trung học phổ thông đạt 85,5%
Đầu năm học 2012 – 2013 huy động 54 học sinh bỏ học trở lại trường Tuy nhiên tình trạng bỏ học trong hè cấp trung học cơ sở còn cao là 114 em, chiếm tỉ lệ 1,04%, so với cùng kỳ giảm 5,7% Huy động học sinh vào lớp từng cấp như sau: Nhà
trẻ có 453 cháu đến lớp, mẫu giáu có 6.173 cháu, tiểu học 16.229 em, tuyển 100% trẻ
6 tuổi vào lớp 1, trung học cơ sở 11.772 em
Các trường điều trang bị đầy đủ sách giáo khoa và trang thiết bị dạy học cho giáo viên Đề án kiên cố hóa trường lớp được thực hiện đúng theo kế hoạch, đến nay
đã hoàn thành 147 phòng đạt 65,6% và 03 nhà công vụ giáo viên, đạt tỉ lệ 75%, đang thi công 42 phòng, chuẩn bị thi 35 phòng và 01 nhà công vụ giáo viên
Trang 27Kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm 4.250 lượt cơ sở sản xuất, dịch vụ ăn uống
và buôn bán thực phẩm, kết quả còn nhiều cơ sở không đạt tiêu chuẩn theo qui định Thanh tra 02 cơ sở hành nghề y, dược tư nhân, kết quả cảnh cáo 01 cơ sở, chuyển về Thanh tra Sở y tế xử lý 01 cơ sở Thẩm định 02 đại lý thuốc tân dược, kết quả đạt yêu
cầu
Chỉ đạo các xã, thị trấn thực hiện các nội dung cơ bản của công tác truyên thôn
tại hội, nhóm, tổ nhân dân tự quản về chăm sóc sức khỏe vị thành niên, phòng chống viêm nhiễm đường sinh sản Tỉ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng là 12,69%,
giảm 1,2% so với cùng kỳ
2.3 1T ổng quan về huyện Thạnh Phú
a) V ị trí địa lý
Diện tích tự nhiên: 412 km2
Dân số: 139.283 người (năm 2003)
Mật độ: 326,67 người/km2
Huyện Thạnh Phú là một trong ba huyện duyên hải ven biển của tỉnh Bến Tre,
nằm cuối cù lao Minh, giữa hai sông Hàm Luông, Cổ Chiên và tiếp giáp Biển Đông
Hệ thống giao thông đường bộ bao gồm một quốc lộ 57 xuyên suốt 3 huyện, 7 tuyến đường huyện và những tuyến đường nhỏ được phân bổ trên toàn huyện Về đường
thủy, với 25km đường bờ biển cùng 2 con sông lớn là sông Hàm Luông (chiều dài 29km) và sông Cổ Chiên ( chiều dài 27km) là huyết mạch quan trọng chạy qua địa
phận huyện
Ranh giới hành chính: Phía Đông giáp với Biển Đông; Phía Tây giáp với huyện
Mỏ Cày; phía Bắc giáp với huyện Ba Tri với ranh giới là sông Hàm Luông; Phía Nam giáp với tỉnh Trà Vinh với ranh giới là sông Cổ Chiên
Tọa độ địa lý: được giới hạn bởi: kinh độ đông: 106024’41’’ đến 1060
41’47’’,
vĩ độ Bắc: 9047’45” đến 100
03”52
Trang 28Về hành chính: huyện có 1 thị trấn và 17 xã, thị trấn là trung tâm hành chính, kinh tế, văn hóa của huyện nằm cách TP.Hồ Chí Minh 94km, và cách TP Cần Thơ 79km, và cách thành phố Bến Tre 34km
b) Địa hình
Địa hình tương đối bằng phẳng, ranh giới từ huyện Mỏ Cày đến Mỹ Hưng – Bình Thạnh có độ cao khoảng 1,2 – 1,5 m Đây là vùng có địa hình thấp nhất huyện
Tiếp theo là Thạnh Phong – Thạnh Hải có độ cao từ 1,2 – 1,8 m Từ Thạnh Phong –
Thạnh Hải ra biển Đông có độ cao giảm và thoải dần hướng ra biển Đông
C và không có sự khác biệt nhiều giữa các tháng, thuận lợi chi việc nuôi trồng quanh năm
d) Độ ẩm
Do gần biển, độ ẩm tương đối của huyện tương đối cao (81 – 83,7%) vào mùa mưa các nơi vùng ven biển có khi đạt 84 – 94% thấp nhất là tháng 2 đến tháng 3 (65 – 80%)
e) Tài nguyên nước
Nước mặt: Vào mùa nước cạn khi nước sông đổ ra giảm xuống, quá trình xâm
nhập mặn tăng lên Địa bàn xa huyện nhất là Phú Khánh, Thới Thạnh cũng có thời gian mặn kéo dài 2- 3 tháng/năm Theo số liệu quan trắc hằng năm: Chất lượng nước mùa khô sạch hơn mùa mưa và sông Cổ Chiên sạch hơn sông Hàm Luông
Nước ngầm: Đặc điểm nổi bật của thủy văn nước ngầm trong huyện đó là
nước ngầm hầu hết đã bị nhiễm mặn
f) Tài nguyên đất
Toàn huyện có 23 đơn vị đất và được chia thành 5 nhóm chính như sau:
- Nhóm đất cát: 4.042 ha (9,69% diện tích đất tự nhiên của huyện)
- Nhóm đất mặn: 24.036 ha (57,65% diện tích đất tự nhiên) trong đó: + Đất mặn trồng được sú, vẹt, đước 5.230 ha
+ Đất mặn nhiều: 10.362 ha
+ Đất mặn trung bình và ít: 8.445 ha
Trang 29- Nhóm đất phèn: 2.177 ha (5,22% diện tích đất tự nhiên)
- Nhóm đất phú sa: 484 ha (1,16% diện tích đất tự nhiên)
- Đất canh tác: 3.595 ha (chiếm 8,62% diện tích đất tự nhiên)
Trang 30CHƯƠNG 3
6
3.1 1Nội dung nghiên cứu
Theo số liệu đã công bố của Tổng Cục Thống Kê GDP của ngành thủy sản giai đoạn 1995 – 2003 tăng từ 6.664 tỷ lên đến 24.125 tỷ đồng Trong các hoạt động của ngành, khai thác hải sản giữ vị trí rất quan trọng Sản lượng khai thác hải sản trong 10
gần đây tăng liên tục với tốc độ bình quân hằng năm đạt 7,7% (giai đoạn 1991 – 1995)
và 10% (giai đoạn 1996 – 2003) Nuôi trồng thủy sản ngày càng có vai trò quan trọng hơn khai thác hải sản cả về sản lượng, chất lượng cũng như tính chủ động trong xuất
khẩu Năm 2007 – năm đầu tiên Việt Nam gia nhập WTO , sản lượng nuôi trồng thủy
sản lần đầu tiên vượt qua sản lượng khai thác, đạt trên 2,1 triệu tấn Năm 2008, tổng lượng thủy sản của Việt Nam đạt 4,6 triệu tấn, trong đó nuôi trồng đạt gần 2,5 triệu tấn
và khai thác đạt trên 2,1 triệu tấn Hiện nay, có rất nhiều quốc gia rất ưa chuộng tôm sinh thái, vì vậy để tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường chúng ta nên có những
biện pháp khuyến khích người dân nuôi tôm sinh thái, vừa có thu nhập ổn định và bảo
vệ và phục hồi rừng ngập mặn
Tỉnh Bến Tre có vị trí giáp biển và có nhiều cánh rừng ngập mặn phát triển ven
biển rất thuận lợi để phát triển mô hình nuôi tôm sinh thái Đề tài đã thực hiện phỏng
vấn trực tiếp 95 hộ nuôi tôm ở huyện Ba Tri và huyện Thạnh Phú Từ số liệu thu thập được đề tài phân tích hiệu quả kinh tế của ba mô hình nuôi tôm bao gồm; mô hình nuôi tôm thuần, mô hình nuôi tôm kết hợp với trồng rừng và mô hình nuôi tôm trong
rừng ngập mặn tự nhiên Qua khảo sát thực tế đề tài đã chọn được một số yếu mà người dân cho rằng ảnh hưởng đến xác suất chọn mô hình nuôi tôm sinh thái Các yếu
tố ảnh hưởng mạnh đến quyết định lựa chọn mô hình là số năm nuôi tôm, diện tích nuôi tôm, trình độ học vấn, tuổi, hiểu biết kỹ thuật nuôi tôm sinh thái, tham gia tập
huấn, kỳ vọng giá, diện tích tỷ lệ rừng trong vuông tôm Để phân tích ảnh hưởng các
Trang 31biến này như thế nào đến xác suất chọn mô hình nuôi tôm sinh thái đề tài sử dụng hàm Logit
3.2 1Các khái ni ệm và cơ sở lý luận
R ừng ngập mặn
Rừng ngập mặn là một hợp quần thảo mộc đặc biệt ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, sống trên bãi bồi phù sa và các bãi lầy ngập triều thuộc vùng cửa sông, ven
biển, mang tính chất vùng triều cửa bờ biển nhiệt đới và cận nhiệt đới
Nông nghiệp bền vững
Nông nghiệp phát triển bền vững là một mục tiêu dài hạn hướng tới sự ổn định
vì lợi ích hiện tại và tương lai của nông dân và xã hội Nông nghiệp bền vững không nêu ra các hoạt động cụ thể phải được thực hiện, thay vào đó nó thách thức nông dân suy nghĩ về hậu quả của các biện pháp canh tác nông nghiệp, cũng như các hoạt động
và tương tác của hệ thống nông nghiệp (Ikerd et al 1997: Diver 1996; Horrigan et al 2002)
Theo Horrigan (2002), nông nghiệp phát triển bền vững bao gồm ba mục tiêu chính là các mục tiêu về môi trường, hiệu quả kinh tế và công bằng xã hội Nông nghiệp bền vững phải có lợi nhuận để nông dân tiếp tục canh tác, sử dụng đất Nông nghiệp bền vững làm tăng thêm tính bền vững về môi trường bằng cách đề cập đến vấn đề sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên nông nghiệp, tài nguyên không tái tạo và
sự thống nhất của chu kỳ sinh học Nông nghiệp phát triển bền vững tối thiểu phải đạt yêu cầu duy trì được chất lượng cuộc sống của người dân và xã hội (Iker et al 1997; Norman et al 1997)
3.2.1 Mô hình nuôi tôm sinh thái
1 Các khái niệm
Ao nuôi sinh thái là ao tôm khai thác theo công nghệ quảng canh tự nhiên hoặc quảng canh cải tiến, chủ yếu dựa vào nguồn dinh dưỡng tự nhiên, thông qua mô hình lâm – ngư kết hợp Với thiết kế rất khoa học, cả cây lẫn tôm, cua điều sống bình thường Năng suất của các ao tăng lên nhưng cây vẫn phát triển bình thường, tạo nguồn thức ăn cho tôm cua, đáp ứng cả hai mục tiêu là bảo vệ, phát triển rừng ngập mặn và hiệu quả kinh tế (Lê Diện Dực, 1996)
Nuôi tôm sinh thái có hai hình thức:
Trang 32Mô hình vuông tôm có trồng thêm cây rừng: Với mô hình này trong vuông tôm
có trồng thêm một số loại cây rừng ngập mặn như đước, dừa nước, mắn v.v Với mục đích chính là che mát nước, tạo nơi cư trú cho tôm, cua, cá Và tăng thêm thu nhập từ
khai thác gỗ
Mô hình vuông tôm kết hợp trong rừng ngập mặn:Trong mô hình này, người dân tận dụng những nơi có rừng ngập mặn có sẵn ở địa phương để mua tôm giống về nuôi Đây là hình thức nuôi tôm sinh thái tự nhiên của các hộ nông dân Với mục đích khai thác tối đa tự nhiên từ rừng ngập mặn mang lại như thức ăn trong rừng ngập mặn
2 Kỹ thuật nuôi tôm sinh thái
a) Thi ết kế ao nuôi
Hình 3.1 Mô hình nuôi tôm sinh thái
Nguồn: Điều tra và tổng hợp Kênh đào: Một hệ thống kênh đào bao gồm kênh chính chạy xung quanh phía trong ao và các kênh nằm ngang (kênh xương cá) Hệ thống kênh này chiếm từ 20 – 40%
so với mặt ao Kênh chính có chiều rộng 9m và dốc dần về phía biển Ở cống có đặt
Trang 33lưới chắn để giữ tôm, cá khi tháo nước ra Tiếp theo là một cống điều tiết nước đặt ra hướng biển Các kênh nằm ngang cũng có chiều rộng khoảng 9m có tác dụng làm tăng
độ thoáng cho ao tôm cá và tại điểm nối với kênh chính, chúng có độ sâu bằng kênh chính
Các kênh chính và kênh ngang tạo ra khoảng đất để trồng rừng ngập mặn Ta có
thể trồng các loại cây như bần, đước, sú, vẹt,.v.v.Nếu trồng cây bằng quả thì khoảng cách tốt nhất là 1m, còn cây con là 2m Sau đó phụ thuộc vào độ lớn của cây, tốc độ
tạo tán để tỉa bớt các cây phát triển kém để tạo điều kiện cho các khác phát triển Độ sâu của kênh phụ thuộc vào độ chênh lệch giữa đáy cống và mực nước triều thấp nhất
và địa hình của từng vùng Hệ thống kênh này chiếm khoảng 20% đến 40% diện tích
ao nuôi
Chu ẩn bị ao nuôi
Đất rừng đước là đất bãi bồi được hình thành với quá trình phân hủy yếm khí
của hệ sinh thái rừng ngập kéo dài nhiều năm Quá trình này tạo ra kết cấu đất thiếu ổn định chứa một lượng lớn hàm lượng vật chất hữu cơ, do đó nước dễ bị thấm qua các
bờ ao làm mất nước và có thể thấm nước từ ngoài vào khi triều cường Điều này ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng và phát triển của tôm trong ao nuôi, ảnh hưởng lớn đến quá trình phát sinh và lây lan bệnh trong vùng tôm nuôi
C ải tạo ao nuôi
Tháo cạn đồng loạt các ao nuôi vào thời điểm thủy triều xuống thấp để phơi đáy
ao bằng cách:
Hút cạn nước trong ao nuôi bằng máy bơm nước
San bằng đáy ao, tu sửa, gia cố bờ ao, cống bọng Dùng vôi bột (CaCO3) rải điều khắp ao, liều lượng 14 kg/100m2
Tiếp tục phơi ao 2 ngày, sau đó rửa bỏ hết nước vôi và bắt đầu lấy nước vào, tiến hành xử lý ngay trong ao nuôi bằng Chlorine (30ppm) Sau 4 ngày xử lý Chlorine bón DAP (1 kg/1000m2) để gây màu nước Khi
độ trong đạt dược 40 – 50 cm thì có thể thả tôm
b) Tôm gi ống và thả tôm giống
Lựa chọn con giống
Tôm phải khỏe mạnh không nhiễm SEMBV – kiểm tra bằng máy PCR
Trang 34Tôm giống khỏe có màu sắc trong sáng, không thương tích, đều cỡ, hoạt động nhanh nhẹn, kích thước nhỏ nhất trên 1,2cm Tôm bột đạt 15 ngày tuổi thường được
gọi là PL15 Tôm thon, dài, đuôi xòe hình quạt khi lội râu khép lại hình chữ V Có thể đánh giá sức khỏe con tôm bằng cách dùng thao nước cho tôm vào, quay tròn nước, tôm khoẻ sẽ bám vào thành thao, lội ngược dòng nước Tôm yếu sẽ bị gom vào giữa thau, khi gõ nhẹ vào thành thau, tôm khỏe sẽ phản ứng búng nhảy nhanh Ngoài ra có
thể kiểm tra bằng “sốc” độ mặn hay hóa chất (Hảo, 2000)
Điều quan trọng là chất lượng nước ở trong ao và nước trong túi đựng con
giống phải gần giống nhau về độ mặn, nhiệt độ và PH Chúng ta nên kiểm tra nước trong ao thuật kĩ trước khi thả tôm giống Khi thả tôm chúng ta nên thả lúc sáng sớm hay trời mát
c) Th ức ăn
Thức ăn cho tôm có hai loại là thức ăn tự chế (cá vụng nấu với cám,gạo) hay
thức ăn chế biến Ở đây người dân sử dụng thức ăn tương đối thấp, đa phần người để tôm phát triển nhờ dinh dưỡng tự nhiên Người nuôi rất ít sử dụng thuốc kích thích cho tôm, hầu như không có
cống nên khi mở cửa cống nước chảy ra ngoài cho đến khi thây hở gốc các cây rừng
ngập mặn thì đóng cống lại tạo điều kiện tốt cho rễ khí sinh hô hấp Khi đó tôm, cua,
cá sẽ xuống trú dưới mương Nhưng có lưới chắn nằm trước cống nên chúng không
thể ra ngoài mà bị giữ lại Hai mương nằm ngang cũng tạo ra hai dòng chảy làm cho
ao thêm thông thoáng Bằng cách tháo nước như vậy ta có thể thay nước ao thường xuyên
Trang 35Lấy nước vào ao: Khi triều lên cao mức nước bên ngoài cao hơn mức nước trong ao, cửa cống được mở để nước chảy vào ao cho đến khi mực nước trong ao và ngoài ao bằng nhau thì đóng cống lại Khi nước vào đầy ao thì tôm, cua, cá lại phát tán
ra toàn ao và sống gần như ngoài thiên nhiên
Cứ như vậy quy trình vận hành ao tiếp diễn hằng ngày
e) Thu ho ạch
Sau khi thả giống khoảng 3 – 4 tháng là có thể thu hoạch Thu hoạch bằng cách
xả nước cống rồi dùng lú, lưới đặt ngay cống để thu tôm, cua, cá,.v.v Người nuôi thường thu hoạch hàng tháng, đợi nước trăng rằm thì xả nước đặt lú thu hoạch về bán.Vì vậy người nuôi hàng tháng điều có nguồn thu Cua, cá các hộ chỉ bắt loại to,
loại nhỏ các hộ thả lại nuôi tiếp
f) Các lo ại mô hình nuôi tôm của chủ hộ
Hình 3 2 Đồ Thị Thể Hiện Các Mô Hình Nuôi Tôm Của Hộ Nuôi Tôm
Nguồn: Điều tra và tính toán tổng hợp
Ghi chú:
Mô hình A: vuông tôm thuần (không có cây rừng)
Mô hình B: vuông tôm có trồng thêm cây rừng
Mô hình C: nuôi tôm trong rừng ngập mặn
Trang 36Huyện Ba Tri và huyện Thạnh Phú là 2 huyện ven biển của Tỉnh Với đặc điểm
của vùng có địa hình thấp nhiều vùng ngập mặn, ven sông thích hợp cho phát triển nuôi tôm Cùng với sự phát triển mạnh của các loại cây ngập mặn ở ven sông, ven biển như bần, dừa nước, mắn, đước.v.v rất thuận lợi cho các hộ dân nuôi nuôi kết hợp với
rừng ngập mặn Từ lợi thế địa phương, các hộ dân đã phát triển theo ba hình thức chính Mô hình nuôi tôm thuần (trong vuông tôm không có cây rừng) có 34 hộ nuôi theo hình thức này trong 95 hộ phỏng vấn, mô hình nuôi tôm có trồng cây rừng vào trong vuông tôm có 48 hộ, còn 13 hộ nuôi thả trong rừng ngập mặn tự nhiên
g) L ịch thời vụ nuôi trồng thủy sản
Thả dặm (20%)
Thả dặm (20%)
Nguồn: Điều tra và tổng hợp
Thời gian bắt đầu thả tôm giống ở địa phương thường rơi vào tháng 10 và tháng
11 dương lịch Sau khi thả tôm giông, cứ 2 tháng người nuôi thả giống thêm với số lượng bằng 20% - 30% lượng giống ban đầu Số lần thả dặm trong năm từ 1 – 4 lần tùy thuộc vào người nuôi
Cua giống có thể thả quanh năm Nguồn cua giống cũng rất đa dạng và kích cỡ cũng khác nhau Có thể mua nhỏ từ các hộ dân khác về nuôi hoặc mua từ các đại lý cua giống
3.2.2 3Mô hình nuôi tôm thuần (không có cây rừng)
1 Các khái ni ệm
Mô hình nuôi tôm thuần là mô hình nuôi tôm truyền thống, trong vuông tôm không trồng bất loại cây rừng ngập mặn nào như bần, sú, vẹt, trang, đước, mắn, dừa nước
Nuôi tôm thuần có các hình thức chính là:
Nuôi tôm quảng canh: Mô hình có đặc điểm là hình thức nuôi dựa vào thức ăn
tự nhiên trong ao Mật độ tôm nuôi thường thấp do phụ thuộc vào nguồn giống tự nhiên trong ao, diện tích ao nuôi thường lớn để đạt được sản lượng cao Mô hình có ưu
Trang 37điểm là có chi phí vận hành thấp vì ít tốn chi phí giống và thức ăn, kích cỡ tôm thu hoạch lớn bán được giá cao, cần ít lao động cho một đơn vị sản xuất và thời gian nuôi thường ngắn Nhược điểm là có năng suất và lợi nhuận thấp, cần diện tích nuôi lớn để tăng sản lượng nên vận hành và quản lý khó khăn, nhất là các đầm ao tự nhiên có hình dạng rất khác nhau
Nuôi tôm quảng canh cải tiến: Mô hình có đặc điểm là nuôi quanh năm năng suất nhỏ hơn 300 kg/ha/năm; kết hợp con giống tự nhiên và thả bổ sung nhỏ hơn 2 con/m2, không cho ăn Ưu điểm chi phí vận hành thấp, có thể bổ sung con giống tự nhiên thu gom, kích cỡ tôm thu hoạch lớn, bán giá cao, cải thiện năng suất đầm tôm Nhược điểm phải bổ sung con giống lớn để tránh hao hụt do dịch hại trong ao nhiều Năng suất và lợi nhuận còn thấp
Nuôi tôm bán công nghiệp: Mô hình có đặc điểm có thể nuôi hai vụ trên năm, mật độ thả từ 5 – 20 con/m2, sử dụng thức ăn công nghiệp hoặc tự chế biến Năng suất
từ 1 – 4 tấn/ha/vụ Trong đó giới hạn năng suất không có quạt nước là 1,7 – 2 tấn/ha/vụ Diện tích ao nuôi nhỏ từ 0,2 – 0,5 ha và được xây dựng hoàn chỉnh và được trang bị đầy đủ thiết bị như sục khí, máy bơm, máy quạt, v.v để chủ động trong quản
lý ao Ưu điểm của mô hình này là đầu tư vừa phải về tài chính cũng như kỹ thuật, phù hợp với khả năng đầu tư và quản lý của nông hộ hiện nay, tận dụng diện tích đất và có năng suất cao Nhược điểm là phải đầu tư chi phí đầu tư khá lớn, dễ xảy ra dịch bệnh, sử dụng hóa chất chưa hợp lí gây lãng phí và ô nhiễm môi trường
Nuôi tôm công nghiệp: Mô hình có đặt điểm là có thể nuôi quanh năm mật độ thả từ 20 – 80 con/m2, vốn đầu tư khá lớn, quy trình kỹ thuật nghiêm ngặt Diện tích nuôi từ 0,5 – 1 ha, tối ưu là 1 ha, ao xây dựng hoàn chỉnh cấp thoát nước chủ động Có trang bị đầy đủ trang thiết bị nên dễ quản lý và vận hành, mang lại lợi nhuận rất cao, tận dụng quỹ đất có hạn Nhược điểm là chi phí đầu tư cao, lợi nhuận trên 1 đơn vị sản phẩm thấp Môi trường dễ bị suy thoái do sử dụng nhiều thức ăn và hóa chất
2 Kỹ thuật nuôi tôm quản canh
Kỹ thuật nuôi tôm quang canh tương tự như quy trình nuôi tôm sinh thái Tuy nhiên, quy trình nuôi tôm quảng canh không vận hành nước trong ao như nước tự nhiên bên ngoài mà đề nước ổn định, mật độ thả giống dày hơn và sử dụng thức ăn tự
Trang 38chế biến nhiều hơn Người nuôi phải thường xuyên chăm sóc, kiểm tra con tôm Sau khi thả giống từ 3 – 4 tháng thì thu hoạch và có thể thả nuôi tôm vụ mới
3.3 2P hương pháp nghiên cứu
3.3.1 4Phương pháp thu thập số liệu
a) S ố liệu thứ cấp
Các số liệu thứ cấp như số lượng hộ nuôi tôm, số hộ áp dụng mô hình nuôi tôm sinh thái cũng như các số liệu thứ cấp khác về tình hình nuôi tôm từ phòng TNMT, Phòng NN & PTNT, Tổng cục thống kê và các đơn vị có liên quan Ngoài ra đề tài cũng sử dụng các thông tin từ nguồn thu thập và phân tích từ các nghiên cứu trước đây
b) S ố liệu sơ cấp
Số liệu sơ cấp sử dụng để phân tích trong đề tài được thu thập bằng phương pháp điều tra phỏng vấn trực tiếp các hộ nông dân nuôi tôm tại hai huyện Ba Tri và huyện Thạnh Phú trong đó có 34 hộ nuôi tôm thuần và 61 hộ nuôi tôm sinh thái
Qua quá trình điều tra phỏng vấn các hộ nuôi tôm được thực hiện với mẫu phiếu điều tra được soạn sẵn Nôi dung phiếu điều tra đuợc soạn sẵn dựa trên cơ sở thu
thập những thông tin cần thiết để đáp ứng mục tiêu nghiên cứu của đề tài Những thông tin thu thập được qua điều tra bao gồm những thông tin đặc điểm cơ bản của hộ dân như tuổi, trình độ học vấn, giới tính, nghề nghiệp, diện tích đất nông nghiệp, hiểu
biết về mô hình nuôi tôm sinh thái
3.3.2 4Phương pháp thống kê mô tả
Đây là một phương pháp mà hoạt động chính là việc thu thập thông tin, dữ liệu
để kiểm chứng các giả thuyết, trả lời các câu hỏi có liên quan đến vấn đề cần nghiên
cứu Nghiên cứu mô tả nhằm xác định và tường trình sự việc xảy ra Những nghiên
cứu mô tả điển hình thường liên quan đến việc đánh giá thái độ, ý kiến, các thông tin
về xã hội và con người trong các điều kiện và quy trình vận động Các số liệu trong nghiên cứu mô tả thông thường được thu thập bằng các cuộc phỏng vấn điều tra qua các bảng câu hỏi, phỏng vấn quan sát trực tiếp hoặc các phương pháp khác kết hợp thành những hình thức nêu trên
Ngoài ra nghiên cứu mô tả còn là một quá trình khẳng định và tường trình sự
việc theo cách mà sự việc xảy ra Để thực hiện được, người nghiên cứu phải tiếp cận thái độ và ý kiến của cá nhân, tổ chức hay sự kiện hoặc quy trình cần nghiên cứu Cụ
Trang 39thể trong nghiên cứu này, việc xây dựng bảng câu hỏi kết hợp với việc điều tra phỏng
vấn từng hộ nông dân nuôi tôm sẽ giúp đề tài thu thập những thông tin chung về các
hộ áp dụng mô hình nuôi tôm sinh thái tại huyện Ba Tri và huyện Thạnh phú và một số
yếu tố làm cơ sở để phân tích và đề ra định hướng mở rộng mô hình trong thời gian tới
3.3.3 4Phương pháp xử lý số liệu
Từ nguồn thu thập số liệu mẫu điều tra nông hộ và số liệu chính quyền địa phương, sử dụng các phần mềm ecxel, eview, để phân tích, tính toán và xử lý số liệu Dùng phần mềm ecxel để tính hiệu quả của mô hình nuôi tôm
3.3.4 4Phương pháp tham vấn cộng đồng
Thông qua bản câu hỏi đã được soạn sẳn,các điều tra viên tham vấ n trực tiếp người dân và thêm một số câu hỏi liên quan đến vấn đề
3.3.5 4Phương pháp phân tích
Sử dụng phương pháp phân tích ,mô tả nhằm đánh giá hiệu quả kinh tế và các
yếu tố ảnh hưởng đến chọn mô hình nuôi tôm sinh thái
3.3.6 4Phương pháp phân tích lợi ích – chi phí
Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế đặc biệt quan trọng, nó thể hiện kết quả sản xuất trong mỗi đơn vị chi phí của ngành sản xuất Về mặt hình thức, hiệu quả kinh tế là một đại lượng so sánh kết quả sản xuất với chi phí bỏ ra
Để đánh giá hiệu quả kinh tế chúng ta phải đứng trên quan điểm toàn diện, phải biểu hiện trên nhiều góc độ khác nhau và có quan hệ chặt chẽ với nhau theo không gian- thời gian - số lượng – chất lượng
+ Về mặt không gian: Khi xét hiệu quả kinh tế không nên xét một mặt, một lĩnh vực mà phải xét trong mối quan hệ hữu cơ hợp lý trong tổng thể chung
+ Về mặt thời gian: Sự toàn diện của hiệu quả kinh tế đạt được không chỉ xét ở từng giai đoạn mà phải xét trong toàn bộ chu kỳ sản xuất
+ Về mặt số lượng: Hiệu quả kinh tế phải thể hiện hiệu mối tương quan thu, chi theo hướng tăng lên hoặc giảm đi
+ Về mặt chất lượng: Hiệu quả kinh tế phải đảm bảo sự cân đối hợp lý giữa các mặt kinh tế, chính trị, xã hội Việc xác định hiệu quả kinh tế là điểm xuất phát cho mọi tính toán trong kế hoạch phát triển kinh tế quốc dân Đối với địa phương, nó
là cơ sở xác định giá trị đúng đắng một cơ cấu kinh tế hợp lý, tạo ra những nguồn sản
Trang 40phẩm dồi dào đáp ứng nhu cầu xã hội đồng thời mang lại lợi ích thiết thực cho nhà sản xuất
Kết quả - hiệu quả kinh tế có ý nghĩa to lớn trong lý luận, trong thực tiễn tổ chức sản xuất của các đơn vị sản xuất kinh doanh cũng như toàn bộ nền kinh tế quốc dân Tùy vào quy mô, mục đích sản xuất mà các đơn vị sản xuất kinh doanh dùng chỉ tiêu kết quả hay hiệu quả làm mục tiêu hoạt động của mình
Hiệu quả kinh tế trong sản xuất nuôi trồng thủy sản mà cụ thể là nuôi tôm thể hiện bằng cách so sánh sản lượng thu hoạch được so với chi phí bỏ ra bao gồm chi phí vật chất, chi phí lao động Khi xác định hiệu quả kinh tế trong nuôi trồng thủy sản phải tính đến các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất như thức ăn, giống, mật độ thả, và các yếu tố về thổ nhưỡng, tự nhiên như diện tích ao nuôi khí hậu thời tiết, kinh nghiệm sản xuất của nông hộ
Hiệu quả kinh tế = Kết quả sản xuất/ Chi phí sản xuất
Để phân tích hiệu quả kinh tế giữa hai mô hình ta dùng phương pháp phân tích lợi ích – chi phí
Phân tích lợi ích – chi phí: Là một phương pháp để đánh giá sự mong muốn tương
đối giữa các phương án cạnh tranh nhau, khi sự lựa chọn được đo lường bằng giá trị kinh tế tạo ra cho toàn xã hội Phương pháp này tìm ra sự đánh đổi giữa lợi ích và chi phí của một phương án cụ thể
Tổng chi phí sản xuất = Chi phí vật chất + chi phí lao động
Doanh thu (DT): Phản ánh kết quả có được trong quá trình sản xuất Chỉ tiêu này cao hay thấp phụ thuộc vào năng suất và giá bán
Doanh thu = Sản lượng * Đơn giá
L ợi nhuận (LN): Là khoảng chênh lệch giữa doanh thu và chi phí bỏ ra trong
quá trình sản xuất Chỉ tiêu này rất quan trọng vì nó đo lường mức độ hiệu quả trực
tiếp, chỉ tiêu này càng lớn càng hiệu quả
Lợi nhuận = Doanh thu – chi phí sản xuất
Thu nh ập (TN): Là phần thu được từ việc bán tất cả các sản phẩm làm ra trừ đi
chi phí vật chất và chi phí công lao động
Thu nhập = Lợi nhuận+ Chi phí lao động gia đình