- Phân tích thực trạng nghèo đói, bất bình đẳng trong thu nhập của hộ nông dân tại huyện Quảng Ninh.. Qua đó phản ánh một cách chân thực về tình hình đời sống cũng như sự bất bình đẳng t
Trang 1KHÓA L
ĐỂ NHẬ NGÀN
Th
GIÁO DỤC
ỌC NÔNG
ẾU TỐ Ả DÂN TẠ
TẠO
P.HỒ CH
ƯỞNG Đ YỆN QUẢ
P
U INH
Trang 2Hội đồng chấm báo cáo khóa luận tốt nghiệp đại học khoa Kinh Tế, trường Đại
Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh xác nhận khoá luận “PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN THU NHẬP HỘ NÔNG DÂN TẠI HUYỆN
QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH” do NGUYỄN THỊ NHẬT PHƯƠNG, sinh
viên khoá 36, ngành KINH TẾ NÔNG LÂM, đã bảo vệ thành công trước hội đồng vào ngày
Th.s TRẦN MINH TRÍ Người hướng dẫn
Ngày tháng năm
Chủ tịch hội đồng chấm báo cáo Thư ký hội đồng chấm báo cáo
_ _ Ngày tháng năm Ngày tháng năm
Trang 3LỜI CẢM TẠ
Lời đầu tiên cho tôi gửi lời cảm ơn sâu sắc đến ba mẹ, người đã sinh ra tôi nuôi dưỡng tôi, người đã hi sinh tất cả cuộc đời không ngại khó khăn, gian khổ để mong ngày tôi được lớn khôn và trưởng thành, ba mẹ vẫn luôn là chỗ dựa vững chắc để tôi bước vào đời.Công ơn to lớn ấy tôi sẽ mãi ghi nhớ và tôi hứa cho dù khó khăn, gian khổ đến đâu tôi sẽ cố gắng vượt qua để đứng vững trên đường đời, trên con đường mà con đã chọn, để không phụ lòng của ba mẹ
Tôi xin chân thành cảm ơn đến quý thầycô Trường ĐH Nông Lâm TPHCM, đặc biệt là thầy cô thuộc Khoa Kinh Tế đã tận tình giảng dạy, truyền đạt cho tôi vốn kiến vững chắc làm hành trang để tự tin bước vào đời
Xin chân thành cảm ơn thầy Trần Minh Trí,người thầy đã tận tình giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua.Nhờ sự tận tình giảng dạy, hướng dẫn, giúp đỡ ấy của thầy tôi mới hoàn thành tốt đề tài này
Ngoài ra cho tôi gửi lời cảm ơn tới quý anh chị, bạn bè… những người đã luôn quan tâm giúp đỡ tôi, chia sẻ những buồn vui trong suốt quá trình làm khóa luận cũng như trong cuộc sống hàng ngày
Xin chân thành cảm ơn ban lãnh đạo UBND huyện Quảng Ninh, các anh chị, cô chú trên địa bàn đã nhiệt tình chia sẻ những thông tin quý báu giúp tôi hoàn thành quá trình thu thập số liệu để có thể hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này
Cuối cùng cho tôi gửi lời chúc tốt đẹp nhất tới UBND huyện Quảng Ninh Chúc quý thầy, quý cô, quý anh chị và toàn thể bạn bè mạnh khỏe, hạnh phúc và thành đạt
Xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên NGUYỄN THỊ NHẬT PHƯƠNG
Trang 4NỘI DUNG TÓM TẮT
NGUYỄN THỊ NHẬT PHƯƠNG.Tháng 12 năm 2013.“Phân Tích Các Yếu
Tố Ảnh Hưởng Tới Thu Nhập Của Hộ Nông Dân Tại Huyện Quảng Ninh, Tỉnh Quảng Bình”
NGUYEN THI NHAT PHUONG DECEMBER 2013 “Analysis of factors affecting the income of households in Quang Ninh District, Quang Binh Province”
Đề tài “Phân Tích Các Yếu Tố Ảnh Hưởng Tới Thu Nhập Của Hộ Nông Dân Tại Huyện Quảng Ninh, Tỉnh Quảng Bình” tập trung nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng tới thu nhập của hộ nông dân Cụ thể đề tài đi sâu vào nghiên cứu các mặt sau:
- Thực trạng nguồn thu nhập của hộ nông dân tại huyện Quảng Ninh
- Phân tích thực trạng nghèo đói, bất bình đẳng trong thu nhập của hộ nông dân tại huyện Quảng Ninh
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập hộ nông dân tại huyện Quảng Ninh
- Đề xuất những giải pháp, kiến nghị chủ yếu nhằm nâng cao thu nhập và
ổn định đời sống hộ nông dân trong những năm tới
Qua đó phản ánh một cách chân thực về tình hình đời sống cũng như sự bất bình đẳng trong thu nhập, xác định xem những yếu tố nào tác động tới thu nhập của hộ nông dân… Từ đó đề xuất một 1 số giải pháp nhằm nâng cao thu nhập cho các hộ nông dân tại huyện Quảng Ninh
Để thực hiện đề tài này, tác giả đã thu thập số liệu, thông tin từ các phòng ban thuộc UBND Huyện Quàng Ninh, qua báo chí và internet Số liệu sơ cấp được thu thập thông qua việc điều tra phỏng vấn 60 hộ nông dân trên địa bàn Huyện Phân tích số liệu bằng phương pháp thống kê mô tả, phân tích tổng hợp cũng như sử dụng các
Trang 5Lorenz, hệ số Gini…và sử dụng phần mềm eview để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ nông dân
Trang 6
MỤC LỤC
Trang
DANH MỤC VIẾT TẮT vii
DANH MỤC CÁC BẢNG viii
DANH MỤC CÁC HÌNH ix
CHƯƠNG 1 1
MỞ ĐẦU 1
1.1.Đặt vấn đề 1
1.2.Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1.Mục tiêu chung 2
1.2.2.Mục tiêu cụ thể 2
1.3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 2
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 2
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài 2
1.4.Cấu trúc đề tài 3
CHƯƠNG 2 4
TỔNG QUAN 4
2.1 Điều kiện tự nhiên 4
2.1.1 Vị trí địa lý 4
2.1.2 Địa hình và thỗ nhưỡng 5
2.1.3 Khí hậu và thời tiết 7
2.1.4 Thủy văn và sông ngòi 8
2.2 Điều kiện kinh tế xã hội 8
2.2.1 Dân số và lao động 8
2.2.2 Giáo dục và y tế 10
Trang 72.3.2 Công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp - ngành nghề 13
2.3.3 Cơ sở hạ tầng 13
CHƯƠNG 3 15
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15
3.1 Cơ sở lý luận 15
3.1.1 Một số khái niệm 15
3.1.2 Thực trạng thu nhập của Việt Nam 16
3.1.3 Thực trạng bất bình đẳng thu nhập tại Việt Nam 18
3.2 Phương pháp nghiên cứu 27
3.2.1.Phương pháp thống kê mô tả 27
3.2.2 Thước đo xác định bất bình đẳng 28
3.2.3 Phương pháp phân tích hồi quy 31
CHƯƠNG 4 38
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 38
4.1 Thực trạng thu nhập hộ nông dân tại huyện quảng Ninh năm 2012 38
4.2 Phân tích thực trạng nghèo đói và bất bình đẳng thu nhập tại huyện Quảng Ninh 39 4.2.1 Nghèo đói 39
4.2.2 Phân tích thực trạng bất bình đẳng 42
4.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập hộ nông dân trong huyện Quảng Ninh 45
4.3.1 Mô tả đặc điểm hộ điều tra 45
4.3.2 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập hộ nông dân tại huyện Quảng Ninh 52
4.4 Một số giải pháp nhằm nâng cao mức thu nhập và giảm bất bình đẳng của hộ nông dân trong huyện Quảng Ninh 58
CHƯƠNG 5 61
KẾT LUÂN VÀ KIẾN NGHỊ 61
5.1 Kết luận 61
5.2 Kiến nghị 61
5.2.1 Đối với chính quyền địa phương 61
5.2.2 Đối với các hộ gia đình: 62
TÀI LIỆU THAM KHẢO 64
Trang 8DANH MỤC VIẾT TẮT
NH NN&PTNT Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn NHCSXH Ngân hàng chính sách xã hội
UBND Ủy ban nhân dân
TC, CĐ, ĐH Trung cấp, Cao đẳng, Đại học
TTCN Tiểu thủ công nghiệp
HĐND Hội đồng nhân dân
NTTS Nuôi trồng thủy sản
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1: Diện Tích, Dân Số Năm 2012 9
Bảng 3.1 Thu Nhập Bình Quân Nhân Khẩu 1 Người/ Tháng Chia Theo Thành Thị Nông Thôn và Các Vùng từ 2010-2012 17
Bảng 3.2 Thu Nhập Bình Quân Đầu Người/Tháng của Từng Nhóm 21
Bảng 3.3 Tỉ Lệ Cơ Cấu Thu Nhập Giữa 5 Nhóm Dân Cư Qua Các Năm 21
Bảng 3.4 Thu Nhập Theo Giá So Sánh Bình Quân Một Người/Tháng Theo Nhóm Thu Nhập 22
Bảng 3.5 Những Nhân Tố ảnh Hưởng Đến Thu Nhập Hộ Gia Đình trong Huyện 34
Bảng 4.1: Chuẩn Nghèo của Chính Phủ cho Giai Đoạn 2006 – 2012 40
Bảng 4.2 Tình Trạng Thu Nhập của Các Hộ Điều Tra 41
Bảng 4.3 Phân Phối Thu Nhập Bằng Đường Cong Lorenz 43
Bảng 4.4 Tình Hình Sử Dụng Đất Đai của Các Hộ Gia Đình 46
Bảng 4.5 Quy Mô Hộ và Tỷ Lệ Phụ Thuộc Các Hộ Gia Đình 47
Bảng 4.7 Cơ Cấu Độ Tuổi của Chủ Hộ 48
Bảng 4.8 Trình Độ Chuyên Môn của Người Trong Độ Tuổi Lao Động Của Mẫu Điều Tra Năm 2012 49
Bảng 4.9 Tình Hình Vay Tín Dụng của Hộ 50
Bảng 4.10 Mục Đích Sử Dụng Vốn Vay của Các Hộ Dân 50
Bảng 4.11 Tình Hình Nhà Ở, Điện, Nước của Các Hộ Dân 51
Bảng 4.12 Kết Quả Ước Lượng Các Thông Số của Mô Hình Thu Nhập 52
Bảng 4.13 Hệ Số Xác Định R2phụ của Các Mô Hình Hồi Quy Bổ Sung 54
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 2.1 Bản Đồ Hành Chính Huyện Quảng Ninh 4
Hình 3.1 Cơ Cấu Nguồn Thu Nhập trong Năm 2012 18
Hình 3.2 Mô Hình Chữ U Ngược của Simon Kuznets 25
Hình 3.3 Mô Hình Đường Cong Lorenz 29
Hình 4.1 Cơ Cấu Thu Nhập của Huyện Quảng Ninh 39
Hình 4.2 Thu Nhập Bình Quân Đầu Người/ Tháng của Từng Nhóm trong Tháng 2012 42
Hình 4.3 Đường Cong Lorenz Thể Hiện Sự Phân Phối Thu Nhập ở Huyện Quảng Ninh 44
Trang 11CHƯƠNG 1
MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Mọi người ai cũng cần đến những nhu cầu thiết yếu như cơm ăn, áo mặc, nhà ở
và công việc ổn định,… Nhưng nhu cầu của con người là vô hạn, ngày càng tăng theo
sự phát triển của xã hội, chính sự tăng lên này đã thúc đẩy xã hội phát triển theo chiều hướng tiến bộ hơn để đáp ứng nhu cầu của con người
Để xem xét nền kinh tế của một nước tăng trưởng hay suy thoái người ta đưa ra nhiều chỉ tiêu tính toán như tỉ lệ lạm pháp, tình trạng thất nghiệp, tốc độ tăng trưởng,… (trong đó chỉ tiêu tốc độ tăng trưởng rất quan trọng biết được thu nhập bình quân đầu người (GNP) là bao nhiêu) Thu nhập bình quân đầu người nói lên mức sống của người dân tại địa phương, vùng hay đất nước Khi thu nhập thực tế của người dân tăng thì khả năng tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ được tăng lên do vậy mức sống được cải thiện
Việt Nam là một quốc gia nông nghiệp có đến 76% số dân sống ở khu vực nông thôn, do đó vấn đề thu nhập của các hộ gia đình nông thôn có ý nghĩa rất quan trọng và cần thiết
Huyện Quảng Ninh là một huyện thuộc tỉnh Quảng Bình, nguồn thu nhập chính
ở đây là sản xuất nông nghiệp, chủ yếu là trồng trọt và chăn nuôi, ngoài ra có thu nhập
từ một số nguồn thu khác đóng góp không nhỏ cho đời sống người dân từ buôn bán, lương hưu,…Tuy có nhiều nguồn thu từ các công việc trên nhưng mức thu nhập và đời sống người dân ở đây vẫn thấp Bên cạnh đó huyện còn còn gặp nhiều khó khăn, thách thức về vấn đề bất bình đẳng trong việc phân hóa giàu nghèo ngày càng tăng, chênh lệch giữa các vùng còn khá lớn nguyên nhân chủ yếu là do nguồn thu nhập của người dân Những vấn đề cần làm rõ làthực trạng nguồnthu nhập của hộ nông dân tại huyện
Trang 12Quảng Ninh ra sao? Đồng thời xác định các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập hộ nông dân từ đó đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao thu nhập, ổn định đời sống
hộ nông dân ?Đó là một số vấn đề đặt ra cần được các nhà khoa học nghiên cứu và giải
đáp Để góp phần nghiên cứu và giải đáp những vấn đề trên, tôi lựa chọn đề tài: “Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập hộ nông dân tại huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
- Thực trạng nguồn thu nhập của hộ nông dân tại huyện Quảng Ninh
- Phân tích thực trạng nghèo đói, bất bình đẳng trong thu nhập của hộ nông dân tại huyện Quảng Ninh
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập hộ nông dân tại huyện Quảng Ninh
- Đề xuất những giải pháp, kiến nghị chủ yếu nhằm nâng cao thu nhập và
ổn định đời sống hộ nông dân trong những năm tới
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu của đề tài là phân tích các yếu tố ảnh hưởng, do đó đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là các hộ nông dân trên địa bàn huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
a) Phạm vi không gian
Đề tài được nghiên cứu trên địa bàn huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình
b) Phạm vi thời gian
Trang 13Thời gian thực hiện đề tài từ tháng 8/2013 đến tháng 12/2013
1.4 Cấu trúc đề tài
Chương 1.Mở đầu: Đặt vấn đề, mục tiêu nghiên cứu và phạm vi thực hiện của
đề tài
Chương 2.Tổng quan về đề tài nghiên cứu: Chương này giới thiệu tổng quan
về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hộ và hiện trạng phát triển của huyện Quảng Ninh,
tỉnh Quảng Bình
Chương 3 Cở sở lý luận và phương pháp nghiên cứu: Chương này trình bày cơ
sở lý luận, các khái niệm, phần tổng quan các tài liệu đã nghiên cứu đồng thời trình bày tình trạng nghèo đói, bất bình đẳng Sau đó trình bày các phương pháp nghiên cứu được áp dụng trong đề tài
Chương 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận: Chương này trình bày nội dung
bất bình đẳng trong phân phối thu nhập của các hộ gia đình và phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình Từ đó đề xuất một số giải pháp nâng cao thu nhập của các hộ nông dân
Chương 5 Kết luận và kiến nghị: Nêu tổng quát kết quả nghiên cứu đạt được
cũng như những hạn chế của đề tài Ngoài ra còn đề xuất kiến nghị với các cơ quan liên quan để nâng cao mức thu nhập của người dân, thúc đẩy kinh tế huyện Quảng Ninh tăng trưởng nhanh một cách bền vững
Trang 14CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN
2.1 Điều kiện tự nhiên
2.1.1 Vị trí địa lý
Quảng Ninh là huyện nằm về phía Nam tỉnh Quảng Bình Được giới hạn bởi tọa độ địa lý: từ 1704’7” đến 17026’18”vĩ độ Bắc và từ 106017’9” đến 106048’ kinh độ Đông
Hình 2.1 Bản Đồ Hành Chính Huyện Quảng Ninh
Nguồn: https://quangbinh.gov.vn/
2
Trang 15đường biên giới Việt Lào dài 40,5km.Có tuyến đường Quốc lộ 1A; 2 nhánh Đông và Tây đường Hồ Chí Minh và tuyến đường sắt Bắc Nam.Với vị trí đó, Quảng Ninh có lợi thế trong giao lưu kinh tế, xã hội và có điều kiện phát triển đa ngành
Ranh giới hành chính
- Phía Bắc giáp huyện Bố Trạch và thành phố Đồng Hới
- Phía Nam giáp huyện Lệ Thủy
- Phía Đông giáp Biển Đông
- Phía Tây giáp nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào
2.1.2 Địa hình và thỗ nhưỡng
a) Địa hình
Địa hình huyện Quảng Ninh tương đồi phức tạp, theo hướng kinh tuyến, địa hình khu vực nghiêng dần từ Tây sang Đông PhíaTây là sườn Đông của dãy Trường Sơn hùng vĩ, vùng đồi mở rộng với nhiều nhánh núi tiến ra sát biển làm thu hẹp diện tích vùng đồng bằng duyên hải
Về mặt cấu trúc, có thể chia thành 3 vùng: vùng núi, vùng đồi và đồng bằng
Vùng núi: Nằm ở sườn Đông dãy Trường Sơn, có độ cao dao động từ 250m đến
trên 1.500m, phân bố ở phía Tây lãnh thổ Chủ yếu là núi thấp, diện tích khoảng 50.163,83ha (chiếm 42,10% diện tích đất tự nhiên), địa hình núi trung bình chiếm diện tích không đáng kể (chiếm 2,76% diện tích đất tự nhiên), có nhiều đỉnh cao trên 1.000m nhưCo BiMan (1.570m), Co Terrien (1.432m), Co Preu (1.167m)
Vùng đồi: Nằm chuyển tiếp giữa vùng núi và vùng đồng bằng ven biển, có độ
cao giao động từ 10m đến 250m Tổng diện tích 49.823,13ha (chiếm 41,81% diện tích đất tự nhiên) Được chia thành 2 kiểu địa hình, kiểu địa hình đồi cao (29.977,4ha) và kiểu địa hình đồi thấp (19.845,73ha)
Do được cấu tạo chủ yếu bởi các đá trầm tích lục nguyên, đá biến chất và chịu tác động mạnh của quá trình bào mòn, rữa trôi nên bề mặt địa hình khá mềm mại Dạng địa hình đồi thấp, đồi bát úp phân bố chủ yếu ở phía Bắc sông Long Đại, còn từ phía Nam sông Long Đại trở vào là địa hình thung lũng với các hợp thủy nhỏ xen kẻ với đồi thấp và núi đá vôi
Vùng đồng bằng: Có độ cao từ 10m trở xuống, với diện tích 15.889,38ha (chiếm
13,33% diện tích đất tự nhiên) Đồng bằng có nguồn gốc mài mòn bồi tụ, phân bố dọc
Trang 16theo các sông Long Đại, Kiến Giang và Nhật Lệ Nơi thấp nhất vùng đồng bằng là phá Hạc Hải Đồng bằng là vùng tập trung đông dân cư của huyện và thuận lợi cho phát triển nông nghiệp nhất là cây lương thực
b) Thổ nhưỡng
Với tính chất phức tạp của các nhân tố hình thành đất, đặc biệt là đá mẹ và hình thái địa hình,nhiều loại đất khác nhau đã được hình thành trên lãnh thổ nghiên cứu Trên cơ sở bản đồ đất tỉnh Quảng Bình, huyệnQuảng Ninh có 8 nhóm đất với 15 loại đất
Đất cồn cát trắng vàng (Cc):Có 6.982,07ha chiếm 5,86% diện tích đất tự nhiên
Đất cồn cát trắng vàng ít được sử dụng cho sản xuất nông nghiệp, chủ yếu sử dụng cho trồng rừng phòng hộ, chống cát bay, cát chảy
Đất cát biển trung tính ít chua (C): Có diện tích 772,37ha chiếm 0,65% diện
tích đất tự nhiên Loại đất này đã được cải tạo để trồng hoa màu ở những nơi chủ động nước tưới
Đất mặn trung bình và ít (M):Có 135,77ha chiếm 0,11% diện tích đất tự nhiên
Hiện nay, loại đất này đang được sử dụng trồng 1-2 vụ lúa, tuy nhiên vào mùa khô cần phải chủ động nước tưới và rửa mặn
Đất phèn hoạt động (Sj): Có 2.172,35ha, chiếm 1,82% diện tích đất tự nhiên
Hiện tại diện tích sử dụng trồng một vụ lúa, cần phải hoàn thiện hệ thống thủy lợi, chủ động tưới tiêu để sử dụng đất có hiệu quả
Đất phù sa trung tính ít chua (P):Có 2.802,48ha chiếm 2,35% diện tích đất tự
nhiên
Đất phù sa chua (Pc):Có 2.096,35ha, chiếm 1,76% diện tích đất tự nhiên Hầu
hết diện tích đều được sử dụng cho sản xuất nông nghiệp
Đất glây chua (GLc): Có 104,34ha, chiếm 0,09% diện tích đất tự
Đất mới biến đổi chua (CMc): Có 2.792,35ha chiếm 2,34% diện tích tự nhiên
Đất phân bố chủ yếu ở các xã Duy Ninh, Hiền Ninh, Tân Ninh
Đất xám lẫn đá (X-sk): Có 397,13ha chiếm 0,33% diện tích tự nhiên Loại đất
này thích hợp với các loại cây ngắn ngày
Trang 17Đất xám cơ giới nhẹ (Xa): Được hình thành trên đá cát, đá phiến sét, có diện
tích 333,49ha, chiếm 0,28% diện tích tự nhiên Đây là loại đất nghèo dinh dưỡng, dễ bị khô hạn
Đất xám bạc màu (Xab): Được hình thành trên các mẫu chất đá mẹ thô, nhiều
silic, cấp hạt sét bị rữa trôi mạnh Có 163,13ha, chiếm 0,14% diện tích tự nhiên Đất xám bạc màu có hàm lượng chất dinh dưỡng thấp nhưng phân bố ở địa hình bằng phẳng, thoát nước tốt, dễ canh tác và thích hợp với nhiều cây trồng cạn ngắn ngày có
tính chịu hạn
Đất xám feralit (Xf): Có diện tích lớn nhất khu vực với 74.100,99ha, chiếm
62,18% diện tích tự nhiên
Đất xám kết von (Xfe): Có 97,62ha chiếm 0,08% diện tích tự nhiên Đất xám
kết von thường có tầng mỏng, nghèo dinh dưỡng do đó cần trồng những cây phát triển
nhanh để che phủ và cải tạo đất
Đất xám mùn trên núi (Xh):Có 1.860,31ha chiếm 1,56% diện tích tự nhiên Đất tầng mỏng chua (Ec): Có 1.407,69ha chiếm 1,18% diện tích tự nhiên Đây
là loại đất xấu, ưu tiên phát triển lâm nghiệp với cây trồng phát triển nhanh, che phủ và cải tạo đất
2.1.3 Khí hậu và thời tiết
Nằm trong khu vực duyên hải Bắc miền Trung và phía Đông dãy Trường Sơn, huyện Quảng Ninh có khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng, ẩm mang đầy đủ sắc thái khí hậu các tỉnh miền Trung Việt Nam Trong năm có hai mùa rõ rệt, mùa mưa và mùa khô Mùa khô từ tháng XII đến tháng VIII năm sau, mùa mưa từ tháng IX đến tháng
XI Từ tháng III đến tháng VIII chịu ảnh hưởng của gió Tây Nam khô nóng Từ tháng
IX đến tháng II năm sau chịu ảnh hưởng của gió Đông Bắc đi liền với mưa phùn và rét đậm
Trang 182.1.4 Thủy văn và sông ngòi
Huyện Quảng Ninh có một mạng lưới sông suối khá phong phú, mật độ trung bình 1,16 km/km2 Địa hình khu vực bị chia cắt bởi 2 con sông lớn và nhiều phụ lưu
Do đặc điểm địa hình lãnh thổ hẹp, độ dốc lớn nên sông ngòi ở đây thường ngắn
và dốc, có hiện tượng đào lòng mạnh, khả năng điều tiết nước kém, thường gây lũ trong mùa mưa Tổng lượng dòng chảy vào mùa lũ chiếm từ 60-80% lượng dòng chảy
2.2 Điều kiện kinh tế xã hội
2.2.1 Dân số và lao động
a) Dân số
Theo niên giám thống kê năm 2012, dân số toàn Huyện là 87.264người, mật độ dân số trung bình 73 người/km2 Về thành phần dân tộc, trên địa bàn nghiên cứu có hai dân tộc sinh sống, dân tộc Kinh và dân tộc Bru-Vân Kiều Tỷ lệ dân tộc Kinh chiếm tới 96,6%; dân tộc Bru-Vân Kiều chiếm tỷ lệ thấp chỉ 3,4% và chủ yếu tập trung ở hai
xã miền núi Trường Sơn và Trường Xuân
Trang 19Bảng 2.1: Diện Tích, Dân Số Năm 2012
Nguồn: Niêm giám thống kê huyện Quảng Ninh, năm 2012 Tuy nhiên, có sự phân bố mất cân đối giữa thị trấn và nông thôn.Vùng thị trấn
mật độ dân số lên đến 1.321 người/km2, vùng nông thôn thấp nhất là xã miền núi
Trường Sơn 5 người/km2
b) Lao động
Nhìn chung, lực lượng lao động huyện Quảng Ninh khá dồi dào, có 43.250 người
trong độ tuổi lao động, chiếm 47,6% dân số.Đây là những lao động chính trong gia
đình đóng vai trò quan trọng tạo ra thu nhập nhằm nâng cao đời sống và ổn định gia
đình Ngoài ra, trong sản xuất nông nghiệp còn có một lực lượng lao động phụ ở trên
và dưới độ tuổi lao động Cơ cấu lao động làm việc trong các ngành kinh tế - xã hội đã
Trang 20có sự chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng lao động trong ngành công nghiệp – xây dựng và dịch vụ; đồng thời giảm tỷ trọng lao động trong ngành nông nghiệp và thủy sản
Tuy nhiên, trình độ kỹ thuật còn thấp, chủ yếu là lao động phổ thông, sống chủ yếu phụ thuộc vào sản xuất nông nghiệp Đặc biệt nhóm dân tộc thiểu số Bru-Vân Kiều trình độ dân trí thấp, với tập quán canh tác lạc hậu, còn tồn tại lối sống du canh, đốt rừng làm rẫy, canh tác trên đất dốc thiếu khoa học, tiềm ẩn nguy cơ xói mòn trên diện rộng
2.2.2 Giáo dục và y tế
a) Giáo dục
Hệ thống giáo dục được hoàn thiện hơn với các cấp học, bậc học, các loại hình
và hình thức giáo dục Quy mô giáo dục tăng nhanh, nhất là giáo dục mầm non và trung học phổ thông Mạng lưới cơ sở giáo dục được mở rộng, phát triển hợp lí, rộng khắp đáp ứng nhu cầu học tập của các tầng lớp nhân dân Đến nay đã có 73 trường học
và cơ sở giáo dục đào tạo
Với mạng lưới đó đã thu hút trên 30.000 người đi học, đến nay bình quân cứ 3 người thì có 1 người đi học Với quy mô, chất lượng giáo dục toàn diện đã có những chuyển biến mạnh mẽ Việc đổi mới chương trình, sách giáo khoa, phương pháp dạy học, giáo dục ở các cấp thực hiện một cách nghiêm túc, quyết liệt và hiệu quả Bằng những nỗ lực trong nhiều năm thực hiện nề nếp, kỷ cương trong dạy học, thi cử, đánh giá; đa dạng các hình thức dạy học phù hợp, đến nay ở mần non tỉ lệ bán trú tại trường đạt 80%, tỉ lệ tốt nghiệp tiểu học trên 98%, tốt nghiệp trung học cơ sở 95%, tốt nghiệp trung học phổ thông 85% Học sinh đỗ vào các trường Đại học, Cao đẳng năm sau cao hơn năm trước
b) Y tế
Năm 2012, hoạt động y tế cơ sở trên địa bàn huyện Quảng Ninh từng bước được nâng cao chất lượng, duy trì kiểm tra và tổ chức họp giao ban luân phiên hàng tháng tại các trạm y tế, tạo điều kiện thuận lợi cho các trạm học tập, trao đổi kinh nghiệm, để thực hiện đạt 10 chuẩn y tế cơ sở theo quy định
Trang 21sóc y tế còn thấp Mặc dù được đầu tư trang thiết bị và mở rộng hệ thống y tế tới tất cả các xã, thị trấn nhưng cơ sở vật chất phục vụ y tế còn thiếu thốn, đặc biệt là các trạm y
tế xã thiếu cả về thiết bị lẫn cán bộ y tế Chủ yếu là các y tá và họ làm các công việc đơn giản như sơ cứu, cấp phát thuốc Trung tâm y tế huyện còn thiếu máy móc, thiết bị hiện đại để chuẩn đoán, điều trị bệnh Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến vấn đề chăm sóc sức khỏe cho người dân, dẫn đến chi phí khám chữa bệnh cao vì nếu bệnh nặng họ phải ra tuyến trên
2.3 Hiện trạng phát triển
Sau những năm đổi mới với sự nỗ lực của các cấp, ngành và nhân dân địa phương huyện đã có được hệ thống cơ sở vật chất hạ tầng cơ bản đáp ứng được nhu cầu phát triển xã hội Các lĩnh vực kinh tế - xã hội đã có bước phát triển đáng kể Tốc
độ tăng trưởng kinh tế bình quân hằng năm đạt khá 11%, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ; các chỉ tiêu chính của Nghị quyết HĐND huyện đề ra thực hiện đạt và vượt kế hoạch
2.3.1 Nông- lâm- nghiệp
a) Nông nghiệp
Toàn huyện có 119.169,19 ha diện tích đất tự nhiên, có 108.479 ha đất lâm-ngư nghiệp chiếm 91,03% diện tích đất tự nhiên của huyện Trong đó: Đất sản xuất nông nghiệp có 8.138,95 ha, chiếm 7,5%; đất lâm nghiệp có 99.924,03 ha, chiếm 92,11%; đất nuôi trồng thủy sản có 381,49 ha, chiếm 0,35%; đất nông nghiệp khác có 34,53 ha, chiếm 0,03%
nông-Về cơ bản, mặc dù còn gặp nhiều khó khăn về thời tiết song sản xuất nông nghiệp năm 2012 của Quảng Ninh vẫn bảo đảm vấn đề an ninh lương thực cây lúa, diện tích tương đối ổn; công tác chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vùng sản xuất thâm canh lúa chất lượng cao, mô hình cánh đồng mẫu lớn của huyện dần dần được định hình
Tuy nhiên, đánh giá một cách tổng quan, tổng sản lượng lương thực của toàn huyện bị sút giảm đáng kể; một số diện tích cây trồng không đạt chỉ tiêu kế hoạch đề ra; sản xuất cây vụ đông bị ảnh hưởng nặng do bão lũ
Diện tích gieo trồng cả năm đạt 8.138 ha, trong đó diện tích cây lúa 8.088 ha; tổng sản lượng lương thực 41.087 tấn, so với kế hoạch giảm 3.489 tấn, trong đó sản lượng lúa giảm 3.424 tấn Trong năm, UBND huyện tích cực chỉ đạo các địa phương:
Trang 22Hiền Ninh, Hàm Ninh, Xuân Ninh, Lương Ninh đẩy mạnh công tác chuyển đổi cây trồng trên các chân đất từ vùng gò đồi đến đất lúa năng suất thấp sang trồng các loại cây như mướp đắng, dưa leo, dưa hấu với diện tích 57 ha cho thu nhập cao Huyện tập trung xây dựng vùng sản xuất thâm canh lúa chất lượng cao với diện tích 5.600 ha, hình thành nên các cánh đồng mẫu lớn ở Vạn Ninh, An Ninh, Xuân Ninh, Duy Ninh
Việc đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp đã được ưu tiên, kênh mương thuỷ lợi nội đồng, hệ thống dẫn nước từ hồ An Mã được đầu tư kiên cố, phục vụ sản xuất lâu dài Công tác giống, chuyển giao khoa học kỹ thuật luôn được chú trọng, giống cấp l đưa vào sản xuất chiếm 35 - 40% diện tích.Cơ cấu giống, mùa vụ đảm bảo.Các loại cây trồng khác vẫn được chú ý đầu tư như lạc, ngô, đậu xanh, sắn góp phần cung cấp nguyên liệu cho chế biến thực phẩm, chăn nuôi, phát triển kinh tế hàng hoá
b) Chăn nuôi
Về chăn nuôi, đàn gia súc, gia cầm tăng trưởng về số lượng và chất lượng.Nhiều mô hình cải tạo đàn gia súc, gia cầm đã được triển khai và ứng dụng rộng rãi Huyện đã xây dựng chính sách khuyến khích phát triển chăn nuôi, đã có nhiều hộ nông dân mạnh dạn đầu tư xây dựng trang trại chuồng trại, con giống theo hướng sản xuất hàng hoá Công tác tiêm phòng được chú trọng nên hạn chế dịch bệnh xảy ra.Trong chăn nuôi, đàn trâu có 3.691 con; 5.200 con bò; 31.400 con lợn và trên 305.000 con gia cầm
c) Thủy sản
Nuôi trồng thuỷ sản được xác định là một trong những hướng phát triển kinh tế chủ yếu của huyện.Huyện Uỷ đã có Nghị quyết chuyên đề, UBND huyện có chính sách khuyến khích phát triển NTTS Do vậy nuôi trồng thuỷ sản đã có sự tăng trưởng khá về diện tích và sản lượng Năm 2012,sản lượng thủy sản khai thác là 1.567 tấn, sản lượng thủy sản nuôi trồng là 1.058 tấn Các mô hình mới như nuôi tôm trên cát, tôm càng xanh, cá nước ngọt đã triển khai bước đầu mang lại hiệu quả giải quyết việc làm cho nhiều lao động Tuy nhiên đánh bắt hải sản còn gặp không ít khó khăn, thuyền, ngư lưới cụ còn thô sơ, chưa vươn ra xa khai thác được, đây là một vấn đề cần được quan tâm để phát triển nghề ngư trong những năm tới
Trang 232.3.2 Công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp - ngành nghề
Công nghiệp chưa được phát triển, chính sự tăng trưởng của khu vực này thấp
là nguyên nhân tăng trưởng kinh tế chung thấp, đã làm cho dịch chuyển kinh tế chậm, thể hiện nền kinh tế thuần nông; tiềm năng phát triển công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp chế biến nông sản, phát triển dịch vụ, nhất là du lịch sinh thái của Huyện rất lớn
Riêng TTCN, giá trị sản xuất hàng năm tăng 15 - 20% do Huyện uỷ đã đề ra nhiều giải pháp chỉ đạo thực hiện, tích cực tìm kiếm, du nhập ngành nghề mới như: ép ván tre, mộc mỹ nghệ mây tre đan xuất khẩu Một số cơ sở sản xuất, chế biến đã hình thành, bước đầu giải quyết việc làm cho nhiều lao động Tuy nhiên tốc độ phát triển đó vẫn chưa xứng với tiềm năng của địa phương.Trong thời gian tới huyện sẽ phối hợp với các ngành cấp tỉnh triển khai quy hoạch mở rộng thị trấn Quán Hàu.Huyện đã tổ chức quy hoạch 3 cụm công nghiệp là Quán Hàu, Nam Long, Dinh Mười, mỗi cụm có diện tích từ 10 - 20 ha
Hoạt động thương mại - dịch vụ trên địa bàn tiếp tục phát triển, các hộ kinh doanh được đăng ký và quản lý chặt chẽ, nhiều doanh nghiệp thương mại ra đời, kinh doanh nhiều mặt hàng phục vụ sản xuất và đời sống Các điểm du lịch đã hình thành đi vào hoạt động phục vụ khách nội địa như bãi tắm Hải Ninh, du lịch núi Thần Đinh…
2.3.3 Cơ sở hạ tầng
a) Giao thông
Mạng lưới giao trên địa bàn Huyện phân bố tương đối hợp lý, các tuyến đường chiến lược của Huyện đã được trải nhựa và bê tông hóa, cơ bản đáp ứng được các yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội hiện nay Trong những năm qua, được sự giúp đỡ của Trung ương, huyện Quảng Ninh đã tập trung tu bổ, nâng cấp hệ thống giao thông và đạt được nhiều thành tích ấn tượng như: 100% xã đều có đường giao thông đến trung
tâm xã có thể đi lại được vào cả hai mùa mưa và nắng
Huyện Quảng Ninh có tuyến quốc lộ 1A chạy qua, cầu Quán Hầu bắc qua sông Nhật Lệ Đường sắt Bắc-Nam chạy qua khu vực trung du của huyện Trung tâm huyện nằm cách 12km về phía Nam của sân bay Đồng Hới
Trang 24Tuy nhiên, chất lượng mạng lưới đường bộ, nhất là đường liên thôn, xóm nền đường nhỏ hẹp, công trình thoát nước chưa được hoàn thiện nên thường xuyên ứ đọng nước vào mùa mưa, gây khó khăn cho hoạt động giao thông
b) Thủy lợi
Hệ thống sông suối khá phong phú với mật độ khoảng 1 - 1,2 km (chiều dài)/km2 Địa hình chia cắt bởi 2 con sông Kiến Giang, Đại Giang và nhiều chi lưu và phụ lưu nhỏ Trên địa bàn hiện có 13 công trình hồ chứa nước lớn nhỏ, với tổng dung tích 128,5 triệu m3 nước Đảm bảo nước tưới cho 2.500 ha đất canh tác nông nghiệp và nước sinh hoạt cho vùng phía Nam của huyện.Đồng thời mở rộng diện tích tưới cho vùng Hàm Ninh, Duy Ninh Ngoài ra còn có hệ thống nước ngầm vùng cát cung cấp nước tưới và sinh hoạt cho các xã ven theo quốc lộ 1A (Gia Ninh, Võ Ninh)
c) Hệ thống điện nước
Hiện nay tất cả 15/15 xã của huyện Quảng Ninh đã có lưới điện đến trung tâm
Xã và các cụm dân cư.Số hộ sử dụng điện lưới quốc gia trong Huyện ngày càng tăng Đây là điều kiện quan trọng góp phần cải thiện đời sống dân sinh và cung cấp điện cho sản xuất để thực hiện công nghiệp hóa nông thôn Quảng Ninh
Nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn là tiêu chí quan trọng trong xây dựng nông thôn mới.Bởi lẽ khi người dân nông thôn có nước sạch sử dụng sẽ đảm bảo được sức khỏe, nâng cao đời sống Do vậy, vấn đề cấp nước sinh hoạt nông thôn ở Quảng Ninh đã được các ngành các cấp hết sức quan tâm Hiện tại, 100% số xã trên địa bàn Huyện đã có hệ thống cung cấp nước sạch Tuy nhiên, rất nhiều hộ dân trên địa bàn đặc biệt là người dân tộc thiểu số vẫn dùng nước giếng, thậm chí là nước sông suối không đảm bảo vệ sinh an toàn
Trang 25CHƯƠNG 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Cơ sở lý luận
3.1.1 Một số khái niệm
a) Thu nhập
Thu nhập là việc nhận được tiền bạc, của cải vật chất từ một công việc nào đó
để chi dùng cho cuộc sống Các khoản thu nhập được trong một khoảng thời gian nhất định thường tính theo tháng, năm,…( trang 925-từ điển tiếng Việt)
Thu nhập có thể bằng tiền hoặc bằng hiện vật, được tính bằng cách lấy tổng thu nhập trừ cho chi phí mua ngoài và các khoản thuế phải nộp (không bao gồm các chi phí gia đình) Thu nhập bình quân trên đầu người được tính bằng cách lấy tổng thu nhập chia cho số thành viên trong hộ đó.Chỉ số này được xây dựng với giả định là tất
cả các thành viên của hộ có cùng thu nhập bình quân giống nhau ngay cả trẻ em
b) Hộ nông dân
Hộ nông dân là hộ có phương tiện kiếm sống từ ruộng đất, sử dụng chủ yếu lao động gia đình vào sản xuất, luôn nằm trong hệ thống kinh tế rộng hơn, nhưng về cơ bản được đặc trưng bởi sự tham gia từng phần vào thị trường với mức hoàn hảo không
cao ( Ellis, 1988, Nguyễn Thị Mai, 2011)
Như vậy, chúng ta có thể thấy rằng: hộ nông dân là đơn vị kinh tế cơ sở, vừa là đơn vị sản xuất, vừa là đơn vị tiêu dùng, vừa là đơn vị kinh doanh và vừa là đơn vị xã hội Trình độ phát triển của hộ từ thấp đến cao, từ tự cung, tự cấp đến sản xuất hàng hóa hoàn toàn, thể hiện mối quan hệ giữa sản xuất với tiêu dùng, nó quyết định đến
mối quan hệ giữa nông hộ và thị trường
c) Kinh tế hộ
Như chúng ta đã biết, kinh tế hộ nông dân đã tồn tại lâu đời, độc lập và tự chủ như các thành phần kinh tế khác.Phát triển kinh tế hộ nông dân là phát triển kinh tế gia
Trang 26đình nông dân Hầu như tất cả các hoạt động nông nghiệp và phi nông nghiệp ở nông thôn chủ yếu được thực hiện thông qua hoạt động của nông hộ.
Từ đó ta có thể hiểu: “Kinh tế hộ nông dân (kinh tế nông hộ) là hình thức tổ chức kinh tế cơ sở của nền sản xuất xã hội trong đó các nguồn lực như đất đai, lao động, tiền vốn và tư liệu sản xuất được coi là của chung để tiến hành sản xuất Những thành viên trong hộ gia đình có cùng chung một ngân quỹ, cùng ở, sinh hoạt chung một nhà Mọi quyết định trong sản xuất kinh doanh và đời sống phụ thuộc vào chủ hộđược Nhà nước thừa nhận và hỗ trợ tạo điều kiện để phát triển” (Đỗ Văn Kiện,
2000, Nguyễn Thị Mai, 2011)
3.1.2 Thực trạng thu nhập của Việt Nam
Nước ta trong những năm qua trong suốt một thời gian dài từ những năm 1975 đến năm 1985, nền kinh tế trong tình trạng bế tắc lâu dài không tìm ra lối thoát, kinh tế kém phát triển, thu nhập bình quân đầu người thấp, tỷ lệ lạm phát cao Đến cuối thập
kỷ 80 đầu thập kỷ 90 đất nước chuyển nền kinh tế tập trung ba cấp sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước Thu nhập bình quân đầu người (GNP) đã tăng lên GNP năm 1989-1991 khoảng 250 USD và Việt Nam là một trong 8 nước nghèo nhất thế giới Nhờ vào các chính sách kinh tế hiệu quả đến năm 1996 GNP của nước ta là
320 USD
Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới, tình trạng phân hóa giàu nghèo tại Việt Nam đang chuyển dần từ mức tương đối bình đẳng (năm 2002) sang mức chênh lệch thu nhập ngày càng tăng giữa các nhóm dân cư
Trong năm 2010 thu nhập bình quân 1 người 1 tháng chung cả nước theo giá hiện hành đạt 1.387 nghìn đồng, tăng 39,4% so với năm 2008 tăng bình quân 18,1% một năm trong thời kỳ 2008-2010
Thu nhập thực tế của thời kỳ 2008-2010 tăng 9,3% mỗi năm, cao hơn mức tăng thu nhập thực tế 8,4% mỗi năm của thời kỳ 2006-2008 và 6,2% mỗi năm của thời kỳ 2004-2006 thấp hơn mức tăng thu nhập thực tế 10,7% mỗi năm của thời kỳ 2002-
2004 Thu nhập ở nông thôn và thành thị đều tăng so với 2008
Trang 27Bảng 3.1 Thu nhập bình quân nhân khẩu 1 người/ 1 tháng chia theo thành thị
Bắc Trung Bộ và Duyên Hải Miền
giá hiện hành của các vùng đều tăng so với năm 2010 Tuy nhiên thu nhập giữa các
vùng có sự chênh lệch, vùng có thu nhập bình quân đầu người cao nhất là Đông Nam
Bộ đạt 3.241 nghìn đồng gấp 2,52 lần vùng có thu nhập bình quân đầu người thấp nhất
là Trung Du và Miền Núi Phía Bắc đạt 1.285 nghìn đồng.Trong năm 2012, thu nhập ở
khu vực thành thị và nông thôn đều tăng so với năm 2010 Thu nhập bình quân 1
người/1 tháng ở khu vực thành thị đạt 3.071 nghìn đồng, khu vực nông thôn đạt 1.541
nghìn đồng, chênh lệch gấp 1,99 lần
Theo kết quả điều tra của Tổng cục thống kê thì tăng thu nhập năm 2012 của hộ
gia đình chủ yếu là do tăng từ việc hưởng tiền lương, tiền công và các công việc tự làm
xây dựng, ở khu vực nông thôn có thêm công việc tự làm thương nghiệp
Trang 28hu từ công
g năm cao
hế xuất tănghiệp và d
ạng bất bì chênh lệc
học trong
n bố nguồn
ố thu nhậphóa qua câliệu dùng
o do phần
ng do các cịch vụ chư
ình đẳng t
h thu nhậ
ba thập nlực trong -lợi tức D
âu hỏi về đtrong sản xthành hệ qđộng, vật thông qua c
có tạo ra
20 6%
18%
ập trong N
u nguồn th
ng, tiền côthu từ dịch
à xây dựnglớn ngườicông ty có
ưa được ph
hu nhập t
p
iên vừa qusản xuất vDưới ảnh hưđịnh giá chxuất Mức quả rút ra từ
tư, tích sản
ơ chế cungnhững mứ
ại Việt Na
ua đã hình
và tiêu thụưởng của t
ho những tưthu nhập t
ừ định giá n Trong m
m 18%, thu
Cơ cấu thu
g làm việc ính sách thmạnh nên ít
am
thành rất nnhưng lại trường phá
ư liệu sản xthay đổi thecủa các tư một hệ thốn
hị trường
ệch thu nh
T cô N ng C xâ D
T
n : Tổng cụành không theo là thukhác chiế
u nhập từ ttrong các
hu hút lao
t thu hút l
nhiều mô không qua
ái Tân Cổ Đxuất; cụ thể
eo những gliệu sản xu
ng sản xuấ
hập không
iền lương, ti ông
Nông, lâm ghiệp, thủy s Công nghiệp v
ây dựng Dịch vụ
hu khác
ục thống kêđồng đều
u từ nông,
m 11% vàtiền lương,khu côngđộng Các
ao động ở
hình trong
an tâm đếnĐiển, phân
ể là giá laogiá này, vàuất: giá đó
Trang 29có hiệu năng Hệ thống giá này không thể hiện và đảm bảo tính xã hội, chẳng hạn như ước lệ về sự công bằng, về sự tương hỗ giữa những thành viên của tập thể, về an ninh quốc gia, Chính vì thế mà chúng ta thấy trong mọi nền kinh tế, ở những mức độ khác nhau, có những chính sách Nhà Nước nhằm điều chỉnh sự phân bố thu nhập-lợi tức
Từ điểm chính vừa nêu trên, ta thấy phân bố và sự chênh lệch thu nhập là một vấn đề không thể dùng cơ chế thị trường mà giải quyết được Chúng ta có thể củng cố nhận định cơ bản này bằng hai yếu tố khác:
Thứ nhất là cách xem xét vấn đề của luận chứng Tân Cổ Điển dựa trên giả thiết
cơ chế cạnh tranh toàn hảo.Theo đó, luận chứng này không thể đứng vững khi trên thực tế, cơ chế thị trường thực ra là cạnh tranh không hoàn hảo (imperfect competition), một sự kiện khó chối bỏ được
Thứ hai, làm thế nào để bảo đảm tính lưu động nhằm tạo tiền đề thuận lợi cho
cơ chế thị trường không phải là giải quyết vấn đề.Có những yếu tố sản xuất cố định và những điều kiện sản xuất bất biến như đất đai, khí hậu Mặt khác, lưu động của tư liệu sản xuất và lao động tạo ra những chi phí giao dịch (transaction cost) Những chi phí này có thể rất đáng kể đối với cá nhân lẫn xã hội Cuối cùng, di chuyển lao động từ vùng này qua vùng kia tùy thuộc vào nhiều yếu tố, không chỉ đơn thuần là đi tìm công
ăn việc làm với mức thu nhập cao Nhà trường, nhà thương là những thành phẩm xã hội công cộng (public good) có tác động lên những quyết định này
Trong mọi tập hợp các quốc gia, mức chêch lệch thu nhập theo vùng thường một mặt phản ánh điều kiện địa dư của phân bố tài nguyên, mặt khác phản ánh mức độ phát triển của từng vùng và sự hòa nhập kinh tế của các vùng với nhau Nếu chêch lệch ở mức không đáng kể, sự ổn định có thể coi như là có.Nhưng một khi chêch lệch đạt đến một mức nào đó, mâu thuẫn quyền lợi kinh tế địa phương là điều không tránh được Thực ra, chính mức chêch lệch thu nhập mới là động cơ và nếu thêm tác động từ bên ngoài, thường là từ một cường quốc có quyền lợi kinh tế trong vùng, thì khả năng đẩy mức độ xung đột đến bạo loạn ly khai mới có thể có được
Sự chêch lệch thu nhập thành thị và nông thôn cũng là một sự kiện thường thấy
ở những nước nông nghiệp Từ những thập niên vừa qua, giá quốc tế những mặt hàng nhóm một (nông, lâm sản, nguyên liệu thô, sơ chế) giảm đi so với giá những mặt hàng công nghiệp Vì công nghiệp thường có địa bàn hoạt động trong thành thị và vùng lân
Trang 30cận, mức thu nhập của dân thành thị tăng lên so với dân ở nông thôn Ngoài ra, những tiến bộ kỹ thuật trong nông nghiệp và công nghiệp chế biến khiến mức cầu lao động nông nghiệp giảm, lượng cung lao động vượt cầu, gây thêm tác động tiêu cực trên mức thu nhập của người dân ở nông thôn Ngày nay, với sự phát triển của khâu dịch vụ cũng chủ yếu là ở thành thị, sự chêch lệch thu nhập này lại càng tăng thêm
Tóm lại, độ ổn định một tập hợp quốc gia chỉ có thể tăng lên một khi mức chêch lệch thu nhập của những thành viên cấu thành nó giảm đi và ngược lại Vì thế, trên con đường tìm hướng ổn định, ta không thể nào không rà xoát những mức chêch lệch thu nhập và có biện pháp đối phó thích ứng (Nguồn: Thời báo kinh tế Sài Gòn)
b) Đánh giá sự bất bình đẳng thu nhập tại Việt Nam
Sự phát triển của nền kinh tế nước ta tương đối ổn định trong những năm gần đây, đã làm cho bộ mặt đời sống nhân dân thay đổi, mức sống ngày càng được cải thiện và thu nhập bình quân đầu người tăng lên đáng kể, đó là sự cố gắng và nỗ lực của Đảng và Nhà nước ta trong sự nghiệp chăm lo đời sống nhân dân Nhưng bên cạnh
đó, khoảng cách giàu nghèo cũng có xu hướng gia tăng.Khi mà nền kinh tế thị trường đặt tất cả các chủ thể phải hoạt động không ngừng và phải biết thích ứng với cơ chế mới Một bộ phận dân cư do nắm bắt được cơ hội làm ăn và trở nên giàu có, trong khi
đó một phận khác vẫn sống trong nghèo khổ do ảnh hưởng của cơ chế mới này Như vậy, trong quá trình tăng trưởng mức độ chệnh này cũng gia tăng, bởi vì thu nhập của người dân tăng theo mức độ khác nhau
Nếu phân chia dân cư theo mức thu nhập thành 5 nhóm, mỗi nhóm chiếm 20% dân số đất nước thì thu nhập bình quân đầu người giữa nhóm giàu nhất và nghèo nhất
sẽ có mức chênh lệch rất lớn
Trang 31Bảng3.2 Thu Nhập Bình Quân Đầu Người/Tháng của Từng Nhóm
Đơn vị tính: 1000 Đồng
Nhóm 1 Nhóm 2 Nhóm 3 Nhóm 4 Nhóm 5
Nhóm 5
so với nhóm 1
Bảng 3.3.Tỉ Lệ Cơ Cấu Thu Nhập Giữa 5 Nhóm Dân Cư Qua Các Năm
Trang 32giữa nhóm có thu nhập giàu nhất và nhóm có thu nhập thấp nhất tăng đều đặn qua các
năm từ 2004 đến 2010 Điều đó cho ta thấy sự bất bình đẳng về thu nhập ngày càng rõ
nét hơn, sự gia tăng khoảng cách giàu nghèo sẽ làm cho tình trạng ngèo trở nên gay
gắt hơn, việc thực hiện các giải pháp giảm nghèo sẽ ngày càng khó khăn hơn
Theo số liêu thống kê năm 2010, thu nhập bình quân đầu người/tháng của hộ
nghèo nhất là 369,000 đồng còn của hộ giàu nhất là 3,4 triệu đồng, cao hơn gấp 10
lần.Thu nhập bình quân đầu người/tháng chung cả nước theo giá hiện hành đạt 1,387
triệu đồng, tăng 39,4% so với năm 2008, tăng bình quân 18,1%/năm trong thời kỳ
duyên hải miền
Trung
317,0 553,3 789,3 1.148,6 2.282,9 7,2
Tây Nguyên 305,4 533,7 798,7 1.276,3 2.525,8 8,3 Đông Nam Bộ 720,0 1.205,2 1.683 2.340,7 5.572,7 7,7
Đồng bằng sông
Cửu Long 395,5 661,5 936,6 1.336,3 2.908,3 7,4
Nguồn: Tổng cục thống kê Qua bảng 3.4 trên ta nhận thấy thu nhập tính theo giá so sánh bình quân một
người/ tháng giữa các nhóm có mức chênh lệch thu nhập khá cao theo từng vùng Ở
đồng bằng sông Hồng thu nhập bình quân một người/ tháng của nhóm có thu nhập cao
Trang 337,6 lần; ở Trung bộ và duyên hải miền Trung gấp 7,2 lần; ở Tây Nguyên gấp 8,3 lần; ở Đông Nam Bộ gấp 7,7 lần; ở đồng bằng sông Cửu Long gấp 7,4 lần
Qua các phân tích trên ta thấy tình trạng bất bình đẳng trong thu nhập ở nước ta ngày càng rõ nét và gay gắt hơn, tỷ lệ hộ nghèo tập trung chủ yếu ở những vùng khó khăn, có nhiều yếu tố bất lợi như điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, kết cấu hạ tầng thấp kém, trình độ dân trí thấp, trình độ sản xuất manh mún, sơ khai Ngoài ra, còn xuất hiện một số đối tượng nghèo mới ở những vùng đang trong quá trình đô thị hóa và nhóm lao động nhập cư vào đô thị, họ thường gặp khó khăn nhiều hơn và phải chấp nhận mức thu nhập thấp hơn lao động sở tại Đây là những yếu tố làm gia tăng tình trạng nghèo và tạo ra sự không đồng đều trong tốc độ giảm nghèo giữa các vùng trong
cả nước
Sự chênh lệch về thu nhập, sự phân hóa giàu nghèo không chỉ xảy ra giữa thành thị và nông thôn mà còn xảy ra trong từng vùng của cả nước Đây là vấn đề mà Đảng cần quan tâm và có những chính sách cụ thể trong sự nghiệp phát triển kinh tế của đất nước ngày càng giàu mạnh
c) Nguyên nhân bất bình đẳng trong thu nhập
Từ các nghiên cứu cho thấy có 2 nguyên nhân chính gây nên sự khác biệt về thu nhập, đó là bất bình đẳng thu nhập do lao động và bất bình đẳng thu nhập do tài sản
Thứ nhất, bất bình đẳng thu nhập do lao động, lao động khác nhau mang lại lợi ích khác nhau do những lý do chủ yếu sau đây:
- Vốn nhân lực là sự tích lũy đầu tư trong mỗi con người, ví dụ như học vấn và kinh nghiệm làm việc Các lao động với nhiều vốn nhân lực sẽ kiếm được nhiều tiền hơn những lao động có ít vốn nhân lực Thưc tế có sự khác biệt mang tính đền bù giữa những lao động có trình độ học vấn và những lao động không có trình độ học vấn nhằm bù đắp cho chi phí của việc đi học
- Năng lực, nỗ lực và cơ hội có thể giúp lý giải cho sự khác biệt về thu nhập Một
số người thông minh hơn, khỏe mạnh hơn những người khác được trả lương theo năng lực tự nhiên của họ Một số lao động làm việc vất vả hơn những người khác và họ cũng được đền bù thõa đáng cho những cố gắng của họ Trình độ học vấn và kinh nghiệm của một cá nhân nào đó có thể trở nên vô nghĩa nếu sự thay đổi công nghệ làm cho công việc cá nhân đó không cần nữa
Trang 34- Quan điểm vốn nhân lực về trình độ học vấn cho rằng, những lao động với trình
độ học vấn cao hơn được trả lương cao hơn vì học vấn làm cho họ có năng suất cao hơn Có bằng chứng cho thấy rằng, học vấn không làm tăng năng suất và tiền lương,
do vậy trình độ học vấn có thể chỉ là phát tín hiệu phản ánh năng lực của người lao động những lợi ích đem lại từ việc đi học có lẽ là một sự kết hợp giữa các hiệu ứng phát tín hiệu từ tư bản của người lao động
Thứ 2, bất bình đẳng thu nhập từ tài sản
- Nó xuất phát từ nguồn lực tự có của mỗi người, từ những tài sản mà họ đang nắm giữ, những tài sản nàycó thể có được từ tiết kiệm tích lũy nên có thể đầu tư, kinh doanh để sinh lời hoặc có được từ kế thừa tài sản Tất cả những điều này tạo nên bất bình đẳng thu nhập gia tăng
- Do vốn góp: ngưởi có nhiều vốn đầu tư khác nhau, khi chia lợi nhuận được hưởng khác nhau theo phần vốn đóng góp
- Do kết quả kinh doanh: đối với các cá nhân đầu tư kinh doanh chấp nhận rủi ro
có kết quả kinh doanh khác nhau tạo ra sự khác biệt về tài sản của họ.(Nguồn: Nguyễn Trung Kiên, 2012)
d) Mô hình chữ U ngược
Trong năm 1995, Simon Kuznets đã nghiên cứu mối quan hệ giữa tổng sản phẩm quốc dân tính theo đầu người (GNP/người) và sự bất bình đẳng trong phân phối thu nhập Dựa vào những số liệu điều tra được trong những thời kỳ này ở các nước có mức thu nhập giàu, nghèo khác nhau Ông cho rằng mối quan hệ giữa GNP/người và bất bình đẳng có dạng chữ U ngược Điều này được minh họa bằng hình 3.1 như sau:
Trang 35Hệ số
GNP/người
Hình 3.2 Mô Hình Chữ U Ngược của Simon Kuznets
Hình 3.2 cho biết trong giai đoạn đầu, khiGNP/người tăng, hệ số Gini tăng, tình trạng bất bình đẳng tăng Tuy nhiên, ở trình độ phát triển cao Khi GNP/người tăng thì tình trạng bất bình đẳng lại giảm dần
Tuy nhiên Simon Kuznets chỉ đưa ra được nhận xét tổng quát mang tính quy luật.Ông không giải thích được 2 vấn đề quan trọng.Thứ nhất, những nguyên nhân cơ bản nào tạo ra sự thay đổi bất bình đẳng trong quá trình phát triển Thứ 2, phạm vi khác biệt giữa các nước về xu thế thay đổi này trong điều kiện họ sử dụng các chính sách khác nhau tác động đến tăng trưởng và bất bình đẳng
e) Tác hại xã hội của bất bình đẳng trong thu nhập
Sự bất bình đẳng trong thu nhập không phải là không có những mặt tích cực Việt Nam không chỉ đang trong quá trình chuyển đổi mà còn là nước mới bắt đầu công nghiệp hóa, còn là một nước nghèo, có thể cân một sự chênh lệch phát triển đủ để tạo
ra động lực cho sự phát triển Với ý nghĩa này thì bất bình đẳng trong thu nhập là một tất yếu nó có ý nghĩa tích cực Nhưng sự bất bình đẳng này lại đang là nguyên nhân chính gây nên sự bất ổn trong xã hội
Về kinh tế
Theo bản báo cáo Nhận Định Về Bất Bình Đẳng Xã Hội Việt Nam, bất bình đẳng trong thu nhập là những nguyên nhân gây ra bất bình đẳng trong giàu nghèo trong xã hội Bất bình đẳng đã góp phần dẫn đến sự nghèo khổ, cùng cựckéo dài dai
Trang 36dẳng đối với một số bộ phận lớn dân số Điều này làm lãng phí tiềm năng con người
và trong nhiều trường hợp, nó thậm chí làm chậm tốc độ tăng trưởng bền vững.Con người là nhân tố năng động nhất, cách mạng nhất trong lực lượng sản xuất, suy đến cùng kết quả của việc người lao động thúc đẩy tư liệu sản xuất hoạt động, nâng cao hiệu quả cũng cần phải dựa vào sự phát huy đầy đủ tính tích cực của người lao động Còn tính tích cực phát huy đầy đủ hay không, lại quyết định sự cảm thụ của người lao động đối với lợi ích kinh tế của bản thân có được thực hiện công bằng hay không, đặc biệt khi mà lao động vẫn chủ yếu là thủ đoạn mưu cầu sự sống,mức công bằng trong thu nhập hầu như là nhân tố ràng buộc đầu tiên với sự dao động tính tích cực của đa số người lao động Nên nếu bất bình đẳng trong thu nhập tức là làm giảm sút tính tích cực của những người không được hưởng sự công bằng, hậu quả là hiệu quả thấp kém, kinh
tế phát triển chậm chạp
Về chính trị- xã hội
Thứ nhất, vấn đề tăng dân di cư từ những vùng kém phát triển kinh tế đến những vùng phát triển hơn.Dân nhập cư tăng nhanh đã gây áp lực và tranh chấp căng thẳng, những người nhập cư thường không có hộ khẩu, không được hưởng những lợi ích.Sự phân biệt đối xử giữa những người nhập cư và không nhập cư là một trong những nguyên nhân dẫn tới các vấn đề xã hội nghiêm trọng ở các đô thị lớn Hơn nữa dân nhập cư vào thường có thu nhập thấp hơn những hộ cư trú tại đây, do đóđã tạo ra những vấn đề bất lợi
Thứ hai, vấn đề dân tộc thiểu số.các dân tộc thiểu số nói chung có mức sống, mức thu nhập thấp xa so với các dân tộc Kinh và Hoa Hiện hơn 50% dân tộc thiểu số sống dưới ngưỡng nghèo Sự phát triển của các nông trường đó đẩy người dân tộc thiểu số vào sâu hơn, đất đai cằn cỗi hơn và do đó họ ngày càng nghèo hơn Đây là một trong những nguyên nhân làm cho các dân tộc thiểu số dễ bị các phần tử xấu kích động, xúi giục, gấy mất ổn định xã hội mất ổn định
Về văn hóa
Khi sự bất bình đẳng gia tăng, một mặt người nghèo sẽ có khuynh hướng sung bái hàng hóa, tiền tệ coi lợi nhuận là trên hết, bất chấp mọi đạo lý chỉ coi trọng giá trị
Trang 37tiền, không biết sự vất vả để làm ra tiền vì vậy xa vào cáo hoạt động vô bổ, không có
lý tưởng sống, làm suy thoái cả một thế hệ đạo đức
3.2 Phương pháp nghiên cứu
3.2.1.Phương pháp thống kê mô tả
Đây là phương pháp khá thông dụng, là cách thức thu thập các thông tin số liệu
để kiểm chứng những giả thiết hoặc để giải quyết các vấn đề liên quan đến tình trạng hiện tại của đối tượng nghiện cứu Với mục tiêu là tìm mức thu nhập từng hộ, thu nhập trung bình các nhóm hộ, để tái sử dụng phương pháp mô tả nhằm mô tả những hiện
trạng bất bình đẳng đang tồn tại ở huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình
a) Thu thập số liệu
Thu thập số liệu thứ cấp
Số liệu thứ cấp được thu thập bao gồm các thông tin số liệu liên quan đến các nội dung nghiên cứu Quá trình thu thập thông tin dựa trên sách tham khảo, giáo trình, các đề tài nghiên cứu khoa học đã thực hiện có liên quan, các tạp chí đã được phát hành
Đồng thời, thu thập tình hình cơ bản của huyện thông qua các báo cáo tổng hợp của UBND huyện, UBND xã qua các năm,số liệu các phòng lao động thương binh và
xã hội, tổng cục thống kê và qua Internet
Thu thập số liệu sơ cấp
Căn cứ vào tình hình phát triển kinh tế, vị trí địa lý, đặc điểm tự nhiên, tôi quyết định chọn 2 địa điểm đại diện để tổ chức điều tra thu thập số liệu Cụ thể chọn xã Hàm Ninh và xã Võ Ninh
Thu thập số liệu theo phương pháp phỏng vấn trực tiếp các hộ gia đình theo phân tích nêu trên bằng cách lập bảng câu hỏi để điều tra Do hạn chế về thời gian nghiên cứu, phương tiện đi lại, kinh phí, tổng thể điều tra khá lớn nên không thể tiến hành điều tra toàn bộ các hộ gia đình mà chỉ điều tra chọn mẫu ngẫu nhiên Đề tài điều tra 60 hộ trên địa bàn về các thông tin chung như tuổi, nghề nghiệp, trình độ học vấn, nhân khẩu, diện tích, chi phí và sản lượng thông qua trồng lúa và chăn nuôi
b) Xử lý số liệu
Từ các số liệu sơ cấp và thứ cấp thu thập được, tôi sử dụng phần mềm Excel, Eviews để xử lí số liệu, tính toán ra các chỉ tiêu có liên quan
Trang 383.2.2 Thước đo xác định bất bình đẳng
Để nghiên cứu sự bất bình đẳng một cách phù hợp với hiện nay trong phân phối
thu nhập ta phân tích hệ số co giãn thu nhập và sử dụng biểu đồ đường cong Lorenz,
dựa vào hệ số Gini Bất bình đẳng trong thu nhập hay sự phân hóa giữa nhóm người
giàu và người nghèo là hiện tượng phổ biến ở tất cả các nước trên thế giới Để đo
lường đánh giá mức độ chênh lệch của hai nhóm người này có nhiều phương pháp đo
lường và tính toán khác nhau
a) Hệ số giãn cách thu nhập
Để nghiên cứu mức độ chênh lệch trong phân phối thu nhập, người ta thường
chia dân số của nước ra thành 5 nhóm, mỗi nhóm có 20% dân số, từ nhóm có thu nhập
thấp đến nhóm có thu nhập cao nhất Và thông thường, thu nhập của nhóm người
nghèo cũng được quan tâm trước tiên
Thông thường người ta chú ý đến mức chênh lệch thu nhập bình quân đầu
người một tháng của 20% số hộ có thu nhập thấp nhất để đánh giá mức độ bất bình
đẳng trong phân phân phối thu nhập Nếu tỷ lệ này gia tăng mỗi năm thì bất bình đẳng
một phần vì thu nhập của nhóm có thu nhập cao tăng nhanh, nhưng mặt khác thu nhập
của nhóm có thu nhập thấp lại tăng không đáng kể.( Vũ Thị Ngọc Phụng, 1999:11)
b) Đường cong Lorenz
Đường cong Lorenz là phương pháp mô tả phân phối thu nhập của một nền
kinh tế Biểu diển số phần trăm thu nhập được nhận theo từng phần trăm hộ thu nhập
Hoặc chỉ ra tỷ lệ phần trăm của tổng thu nhập cộng dồn theo tỷ lệ phần trăm
cộng dồn của người nhận, hình dạng của đường cong chỉ ra độ bất bình đẳng trong
phân phối thu nhập
Đường cong Lorenz được thể hiện trong hình vuông, trục tung biểu thị phần
trăm thu nhập tích lủy được và trục hoành là phần trăm của các nhóm hộ gia đình nhận
thu nhập được sắp xếp theo mức độ tăng tăng dần
Trang 39Hình 3.3 Mô Hình Đường Cong Lorenz
Ta xét theo đồ thị để phân tích được sự chênh lệch phân phối thu nhập
Nếu thu nhập được phân phối tuyệt đối bằng nhau thì bao nhiêu dân số sẽ nhận được bấy nhiêu phần thu nhập đó ( 20% hộ gia đình sẽ nhận được 20% thu nhập) có nghĩa là không có người giàu và cũng không có người nghèo Vậy đường cong Lorenz trong trường hợp này là một đường chéo ( hay đường 450 )
Giả sử về sự bất bình đẳng tuyệt đối là khi tất cả mọi người không có thu nhập
gì hết trừ một người chiếm toàn bộ thu nhập thì đường cong Lorenz sẽ chạy theo cạnh đáy và vuông góc bên phải
Cả hai trường hợp này không có trong thực tế và bất kỳ sự phân phối nào trong thực tế cũng nằm giữa hai trường hợp này
Khi thu nhập của nhóm người nghèo giảm đi và thu nhập của người giàu tăng lên thì đường cong Lorenz cách xa đường 450, trong trường hợp này sự bất bình đẳng gia tăng Ngược lại thu nhập của nhóm nghèo tăng lên và nhóm người giàu giảm đi thì đường cong Lorenz sẽ gần đường hơn, khi đó sự bất bình đẳng giảm bớt
c) Hệ số Gini
Là thước đo xác định sự bất bình đẳng nhận giá trị trong khoảng từ 0 (khi tất cả mọi người có mức thu nhập hoặc chỉ tiêu như nhau) đến 1 (khi một người nắm giữ mọi thứ của xã hội) Hệ số Gini càng tiến gần tới 1 thì sự bất bình đẳng trong phân phối càng lớn Đối với hầu hết các nước đang phát triển, hệ số Gini chi tiêu hoặc thu nhập nằm trong khoảng từ 0,3 đến 0,6
Đường cong Lorenz
Trang 40ybq: Thu nhập bình quân của hộ;
y1, y2, yn: Thu nhập của từng nhóm hộ theo thứ tự giảm dần
Dựa vào số liệu thống kê nhiều năm ở các nước trên thế giới, Ngân hàng Thế giới nhận thấy rằng trong thực tế hệ số Gini thay đổi trong phạm vi hẹp từ 0,2 đến 0,65
Đối với những nước có thu nhập thấp hệ số Gini biến động từ 0,3 đến 0,5
Những nước có thu nhập trung bình, hệ số Gini biến động từ 0,4 đến 0,65
Còn những nước có thu nhập cao thì hệ số Gini biến động từ 0,2 đến 0,4, và theo nhận xét của Ngân hàng Thế giới thì hệ số Gini biến động tốt nhất xoay quanh mức 0,3
Mặc dù vậy hệ số Gini vẫn còn khuyết điểm:
- Hệ số Gini không phải lúc nào cũng tăng lên khi lấy tiền của người này chuyển sang cho người khác
- Không thể tách hệ số Gini theo các nhóm con (như các khu nông thôn và đô thị hay cho bảy khu vực hành chính Việt Nam)
Nếu phần diện tích giới hạn bởi đường 450 và đường cong Lorenz được ký hiệu
là phần A; phần diện tích tam giác vuông có đường cong Lorenz nằm giữa ký hiệu là