XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN Họ và tên sinh viên: Phạm Viết Vương Tên luận văn: “KHẢO SÁT TỶ LỆ HUYẾT THANH CÓ KHÁNG THỂ ĐỦ BẢO HỘ VỚI VI-RÚT LỞ MỒM LONG MÓNG TÝP O TRÊN BÒ SỮA VÀ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC và ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
KHOA CHĂN NUÔI – THÚ Y
*****************
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
KHẢO SÁT TỶ LỆ HUYẾT THANH CÓ KHÁNG THỂ ĐỦ BẢO HỘ VỚI VI-RÚT LỞ MỒM LONG MÓNG TÝP O TRÊN BÒ SỮA VÀ HEO THỊT SAU TIÊM PHÒNG
Ở CỦ CHI VÀ HÓC MÔN, TP HCM
Sinh viên thực hiện: PHẠM VIẾT VƯƠNG Lớp: DH08TY
Ngành: Thú Y Niên khóa: 2008 – 2013
Tháng 09/2013
Trang 2BỘ GIÁO DỤC và ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
KHOA CHĂN NUÔI – THÚ Y
*****************
PHẠM VIẾT VƯƠNG
KHẢO SÁT TỶ LỆ HUYẾT THANH CÓ KHÁNG THỂ ĐỦ BẢO HỘ VỚI VI-RÚT LỞ MỒM LONG MÓNG TÝP O TRÊN BÒ SỮA VÀ HEO THỊT SAU TIÊM PHÒNG
Ở CỦ CHI VÀ HÓC MÔN, TP.HCM
Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu cấp bằng Bác sĩ Thú y
Giáo viên hướng dẫn
TS LÊ ANH PHỤNG ThS HUỲNH THỊ THU HƯƠNG
Tháng 09/2013
Trang 3XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
Họ và tên sinh viên: Phạm Viết Vương
Tên luận văn: “KHẢO SÁT TỶ LỆ HUYẾT THANH CÓ KHÁNG THỂ
ĐỦ BẢO HỘ VỚI VI-RÚT LỞ MỒM LONG MÓNG TÝP O TRÊN BÒ SỮA
VÀ HEO THỊT SAU TIÊM PHÒNG Ở CỦ CHI VÀ HÓC MÔN, TP.HCM”
Đã hoàn thành luận văn theo đúng yêu cầu của giáo viên hướng dẫn và các ý kiến nhận xét, đóng góp của Hội đồng chấm thi tốt nghiệp khoa Chăn nuôi – Thú y
Thủ Đức, ngày….tháng….năm 2013 Giáo viên hướng dẫn
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Xin chân thành cảm ơn: Ban Giám Hiệu , cùng toàn thể quý thầy cô trong
khoa Chăn nuôi – Thú y và toàn thể cá n bộ công nhân viên Trường Đại học Nông
Lâm TP.HCM đã tận tình giảng dạy, truyền đạt kinh nghiệm, kiến thức quý báu cho tôi trong suốt khóa học
Chân thành cảm ơn sâu sắc đến: TS Lê Anh Phụng và ThS Huỳnh Thị Thu
Hương đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn từng bước, từng chi tiết cho tôi trong suốt
thời gian thực hiện đề tài, hoàn thành khóa luận tốt nghiệp
Chân thành cảm ơn: Toàn thể cán bộ công nhân viên phòng Siêu vi – Huyết
thanh của Trạm Chẩn đoán – Xét nghiệm và Điều Trị thuộc Chi cục Thú y Tp.HCM
đã nhiệt tình giúp đỡ, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian thực
tập tốt nghiệp
Suốt đời ghi nhớ công ơn cha – mẹ: Là người đã sinh thành, nuôi dưỡng,
động viên cho con vượt qua mọi khó khăn gian khổ trong cuộc sống và học tập để
con có hành trang vững chắc bước vào đời và vươn lên có được ngày hôm nay Xin cảm ơn: Tất cả các bạn trong và ngoài lớp DH08TY đã giúp đỡ tôi trong
suốt quá trình học tập, đặc biệt là em trai và em gái của tôi đã luôn chia sẻ và ủng
hộ tôi
Xin chân thành cảm ơn!
Phạm Viết Vương
Trang 5TÓM TẮT KHÓA LUẬN
Đề tài “Khảo sát tỷ lệ huyết thanh có kháng thể đủ bảo hộ với vi-rút lở
m ồm long móng týp O trên bò sữa và heo thịt sau tiêm phòng ở Củ Chi và Hóc Môn, TP.HCM” được thực hiện từ ngày 25/02/2013 đến ngày 25/06/2013 tại trạm Chẩn Đoán Xét Nghiệm và Điều Trị thuộc CCTY TP.HCM và phương pháp
“ELISA kẹp chả” được sử dụng để phát hiện kháng thể kháng bệnh LMLM týp O trên bò sữa và heo thịt Sau khi xét nghiệm 380 mẫu huyết thanh bò sữa và 492 mẫu huyết thanh heo thịt và dựa trên yêu cầu phải đạt bảo hộ quần thể (≥ 80 %), chúng tôi có những ghi nhận như sau:
Tỷ lệ huyết thanh có kháng thể đủ bảo hộ sau tiêm phòng vắc-xin LMLM týp
O trên bò sữa chung ở 2 huyện (Củ Chi, Hóc Môn) là 92,89 %, trong đó Củ Chi (90,22 %) có kém hơn Hóc Môn (100 %) Kết quả còn cho thấy quy mô chăn nuôi trên 20 con (96,59 %) đạt cao hơn so với quy mô dưới 10 con (92,86 %) và quy mô
10 – 20 con (87,76 %) Trong khi thế hệ lai F2 (93,96 %) có tỷ lệ cao hơn F3 (92,00 %) và F1 (91,30 %) Nhóm bò dưới 2 năm tuổi (86,11 %) có tỷ lệ bảo hộ thấp hơn nhóm bò 2 – 4 năm tuổi (97,01 %), nhóm bò ≥ 4 năm tuổi (93,33 %)
Tỷ lệ huyết thanh heo thịt có kháng thể đủ bảo hộ sau tiêm phòng vắc-xin LMLM týp O cho thấy tỷ lệ bảo hộ chung ở Củ Chi và Hóc Môn là 81,91 % Trong
đó, huyện Củ Chi là 80,29 % và huyện Hóc Môn là 85,92 % Theo quy mô chăn nuôi: quy mô dưới 50 con (84,21 %) cao hơn quy mô trên 50 con (78,19 %), theo lứa tuổi: dưới 3 tháng (90,20 %), 3 – 4 tháng (83,33 %), trên 4 tháng (80,29 %)
Trang 6MỤC LỤC
Trang
Trang tựa i
Xác nhận của giáo viên hướng dẫn ii
Lời cảm ơn iii
Tóm tắt khóa luận iv
Mục lục v
Danh sách các chữ viết tắt ix
Danh sách các hình x
Danh sách các bảng xi
Danh sách các biểu đồ xii
Chương 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích 2
1.3 Yêu cầu 2
Chương 2 TỔNG QUAN 3
2.1 Đặc điểm chung và lịch sử phát hiện bệnh LMLM 3
2.1.1 Đặc điểm chung 3
2.1.2 Lịch sử phát hiện bệnh LMLM 3
2.2 Căn bệnh học 4
2.2.1 Phân loại 4
2.2.2 Hình thái và cấu trúc 4
2.2.3 Tính chất kháng nguyên 5
2.2.4 Sức đề kháng của vi-rút 5
2.2.5 Nuôi cấy vi-rút LMLM 6
2.3 Đặc điểm dịch tễ học của bệnh LMLM 6
2.3.1 Địa dư bệnh lý 6
2.3.2 Động vật cảm nhiễm 8
Trang 72.3.3 Chất chứa vi-rút 8
2.3.4 Cơ chế sinh bệnh 9
2.3.5 Đường truyền lây 10
2.4 Đáp ứng miễn dịch trong bệnh LMLM 11
2.4.1 Miễn dịch dịch thể 11
2.4.2 Miễn dịch qua trung gian tế bào 13
2.5 Triệu chứng và bệnh tích 13
2.5.1 Triệu chứng 13
2.5.2 Bệnh tích 14
2.6 Chẩn đoán 15
2.6.1 Chẩn đoán lâm sàng 15
2.6.2 Chẩn đoán ở phòng thí nghiệm 16
2.7 Phòng và kiểm soát bệnh LMLM 18
2.7.1 Vệ sinh phòng bệnh LMLM 18
2.7.2 Phòng bệnh bằng vắc-xin 18
2.7.3 Kiểm soát dịch bệnh 19
2.8 Lược duyệt một số công trình nghiên cứu về bệnh LMLM ở TP.HCM 19
Chương 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
3.1 Thời gian và địa điểm 21
3.2 Vật liệu 21
3.2.1 Mẫu xét nghiệm 21
3.2.2 Thiết bị và dụng cụ thí nghiệm 21
3.2.3 Bộ kít dùng trong chẩn đoán 21
3.3 Nội dung nghiên cứu 21
3.4 Phương pháp nghiên cứu 22
3.4.1 Phương pháp lấy mẫu 22
3.4.2 Bảo quản mẫu xét nghiệm 22
3.4.3 Bố trí lấy mẫu xét nghiệm 22
3.4.4 Phương pháp xét nghiệm 23
Trang 83.5 Chỉ tiêu theo dõi 26
3.5.1 Đối với mẫu huyết thanh bò sữa 27
3.5.2 Đối với mẫu huyết thanh heo thịt 27
3.6 Xử lý số liệu 27
Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 28
4.1 Kết quả khảo sát trên bò sữa 28
4.1.1 Nhận xét chung về tỷ lệ huyết thanh có kháng thể đủ bảo hộ trên bò sữa sau khi tiêm phòng vắc-xin LMLM týp O 28
4.1.2 Tỷ lệ huyết thanh có kháng thể đủ bảo hộ trên bò sữa sau khi tiêm phòng vắc-xin LMLM týp O theo địa bàn 30
4.1.3 Tỷ lệ huyết thanh có kháng thể đủ bảo hộ trên bò sữa theo quy mô chăn nuôi sau khi tiêm phòng vắc-xin LMLM týp O 31
4.1.4 Tỷ lệ huyết thanh có kháng thể đủ bảo hộ theo lứa tuổi trên bò sữa sau khi tiêm phòng vắc-xin LMLM týp O 34
4.1.5 Tỷ lệ huyết thanh có kháng thể đủ bảo hộ theo thế hệ lai trên bò sữa sau khi tiêm phòng vắc-xin LMLM týp O 35
4.2 Kết quả khảo sát trên heo thịt 36
4.2.1 Nhận xét chung về tỷ lệ huyết thanh có kháng thể đủ bảo hộ trên heo thịt sau khi tiêm phòng vắc-xin LMLM týp O 36
4.2.2 Tỷ lệ huyết thanh có kháng thể đủ bảo hộ trên heo thịt theo địa bàn sau khi tiêm phòng vắc-xin LMLM týp O 38
4.2.3 Tỷ lệ huyết thanh có kháng thể đủ bảo hộ trên heo thịt sau khi tiêm phòng vắc-xin LMLM týp O theo quy mô chăn nuôi 39
4.2.4 Tỷ lệ huyết thanh có kháng thể đủ bảo hộ theo lứa tuổi trên heo thịt sau khi tiêm phòng vắc-xin LMLM týp O 40
Chương 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 43
5.1 Kết luận 43
5.2 Đề nghị 44
TÀI LI ỆU THAM KHẢO 45
Trang 9PH Ụ LỤC 50
Trang 10DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT
AVIS The Advanced Veterinary Information System
ELISA Enzyme Linked Immunosorbent Essay
FMDV Foot and Mouth Disease Virus
OIE Office International des Epizooties
RT – PCR Reverse Transcription Polymerase Chain Reaction
SEAFMD Southeast Asia Foot and Mouth Disease
TCID50 Tissue Culture Infectious Dose 50
WRLFMD World Reference Laboratory for Foot and Mouth Disease
Trang 11DANH SÁCH CÁC HÌNH
Trang
Hình 2.1 Hình thái và cấu trúc vi-rút LMLM 4
Hình 2.2 Cấu trúc bộ gen vi-rút LMLM 5
Hình 2.3 Phân bố các týp LMLM trên thế giới giai đoạn 2009 – 2011 7
Hình 2.4 Phân bố týp LMLM năm 2010 tại Việt Nam 8
Hình 2.5 Biến chứng ở tim làm heo con chết đột ngột 14
Hình 2.6 Tế bào biểu bì thuộc lớp stratum spinosum bị thoái hóa và sự hình mụn nước 15
Hình 3.1 Hình vẽ minh họa cơ chế phản ứng “ELISA kẹp chả” phát hiện kháng thể kháng vi-rút LMLM 24
Hình 3.2 Xét nghiệm ELISA trên vỉ 96 giếng 26
Trang 12DANH SÁCH CÁC BẢNG
Trang Bảng 3.1 Bố trí lấy mẫu máu bò sữa và heo thịt cho khảo sát 23 Bảng 3.2 Phân bố vị trí mẫu huyết thanh và đối chứng cho xét nghiệm 25 Bảng 4.1 Tỷ lệ bảo hộ chung trên bò sữa giai đoạn 2011 – 2013 ở Củ Chi và Hóc
Môn 28
Bảng 4.2 Tỷ lệ huyết thanh có kháng thể đủ bảo hộ trên bò sữa sau khi tiêm phòng
vắc-xin LMLM týp O theo địa bàn 30
Bảng 4.3 Tỷ lệ huyết thanh có kháng thể đủ bảo hộ trên bò sữa theo quy mô chăn
nuôi sau khi tiêm phòng vắc-xin LMLM týp O 32
Bảng 4.4 Tỷ lệ huyết thanh có kháng thể đủ bảo hộ theo lứa tuổi trên bò sữa sau khi
tiêm phòng vắc-xin LMLM týp O 34
Bảng 4.5 Tỷ lệ huyết thanh có kháng thể đủ bảo hộ theo thế hệ lai trên bò sữa sau
khi tiêm phòng vắc-xin LMLM týp O 35
Bảng 4.6 So sánh tỷ lệ bảo hộ trên heo thịt ở Củ Chi và Hóc Môn sau tiêm phòng
LMLM týp O năm 2012 và 2013 37
Bảng 4.7 Tỷ lệ huyết thanh có kháng thể đủ bảo hộ trên heo thịt theo địa bàn sau
khi tiêm phòng vắc-xin LMLM týp O 38
Bảng 4.8 Tỷ lệ huyết thanh có kháng thể đủ bảo hộ trên heo thịt sau khi tiêm phòng
vắc-xin LMLM týp O theo quy mô chăn nuôi 39
Bảng 4.9 Tỷ lệ huyết thanh có kháng thể đủ bảo hộ theo lứa tuổi trên heo thịt sau
khi tiêm phòng vắc-xin LMLM týp O 40
Trang 13DANH SÁCH CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1 Khả năng thải vi-rút LMLM khác nhau theo loài 10 Biểu đồ 2.2 Thời gian thải vi-rút khác nhau theo chất tiết khác nhau 11 Biểu đồ 4.1 Tỷ lệ bảo hộ chung trên bò sữa giai đoạn 2011 – 2013 ở Củ Chi và Hóc
Môn 29
Biểu đồ 4.2 Tỷ lệ huyết thanh có kháng thể đủ bảo hộ trên bò sữa theo quy mô chăn
nuôi sau khi tiêm phòng vắc-xin LMLM týp O 32
Biểu đồ 4.3 So sánh tỷ lệ bảo hộ trên heo thịt ở Củ Chi và Hóc Môn sau tiêm phòng
LMLM týp O năm 2012 và 2013 37
Biểu đồ 4.4 Tỷ lệ huyết thanh có kháng thể đủ bảo hộ theo lứa tuổi trên heo thịt sau
tiêm phòng vắc-xin LMLM týp O 41
Trang 14Chương 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Những năm gần đây tình hình dịch bệnh trên gia súc diễn biến khá phức tạp làm ảnh hưởng đến đời sống của người dân Trong đó, lở mồm long móng là một trong số những dịch bệnh gây thiệt hại nặng nề về kinh tế cho nhân dân và cho đất nước Do tính chất lây lan nhanh và có nhiều loại động vật cảm nhiễm nên dịch bệnh lở mồm long móng là điều đáng lo ngại cho tất cả các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam nói chung và thành phố Hồ Chí Minh nói riêng
Hồ Chí Minh là thành phố có một nền công nghiệp khá phát triển bên cạnh nền chăn nuôi đa dạng Theo số liệu của CCTY TP.HCM (tính đến thời điểm tháng
2 năm 2013), trên địa bàn có tổng đàn heo là 429.932 con với 9.551 hộ chăn nuôi heo, 3 trang trại quốc doanh và 90.848 con bò sữa được nuôi tại 12.785 hộ, 1 trại quốc doanh Do sự đa dạng trong chăn nuôi nên vấn đề quản lý dịch bệnh ở TP.HCM hết sức phức tạp và có một ý nghĩa rất quan trọng
Từ nhiều năm qua, nhằm giám sát và quản lý tình hình dịch bệnh trên gia súc, gia cầm nói chung và bệnh LMLM nói riêng CCTY TP.HCM thường xuyên tổ chức tiêm phòng định kỳ và sau đó lấy mẫu huyết thanh kiểm tra kháng thể xem có
đủ yêu cầu bảo hộ hay không?
Xuất phát từ nhu cầu thực tế về quản lý dịch bệnh LMLM trên địa bàn TP.HCM, được sự đồng ý của Bộ môn Truyền nhiễm – Thú y cộng đồng, Khoa Chăn Nuôi – Thú y, Trường Đại học Nông Lâm TP.HCM và Trạm Chẩn Đoán Xét Nghiệm và Điều Trị thuộc CCTY TP.HCM dưới sự hướng dẫn của TS Lê Anh
Phụng và ThS Huỳnh Thị Thu Hương, chúng tôi tiến hành đề tài “Khảo sát tỷ lệ huyết thanh có kháng thể đủ bảo hộ với vi-rút lở mồm long móng týp O trên
bò sữa và heo thịt sau tiêm phòng ở Củ Chi và Hóc Môn, TP.HCM”
Trang 151.2 Mục đích
Đánh giá tỷ lệ bò sữa và heo thịt có đủ khả năng bảo hộ với vi-rút LMLM týp O do tiêm vắc-xin mang lại, từ đó đề ra các biện pháp thích hợp nhằm quản lý tốt tình hình dịch bệnh LMLM ở thành phố Hồ Chí Minh
1.3 Yêu cầu
Dùng kỹ thuật ELISA để kiểm tra kháng thể kháng vi-rút LMLM týp O trên các mẫu huyết thanh bò sữa và heo thịt
Trang 16Chương 2 TỔNG QUAN 2.1 Đặc điểm chung và lịch sử phát hiện bệnh LMLM
2.1.1 Đặc điểm chung
Bệnh LMLM là bệnh truyền nhiễm cấp tính, lây lan rất mạnh trên nhiều loài gia súc có móng chẻ Bệnh do một vi-rút hướng thượng bì với các đặc điểm là sốt, nổi mụn nước ở niêm mạc miệng, da viền móng, kẽ móng, trên đầu vú, bầu vú và gây chết ở gia súc non (Lê Anh Phụng, 2006)
Tỷ lệ gia súc mắc bệnh rất cao (có thể 100 %), gây thiệt hại lớn về kinh tế mặc dù tỷ lệ tử vong ở gia súc trưởng thành thấp (2 – 5 %) Bệnh nằm trong danh mục những bệnh phải công bố dịch ở tất cả các quốc gia và được xếp vào danh mục
A của tổ chức Dịch Tễ thế giới (OIE)
2 1.2 Lịch sử phát hiện bệnh LMLM
Bệnh có lẽ xảy ra lần đầu tiên năm 1514, khi Hieronymus Fracastorius mô tả một bệnh tương tự trên gia súc ở Ý trong một bài viết năm 1546, nhưng một thời gian dài sau đó, bệnh chỉ được chú ý về mặt lâm sàng (dẫn liệu Trần Thanh Phong, 1996) Năm 1897, Loeuffler và Frosch chứng minh căn bệnh là vi-rút Năm 1922, Vallée và Carré đã phân lập týp O và A và đã chứng minh tính đa dạng của vi-rút Waldmann và Trautwein (1926) đã giám định týp C và Lawrence (1936) phát hiện những týp khác gồm SAT1, SAT2, SAT3 và Asia 1 (dẫn liệu Lê Anh Phụng, 2002)
Năm 1927, với thành công bước đầu của Belin trong thí nghiệm làm suy yếu vi-rút, các nhà nghiên cứu đã tập trung phát triển vắc-xin nhược độc Năm 1937, Waldmann và ctv đã nghiên cứu tạo được vắc-xin vô hoạt, sử dụng vi-rút từ tế bào thượng bì và dịch mụn nước trên lưỡi bò bị gây nhiễm và bất hoạt bằng formaldehyde Về sau, sự phát triển của các phương pháp nuôi cấy vi-rút đã góp phần cải tiến kỹ thuật chế vắc-xin, như vắc-xin của Frenkel (1947), vi-rút được nuôi
Trang 17cấy trên tế bào thượng bì lưỡi bò Ngày nay, người ta sử dụng tế bào BHK (baby hamster kidney) để nuôi cấy vi-rút và phương pháp của Frenkel được xem là nền tảng cho việc sản xuất vắc-xin nhiều năm sau (dẫn liệu Lê Minh Chí, 1999)
2.2 Căn bệnh học
2.2.1 Phân loại
Bệnh do RNA vi-rút thuộc họ Picornaviridae, giống Aphthovirus Vi-rút
LMLM được chia làm 7 týp ký hiệu: O, A, C, Asia 1, SAT1, SAT2, SAT3 (Lê Anh Phụng, 2006)
Hình 2.1 Hình thái và cấu trúc vi-rút LMLM, VP1: xanh dương, VP2:
xanh lá cây, VP3: đỏ, VP4: vàng (Nguồn: Press Release, 2000)
Trang 182.2.3 Tính chất kháng nguyên
Những protein tạo nên capside có tính chất kháng nguyên kích thích sinh kháng thể, gồm 4 loại: VP1,VP2, VP3, VP4 VP1 ở lớp ngoài cùng, là yếu tố cấu trúc tham gia quá trình cố định vi-rút trên màng tế bào Sự phát hiện này đã được ứng dụng để chế vắc-xin chống bệnh LMLM (Trần Đình Từ, 1999; Lê Anh Phụng,
Dẫn liệu của Lê Minh Trí (2010), trình bày một số yếu tố liên quan đến sức
đề kháng của vi-rút LMLM như sau: vi-rút nhanh chóng bị vô hoạt ở pH trên 9 hoặc dưới 6 và ở nhiệt độ trên 50oC Chúng có thể tồn tại trong nốt bạch huyết và tủy xương ở pH trung tính, nhưng không thể tồn tại trong cơ thú chết cứng Vi-rút giữ tính ổn định cao dưới dạng khí dung trong điều kiện ẩm độ tương đối cao (trên
60 %) Vi-rút không bị ảnh hưởng bởi điều kiện khô, lạnh và nồng độ muối cao, chúng có thể sống sót nhiều năm ở trạng thái đông lạnh Do không có lipid nên vi-rút bền vững với ether, chloroform Các dẫn chất của phenol và cồn ít có tác dụng
Qua những tính đặc điểm trên, có thể thấy vi-rút LMLM là loại vi-rút có sức
đề kháng cao Do đó, để tiêu diệt vi-rút cần phải dựa trên các đặc điểm đề kháng
Hình 2.2 Cấu trúc bộ gen vi-rút LMLM (Nguồn: AVIS Consortium, 2002)
Trang 19của vi-rút, Cục Thú Y (2001) có quy định các hóa chất sử dụng cho việc khử trùng tiêu độc như sau: NaOH 2 %, formol 1 – 2 %, prophyl 0,5 %, biodine 0,33 %, lindores 0,42 %, halamid 0,5 %, antec 1 % … Cần rải thêm vôi bột ở các lối đi
2.2.5 Nuôi cấy vi-rút LMLM
Vi-rút LMLM có tính hướng thượng bì nên có thể nuôi cấy trên thượng bì lưỡi bò, tế bào tuyến giáp hoặc tế bào thận Vi-rút gây bệnh tích tế bào (CPE) sau
24 – 48 giờ, nhưng không tạo thể bao hàm (Lê Anh Phụng, 2006)
2.3 Đặc điểm dịch tễ học của bệnh LMLM
2.3.1 Địa dư bệnh lý
Tình hình bệnh LMLM trên thế giới: dịch LMLM đã xảy ra ở Châu Âu,
Châu Phi, Châu Á và Nam Mỹ Các týp LMLM phân bố không đều trên thế giới Týp SAT chỉ giới hạn ở vùng Sahara của châu Phi Týp C dường như chỉ hạn chế trong vùng tiểu lục địa Ấn Độ Týp Asia 1 thường xuất hiện ở vùng Nam Á.Týp O
và A phân bố rộng nhất, chúng thường xuất hiện ở nhiều khu vực của Châu Phi, Nam Á, vùng Viễn Đông và Nam Mỹ (Thái Thị Thủy Phượng, 2005)
Phòng thí nghiệm tham chiếu WRLFMD (2011) ghi nhận vào ngày 14 tháng
04 năm 2011, vi-rút LMLM týp Asia 1 gây ra ổ dịch tại Pakistan và Bahrain Ngày
25 tháng 05 năm 2011, ổ dịch LMLM bùng phát tại Iran và Afghanistan được chẩn đoán là do vi-rút LMLM týp Asia 1 gây ra Ở Đông Nam Á và vùng Viễn Đông, dịch bệnh do vi-rút LMLM týp O xảy ra tại Hồng Kông và các quốc gia thành viên SEAFMD (ngoại trừ Indonesia) Theo số liệu của OIE cập nhật đến ngày 29 tháng
11 năm 2011, dịch LMLM bùng nổ tại Hàn Quốc được xác định týp O (dẫn liệu Nguyễn Thị Thương, 2013).Ngày 29 tháng 10 năm 2012, Trung Quốc xuất hiện 2 ổ dịch LMLM tại các trang trại vùng I-Lan, Jiangsu Số heo bị tiêu hủy là 719 con (OIE, 2012)
Bên cạnh các quốc gia và vùng có bệnh LMLM thì theo số liệu cập nhật đến tháng 05 năm 2012 của OIE, trên thế giới có 66 quốc gia và 16 vùng không có bệnh LMLM, trong đó có đến 65 quốc gia và 10 vùng không sử dụng vắc-xin (OIE, 2012)
Trang 20Tình hình bệnh LMLM ở Việt Nam trong những năm gần đây: ngoài týp
O lưu hành trong nhiều năm qua, týp A cũng đã được phát hiện năm 2004 và týp Asia 1 được phát hiện năm 2005 trên trâu bò Như vậy, vi-rút LMLM gây bệnh trên gia súc tại Việt Nam thuộc các týp O, A và Asia 1 (Nguyễn Thị Ánh Tuyết, 2005)
Báo cáo tổng kết công tác phòng chống dịch bệnh gia súc, gia cầm năm 2010 của Cục Thú y cho thấy dịch bệnh LMLM trên trâu bò đã xảy ra trên 290 xã thuộc
103 huyện của 28 tỉnh thành với tổng số 16.330 con mắc bệnh, bị tiêu hủy 419 con; bệnh xảy ra trên heo ở 16 tỉnh thành với 1675 con, bị tiêu hủy 848 con Dịch bệnh LMLM năm 2010 xảy ra tập trung vào tháng 11 và tháng 12, các tháng khác dịch ít xảy ra Phân bố các týp huyết thanh của vi-rút LMLM tại các huyện thị có dịch năm
2010 được thể hiện qua Hình 2.4
Trong hướng dẫn tiêm phòng vắc-xin LMLM cho gia súc của Cục Thú y số
423 TY – DT ngày 25 tháng 3 năm 2011, cho thấy hầu hết các ổ dịch LMLM ở nước ta trong những năm gần đây do vi-rút LMLM týp O gây nên Vi-rút týp O từ năm 2010 đến nay có biến đổi, tuy nhiên vắc-xin có thành phần kháng nguyên O3039vẫn còn tác dụng phòng bệnh LMLM
Trong năm 2012 dịch LMLM đã xuất hiện ở 59 xã/phường, thuộc 29 huyện của 12 tỉnh Số gia súc mắc bệnh là 226 trâu, 112 bò và 2.979 heo; số gia súc chết
và bị tiêu hủy là 12 trâu, bò và 1.222 con heo (Cục Thú Y, 2012)
Hình 2.3 Phân bố các týp LMLM trên thế giới giai đoạn 2009 – 2011
(Nguồn: WRLFMD, 2012)
Trang 212.3.2 Động vật cảm nhiễm
Trong tự nhiên vi-rút gây bệnh chủ yếu cho gia súc và động vật hoang dã thuộc loài gốc chẵn; mẫn cảm nhất là trâu, bò, dê, heo, cừu, hươu, nai… Tuy nhiên, lạc đà, chó, mèo và người có thể bị nhiễm Thú non dễ mắc bệnh và mắc dạng cấp tính với tử số lên đến 70 % Thú thuần chủng dễ mắc bệnh hơn con lai Thú làm việc mệt nhọc, mất sức dễ mắc bệnh hơn
Trong phòng thí nghiệm bê non chưa bú mẹ tiêm vi-rút sẽ chết trong 38 giờ Chuột lang, chuột con dễ gây bệnh qua các đường tiêm trong da, tiêm bắp, phúc mạc, tĩnh mạch
2.3.3 Chất chứa vi-rút
Theo Lê Anh Phụng (2006), mụn nước của thú bệnh có chứa nhiều vi-rút nhất, đặc biệt là mụn chưa vỡ Trong giai đoạn thú sốt, vi-rút có ở mọi mô bào như máu, sữa, mô cơ và các chất bài tiết
Hình 2.4 Phân bố týp LMLM năm 2010 tại Việt Nam
(Nguồn: Cục Thú y, 2010)
Trang 22Dịch mụn nước giai đoạn này có thể chứa đến 106
Một đặc điểm quan trọng cần lưu ý là vi-rút thường được bài xuất trước khi
có triệu chứng lâm sàng rõ rệt Điều này thấy khá rõ đối với vi-rút týp O, Viện Pirbright làm thực nghiệm trên heo đã thấy thời gian bài xuất vi-rút trước triệu chứng là 10 ngày, ở bò và cừu là 5 ngày, trung bình là 2,5 ngày (Knowles, 2000) Lượng vi-rút được bài xuất ra môi trường nhiều hay ít tùy thuộc loài động vật, Biểu
đồ 2.1 cho thấy heo thải vi-rút ra môi trường cao nhất so với bò và cừu
Trang 232.3.5 Đường truyền lây
Phổ biến nhất là do tiếp xúc trực tiếp giữa thú bệnh và thú mẫn cảm, vi-rút có thể lây lan dễ dàng và đây là đường truyền lây chủ yếu của bệnh (Trần Thanh Phong, 1996) Mật độ chăn nuôi cao tỉ lệ thuận với sự lây lan của bệnh (Bessell và ctv, 2010)
Bệnh còn truyền lây gián tiếp do nguy cơ phơi nhiễm với mầm bệnh ở người chăn nuôi, thú y viên, nhân viên trang trại, nhân viên lò mổ, người bán thịt Ngoài
ra, các yếu tố trung gian như thức ăn, nước uống, rơm, chất độn chuồng, giày dép, quần áo, dụng cụ chăn nuôi, phương tiện vận chuyển, sản phẩm động vật… bị nhiễm mầm bệnh cũng góp phần lan truyền bệnh Ngay từ thời kỳ nung bệnh và trước khi xuất hiện các triệu chứng lâm sàng, bệnh đã có thể lây lan mạnh vì lúc này mọi chất thải, chất tiết đều có thể phân lập được vi-rút (Biểu đồ 2.2) Trên heo, khi các triệu chứng lâm sàng xuất hiện càng nhiều thì lượng vi-rút trong hơi thở bài thải
ra càng lớn hơn, ước tính một heo nhiễm bệnh có thể bài xuất qua hơi thở lượng vi-rút gấp 3000 lần so với một con bò (Lubroth và ctv, 2006) Vi-rút có thể nhờ gió truyền lây với khoảng cách rất xa từ một ổ dịch trên heo ở bờ biển bắc nước Pháp đến nước Anh (Gloster và Alexandersen, 2004) Thú khỏi bệnh có thể mang mầm
Biểu đồ 2.1 Khả năng thải vi-rút LMLM khác nhau theo loài
(Nguồn: AVIS Consortium, 2002)
Loài
Trang 24bệnh đến hàng năm sau đó và là vật mang trùng nguy hiểm có thể lây bệnh cho thú khác Thú không mẫn cảm (gà, vịt và chim hoang dã) cũng góp phần lây lan mầm bệnh
2.4 Đáp ứng miễn dịch trong bệnh LMLM
2.4.1 Miễn dịch dịch thể
Thú đã tiêm phòng rồi mới mắc bệnh có thời gian nung bệnh rất dài Ở những thú này, trong cơ thể đã có các mức kháng thể khác nhau nên thời gian ủ bệnh thường kéo dài, vi-rút có thời gian nhân lên tương ứng hoặc gần với mức kháng thể tồn tại trong cơ thể và cuối cùng lượng vi-rút vượt qua mức kháng thể không còn đủ khả năng bảo hộ, khi đó vi-rút mới gây bệnh (dẫn liệu Nguyễn Thị Thương, 2013)
Sau khi nhiễm bệnh, đáp ứng miễn dịch dịch thể nhanh chóng hình thành các kháng thể trung hòa để gắn trực tiếp 3 protein bề mặt capsid (VP1, VP2 và VP3) của vi-rút Trong đó, VP1 là protein kích thích đáp ứng miễn dịch chiếm ưu thế nhất, có ở các týp huyết thanh Do đó, nhà sản xuất tận dụng thông tin về thành phần các axít amin và trình tự gen mã hóa protein VP1 để quyết định thành phần
Biểu đồ 2.2 Thời gian thải vi-rút khác nhau theo chất tiết khác nhau
(Nguồn: AVIS Consortium, 2002)
Trang 25kháng nguyên vắc-xin phù hợp Ngoài ra, đáp ứng miễn dịch đối với các protein cấu trúc khác của vi-rút (VP2, VP3 và VP4) và các protein không cấu trúc (2C, 3AB, 3ABC, 3D) cũng được phát hiện Đáp ứng đối với các protein không cấu trúc là một dấu hiệu cho thấy có sự nhân lên của vi-rút trong vật chủ, và đây cũng là nền tảng cho việc phát triển các quy trình chẩn đoán nhằm phân biệt thú tiêm phòng hay nhiễm vi-rút thực địa (dẫn liệu Nguyễn Thị Thương, 2013)
Đáp ứng tạo kháng thể đối với các protein cấu trúc nhanh hơn đáp ứng đối với protein không cấu trúc 3ABC trên trâu bò nhiễm vi-rút LMLM thực địa Trâu
bò được tiêm phòng hoặc heo, cừu đã tiêm phòng hay nhiễm vi-rút LMLM thực địa thì kháng thể hình thành sớm đối với protein cấu trúc và cả protein không cấu trúc Kháng thể kháng protein 3ABC được phát hiện vào ngày thứ 6 sau khi phơi nhiễm vi-rút LMLM trên bò, các kháng thể kháng các protein không cấu trúc khác được tìm thấy trong mẫu huyết thanh vào khoảng 13 – 34 ngày sau và có thể tồn tại đến
20 tháng Kháng thể kháng protein 3ABC ở heo xuất hiện cùng với các triệu chứng lâm sàng Điều đó cho thấy đáp ứng miễn dịch tạo kháng thể kháng protein 3ABC hình thành khác biệt giữa các loài vật chủ (dẫn liệu Nguyễn Thị Thương, 2013)
Gia súc không tiêm phòng vắc-xin phòng bệnh LMLM nhưng phơi nhiễm với vi-rút LMLM đều có sự gia tăng đáng kể lượng kháng thể trung hòa trong suốt thời gian nhiễm cấp tính, sau đó giảm xuống Các kháng thể đặc hiệu chống lại vi-rút LMLM được hình thành gồm IgG, IgM và IgA Kháng thể IgM xuất hiện trước nhất vào ngày thứ 5 – 12 sau khi nhiễm vi-rút IgG có mặt từ ngày 4 – 21 ngày, sớm nhất vào ngày thứ 3 sau nhiễm và tồn tại từ 4 đến 6 tháng Thời gian tồn tại kháng thể tuỳ loài và tuỳ độ tuổi của gia súc, heo có thời gian miễn dịch ngắn hơn bò, bê
có thời gian miễn dịch ngắn hơn bò Cuối cùng là sự xuất hiện của IgA chiếm phần chủ yếu vào giai đoạn gần cuối của quá trình bệnh, có thể tìm thấy IgA trong máu gia súc bệnh 150 ngày sau khi bệnh chấm dứt (dẫn liệu Nguyễn Thị Thương, 2013)
Miễn dịch hình thành sau khi mắc bệnh trên heo chỉ kéo dài khoảng 6 tháng,
và độ mẩn cảm đối với bệnh tăng lên theo thời gian ngưng tiếp xúc kháng nguyên Miễn dịch do thú mẹ truyền cho con kéo dài tối đa đến 3 tháng Miễn dịch do
Trang 26vắc-xin kéo dài 6 tháng Thú có thể tái nhiễm rất nhanh ngay trong một ổ dịch sau
10 ngày hoặc sau 6 – 10 tuần và lần sau lại nặng nề hơn, điều này do thú kém đề kháng, nhưng quan trọng hơn cả là do vi-rút sau quá trình nhân lên cao độ trong một
ổ dịch trở nên biến đổi và trở thành vi-rút gây bệnh mới (dẫn liệu Lê Minh Trí, 2010)
2.4.2 Miễn dịch qua trung gian tế bào
Dẫn liệu của Nguyễn Thị Thương (2013), trình bày về miễn dịch qua trung gian tế bào của bệnh LMLM như sau: vi-rút LMLM muốn gây bệnh thành công phải vượt qua hàng rào bảo vệ của các dòng tế bào miễn dịch trong đáp ứng miễn dịch tự nhiên của vật chủ, ức chế quá trình trình diện của các phân tử kháng vi-rút trong quá trình dịch mã và phiên mã, cản trở con đường bài xuất của các phân tử này bằng cách ức chế giải phóng IFN và các cytokine khác (IFN và cytokine có ảnh hưởng bất lợi đến quá trình tái sản và gieo rắc vi-rút) Tế bào tua có vai trò quan trọng trong đáp ứng miễn dịch, liên kết đáp ứng miễn dịch thu nhận với đáp ứng miễn dịch tự nhiên, sản xuất IFN-α tín hiệu rất sớm sau khi nhiễm vi-rút IFN-α hiện diện trong tế bào nhiễm vi-rút LMLM, góp phần chống lại sự nhiễm vi-rút Sự tái sản của vi-rút bị ức chế bởi INF-α/β, enzyme proteinkinase thuộc RNA và L-Rnase Tuy nhiên, vi-rút LMLM cũng có khả năng ức chế phản ứng của IFN-α từ các tế bào tua
ở miệng rất dễ nhận thấy Bệnh tích ở miệng mau chóng lành lại (ngày thứ 8 – 10)
Vành móng và kẽ móng: sưng phồng, nóng đau và bước rất khó khăn Sau
1 – 2 ngày thấy mụn ở kẽ ngón chân Khi mụn vỡ, thường con vật bị hở móng hoặc
Trang 27dễ long móng, nhất là khi có nhiễm trùng kế phát Thường sau 10 – 15 ngày thì lành, con vật đi lại bình thường
Vú: mụn thường gặp ở đầu vú và núm vú làm thú rất đau khi vắt sữa hoặc nuôi con Sữa bị biến chất, lỏng, vàng, hôi và sản lượng sữa giảm nhanh, có khi không cho sữa trở lại
Ngoài ra, ta có thể gặp những thể bất thường thể hiện trên đường tiêu hóa, đường hô hấp, nhiễm trùng huyết, sẩy thai
2.5.2 Bệnh tích
2.5.2.1 Bệnh tích đại thể
Chủ yếu là các mụn nước nằm ở xoang miệng, gờ vành móng, đầu vú và móng chân sau khi loét ra tạo thành bệnh tích (Nguyễn Tiến Dũng, 2002) Lớp thượng bì niêm mạc của cơ quan tiêu hóa có mụn loét (miệng, mặt trong má, lưỡi, yết hầu, thực quản, dạ cỏ, dạ lá sách, dạ tổ ong), viêm khí phế quản, viêm phổi, màng phổi (Lê Anh Phụng, 2006) Viêm cơ tim cấp, nhất là trên thú non với biểu hiện tim mềm nhạt, dễ vỡ và mặt ngoài của tim có những vết xuất huyết có vệt như
da hổ nên gọi là tim da cọp (Trần Thanh Phong, 1996)
Hình 2.5 Biến chứng ở tim làm heo con chết đột ngột
(Nguồn: Burnham và Suzanne, 2001)
Trang 282.5.2.2 Bệnh tích vi thể
Các tế bào biểu bì thuộc lớp stratum spinosum của da (tầng Malpighi) bị thoái hóa tròn ra Do tế bào bị vỡ và tích tụ chất dịch phù thủng, các mụn nước được tạo thành là đặc điểm của bệnh Các tế bào biểu bì vẩy của dạ cỏ, dạ tổ ong,
dạ lá sách thường bị tấn công Ở thú non, vi-rút tấn công tế bào cơ tim gây hoại tử
và có xâm nhiễm bạch cầu đa nhân (Lê Anh Phụng, 2006)
2.6 Chẩn đoán
2.6.1 Chẩn đoán lâm sàng
Việc chẩn đoán lâm sàng bệnh LMLM có thể xác định dựa trên triệu chứng chính của bệnh là xuất hiện các mụn nước trong xoang miệng, lưỡi, móng, vú, quanh miệng, viền móng chân, kẽ chân và các đầu vú Kèm theo các triệu chứng trên là con vật bị què do bị đau chân gây khó khăn trong quá trình di chuyển Tuy nhiên, trong việc chẩn đoán lâm sàng thường dễ hay nhầm với các bệnh tạo mụn nước nên cần phân biệt với một số bệnh sau: bệnh bọng nước ban đỏ VE (Vesicular
Exanthema), bệnh viêm miệng bọng nước VS (Vesicular Stomatitis), bệnh bọng nước ở heo SVD (Swine Vesicular Disease)…(Trần Thanh Phong, 1996)
Mặt khác khi chẩn đoán bệnh cần phải chú ý là không phải tất cả các bệnh đều có biểu hiện lâm sàng rõ rệt Do vậy cần kết hợp với thực tế, số liệu dịch tễ để chẩn đoán Tuy nhiên do bệnh có tầm quan trọng rất lớn nên mọi triệu chứng nghi
Hình 2.6 Tế bào biểu bì thuộc lớp stratum spinosum bị thoái hóa
và sự hình thành mụn nước (Nguồn: Burnham và Suzanne, 2001)
Trang 29ngờ phải được coi là nghi ngờ bệnh LMLM Nói cách khác, trước khi đưa ra kết luận chẩn đoán khác chúng ta phải có nhiệm vụ làm rõ đó không phải là bệnh LMLM (Nguyễn Tiến Dũng, 2000)
2.6.2 Chẩn đoán ở phòng thí nghiệm
2.6.2.1 L ấy mẫu bệnh phẩm
Theo Lê Anh Phụng (2002), thì loại mô thích hợp cho chẩn đoán là biểu bì Tốt nhất là lấy 1 gram hoặc 2 cm2 biểu bì của mụn nước chưa vỡ hoặc mới vỡ Để tránh nguy hiểm cho người lấy mẫu con vật (trâu, bò) khuyến cáo nên được gây mê trước khi lấy mẫu Trong trường hợp không lấy được mụn nước (do thú đang ở thời
kỳ hồi phục hay thú không có biểu hiện lâm sàng) thì ta có thể lấy dịch hầu họng để phân lập vi-rút và chú ý là phải có môi trường bảo quản thích hợp Đối với thú chết thì có thể lấy máu, cơ tim hoặc các cơ quan khác Tất cả các mẫu sau khi lấy xong cần được bảo quản đúng cách để tránh làm hư bệnh phẩm cũng như lây lan mầm bệnh trên đường vận chuyển
2.6.2.2 M ột số phương pháp được áp dụng để chẩn đoán LMLM
Gây bệnh động vật thí nghiệm: dùng dịch mụn nước hoặc bệnh phẩm đã
nghiền và pha thành huyễn dịch 20 % sau đó tiêm nội bì lưỡi bò, sau 2 giờ có mụn đỏ; khía da bàn chân chuột lang, sau 12 giờ nổi vết đỏ, có thủy thũng, đau chỗ khía; tiêm phúc mạc chuột bạch 7 – 10 ngày tuổi sẽ làm chết chuột sau 24 – 36 giờ (Lê Anh Phụng, 2006)
Phân lập vi-rút: sau khi lấy mẫu nghi ngờ có vi-rút LMLM, vi-rút (nếu có) còn sống trên mẫu mô của thú bệnh được chuyển qua nuôi cấy trên môi trường tế bào động vật mẫn cảm (thường là tế bào tuyến giáp) Môi trường này cần được ủ trong 48 giờ và cần được theo dõi hàng ngày Vi-rút LMLM sẽ tấn công tế bào gây
ra các bệnh tích đặc trưng Tuy nhiên, bệnh tích tế bào do vi-rút LMLM gây ra có thể nhầm lẫn với bệnh tích tế bào của vi-rút gây bệnh mụn nước ở heo, nên phương pháp này thường dùng kết hợp với phương pháp ELISA để khẳng định lại kết quả (Thái Thị Thủy Phượng, 2006)
Trang 30Phản ứng kết hợp bổ thể: từ lâu phương pháp này được chọn để phát hiện và định týp LMLM trong các mẫu mô lấy từ thực địa Nguyên tắc dựa trên sự hoạt hóa
và gắn kết của bổ thể khi có phản ứng đặc hiệu kháng nguyên – kháng thể, nó không có tương tác với kháng nguyên hoặc kháng thể riêng rẽ Phản ứng dương tính tức là có sự hình thành phức hợp kháng nguyên – kháng thể - bổ thể thì hồng cầu cầu sẽ lắng xuống đáy giếng, còn nếu âm tính tức là không có sự hình thành phức hợp kháng nguyên – kháng thể - bổ thể thì bổ thể sẽ bám vào và phá hủy tế bào hồng cầu gây hiện tượng dung huyết (Thái Thị Thủy Phượng, 2006)
Phản ứng trung hòa vi-rút: sử dụng dòng tế bào mẫn cảm BHK – 21, hoặc tế bào sơ cấp của thận heo, cừu Kháng nguyên vi-rút LMLM được chẩn bị trước sẽ được trộn với kháng thể LMLM (nếu có), sau đó cho hỗn hợp này vào môi trường nuôi cấy Phản ứng dương tính nếu có sự kết hợp kháng nguyên – kháng thể thì sẽ không có bệnh tích tế bào trên môi trường nuôi cấy Ngược lại, nếu có bệnh tích tế bào trện môi trường nuôi cấy thì kết luận là phản ứng âm tính (Thái Thị Thủy Phượng, 2006)
Kỹ thuật ELISA: được dùng phát hiện kháng nguyên và kháng thể vi-rút LMLM trong vòng 3 – 4 giờ Hiện bộ kít chẩn đoán đang được sử dụng tại Việt Nam gồm bộ kháng thể chuẩn để phát hiện 4 týp kháng nguyên O, A, C, Asia 1; và
bộ kháng nguyên chuẩn để chẩn đoán 3 týp O, A, C Kỹ thuật này lợi dụng đặc tính hấp phụ tự nhiên của protein lên polyethylen để gắn kháng nguyên hay kháng thể lên giá (đáy giếng) rồi cho kháng nguyên hay kháng thể có enzyme đánh dấu vào tạo phản ứng Sau khi loại bỏ chất đánh dấu không kết hợp, cho thêm hỗn hợp chất hiện màu Nhờ hoạt tính xúc tác của enzyme làm giải phóng các nguyên tử oxi từ
H2O2để oxy hóa chất hiện màu làm thay đổi màu của dung dịch Sau đó dựa vào độ cản quang của dung dịch mà ta kết luận rằng phản ứng âm tính hay dương tính (Thái Thị Thủy Phượng, 2006)
Trang 31Kỹ thuật PCR: là 1 phản ứng sinh hóa phụ thuộc nhiệt độ, dùng các đoạn mồi
để tìm các đoạn gen đặc trưng của vi-rút Nguyên tắc sử dụng các đoạn mồi để tìm các đoạn gen đặc trưng của vi-rút, cho phép chẩn đoán chính xác căn bệnh và nguồn gốc căn bệnh
2.7 Phòng và kiểm soát bệnh LMLM
2.7.1 Vệ sinh phòng bệnh LMLM
Vệ sinh là biện pháp hàng đầu và rất quan trọng trong công tác phòng và chống bệnh LMLM Cơ sở của phương pháp này là thực hiện công tác vệ sinh tiêu độc sát trùng chuồng trại kỹ lưỡng cho thú nuôi ở trong nước và ở xung quanh vùng biên giới Giết loại gia súc mắc bệnh và tiêu độc sát trùng kỹ lưỡng khu vực phát hiện gia súc bệnh (Grubman, 2004)
2.7.2 Phòng bệnh bằng vắc-xin
Phòng bệnh bằng vắc-xin là một trong những biện pháp kết hợp cần thiết trong việc phòng và chống bệnh LMLM ở các quốc gia có dịch LMLM hiện nay Vắc-xin phòng bệnh LMLM phải chứa thành phần kháng nguyên bất hoạt sao cho đại diện được chủng vi-rút đang lưu hành điển hình trong khu vực (Doel, 2003) Vi-rút LMLM luôn có sự biến đổi và xuất hiện các týp vi-rút mới làm hiệu quả của vắc-xin bị giới hạn, các nghiên cứu dịch tễ học và các nghiên cứu phòng thí nghiệm được tiến hành nhằm đảm bảo kháng nguyện của vắc-xin khi sử dụng bảo vệ được đàn gia súc chống lại vi-rút đang lưu hành Do đó, cần giám sát và xác định đúng týp ở các địa phương có dịch để có quy trình tiêm phòng bệnh LMLM đạt hiệu quả phòng bệnh Hai loại vắc-xin có hiệu lực phòng bệnh và vắc-xin dạng nước và vắc-xin dạng nhũ dầu (Doel, 2003) Trên thú nhai lại sử dụng được cả 2 loại này, trong khi heo chỉ đáp ứng được với vắc-xin dạng nhũ dầu Các loại vắc-xin được Cục Thú y cho phép sử dụng tại Việt Nam là Aftopor (vắc-xin LMLM týp O và týp A dùng cho heo), Aftovax (vắc-xin đa giá týp O, A và Asia 1 cho trâu, bò) của Merial, và Decivac do Intervet sản xuất Ngoài ra, còn một số loại vắc-xin được sử
dụng ở Việt Nam (xem phụ lục)
Trang 32Theo quyết định số 38/2006/QĐ – BNN ngày 16/05/2006 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc ban hành quy định phòng chống bệnh LMLM trên gia súc, ở chương 2 điều 7 quy định về thời gian tiêm phòng vắc-xin LMLM: tiêm phòng hai lần trong một năm, lần thứ nhất cách lần thứ hai sáu tháng; lần thứ nhất tiêm vào tháng 3 – 4, lần thứ 2 tiêm vào tháng 9 – 10
2.7.3 Kiểm soát dịch bệnh
Theo Lê Anh Phụng (2006), ở các nước không có bệnh phải đảm bảo yêu cầu kiểm dịch nhập thú sản nghiêm ngặt, chú ý việc di chuyển dê, cừu, thú rừng và thú sản, thú nhập nuôi cách ly ít nhất 2 tuần, khi dịch bệnh xảy ra không tiêm vắc-xin mà phải diệt toàn đàn, tiêu độc Đối với nước có bệnh cần tuân thủ các nguyên tắc về kiểm dịch động vật xuất nhập khẩu, kiểm soát giết mổ, thú mẫn cảm phải được tiêm phòng vắc-xin 2 – 3 lần/năm, tùy tình hình dịch tễ, dịch xảy ra phải khoanh vùng (3 km đường kính ở khu vực ổ dịch), xử lý con bệnh, nghiêm cấm mua bán, giết mổ tùy tiện, tiêu độc chuồng trại, tiêm vắc-xin
2.8 Lược duyệt một số công trình nghiên cứu về bệnh LMLM ở TP.HCM
Phan Minh Trung (2005) khảo sát tình hình nhiễm vi-rút DTH, LMLM (bò, heo) và khả năng đáp ứng miễn dịch sau tiêm phòng vắc-xin đối với 2 bệnh trên tại các khu vực xây dựng ATD ở Quận 12 và huyện Củ Chi, TP.HCM Kết quả: tỷ lệ nhiễm chung của vi-rút LMLM là 0,86 %, trong đó vùng ATD không có trường hợp nhiễm vi-rút nào, cơ sở ATD có tỷ lệ nhiễm vi-rút LMLM là 5 % Tỷ lệ đáp ứng miễn dịch chung là 86,24 %, trong đó vùng ATD bệnh là 80,13 % và cơ sở ATD
là 89,32 %
Nguyễn Thị Ánh Tuyết (2005) tình hình LMLM trên trâu, bò, heo giết mổ và nuôi tại TP.HCM và đánh giá khả năng bảo hộ của quy trình tiêm phòng Chi cục thú y TP.HCM đang áp dụng Kết quả: không phát hiện bệnh LMLM tại các cơ sở giết mổ trâu bò mà chỉ phát hiện tại các cơ sở giết mổ heo Sử dụng vắc-xin Aftopor thì đủ khả năng bảo hộ trên đàn heo thí nghiệm và đủ khả năng bảo hộ trên heo thịt, nhưng không đủ khả năng bảo hộ trên đàn heo giống với qui định tiêm phòng
6 tháng/lần
Trang 33Vũ Thị Diệu Hương (2006) khảo sát tỷ lệ huyết thanh có hiệu giá kháng thể
đủ bảo hộ chống vi-rút LMLM týp O trên heo ở các quận huyện thuộc Tp.HCM Kết quả cho thấy tỷ lệ bảo hộ trên đàn heo đã tiêm phòng đạt 64 %, ở heo chưa tiêm phòng đạt 27,4 %
Lê Xuân Vinh (2007) khảo sát tỷ lệ huyết thanh có kháng thể đủ bảo hộ đối với vi-rút LMLM týp O trên đàn heo sau tiêm phòng ở một số quận huyện Tp.HCM Kết quả: tỷ lệ heo có kháng thể đủ khả năng bảo hộ chống lại với vi-rút LMLM là 83,06 % Tỷ lệ heo nhiễm vi-rút LMLM là 0,55 %
Hàn Yến Phương (2009) khảo sát tỷ lệ bảo hộ sau tiêm phòng vắc-xin LMLM týp O trên heo và bỏ ở một số quận huyện tại TP.HCM Kết quả cho thấy tỷ
lệ huyết thanh có kháng thể bảo hộ chống vi-rút LMLM týp O trên heo là 80,75 %, trên bò là 91,28 %
Phan Hạnh Nguyên (2010) khảo sát tỷ lệ bảo hộ trên heo và bò sau khi tiêm vaccin Aftopor phòng bệnh lở mồm long móng trên địa bàn Thành Phố Hồ Chí Minh Kết quả: trên heo tỷ lệ huyết thanh có kháng thể đạt bảo hộ phòng bệnh LMLM týp O tại địa bàn TP.HCM là 62,86 %, trên bò là 81,68 %
Lê Minh Trí (2010) một số yếu tố liên quan mức bảo hộ đối với bệnh lở mồm long móng týp O trên heo sau tiêm phòng tại huyện Củ Chi Kết quả: tỷ lệ heo được bảo hộ sau tiêm phòng tại huyện Củ Chi là 71,73 %, loại hình chăn nuôi và cơ
sở chăn nuôi tham gia chương trình an toàn dịch liên quan chặt đến tỷ lệ bảo hộ trên đàn heo nái, quy mô chăn nuôi và số lần tiêm phòng LMLM ảnh hưởng rõ rệt đến tỷ
lệ bảo hộ trên đàn heo hậu bị
Lê Ngọc Hân (2011) khảo sát tỷ lệ bảo hộ sau khi tiêm vaccin phòng bệnh lở mồm long móng týp O trên heo thịt và bò sữa tại địa bàn TP.HCM Kết quả: tỷ lệ huyết thanh có kháng thể đạt bảo hộ phòng bệnh LMLM týp O trên heo tại địa bàn TP.HCM là 85,31 %, tỷ lệ huyết thanh có kháng thể đạt bảo hộ phòng bệnh LMLM týp O trên bò sữa tại địa bàn TP.HCM là 95,71 %
Trang 34Ch ương 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Thời gian và địa điểm
Đề tài đã được thực hiện từ 25/02/2013 đến 25/06/2013
Địa điểm lấy mẫu: tại các hộ và cơ sở chăn nuôi bò sữa, heo thịt ở huyện Củ Chi và huyện Hóc Môn của TP.HCM
Địa điểm xét nghiệm mẫu: Trạm Chẩn Đoán Xét Nghiệm và Điều Trị thuộc
Chi Cục Thú Y TP.HCM
3.2 Vật liệu
3.2.1 Mẫu xét nghiệm
Mẫu huyết thanh được lấy trên những bò sữa và heo thịt sau đợt tiêm phòng
3 – 4 tuần từ 2 huyện ở TP.HCM là: Củ Chi, Hóc Môn
Số lượng mẫu huyết thanh xét nghiệm: 872 mẫu (heo thịt: 492, bò sữa: 380)
3.3 Nội dung nghiên cứu
Đánh giá tỷ lệ bò sữa và heo thịt có kháng thể đủ bảo hộ sau khi tiêm phòng Khảo sát một số yếu tố ảnh hưởng đến kết quả tiêm phòng như: theo địa bàn, quy mô chăn nuôi, lứa tuổi, thế hệ lai (đối với bò sữa)
Trang 353.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Phương pháp lấy mẫu
Trước khi lấy mẫu phải quan sát biểu hiện lâm sàng của đàn heo thịt và bò sữa một cách cẩn thận, chỉ những đàn nào khỏe mạnh, những con trong đàn không biểu hiện bất kỳ triệu chứng nào của bệnh LMLM mới được chọn làm đối tượng lấy mẫu để tiến hành xét nghiệm
Sau khi cố định thú, dùng cồn 70 osát trùng tại nơi lấy máu, sau đó dùng ống tiêm để lấy máu Đối với bò sữa (trên 2,5 tháng) sau thời gian tiêm phòng từ 3 đến 4 tuần lấy máu ở tĩnh mạch đuôi Đối với heo thịt (trên 2 tháng) sau thời gian tiêm phòng từ 3 đến 4 tuần lấy máu ở tĩnh mạch cổ Lượng máu mỗi lần lấy khoảng 3 – 5
ml Sau khi lấy máu xong, chờ máu đông tự nhiên (khoảng 30 phút) rồi cho vào thùng lạnh đưa đến phòng xét nghiệm Trên mỗi mẫu phải ghi kí hiệu riêng để tránh trường hợp nhầm lẫn Sau khi về đến phòng xét nghiệm, mẫu được ly tâm để lấy huyết thanh và cho vào eppendorf
3.4.2 Bảo quản mẫu xét nghiệm
Nếu mẫu được xét nghiệm ngay thì bảo quản 4 – 8 o
C
Nếu mẫu chưa xét nghiệm thì được bảo quản ở - 20 o
C
3.4.3 Bố trí lấy mẫu xét nghiệm
Mẫu huyết thanh: được lấy ngẫu nhiên theo các hộ và cơ sở chăn nuôi ở huyện Củ Chi và Hóc Môn
Số mẫu xét nghiệm: căn cứ vào số lượng bò sữa và heo thịt được nuôi tại 2 huyện, ước tính số lượng mẫu xét nghiệm trên heo thịt và trên bò sữa theo phần mềm Win – episcope 2.0 với ước lượng tỷ lệ mẫu huyết thanh có hiệu giá kháng thể đạt bảo hộ là 80 %, sai số 5 %, độ tin cậy là 95 % (theo Trạm Chẩn Đoán Xét Nghiệm và Điều Trị thuộc Chi Cục Thú Y TP.HCM) Số lượng mẫu cần thiết cho việc khảo sát được trình bày ở Bảng 3.1
Trang 36Bảng 3.1 Bố trí lấy mẫu máu bò sữa và heo thịt cho khảo sát
Quận/ Huyện
Cho hỗn hợp kháng nguyên – huyết thanh vào đĩa phản ứng và lượng kháng nguyên tự do còn lại sẽ gắn với kháng thể dưới đáy giếng và được giữ lại sau khi rửa giếng
Khi cho kháng thể chuột lang đặc hiệu kháng vi-rút LMLM týp O vào giếng phản ứng Nếu có kháng nguyên thì kháng thể sẽ gắn với kháng nguyên và được giữ lại sau khi rửa giếng
Cho cộng hợp (là conjugate gồm kháng thể chuột lang có gắn enzyme horse – radish peroxidase HPR) vào giếng phản ứng và được giữ lại nếu có kháng thể chuột lang và sẽ tạo màu quan sát được khi cho kết hợp với dung dịch cơ chất/chất tạo màu (substrate/chromogen)
(Nguồn: CCTY TP.HCM, 2013)