1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ DU LỊCH BÃI BIỂN NHA TRANG, THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA.

105 147 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 1,36 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hội đồng chấm báo cáo khóa luận tốt nghiệp đại học khoa Kinh Tế, trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh xác nhận khóa luận “Xác định giá trị du lịch bãi biển Nha Trang, thành phố

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH

************

NGUYỄN NGỌC HƯƠNG BÌNH

XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ DU LỊCH BÃI BIỂN NHA TRANG,

THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA

Thành phố Hồ Chí Minh Tháng 07/2013

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN NGỌC HƯƠNG BÌNH

XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ DU LỊCH BÃI BIỂN NHA TRANG,

THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA

Ngành Kinh Tế Tài Nguyên Môi Trường

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Người hướng dẫn: TS LÊ CÔNG TRỨ

Thành phố Hồ Chí Minh Tháng 07 /2013

Trang 3

Hội đồng chấm báo cáo khóa luận tốt nghiệp đại học khoa Kinh Tế, trường Đại

Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh xác nhận khóa luận “Xác định giá trị du

lịch bãi biển Nha Trang, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa” do Nguyễn Ngọc

Hương Bình, sinh viên khóa 35, ngành Kinh tế Tài nguyên Môi trường, đã bảo vệ

thành công trước hội đồng vào ngày _

TS Lê Công Trứ Người hướng dẫn,

Trang 4

LỜI CẢM TẠ

Lời đầu tiên, con xin kính gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến các bậc sinh thành, những người đã sinh ra con, nuôi nấng - dạy bảo con lớn khôn và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho con được học tập từ lúc bé cho đến hôm nay Con rất tự hào vì là con của

Bố Me, là em của các Anh, và con sẽ cố gắng hết mình để đền đáp công ơn to lớn này

Bên cạnh đó, em cũng xin kính gửi lời cảm ơn chân thành đến các Thầy Cô trong khoa Kinh Tế, các Thầy Cô bộ môn Kinh tế Tài nguyên Môi trường, những người đã tận tâm dìu dắt, truyền đạt cho chúng em những kiến thức quý báu Đặc biệt,

em xin kính gửi đến Thầy - TS Lê Công Trứ lòng biết ơn chân thành nhất! Cảm ơn Thầy đã nhiệt tình giúp đỡ, truyền đạt những kiến thức bổ ích và kinh nghiệm quý giá giúp cho em hoàn thành khóa luận này Kính mong Thầy sẽ luôn luôn khỏe mạnh để tiếp tục dìu dắt các thế hệ sinh viên sắp tới

Đồng thời, tôi cũng xin cảm ơn đến các anh chị công tác tại Phòng Nghiệp vụ

Du lịch thuộc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Khánh Hòa đã giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập số liệu

Và sau cùng, tôi xin chân thành cảm ơn các bạn lớp DH09KM nói riêng cũng như tất cả bạn bè, anh chị em mà tôi quen biết nói chung đã nhiệt tình ủng hộ và giúp

đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện khóa luận Xin cảm ơn và chúc tất cả mọi người sẽ đạt được nhiều thành công trong cuộc sống

Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!

Sinh viên

Nguyễn Ngọc Hương Bình

Trang 5

NỘI DUNG TÓM TẮT

NGUYỄN NGỌC HƯƠNG BÌNH Tháng 07 năm 2013 “Xác Định Giá Trị

NGUYEN NGOC HUONG BINH July 2013 “Determining the Tourism Value of Nha Trang Beach, Nha Trang City, Khanh Hoa Province”

Đề tài hướng đến mục tiêu là xác định giá trị du lịch của bãi biển Nha Trang thuộc thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa trên cơ sở phương pháp Chi phí du hành

cá nhân (ITCM)

Dựa trên số liệu sơ cấp thu thập được từ 100 du khách trong và ngoài nước, tổng hợp số liệu thứ cấp, sau đó phân tích số liệu về các đặc điểm kinh tế xã hội của khách du lịch khi đến bãi biển Nha Trang, đề tài đã xây dựng hàm cầu du lịch dựa vào các nhân tố ảnh hưởng đến cầu du lịch Từ đó, đề tài cũng đã xác định được giá trị du lịch bãi biển Nha Trang năm 2012 là 62.740 tỷ VNĐ Ngoài ra đề tài còn xác định giá trị này ứng với các suất chiết khấu khác nhau, từ 6% đến 10% Cụ thể, với suất chiết khấu 6%, giá trị du lịch của bãi biển Nha Trang là 1.045.667 tỷ VNĐ; ứng với suất chiết khấu 8%, giá trị du lịch của bãi biển Nha Trang là 784.250 tỷ VNĐ; và giá trị này là 627.400 tỷ đồng khi ứng với suất chiết khấu 10%

Kết quả của đề tài cho thấy rằng giá trị du lịch của bãi biển Nha Trang là rất lớn, vì đã phần nào phản ánh được giá trị thực của cả khách trong nước và khách quốc

tế Giá trị này không chỉ dừng lại ở hàng tỷ VNĐ mà còn có thể vươn tới hàng tỷ USD, đem lại nguồn thu lớn cho ngân sách Nhà nước, các doanh nghiệp và cả người dân địa phương

Trang 6

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT viii

DANH MỤC CÁC BẢNG ix

DANH MỤC CÁC HÌNH x

DANH MỤC PHỤ LỤC xi

CHƯƠNG 1.MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3

1.2.1 Mục tiêu chung 3

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3

1.3 Phạm vi nghiên cứu 4

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 4

1.3.2 Địa bàn nghiên cứu 4

1.3.3 Thời gian nghiên cứu 4

1.3.4 Phạm vi nội dung thực hiện 4

1.4 Cấu trúc của để tài 4

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN 5

2.1 Tổng quan về tài liệu nghiên cứu 5

2.2 Tổng quan về Thành phố Nha Trang 6

2.2.1 Điều kiện tự nhiên 7

2.2.2 Các nguồn tài nguyên 9

2.2.3 Đặc điểm dân số, nguồn nhân lực 12

2.2.4 Đặc điểm kinh tế, xã hội 13

2.2.5 Đặc điểm giao thông vận tải, an ninh quốc phòng và môi trường 16 2.3 Tổng quan về vịnh Nha Trang 18

2.3.1 Vị trí và đặc điểm địa lí 18

2.3.2 Giới thiệu một số địa điểm du lịch thuộc vịnh Nha Trang 19

CHƯƠNG 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22

3.1 Cơ sở lý luận 22

Trang 7

3.1.1 Định giá tài nguyên môi trường và ý nghĩa của việc định giá 22

3.1.2 Một số khái niệm về du lịch 23

3.1.3 Cung du lịch 24

3.1.4 Cầu du lịch 26

3.1.5 Mối quan hệ giữa du lịch và môi trường 29

3.2 Phương pháp nghiên cứu 31

3.2.1 Phương pháp thu thập số liệu: 31

3.2.2 Phương pháp xử lí số liệu 31

3.2.3 Phương pháp phân tích hồi quy 31

3.2.4 Giới thiệu một số phương pháp xác định giá trị du lịch giải trí 32

3.1.5 Phương pháp xây dựng hàm cầu 38

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 41

4.1 Hoạt động du lịch tại Nha Trang 41

4.2 Những đặc điểm kinh tế - xã hội của du khách 42

4.2.1 Độ tuổi 42

4.2.2 Giới tính 43

4.2.3 Trình độ học vấn 43

4.2.5 Thu nhập 45

4.3 Nhu cầu, hành vi của du khách 47

4.3.1 Nơi xuất phát 47

4.3.2 Số lần đến Nha Trang 48

4.3.4 Số người đi trong nhóm 49

4.3.5 Thời gian lưu trú 50

4.3.6 Lý do du lịch đến Nha Trang 51

4.3.7 Phương tiện du lịch 51

4.3.8 Tham gia hoạt động bãi biển 52

4.3.9 Hành vi chi tiêu 53

4.3.10 Hoạt động thay thế 54

4.4 Cảm nhận, đánh giá của du khách 54

4.4.1 Cảm nhận của du khách 54

4.4.2 Đánh giá về các địa điểm du lịch tại Nha Trang 55

Trang 8

4.4.3 Đánh giá về môi trường biển Nha Trang 56

4.5 Xây dựng đường cầu du lịch theo phương pháp ITCM 58

4.5.1 Ước lượng các tham số của mô hình theo dạng log-log 58

4.5.2 Kiểm định các giả thiết của mô hình 59

4.5.3 Kiểm tra sự vi phạm các giả thiết 61

4.5.4 Nhận xét và phân tích mô hình đường cầu du lịch 63

4.6.1 Xác định giá trị thặng dư cho mỗi du khách 64

4.6.2 Tính thặng dư cho 1 lần đi du lịch 66

4.6.3 Xác định giá trị của điểm du lịch 66

CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 68

5.1 Kết luận 68

5.2 Giới hạn của đề tài 69

5.3 Kiến nghị 69

TÀI LIỆU THAM KHẢO 73

Trang 9

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CPDH Chi phí du hành

CVM Phương pháp Đánh giá ngẫu nhiên (Contingent Valuation

Method) DLST Du lịch sinh thái

GDP Tổng sản phẩm nội địa (Gross Domestic Product)

ITCM Phương pháp Chi phí du hành cá nhân (Individual Travel Cost

Method) TCM Phương pháp Chi phí du hành (Travel Cost Method)

Trang 10

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang Bảng 2.1 Đóng Góp của Thành Phố Nha Trang trong Nền Kinh Tế Tỉnh Khánh Hoà

14

Bảng 3.1 Kỳ Vọng Dấu Cho Các Hệ Số của Mô Hình 39

Bảng 4.1 Tình Hình Hoạt Động Du Lịch ở Nha Trang từ Năm 2009 – 2012 41

Bảng 4.2 Xếp Hạng Mức Độ Hài Lòng của Du Khách 56

Bảng 4.3 Các Thông Số Ước Lượng của Hàm Cầu theo Dạng Log-Log 58

Bảng 4.4 Dấu Của Các Thông Số Ước Lượng trong Mô Hình Đường Cầu 60

Bảng 4.5 Ma Trận Hệ Số Tương Quan Cặp Giữa Các Biến Giải Thích 62

Bảng 4.6 R2 auxcủa Các Mô Hình Hồi Quy Bổ Sung 62

Bảng 4.7 Giá Trị Bãi Biển Nha Trang Được Thể Hiện Ở Các Mức Suất Chiết Khấu 67

Trang 11

DANH MỤC CÁC HÌNH

Trang

Hình 2.1 Bản Đồ Hành Chính Thành Phố Nha Trang 7

Hình 3.1 Mối Tương Quan Giữa Số Lần Tham Quan và Chi Phí Tham Quan 33

Hình 3.2 Đường Cầu Số Lần Đi Tham Quan 36

Hình 4.1 Đồ Thị Phân theo Độ Tuổi của Du Khách 42

Hình 4.2 Biểu Đồ Phân theo Giới Tính của Du Khách 43

Hình 4.3 Đồ Thị Phân theo Trình Độ Học Vấn của Du Khách 43

Hình 4.4 Đồ Thị Phân theo Nghề Nghiệp của Du Khách 44

Hình 4.5 Đồ Thị Phân theo Thu Nhập của Du Khách Trong Nước 45

Hình 4.6 Đồ Thị Phân theo Thu Nhập của Du Khách Nước Ngoài 46

Hình 4.7 Biểu Đồ Phân theo Nơi Xuất Phát của Du Khách Trong Nước 47

Hình 4.8 Biểu Đồ Phân theo Nơi Xuất Phát của Du Khách Nước Ngoài 47

Hình 4.9 Đồ Thị Phân theo Số Lần đến Nha Trang 48

Hình 4.10 Đồ Thị Phân theo Hình Thức Tổ Chức Du Lịch của Du Khách 48

Hình 4.11 Đồ Thị Phân theo Số Người Đi Trong Nhóm 49

Hình 4.12 Đồ Thị Phân theo Thời Gian Lưu Trú của Du Khách 50

Hình 4.13 Đồ Thị Phân theo Lý Do của Du Khách 51

Hình 4.14 Đồ Thị Phân theo Phương Tiện Du Lịch của Du Khách 52

Hình 4.15 Đồ Thị Phân theo Hoạt Động Bãi Biển của Du Khách 52

Hình 4.16 Đồ Thị Phân theo Hành Vi Chi Tiêu của Du Khách 53

Hình 4.17 Đồ Thị Phân theo Hoạt Động Thay Thế của Du Khách 54

Hình 4.18 Đồ Thị Thể Hiện Cảm Nhận của Du Khách 55

Hình 4.19 Đồ Thị Thể Hiện Mức Đánh Giá của Du Khách về Môi Trường Biển Nha Trang 57

Hình 4.20 Đồ Thị Thể Hiện Ý Định Quay Lại Nha Trang của Du Khách 57

Hình 4.21 Đường Cầu Du Lịch Bãi Biển Nha Trang của Du Khách Trong Nước và Quốc Tế 65

Trang 12

DANH MỤC PHỤ LỤC

Phụ lục 1: Kết Xuất Mô Hình Hồi Quy Log-Log

Phụ luc 2: Kiểm Định White

Phụ lục 3: Kiểm Định LM

Phụ luc 4: Ma Trận Hệ Số Tương Quan Cặp giữa Các Biến Giải Thích Phụ lục 5: Mô Hình Hồi Quy Phụ với Từng Biến Độc Lập

Phụ lục 6: Giá Trị Trung Bình của Các Biến Độc Lập

Phụ lục 7: Bảng Câu Hỏi Du Khách Trong Nước

Phụ lục 8: Bảng Câu Hỏi Du Khách Quốc Tế

Phụ lục 9: Một Số Hình Ảnh về Bãi Biển Nha Trang

Trang 13

CHƯƠNG 1

MỞ ĐẦU

1.1 Đặt vấn đề

Sau hơn 25 năm thực hiện chính sách đổi mới, nền kinh tế Việt Nam đã có

những bước tiến vượt bậc Từ năm 1990 đến 2010, nền kinh tế Việt Nam đã tăng trưởng với tốc độ trung bình hàng năm là 7,3%, thu nhập bình quân đầu người tăng

gần gấp năm lần Sự chuyển đổi của Việt Nam – từ một nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và từ một đất nước nông nghiệp lạc hậu trở thành một quốc gia có thu nhập trung bình trên thế giới trong vòng chưa đến 20 năm là một điều rất đáng hoan nghênh Chính vì sự phát triển ấy mà nhu cầu của người dân cũng được nâng cao hơn Bên cạnh nhu cầu về vật chất, “ăn ngon mặc đẹp” thì nhu cầu về tinh thần, chẳng hạn như giải trí, tham quan du lịch và nghỉ dưỡng cũng trở nên thiết yếu đối với cuộc sống con người Bên cạnh đó, trong tình hình kinh tế hiện nay, ngành Du lịch cũng đóng góp một phần không nhỏ vào cơ

cấu GDP của đất nước ta Chẳng hạn vào năm 2012, mặc dù phải đối diện với những tác động tiêu cực của kinh tế thế giới cũng như trong nước nhưng dưới sự chỉ đạo kịp

thời của Chính phủ, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Du lịch Việt Nam đã tiếp tục phát huy đà tăng trưởng của năm 2011, huy động hiệu quả các nguồn lực duy trì tốc độ tăng trưởng cao, hoàn thành tốt nhiều nhiệm vụ quan trọng Cụ thể, kết thúc năm 2012, ngành Du lịch Việt nam đã đón và phục vụ 6,8 triệu lượt khách quốc tế, tăng 11%; 32,5 triệu lượt khách nội địa, tăng 8%; tổng thu từ khách du lịch đạt khoảng 160 nghìn

tỷ đồng, tăng 23% so với năm 2011, đóng góp 5,3% GDP cả nước Chính vì thế Du

lịch đang được Đảng và Nhà nước ta quan tâm và xác định trở thành ngành kinh tế mũi

nhọn của đất nước Ngoài ra, “Chiến lược Phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020,

tầm nhìn năm 2030” được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt là nền tảng cơ bản và định

Trang 14

hướng phát triển Du lịch lâu dài với những mục tiêu hết sức cụ thể và quan trọng như:

Tốc độ tăng trưởng của ngành Du lịch bình quân thời kỳ 2011-2020 đạt 11,5% đến 12% mỗi năm Đến năm 2020, Việt Nam đón 10-10,5 triệu lượt khách du lịch quốc tế

và 47-48 triệu lượt khách du lịch nội địa, tổng thu từ khách du lịch đạt 18-19 tỷ USD, đóng góp từ 6,5-7% GDP cả nước, tạo ra 3 triệu việc làm trong đó có 870.000 lao động trực tiếp du lịch Năm 2030, tổng thu từ khách du lịch tăng gấp 2 lần năm 2020

Ngành Du lịch Việt Nam phát triển như thế là nhờ thiên nhiên đã ưu đãi cho nước ta rất nhiều danh lam thắng cảnh, địa điểm du lịch trải dài từ Bắc tới Nam Đặc

biệt với đường bờ biển trải dài 3,260 km (không kể các đảo) thì du lịch biển là một ưu

thế rất lớn Khi nhắc tới du lịch biển thì không ai không nghĩ tới Nha Trang – Khánh Hòa, một địa điểm du lịch lý tưởng cho du khách trong nước và quốc tế Năm 2012 các địa phương như Đà Nẵng, Bình Thuận, Khánh Hòa được đánh giá là điểm sáng

của du lịch Việt Nam, bứt phá trở thành các điểm du lịch quan trọng của khu vực Trung Bộ và cả nước Vịnh Nha Trang có diện tích khoảng 507 km², nằm ở trung tâm

tỉnh Khánh Hòa, bao gồm bãi biển Nha Trang và 19 hòn đảo lớn nhỏ bao quanh, trong

đó Hòn Tre là đảo lớn nhất, với diện tích 3.250 ha; đảo nhỏ nhất là Hòn Nọc chỉ khoảng 4 ha Vịnh Nha Trang có khí hậu tốt, quanh năm tràn ngập ánh nắng, nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 260

C Về mặt sinh thái, vịnh Nha Trang là một trong

những hình mẫu tự nhiên hiếm có của hệ thống vũng, vịnh trên thế giới bởi nó có hầu

hết các hệ sinh thái điển hình, quý hiếm của vùng biển nhiệt đới Đó là hệ sinh thái đất

ngập nước, rạn san hô, rừng ngập mặn, thảm cỏ biển, hệ sinh thái cửa sông, hệ sinh thái đảo biển, hệ sinh thái bãi cát ven bờ Vịnh còn là môi trường sống lý tưởng cho các loài động vật quý hiếm như: chim yến (còn gọi là vàng trắng của Khánh Hòa bởi tính quý hiếm của nó), đồi mồi, san hô đỏ, trai ngọc môi vàng, ốc kim khôi, bào ngư

bầu dục Đặc biệt khu vực Hòn Mun của Vịnh Nha Trang có mức đa dạng sinh học cao nhất với 350 loài rạn san hô chiếm 40% san hô trên thế giới Vào tháng 6-2003,

Vịnh Nha Trang được công nhận là thành viên của Câu lạc bộ các vịnh đẹp nhất thế

giới cùng với vịnh Hạ Long của tỉnh Quảng Ninh.Vào đầu năm 2013, biển Nha Trang được tạp chí Lonely Planet bình chọn là bãi biển đẹp nhất Việt Nam và khuyến khích

du khách quốc tế nên lựa chọn khi tới du lịch tại đất nước ta Qua đó có thể thấy rằng,

Trang 15

vịnh Nha Trang là một tài nguyên du lịch quý giá của tỉnh Khánh Hòa nói riêng, cũng

như là của đất nước Việt Nam nói chung

Tuy nhiên để có thể khai thác và sử dụng điểm du lịch này theo hướng bền

vững, cũng như tạo cơ sở để các cơ quan nhà nước xây dựng các biện pháp, chính sách

hợp lý và thiết thực nhằm mang lại lợi ích cao cho dân cư trong vùng cũng như cho ngân sách Nhà nước thì trước hết cần phải xác định được giá trị vịnh Nha Trang dưới

một giá cả nhất định Bên cạnh đó nếu như giá trị này được xác định và công khai thì người dân trong vùng sẽ có ý thức bảo vệ, giữ gìn tài sản và cảnh quan cũng như bảo

tồn tài nguyên và khai thác bền vững hơn

Với những mục tiêu thiết thực trên, việc xác định giá trị du lịch của vịnh Nha Trang là rất quan trọng và cần thiết Tuy nhiên giới hạn trong quy mô nhỏ và hạn hẹp

về thời gian lẫn kinh phí nên đề tài chỉ tập trung xác định giá trị du lịch một khu vực trong vịnh Nha Trang, đó là bãi biển Nha Trang Vậy giá trị của bãi biển Nha Trang là bao nhiêu và chúng ta phải làm gì để nâng cao giá trị hơn nữa? Để trả lời các câu hỏi

này, đề tài “ Xác định giá trị du lịch bãi biển Nha Trang, thành phố Nha Trang,

t ỉnh Khánh Hòa” đã được chọn để xác định đường cầu du lịch để tìm ra được giá trị

du lịch của bãi biển Nha Trang, từ đó làm cơ sở để các cơ quan quản lý nhà nước đề ra các chính sách phát triển du lịch bền vững, đồng thời người dân sẽ có ý thức hơn trong

việc bảo vệ và giữ gìn tài nguyên du lịch quý giá này

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1 M ục tiêu chung

Xác định giá trị và đề xuất giải pháp nâng cao giá trị, phát triển du lịch cho bãi

biển Nha Trang

1.2.2 M ục tiêu cụ thể

• Phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới đường cầu du lịch của khách du lịch (nội địa

và quốc tế) đến bãi biển Nha Trang

• Xác định đường cầu du lịch bãi biển Nha Trang

• Xác định giá trị du lịch bãi biển Nha Trang

• Kiến nghị một số giải pháp nhằm thúc đẩy ngành du lịch nơi đây phát triển

mạnh mẽ trong tương lai

Trang 16

1.3 Phạm vi nghiên cứu

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là khách du lịch trong nước và quốc tế

tại Thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa

1.3.2 Địa bàn nghiên cứu

Đề tài tiến hành điều tra, thu thập sơ liệu tại bãi biển Nha Trang thuộc thành

phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa

1.3.3 Th ời gian nghiên cứu

Thời gian thực hiện đề tài là từ ngày 04/03/2013 đến ngày 04/07/2013

1.3.4 Ph ạm vi nội dung thực hiện

Đề tài xác định các yếu tố gây ảnh hưởng đến đường cầu du lịch bãi biển Nha Trang của du khách, đồng thời tìm ra giá trị du lịch của bãi biển này Từ đó kiến nghị các giải pháp để phát triển du lịch bền vững

1.4 Cấu trúc của để tài

Luận văn bao gồm 5 chương:

Chương 1 – Mở đầu: Giới thiệu lý do và ý nghĩa của việc chọn vấn đề nghiên

cứu

Chương 2 – Tổng quan: Mô tả tổng quan về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã

hội – văn hóa – du lịch của Thành phố Nha Trang và tổng quan các tài liệu liên quan

Chương 3 – Cơ sở lí luận và Phương pháp nghiên cứu: Khái niệm về tài nguyên, du lịch, các thuật ngữ kinh tế… Trong chương này cũng nêu lên một số phương pháp mà đề tài sử dụng trong quá trình nghiên cứu

Chương 4 – Kết quả nghiên cứu và thảo luận: Tổng quan về tình hình du lịch và các yếu tố tác động đến cầu du lịch bãi biển Nha Trang; Xác định đường cầu du lịch; Xác định tổng giá trị bãi biển Nha Trang

Chương 5 – Kết luận, Kiến nghị: Tóm tắt các kết quả đạt được trong quá trình nghiên cứu, nêu ra các hạn chế của đề tài và kiến nghị các giải pháp để phát triển du

lịch tại Nha Trang một cách bền vững

Trang 17

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN

2.1 Tổng quan về tài liệu nghiên cứu

Giá trị tài nguyên du lịch không thể xác định thông qua việc trao đổi, mua bán trên thị trường và cũng không có quan hệ mật thiết nào đối với các loại hàng hóa khác

Vì vậy không thể dựa vào thị trường để xác định giá trị của một tài nguyên du lịch Do

đó chúng ta tiến hành định giá giá trị kinh tế theo phương pháp dựa trên cơ sở bộc lộ

và phát biểu sở thích (các giá trị tài nguyên được suy ra từ thái độ của con người thực

tế) Trong kinh tế học môi trường có hai phương pháp đang được sử dụng rộng rãi trên

thế giới để xác định giá trị của những loại hàng hóa không có giá trị trường, đó là

Phương pháp chi phí du hành (TCM) và Phương pháp đánh giá ngẫu nhiên (CVM)

Trên thực tế đã có nhiều công trình nghiên cứu áp dụng các lý thuyết này để đánh giá giá trị của những loại hàng hóa, dịch vụ không có giá trị trường Phạm Khánh Nam và Trần Võ Sơn (2001) đã dùng phương pháp TCM để xác định giá trị du lịch

của đảo Hòn Mun thuộc vịnh Nha Trang (Khánh Hòa) bằng cách ước lượng giá trị

thặng dư của khách du lịch trong và ngoài nước Bằng 2 phương pháp ITCM và ZTCM, nghiên cứu trên đã ghi nhận giá trị du lịch giải trí của đảo Hòn Mun lần lượt

là 126.948 tỷ VNĐ và 259.849 tỷ VNĐ mỗi năm Tác giả cũng sử dụng phương pháp CVM để xác định mức sẵn lòng trả WTP của du khách cho khu vưc bảo tồn biển Hòn Mun là 6.041.571.008 VNĐ

Xét trên qui mô cấp trường, một số bài luận văn tốt nghiệp đã sử dụng rất hiệu

quả các phương pháp trên, chẳng hạn như bài luận văn tốt nghiệp Đại học “Đánh giá giá trị tiềm năng du lịch sinh thái đảo Cù Lao Chàm, TP Hội An, tỉnh Quảng Nam”

của sinh viên Nguyễn Thị Thuyền (tháng 07/2011) đã xác định được giá trị DLST đảo

Trang 18

Cù Lao Chàm thuộc tỉnh Quảng Nam vào năm 2010 là 16.943 tỉ đồng Giá trị dự báo tương ứng năm 2015 là 28.956 tỉ đồng Giá trị tiềm năng DLST Cù Lao Chàm sau 4 năm là 12.013 tỉ đồng ứng với các suất chiết khấu khác nhau từ 8% đến 12% là 150.163 tỉ đồng với suất chiết khấu 8%; 120.130 tỉ đồng với suất chiết khấu 10%; 100.108 tỉ đồng với suất chiết khấu 12% Qua đó có thể thấy giá trị tiềm năng đảo Cù Lao Chàm là tương đối lớn

Bên cạnh đó, đề tài còn tham khảo luận văn tốt nghiệp Đại học: “Định giá giá

trị du lịch vườn quốc gia Nam Cát Tiên, xã Đức Lua, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai”

của sinh viên Nguyễn Xuân Khoa (06/2009) Đề tài đã sử dụng phương pháp ITCM,

phỏng vấn 120 du khách đến tham quan vườn quốc gia Nam Cát Tiên và thu được kết

quả là tổng giá trị du lịch của Nam Cát Tiên là 792.652.000 VNĐ/năm Ngoài ra, đề tài này cũng sử dụng phương pháp CVM để xác định mức sẵn lòng trả của du khách cho việc xây cầu vào Nam Cát Tiên là 18.500 VNĐ/người/lần và tổng mức sẵn lòng

trả của du khách cho việc xây cầu là 529.045.000 VNĐ Đề tài cho thấy việc xây cầu vào Nam Cát Tiên là việc làm cần thiết vì đa số du khách cho rằng việc qua sông bằng

đò là rất nguy hiểm

Ngoài ra những thông tin trên báo đài, internet và những bài giảng của Thầy Cô cũng là những tài liệu hữu ích và cần thiết cho nghiên cứu này

2.2 Tổng quan về Thành phố Nha Trang

Thành phố Nha Trang là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của tỉnh Khánh Hòa Tổng diện tích tự nhiên toàn thành phố là 252,6 km2, dân số trung bình năm 2010 có 394.455 người, mật độ dân số 1.562 người/km2, chiếm 4,84% tổng diện tích tự nhiên và 33,7% dân số toàn tỉnh Thành phố được chia thành 27 đơn vị hành chính cấp xã, phường, trong đó có 19 phường nội thành và 8 xã ngoại thành Thời gian qua, với những kết quả phát triển toàn diện kinh tế - xã hội, vào ngày 22/04/2009 Nha Trang vinh dự được Thủ tướng Chính phủ công nhận là đô thị loại I trực thuộc tỉnh Khánh Hòa, tạo ra thế và lực mới để thành phố phát triển nhanh và

mạnh hơn trong tương lai

Trang 19

2.2.1 Điều kiện tự nhiên

Hình 2.1 Bản Đồ Hành Chính Thành Phố Nha Trang

Nguồn: nhatrang-travel.com Nha Trang nằm trên các trục giao thông quan trọng của cả nước: tuyến quốc lộ 1A, đường sắt Bắc Nam nối liền Nha Trang với các tỉnh phía Bắc và phía Nam; cách không xa sân bay quốc tế Cam Ranh khoảng 30 km về phía Nam; có cảng Nha Trang

là cảng du lịch và vận chuyển hàng hóa tạo nên một mạng lưới giao thông khá hoàn

chỉnh

Nha Trang nằm cách thành phố Hồ Chí Minh 400 km về phía Nam, cách không

xa các đô thị lớn như Đà Lạt, Buôn Ma Thuột là các trọng điểm kinh tế lớn của cả nước Yếu tố này là lợi thế trong giao lưu, hợp tác kinh tế, thu hút vốn đầu tư, mở rộng

thị trường…

Trang 20

Với lợi thế về vị trí địa lý và có tiềm lực kinh tế phát triển, Nha Trang được xác định là một trong những trung tâm kinh tế, du lịch lớn, có vai trò quan trọng tạo động

lực thúc đẩy phát triển chung của cả nước, đặc biệt là Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ

b Địa hình

Địa hình Nha Trang khá phức tạp, có vùng đồng bằng trũng là khu vực nội thành; vùng đồi núi chủ yếu nằm ở hai đầu Bắc - Nam và phía Tây thành phố, vùng ngoài biển phía Đông thành phố có nhiều đảo lớn nhỏ Nha Trang có độ cao từ 0 m đến 900 m so với mặt nước biển, trong đó có những đỉnh núi cao như Hòn Rớ cao 338

m, Hòn Ngang cao 320 m, Hòn Thơm cao 224 m v.v

c Khí hậu

Nha Trang chịu sự chi phối chung của khí hậu nhiệt đới gió mùa, có ảnh hưởng của khí hậu đại dương Khí hậu Nha Trang tương đối ôn hòa; so với các tỉnh phía Bắc thì mùa đông ít lạnh và mùa khô nóng kéo dài hơn; so với các tỉnh phía Nam, Nha Trang có mùa mưa lệch về mùa đông và xuất hiện một mùa mưa ngắn giữa mùa đông;

so với các tỉnh Duyên hải Nam Trung Bộ, Nha Trang là vùng có điều kiện khí hậu thời

tiết khá thuận lợi để khai thác du lịch hầu như quanh năm Những đặc trưng chủ yếu của khí hậu Nha Trang là: nhiệt độ cao đều quanh năm (250

C - 260C), sự phân mùa khá rõ rệt (mùa mưa và mùa khô) và ít bị ảnh hưởng của bão

- Nhiệt độ Nhiệt độ trung bình năm là 26,30C, nhiệt độ trung bình cao nhất vào các tháng 5, 6, 7 và 8 Nhiệt độ cao tuyệt đối năm là 37,40

C, nhiệt độ tối thấp vào các tháng 12, tháng 1 và 2 năm sau (15,80

C)

- Nắng Tổng số giờ nắng trung bình năm là 2.570 giờ, trung bình tháng có 214

giờ nắng Về mùa khô, số giờ nắng cao hơn mùa mưa, trung bình tháng từ 220- 280 giờ, mỗi ngày trung bình có từ 7- 9 giờ Vào mùa mưa, trung bình tháng có từ 150-

210 giờ nắng, mỗi ngày có trung bình 5- 7 giờ

- Độ ẩm Độ ẩm tương đối trung bình năm khoảng 79% Tháng có độ ẩm cao

nhất là tháng 10 với 83%, độ ẩm thấp nhất trong năm là 33 %

- Lượng mưa Lượng mưa trung bình năm 1.356 mm Mùa mưa bắt đầu từ

tháng 9 và kết thúc vào tháng 12 dương lịch, lượng mưa chiếm gần 80% lượng mưa cả năm (1.025 mm)

- Lượng bốc hơi trung bình năm ở Nha Trang là 1.431 mm/năm

Trang 21

- Sông Quán Trường: Có chiều dài 15 km Sông chia thành 2 nhánh: nhánh phía

Đông có chiều dài 9 km (nhánh chính) và nhánh phía Tây (nhánh phụ) dài 6 km Lưu lượng nước bình quân Q0=20,40 m3/s; lưu lượng nước mùa kiệt: Qk=2,90 m3

/s

- Biển và thuỷ triều: Thủy triều vùng biển Nha Trang thuộc dạng nhật triều

không đều, biên độ trung bình lớn nhất từ 1,4 - 3,4 m Độ mặn biến thiên theo mùa từ

1 - 3,6% Độ pH nước vùng cửa sông và đầm thay đổi từ 7,5 - 6,6 Mức nước biển dâng trung bình 1,28 m

2.2.2 Các ngu ồn tài nguyên

- Nhóm đất mặn: Diện tích 1.678 ha, chiếm 6,67% tổng diện tích tự nhiên, phân

bố chủ yếu ở xã Vĩnh Lương, Vĩnh Thái, phường Phước Long, Phước Hải

- Nhóm đất phèn: diện tích có 578 ha, chiếm 2,29 % diện tích tự nhiên, tập trung chủ yếu ở các xã Vĩnh Thái và Vĩnh Hiệp

- Nhóm đất phù sa: diện tích có 1.416 ha, chiếm 5,63 % diện tích tự nhiên, phân

bố chủ yếu ven sông Cái Nha Trang và các sông suối khác, tập trung chủ yếu ở các xã Vĩnh Thạnh, Vĩnh Ngọc, Vĩnh Trung, Vĩnh Phương

- Nhóm đất xám bạc màu có diện tích 1.518 ha, chiếm 6,04 % diện tích tự nhiên

và phân bố chủ yếu ở khu vực xã Phước Đồng

Trang 22

- Nhóm đất đỏ vàng có diện tích 16.936,43 ha, chiếm 67,35 % diện tích tự nhiên, phân bố chủ yếu ở vùng đồi núi, đất có tầng dày mỏng, độ dốc lớn, thảm thực vật chủ yếu là cây bụi xen gỗ rải rác

- Nhóm đất thung lũng dốc tụ có 84 ha, chiếm 0,33 % diện tích tự nhiên

- Đất xói mòn trơ sỏi đá có 922,79 ha, chiếm 3,67 % diện tích tự nhiên

- Các loại đất khác có 591,58 ha (đất sông suối và mặt nước chuyên dùng không

điều tra)

b Tài nguyên biền

Vịnh Nha Trang là một trong những vịnh biển đẹp nhất thế giới, có diện tích khoảng 507 km Về mặt sinh thái, vịnh Nha Trang là một trong những hình mẫu tự nhiên hiếm có của hệ thống vũng, vịnh trên thế giới, có hầu hết các hệ sinh thái điển hình, quý hiếm của vùng biển nhiệt đới Đó là hệ sinh thái đất ngập nước, rạn san hô, rừng ngập mặn, thảm cỏ biển, hệ sinh thái cửa sông, hệ sinh thái đảo biển, hệ sinh thái bãi cát ven bờ Đặc biệt vịnh Nha Trang có đa dạng sinh học cao với 350 loài rạn san

hô, có 40% số loài san hô trên thế giới

Tài nguyên biển Nha Trang mang nhiều giá trị kinh tế cho phép phát triển tổng hợp kinh tế biển: có tiềm năng to lớn về du lịch ven bờ, du lịch biển đảo; có tiềm năng phát triển kinh tế cảng; đánh bắt xa bờ, nuôi trồng thuỷ sản và bảo tồn sinh thái biển

Bãi biển Nha Trang nằm ngay trung tâm thành phố, có chiều dài trên 10 km

Ngoài ra trong vịnh Nha Trang còn tập trung nhiều đảo lớn, nhỏ có tiềm năng phát triển du lịch vui chơi giải trí trên đảo, thám hiểm dưới nước Đặc biệt đảo Hòn Tre là đảo lớn, quanh đảo có nhiều bãi đẹp như Bãi Trũ, Bãi Tre, Bích Đầm, khu bảo tồn biển Hòn Mun Với cảnh quan thiên nhiên ưu đãi, nhiều danh lam thắng cảnh đẹp, khí hậu ôn hòa gắn với nhiều di tích lịch sử và công trình văn hoá như Tháp Bà, biệt điện Bảo Đại, chùa Long Sơn v.v là những điều kiện lý tưởng cho mùa du lịch kéo dài Nha Trang đã trở thành một trong những trung tâm du lịch lớn của cả nước, đặc biệt là loại hình du lịch biển-đảo rất hấp dẫn, lôi cuốn du khách trong và ngoài nước

Bờ biển Nha Trang có nhiều điều kiện thuận lợi hình thành các cảng hàng hoá, thương mại và quốc phòng Hiện nay trên địa bàn thành phố đang khai thác cảng Nha Trang vào vận chuyển hàng hoá, du khách, ngoài ra còn có cảng quân sự của trường Học viện Hải quân và cảng đưa đón khách du lịch Cầu Đá Sự phát triển kinh tế cảng

Trang 23

sẽ kéo theo một loạt các ngành dịch vụ khác

Biển Nha Trang còn có tiềm năng lớn về đánh bắt thuỷ sản với nhiều loại thủy hải sản quý như cá thu, cá mú, cá chẽm, tôm hùm, tôm sú, cua biển, cá ngựa, mực Trữ lượng hải sản vùng biển Nha Trang - Khánh Hoà ước khoảng trên 100 nghìn tấn, trong đó chủ yếu là cá nổi (70%) Khả năng khai thác cho phép hàng năm khoảng

30 nghìn tấn

Ngoài các hải sản như cá, mực và các loại ốc, biển Nha Trang còn là nơi trú ngụ của loài chim yến, hàng năm cho phép khai thác khoảng 2.000 kg yến sào Đây là một đặc sản quý mà không phải tỉnh nào trong nước cũng có thể có được Nó không chỉ góp phần cho xuất khẩu, mà còn là nguồn nguyên liệu quý cho công nghiệp chế biến dược liệu bổ dưỡng cao cấp

Biển Nha Trang còn có ý nghĩa với việc sản xuất muối Nước biển có nồng độ muối tương đối cao, thuận lợi cho việc sản xuất muối tập trung và các sản phẩm sau muối, nhất là muối công nghiệp Tuy nhiên, do việc mở rộng phát triển đô thị nên hiện nay vùng sản xuất muối của thành phố đã bị thu hẹp, hiện nay diện tích còn không đáng kể

c Tài nguyên rừng

Nha Trang có 2.768,07 ha đất lâm nghiệp, trong đó phần lớn là rừng sản xuất

2.502,36 ha, chiếm khoảng 90,4% diện tích đất lâm nghiệp; đất rừng phòng hộ 265,71

ha, chiếm 9,6% Diện tích đất có rừng giàu, trữ lượng lớn hiện nay không còn mà chủ yếu là rừng non, rừng nghèo kiệt; đất trống đồi núi trọc còn nhiều, cần tích cực trồng rừng mới và khoanh nuôi tái sinh rừng để tăng độ che phủ rừng

d Tài nguyên khoáng sản

Theo khảo sát sơ bộ, trên địa bàn Nha Trang hiện nay chủ yếu chỉ có đá xây dựng, đất sét để sản xuất gạch, cát xây dựng ở sông Cái; đá chẻ, đá dăm ở Vĩnh Thái, Vĩnh Ngọc, Vĩnh Phương Ngoài ra còn có nguồn khoáng sản quý là nước khoáng nóng, bùn khoáng nóng Hiện nay khu du lịch suối khoáng nóng Tháp Bà đang khai thác hiệu quả nguồn tài nguyên này phục vụ phát triển du lịch tắm khoáng, nghỉ dưỡng, phục hồi sức khỏe

e Tài nguyên du lịch

Tài nguyên du lịch biển - đảo Vịnh Nha trang được công nhận là một trong

Trang 24

những vịnh đẹp nhất thế giới, có hệ sinh thái biển rất đa dạng, trong đó đặc biệt nổi trội là các rạn san hô Trong vịnh Nha Trang có 19 hòn đảo lớn nhỏ với nhiều cảnh quan thiên nhiên và bảo tồn sinh thái còn khá hoàn chỉnh và độc đáo của Việt Nam như đảo Hòn Mun là nơi có rạn san hô và quần thể sinh thái biển phong phú và đa dạng nhất Việt Nam; đảo Hòn Miễu (còn gọi đảo Bồng Nguyên) nơi có nhiều sinh vật biển kỳ lạ; đảo Hòn Tằm là một điểm du lịch sinh thái biển đảo hấp dẫn; đảo Hòn Tre

có bãi tắm thiên nhiên đẹp vào bậc nhất Việt Nam, có quần thể các dự án du lịch cao cấp, tuyến cáp treo Vinpearl vượt biển dài nhất thế giới; đảo Hòn Chồng, Hòn Một, các đảo yến v.v

Tài nguyên du lịch văn hóa - nhân văn Bên cạnh tài nguyên du lịch biển - đảo,

Nha Trang còn có tài nguyên du lịch nhân văn phong phú, nhiều di sản văn hóa lịch sử quý giá Một số di sản văn hóa - lịch sử có giá trị tại Nha Trang như Tháp Bà Pônaga, Nhà thờ Núi, Chùa Long Sơn, Chiến khu Đồng Bò, Dinh Bảo Đại, Viện Pasteur, Viện Hải dương học, Chợ Đầm, Suối Khoáng v.v Ngoài ra, còn có một số văn hóa phi vật thể gần đây đã được khai thác như lễ hội Tháp Bà, lễ hội Cầu Ngư, lễ hội xứ Trầm hương, Festival biển v.v Tuy nhiên hiện nay một số công trình đang bị xuống cấp, chưa được trùng tu, tôn tạo nên chưa phát huy được các giá trị của di tích Tiềm năng

du lịch Nha Trang cho phép phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mạnh, xây dựng được thương hiệu Nha Trang trên bản đồ du lịch thế giới

2.2.3 Đặc điểm dân số, nguồn nhân lực

a Dân số

Năm 2010, dân số trung bình toàn thành phố có 394.455 người, trong đó dân số thành thị chiếm 74,6%, dân số nông thôn chiếm 25,4% Trong thành phần dân số, nam chiếm 48,5%, nữ chiếm 51,5%

Mật độ dân số trung bình toàn thành phố là 1.562 người/km2 Dân cư phân bố không đều, tập trung chủ yếu ở các phường nội thành , ven biển và ven các trục đường giao thông

b Nguồn nhân lực

Số người trong độ tuổi lao động toàn thành phố năm 2010 có 266.769 người, trong đó có khả năng lao động có 209 nghìn người, chiếm 53% tổng dân số Bình quân mỗi năm nguồn lao động tăng thêm khoảng 4.700-5.000 người Bên cạnh sự gia tăng

Trang 25

nguồn nhân lực từ số dân bước vào tuổi lao động, thành phố còn là địa bàn hấp dẫn, thu hút lao động từ các địa phương trong tỉnh đến làm việc và sinh sống Đây là nguồn nhân lực bổ sung cho nền kinh tế, nhưng đồng thời cũng là áp lực đối với vấn đề tạo việc làm và giải quyết các vấn đề xã hội

Phần lớn lao động tham gia hoạt động du lịch, thương mại, dịch vụ, sản xuất công nghiệp; lao động nông nghiệp có xu hướng giảm dần chuyển sang các ngành nghề phi nông nghiệp

2.2.4 Đặc điểm kinh tế, xã hội

a Kinh t ế

- Tăng trưởng kinh tế

Với chức năng là trung tâm tỉnh lỵ - là một trong những trọng điểm kinh tế của

tỉnh Khánh Hòa, trong những năm qua tiềm lực kinh tế của thành phố không ngừng

lớn mạnh, tăng trưởng liên tục đạt mức khá cao, luôn dẫn đầu toàn tỉnh

Trong 5 năm qua 2006-2010, mặc dù gặp không ít khó khăn do khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế thế giới và tình hình thiên tai bão lụt đã tác động mạnh đến sản xuất, kinh doanh, xuất khẩu, kinh tế thành phố vẫn tiếp tục tăng trưởng với

tốc độ tương đối cao, trung bình đạt 10,6%/năm, trong đó công nghiệp - xây dựng

tăng 11,39%/năm; khu vực dịch vụ có bước tăng trưởng cao hơn, đạt 13,38%/năm

Do quá trình đô thị hóa phát triển mạnh, đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp nên nông nghiệp có xu hướng giảm

GDP bình quân đầu người năm 2010 ước đạt 49,9 triệu đồng/năm (tăng gần

2 lần so năm 2005), tương đương 2.380 USD Đời sống của dân cư trên địa bàn không ngừng được nâng cao

- Cơ cấu kinh tế (tính theo GDP- giá hiện hành)

Thực hiện định hướng đầu tư theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nâng cao hiệu quả trong từng ngành, lĩnh vực, do đó cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch tích cực theo hướng tăng nhanh tỷ trọng các ngành dịch vụ, công nghiệp, giảm dần

tỷ trọng nông nghiệp Năm 2005, tỷ trọng công nghiệp-xây dựng chiếm 27,7%,

dịch vụ 56,4%, nông nghiệp 15,8% Đến năm 2010, dịch vụ chiếm 62,1%, công nghiệp 31,9%, nông nghiệp 6,0%

Trang 26

- Vai trò, v ị trí của thành phố Nha Trang trong nền kinh tế tỉnh

Là một trong những trọng điểm kinh tế của tỉnh Khánh Hòa, thành phố Nha Trang có những đóng góp đáng kể, tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội trên địa bàn toàn tỉnh

Bảng 2.1 Đóng Góp của Thành Phố Nha Trang trong Nền Kinh Tế Tỉnh Khánh Hoà (Số liệu thực hiện năm 2010)

Trang

Toàn tỉnh

% so toàn tỉnh

Trang 27

có đóng góp quan trọng trong nguồn thu ngân sách của tỉnh (chiếm 24,4% tổng thu ngân sách nội địa)

b Các vấn đề xã hội

- Công tác dân số, giải quyết việc làm và mức sống dân cư

+ Công tác dân số, kế hoạch hóa gia đình thu được những kết quả đáng kể, tạo

sự chuyển biến tích cực về quy mô cũng như chất lượng dân số Tỷ suất sinh hàng năm có chiều hướng giảm, bình quân giảm 0,03%/năm, tốc độ tăng dân số tự nhiên năm 2010 ở mức 1% Tỷ lệ dân số đô thị đạt 74%

+ Vấn đề giảm nghèo, nâng cao mức sống dân cư có những chuyển biến tích cực, đạt kết quả thiết thực Đến cuối năm 2010, Nha Trang đã hoàn thành công tác giảm nghèo theo tiêu chuẩn chung của cả nước; tỷ lệ hộ theo chuẩn mới của tỉnh còn 4,7% tổng số hộ

+ Công tác giải quyết việc làm: từ năm 2006 đến 2010 đã giải quyết và tạo việc làm mới cho khoảng 43.980 lao động (bình quân 8.800 lao động/năm), tỷ lệ lao động qua đào tạo trên 45%, trong đó đào tạo nghề trên 37% Tỷ lệ thất nghiệp toàn thành phố dao động từ 4,6-5,6%

- Giáo dục - đào tạo

Sự nghiệp giáo dục - đào tạo có bước phát triển toàn diện Chất lượng giáo dục của các cấp học được nâng lên, cơ sở vật chất được tăng cường Toàn thành phố có 116 trường với gần 68.000 học sinh Huy động được 85,3% trẻ em trong độ tuổi mẫu giáo đến lớp; 100% giáo viên công lập ở các ngành học đạt trình độ chuẩn và 55% trên chuẩn; có 27/27 xã, phường đạt chuẩn quốc gia về phổ cập giáo dục tiểu học và trung học cơ sở

Với vai trò là trung tâm nghiên cứu khoa học và giáo dục chuyên nghiệp, tại thành phố tập trung nhiều trường đại học, cao đẳng và viện nghiên cứu như: Viện Pasteur, Viện Vắc xin, viện Hải dương học; có các trường như Đại học Nha trang - đào tạo đa ngành, Đại học Dự bị dân tộc Trung ương, Đại học Tôn Đức Thắng (cơ sở

2 Nha Trang), Trường Sỹ quan CH-KT Thông tin, Học viện Hải quân, Cao đẳng sư phạm Nha trang, Cao đẳng Văn hóa nghệ thuật và Du lịch Nha Trang, Cao Đẳng Nghề Nha Trang, Cao đẳng sư phạm Mẫu giáo TW Nha Trang, Cao đẳng Y tế, Trung cấp

Du lịch Nha Trang, Trung cấp Nghề Nha Trang và nhiều trung tâm, cơ sở đào tạo nghề

Trang 28

tư nhân khác Đây là một trong những yếu tố thuận lợi giúp cho nguồn nhân lực của thành phố có trình độ tương đối cao hơn so với các địa phương khác trong vùng

- Y tế - chăm sóc sức khỏe cộng đồng

Công tác y tế, chăm sóc sức khỏe nhân dân đạt được kết quả tích cực; có 26/27 trạm y tế đạt chuẩn quốc gia; 40% trạm y tế có bác sỹ, 100% trạm y tế có cán bộ dược và có nữ hộ sinh hoặc y sản nhi Hoạt động y học cổ truyền được duy trì Ngành y tế đã chủ động ngăn chặn các dịch bệnh, không để bùng phát các ổ dịch, an toàn vệ sinh thực phẩm được kiểm soát; hoàn thành các chương trình, mục tiêu y tế quốc gia

2.2.5 Đặc điểm giao thông vận tải, an ninh quốc phòng và môi trường

a Hệ thống Giao thông

Hệ thống giao thông trên địa bàn thành phố phát triển khá toàn diện, tương đối thuận tiện và đa dạng, bao gồm đường bộ, đường sắt, đường hàng không, đường thủy Thời gian qua, Tỉnh đã đầu tư xây dựng và nâng cấp nhiều tuyến đường quan trọng, góp phần thay đổi bộ mặt thành phố theo hướng văn minh hiện đại, có tác động tích cực đến thành phố Nha Trang

- Đường bộ:

Đến nay, thành phố có trên 898 tuyến đường, trong đó 280 tuyến đường do thành phố quản lý với tổng chiều dài là 115,64 km; đường tỉnh 07 tuyến với tổng chiều dài 41,377 km; đường liên xã có 11 tuyến với tổng chiều dài 29,47 km; đường hẻm

nội thành 619 tuyến, tổng chiều dài 174 km

Nha Trang có các tuyến đường như đường 23/10 ở phía Tây Nam, đường 2/4, quốc lộ 1C ở phía Bắc là các tuyến đối ngoại quan trọng, tạo mối quan hệ thuận lợi giữa thành phố với quốc lộ 1A; đại lộ Nguyễn Tất Thành nối liền Nha Trang với khu

du lịch Sông Lô, khu kinh tế - du lịch - dịch vụ Bắc bán đảo Cam Ranh và sân bay Cam Ranh

- Đường hàng không Sân bay Nha Trang hiện nay không còn khai thác các

tuyến bay dân dụng mà đã được chuyển mục đích sử dụng để phục vụ phát triển đô thị

và thương mại, dịch vụ, du lịch Sân bay quốc tế Cam Ranh tuy không nằm trên địa phận Nha Trang nhưng cách không xa trung tâm thành phố, được kết nối bằng đại lộ Nguyễn Tất Thành dài 35 km, rất thuận tiện cho việc đi lại, phục vụ rất hiệu quả cho

Trang 29

thành phố

- Đường sắt: Ga Nha trang nằm ở trung tâm thành phố, đón trả khách

Bắc-Nam Tổng chiều dài đường sắt đi ngang qua Nha Trang là 25 km Trong tương lai đến năm 2015 tuyến đường sắt đôi cao tốc mới khổ 1,435 m Đoạn tuyến Nha Trang- TP

Hồ Chí Minh sẽ được ưu tiên xây dựng trước với chiều dài 412 km và xây dựng 1 ga mới ở phía Tây Bắc thành phố Nha Trang

- Đường thủy: Trên địa bàn thành phố Nha Trang có một số cảng:

+ Cảng Nha Trang: đã được đầu tư xây dựng nâng cấp cầu tàu 20.000 DWT, có

độ sâu trước bến -11,8m, có khả năng tiếp nhận tàu hàng có trọng tải lớn đến 20.000 DWT và tàu khách du lịch cỡ lớn; được sử dụng như một cảng đa chức năng phục vụ vận chuyển hành khách và hàng hóa

+ Cảng Hải Quân: phục vụ học tập cho Học viện Hải Quân và huyện đảo Trường Sa

+ Cảng cá Hòn Rớ phục vụ cho ngành thủy sản

Ngoài ra, Nha Trang còn có một số cảng phục vụ du lịch như cảng du lịch Cầu

Đá, cảng du lịch Phú Quý, cảng du lịch Hòn Tre

b Môi trường sinh thái

Đến nay, nhìn chung chất lượng môi trường tự nhiên, cả về môi trường đô thị

và môi trường biển khu vực Nha Trang vẫn nằm trong tình trạng tốt Các chỉ tiêu hàm lượng bụi CO2, SO2, NO2, Pb đều thấp hơn tiêu chuẩn vệ sinh cho phép Đối với các vùng nước ven bờ vịnh Nha Trang mới chớm bị ô nhiễm do các hoạt động sinh hoạt hàng ngày của cộng đồng dân cư và do nuôi tôm sinh ra (khu vực cửa sông Cái và cửa sông Quán Trường) Tuy nhiên, sự phát triển kinh tế mạnh mẽ đã và đang có những tác động đến môi trường của thành phố, đặc biệt là môi trường nước, môi trường biển Nếu không quan tâm khắc phục sẽ gây ra những bất lợi đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế của thành phố trong tương lai Khu vực hạ lưu sông Cái Nha Trang đang có nguy cơ bị ô nhiễm nghiêm trọng, việc thực hiện dự án kè sông Cái sẽ góp phần làm giảm nguy cơ ô nhiễm môi trường ở khu vực này Dọc các trục giao thông chính và các khu đô thị, tình trạng ô nhiễm về bụi và tiếng ồn có xu hướng tăng Chất lượng môi trường ở một số khu dân cư nằm cạnh các cơ sở sản xuất công

nghiệp bị ô nhiễm về nước thải và mùi hôi (đặc biệt khu vực Bình Tân)

Trang 30

c Quốc phòng- an ninh, trật tự an toàn xã hội

Quốc phòng-an ninh, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn luôn được giữ vững Thành phố luôn không ngừng củng cố, tăng cường cả về sức mạnh kinh tế - xã hội và quốc phòng-an ninh trong thế trận phòng thủ của quân khu 5 và cả nước Luôn thực hiện tốt các chính sách hậu phương quân đội, huấn luyện dân quân tự vệ, hoàn thành xuất sắc chỉ tiêu tuyển quân, truy quét tội phạm và các tệ nạn xã hội

Công tác quản lý Nhà nước về an ninh trật tự và phong trào toàn dân bảo vệ

an ninh Tổ quốc được tăng cường An ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội được đảm bảo, giữ vững; bảo vệ an toàn tuyệt đối các sự kiện chính trị, văn hóa - xã hội diễn ra trên địa bàn thành phố

2.3 Tổng quan về vịnh Nha Trang

Khánh Hòa có 4 vịnh biển, đó là: Vịnh Nha Trang, vịnh Cam Ranh, vịnh Nha Phu, vịnh Vân Phong và hơn 200 hòn đảo lớn nhỏ Trong đó, vịnh Nha Trang được công nhận là thành viên Câu lạc bộ các Vịnh đẹp nhất thế giới vào tháng 06/2003 Hơn nữa vịnh Nha Trang cũng là Khu Bảo tồn biển đầu tiên của Việt Nam với sự hỗ trợ của

Dự án thí điểm Khu Bảo tồn biển Hòn Mun vào năm 2001 Hệ thống biển đảo đã được khai thác phát triển du lịch ở vịnh Nha Trang gồm bãi biển Nha Trang, Hòn Tằm, Hòn Tre, Hòn Mun, Hòn Miếu và Hòn Một ( đảo này chỉ có dân cư địa phương sinh sống, không có các hoạt động du lịch, nhưng xin đưa vào để có cái nhìn khái quát hơn) Riêng Hòn Cau và Hòn Vung là hai đảo nằm cách khá xa, chưa có thông tin nào về việc phát triển du lịch nơi đây, tuy nhiên hai đảo này cũng nằm trong khu vực bảo vệ của Ban quản lý Khu Bảo tồn biển vịnh Nha Trang

2.3.1 V ị trí và đặc điểm địa lí

Vịnh Nha Trang nằm ở phía nam của biển Đông Việt Nam, trải dài từ 1090

13’ đến 109022’ kinh độ Bắc và từ 12012’ đến 12018’ vĩ độ Bắc với diện tích là 249,65km2, trong đó diện tích mặt nước là 211,845km2, bao gồm trung tâm thành phố Nha Trang và 19 hòn đảo lớn nhỏ bao quanh, trong đó có 7 đảo lớn gồm: Hòn Tre, Hòn Miếu, Hòn Tằm, Hòn Một, Hòn Mun, Hòn Cau (Hòn Hố) và Hòn Vung (Hòn Đụn) Đảo lớn nhất là Hòn Tre rộng 3.250 ha nằm che chắn ngoài khơi khiến vịnh Nha Trang trở nên kín gió và êm sóng; Hòn Nọc là đảo nhỏ nhất có diện tích khoảng 4ha Hiện nay trong vùng vịnh Nha Trang hoạt động kinh tế nổi bật nhất là các hoạt động

Trang 31

dịch vụ du lịch, bao gồm các khách sạn, nhà nghỉ, khu vực tham quan, thể thao, giải trí, nhà hàng…; các hoạt động kinh tế khác bao gồm nuôi trồng thủy sản, đánh bắt thủy sản, khai thác yến sào, vận tải hàng hóa…

2.3.2 Gi ới thiệu một số địa điểm du lịch thuộc vịnh Nha Trang

a Bãi tắm Nha Trang

Dọc theo vòng cung trên bờ vịnh Nha Trang là một bãi cát vàng trải rộng suốt chiều dài 10km; một công viên bờ biển đan xen với những công trình khách sạn lớn nhỏ hướng tầm nhìn ra biển xanh để du khách được tận hưởng những làm gió mát trong lành của vịnh Vịnh Nha Trang cũng là cửa ngõ cho những du thuyền khổng lồ, mỗi năm đưa hàng ngàn du khách đến tham quan thành phố Nha Trang Đây cũng là khu vực được tập trung chăm lo bảo vệ môi trường nhất, bởi vì khi đến Nha Trang thì bãi biển cũng là bộ mặt của thành phố

b Hòn Mun

Vị trí: Hòn Mun nằm ở phía Nam vịnh Nha Trang

Đặc điểm: Được gọi là Hòn Mun vì phía Đông Nam của đảo có những mỏm đá nhô cao, vách dựng hiểm trở tạo thành hang động, đặc biệt đá ở đây đen tuyền như gỗ mun, rất hiếm thấy ở những nơi khác

Trong những hang động đá đen của Hòn Mun hàng năm đều có chim yến về

làm tổ Ngoài ra Hòn Mun còn nổi tiếng về những bãi lặn – nơi có rạn san hô phong phú và đa dạng sinh học bậc nhất Việt Nam Do địa thế của đảo rất gần với dòng hải lưu nóng từ phía xích đạo đưa tới nên thích hợp với điều kiện phát triển san hô và nhiều loại sinh vật biển nhiệt đới cũng về đây quần tụ Đáy biển Hòn Mun là một tập hợp quần thể sinh vật biển đa dạng, phong phú, là nơi quan sát, nghiên cứu rất lý thú,

bổ ích cho các nhà nghiên cứu sinh vật biển, hải dương học và du khách muốn tìm hiểu về biển

Từ năm 2001, Khu Bảo tồn biển Hòn Mun - dự án bảo tồn biển đầu tiên ở Việt Nam chính thức ra đời Dự án do Bộ Thủy sản, Ủy ban Nhân dân tỉnh Khánh Hòa và IUCN – Tổ chức bảo tồn thiên nhiên Thế giới thực hiện Dự án do Quỹ Môi trường toàn cầu thông qua Ngân hàng thế giới; Chính phủ Hoàng Gia Đan Mạch thông qua DANIDA và IUCN – Tổ chức bảo tồn thiên nhiên thế giới tài trợ, cùng với vốn đối ứng của chính phủ Việt Nam

Trang 32

Mục đích của dự án nhằm “Bảo tồn một mô hình điển hình về đa dạng sinh học biển có tầm quan trọng quốc tế và đang bị đe dọa” và đạt được các mục tiêu “giúp các cộng đồng dân cư tại các đảo nâng cao đời sống và cộng tác với các bên liên quan khác để bảo vệ và quản lý có hiệu quả đa dạng sinh học biển tại Khu Bảo tồn biển Hòn Mun, tạo nên một mô hình hợp tác quản lý cho các Khu Bảo tồn biển của Việt Nam”

Kết quả khảo sát của dự án cho thấy rạn san hô ở Hòn Mun có tầm quan trọng mang tính quốc tế và đa dạng sinh học thuộc loại cao nhất ở Việt Nam với hơn 350 loài san hô cứng tạo rạn trong đó có 40 loài mới được ghi nhận cho Việt Nam, trên 230 loài cá rạn, 112 loài thân mềm, 112 loài giáp xác, 27 loài da gai, 69 loài rong và 7 loài

cỏ biển Nó có tầm vóc quốc tế vì nó có số loài tương tự như ở trung tâm thế giới về

đa dạng san hô ở khu vực ấn Độ- Thái Bình Dương

c Hòn Tre

Vị trí: Hòn Tre nằm đối diện trước thành phố Nha Trang, trên đảo có núi Hòn Tre, hay còn gọi là núi Đàm Mông sừng sững như hình con cá sấu đang trườn mình xuống biển, che chắn cho vịnh Nha Trang

Đặc điểm: Đảo Hòn Tre đã trở thành một điểm đến đầy hấp dẫn của du lịch biển Nha Trang, đặc biệt là độ tinh khiết của nước biển và môi trường xung quanh Cát nơi đây trắng và rất mịn, dưới làn nước trong xanh có thể nhìn suốt tận đáy, bờ cát thoai thoải dần đi xa nhưng vẫn êm mịn và chắc Nơi đây rất thích hợp cho loại hình

du lịch nghỉ dưỡng kết hợp với những chương trình thể thao đầy tính khám phá

Thiên nhiên của Hòn Tre thu hút du khách thập phương bởi vẻ đẹp diệu kì của

nó Tại Hòn Tre có nhiều bãi tắm đẹp như Bãi Trũ, Bãi Me, Vũng Ngán, Bích Đầm… đặc biệt là Bãi Trũ là một bãi tắm tự nhiên thuộc hàng lý tưởng Ngoài ra ở đây còn có các khu nghỉ dưỡng tuyệt vời dành cho du khách với những căn nhà nghỉ bằng tre nằm nép bên bờ đảo Hiện nay Khu du lịch giải trí hiện đại Vinpearl Land cũng tọa lạc trên hòn đảo này

Trang 33

Hòn Tằm vẫn còn là một hoang đảo với với bãi cát tắm tự nhiên, sóng nhẹ biển êm và đặc biệt là có rất nhiều loại san hô, chiếm hơn 40% loài san hô tạo ra trên thế giới

Từ năm 1992 Hòn Tằm được Công ty Cung ứng Tàu biển Nha Trang (nay chuyển thành Công ty Cổ phần Hòn Tằm biển Nha Trang) đã phát hiện và đầu tư kinh doanh biến nơi đây thành một khu du lịch sinh thái biển đảo bề thế Với diện tich 10ha, Hòn Tằm được xây dựng thành 2 khu liên hoàn là khu A và khu B cùng với những công trình nhà hàng, khách sạn cao cấp và đủ tiêu chuẩn để phục vụ cho cả du khách trong nước và quốc tế

e Hòn Miếu

Cách đất liền chỉ 2 km, đi 10 phút về tới cảng Cầu Đá Nơi đây có 2 địa điểm

du ngoạn là hồ cá Trí Nguyên và bãi tắm Hòn Sỏi

Một tên gọi khác của đảo Hòn Miếu là Bồng Nguyên nên hồ cá vì thế có tên gọi

là Trí Nguyên Công trình được xây dựng từ năm 1971 với một kiến trúc rất độc đáo,

đó là hình một chiếc thuyền buồm cổ được xây dựng theo mô hình một con tàu hóa thạch dài 60m và cao 30m, cấu trúc như thủy cung trong truyện cổ tích, nuôi khá nhiều loài hải sản để du khách tham quan và tìm hiểu

Có thể băng qua đảo từ hồ cá đến Bãi Sỏi, cách vài trăm mét Bãi Sỏi hướng mặt về phía Hòn Tằm Gọi Bãi Sỏi vì ở đây bãi biển không có cát như trong đất liền,

mà toàn là sỏi nhỏ Du khách có thể lặn ở những ghềnh đá gần Bãi Sỏi sẽ thấy thế giới san hô và cầu gai

Đây cũng là một trong những đảo có mật độ dân số đông nhất và phát triển nhất trong cụm đảo ở vịnh Nha Trang Ở đây đã được kéo dây điện thắp sáng và đã có một trường tiểu học

Trang 34

CHƯƠNG 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Cơ sở lý luận

3.1.1 Định giá tài nguyên môi trường và ý nghĩa của việc định giá

a Khái niệm về Định giá tài nguyên môi trường

Định giá tài nguyên môi trường là một hoạt động quy đổi những giá trị không thấy được của tài nguyên môi trường thành những giá trị bằng tiền

TS Phan Thị Giác Tâm (2007): “Định giá giá trị tài nguyên môi trường là nỗ lực đưa ra những giá trị bằng tiền của các tài nguyên tự nhiên và dịch vụ môi trường vốn không có giá trên thị trường”

TS Đặng Thanh Hà (2006): “Định giá tài nguyên thiên nhiên môi trường là việc thừa nhận giá trị kinh tế của tài nguyên thiên nhiên môi trường qua các chức năng của nó như cung cấp nguyên liệu thô, hấp thụ chất thải, hỗ trợ cuộc sống con người, nuôi sống các loài… Nghĩa là gán một giá trị được lượng hóa bằng tiền tệ cho các

hàng hóa và dịch vụ mà tài nguyên thiên nhiên môi trường cung cấp cho các quá trình kinh tế và đây là một việc làm có ý nghĩa”

Có thể thấy rằng, khái niệm về định giá tài nguyên môi trường được diễn giải dưới nhiều cách khác nhau, nhưng đều có một đặc điểm chung là định giá trị các lợi ích mà tài nguyên môi trường mang lại cho con người dưới thước đo bằng tiền tệ cho

dù nó có giá trên thị trường hay không

b Ý nghĩa của việc định giá

Hầu hết Tài nguyên môi trường là tài sản công cộng không có sự mua bán trên thị trường nên không có giá cả nhưng mọi tài nguyên môi trường đều có giá trị Định giá tài nguyên môi trường là nỗ lực đưa ra những giá trị bằng tiền của các tài nguyên

tự nhiên và dịch vụ môi trường vốn không có giá trên thị trường

Trang 35

Giá trị tài nguyên môi trường khi đã được xác định sẽ được dùng cho phân tích lợi ích và chi phí để xây dựng các quyết định dự án, chính sách có liên quan đến tài nguyên và môi trường

3.1.2 M ột số khái niệm về du lịch

a Khái niệm về du lịch bền vững

Du lịch bền vững mới xuất hiện gần đây vì nó bắt nguồn từ khái niệm Phát triển bền vững Nó cũng là hệ quả từ việc lo lắng cho tương lai của các khu vực dễ bị tổn thương trên Trái Đất, nhất là các khu rừng nhiệt đới (Blangy, 1995) Như vậy thành tố môi trường đóng vai trò hết sức quan trọng

Theo Hội đồng du lịch và lữ hành thế giới, Tổ chức du lịch thế giới và Hội đồng Trái Đất (1999), du lịch bền vững là một loại hình du lịch đáp ứng các nhu cầu của du khách và các vùng đón tiếp mà vẫn bảo vệ và cải thiện được các nguồn tài nguyên cho tương lai Du lịch bền vững nhằm quản lý tất cả các nguồn tài nguyên sao cho có thể đáp ứng các nhu cầu về kinh tế, xã hội và thẩm mỹ mà vẫn bảo tồn các giá trị văn hóa,

đa dạng sinh học và môi trường sống

Tổ chức du lịch Thế giới đã đưa ra 3 tiêu chuẩn đặc trưng của phát triển du lịch bền vững như sau:

- Các nguồn tài nguyên môi trường phải được bảo vệ

- Các cộng đồng địa phương phải được hưởng lợi về mặt thu nhập kinh tế và chất lượng cuộc sống từ loại hình du lịch này

- Du khách nhận được những kinh nghiệm có chất lượng cao

b Khái niệm về Khu du lịch

Khu du lịch là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn với ưu thế về tài nguyên du lịch tự nhiên, được quy hoạch, đầu tư phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách du lịch, đem lại hiệu quả về kinh tế - xã hội và môi trường

c Khái niệm về khách du lịch

Hội nghị Liên hợp quốc về du lịch tại Roma (1963) thống nhất quan niệm về khách du lịch quốc tế và nội địa, sau này được Tổ chức Du lịch Thế giới WTO chính thức thừa nhận:

Trang 36

- Khách du lịch quốc tế: là những người lưu trú ít nhất là một đêm nhưng không

quá một năm tại một quốc gia khác với quốc gia thường trú với nhiều mục đích khác nhau ngoài hoạt động để được trả lương ở nơi đến

- Khách du lịch nội địa: là một người đang sống trong một quốc gia không kể

quốc tịch nào, đi đến một nơi khác không phải nơi cư trú thường xuyên trong quốc gia

đó trong khoảng thời gian ít nhất 24h và không quá một năm với mục đích khác nhau ngoài hoạt động để được trả lương ở nơi đến

Theo Pháp lệnh du lịch ở nước ta quy định:

- Khách du lịch quốc tế: là những người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở

nước ngoài vào Việt Nam du lịch và công dân Việt Nam, người nước ngoài cư trú tại Việt Nam ra nước ngoài du lịch

- Khách du lịch nội địa: là công dân Việt Nam và người nước ngoài cư trú tại

Việt Nam đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam

d Sản phẩm du lịch

Khách du lịch đi du lịch với mong muốn được đáp ứng, thỏa mãn các nhu cầu

về vui chơi, giải trí, chữa bệnh, phương tiện, vật chất trong chuyến đi Hay nói cách khác các cơ sở kinh doanh du lịch phải thỏa mãn các nhu cầu, mong muốn của du khách thông qua các sản phẩm du lịch

Sản phẩm du lịch bao gồm: dịch vụ du lịch, các hàng hóa và tiện nghi cung ứng cho du khách, nó được tạo nên bởi sự kết hợp các yếu tố tự nhiên, cơ sở vật chất kĩ thuật và lao động du lịch tại một vùng, một địa phương nào đó

Như vậy sản phẩm du lịch gồm các yếu tố hữu hình (hàng hóa) và những yếu tố

vô hình (dịch vụ) để cung cấp cho du khách hay có thể nói sản phẩm du lịch bao gồm các hàng hóa, dịch vụ và tiện nghi phục vụ khách du lịch

Sản phẩm du lịch = Tài nguyên du lịch + Các dịch vụ và hàng hóa du lịch

3.1.3 Cung du l ịch

a Khái niệm cung du lịch

Cung du lịch là khả năng cung cấp dịch vụ du lịch và hàng hóa du lịch (cả hàng hóa vật chất và dịch vụ du lịch) mà người bán có khả năng và sẵn sàng bán ở những mức giá khác nhau trong một thời gian và không gian xác định

Trang 37

b Khái niệm loại hình cung du lịch

Loại hình du lịch là tập hợp các sản phẩm du lịch của một vùng và của một quốc gia có liên hệ mật thiết với nhau hoặc vì chúng thỏa mãn cũng một động cơ du lịch, cũng diễn ra ở cùng một điểm đến, được bán cho cùng một giới khách hàng, được hình thành trên cơ sở cùng sử dụng chung một loại hình dịch vụ riêng lẻ hoặc đưa đến khách du lịch theo một nghĩa như nhau

- Du lịch văn hóa: Thu hút những người mà mối quan tâm của họ là truyền thống lịch sử, phong tục tập quán, nền văn hóa nghệ thuật của nơi đến

- Du lịch xã hội: Hấp dẫn những người mà thích tiếp xúc giao lưu với mọi người xung quanh

- Du lịch hoạt động: thu hút khách du lịch bằng một hoạt động đươc xác định trước

- Du lịch giải trí: thu hút những người đến khu du lịch với mục đích chủ yếu là thư giãn, hưởng thụ và tận hưởng kì nghỉ

- Du lịch thể thao: loại hình du lịch này chủ yếu thu hút những người trẻ tuổi, ham mê vận động thể thao

- Du lịch chuyên đề: liên quan đến một ít người đi du lịch cùng với một mục đích chung hoặc mối quan tâm đặc biệt nào đó của riêng họ (Ví dụ: một nhóm sinh viên đi tour du lịch thực tập)

- Du lịch tôn giáo: Nhóm người này đi du lịch nhằm thỏa mãn nhu cầu tín ngưỡng Họ đến nơi có ý nghĩa tâm linh hay vị trí tôn giáo được tôn kính

- Du lịch sức khỏe: những người này đi du lịch nhằm cải thiện tình trạng sức khỏe, thư giãn tinh thần Họ thường đến các khu an dưỡng, nghỉ mát ở vùng núi cao hoặc ven biển…

Trang 38

- Du lịch dân tộc học: đặc trưng cho những người quay trở về nơi quê cha đất

tổ, tìm hiểu lịch sử nguồn gốc quê hương

3.1.4 C ầu du lịch

a Khái niệm Cầu du lịch

Cầu du lịch là một bộ phận nhu cầu xã hội có khả năng thanh toán về vật chất

và dịch vụ du lịch đảm bảo sự đi lại lưu trú tạm thời của những người ngoài nơi ở thường xuyên của họ, nhằm mục đích nghỉ ngơi, giải trí, tìm hiểu văn hóa, chữa bệnh, tham gia các chuong trình dặc biệt và các mục đích khác

b Phân loại Cầu du lịch

Cầu về du lịch bao gồm Cầu về dịch vụ du lịch và Cầu về hàng hóa vật chất Đối với cầu về dịch vụ du lịch thì có thể chia thành 3 loại là: Cầu về dịch vụ chủ yếu (bao gồm cầu về vận chuyển và cầu về lưu trú, ăn uống); Cầu về dịch vụ đặc trưng (là cầu về dịch vụ và nhu cầu cảm thụ, thưởng thức mà khách mong đợi khi đi

du lịch Cầu về dịch vụ đặc trưng này thường là nguyên nhân và mục đích chuyến đi)

và Cầu về dịch vụ đi kèm (là cầu về những dịch vụ rất đa dạng phát sinh trong chuyến

đi của du khách, bao gồm dịch vụ thông tin liên lạc, dịch vụ đặt chỗ, mua vé, giặt ủi Phần lớn những nhu cầu này phát sinh ngay tại nơi đi du lịch và cần được thỏa mãn trong thời gian ngắn)

Đối vơi cầu về hàng hóa thì cũng có thể chia thành 2 loại cầu về hàng hóa lưu niệm (là việcc du khách có nhu cầu tìm mua những vật phẩm đặc trưng của điểm du lịch nhằm gợi nhớ về điểm du lịch Việc đáp ứng tốt cầu về hàng lưu niệm sẽ mang lại một hiệu ứng tốt để quảng bá cho địa điểm du lịch đó) và cầu về hàng hóa có giá trị kinh tế cao (là việc trong quá trình du lịch, du khách có thể kết hợp mua một số hàng hóa có giá trị cao, được bán tại nơi du lịch có giá rẻ hơn nơi họ sinh sống)

c Các yếu tố tác động đến cầu du lịch

- Yếu tố tự nhiên

+ Đặc điểm các yếu tố tự nhiên ở nơi ở thường xuyên của khách du lịch: những nơi có điều kiện bất lợi như khí hậu lạnh, ẩm, ít nắng, địa hình đơn điệu, động thực vật nghèo nàn sẽ làm nảy sinh nhu cầu du lịch của người dân sống ở đó Các yếu tố này tác động lên điều kiện sống của dân cư một cách liên tục, làm cho nhu cầu du lịch đến nơi có điều kiện tự nhiên thuận lợi hơn trở nên cần thiết và ngày càng phát triển

Trang 39

+ Đặc điểm các yếu tố tự nhiên của điểm du lịch: bao gồm khí hậu ôn hòa, bầu không khí trong lành mát mẻ, địa hình đa dạng, phong cảnh thiên nhiên kì thú, động thực vật quý hiếm là nơi du khách thường hướng tới

- Yếu tố văn hóa, xã hội

+ Tình trạng tâm, sinh lí con người: tâm lí thư giãn, thoải mái, sức khỏe tốt thường nảy sinh nhu cầu du lịch Tuy nhiên có những trường hợp do buồn chán, do tình hình sức khỏe mà khi có lời khuyên của bạn bè, người thân, đặc biệt là của bác sỹ thì người ta cũng dễ chấp nhận một chuyến đi để thư giãn hoặc để chữa bệnh Do đó cả hai trạng thái tâm, sinh lí trên đều tác dộng đến nhu cầu du lịch

+ Độ tuổi khách du lịch: Tùy vào từng độ tuổi và giới tính khác nhau của du khách mà tác động đến nhu cầu du lịch cũng khác nhau Tuổi trẻ luôn hiếu kì nhưng vì hạn chế về tài chính và viêc học hành nên họ là đối tượng tác động đến nhu cầu du lịch của người lớn và là những khách du lịch trong tương lai Còn người già luôn bị hạn chế về sức khỏe nên có xu hướng đi du lịch ở những nơi nghỉ dưỡng, chăm sóc sức khỏe, vì thế cũng tác động đến nhu cầu du lịch

+ Thời gian nhàn rỗi: Đây là một trong những yếu tố tác động đến nhu cầu du lịch Khi xã hội chưa phát triển, con người sử dụng thời gian nhàn rỗi để nghỉ ngơi theo đúng nghĩa đen của nó Nhưng dần dần con người đã biết sử dụng thời gian nhàn rỗi cho việc nghỉ ngơi theo nghĩa tích cực, trong đó có việc đi du lịch Số lượng thời gian nhàn rỗi do nhiều yếu tố quyết định, nhưng ba yếu tố quan trọng là Năng suất lao động; Các thể chế và luật lệ quản lý; Áp dụng tiến bộ khoa học kĩ thuật trong việc rút ngắn thời gian cho công việc Yếu tố này tác động trực tiếp đến khả năng kéo dài thời gian đi du lịch, nhất là loại hình du lịch cuối tuần

+ Dân cư: các yếu tố dân cư như dân số, thành phần dân tộc, đặc điểm nhân khẩu, cơ cấu sự phân bố và mật độ dân cư tác động trực tiếp đến việc hình thành cầu

du lịch

+ Bản sắc văn hóa và tài nguyên nhân văn khác: Sự khác biệt về nền văn hóa giữa các địa phương, các vùng của một quốc gia, giữa các quốc gia do tập tục mỗi vùng, bản sắc văn hóa dân tộc quyết định Chính bản sắc văn hóa dân tộc tạo ra sự kích thích hình thành cầu du lịch Tài nguyên nhân văn như di tích văn hóa, di tích lịch

Trang 40

sử… tác động đến cầu du lịch qua bốn giai đoạn từ thông tin, tiếp xúc, nhận thức đến đánh giá - nhận xét, có tác dụng thúc đẩy việc hình thành cầu du lịch

+ Trình độ văn hóa: trình độ văn hóa tác động đến việc hình thành cầu cả về phía người tiêu dùng và người sản xuất du lịch Trình độ văn hóa được nâng cao thì động cơ du lịch tăng lên, thói quen du lịch hình thành du lịch ngày càng rõ Tại các điểm du lịch, trình độ văn hóa và dân trí cao hay thấp quyết định đến cách đối xử với khách trong quá trình giao tiếp, đến chất lượng phục vụ khách tạo nên sự hấp dẫn, thu hút khách Trình độ văn hóa của người du lịch tác động đến sản phẩm du lịch và thông qua đó tác động tới việc hình thành cầu, tới khối lượng và cầu du lịch

+ Nghề nghiệp: Đây cũng là một yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu du lịch của du khách Tùy vào công việc, từng loại nghề mà du khách có nhiều hay ít thời gian giành cho việc du lịch

+ Thị hiếu và kỳ vọng: Thị hiếu ảnh hưởng đến cầu, hướng sự ưu tiên tiêu dùng vào hàng hóa, dịch vụ du lịch nào đó Các kỳ vọng hay sự thay đổi của con người về

sự thay đổi thu nhập, giá cả… làm cho cầu du lịch thay đổi

- Yếu tố kinh tế

+ Thu nhập: Một khi con người ổn định về tài chính, thu nhập có phần dư thì lúc đó họ mới có nhu cầu về du lịch Có thể kỳ vọng thu nhập càng cao người ta sẽ đi

du lịch càng nhiều và ngược lại

+ Giá cả hàng hóa: Xét ở phạm vi rộng, giá cả của hàng hóa, nhất là giá cả hàng hóa phục vụ sinh hoạt, tạo ra sự biến động của cầu du lịch Sự giảm hàng hóa sẽ tạo ra một khoản thu nhập dư ra có thể tích lũy hoặc đi du lịch Ở phạm vi hẹp, nếu giá hàng hóa tăng lên dẫn đến khối lượng cầu trong du lịch giảm xuống và ngược lại Tuy nhiên

sự tác động này không phải lúc nào cũng vậy Một số trường hợp đặc biệt mặc dù giá

cả hàng hóa du lịch tăng cao nhưng cầu du lịch vẫn tăng, ví dụ như du lịch chữa bệnh

+ Tỷ giá trao đổi ngoại tệ (tỷ giá hối đoái): Yếu tố này tác động đến sự hình thành cầu, khối lượng và cơ cấu cầu du lịch quốc tế Trong điều kiên giữ nguyên giá cả

hàng hóa du lịch, khách du lịch sẽ quyết định đi đến những nơi mà tỷ giá hối đoái giữa đồng tiền nước họ với nơi du lịch là cao nhất

- Cách mạng khoa học kỹ thuật, công nghệ thông tin và quá trình đô thị hóa

cũng tác động sâu sắc đến toàn bộ hoạt động KT – XH, trong đó có du lịch Tiến bộ

Ngày đăng: 26/02/2019, 14:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm